Mục tiêu của đề tài - Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trang trại lợn công ty Phát Đạt - Xác định được khả năng sinh sản của đàn lợn nái.. Chu kỳ tính dục: Ở gia súc, việc giao phối bị
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn Nuôi Thú Y
Khóa học: 2013 - 2017
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn Nuôi Thú Y
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian học tập và rèn luyện tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên và sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, nhờ sự nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ của thầy cô, gia đình, bạn bè, tôi đã hoàn thành tốt đợt thực tập tốt nghiệp
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban giám hiệu nhà trường, các phòng ban,các thầy cô giáo trong nhà trường, các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn cô giáo TS Hồ Thị Bích Ngọc
người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực tập, và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cán bộ và công nhân trong trại lợncông
ty Phát Đạt, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài tốt nghiệp và học hỏi nâng cao tay nghề
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt chương trình học tập tại trường
Thái Nguyên, 10 tháng 06 năm 2017
Sinh viên
Trần Quang Hội
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 4.1: Lịch vệ sinh khử trùng tại cơ sở 33
Bảng 4.2: Quy trình sử dụng vắc xin và các chế phẩm thú y phòng bệnh cho đàn lợn của Trại 34
Bảng 4.3: Quy định khối lượng thức ăn chuồng bầu 41
Bảng 4.4: Quy định khối lượng thức ăn chuồng đẻ 41
Bảng 4.5: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 43
Bảng 4.6:Số lượng và cơ cấu đàn lợn nái của trại 44
Bảng 4.7: Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của đàn lợn nái nuôi tại trại (n =48) 44
Bảng 4.8: Mộtsốtínhtrạngsinhsảncủađànlợnnái 47
Bảng 4.9: Các chỉ tiêu về lợn con của lợn nái GF24 49
Bảng 4.10: Những bệnh thường gặp trên đàn lợn nái nuôi tại trang trại 50
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
cs: Cộng sự
KLCS : Khối lượng cai sữa
KLSS : Khối lượng sơ sinh
TTTA : Tiêu tốn thức ăn
SCĐR: Số con đẻ ra
SCĐRCS: Số con để ra còn sống
Y: Yorkshire
Nxb: Nhà xuất bản
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu của đề tài 2
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cở sở nơi thực tập 3
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên 3
2.1.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại 4
2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại 5
2.1.1.4 Tình hình sản xuất của trang trại 5
2.2 Cơ sở khoa học 7
2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 7
2.2.1.1 Một số đặc điểm của cơ quan sinh dục và sinh lý sinh dục lợn cái 7
2.2.1.2 Các tính trạng năng suất sinh sản của lợn nái 11
2.2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái 17
2.2.1.4 Một số đặc điểm của giống lợn tiến hành nghiên cứu 22
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 22
2.2.2.1.Tình hình nghiên cứu trong nước 22
2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 25
Trang 7Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 28
3.3 Nội dung nghiên cứu 28
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 28
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 28
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu 29
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 30
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
4.1 Công tác thú y và chăn nuôi tại cơ sở thực tập 31
4.1.1 Công tác thú y 31
4.1.1.1 Công tác vệ sinh phòng bệnh 31
4.1.1.2 Công tác phòng và trị bệnh bằng vaccine 33
4.1.1.3.Chẩn đoán và điều trị bệnh 35
4.1.2 Công tác chăn nuôi 39
4.1.2.1 Công tác chăm sóc nuôi dưỡng 39
4.1.2.2 Công tác giống 42
4.2 Kết quả thực hiện đề tài 44
4.2.1 Số lượng và cơ cấu đàn lợn nái của trại lợn công ty Phát Đạt 44
4.2.2 Mộtsốđặcđiểmsinhlýsinhsảncủalợnnái nuôi tại trại 44
4.2.3 Năngsuấtsinhsảncủalợnnái nuôi tại trại 47
4.2.4 Nghiên cứu các chỉ tiêu về lợn con 49
4.2.5 Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái nuôi tại trại 50
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53
5.1 Kết luận 53
5.2 Đề nghị 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Trang 8I Tài liệu tiếng Việt 55 II.Tiếng Anh 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Trang 9ta có tới hơn 70% dân số làm nông nghiệp
Trong chăn nuôi, chăn nuôi lợn giữ một vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước Chăn nuôi lợn theo quy mô hộ gia đình từ lâu đã gắn bó với người nông dân Việt Nam Tuy nhiên, do nhu cầu tiêu thụ thịt tăng nhanh, những năm gần đây, các trung tâm giống và các doanh nghiệp, đã nhập khẩu các giống lợn ngoại có năng suất cao để cải thiện chất lượng đàn lợn hiện có ở nước ta Rất nhiều trại chăn nuôi lợn theo hướng chăn nuôi công nghiệp đã được hình thành,tạo nên các vùng chăn nuôi thâm canh lớn Nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật về thức ăn, giống, chăm sóc quản lý, chuồng trại đã được áp dụng thành công
Trong ngành chăn nuôi, chăn nuôi lợn nái có vai trò quan trọng Nước
ta đã nhập một số giống lợn nái ngoại như Yorkshire, Landrace… để nuôi sinh sản, nhằm nâng cao số lượng cũng như chất lượng đàn lợn của nước ta và
đã thu được các kết quả tốt
Tuy nhiên, các giống lợn nái nuôi tại các trang trại của nước ta chủ yếu
là nuôi sinh sản để sản xuất lợn thương phẩm, do đó việc kiểm tra năng suất sinh sản của lợn chưa được chú trọng Mặt khác, lợn nái rất dễ mắc các bệnh sau đẻ như: viêm tử cung, viêm vú,… Những bệnh này làm giảm sức đề kháng và khả năng sinh sản của lợn nái, làm giảm tỷ lệ thụ thai, mất sữa, ảnh
Trang 10hưởng đến đàn con Nếu bệnh nặng có thể làm mất khả năng sinh sản, làm tăng tỷ lệ loại thải, dẫn đến giảm số lượng đàn lợn nái, gây thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi
Từ yêu cầu cấp thiết của thực tiễn sản xuất, tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Theo dõi khả năng sản xuất và một số bệnh thường gặp của đàn lợn nái nuôi tại trang trại công ty Phát Đạt”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trang trại lợn công ty Phát Đạt
- Xác định được khả năng sinh sản của đàn lợn nái
- Xác định tỷ lệ mắc một số bệnh thường gặp của đàn lợn nái và biện pháp phòng trị
