1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Theo dõi tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung và hiệu lực của phác đồ điều trị ở đàn lợn nái nuôi tại trại lợn phan tấn thành liên kết với công ty cổ phần xuất nhập khẩu biovet

54 184 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được sự nhất trí của giáo viên hướng dẫn và sự tiếp nhận của cơ sở, em đã tiến hành thực hiện đề tài: “Theo dõi tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung và hiệu lực của phác đồ điều trị ở đàn lợn nái

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 - 2017

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Chăn nuôi

Giảng viên hướng dẫn : TS Trần Thị Hoan

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tại trường, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô trong trường, đặc biệt là các thầy cô trong khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Đến nay em đã hoàn thành chương trình học tập và thực tập tốt nghiệp

Nhân dịp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và lời cảm ơn sâu sắc tới Nhà trường, các thầy cô giáo, bạn bè trong khoa Chăn nuôi Thú y Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn tới cô giáo TS Trần Thị Hoan, giảng viên Khoa Chăn Nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn em trong thời gian thực tập để em hoàn thành đề tài tốt nghiệp này

Em xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo cùng đội ngũ công nhân viên công ty XNK Biovet Và đặc biệt cho em xin được cảm ơn ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ kỹ thuật, công nhân viên trại lợn nái sinh sản Phan Tấn Thành

đã giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này,cũng như học tập rèn luyện nâng cao tay nghề

Em xin cảm ơn bạn bè và người thân đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên em trong suốt thời gian học tập, thực tập để hoàn thành khóa luận này Trong quá trình thực tập, bản thân em không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô để khóa luận của

em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 05 năm 2017

Sinh viên

Nguyễn Văn Cương

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Để hoàn thành chương trình đào tạo trong Nhà trường, thực hiện phương châm học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn sản xuất, thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình học tập của tất cả các trường Đại học nói chung và trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng Giai đoạn thực tập chiếm một vị trí hết sức quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường Đây là khoảng thời gian để sinh viên củng cố và hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp sinh viên làm quen với thực tiễn sản xuất, từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được phương thức tổ chức và tiến hành công việc nghiên cứu, ứng dụng các tiễn bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất Tạo cho sinh viên có tác phong làm việc đúng đắn, sáng tạo, để khi ra trường trở thành một người cán

bộ có chuyên môn, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, góp phần xứng đáng vào

sự nghiệp phát triển Đất nước

Xuất phát từ quan điểm trên và được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Được sự nhất trí của giáo viên hướng dẫn và sự tiếp nhận của cơ sở, em đã tiến hành thực hiện đề tài:

“Theo dõi tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung và hiệu lực của phác đồ điều trị ở đàn lợn nái nuôi tại trại lợn Phan Tấn Thành liên kết với Công ty Cổ phần XNK Biovet ”

Do thời gian thực tập có hạn, kiến thức chuyên môn còn nhiều hạn chế nên trong bản khóa luận tốt nghiệp này không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, của bạn bè, đồng nghiệp để bản khóa luận được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tình hình chăn nuôi của trại qua các năm 5

Bảng 2.2 Lịch tiêm phòng Vacxin cho toàn đàn của trại heo nái sinh sản Phan Tấn Thành 7

Bảng 3.1 Sơ đồ theo dõi thí nghiệm 23

Bảng 4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 31

Bảng 4.2 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái qua 3 năm (2014 - 2016) 32

Bảng 4.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ 33

Bảng 4.4 Tỷ lệ nhiễm bệnh viêm tử cung theo giống lợn 34

Bảng 4.5 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái theo các tháng 35

Bảng 4.6 Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung 37

Bảng 4.7 Tỷ lệ phối đạt của lợn bị viêm tử cung sau điều trị 37

Trang 6

: Nhà xuất bản :Lở mồm long móng STT : Số thứ tự

TT : Thể trọng XNK : Xuất nhập khẩu

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI NÓI ĐẦU ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Phần 2:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 3

2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở (trong 3 năm) 4

2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước có liên quan đến nội dung của chuyên đề 8

2.2.1.Giải phẫu cơ quan sinh dục và một số đặc điểm sinh lý của lợn cái 8

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 20

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 23

3.1 Đối tượng 23

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 23

3.3 Nội dung tiến hành 23

3.4 Phương pháp tiến hành và các chỉ tiêu theo dõi 23

3.4.1 Phương pháp theo dõi 23

3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi 23

3.4.3 Phương pháp tính toán các chỉ tiêu 24

Trang 8

3.5 Phương pháp xử lý số liệu 24

Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25

4.1 Công tác phu ̣c vu ̣ sản xuất 25

4.1.1 Công tác chăn nuôi 25

4.1.2 Công tác thú y 28

4.1.3 Các hoạt động khác tại cơ sở 31

4.1.4 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 31

4.2 Kết quả của chuyên đề 32

4.2.1 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái qua 3 năm (2014 - 2016) 32

4.2.2 Tỷ lệ nhiễm bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ 33

4.2.3 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở các giống lợn 34

4.2.4 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn theo tháng 35

4.2.5 Kết quả điều trị thử nghiệm bệnh viêm tử cung 36

4.2.6 Một số chỉ tiêu sinh sản của lợn nái sau điều trị 37

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 39

5.1 Kết luận 39

5.2 Đề nghị 40 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

khuẩn như: escheria coli, Streptococcus, Staphylococcus Bệnh có thể dẫn

đến hậu quả như: gây chết thai, sảy thai và làm hạn chế khả năng sinh sản của lợn nái ở các lứa tiếp theo, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và hiệu quả của ngành chăn nuôi lợn

