Chăn nuôi lợn theo quy mô trang tra ̣i hay chăn nuôi công nghiê ̣p ở nước ta có hiệu quả cao nhưng bên cạnh đó còn có những trở ngại rất lớn của chăn nuôi lợn nái sinh sản là dịch bệnh
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Chuyên ngành: Thú y
Thái Nguyên, 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập rèn luyện tại Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên và sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, học hỏi, rèn luyện nâng cao tay nghề, em đã luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy cô giáo và bạn bè Đến nay em đã hoàn thành chương trình học và thực tập tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa, cùng toàn thể các thầy
cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú y đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo và giúp đỡ
em trong suốt thời gian học tập tại trường
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo Ts Nguyễn Thị Thúy Mỵ, người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt thời gian thực tập, giúp em hòan thành bản khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn các cán bộ kỹ thuật, công nhân viên tại trại Đặng Đức Khang-Tam Dương-Vĩnh Phúc đã giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, cũng như học tập rèn luyện nâng cao tay nghề
Một lần nữa, em xin chúc toàn thể các Thầy, cô giáo, sức khỏe, hạnh phúc và thành công
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Sinh viên
Mậu Văn Hùng
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 26
Bảng 4.1: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 39
Bảng 4.2: Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung trong 2 năm (từ 2014 - 2015) 40 Số liệu bảng 4.3 cho thấy tỷ lệ lợn nái bị nhiễm bệnh viêm tử cung của trại là khá thấp chỉ có 16 con bị nhiễm trên tổng số 91 lợn nái theo dõi là 17,58% Trong đó, tỷ lệ lợn bị nhiễm ở thể nhẹ so với tổng đàn là 8,79%; cường độ trung bình là 6,59% và cường độ nặng là 2,19% 41
Bảng 4.5 Tỷ lệ và cường độ viêm tử cung theo lứa đẻ 43
Bảng 4.6: Tỷ lệ và cường độ viêm tử cung ở lợn nái theo tháng trong năm 45
Bảng 4.7 Hiệu lực điều trị bệnh viêm tử cung của 2 phác đồ 48
Bảng 4.8: Chi phí sử dụng thuốc thú y trong điều trị 50
bệnh viêm tử cung trên 1 nái 50
Bảng 4.9: Hoạt động sinh lý sinh sản và tỷ lệ thụ thai của lợn nái 52
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm theo lứa đẻ 44
Hình 4.2 Biểu đồ cường độ nhiễm bệnh theo lứa tuổi 45
Hình 4.3 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm bệnh theo tháng theo dõi 46
Hình 4.4 Biểu đồ cường độ nhiễm bệnh theo lứa đẻ 47
Trang 7MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 2
1.4.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1 Cấu tạo giải phẫu và sinh lý cơ quan sinh dục cái 3
2.1.2.Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 6
2.1.3 Bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản 10
2.1.4 Giới thiệu về các thuốc kháng sinh dùng trong phác đồ điều trị 16
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới 20
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 20
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 23
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Đối tượng nghiên cứu 25
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 25
3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 25
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 25
3.4.1 Phương pháp theo dõi thu thập thông tin 25
3.4.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 25
3.4.3 Các chỉ tiêu và phương pháp xử lý số liệu 27
Trang 8PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Công tác phục vụ sản xuất 29
4.1.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 29
4.2 Kết quả nghiên cứu 40
4.2.1 Điều tra lợn nái mắc bệnh tại 3 dãy chuồng tại trang trại
trong 2 năm gần đây 40
4.2.2 Tỷ lệ nhiễm bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái……… 41
4.2.3 Tỷ lệ và cường độ viêm tử cung ở đàn lợn nái sinh sản 43
4.2.4 Tỷ lệ và cường độ viêm tử cung ở lợn nái theo tháng trong năm 45
4.2.5 Hiệu lực điều trị bệnh viêm tử cung của hai phác đồ 47
4.2.6.Chi phí thuốc thú y trong điều trị bệnh viêm tử cung của các
phác đồ điều trị 49
4.2.7 Ảnh hưởng của các phác đồ điều trị khác nhau đến hoạt động sinh lý
sinh dục và khả năng thụ thai 51
PHẦN5 KẾT LUẬN TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 53