- Những khuyến cáo từ kết quả của đề tài có thể giúp cho người chăn nuôi lợn tránh được những thiệt hại do bệnh gây ra
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Làm rõ được các thông tin về khả năng sinh sản của lợn nái
- Đưa ra kết quả về tỷ lệ mắc bệnh thường gặp sau khi đẻ trên đàn lợn nái và phác đồ điều trị bệnh hiệu quả
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cở sở nơi thực tập
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
-Vị trí địa lí: Thị xã Phúc Yên nằm ở phía Đông Nam tỉnh Vĩnh Phúc, phía Đông Bắc của Thủ đô Hà Nội, cách trung tâm thủ đô 30 Km Thị xã Phúc Yên có chiều dài theo trục Bắc - Nam 24 km, từ phường Hùng Vương đến đèo Nhe, xã Ngọc Thanh giáp với tỉnh Thái Nguyên
Địa giới hành chính thị xã Phúc Yên:Phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên, phía Tây giáp huyện Bình Xuyên và phía Nam, Đông giáp với Thủ đô Hà Nội, Phúc Yên có hệ thống giao thông đa dạng: đường bộ có các tuyến Quốc lộ 2, Quốc lộ 23, đường xuyên Á Hà Nội - Lào Cai đi qua; có đường sắt Hà Nội – Lào Cai, giáp cảng hàng không quốc tế Nội Bài, tạo điều kiện cho Phúc Yên tiềm lực, lợi thế để mở rộng thị trường, thu hút đầu tư, giao lưu kinh tế, văn hoá.Thị xã Phúc Yên nằm ở phía Đông Nam tỉnh Vĩnh Phúc, phía Đông Bắc của Thủ đô Hà Nội, cách trung tâm thủ đô 30 Km Thị xã Phúc Yên có chiều dài theo trục Bắc - Nam 24 km, từ phường Hùng Vương đến đèo Nhe, xã Ngọc Thanh giáp với tỉnh Thái Nguyên
- Khí hậu: Thị xã Phúc Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ bình quân năm là 23°C, có nét đặc trưng nóng ẩm, mưa nhiều về mùa
hè, hanh khô và lạnh kéo dài về mùa đông Khí hậu tương đối thuận lợi cho phát triển nông nghiệp đa dạng
Nhiệt độ không khí có các đặc trưng sau: cực đại trung bình năm là 20,5°C, cực đại tuyệt đối 41,6 °C, cực tiểu tuyệt đối 3,1 °C Độ ẩm không khí tương đối trung bình năm là 83%, độ ẩm cực tiểu tuyệt đối là 16% Hướng gió
Trang 12chủ đạo về mùa đông là Đông – Bắc, về mùa hè là Đông – Nam, vận tốc gió trung bình năm là 2,4 m/s Vận tốc gió cực đại có thể xảy ra theo chu kỳ thời gian 5 năm là 25 m/s; 10 năm là 32 m/s, 20 năm là 32 m/s
2.1.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại
- Trại lợn có khoảng 0,3 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà cho công nhân, bếp ăn các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động
khác của trại
- Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 600 nái bao gồm: 3 chuồng đẻ mỗi chuồng có 48 ô kích thước 2,4 m × 1,6 m/ô, 3 chuồng bầu mỗi chuồng có 150ô kích thước 2,4 m × 0,65 m/ô, 1 chuồng cách ly, 1 chuồng đực giống, 3 chuồng thịt cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc…
Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối mỗi chuồng đẻ, chuồng bầu và chuồng thịt đều có 3 quạt thông gió và 2 quạt đối với chuồng cách ly, 2 quạt đối với chuồng đực Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,5 m², cách nền 1,2 m, mỗi cửa sổ cách nhau 40 cm Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh
Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: máy lọc nước, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác
Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng
Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng nái đẻ 2 Nước tắm,
Trang 13nước xả gầm, nước phục vụ cho công tác khác được bố trí từ bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng
2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:
02 chủ trại
02 quản lý trại
02 quản lý kỹ thuật
12 công nhân và 7 sinh viên thực tập
Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng nái chửa, nhà bếp Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi, đều được khoán đến từng công nhân, nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trại
2.1.1.4 Tình hình sản xuất của trang trại
Công tác chăn nuôi
Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống, cung cấp thực phẩm sạch sản xuất theo mô hình VietGAP và chuyển giao tiến bộ khoa học
kỹ thuật
Hiện nay trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,45 - 2,5 lứa/năm
Số con sơ sinh là 13,57 con/đàn, số con cai sữa: 11,23 con/đàn Trại hoạt động vào mức khá theo đánh giá của công ty thức ăn chăn nuôi Greenfeed
Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 28 ngày thì tiến hành cai sữa chuyển sang các chuồng nuôi thịt và xuất bán
Trong trại có 7 con lợn đực giống, các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo Tinh lợn được khai thác chủ yếu là giốngDuroc Lợn nái được phối
2 lần và được luân chuyển giống
Trang 14Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được công ty thức ăn chăn nuôi GreenFeed cấp cho từng đối tượng lợn của trại
Công tác thú y
Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại sản xuất lợn giống luôn thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên công ty thức ăn chăn nuôi GreenFeed
- Công tác vệ sinh: Hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, thu gom cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn và rắc vôi theo quy định
Công nhân, kỹ sư, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phải sát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áo bảo hộ lao động
- Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi, hạn chế đi lại giữ các chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào Với phương châm phòng bệnh là chính nên tất cả lợn ở đây đều được cho uống thuốc, tiêm phòng vắc xin đầy đủ
Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bênh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn
Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100%
- Công tác trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật của trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được
kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách li, điều trị ngay ở giai đoạn đầu của bệnh
Trang 15nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 - 90% trong một thời gian ngắn Vì vậy, không
gây thiệt hại lớn về số lượng đàn lợn
2.2 Cơ sở khoa học
2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái
2.2.1.1 Một số đặc điểm của cơ quan sinh dục và sinh lý sinh dục lợn cái
Một số đặc điểm của cơ quan sinh dục lợn cái