Từ thực tế trên cho thấy việc nghiên cứu nguyên nhân gây bệnh và đưa

ra biện pháp phòng, trị bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái là rất cần thiết Để

góp phần giải quyết vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Theo dõi tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung và hiệu lực của phác đồ điều trị ở đàn lợn nái nuôi tại trại lợn Phan Tấn Thành liên kết với Công ty Cổ phần XNK Biovet ”

Trang 10

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

Trang 11

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập

Trại heo nái sinh sản Phan Tấn Thành sử dụng các sản phẩm thuốc thú

y của công ty cổ phần XNK Biovet Trại có diện tích 1,8ha nằm ở xã Dân Hạ

- Kỳ Sơn – Hòa Bình, trại có hệ thống đường giao thông thuận tiện cho việc phục vụ sản xuất

Trại cách khá xa khu dân cư nên ít ảnh hưởng tới người dân, đặc biệt là

ô nhiễm mùi và tiếng ồn Đồng thời cũng giúp cho trại có thể phòng chống được dịch bệnh lây lan từ bên ngoài khu dân cư cũng như dịch bệnh từ bên trong phát tán ra ngoài

Trại lợn nái sinh sản Phan Tấn Thành nói riêng và tỉnh Hòa Bình nói chung là một tỉnh miền núi thuộc vùng Tây Bắc nên khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa, mùa hè thường nóng ẩm và mưa nhiều, mùa đông lạnh và khô hanh

Trại bắt đầu được xây dựng vào năm 2013 đến tháng 9 năm 2014 thì bắt đầu đi vào chăn nuôi

Trại gồm 2 khu là khu hành chính và khu sản xuất Khu hành chính gồm các phòng ban của trại như: phòng ở của cô chú chủ trại, phòng họp, nhà

ăn và nhà ở cho công nhân

Hệ thống phòng sát trùng tự động trước khi vào khu vực sản xuất, có phòng thay quần áo của công nhân và khu sản xuất gồm 5 dãy nhà gồm có 8 chuồng với mỗi chuồng đều có diện tích là 700m2, khu nuôi nhốt lợn đực có diện tích 80m2

Trang 12

Chuồng nuôi được xây dựng bằng gạch và xi măng Mái được lợp hai lớp bằng tôn Đầu chuồng được lắp đặt dàn mát là những tấm lưới lọc dày, bằng giầy hút ẩm, có hệ thống tưới nước ẩm và hệ thống bạt che di động có thể chắn gió, mưa Cuối chuồng được lắp đặt hệ thống quạt hút gió Các ô chuồng được thiết kế bằng khung sắt chắc chắn Nền chuồng bầu được lát bằng các tấm bê tông có lỗ đục Nền chuồng đẻ được lát bằng các tấm đan bằng nhựa và tấm bê tông có lỗ đục Nền chuồng hậu bị và chuồng nuôi lợn cai sữa được láng bằng xi măng cát chắc chắn Trong chuồng nuôi hậu bị và lợn cai sữa còn có xây kênh nước Các máng ăn gồm có máng tự động, bán động bằng inox, máng inox nhỏ cho lợn con tập ăn Nguồn nước uống cho lợn được lấy từ nước ngầm trên núi Sau đó qua hệ thống lọc, rồi theo hệ thống ống dẫn đến từng ô chuồng, tại đây có van uống đóng mở tự động khi lợn uống Chất lượng nước ở đây đã được sở Tài nguyên và môi trường kiểm tra và cấp giấy phép đạt tiêu chuẩn chăn nuôi

Nhận thấy cách thức xây dựng chuồng trại ở đây là phù hợp Vì chuồng được xây theo hướng Đông Nam nên mát về mùa hè và ấm về mùa đông Xung quanh chuồng có trồng cây xanh làm bóng mát Tất cả các thiết bị phục vụ chăn nuôi như điện, nước, máng ăn, máng uống được thiết kế chắc chắn, dễ lau chùi và bảo dưỡng

2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở (trong 3 năm)

2.1.2.1 Tình hình chăn nuôi ở trại

Năm 2014 do quy mô chuồng chưa lớn và bắt đầu chăn nuôi vào cuối năm nên số lượng lợn con xuất đi rất ít Từ cuối năm 2015 khi quy mô được phát triển thì số đầu lợn tăng lên

Tình hình chăn nuôi của trại qua các năm

Trang 13

Bảng 2.1 Tình hình chăn nuôi của trại qua các năm

Loại lợn Số lượng theo các năm (con)

2.1.2.2 Công tác vệ sinh, chăm sóc, phòng trị bệnh cho đàn lợn

Công tác vệ sinh của trại bao gồm các khâu: dọn phân, rửa chuồng, rửa máng ăn, tắm cho lợn, xử lý rác thải, thức ăn dư thừa, phun thuốc sát trùng cho từng chuồng và xung quanh chuồng, sát trùng phương tiện vận chuyển, dụng cụ chăn nuôi, dụng cụ thú y, xử lý nguồn nước

Tùy vào điều kiện thời tiết, mùa vụ mà việc vệ sinh chăm sóc thay đổi cho phù hợp:

- Dọn phân, rửa chuồng, tắm chải: chuồng đẻ thì hót phân trên nền chuồng, mỗi ngày tắm rửa cho lợn 1 lần vào mùa hè, mùa rét thì 2 đến 3 ngày chỉ rửa 1 lần tránh làm ướt lợn mẹ và lợn con, nếu nhiệt độ xuống quá thấp thì

Trang 14

chỉ dọn phân Các chuồng khác mỗi ngày tắm, rửa một lần vào mùa hè, mùa rét thì chỉ rửa chuồng 2 ngày 1 lần

- Máng ăn ngày rửa 1 lần, vào đầu buổi sáng bỏ hết thức ăn dư thừa ra

- Sát trùng: với chuồng trại thì có chế độ phun thuốc sát trùng định kỳ

và không định kỳ Trong chuồng sử dụng dung dịch cồn iodine 70% hoặc benkocid ngày phun một lần sau khi cho lợn ăn Bên ngoài phun thuốc sát trùng một tháng một lần, khi có dịch thì mỗi ngày một lần Thường xuyên dội vôi hành lang, lối đi trong chuồng cũng như khu vực hành lang bên ngoài Các phương tiện vận chuyển ra vào trại đều được phun sát trùng Để vào khu chăn nuôi phải đi thay quần áo bảo hộ và qua một hố vôi sát trùng

- Nguồn nước uống: nước sử dụng cho lợn uống được lấy từ hệ thống nước ngầm trên núi, sau đó qua hệ thống lọc rồi theo hệ thống dẫn đến từng ô chuồng

- Xử lý phân thải: phân thải của lợn được hót và đóng vào bao tải, một phần cho xuống ao cá, một phần được bán cho tư nhân, nước tiểu và nước thải được theo hệ thống tới nơi xử lý

Trại đã quan tâm tới công tác vệ sinh, vệ sinh và sát trùng xung quanh sạch sẽ, cống và rãnh thoát nước thải được khơi thông định kỳ, có khu chứa phân riêng biệt Công tác quản lý ra vào khu chăn nuôi rất chặt chẽ Xung quanh chuồng nuôi có hệ thống cửa sổ kính nên côn trùng không xâm nhập được, nhưng trong chuồng lại có rất nhiều chuột, đây chính là vật chủ trung gian mang và lây truyền mầm bệnh

- Quy trình tiêm vắc - xin phòng bệnh:

Để hạn chế bệnh cho vật nuôi nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi công

ty tiến hành tiêm vắc - xin phòng bệnh rất nghiêm ngặt trên toàn đàn lợn Vậy nên đàn lợn của trại hạn chế mắc các bệnh truyền nhiễm Quy trình tiêm phòng vắc - xin được thể hiện ở bảng 2.2

Trang 15

Bảng 2.2 Lịch tiêm phòng Vắc - xin cho toàn đàn của trại heo nái sinh

sản Phan Tấn Thành

(ml/con)

Đường tiêm

Lợn

con

7 – 10 ngày Rhenanvac 1 Viêm phổi do

Mycoplasma 1 Tiêm bắp

14 ngày Ingelvac PRRS PRRS 2 Tiêm bắp

21 ngày Rhenanvac2-CFS Viêm

15 tuần Porcilis Begonia Giả dại 2 Tiêm bắp

18 tuần Porcilis Begonia Giả dại 2 Tiêm bắp

20 tuần Ingelvac PRRS PRRS 2 Tiêm bắp

180 ngày Porcilis CFS Dịch tả 2 Tiêm bắp

đẻ Litergard Lt E.coli 2 Tiêm bắp

2 tuần sau đẻ Porcilis Pravo Pravo 2 Tiêm bắp

(Nguồn: Phòng kỹ thuật của trang trại)

Trang 16

2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước có liên quan đến nội dung của chuyên đề

2.2.1.Giải phẫu cơ quan sinh dục và một số đặc điểm sinh lý của lợn cái

2.2.1.1 Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh dục của lợn nái

Quá trình hoạt động sinh lý của cơ quan sinh dục là rất quan trọng và

cơ bản, giúp gia súc trong hoạt động sinh sản nhằm duy trì nòi giống Cấu tạo cơ quan sinh dục gồm bộ phận sinh dục bên ngoài và bộ phận sinh dục bên trong

Bộ phận sinh dục bên ngoài là bộ phận sinh dục có thể nhìn thấy, sờ thấy và quan sát được Bao gồm: âm môn, âm vật và tiền đình Bộ phận sinh dục bên trong không nhìn thấy được nhưng bằng phương pháp gián tiếp người

ta có thể quan sát, hoặc sờ thấy bao gồm: âm đạo, tử cung, ống dẫn trứng, buồng trứng Mỗi bộ phận này đều đảm nhiệm một chức năng khác nhau và giữ một vai trò quan trọng khác nhau

* Âm môn (vulva)

Âm môn hay còn gọi là âm hộ, nằm dưới hậu môn Bên ngoài có hai môi, bờ trên của hai môi có sắc tố, nhiều tuyến tiết chất nhờn màu trắng và tuyến tiết mồ hôi

* Âm vật (clitoris)

Âm vật của con cái được cấu tạo giống như dương vật của con đực được thu nhỏ lại, bên trong có các thể hổng Trên âm vật có các nếp da tạo ra mũ âm,