5.1.Kết luận 53
5.2 Tồn tại 54
5.3 Đề nghị 54
Trang 9Chăn nuôi lợn theo quy mô trang tra ̣i hay chăn nuôi công nghiê ̣p ở nước ta có hiệu quả cao nhưng bên cạnh đó còn có những trở ngại rất lớn của chăn nuôi lợn nái sinh sản là dịch bệnh xảy ra nhiều, đối với lợn nái thì các bệnh về đường sinh sản xuất hiện khá nhiều, nhất là lợn nái ngoại được nuôi theo quy mô công nghiệp do khả năng thích nghi của lợn nái ngoại với điều kiện khí hậu nước ta còn kém, trong quá trình sinh đẻ lợn nái dễ bị các vi
khuẩn như: Streptococcus, Staphylococcus, E.coli, … xâm nhập và gây một số
bệnh nhiễm trùng sau đẻ như viêm âm đạo, viêm âm môn, … đặc biệt là bệnh viêm tử cung, đây là bệnh xuất hiện nhiều ở lợn nái và gây ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sản của lợn nái Nếu không điều trị kịp thời, viêm tử cung có thể dẫn tới các bệnh kế phát như: viêm vú, mất sữa, rối loạn sinh sản, chậm sinh, vô sinh, viêm phúc mạc dẫn đến nhiễm trùng huyết và chết Vì vậy bệnh viêm tử cung ở lợn nái ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất, chất lượng,
Trang 10đề tài: Tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái nuôi tại trại Đặng Đức Khang - Hướng Đạo - Tam Dương - Vĩnh Phúc và thử nghiệm một
số phác đồ điều trị”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Điều tra tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái tại trại Đặng Đức Khang và hiệu quả của một số phác đồ điều trị
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được thực trạng bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái nuôi tại trại Đặng Đức Khang - Hướng Đạo - Tam Dương - Vĩnh Phúc
- Xác định mức độ ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung đến năng suất sinh sản của lợn nái ở lứa tiếp theo
- Xác định được hiệu lực của một số phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung
1.4 Ý nghĩa của đề tài
Trang 113
PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Cấu tạo giải phẫu và sinh lý cơ quan sinh dục cái
Theo Nguyễn Đức Hùng (2003) [6], cơ quan sinh dục của lợn nái được chia thành 2 bộ phận gồm: bộ phận sinh dục bên trong và bộ phận sinh dục bên ngoài
+ Bộ phận sinh dục bên trong gồm: Buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo
+ Bộ phận sinh dục bên ngoài gồm: Âm môn, âm vật, tiền đình
- Bộ phận sinh dục bên trong
* Buồng trứng (ovarian)
Buồng trứng lợn nằm trong xoang bụng, phát triển thành một cặp, thực hiện cả hai chức năng: ngoại tiết (bài noãn) và nội tiết (sản sinh ra hormone sinh dục cái) Buồng trứng được hình thành trong giai đoạn phôi thai
Cấu tạo: Phía ngoài buồng trứng được bao bọc bởi lớp màng liên kết sợi, chắc như màng dịch hoàn Phía trong buồng trứng được chia làm hai miền là miền vỏ và miền tủy Miền tủy có nhiều mạch máu, tổ chức liên kết dày đặc đảm bảo nhiệm vụ nuôi dưỡng và bảo vệ Miền vỏ đảm bảo quá trình phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng Miền vỏ gồm ba thành phần:
Tế bào trứng nguyên thủy, thể vàng và tế bào hình hạt Tế bào trứng nguyên thủy hay còn gọi là trứng non (Fulliculo oophoriprimari) nằm dưới lớp màng của buồng trứng Khi noãn bao chín các tế bào nang bao quanh tế bào trứng
và phân chia thành nhiều tầng tế bào có hình hạt (Stratum glanulosum) Noãn bao ngày càng phát triển thì các tế bào bao nang tiêu tan tạo thành một lớp màng bao bọc, ở ngoài có chỗ dày lên để chứa trứng (ovum)
Trang 124
Trần Thị Dân (2004) [2] cho biết, phía ngoài của buồng trứng được bao bọc bởi một lớp màng liên kết sợi, chắc như màng dịch hoàn Phía trong buồng trứng được chia làm hai miền: Miền vỏ và miền tủy Miền vỏ chứa các noãn nang, thể vàng, thể trắng có tác dụng về sinh dục Miền tủy của buồng trứng nằm ở giữa gồm mạch máu, dây thần kinh mạch bạch huyết và mô liên kết Trên buồng trứng có từ 70.000 - 100.000 noãn bào, ở các giai đoạn khác nhau, tầng ngoài cùng là những noãn bào thứ cấp đang sinh trưởng, khi noãn bào chín sẽ nổi lên bề mặt trứng
* Ống dẫn trứng: (vòi Fallop)
Ống dẫn trứng được treo bởi màng treo ống dẫn trứng, đó là một nếp gấp màng bụng bắt nguồn từ lớp bên của dây chằng rộng Căn cứ vào chức năng có thể chia ống dẫn trứng thành bốn đoạn:
- Tua diềm: có hình giống như tua diềm
- Phễu: có hình phễu, miệng phễu nằm gần buồng trứng
- Phồng ống dẫn trứng: đoạn ống giãn rộng xa tâm
- Eo: đoạn ống hẹp gần tâm,nối ống dẫn trứng với xoang tử cung