Theo Đặng Quang Nam (2002) [9], cơ quan sinh dục cái có các bộ phận sau: Buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo và các cơ quan sinh dục bên ngoài Cơ quan sinh dục bên trong được đỡ bằng dây chằng rộng Dây chằng này gồm những màng treo buồng trứng (đỡ buồng trứng), màng treo ống dẫn trứng (đỡ ống dẫn trứng) và màng treo tử cung (đỡ tử cung)
Buồng trứng được bọc ở ngoài bởi màng liên kết sợi chắc, bên trong chia làm 2 phần, cả 2 phần đều phát triển một thứ mô liên kết sợi xốp tạo nên một loạt chất đệm Dưới lớp màng liên kết của buồng trứng có nhiều tế bào trứng non phát triển dần thành nang trứng nguyên thủy, sau đó phát triển thành nang trứng sơ cấp và cuối cùng phát triển thành bao noãn chín Dưới tác dụng của kích tố đặc biệt là kích tố sinh dục tuyến yên, trứng chín sẽ rụng Như vậy, buồng trứng có 2 chức năng là sản sinh ra tế bào trứng và tiết ra
hormone sinh dục có ảnh hưởng tới tính biệt, tới chức năng tử cung (đặc tính
thứ cấp của con cái)
- Ống dẫn trứng (Oviductus): Ống dẫn trứng dài 15-20cm, uốn khúc
nằm ở cạnh trước dây chằng rộng Ống dẫn trứng bắt đầu ở bên cạnh buồng trứng đến đầu tử cung và được chia làm 2 phần: Phần trước tự do có hình phễu loe ra gọi là loa vòi (loa kèn) có tác dụng hứng tế bào trứng chín rụng, phần sau thon nhỏ có đường kính dài 0,2-0,3cm nối với sừng tử cung Cấu tạo ống dẫn trứng xếp từ ngoài vào trong gồm có: Màng tương mạc đến từ dây chằng rộng, lớp cơ (2 lớp: Cơ vòng ở trong, cơ dọc ở ngoài), lớp niêm mạc trong cùng có nhiều gấp nếp chạy dọc và không có tuyến
Trang 16- Tử cung (Uterus): Tử cung là nơi cung cấp dinh dưỡng và phát triển
của thai Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bóng đái Tử cung gồm 3 phần: Sừng, thân, cổ tử cung Sừng tử cung dài ngoằn ngoèo như ruột non, dài 30-50cm, có dây chằng rộng rất dài nên khi thiến có thể kéo sừng tử cung ra ngoài được Thân tử cung ngắn, niêm mạc thân và sừng tử cung là những gấp nếp nhăn nheo theo chiều dọc Thai làm tổ ở sừng tử cung
Cổ tử cung không có gấp nếp hoa nở mà là những cột thịt xen kẽ cài răng lược với nhau Cấu tạo tử cung xếp từ ngoài vào trong có: Tương mạc được nối với dây chằng rộng, lớp cơ rất phát triển (dày, khỏe, có cấu tạo phức tạp phù hợp với chức năng chứa thai phát triển và đẩy thai khi đẻ Cơ dọc ở ngoài, cơ vòng ở trong và phát triển mạnh ở cổ tử cung tạo thành cơ thắt), lớp niêm mạc trong cùng màu hồng nhạt có nhiều gấp nếp với nhiều tuyến tiết chất nhờn
Sinh lý sinh dục lợn cái
* Sự thành thục về tính
Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục
và có khả năng sinh sản Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục
đã phát triển hoàn thiện, dưới tác dụng của thần kinh nội tiết tố con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục Con cái có hiện tượng động dục Khi
đó, con cái các noãn bào chín và rụng trứng (lần đầu Đối với các giống gia súc khác nhau thì thời gian thành thục về tính cũng khác nhau, ở lợn nội thường từ 4 - 5 tháng tuổi (120 - 150 ngày), ở lợn ngoại (180 - 210 ngày)
Ở lợn cái có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thành thục về tính như giống, chế độ dinh dưỡng, khí hậu, chuồng trại, trạng thái sinh lý của từng cá thể,…
Giống: Ở lợn lai tuổi động dục đầu tiên muộn hơn so với lợn nội thuần Lợn lai F1 bắt đầu động dục lúc 6 tháng tuổi, khi khối lượng cơ thể đạt 50 –
55 kg Lợn ngoại động dục lần đầu muộn hơn so với lợn lai vào lúc 6 - 7 tháng tuổi, khi lợn có khối lượng 65 – 68 kg Còn đối với lợn nội tuổi thành thục về tính từ 4 - 5 tháng tuổi
Trang 17Chế độ dinh dưỡng: Ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn nái Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém Lợn cái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình 188,5 ngày (6 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể là 80 kg và nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày (trên 7 tháng tuổi) và khối lượng cơ thể là 48,4 kg
Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thành thục về tính là do sự tác động xấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố sinh dục, nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnh hưởng không tốt tới sự thành thục, là do sự tích lũy mỡ xung quanh buồng trứng và
cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của chúng Mặt khác, do béo quá ảnh hưởng tới các hormone oestrogen và progesterone trong máu, làm cho hàm lượng của chúng trong cơ thể không đạt mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục
+ Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: Cũng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục Mùa Hè lợn cái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa Thu - Đông, điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức
+ Ngoài các nhân tố trên, chu kỳ động dục còn chịu tác động của một số nhân tố khác như: Nhiệt độ, chế độ chiếu sáng, pheromone, tiếng kêu của con đực
Chu kỳ tính dục: Ở gia súc, việc giao phối bị hạn chế trong khoảng thời gian chịu đực, trùng hợp với thời gian rụng trứng, vì vậy việc nghiên cứu chu
kỳ tính dục sẽ giúp cho chúng ta xác định được thời điểm phối giống thích hợp, nâng cao được năng suất sinh sản của con cái Trung bình ở lợn chu kỳ động đực: 19 - 20 ngày, thời gian chịu đực: 48 - 72 giờ, thời điểm rụng trứng:
35 - 45 giờ kể từ khi bắt đầu chịu đực Cho phối giống quá sớm hay quá muộn, đều ảnh hưởng xấu đến tỷ lệ thụ thai và số con sinh ra /ổ (Hoàng Văn Tiến và cs (1995) [20]
Trang 18Đối với lợn nái có thể cho phối kép, tức là phối hai lần với hai lợn đực giống khác nhau, khoảng cách giữa hai lần phối giống từ 12 - 14 giờ đối với lợn nái cơ bản Đối với lợn nái hậu bị thì thời gian giữa hai lần phối là 10 - 12 giờ
Cơ chế động dục: Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [10], cơ chế động dục của lợn nái: Khi lợn nái đến tuổi thành thục về tính dục, các kích thích bên ngoài như ánh sáng, nhiệt độ, thức ăn, pheromone của con đực và các kích thích nội tiết đi theo dây thần kinh li tâm, đến vỏ đại não qua vùng dưới đồi (Hypothalamus) tiết ra kích tố FRF (Folliculin Releasing Factors), có tác dụng kích thích tuyến yên tiết ra FSH, làm cho bao noãn phát dục nhanh chóng Trong quá trình bao noãn phát dục và thành thục,thượng bì bao noãn tiết ra oestrogen chứa đầy trong xoang bao noãn, làm cho lợn nái có biểu hiện động dục ra bên ngoài