ở giữa âm vật gấp xuống dưới là chỗ tập trung đầu mút các dây thần kinh

* Tiền đình (vetstibulum vaginae simusinogenitalism)

Tiền đình là bộ phận nằm giữa âm môn và âm đạo Trong tiền đình có màng trinh, phía trước là âm đạo Màng trinh là các sợi cơ đàn hồi do hai lớp niêm mạc gấp lại tạo thành nếp Tiền đình có một số tuyến xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật

Trang 17

* Âm đạo (vagina)

Âm đạo là một ống tròn, trước là cổ tử cung, phía sau là tiền đình có màng trinh Âm đạo được cấu tạo bởi ba lớp:

Lớp liên kết bên ngoài

Lớp cơ trơn: bên ngoài là cơ dọc, bên trong là cơ vòng, chúng liên kết với các cơ tử cung

Lớp niêm mạc: trên bề mặt có nhiều tế bào thượng bì gấp nếp dọc Ngoài ra âm đạo còn là bộ phận thải thai ra bên ngoài khi sinh đẻ và là ống thải các chất dịch từ trong tử cung

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5], âm đạo của lợn dài 10 - 12 cm

* Tử cung (uterus)

Tử cung của lợn có hai sừng, một thân và một cổ tử cung

Cổ tử cung: là phần ngoài của tử cung, cổ tử cung của lợn dài và tròn, không gấp nếp hoa nở mà là những cột thịt dài xen kẽ cài răng lược với nhau

do đó dễ dàng cho việc thụ tinh nhân tạo đồng thời cũng dễ gây sảy thai (Đặng Quang Nam và Phạm Đức Chương, 2002 [10])

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5] cho biết cổ tử cung của lợn dài từ

10 - 18 cm

Thân tử cung: thân tử cung lợn ngắn, dài khoảng 3 - 5 cm nối giữa sừng tử cung và cổ tử cung Niêm mạc thân và sừng tử cung là những nếp gấp nhăn nheo theo chiều dọc

Sừng tử cung: sừng tử cung của lợn ngoằn ngoèo như ruột non, dài 0,5

- 1 m Ở lợn thai làm tổ đều ở cả hai bên sừng tử cung

* Ống dẫn trứng

Ống dẫn trứng (vòi fallop) nằm ở màng treo buồng trứng Chức năng của ống dẫn trứng là vận chuyển trứng và tinh trùng theo chiều ngược nhau Cấu tạo ống dẫn trứng cũng phù hợp với chức năng này, một đầu ống dẫn

Trang 18

trứng thông với xoang bụng, gần sát buồng trứng có loa kèn là một màng mỏng tạo thành một tán rộng lô nhô không đều ôm lấy trứng Trứng được vận chuyển qua lớp nhầy đi đến lòng ống dẫn trứng, nơi xảy ra quá trình thụ tinh

và phân chia của phôi Thời gian tế bào trứng di chuyển trong ống dẫn trứng

từ 3 - 10 ngày Trên đường di hành, tế bào trứng có thể ở lại các đoạn khác nhau do những chỗ hẹp của ống dẫn trứng

Có thể chia ống dẫn trứng thành bốn đoạn chức năng: đoạn tua điểm, đoạn phễu, phồng và đoạn co của ống dẫn trứng

* Buồng trứng

Buồng trứng lợn dài 1,5 - 2,5 cm, khối lượng khoảng 3 - 5gam (Đặng Quang Nam, Phạm Đức Chương, 2002 [10])

Cấu tạo: phía ngoài buồng trứng được bao bọc bởi một lớp màng bằng

tổ chức liên kết sợi, bên trong buồng trứng chia làm hai miền Miền vỏ và miền tủy đều được cấu tạo bằng tổ chức liên kết sợi xốp và tạo cho buồng trứng một lớp đệm (Stromaovaris) Ở miền tủy có tác dụng về sinh dục vì ở

đó xảy ra quá trình trứng chín và rụng trứng Trên buồng trứng của một lợn cái 10 ngày tuổi đã có khoảng 60.000 trứng non Theo thời gian, buồng trứng này phát triển qua các giai đoạn khác nhau Tầng ngoài là những noãn bào sơ cấp phân bố tương đối đều, tầng trong là những noãn bào thứ cấp đang sinh trưởng, khi noãn bào chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng

Noãn bào sơ cấp có trứng ở giữa, xung quanh là noãn bào, noãn bào lúc đầu có hình dẹt sau có hình trụ Noãn bào thứ cấp do noãn bào tăng sinh và hình thành xoang noãn bào ép trứng về một phía, khi noãn bào chín là quá trình sinh trưởng đã hình thành Noãn bào nổi lên trên bề mặt buồng trứng, đến một giai đoạn nhất định sẽ vỡ ra, tế bào trứng theo dịch noãn bào vào loa kèn rồi đi vào ống trứng, nơi noãn bào vỡ sẽ hình thành thể vàng

Trang 19

Thể vàng tiết ra progesteron, khối lượng thể vàng và hàm lượng progesteron tăng nhanh từ ngày thứ 8 và tương đối ổn định cho đến ngày thứ

15, sự thoái hóa thể vàng bắt đầu từ ngày thứ 17 - 18 và sẽ chuyển thành thể bạch nếu trứng không được thụ tinh