Ống dẫn trứng có một chức năng duy nhất là vận chuyển trứng và tinh trùng theo hướng ngược chiều nhau, hầu hết là đồng thời
* Tử cung (Uterus)
Ở lợn, tử cung thuộc loại hình sừng kép,các sừng gấp nếp hoặc quấn lại
và có độ dài đến hơn 1m trong khi thân tử cung lại ngắn lại Độ dài này thích hợp cho việc mang nhiều thai Cả hai mặt của tử cung được đính vào khung chậu và thành bụng bằng dây chằng rộng
- Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và niệu đạo trong xoang chậu Tử cung lợn thuộc loại tử cung sừng kép, gồm 2 sừng thông với một thân và cổ tử cung Sừng tử cung dài 40-65cm Thân tử cung dài 5cm Cổ tử cung dài 10cm có thành dày, hình trụ, có các cột thịt xếp theo chiều dài răng lược thông với âm đạo
Trang 135
Chức năng của tử cung: Tử cung có nhiều chức năng Nội mạc tử cung
và các dịch tử cung giữ vai trò chủ chốt trong quá trình sinh sản Gồm:
- Chuyển vận tinh trùng
- Làm tổ,chửa và đẻ
* Âm đạo (Vagina)
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5], Âm đạo lợn dài 10-12cm, là một ống tròn, trước là cổ tử cung, phía sau là tiền đình có màng trinh Âm đạo được cấu tạo bởi 3 lớp:
+ Lớp liên kết bên ngoài
+ Lớp cơ trơn: Bên ngoài là cơ dọc, bên trong là cơ vòng, chúng liên kết với các cơ tử cung
+ Lớp niêm mạc: Trên bề mặt có nhiều tế bào thượng bì gấp nếp dọc Ngoài âm đạo ra còn là bộ phận thải thai ra bên ngoài khi sinh ra và là ống thải các chất dịch từ bên trong tử cung
Bộ phận sinh dục bên ngoài: là những phần ta có thể nhìn thấy, sờ thấy
và quan sát được, gồm: âm môn, âm vật và tiền đình
* Âm môn
Âm môn hay còn gọi là âm hộ (vulvae) nằm dưới hậu môn Phía ngoài
âm môn có hai môi (labia pudendi) Hai môi được nối với nhau bằng hai mép (rima vulvae)
Trên hai môi của âm môn có sắc tố màu đen và có nhiều tuyến tiết (như tuyến tiết chất nhờn trắng và tuyến tiết mồ hôi)
* Âm vật (clitoris)
Âm vật nằm ở góc phía dưới hai mép của âm môn Âm vật giống như dương vật con đực được thu nhỏ lại Về cấu tạo, âm vật cũng có các thể hổng như cấu tạo dương vật của con đực Trên âm vật có nếp da tạo ra mũ âm vật, giữa âm vật bẻ gấp xuống dưới
Trang 14và gia súc có phản xạ về tính hay xuất hiện hiện tượng động dục Tuy nhiên, thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tính biệt, điều kiện ngoại cảnh cũng như chăm sóc nuôi dưỡng
Giống
Các giống lợn khác nhau có độ tuổi thành thục về tính khác nhau
Phạm Hữu Doanh (1985) [3] cho rằng, các giống lợn nội có độ tuổi thành thục về tính 4 – 5 tháng tuổi (121 – 158 ngày tuổi) Trong khi đó tuổi động dục ở lợn ngoại là 6 – 8 tháng tuổi, ở lợn lai F1 (nội × ngoại) thường động dục lần đầu ở 6 tháng tuổi
Điều kiện nuôi dưỡng quản lý
Chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý tốt thì gia súc sẽ sớm thành thục về tính và ngược lại
Trang 157
Điều kiện ngoại cảnh
Sự kích thích của con đục cũng làm ảnh hưởng tới sự thành thục về tính của lợn nái hậu bị Theo một số tác giả, nếu cho lợn nái hậu bị tiếp xúc với lợn đực 2 lần/ngày, với thời gian 15-20 phút thì 83% lợn nái (trên 90kg) động dục ở 165 ngày tuổi Tuy nhiên, một vấn đề cần lưu ý là tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc Vì vậy để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình thường của lợn mẹ và đảm bảo những phẩm chất giống của thế hệ sau nên cho gia súc phối giống khi đã đạt khối lượng nhất định tùy theo giống
- Chu kỳ động dục: Từ khi thành thục về tính những biểu hiện tính dục của lợn được diễn ra liên tục và có tính chu kỳ, nó chấm dứt hoàn toàn khi cơ thể con vật hết khả năng sinh sản (buồng trứng hết tế bào trứng) Một chu kỳ động dục của lợn dao động khoảng 18-22 ngày, trung bình là 21 ngày
Giai đoạn trước động dục kéo dài 1-2 ngày Đây là giai đoạn đầu tiên của chu kỳ động dục Ở giai đoạn này các noãn bao phát triển mạnh, các noãn bao chín, tế bào tách trứng khỏi noãn bao Tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung chạy ra, con vật giảm ăn, hay kêu rống, hay nhảy lên lưng con khác nhưng không cho con khác nhảy lên lưng của mình Thần kinh con vật bị kích thích, con vật có biểu hiện băn khoăn, ngơ ngác, đi lại không yên, đái dắt, kêu
la (hoặc không kêu)
Buồng trứng có nang trứng phát triển, màng nhầy tử cung dày lên, tụ huyết, cổ tử cung hé mở, đỏ hồng, bóng ướt, niêm dịch nhiều, lỏng và trong suốt, dễ đứt, khó kéo dài, âm đạo đỏ hồng, ướt bóng