Theo Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [11]: Chu kỳ động dục của gia súc được chia làm 4 giai đoạn:
+ Giai đoạn trước động dục: Bao noãn phát triển, các tế bào vách ống dẫn trứng tăng sinh Hệ thống mạch quản trong dạ con phát triển Các tuyến trong dạ con bắt đầu tiết dưới tác dụng của hormone estrogen Thay đổi của đường sinh dục: Tử cung, âm đạo, âm hộ bắt đầu xung huyết
+ Giai đoạn động dục: Bao noãn phát triển mạnh nổi lên bề mặt buồng trứng Bao noãn tiết nhiều estrogen và đạt cực đại Các thay đổi ở đường sinh dục cái càng sâu sắc hơn, để chuẩn bị đón trứng Biểu hiện của con vật hưng phấn về tính dục, đứng yên cho con khác nhảy, kêu rống, bồn chồn, thích nhảy lên lưng con khác, ít ăn hoặc bỏ ăn, tìm đực
Âm hộ ướt, đỏ, tiết dịch nhày, càng tới thời điểm rụng trứng thì âm hộ đỏ tím, dịch tiết keo lại, mắt đờ đẫn Cuối giai đoạn này thì trứng rụng
+ Giai đoạn sau động dục: Thể vàng bắt đầu phát triển và tiết ra progesteron có tác dụng ức chế sự co bóp của đường sinh dục Niêm mạc tử
Trang 19cung vẫn còn phát triển, các tuyến dịch nhờn giảm bài tiết, mô màng nhầy tử cung bong ra cùng với lớp tế bào biểu mô âm đạo hóa sừng thải ra ngoài Biểu hiện hành vi về sinh dục: Con vật không muốn gần con đực, không muốn cho con khác nhảy lên, và dần trở lại trạng thái bình thường
+ Giai đoạn yên tĩnh: Thể vàng teo dần đi, con vật trở lại trạng thái bình thường, biểu hiện hành vi sinh dục không có Đây là giai đoạn nghỉ ngơi, yên tĩnh để phục hồi lại cấu tạo, chức năng cũng như năng lượng để chuẩn bị cho chu kỳ động dục tiếp theo
2.2.1.2 Các tính trạng năng suất sinh sản của lợn nái
Để đánh giá một cách đúng đắn năng suất sinh sản của lợn cái cần phải xác định được các chỉ tiêu cơ bản, quan trọng, lấy đó làm cơ sở, thước đo để định ra thời gian sử dụng lợn cái hiệu quả Các chỉ tiêu này cần phải được tính chung trong toàn bộ thời gian sử dụng lợn cái từ lứa đẻ đầu tiên đến lứa đẻ cuối cùng
Theo Nguyễn Thiện và cs (2005) [15] cho rằng khi khảo sát và đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái cần chú ý các chỉ tiêu: tuổi thành thục sinh dục, chu kỳ động dục, tuổi có khả năng sinh sản, thời gian mang thai và số con đẻ ra/lứa Tuy nhiên, Nguyễn Thiện, Hoàng Kim Giao (1996) [14] cho rằng số lợn con cai sữa/nái/năm là chỉ tiêu thể hiện sự đánh giá đúng đắn và chính xác nhất về năng suất sinh sản của lợn nái Cũng theo Legault (1985) [37], các chỉ tiêu ảnh hưởng đến số lợn con cai sữa/nái/năm bao gồm: số con đẻ ra, tỷ lệ chết của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa, thời gian bú sữa, tuổi đẻ lứa đầu, thời gian từ cai sữa đến khi thụ thai lứa sau
Qua nghiên cứu của Harmond (1994) (trích theo Đỗ Thị Thoa, 1998) [18] cho thấy các chỉ tiêu quan trọng với lợn nái sinh sản gồm: tuổi đẻ lứa đầu,
số con đẻ ra còn sống/ổ, khoảng cách lứa đẻ, thời gian cai sữa Kết quả đó cũng cho thấy số con cai sữa/nái/năm của lợn Large White là 21,2 con và của lợn Landrace Bỉ nuôi tại Pháp là 17,9 con
Trang 20Ở Việt Nam vào những giai đoạn khác nhau, đã có những tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái như: số con đẻ ra còn sống/lứa, khối lượng cai sữa/lứa, tuổi đẻ lứa đầu với nái đẻ lứa 1 hoặc khoảng cách giữa 2 lứa đẻ với lợn đẻ từ lứa thứ 2 trở đi Trong điều kiện chăn nuôi hiện nay dù là chăn nuôi lợn nái ở bất cứ khu vực nào thì thời gian cho con bú của lợn nái cũng thấp hơn 60 ngày, thậm chí có những trang trại chăn nuôi với quy mô trung bình và nhỏ cũng đã thực hiện được việc tách con vào 21 ngày tuổi Đó cũng là một giải pháp góp phần tăng năng suất sinh sản của lợn nái
Theo Nguyễn Khắc Tích (2002) [19],khả năng sản xuất của lợn nái chủ yếu được đánh giá dựa vào chỉ tiêu số lợn con cai sữa/nái/năm Từ đó cho thấy số lợn con cai sữa/nái/năm phụ thuộc vào 2 yếu tố là số con đẻ ra và số lứa đẻ/nái/năm
Ngoài các chỉ tiêu quan trọng trên thì chỉ tiêu về số con đẻ ra còn sống cũng là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan tro ̣ng trong chăn nuôi lợn nái Chỉ tiêu này được tính cho số con còn sống sau khi lợn mẹ đẻ xong con cuối cùng, không tính những con có khối lượng dưới 0,2 kg đối với lợn nội; 0,5 kg đối với lợn lai và lợn ngoại Chỉ tiêu này cho biết khả năng đẻ nhiều hay ít con của lợn nái, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái chửa, kỹ thuật thụ tinh nhân tạo và chất lượng tinh dịch của lợn đực giống
Tỷ lệ sống đến 24 giờ sau đẻ: tỷ lệ này không đảm bảo đạt 100% do nhiều nguyên nhân khác nhau như lợn con chết ngay khi đẻ ra, thai gỗ, thai non.Đây là chỉ tiêu kinh tế rất quan trọng Nó phụ thuộc vào khả năng đẻ nhiều hay ít của giống, trình độ kỹ thuật của dẫn tinh viên và điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc nái chửa Trong vòng 24 giờ sau khi sinh ra, những lợn con không đạt khối lượng sơ sinh trung bình của giống (quá bé), không phát dục hoàn toàn, dị dạng… thì sẽ bị loại thải Ngoài ra, do lợn con mới sinh, chưa nhanh nhẹn, dễ bị lợn mẹ đè chết
Trang 21Số lợn con cai sữa/lứa: đây là chỉ tiêu rất quan trọng thể hiện trình độ chăn nuôi lợn nái sinh sản Nó quyết định năng suất và ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả kinh tế của quá trình chăn nuôi lợn nái Thời gian cai sữa tuỳ thuộc vào trình độ chăn nuôi bao gồm kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh thú y, phòng chống dịch bệnh Số lợn con cai sữa/lứa đẻ tuỳ thuộc kỹ thuật chăn nuôi lợn cái nuôi con, kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ cũng như khả năng tiết sữa của lợn mẹ và sức đề kháng và khả năng phòng chống bệnh của lợn con (Vũ Đình Tôn, Võ Trọng Thành2006) [21].
Mặt khác số con cai sữa/lứa phụ thuộc vào số con để nuôi Người ta có thể tiêu chuẩn hoá số con để nuôi/lứa là từ 8 - 10 con Nếu số con nhiều hoặc
ít khi đẻ Đơn giản nhất là chuyển lợn từ ổ đông con sang ổ ít hơn 8 con, cần ghi rõ số hiệu của mẹ nuôi Khi lợn đạt 21 ngày tuổi cần ghi chép số con nuôi sống/ổ, khối lượng toàn ổ kể cả những con nuôi ghép Việc “chuẩn hoá” số con cho mỗi nái có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá lợn nái sinh sản
Số lượng lợn con/ổ có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của chính các con đó sau này Những lợn nái từng được nuôi trong ổ đông con sau này sẽ đẻ ra những con cái nhẹ cân hơn, ảnh hưởng này có ý nghĩa kinh tế lớn hơn các ổ