2.2.1.2 Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái

* Sự thành thục về tính

Thành thục về tính là tuổi con vật có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản So với thành thục về thể vóc, sự hình thành về tính ở gia súc nói chung và lợn nói riêng thường sớm hơn Vì vậy người chăn nuôi thường bỏ qua chu kỳ động dục đầu tiên, mà phối cho lợn ở chu kỳ sau, khi đó lợn đã phát triển toàn diện về thể vóc và sẵn sàng đảm nhiệm vai trò làm mẹ

Sự thành thục về tính được nhận biết bằng sự biến đổi bộ phận ngoài của cơ quan sinh dục và sự biến đổi của thần kinh Đầu tiên hai mép âm môn sưng đỏ và có dịch chảy ra, sau chuyển sang đỏ thẫm và keo dính Tương ứng với sự thay đổi của bộ phận ngoài cơ quan sinh dục là sự biến đổi về thần kinh, lúc đầu lợn hưng phấn sau chuyển sang giai đoạn mê ì Cùng với sự biểu hiện sinh dục bên ngoài, ở bên trong buồng trứng cũng có sự biến đổi, các noãn bào nổi trên bề mặt trứng và chín, niêm mạc tử cung tăng sinh, cổ tử cung mở dần kèm theo tiết dịch

Theo Lee (1993) tuổi động dục lần đầu tiên của nái hậu bị trung bình là 4

- 5 tháng tuổi, nhưng tuổi phối giống lần đầu thích hợp là 7 - 8 tháng tuổi và tuổi

đẻ lứa đầu là 11 - 12 tháng tuổi (dẫn theo Nguyễn Văn Thanh, 2003 [14])

* Chu kỳ tính

Khi gia súc thành thục về tính, những biểu hiện tính dục được biểu hiện

ra liên tục có tính chu kỳ, nó chấm dứt hoàn toàn khi cơ thể già yếu

Đây là một quá trình sinh lý phức tạp, sau khi cơ thể phát triển hoàn toàn, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì

Trang 20

bên trong buồng trứng các noãn bào phát triển, các noãn bào chín và nổi cộm lên bề mặt buồng trứng Khi noãn bào vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng, mỗi lần rụng trứng con vật có những biểu hiện tính dục ra bên ngoài gọi là động dục Do trứng rụng có tính chu kỳ nên động dục cũng mang tính chu kỳ

Sở dĩ trứng rụng có tính chu kì vì dưới sự điều khiển của thần kinh trung ương, tuyến yên tiết ra FSH tác động lên buồng trứng làm các noãn bao phát triển, trong khi đó LH làm trứng chín, khi đạt đến tỷ lệ LH/FSH là 3:1 thì khi đó rụng trứng, hình thành thể vàng Thể vàng tồn tại cho đến khi gần đẻ nếu gia súc được thụ thai, nó chỉ tồn tại từ 3 - 15 ngày nếu trứng không được thụ tinh, sau đó nó teo đi dưới tác dụng của PGF2α làm co mạch máu ngoại vi nuôi thể vàng, lúc này thể vàng rơi vào tình trạng không được cung cấp chất dinh dưỡng và bị tiêu hủy trong vòng 24h giờ Kết quả làm hàm lượng progesteron giảm, lúc này FSH và LH được giải phóng, làm trứng phát triển

và chín, xuất hiện chu kỳ động dục tiếp theo

Một chu kỳ động dục được tính từ lần thải trứng trước đến lần thải trứng sau Các loài gia súc khác nhau thì thời gian hình thành chu kỳ là khác nhau Ở lợn thời gian hình thành một chu kỳ trung bình là 21 ngày biến động trong phạm vi từ 18 - 25 ngày Khi tiến hành phối giống nếu lợn có chửa thì lợn không động dục lại Thời gian có chửa của lợn là 114 ngày, thời gian động dục trở lại là 7 ngày sau cai sữa, dao động từ 5 - 12 ngày

* Khoảng cách giữa các lứa đẻ

Khoảng cách giữa các lứa đẻ là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng sinh sản của gia súc cái Đây là tính trạng bao gồm nhiều tính trạng tạo nên bao gồm thời gian có chửa, thời gian nuôi con, thời gian cai sữa đến thụ thai lứa sau, do vậy khoảng cách lứa đẻ ảnh hưởng đến số con cai sữa/ nái/ năm Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy thời gian mang thai của lợn nái dao động không đáng kể, từ 113 - 115 ngày, đây là yếu tố ít biến đổi

Trang 21

Để rút ngắn khoảng cách các lứa đẻ ta chỉ có thể tác động rút ngắn thời gian bú sữa của lợn con bằng cách cho lợn con tập ăn sớm và cai sữa sớm cho lợn con Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy: để rút ngắn thời gian sau đẻ đến phối giống có kết quả cao thì phải chăm sóc nuôi dưỡng tốt và đặc biệt phải cai sữa sớm cho lợn con, điều đó làm tăng số con cai sữa/ nái/ năm Để rút ngắn thời gian cai sữa, phải tập cho lợn con ăn sớm từ 7 ngày tuổi đến khi lợn con có thể sống bằng thức ăn được cung cấp, không cần sữa mẹ

Hiện nay các cơ sở chăn nuôi tập trung, thời gian cai sữa ở lợn con là 21 ngày, sau cai sữa 5 - 6 ngày nái mẹ được phối giống lại Như vậy khoảng cách các lứa đẻ trung bình là 140 ngày, một năm nái có thể sản xuất được 2,5 lứa