Giai đoạn động dục: Kéo dài từ ngày thứ 2 hoặc thứ 3 tiếp theo của giai đoạn trước Giai đoạn này dài hay ngắn tùy theo giống Lợn ngoại và lợn lai, thường kéo dài 4-5 ngày Ở giai đoạn này con vật biểu hiện hưng phấn cao độ, phá chuồng, giảm ăn uống, kêu rống, thích nhảy lên lưng con khác và
Trang 16* Quá trình mang thai và đẻ:
Nguyễn Xuân Tịnh và cs (1996) [18] cho biết, thụ thai là sự kết hợp giữa tinh trùng và trứng tạo thành hợp tử, hay nói cụ thể hơn là quá trình đồng hóa giữa tinh trùng và trứng Đó là kết quả của sự tái tổ hợp các gen từ 2 nguồn gen khác nhau Thời gian mang thai của lợn trung bình 114 ngày Khi mang thai thể vàng tồn tại và tiết ra kích tố Progesterone ức chế sự phát triển của bao noãn Do đó, con vật chửa sẽ không động dục và không thải trứng
Thời gian chửa của lợn cái được chia ra làm hai thời kỳ:
+ Chửa kỳ 1: Là thời gian lợn chửa 84 ngày đầu tiên
+ Chửa kỳ 2: Là thời gian lợn chửa từ ngày chửa thứ 85 đến khi đẻ
Trang 179
- Theo Trương Lăng (2003) [11], trong thời kỳ lợn chửa có thể xuất hiện hai tai biến:
+ Toàn bộ các thai chết gây sảy thai
+ Một phần thai chết, các thai khác tiếp tục phát triển xen kẽ không bị đẩy ra ngoài
- Giai đoạn tiết sữa và nuôi con
Khả năng tiết sữa của lợn mẹ phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng, thức
ăn, giống lợn, số lượng lợn con Lượng sữa tiết ra nhiều nhất vào tuần thứ
2-3 Sự tiết sữa của lợn nái là một quá trình phản xạ do những kích thích của bầu vú gây ra, phản xạ tiết sữa của lợn nái tương đối ngắn và chuyển dần từ trước ra sau Thần kinh giữ vai trò chủ đạo trong quá trình tiết sữa Khi lợn con thúc vú, những kích thích này chuyển lên vỏ não, từ vỏ não lại truyền xuống vùng Hypothalamus từ đó các luồng xung động tác động vào tuyến yên, tuyến yên tiết ra kích tố Oxytocin
Theo Trương Lăng (2003) [11], vú nằm ở phía trước ngực có lượng sữa tiết nhiều hơn Trong chu kỳ tiết sữa, lợn con bú ở vú sau được 32-39kg thì lợn con bú ở vú trước được khoảng 36-45 kg sữa, vì Oxytocin theo máu đến
vú trước sớm hơn, kéo dài hơn nên vú trước tiết nhiều sữa hơn Vì vậy, để đảm bảo tính đồng đều của ổ lợn ta nên cố định những con nhỏ hơn bú vú trước Cần tách riêng lợn con đẻ trước chờ đến khi cả đàn đẻ xong mới cho cả đàn vào bú, nhưng nhất thiết phải cho lợn con bú sữa đầu chậm nhất là 2 giờ sau đẻ để lợn con có đủ kháng thể trong ngày đầu sau khi sinh vì trong sữa đầu của lợn mẹ có chứa Globulin giúp cho cơ thể lợn con có sức đề kháng
Trần Văn Phùng và cs (2008) [13] cho biết, quá trình sinh trưởng của lợn con từ khi mới đẻ đến khi cai sữa gặp phải thời kỳ khủng hoảng lúc sau 3 tuần tuổi Khối lượng hầu như tăng theo tuần tuổi, nhưng tỷ lệ tăng có sự biến đổi khá rõ rệt Vào 4 tuần tuổi tăng khối lượng giảm xuống vì giai đoạn đó
Trang 1810
nhu cầu dinh dưỡng của lợn con tăng nhưng do lượng sữa mẹ giảm cả về số lượng và chất lượng Vì vậy, muốn đảm bảo cho lợn sinh trưởng tốt cần bổ sung thức ăn sớm
Nguyến Văn Thiện và cs (1996) [17], ở lợn không có bể sữa do đó không thể đo lượng sữa bằng cách vắt sữa mà chỉ có thể đo lượng sữa của lợn
mẹ qua khối lượng đàn con Sữa mẹ là nguồn thức ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng không có loại thức ăn nào thay thế được Vì vậy trong giai đoạn lợn
mẹ nuôi con phải cho lợn mẹ ăn tự do, khẩu phần ăn đầy đủ chất dinh dưỡng
Cai sữa sớm lợn con ở (21-28) ngày nhằm nâng cao sản lượng sữa, giảm tỷ lệ hao mòn và tăng khả năng sinh sản của lợn mẹ
2.1.3 Bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản
Bệnh viêm tử cung thường xảy ra ở lợn nái sau khi đẻ, có thể xảy ra ở lợn nái sau khi giao phối Đây là một trong những tổn thương ở đường sinh dục ở lợn nái sau khi sinh, ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa, lợn con không có sữa sẽ còi cọc, suy dinh dưỡng và chậm phát triển Lợn nái chậm động dục trở lại, không thụ thai, có thể dẫn đến vô sinh mất khả năng sinh sản (http://www.Irc.ctu.edu.vn) [21]
Nguyễn Hữu Phước (1982), cho biết bệnh xảy ra trên cả đàn lợn nội và ngoại Tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào điều kiện vệ sinh môi trường, đặc biệt là công tác vệ sinh thú y
Nguyên nhân gây bệnh:
Theo Nguyễn Xuân Bình (1996) [1], bệnh thường xảy ra vào thời gian 1-10 ngày sau khi đẻ
Các nguyên nhân bao gồm: Dụng cụ truyền tinh gây xây xát âm đạo, tử cung, tinh dịch bị nhiễm khuẩn, dụng cụ thụ tinh không được vô trùng hoặc
do lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2003) [10]
Trang 1911
Đoàn Thị Kim Dung và cs (2002) [4] cho biết: Nguyên nhân gây ra