đẻ trên 10 con Việc tiêu chuẩn hoá số con đẻ ra/ổ là 8 - 10 con sẽ giảm bớt ảnh hưởng tiêu cực đó, giúp cho việc xác định giá trị giống chính xác hơn, vì sau khi được chuẩn hoá và được nuôi dưỡng trong cùng một môi trường nên khả năng làm mẹ, tiết sữa nuôi con của lợn nái được đánh giá chính xác hơn qua khối lượng của lợn con lúc 21 ngày tuổi
Số con cai sữa/lứa phụ thuộc tỷ lệ nuôi sống: tỷ lệ nuôi sống từ sơ sinh đến cai sữa chịu ảnh hưởng của một số yếu tố như ỉa chảy 10,8%; bệnh đã biết 9,8%; bệnh chưa biết 13,1%; bị đói 19,9%; bị mẹ đè 43,2%; nguyên nhân khác 3,2% Lợn con trước cai sữa thường bị chết với các nguyên nhân và tỷ lệ khác nhau như di truyền 4,5%; nhiễm khuẩn 11,1%; mẹ đè, thiếu sữa 50%;
Trang 22dinh dưỡng kém 8%; nguyên nhân khác 26,4% Theo Nguyễn Khắc Tích (2002) [19] tỷ lệ lợn con chết sau khi sinh ở mỗi giai đoạn có sự khác nhau: ngày 1 là 28%; ngày 2: 24%; ngày 3: 11%; từ ngày 4 - 7: 10%; từ ngày 8 - 14: 15%; từ ngày 15 - 21: 6%; từ ngày 22 trở đi: 6%
Số con đẻ/nái/năm: chỉ tiêu này chịu ảnh hưởng rất nhiều vào thời gian nuôi con và số ngày bị hao hụt (thời gian chờ phối , mang thai, sảy thai, chết thai ) Trước kia ở Việt Nam thời gian lợn nái nuôi con trung bình 60 ngày, hiện nay tuỳ điều kiện cụ thể số ngày cho con bú đã rút ngắn còn từ 21 - 45 ngày Thực tế nên cai sữa lợn con vào 21, 28, 35, 45 ngày tuổi thì các bệnh đã biết gây chết 9,8% lợn trước cai sữa; bệnh chưa biết gây chết 13,1% và bệnh ỉa chảy lợn con gây chết 10,8% Những tỷ lệ này thường ít xảy ra ở lợn dưới 21 ngày tuổi Nếu cai sữa trước 22 ngày tuổi sẽ khắc phục được những nguyên nhân trên đến 33,35% số lợn con chết trước cai sữa (Nguyễn Khắc Tích, 2002) [19] Nếu áp dụng các biện pháp để tăng số lợn con cai sữa/lứa và số lứa đẻ/nái/năm sẽ tăng được số con cai sữa/nái/năm, kết hợp với chỉ tiêu khối lượng cai sữa/ổ sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi
Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng đàn lợn con: chất lượng của đàn lợn con nói lên chất lượng của lợn nái đồng thời phản ánh trình độ chăn nuôi của
cơ sở hoặc người chăn nuôi Các chỉ tiêu đó bao gồm:
+ Khối lượng sơ sinh toàn ổ: khối lượng đàn con cân được sau khi đỡ
đẻ xong, chưa cho con bú sữa đầu Đây là khối lượng của tất cả lợn con đẻ ra còn sống, phát dục bình thường Chỉ tiêu này ảnh hưởng rất lớn tới quá trình phát triển sau này của đàn con
+ Khối lượng 21 ngày toàn ổ: được sử dụng để đánh giá khả năng tiết sữa của lợn mẹ và khả năng tăng trọng của đàn con Tại 21 ngày sau đẻ khả năng tiết sữa của lợn mẹ đạt đỉnh cao về số lượng và chất lượng sau đó giảm dần Đây chính là cơ sở của việc vận dụng để cai sữa sớm cho lợn con ở ngày tuổi thứ 21
Trang 23+ Khối lượng cai sữa toàn ổ: khối lượng cai sữa toàn đàn còn có quan
hệ khăng khít với khối lượng sơ sinh và đây chính là cơ sở cho khối lượng xuất chuồng sau này Ngày nay thời gian cai sữa ngày càng được rút ngắn nhưng khối lượng lợn con ở thời điểm cai sữa sớm chỉ có ý nghĩa trong việc định mức dinh dưỡng cho chúng ở giai đoạn tiếp theo chứ không cho phép đánh giá thành tích của lợn nái Năng suất của lợn nái phải được xác định dựa trên cơ sở đàn con với khối lượng ở 60 ngày tuổi
+ Độ đồng đều của đàn lợn con: được thể hiện qua tỷ lệ đồng đều, cho phép đánh giá được khả năng nuôi con của lợn mẹ, kỹ thuật chăm sóc phòng bệnh cho lợn con Nếu sự chênh lệch giữa cá thể có khối lượng nhỏ nhất trong đàn so với cá thể có khối lượng lớn nhất càng thấp thì độ đồng đều càng cao
+ Tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ: sau khi mang thai, đẻ, nuôi con lợn mẹ
có sự thay đổi về khối lượng, nếu gầy sút quá sẽ ảnh hưởng tới thời gian động dục trở lại sau cai sữa và ảnh hưởng tới năng suất của lứa tiếp theo Nếu lợn nái có chất lượng, số lượng sữa tốt thì nhất định sẽ bị hao mòn thể trạng Tỷ lệ hao mòn trung bình là 15 - 16% Sự hao mòn lợn mẹ thay đổi theo các lứa, lớn nhất ở lứa đẻ thứ 5 tới 43 kg So với lứa 1, lứa 2 là 29 và
33 kg; sau đó giảm dần ở các lứa thứ 6, thứ 7 (42 và 31 kg) Lợn mẹ hao mòn có ảnh hưởng tới số lượng trứng rụng ở chu kỳ sau, nếu hao mòn 20
kg thì trứng rụng lần sau chỉ là 5 so với rụng 20 trứng khi lợn mẹ hao mòn
5 kg Nếu lợn mẹ hao mòn dưới 15 kg thì sẽ động dục trở lại trong vòng 10 ngày, từ 22 - 35 kg thì thời gian đó sẽ là 15 - 20 ngày ở lợn nái béo và 15 -
30 ngày ở lợn nái gầy (Nguyễn Khắc Tích, 2002) [19]
+ Khoảng cách lứa đẻ: là số ngày tính từ ngày đẻ lứa trước đến ngày
đẻ lứa tiếp theo gồm: thời gian chờ động dục trở lại sau cai sữa và phối giống có chửa; thời gian chửa; thời gian nuôi con Nếu khoảng cách lứa đẻ
Trang 24ngắn thì số lứa đẻ của nái/năm tăng lên Trong các yếu tố cấu thành khoảng cách lứa đẻ thì thời gian có chửa không thể rút ngắn được , vấn đề đặt ra là cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến để rút ngắn khoảng thời gian còn lại Hiện nay đã áp dụng cai sữa sớm cho lợn con ở 21 ngày tuổi và cho lợn nái ăn theo chế độ phù hợp nhằm rút ngắn thời gian động dục trở lại sau cai sữa Khi nuôi con cho lợn nái ăn 3 kg/ngày thời gian chờ phối là 8 ngày, còn nếu cho ăn 7 kg/ngày thì sẽ là 5,5 ngày (Nguyễn Khắc Tích, 2002) [19]
+Khả năng tiết sữa (kg)
Trịnh Văn Thịnh (1978) [17] cho rằng: Thức ăn đầu tiên của lợn con là sữa đầu Sữa đầu có màu trong hơi vàng và đặc, tiết ra trong 2 – 3 ngày đầu khi đẻ Trong sữa đầu, các thành phần hoá học đều đặc hơn sữa thường như: lượng protein gấp 3 lần sữa thường (17 – 18 % so với 5 – 6 %) Trên 50 % protein của sữa đầu là globulin, đặc biệt là - globulin Hàm lượng - globulin giảm rất nhanh, sau 12 giờ đã giảm đi 3/4, - globulin là thành phần quan trọng tạo nên sức đề kháng chống đỡ bệnh tật của lợn con sơ sinh
Theo Từ Quang Hiển và cs (2001) [7], nhất thiết lợn con sơ sinh cần phải được bú sữa đầu giúp cho lợn con có sức đề kháng chống bệnh Trong sữa đầu
có albumin và globulin cao hơn sữa thường, đây là các chất chủ yếu giúp cho lợn con có sức đề kháng Vì thế cần cho lợn con bú sữa trong ba ngày đầu, đảm bảo toàn bộ số con trong ổ được bú hết lượng sữa đầu của lợn mẹ
Khả năng tiết sữa của lợn mẹ giảm rõ rệt sau 3 tuần tiết sữa nuôi con Đồng thời, hàm lượng các chất khoáng đặc biệt là sắt và canxi còn rất ít, không