2.2.1.3 Các bệnh thường gặp về viêm tử cung

* Viêm cổ tử cung (Cervitis)

Cổ tử cung lợn có những u thịt xen kẽ khép lại với nhau theo lối cài răng lược (Phạm Xuân Vân, 1982 [17])

Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5] cho biết cổ tử cung lợn dài từ 10 - 18

cm, tròn không có nếp gấp nên dễ thụ tinh nhân tạo hơn trâu bò

Cổ tử cung luôn đóng chỉ hé mở khi động dục và mở hoàn toàn khi sinh đẻ Bệnh viêm cổ tử cung ở gia súc thường là hậu quả của những sai sót về

kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, do thao tác đỡ đẻ, nhất là các trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hay các dụng cụ không đúng kỹ thuật, làm niêm mạc

cổ tử cung bị xây sát Ngoài ra, viêm cổ tử cung còn do kế phát từ viêm âm đạo, viêm tử cung (Trần Tiến Dũng và cs, 2002 [5])

Hậu quả của viêm cổ tử cung làm cổ tử cung bị tắc, khi gia súc động dục niêm dịch không thoát ra ngoài được Khi ta dùng mỏ vịt và đèn soi khám qua âm đạo thấy cổ tử cung mở đường kính từ 1 - 2 cm thấy niêm mạc xung huyết hoặc phù rõ, cá biệt có vết loét dính mủ (Nguyễn Văn Thanh, 2003 [14])

Trang 22

* Viêm tử cung

Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ trong tử cung, thai được đảm bảo mọi điều kiện để phát triển Mọi quá trình bệnh lý ở tử cung đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của con vật (Nguyễn Văn Thanh, 2003 [14])

Chính vì vậy, bệnh viêm tử cung đã được nhiều tác giả nghiên cứu Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5] thì viêm tử cung chia làm 3 thể: viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung và viêm tương mạc tử cung

a Viêm nội mạc tử cung (Endomestritis)

Theo Black (1983), viêm nội mạc tử cung là viêm lớp niêm mạc tử cung Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm khả năng sinh sản của gia súc cái Viêm nội mạc tử cung phổ biến và chiếm tỷ lệ cao nhất trong các thể viêm tử cung (trích Phùng Thị Vân, 2004 [18])

Nguyên nhân: Khi gia súc sinh đẻ, nhất là trong những trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây sát, tổn

thương, các vi khuẩn như: Streptococcus, Staphylococcus, E coli,

Salmonella, Brucella, roi trùng…xâm nhập và phát triển gây viêm nội mạc tử

cung Mặt khác, một số bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao… cũng gây ra viêm nội mạc tử cung Căn cứ vào tính chất, trạng thái của quá trình bệnh lý, viêm nội mạc tử cung có thể chia ra làm hai loại: viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ và viêm nội mạc tử cung có màng giả

+ Viêm nội mạc tử cung cata cấp tính có mủ (Endomestritis puerperalis

Catarhalis purulenta acuta)

Thể bệnh này xuất hiện trên tất cả các loài gia súc, gặp nhiều ở bò, trâu

và lợn Sau khi sinh đẻ, niêm mạc cổ tử cung và âm đạo bị tổn thương, xây sát, nhiễm khuẩn, nhất là khi gia súc bị sát nhau, đẻ khó phải can thiệp

Trang 23

Khi bị bệnh, gia súc có biểu hiện một số triệu chứng chủ yếu như: thân nhiệt hơi cao, ăn uống giảm, lượng sữa giảm Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, đôi khi cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh Từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức

Khi con vật nằm, dịch viêm thải ra ngoài càng nhiều hơn Xung quanh

âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm, có khi nó khô lại hình thành từng đám vẩy, màu trắng xám Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch viêm thải ra nhiều Cổ tử cung hơi mở và có mủ chảy qua cổ tử cung Niêm mạc âm đạo bình thường

Kiểm tra qua trực tràng có thể phát hiện được một hay cả hai sừng tử cung sưng to, hai sừng tử cung không cân xứng Thành tử cung dày và mềm hơn bình thường Khi kích thích nhẹ lên sừng tử cung thì mức độ phản ứng co lại của chúng yếu Trường hợp trong tử cung tích lại nhiều dịch viêm, nhiều

mủ thì có thể phát hiện được trạng thái chuyển động sóng

+ Viêm nội mạc tử cung màng giả

Thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử Những vết thương

đã ăn sâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử

Trường hợp này, con vật xuất hiện triệu chứng toàn thân rõ rệt như: thân nhiệt tăng cao, ăn uống và lượng sữa giảm, có khi hoàn toàn mất sữa Con vật biểu hiện trạng thái đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch: dịch viêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức hoại tử, niêm dịch…

b Viêm cơ tử cung (Myometritis puerperalis)

Theo Settergreen I (1986), viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung thể màng giả Niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm suất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tử cung làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương mạch quản và lâm ba quản Từ đó làm cho các lớp cơ và

Trang 24

một phần lớp tương mạc tử cung bị hoại tử Trường hợp này có thể dẫn đến hiện tượng nhiễm trùng toàn thân, nhiễm trùng huyết hoặc huyết nhiễm mủ,

có khi vì lớp cơ và lớp tương mạc tử cung bị phân giải, bị hoại tử mà tử cung

bị thủng hay hoại tử từng đám (dẫn theo Nguyễn Văn Thanh (2002) [13])