bệnh viêm tử cung chủ yếu do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vuglgais,
Klebriella, dung huyết E.coli, còn có thể do trùng roi (Trichomonas fortus) và
Các kết quả nghiên cứu cho biết: Viêm tử cung thường xảy ra trong lúc
sinh do nhiễm khuẩn E.coli, Staphylococcus pp và Staphylococcus aureus
Đây là nguyên nhân chính gây bệnh
Khi gia súc đẻ, nhất là trường hợp đẻ khó phải can thiệp, niêm mạc tử cung bị xây xát và tạo các ổ viêm, mặt khác các bệnh truyền nhiễm như: Sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, lao… thường gây viêm tử cung, âm đạo
Lợn nái luôn mang vi khuẩn trong âm đạo nhưng không gây bệnh Chỉ khi đẻ cổ tử cung mở, chất dịch tiết đọng lại, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập, phát triển và gây bệnh
- Triệu chứng:
Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [16], khi lợn nái bị viêm tử cung, các chỉ tiêu lâm sàng như: thân nhiệt, tần số hô hấp đều tăng Lợn bị sốt theo quy luật: Sáng sốt nhẹ 39-39,50C, chiều 40-410C Con vật kém ăn, sản lượng sữa giảm, có khi con vật cong lưng rặn như rặn đái Từ cơ quan sinh dục chảy ra niêm dịch lẫn nhiều lợn cợn, mùi hôi tanh, có màu trắng đục, hồng hay nâu
Trang 2012
đỏ Khi nằm lượng niêm dịch chảy ra nhiều hơn, trong trường hợp thai chết lưu âm đạo sưng tấy, đỏ, có chứa dịch tiết màu vàng sẫm, nâu và có mùi hôi thối Xung quanh âm hộ và mép đuôi dính bết niêm dịch, có khi niêm dịch khô đóng thành vẩy trắng, lợn nái mệt mỏi đi lại khó khăn
Viêm tử cung ở lợn có các thể sau:
+ Thể nhẹ (1+) gọi là viêm tử cung nhờn: Thân nhiệt bình thường, có khi hơi cao 39-39,50
C Lợn kém ăn, có dịch tiết ra từ âm hộ 12-72 giờ sau đẻ, dịch lỏng có màu trắng đục hoặc xanh dạng sợi mùi hôi tanh Thể viêm này ít ảnh hưởng đến sản lượng sữa của lợn mẹ
+ Thể vừa (2+) thuộc dạng viêm tử cung mủ: Thân nhiệt cao
39,5-400C Lợn ăn ít hoặc bỏ ăn, hay nằm lỳ Khi nằm có dịch từ âm hộ chảy ra màu vàng xen lẫn mủ trắng đục, hơi sệt, mùi tanh thối
Khi soi đường sinh dục, vùng âm đạo có dính váng mủ, niêm mạc có vùng nhạt đỏ không đều, niêm dịch chảy từ cổ tử cung ra có mùi thối
+ Thể nặng (3+) thuộc dạng viêm tử cung mủ: Thân nhiệt tăng cao 39,5-400C Lợn ủ rũ, hay nằm, bỏ ăn Dịch tiết từ âm hộ ra dạng mủ xanh vàng sệt, có khi lẫn máu, mùi tanh thối
Niêm mạc âm đạo nhợt nhạt, nhiều mủ đặc dính lại, cổ tử cung hơi mở,
có mủ trắng đục chảy ra, mùi thối khắm Trạng thái này xuất hiện chậm 7-8 ngày sau khi lợn đẻ Bệnh làm ảnh hưởng đến sản lượng sữa
- Hậu quả:
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái là một trong những tổn thương đường sinh dục ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa Lợn con không có sữa sẽ còi cọc, suy dinh dưỡng, chậm phát triển Lợn nái chậm động dục trở lại, không thụ thai, có thể dẫn đến vô sinh, mất khả năng sinh sản
Trang 2113
Lê Thị Tài và cs (2006) [15] cho rằng: Đây là một bệnh khá phổ biến ở gia súc cái Nếu không được chữa trị kịp thời thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng thụ thai và sinh sản
Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chức năng của cơ quan sinh dục vì các quá trình viêm ở dạ con cản trở sự di chuyển của tinh trùng tạo độc tố spermiolysin có hại cho tinh trùng Các loại độc tố của vi khuẩn, vi trùng và các dạng đại thực bào tích tụ gây bất lợi với tinh trùng, nếu có thụ thai được thì phôi ở trong môi trường bất lợi cũng dễ bị chết non (Lê Văn Năm và cs 1999) [9]
Quá trình viêm xảy ra trong giai đoạn có chửa là do biến đổi bệnh lý trong cấu trúc của niêm mạc (teo niêm mạc, sẹo trên niêm mạc, thoái hóa niêm mạc…) dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ giữa bào thai và dạ con nên qua các chỗ tổn thương vi khuẩn cũng như các độc tố do chúng tiết ra làm cho bào thai phát triển không bình thường
- Chẩn đoán:
Dựa vào các triệu chứng lâm sàng như: Lợn nái luôn ở tư thế như rặn đái Kiểm tra đường sinh duc lợn nái bằng mỏ vịt, thấy cổ tử cung mở, từ tử cung, âm đạo chảy ra nhiều dịch nhầy lẫn mủ màu trắng đục, mùi thối khắm…
Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Nếu sức khỏe lợn nái giảm sút, bệnh không được can thiệp sớm, vi trùng có thể vào máu đến tuyến
vú gây viêm toàn bộ tuyến vú hoặc gây nhiễm trùng máu tạo nên thể điển hình của hội chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa Để chẩn đoán người ta dựa vào các triệu chứng lâm sàng