đủ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của lợn con Lúc này mâu thuẫn giữa khả năng cung cấp sữa của lợn mẹ và nhu cầu dinh dưỡng của lợn con nảy sinh Đó cũng
là lúc ta cần bổ sung thức ăn sớm cho lợn con (Từ Quang Hiển và cs, 2001)[7]
Để lợi dụng khả năng tiết sữa của lợn mẹ, người ta thường cho lợn con cai sữa sớm vào ngày thứ 21 hoặc ngày thứ 28, hoặc ngày thứ 42… tuỳ theo trình độ chăn nuôi của từng cơ sở
Trang 25Qua theo dõi, sản lượng và chất lượng sữa ở các vị trí vú khác nhau cũng không giống nhau Các vú ở phía trước ngực sản lượng sữa cao, phẩm chất tốt còn các vú phía sau nhìn chung thấp Theo Trương Lăng (2003) [8] thì vú trước lượng sữa tiết ra nhiều hơn Trong chu kỳ tiết sữa, lợn con bú vú sau được 32 – 39 kg sữa thì lợn con bú vú trước được khoảng 36 – 45 kg sữa,
vì oxytoxin theo máu đến tuyến vú phía trước sớm hơn, kéo dài hơn nên vú trước nhiều sữa hơn
Sản lượng sữa của lợn mẹ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thức ăn, chăm sóc nuôi dưỡng… Vì vậy, trong giai đoạn lợn mẹ nuôi con thì thức ăn cho lợn mẹ cần đủ chất dinh dưỡng Chăm sóc lợn mẹ ăn với khẩu phần đầy
đủ chất dinh dưỡng không ngừng nâng cao sản lượng sữa mà còn giảm tỷ lệ hao mòn của lợn mẹ
Như vậy, các tác giả nghiên cứu về năng suất sinh sản của lợn nái đều thống nhất rằng hiệu quả của chăn nuôi lợn nái sinh sản được đánh giá bằng
số lợn con cai sữa (số lợn con có khả năng chăn nuôi/nái/năm) Chỉ tiêu này lại phụ thuộc vào tuổi thành thục về tính, tỷ lệ thụ thai, tổng số lợn con đẻ ra,
số lứa đẻ/năm, tỷ lệ nuôi sống Giữa các chỉ tiêu trên có mối quan hệ với nhau
2.2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái
Năng suất sinh sản của lợn nái có mối liên quan chặt chẽ và phụ thuộc vào 2 yếu tố: di truyền và ngoại cảnh Yếu tố di truyền phụ thuộc vào đặc tính con giống, các giống lợn khác nhau thì có tính năng sản xuất khác nhau Yếu
tố ngoại cảnh bao gồm thức ăn dinh dưỡng, vệ sinh thú y, chuồng trại Mặt khác năng suất sinh sản của lợn nái được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu như: số trứng rụng, tỷ lệ thụ thai, số con đẻ ra còn sống, số con cai sữa/lứa, thời gian chờ phối Các chỉ tiêu này có hệ số di truyền thấp nên chúng chịu sự tác động mạnh mẽ của các điều kiện ngoại cảnh
Trang 26+ Yếu tố di truyền: Ở lợn nái các tính trạng năng suất sinh sản của lợn cái đều có hệ số di truyền thấp Với những tính trạng có hệ số di truyền thấp
để cải tiến năng suất có hiệu quả cần sử dụng biện pháp lai (Đặng Vũ Bình, 2002) [2] Số trứng rụng/chu kỳ đây là chỉ tiêu có ý nghĩa quan trọng trong đánh giá năng suất của lợn cái Nó chịu ảnh hưởng của 3 yếu tố là di truyền, tuổi nái và chế độ dinh dưỡng
+ Yếu tố giống: có ảnh hưởng rõ ràng tới năng suất sinh sản của nái, Theo nghiên cứu của Đặng Vũ Bình (1999) [1] một số chỉ tiêu năng suất sinh sản phân biệt rõ nét qua giống: Tương ứng qua các giống Móng Cái, Yorkshire và Landrace có tuổi đẻ lần lượt là: 272,3 ngày; 418,5 ngày và 409,3 ngày; số con đẻ ra/ổ là 10,6; 9,8 và 9,9 con và khối lượng sơ sinh trung bình/con là 0,58; 1,2 và 1,2 kg
+ Phương thức chăn nuôi và trình độ kỹ thuật: có ảnh hưởng tới quá trình phát triển sinh dục của lợn cái Ở lợn hậu bị nếu nuôi nhốt và cách ly lợn đực thì tuổi thành thục sinh dục sẽ dài hơn Trong quy trình chăn nuôi lợn cái hậu bị đã đặt ra vấn đề tiếp xúc với lợn đực giống hàng ngày Theo Hughes và Jemes (1996) [34] thì có đến 83% lợn cái hậu bị có khối lượng cơ thể trên 90
kg động dục lúc 165 ngày tuổi nếu được tiếp xúc với đực giống 2 lần/ngày, 20
- 25 phút/lần Mặt khác tuổi động dục lần đầu của lợn cái sẽ bị chậm ít nhất 1 tháng nếu điều kiện chuồng nuôi không đảm bảo mật độ và vệ sinh thú y Để đạt kết quả thì lợn cái hậu bị phải được nuôi chung thành nhóm đồng đều về giống, tuổi, khối lượng với mật độ theo từng thời kỳ: 3 - 5 tháng tuổi cần 0,4 - 0,5 m2/con; 6 - 8 tháng tuổi: 0,5 - 0,8 m2/con (5 - 6 con/nhóm) sẽ đảm bảo cho lợn động dục lần đầu đúng thời gian biểu hiện đặc trưng cho giống
+ Khẩu phần ăn và quy trình kỹ thuật nuôi dưỡng: nhu cầu dinh dưỡng của lợn nái khác nhau tuỳ thuộc giống, tuổi, trạng thái sinh lý Đây là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng suất sinh sản Việc
Trang 27xác định chế độ nuôi dưỡng thích hợp đối với lợn cái cần đảm bảo làm tăng
số trứng rụng, từ đó tăng các chỉ tiêu số con đẻ ra, số con cai sữa, khối lượng
sơ sinh, để mang lại hiệu quả trong chăn nuôi
+ Tuổi của lợn cái: có liên quan chặt chẽ với khối lượng phối giống Để đảm bảo điều kiện cho phối giống lần đầu lợn cái cần thành thục về tính và thể vóc Nếu phối giống lần đầu quá sớm hoặc quá muộn, khối lượng khi đó quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng tới hiệu quả Phối sớm khi khối lượng
cơ thể chưa đạt yêu cầu, các cơ quan sinh dục chưa hoàn chỉnh, sức sống kém, chậm phát triển đồng thời ảnh hưởng tới sự phát triển cơ thể lợn mẹ về sau Nếu để quá muộn, lợn cái hậu bị có khối lượng cơ thể quá lớn, quá béo cũng
sẽ làm giảm mức độ đạt được của các chỉ tiêu, từ đó giảm hiệu quả kinh tế Chỉ nên phối giống cho cái hậu bị từ lần động dục thứ 2 khi đạt 6 - 7 tháng tuổi, nặng trên 50 kg đối với lợn nội, 7 - 8 tháng tuổi và nặng 60 - 70 kg đối với lợn lai (nội x ngoại), 9 - 10 tháng tuổi đạt trên 80 - 90 kg đối với lợn ngoại
và lợn lai (ngoại x ngoại) (Nguyễn Khắc Tích, 2002) [19]
+ Lứa đẻ: trên cơ sở số trứng rụng/chu kỳ, thứ tự các lứa đẻ cũng có ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của chúng Theo Hughes, Varley (1980) [35]
lứa 1 có số con/ổ thấp nhất vì số trứng rụng ở lần đầu tiên là 11,3 Sau đó tăng dần tới lứa 6, từ lứa 7 trở đi bắt đầu giảm dần hoặc có thể sẽ giữ được mức độ
ổn định Nếu trong sản xuất áp dụng kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng theo quy trình, đảm bảo cho lợn nái không quá béo hoặc quá gầy và giữ cho hao hụt lợn mẹ trong khoảng 12 - 16% sẽ có thể đảm bảo kéo dài về khả năng sinh sản đến lứa 10 - 12 Do vậy việc áp dụng quy trình kỹ thuật và các tiến bộ kỹ thuật vào chăn nuôi lợn nái sinh sản là cần thiết để nâng cao thành tích sinh sản cho chúng mang lại hiệu quả cho người chăn nuôi