Ở thể viêm này, gia súc biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt tăng cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, sản lượng sữa giảm hay mất hẳn Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ đó cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu, lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanh, thối Kiểm tra qua âm đạo bằng mỏ vịt thấy cổ tử cung

mở, hỗn dịch càng chảy ra ngoài nhiều hơn, phản xạ đau của con vật càng rõ hơn Khám qua trực tràng thì tử cung to hơn bình thường, hai sừng tử cung to nhỏ không đều nhau, thành tử cung dày và cứng Khi kích thích lên tử cung, con vật rất mẫn cảm và có hiện tượng đau nên càng rặn mạnh hơn, hỗn dịch trong tử cung thải ra nhiều

Thể viêm này thường ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh đẻ lần sau

c Viêm tương mạc tử cung (Perimetritis puerperalis)

Theo Athur (1964), viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ thể viêm cơ tử cung Bệnh này thường ở thể cấp tính, cục bộ, toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hình và nặng (dẫn theo Đặng Đình Tín (1985) [16])

Lúc đầu, lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển sang màu đỏ sẫm, mất tính trơn bóng Sau đó, các tế bào bị phân hủy và bong ra, dịch thẩm xuất rỉ ra làm cho lớp tương mạc bị xù xì Trường hợp viêm nặng, nhất là thể viêm có mủ, lớp tương mạc ở một số vùng có thể dính với các tổ chức xung quanh dẫn đến viêm phúc mạc, thân nhiệt tăng cao, mạch nhanh Con vật ủ rũ,

uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn Con vật biểu hiện trạng thái đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục Từ âm hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có mùi thối khắm Kiểm

Trang 25

tra qua trực tràng thấy thành tử cung dầy cứng, hai sừng tử cung mất cân đối, khi kích thích con vật biểu hiện đau đớn càng rõ và càng rặn mạnh hơn Trường hợp một số vùng của tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì có thể phát hiện được trạng thái thay đổi về vị trí và hình dáng của tử cung, có khi không tìm thấy một hoặc cả hai buồng trứng

Thể viêm này thường dẫn đến kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ

2.2.1.4 Nguyên nhân, biện pháp phòng và trị bệnh gây viêm tử cung

a) Một số nguyên nhân gây viêm tử cung

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [8], thì lợn nái sinh sản đều mang khuẩn trong âm đạo nhưng không gây bệnh, chỉ khi cổ tử cung mở, chất tiết dịch tụ lại, tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển

Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [9] cho biết trong quá trình

có thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc bị nhiễm một

số bệnh truyền nhiễm như: bệnh xoắn khuẩn, sảy thai truyền nhiễm và một số bệnh nhiễm khuẩn khác làm cho cơ thể lợn nái yếu dẫn đến sảy thai, thai chết lưu và viêm tử cung

Ngoài ra còn một số nguyên nhân sau:

* Thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý

Khẩu phần ăn thừa hay thiếu protein giai đoạn trước và trong thời kỳ mang thai đều ảnh hưởng đến viêm tử cung

Nái mẹ sử dụng quá nhiều tinh bột dẫn đến quá béo, gây khó đẻ và dẫn đến gây viêm tử cung do xây sát

Ngược lại thiếu chất dinh dưỡng, nái mẹ sẽ bị ốm yếu, sức đề kháng của cơ thể giảm, khả năng chống lại mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể yếu, có thể gây viêm tử cung

Trang 26

Thiếu khoáng chất, vitamin đều ảnh hưởng đến viêm tử cung Nếu thiếu vitamin A gây sưng niêm mạc và sót nhau

* Chăm sóc quản lý vệ sinh

Vệ sinh chuồng trại kém, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước khi đẻ không tốt, khu vực chuồng trại có mầm bệnh Do quá trình can thiệp khi lợn

đẻ, thủ thuật đỡ đẻ, thao tác và dụng cụ không đúng kỹ thuật làm tổn thương niêm mạc Do tinh dịch bị nhiễm khuẩn và dụng cụ thụ tinh không vô trùng

đã đưa vi khuẩn vào bộ phận sinh dục của lợn cái gây viêm nhiễm Do lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyền vi khuẩn sang lợn cái

Chăm sóc, quản lý, vệ sinh là khâu rất quan trọng Vệ sinh trang trại,

cơ sở chăn nuôi, vệ sinh cơ thể lợn nái đồng thời quản lý tốt,… sẽ làm giảm tỷ lệ viêm tử cung ở lợn

* Tiểu khí hậu chuồng nuôi

Thời tiết khí hậu quá nóng hoặc quá lạnh trong thời gian đẻ dễ làm cho lợn nái bị viêm tử cung Vì vậy, chúng ta phải tạo môi trường tiểu khí hậu phù hợp đối với lợn nái khi sinh để làm hạn chế bệnh viêm tử cung

* Tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe

Nái đẻ những lứa đầu và nái đẻ nhiều lứa thường hay mắc bệnh viêm tử cung Nái già do sức khỏe kém, hay kế phát một số bệnh, sức rặn đẻ yếu, thời gian đẻ kéo dài, đẻ khó dễ dẫn đến viêm tử cung