Trong trường hợp lợn nái mắc bệnh ở thể ẩn khó phát hiện có thể chẩn đoán lúc động hớn qua số lượng niêm dịch chảy ra nhiều, đôi khi có những đám mủ từ khe sinh dục ngoài chảy ra Ngoài ra, lợn nái mắc bệnh thường khó thụ thai (A.V Trekaxova và cs, 1983) [19]
Trang 2214
Có thể tìm muxin trong dịch nhầy từ âm hộ chảy ra rồi cho vào 1 ml dung dịch axit axetic 1%, nếu phản ứng dương tính, muxin kết tủa là mắc bệnh và ngược lại (Lê Văn Năm và cs, 1999) [9]
Trong khi đỡ đẻ bằng tay phải sát trùng kỹ bằng cồn hoặc rượu và được bôi trơn bằng Vazolin hoặc dầu lạc Trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng dụng cụ trợ sản thì dụng cụ phải sạch sẽ và phải được vô trùng
Can thiệp đẻ khó, thao tác phải nhẹ nhàng và đúng kỹ thuật
Khi lợn đẻ xong nên dùng dung dịch thuốc tím 0,1% hay nước muối sinh lý 0,9% để rửa sạch bộ phận sinh dục của lợn Sau đó bơm hoặc đặt thuốc kháng sinh như: Penicillin 2-3 triệu UI, Tetramycin hay Sulfanilamid 2-5g, hoặc Clorazol 4-6 viên (2-3g) vào tử cung để chống viêm
Nên tiêm một mũi Oxytocin liều 2-4 ml/con sau khi đẻ xong để kích thích tử cung co bóp đẩy hết nhau thai và sản dịch ra ngoài tử cung, âm đạo Đồng thời tiêm cho lợn nái một liều kháng sinh loại không ảnh hưởng đến sữa như: Tetramycin Trong thời gian dùng kháng sinh nên tiêm kèm theo thuốc
bổ trợ như: Vitamin B1, B-complex, Vitamin B12, Gluconatcanxi để trợ sức, kích thích lợn nái ăn khỏe để có sữa cho con bú
Dụng cụ thụ tinh nhân tạo phải đúng quy định, được tiệt trùng trước và sau khi sử dụng
Không sử dụng lợn đực bị bệnh ở đường sinh dục để thụ tinh trực tiếp hoặc khai thác tinh nhân tạo
Trang 23Việc điều trị bệnh cần đạt được hai mục đích: Phục hồi nguyên vẹn niêm mạc tử cung và phục hồi chức năng co bóp của tử cung
Tử cung có liên quan mật thiết với các cơ quan khác, trong đó có hệ thần kinh - thể dịch Bởi vậy, điều trị bệnh viêm tử cung bao gồm điều trị cục
bộ và điều trị toàn thân (Lê Văn Năm và cs, 1999) [9]
+ Điều trị cục bộ: Bơm rửa tử cung hàng ngày 1-2 lần, thụt rửa tử cung bằng các loại dung dịch nước muối 0,9%, KMnO4 0,01% hoặc rivanol 0,1%, sau đó thụt 1 trong các loại kháng sinh sau: Penicillin, Streptomycin, Tetramycin…
+ Điều trị toàn thân: Có thể dùng một số loại kháng sinh tổng hợp như: Ampisep, Genorfcoli, Gentamycin, Lincomycin, Hanoxylin 10%, Ampicillin… kết hợp với thuốc trợ lực: Vitamin C, B-complex
Tiêm Analgin (giảm sốt 2-3 ống/ngày)
Tiêm kháng sinh:
- Cách 1: Tiêm Tetramycine, tiêm bắp liều 10-15 mg/kg, tiêm liên tục
từ 3-4 ngày, kết hợp Septotryl tiêm bắp hay tiêm tĩnh mạch 1ml/10-15 kg.P/ngày liên tục từ 3-4 ngày
- Cách 2: Dùng Tylan + Polysul tiêm bắp hay tiêm tĩnh mạch 1ml/5-10kg.P liên tục 3-4 ngày
Trang 2416
Tiêm thuốc giảm viêm: Dectancyl, Hydrocortizone,… Nếu tiêm Hydrocortizone thì tiêm bắp 1 ml/kg.P/ngày liên tục trong 3 ngày
Tiêm thuốc trợ sức: Vitamin C; B1; B12
Tiêm thuốc tạo sữa: Thyroxineo ngày 1-2 ống liên tục trong 2-3 ngày, chỉ dùng khi nhiệt độ cơ thể hạ xuống bình thường
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [10], tiêm Oxytetracylin 30mg/kg.TT dùng liên tục trong 3-4 ngày: tiêm Penicillin 50.000 UI/kg.P
Đồng thời thụt rửa âm đạo tử cung bằng Rivanol 5%, tiêm thuốc trợ sức, trợ lực (VTM B1; VTM C; Cyein)
2.1.4 Giới thiệu về các thuốc kháng sinh dùng trong phác đồ điều trị
Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều loại kháng sinh có hiệu quả điều trị cao như: Streptomycine, Peniciline, Genta - Tylosin, Bio - D.O.G…
a) Streptomycine
Gồm 3 thành phần chính: streptidin, stcotobiosamin, streptoz Trong đó streptomycine quyết định tính kháng khuẩn của Streptomycine Nó là một vòng benzen đã mất đi các nối kép của vòng Trong đó có 4 nhóm OH và 2 nhóm guanidin Streptomycine là bột màu trắng hoặc hơi hồng nhẹ, tính kiềm, tan nhiều trong nước, không tan trong ete và cồn, bột khô để trong lọ kín có thể để được lâu, dung dịch vô trùng để nơi mát có thể được vài tuần, phạm vi tác dụng nhất ở pH = 7,8 - 9 Streptomycine được sử dụng trong lâm sàng rộng rãi trên thị trường thuốc và thường được đóng gói 1g/lọ 1 triệu UI Thuốc chủ yếu tác dụng lên vi khuẩn gram dương kháng peniciline
Thuốc thường được sử dụng trong các bệnh:
- Điều trị bệnh tụ huyết trùng cho gia súc, gia cầm
- Viêm vú do staphylococcus
- Viêm âm đạo tử cung kết hợp với peniciline
- Trộn vào môi trường pha chế tinh dịch
Trang 2517
- Điều trị bệnh viêm ruột ỉa chảy bê nghé, lợn con