Trang 28+ Tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ thụ thai: trứng rụng nếu được gặp tinh trùng đúng thời điểm thích hợp sẽ được thụ tinh và phát triển thành hợp tử Vì vậy, việc xác định thời điểm phối giống thích hợp cho lợn nái có vai trò quyết định tới tỷ lệ thụ tinh số trứng rụng/chu kỳ Nếu số trứng rụng ở mức bình thường (15 - 20 trứng) và ở điều kiện bình thường không có yếu tố đặc biệt thì tỷ lệ thụ tinh đạt 100%, các trứng đã thụ tinh phát triển tốt (Hancock, 1961) [30] Nếu số trứng rụng tăng quá cao so với bình thường thì ngay sau khi được thụ tinh, số trứng phát triển bình thường sẽ giảm từ đó ảnh hưởng tới chỉ tiêu số con đẻ ra/lứa Theo Cunningham và cs (1979) [30] tỷ lệ số con đẻ ra/số trứng rụng giảm khi số trứng rụng quá cao
+ Tỷ lệ chết phôi: sự sống sót của phôi sau khi được hình thành chịu ảnh hưởng quan trọng của một số yếu tố như dinh dưỡng, sự phát triển của phôi, các yếu tố khác như chăm sóc, vệ sinh thú y Phôi thai chết chủ yếu ở thời kỳ đầu của giai đoạn chửa (thời kỳ phôi thai) Đặc điểm sinh lý cơ bản của thời kỳ này là hợp tử đang di chuyển từ vị trí hình thành (1/3 phía trên ống dẫn trứng) về vị trí làm tổ (sừng tử cung) dễ bị tác động của điều kiện ngoại cảnh Mặt khác, quá trình làm tổ của phôi ở sừng tử cung có thể có những tương tác không thích hợp giữa tử cung mẹ và gây chết phôi Số phôi chết trong thời kỳ này rất cao (30 - 40%) đã là nguyên nhân để Scrofield gọi đây là pha khủng hoảng của sự phát triển phôi (Scrofield, 1972) [41]
+ Khí hậu thời tiết, mùa vụ: ảnh hưởng tới các chỉ tiêu năng suất sinh sản với các mức độ khác nhau Có ý kiến cho rằng mùa vụ không có ảnh hưởng gì tới tỷ lệ thụ thai Tuy nhiên nghiên cứu của Adlovic và cs (1983) [29] cho thấy mùa vụ liên quan tới tỷ lệ thụ thai thể hiện ở sự giảm sụt 10% khi phối giống lợn ở các tháng 6, 7, 8 so với tháng 11, 12 trong năm Điều này phù hợp với nhận định của các tác giả khác cho rằng vào mùa hè nhiệt độ trên
300C thì sẽ giảm tỷ lệ thụ thai và tăng tỷ lệ chết phôi, số con đẻ ra/lứa thấp
Trang 29Nếu nhiệt độ quá thấp ở mùa đông ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng phát dục cùa đàn con, tỷ lệ mắc các bệnh đường tiêu hoá và hô hấp cao Nhiệt độ thích hợp khoảng 18 - 220
C
+ Thời gian cai sữa và thời gian động dục trở lại: một số tác giả kết luận rằng thời gian cai sữa và thời gian động dục trở lại ở lợn có mối tương quan không thuận Thời gian cho con bú càng dài thì thời gian động dục trở lại càng ngắn Giữa các giống lợn, thời gian động dục trở lại có sự sai khác không đáng kể Thời gian động dục trở lại còn phụ thuộc vào chế độ cho ăn của lợn nái Với 7
kg thức ăn/ngày thì thời gian động dục trở lại là 5,5 ngày so với 8 ngày khi cho ăn 3 kg/ngày Việc xác định thời gian cai sữa cho lợn con có ý nghĩa rất quan trọng vì nó ảnh hưởng tới số lứa đẻ/năm, mặt khác có liên quan đến sức khoẻ của lợn mẹ và sự phát triển của đàn con sau khi cai sữa Nếu cai sữa ở 3 tuần tuổi có thể nâng số lứa đẻ/năm lên 2,5 so với ở 8 tuần là 1,8 - 2 lứa Tuỳ theo tập quán chăn nuôi và điều kiện cụ thể, có thể cai sữa ở 19 ngày (Mỹ), 23
- 28 ngày (Australia) Tốt nhất nên cai sữa cho lợn con ở 21 - 28 ngày tuổi (Nguyễn Thiện, Hoàng Kim Giao, 1996) [14]
+ Số con cai sữa/ổ: chỉ tiêu này cùng với số lứa đẻ/nái/năm quyết định
số lợn con cai sữa/nái/năm, là 1 chỉ tiêu kinh tế đặc biệt quan trọng đánh giá hiệu quả chăn nuôi lợn nái sinh sản
+ Số con đẻ ra/ổ nhiều chứng tỏ trạng thái hoạt động của buồng trứng tốt, tình trạng sinh lý của lợn mẹ bình thường Số con đẻ ra/ổ có sự biến động với mức độ khác nhau Phần lớn lợn nái đẻ 11 - 12 con/lứa chiếm tỷ lệ cao nhất (49,86%); số nái đẻ trên 13 con/lứa không nhiều (15,25%); còn số lợn đẻ dưới 10 con/lứa chiểm tỷ lệ tương đối cao (34,89%) Số con sơ sinh/ổ thấp do
sự tác động của các yếu tố thời tiết, khí hậu Lợn cái động dục ở các điều kiện khác nhau, mùa vụ khác nhau, nhất là khi các điều kiện đó có sự thay đổi đột ngột tạo stress, gây ảnh hưởng tới hoạt động thần kinh, nội tiết làm giảm số lượng trứng phát triển, chín và rụng Phương thức phối giống, quá trình cai sữa cũng ảnh hưởng đáng kể tới số con sơ sinh/ổ
Trang 30+ Khoảng cách lứa đẻ: là yếu tố quan trọng cấu thành năng suất sinh sản của lợn nái Đây là thời gian tính từ lứa đẻ trước tới lứa đẻ sau, gồm thời gian mang thai, nuôi con, chờ phối Trong đó chỉ có thể tác động đến thời gian nuôi con và chờ phối để rút ngắn khoảng cách lứa đẻ từ đó nâng số lứa đẻ/nái/năm Vì vậy vấn đề đặt ra là phải áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào chăn nuôi lợn cái sinh sản ở giai đoạn nuôi con và chờ phối để có thể nâng cao hiệu quả sinh sản
2.2.1.4 Một số đặc điểm của giống lợn tiến hành nghiên cứu
* Lợn lai GF24 (♂ Landrace x ♀ Yorkshire)
- Đặc điểm ngoại hình: Lợn GF24 có dạng hình nêm, màu lông trắng tuyền, mình dài, đầu dài hơi hẹp, tai to, dài rủ xuống che cả mặt, bốn chân to chắc khỏe Lưng vồng lên, mặt lưng bằng phẳng, mông phát triển, tròn Lợn GF24 có từ 12 - 18 vú, là giống lợn hướng nạc
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.2.1.Tình hình nghiên cứu trong nước
Để không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng của ngành chăn nuôi lợn, nước ta đã nhập giống lợn cao sản như Landrace, Yorkshire, Pietrain, Duroc nhằm nâng cao năng suất thịt cung cấp ra thị trường và cải tạo đàn lợn nội Đến nay đã có nhiều tác giả nghiên cứu về khả năng sinh sản của các
Trang 31giống kể trên Kết quả nghiên cứu là tìm ra các biện pháp kỹ thuật tối ưu nhất
có thể đem lại hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi
Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace được Phan Xuân Hảo(2001) [6] thông báo kết quả như sau: Tuổi động dục lần đầu là 197,3 ngày, tuổi phối giống lần đầu là 296,03 ngày, khối lượng phối giống lần đầu là 115,11 kg, chu kỳ động dục là 20,06 ngày, thời gian động dục là 5,86 ngày và tỷ lệ thụ thai là 82,82%
Kết quả nghiên cứu của Phùng Thị Vân (1998) [22] về khả năng sinh sản của Landrace cho biết: Trên 140 ổ đẻ trung bình đạt 8,66 con sơ sinh còn sống/ ổ với khối lượng sơ sinh bình quân là 1,42 kg/con Số con sơ sinh đạt cao nhất là dòng là dòng Landrace Nhật (9,02 con) và thấp nhất là dòng Landrace Bỉ (8,04 con) Dòng Landrace Bỉ có khối lượng sơ sinh cao nhất (1,54 kg/con) và thấp nhất ở dòng Landrce Nhật (1,29 kg/con) Khả năng tiết sữa bình quân đạt 76,50 kg, dòng Landrace Cu Ba cao hơn hai dòng Landrace Nhật (1,29 kg/con) và không có biểu hiện sai khác rõ giữa 3 dòng Landrace Khối lượng toàn ổ cai sữa bình quân 76,50 kg, dòng Landrace Cu Ba cao hơn