* Đường xâm nhiễm của mầm bệnh

Mầm bệnh có mặt trong ruột, qua niêm mạc đi vào máu, xâm nhập vào

tử cung, nguyên nhân chính của sự xâm nhập này là do nhu động của ruột kém điều này cũng là một trong những nguyên nhân gây viêm tử cung ở lợn

Xâm nhập có thể từ ngoài vào do vi khuẩn hiện diện trong phân, nước tiểu

Trang 27

Thận, bàng quang và đường niệu đạo bị nhiễm trùng mãn tính cũng là nguyên nhân gây bệnh viêm tử cung ở lợn

Hầu hết các trường hợp viêm tử cung đều có sự hiện diện của những vi sinh vật thường xuyên có mặt trong chuồng lợn Lợi dụng lúc sinh sản, tử cung,

âm đạo tổn thương chứa nhiều sản dịch, vi trùng xâm nhập và gây viêm tử cung

b) Biện pháp phòng và trị bệnh viêm tử cung

* Phòng bệnh: vệ sinh chuồng nái đẻ sạch sẽ một tuần trước đẻ, rắc vôi bột hoặc nước vôi 20 % sau đó rửa bằng nước sạch

Khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục và bầu vú, phun sát trùng bằng dung dịch iodine 70% pha với tỷ lệ 10 ml/ 1 lít nước

Khi đỡ đẻ bằng tay cần có găng tay, tay được sát trùng kỹ bằng rượu, cồn, bôi trơn vazơlin hoặc dầu lạc Sau khi lợn đẻ xong phải bơm rửa bằng nước đun sôi để nguội, pha thuốc tím với tỷ lệ 1/1000 hay nước muối sinh lý 9/1000 hay iodine 70% pha với tỷ lệ 10 ml/ 1 lít nước Sau đó bơm hoặc đặt thuốc kháng sinh penicilin 2 - 3 triệu UI, tetramycin hay sulfanilamid 2 – 5 gam vào tử cung để chống viêm

Trước khi cho lợn giao phối cần kiểm tra lợn đực xem có mắc bệnh không, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục của lợn đực và lợn nái Nếu thụ tinh nhân tạo cần kiểm tra dụng cụ, vệ sinh sát trùng dụng cụ, kiểm tra phẩm chất tinh dịch,

* Biện pháp điều trị

Để điều trị tốt bệnh viêm tử cung cho lợn cần phải theo dõi, phát hiện bệnh kịp thời và chẩn đoán đúng bệnh Phát hiện điều trị bệnh sớm sẽ rút ngắn được thời gian điều trị, đỡ tốn kém thuốc, bệnh chóng khỏi và con vật chóng hồi phục

+ Thụt rửa rửa bằng nước đun sôi để nguội,pha nước muối sinh lý 9/1000 hay iodine 70% pha với tỷ lệ 10 ml/ 1 lít nước

Ngày đăng: 30/11/2017, 16:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Triệu An, Nguyễn Ngọc An, Nguyễn Ngọc Lanh, Nguyễn Hữu Mô (1990), Bài giảng sinh lý bệnh, Nxb Y học, Hà Nội.2.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng sinh lý bệnh
Tác giả: Vũ Triệu An, Nguyễn Ngọc An, Nguyễn Ngọc Lanh, Nguyễn Hữu Mô
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 1990
12. Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (1994), Bệnh sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh sinh sản gia súc
Tác giả: Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1994
13. Nguyễn Văn Thanh (2002), Nghiên cứu một số chỉ tiêu và bệnh đường sinh dục thường gặp ở lợn, Nxb Nông nghiệp.14.15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số chỉ tiêu và bệnh đường sinh dục thường gặp ở lợn
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp. 14. 15
Năm: 2002
16. Đặng Đình Tín (1985), Sản khoa và bệnh sản khoa thú y, Trường ĐH Nông nghiệp 1, Hà Nội.17.18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản khoa và bệnh sản khoa thú y
Tác giả: Đặng Đình Tín
Năm: 1985
20. Vtrekaxova A.V (1985), Bệnh lợn đực và lợn nái sinh sản, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh lợn đực và lợn nái sinh sản
Tác giả: Vtrekaxova A.V
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1985
21. Xobko A.L, Gia Denko I.N. (1987), Cẩm nang bệnh lợn tập I (Trần Hoàng dịch), Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang bệnh lợn tập I (
Tác giả: Xobko A.L, Gia Denko I.N
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1987
22. Arthur G. H (1964), Wrights Veterinary obsterics, The Williams and Wilkins Company Sách, tạp chí
Tiêu đề: Wrights Veterinary obsterics
Tác giả: Arthur G. H
Năm: 1964
23. Baner A. (1986), Control and Prevention of inherited causing infertilyty, Technical Managment A.I Programmes Swedish University of Agricultural sciences, Uppsala Sweden Sách, tạp chí
Tiêu đề: Control and Prevention of inherited causing infertilyty
Tác giả: Baner A
Năm: 1986
24. Black W. G. (1983), “Inflammatory response of the bovine endometrium” Am. Jour. Vet. Res Sách, tạp chí
Tiêu đề: Inflammatory response of the bovine endometrium
Tác giả: Black W. G
Năm: 1983
19. Vadec F (1995), Viêm tử cung và chức năng sinh sản của lợn nái , Tạp chí KHKT Thú y, tập II số 1 - 1995 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w