- Leptospirosis: Dùng phối hợp với peniciline
- Viêm dạ dày, viêm ruột ở mèo
Nếu cho uống qua đường tiêu hóa thì streptomycine được hấp thụ rất ít khoảng 5-10% Đại bộ phận thải qua phân do đó nó có tác dụng chống vi trùng ở đường ruột chủ yếu dùng streptomycine để tiêm bắp, dưới da và thụt rửa
*Cơ chế tác động của Streptomycin khi vào cơ thể sẽ ức chế sự tổng hợp protein tiểu đơn vị 30S của vi khuẩn, làm cho vi khuẩn không tổng hợp được protein
khuẩn đường ruột như E.coli
Peniciline chủ yếu tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch bởi nó thải trừ rất nhanh và
ít gây tác dụng phụ Gần đây, người ta đã điều chế ra loại penicyline tổng hợp, loại này có thể dùng cho đường tiêu hóa là rất tốt
Khi dùng penicyline tiêm cần phải thử phản ứng vì nó hay xảy ra phản ứng thuốc, khi xảy ra phản ứng cần có thuốc chống phản ứng histamin tiêm kịp thời
- Penicilin có tác dụng chủ yếu với các bệnh:
- Nhiệt thán trâu bò (dùng liều cao - tiêm hàng ngày)
- Actiromy cosis ở bò
- Bệnh đóng dấu lợn
- Bệnh viêm vú truyền nhiễm
Trang 2618
- Nhiễm trùng khi đẻ, viêm tử cung sót nhau,… và một số bệnh khác
Cơ chế tác động khi sử dụng penicilin đưa vào cơ thể sẽ gây ức chế vi khuẩn thành lập vách tế bào làm cho các bạch cầu dễ dàng bị tiêu diệt
c) Genta - Tylosin: Dung dịch tiêm vô trùng
Gentamycin là kháng sinh kháng khuẩn nhóm aminoglycocid tác dụng mạnh với cả vi khuẩn gram dương (+) và gram âm (-)
Cơ chế tác động của Genta - Tylosin ức chế sự tổng hợp protein tiểu đơn vị 50S của vi khuẩn, làm cho vi khuẩn không thể phát triển được, tác động kháng viêm điều chỉnh tổng hợp một số chất trung gian và Cytokines liên quan đến quá trình viêm, đồng thời ức chế tổng hợp acid Nucleic của tế bào vi khuẩn
- Công dụng điều trị bệnh các bệnh về đường hô hấp như bệnh CRD, viêm phổi, viêm màng phổi, tụ huyết trùng, Các bệnh đường tiêu hóa: viêm ruột, viêm dạ dày, tiêu chảy, phân trắng, phó thương hàn, bệnh đường sinh dục, viêm vú, viêm tử cung
Trang 2820
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Viêm tử cung là một trong những nguyên nhân dẫn đến hội chứng viêm
vú, viên tử cung, mất sữa Ở lợn hội chứng này ảnh hưởng lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này Tỉ lệ phối không đạt tăng lên ở đàn lợn nái bị viêm tử cung sau đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước sang lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ và số lứa đẻ trên một năm của lợn nái sinh sản
Nguyên nhân: là do tử cung của lợn nái bị tổn thương, sót nhau,
bệnh phát triển do chăm sóc nuôi dưỡng không tốt, không đủ chất dinh dưỡng, đưa vào đường sinh dục các chất kích thích đẻ khác nhau, chúng phá hủy hoặc làm kết tủa các chất nhầy ở bộ máy sinh dục
- Popkov (1999) [14], đã sử dụng phương pháp tiêm kháng sinh vào màng treo cổ tử cung ở lợn nái bị viêm cho thấy hiệu quả điều trị khá cao với phác đồ điều trị như sau:
số con trên một lứa đẻ và số lứa đẻ của một nái trên một năm
Do vậy, ưu tiên hàng đầu và liên tục trong chăn nuôi lợn sinh sản là tạo
ra nhiều lợn con sinh ra và sống sót sau cai sữa, đồng thời giảm chi phí trong sản xuất nhất là do không thụ thai Mục tiêu trên, đòi hỏi sự làm việc cường
độ cao ở lợn nái và nhất là cơ quan sinh sản Do vậy việc đảm bảo vệ sinh, duy trì tình trạng sinh lý bình thường của cơ quan sinh sản đóng vai trò quan trọng trong chăn nuôi, quyết định đến năng suất chăn nuôi Những bất thường
Trang 29- Theo Madec (1995) [8], viêm tử cung thường bắt đầu sốt vài giờ khi
đẻ, chảy dịch viêm vài giờ sau khi đẻ, chảy mủ vài hôm sau và thường kéo dài
48 đến 72 giờ
- Cũng theo Madec (1995) [8], tỷ lệ bệnh tích đường tiết niệu sinh dục
ở đàn nái loại thải tăng theo số lứa đẻ Khi tiến hành nghiên cứu bệnh lý sinh
đẻ vào năm 1991 trên đàn lợn xứ Brơ-ta-nhơ (Pháp) cho thấy 15% số lợn nái
Điển hình là các vi khuẩn Streptococcus sp, Staphylococcus sp,
Micrococus sp, Corynebacterium sp, Enterobacteria Số lượng vi khuẩn tăng
lên một cách đều đều từ phần đầu đến phần cuối của âm đạo Khi phối giống hoặc sau khi đẻ cổ tử cung mở rộng tạo điều kiện thuận lợi để các vi khuẩn này xâm nhập vào bên trong
- Popkov (1999) [14], đã sử dụng phương pháp tiêm kháng sinh vào màng treo cổ tử cung ở lợn nái bị viêm cho thấy hiệu quả điều trị khá cao với phác đồ điều trị như sau:
Trang 30số lợn lợn nái có bệnh tích thoái hóa mô nội mạng tử cung với đặc điểm thành