2 dòng Landrace Nhật, Bỉ nhưng không đáng kể
Nghiên cứu của Đinh Văn Chỉnh và cs (2001) [3] cho biết năng suất sinh sản của lợn nái L và Y nuôi tại Trung tâm Giống gia súc Hà Tây, khối lượng phối giống lần đầu của hai giống này là 99,3 và 100,2 kg, tuổi phối giống lứa đầu của hai giống này là 254,1 và 282,0 ngày, tuổi đẻ lứa đầu 367,0
và 396,3 ngày SCĐR còn sống là 8,2 và 8,3 con/ổ; KLSS/ổ là 9,12 và 10,89 kg; KL21N tuổi/ổ là 40,7 và 42,1 kg
Kết quả nghiên cứu về năng suất sinh sản thể hiện ở thông báo của Đặng Vũ Bình (1999) [1] Ở lợn Y tuổi đẻ lứa đầu 418 ngày tuổi; SCĐR còn sống 9,77 con/ổ; SC21N tuổi là 8,61 con/ổ Số con 35 ngày tuổi là 8,15 con/ổ
Trang 32và khối lượng lúc 35 ngày tuổi là 8,09 con Ở lợn L các chỉ tiêu tương ứng là 9,86 con/ổ, 8,68 con/ổ; 8,22 con/ổ và 6,2 kg
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2005) [12] tại Xí nghiệp Giống vật nuôi Mỹ Văn - Hưng Yên thuộc Công ty giống lợn miền Bắc cho biết một số đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái lai (LY) tuổi ĐDLĐ là 226,68 ngày, khối lượng ĐDLĐ 109,31 kg, tuổi phối giống lần đầu 247,79 ngày, khối lượng phối giống lần đầu 123,76 kg, tuổi đẻ lứa đầu 362,10 ngày, khoảng cách lứa đẻ 171,07 ngày
Cũng theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2005) [12] thì năng suất sinh sản của lợn nái lai (LY) phối giống với lợn đực Pi và Du
có SCĐR/ổ lần lượt là 10,6 và 10,34 con, SCĐR còn sống/ổ tương ứng là 10,34 và 10,02 con, số con để nuôi/ổ tương ứng là 10,05 và 9,63 con, số con
21 ngày tuổi/ổ 9,70 và 9,23 con, KLSS/ổ 15,46 và 14,91 kg, KLCS/ổ 69,94 và 67,65 kg
Tại Trung tâm Nghiên cứu lợn Thụy Phương - Viện chăn nuôi Quốc gia, Phùng Thị Vân và cs (2000) [23] nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng và khả năng sinh sản của lợn nái lai (YL) và (LY) cho biết tuổi PGLĐ 259,00 và 243,80 ngày; tuổi đẻ lứa đầu 376,20 và 363,00 ngày; SCĐR/ổ lần lượt là 9,44
và 10,42 con; KL21N tuổi/ổ 50,70 và 49,85 kg
Theo Nguyễn Thị Viễn, (2004) [25] thì nái lai Yorkshire x Landrace
có số con sơ sinh/ổ tăng lên 0,24 - 0,62 con và có thể đẻ lứa đầu sớm hơn 4
- 11 ngày Nái lai Landrace x Yorkshire tăng khối lượng sơ sinh/ổ là 0,65- 3,29 kg Cả 2 nhóm nái lai đã giảm được 0,25 - 0,42 ngày chờ phối, tăng trọng giai đoạn 90 - 150 ngày tuổi tăng lên 2,03- 3,48% so với nái thuần
Ưu thế lai càng có nhiều máu ngoại càng cho năng suất cao (Nguyễn Quế Côi, 2006) [4]
Trang 33Nghiên cứu đánh giá khả năng sinh sản của các giống lợn ngoại và các
tổ hợp lai đã được nhiều tác giả trong nước tiến hành và thông báo kết quả Các kết quả đó cho phép đánh giá hiệu quả kinh tế của chăn nuôi lợn nái ngoại và nái lai qua đó xác định được các giống lợn phù hợp và có hiệu quả kinh tế đối với chăn nuôi trang trại tại các địa phương trên cả nước đặc biệt là của miền Bắc nước ta
2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Trong vài thập niên trở lại đây nhiều nghiên cứu trên thế giới đã áp dụng thành công các thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào lĩnh vực chăn nuôi lợn và đã đưa năng suất sinh sản của đàn lợn nái lên rất cao Giống lợn L và
Y, (LY), (YL) được nuôi phổ biến trên thế giới Đó là nguyên liệu để sản xuất con lai và là nguồn cung cấp giống lợn thương phẩm cho tiêu dùng
Theo Jan Gordon (1997) [36], lai giống trong chăn nuôi lợn đã có từ 50 năm trước, việc sử dụng lai 2, 3 hay 4 giống để sản xuất lợn thịt thương phẩm
đã trở nên phổ biến
So sánh các công thức lai hai, ba, bốn giống, Ostrowski và cs (1997) [38] cho thấy con lai có 25% và 50% máu Pietrain có tỷ lệ nạc cao và chất lượng tốt Các nghiên cứu của Gerasimov và cs (1997) [31] cho biết lai hai,
ba, giống đều có tác dụng nâng cao các chỉ tiêu sinh sản như: Số con đẻ ra trên lứa, tỷ lệ nuôi sống, khối lượng 60 ngày/con Lai hai giống làm tăng số con đẻ ra/lứa so với giống thuần, tăng khối lượng sơ sinh và khối lượng khi cai sữa Vì vậy việc sử dụng lai hai, ba giống là phổ biến để nâng cao khả năng sinh sản và năng suất thịt thương phẩm
Theo nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy lợn lai có mức tăng trọng tốt và tỷ lệ nạc cao hơn so với lợn thuần Gerasimov và cs (1997) [31] cho công thức lai giống (D x Large Black), công thức lai ba giống (D x (Poltava
Trang 34Meat x Russian Large White) có khả năng tăng trọng cao và tiêu tốn thức ăn thấp so với các giống khác
White và cs (2014) [45] cho biết lợn Yorkshire có tuổi động dục lần đầu là 201 ngày, số con đẻ ra còn sống (SCĐRCS/ổ) là 7,2 con ở lứa 1 Các giống có nguồn gốc khác nhau cho năng suất sinh sản khác nhau : Số con đẻ ra/ổ của Yorkshire Thụy Điển , Yorkshire Anh và Yorkshire Ba Lan là 10,6; 9,7 và 10,5; còn Landrace của Bỉ, Landrace Bungary là 8,5 và 10 con/ổ Theo John Millanrd, đàn lợn nái Yorkshire hạt nhân của Anh có SCĐRCS
là 10,82 con/ổ
Stoikov và Vassilev (2011) [44] đã tiến hành nghiên cứu về khả năng sinh sản của lợn Yorkshire và Landrace có nguồn gốc khác nhau được nuôi ở Bungari cho biết số con đẻ ra/ổ ở các giống là khác nhau Cụ thể là lợn Yorkshire Anh 9,7 con/ổ, Yorkshire Thụy Điển 10,6 con/ổ, Yorkshire Ba lan 10,5 con, Landrace Anh là 9,8 con, Landrace Bungari 10 con, Landrace Bỉ là 8,5 con/ổ
Mục đích của chăn nuôi lợn là tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, hiệu quả kinh tế lớn Mục đích này đã đạt được khi các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới đạt được kết quả Họ đã tiến hành lai tạo giữa các giống, kết hợp nhiều dòng lợn khác nhau, chọn lọc với mục đích chính là chọn lọc ở một số chỉ tiêu quan trọng như: số con đẻ ra, khối lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa Trên thế giới đã ứng dụng thành công và phổ biến công thức lai để tạo con lai thương phẩm có 2, 3, 4 hoặc 5 máu trong thành phần Park và cs (1982) [39] đã sử dụng các cái nền là Landrace và Yorkshire hoặc F1 còn đực giống chủ yếu Landrace, Yorkshire, Duroc, Pietrain và đực lai
Các nghiên cứu của Gerasimov và cs (1997) [31], cho biết lai ba giống đều có tác dụng nâng cao các chỉ tiêu sinh sản như: số con đẻ ra/ổ, tỷ lệ nuôi sống và khối lượng ở 60 ngày tuổi/con Gerasimov và cs (2000) [31], cho biết