tử cung có cấu tạo sợi fibrine
- Theo Madec (1995) [8], viêm tử cung thường bắt đầu sốt vài giờ khi
đẻ, chảy dịch viêm vài giờ sau khi đẻ, chảy mủ vài hôm sau và thường kéo dài
48 đến 72 giờ
- Cũng theo Madec (1995) [8], tỷ lệ bệnh tích đường tiết niệu sinh dục
ở đàn nái loại thải tăng theo số lứa đẻ Khi tiến hành nghiên cứu bệnh lý sinh
đẻ vào năm 1991 trên đàn lợn xứ Brơ-ta-nhơ (Pháp) cho thấy 15% số lợn nái
bị viêm tử cung(Madec, 1991) [7] Do vậy, ưu tiên hàng đầu và liên tục trong chăn nuôi lợn sinh sản là tạo ra nhiều lợn con sinh ra và sống sót sau cai sữa, đồng thời giảm chi phí trong sản xuất nhất là do không thụ thai Mục tiêu trên, đòi hỏi sự làm việc cường độ cao ở lợn nái và nhất là cơ quan sinh sản Do vậy việc đảm bảo vệ sinh, duy trì tình trạng sinh lý bình thường của cơ quan sinh sản đóng vai trò quan trọng trong chăn nuôi, quyết định đến năng suất chăn nuôi Những bất thường trong cơ quan sinh sản, nói rõ hơn là các kiểu rối loạn như viêm tử cung, là năng suất chăn nuôi lợn bị ảnh hưởng (Madec, 1995) [8]
- Theo Vtrekaxova (1985) [19], trong các nguyên nhân gây đẻ ít con trong một lứa đẻ, vô sinh của lợn nái thì các bệnh ở cơ quan sinh dục chiếm
từ 5-15%
Âm đạo của lợn khỏe mạnh có chứa nhiều loại vi khuẩn khác nhau Bao gồm Gram dương (+), Gram âm (-) hiếu khí và Gram dương (+), Gram
âm (-) yếm khí
Trang 3123
Điển hình là các vi khuẩn Streptococcus sp, Staphylococcus sp,
Micrococus sp, Corynebacterium sp, Enterobacteria Số lượng vi khuẩn tăng
lên một cách đều đều từ phần đầu đến phần cuối của âm đạo Khi phối giống hoặc sau khi đẻ cổ tử cung mở rộng tạo điều kiện thuận lợi để các vi khuẩn này xâm nhập vào bên trong
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ngành chăn nuôi được phát triển, mở rộng thì công tác thú y rất được chú trọng vì khi chăn nuôi phát triển sẽ kèm theo nhiều dịch bệnh xảy ra, có thể bùng phát nếu như không được xử lý kịp thời gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người chăn nuôi Vì vậy, công tác thú y ngày càng được chú trọng, phát triển nhằm khống chế, ngăn chặn, tiêu diệt mầm bệnh, dịch bệnh, nâng cao năng suất, tăng thu nhập cho người chăn nuôi
Có nhiều nhà khoa học nghiên cứu ra các phương pháp phòng và trị bệnh cho vật nuôi điển hình như:
Nguyễn Văn Thanh (2002) [16] cho biết, lợn nái sau khi sinh có chứng viêm tử cung chiếm tỷ lệ 42,4% Viêm tử cung trên nhóm lợn nái thuần chiếm khoảng 25,48%, trên nhóm lợn nái lai chiếm 50,84% (trong tổng số
1000 lợn nái khảo sát)
Viêm tử cung thường xảy ra cao nhất ở lứa 1 và 2 Tỷ lệ chậm động dục ở nhóm lợn bị viêm tử cung cao hơn nhiều so với nhóm lợn không bị viêm
Bệnh viêm đường sinh dục ở lợn chiếm tỷ lệ cao từ 30 - 50%, trong đó viêm cơ quan bên trong ít, chiếm tỷ lệ 20%, còn lại 80% là viêm tử cung Để điều trị bệnh viêm tử cung nhiều tác giả đã nghiên cứu và cho ra các phác đồ điều trị khác nhau:
Theo Trần Tiến Dũng và cs, (2002) [5], khi gia súc bị bệnh viêm tử cung ở thể viêm cơ, viêm tương mạng thì không nên tiến hành thụt rửa bằng
Trang 3224
các chất sát trùng với thể tích lớn Vì khi bị tổn thương nặng, cơ tử cung
co bóp yếu, các chất bẩn không được đẩy ra ngoài, lưu trong đó làm bệnh nặng thêm
Các tác giả đề nghị nên dùng Oxytoxin kết hợp PGF2α hoặc kết hợp với kháng sinh điều trị toàn thân hay cục bộ
Trong chăn nuôi lợn sinh sản thậm chí cả nuôi lợn thịt, năng suất chăn nuôi phụ thuộc phần lớn vào khả năng sinh sản, trong đó hai yếu tố chính là
số con trên một lứa đẻ và số lứa đẻ của một nái trên một năm
Trang 3325
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng là lợn nái sinh sản nuôi tại trang trại Đặng Đức Khang - Hướng Đạo - Tam Dương - Vĩnh Phúc
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Trại lợn của Đặng Đức Khang - Hướng Đạo - Tam Dương -
Vĩnh Phúc
- Thời gian: 25/05/2015 - 08/11/2015
3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi
- Tình hình mắc bệnh viêm tử cung
- Triệu chứng và bệnh tích của lợn mắc bệnh viêm tử cung
- Đánh giá hiệu lực điều trị của 2 phác đồ và ảnh hưởng của điều trị đến khả năng sinh sản
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi
3.4.1 Phương pháp theo dõi thu thập thông tin
3.4.1.1 Điều tra gián tiếp
- Qua số liệu trong sổ sách của trang trại Đặng Đức Khang - Hướng Đạo - Tam Dương - Vĩnh Phúc
3.4.1.2 Điều tra trực tiếp
- Trực tiếp theo dõi, điều trị lợn mắc bệnh và ghi chép hàng ngày