1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá khả năng sinh sản và một số bệnh thường gặp ở đàn lợn nái ngoại Landrace (L01 VÀ L11) nuôi tại trại Trần Văn Tuyên xã Đoàn Kết Yên Thủy Hòa Bình

69 341 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LÝ THU HOÀI Tên đề tài ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH SẢNVÀ MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP ỞĐÀN LỢN NÁI NGOẠI LANDRACE L01 VÀ L11 NUÔI TẠI TRẠI TRẦN VĂN TUYÊN XÃ ĐOÀN KẾT, YÊN THỦY, HÒA BÌNH KHÓA LUẬN

Trang 1

LÝ THU HOÀI

Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH SẢNVÀ MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP Ở ĐÀN

LỢN NÁI NGOẠI LANDRACE ( L01 VÀ L11) NUÔI TẠI TRẠI TRẦN VĂN TUYÊN XÃ ĐOÀN KẾT, YÊN THỦY, HÒA BÌNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Hệ đào tạo: Chính qui Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y Khoa: Chăn nuôi thú y

Khóa học: 2013 - 2017

Thái Nguyên – 2017

Trang 2

LÝ THU HOÀI

Tên đề tài

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH SẢNVÀ MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP ỞĐÀN LỢN NÁI NGOẠI LANDRACE (L01 VÀ L11) NUÔI TẠI TRẠI TRẦN VĂN TUYÊN XÃ ĐOÀN KẾT, YÊN THỦY, HÒA BÌNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Hệ đào tạo: Chính qui Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y Lớp: N03 - K45 - CNTY

Khoa: Chăn nuôi thú y Khóa học: 2013 - 2017 Giảng viên hướng dẫn:TS Đỗ Quốc Tuấn

Thái nguyên – 2017

Trang 3

trung thực và chưa từng sử dụng

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận này đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Lý Thu Hoài

Trang 4

tôi luôn nhận được sự giúp đỡ quý báu, chỉ bảo của cá nhân, tập thể trong và ngoài trường

Nhân dịp hoàn thành khóa luận này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết

ơn chân thành nhất đến TS Đỗ Quốc Tuấn đã hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong bộ môn Bệnh động vật, Khoa Chăn nuôi thú y, Đại học Nông Lâm Thái nguyên và toàn thể cô, chú, anh, chị, em trong trại Trần Văn Tuyên và các kĩ sư của công

ty CP Việt Nam, đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập tốt nghiệp

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình cùng bạn bè đã giúp đỡ động viên tôi trong suốt thời gian qua

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017

Sinh viên

Lý Thu Hoài

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

PHẦN 1 LỜI MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 3

2.2 Cơ sở khoa học của chăn nuôi lợn nái sinh sản 9

2.2.2 Đặc điểm về cơ quan sinh sản và sinh lý sinh sản của lợn nái 9

2.3 Chỉ tiêu sinh sản và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái 16

2.3.1 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục và sinh sản của lợn nái 16

2.3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của lợn 18

2.4 Một số giống lợn nuôi tại trại 20

2.5 Một số bệnh thường gặp ở đàn lợn nái sinh sản hiện 21

2.5.1 Bệnh viêm tử cung 21

2.5.2 Bệnh bại liệt trước khi đẻ 21

2.5.3 Bệnh đẻ khó 22

2.5.4 Bệnh sót nhau 22

2.6 Một số bệnh thường gặp ở đàn lợn con theo mẹ 23

2.6.1 Bệnh viêm khớp 23

Trang 6

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 27

3.1 Đối tượng 27

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 27

3.3 Nội dung thực hiện 27

3.4 Phương pháp tiến hành 28

3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 28

3.4.2.Phương pháp xử lý số liệu 29

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31

4.1 Công tác phục vụ sản xuất 31

4.1.1 Công tác chăn nuôi 31

4.1.2 Công tác thú y 31

4.1.3 Biện pháp thực hiện 31

4.1.4 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 32

4.3 Khả năng sản xuất của lợn nái L01 và L11 nuôi tại trang trại 37

4.3.1 Một số chỉ tiêu về sinh lý sinh dục của lợn nái L01 và L11 37

4.3.2 Năng suất sinh sản của lợn nái L01 và L11 42

4.4 Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn nái và lợn con nuôi tại trang trại 47

4.4.1 Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái 47

4.4.2 Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn con theo mẹ 48

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 50

5.1 Kết luận 50

5.2 Đề nghị 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

Trang 7

NN và PTNT Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn

Trang 8

Bình (2014 - 2016) 37 Bảng 4.3: Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái L01 và L11 38 Bảng 4.4: Năng suất sinh sản của lợn nái L01 và L11 42 Bảng 4.5: Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái tại trang trại(theo dõi tháng 10/2016) 47 Bảng 4.6: Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn con theo mẹ(theo dõi tháng 10/2016) 48

Trang 10

PHẦN 1 LỜI MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta đang phát triển mạnh mẽ theo hướng trang trại và hộ gia đình Chăn nuôi lợn ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong nền nông nghiệp Việt Nam Nó đã góp phần rất lớn vào tăng trưởng kinh tế nông thôn nước ta Không chỉ để phục vụ cho tiêu dùng, nâng cao chất lượng bữa ăn hàng ngày mà còn phải tiến tới xuất khẩu với số lượng lớn Nó là nguồn cung cấp thực phẩm với tỉ trọng cao và chất lượng tốt cho con người, là nguồn cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt và là nguồn cung cấp các sản phẩm phụ như: da, mỡ, nội tạng cho ngành công nghiệp chế biến

Với vị trí quan trọng hàng đầu trong việc cung cấp một lượng thực phẩm lớn cho tiêu dùng của người dân, nên chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đang được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm đến việc phát triển Nhờ vậy, công tác lai tạo giống cũng được triển khai và thu được nhiều kết quả to lớn như: tạo ra các giống lợn có tầm vóc lớn, sinh trưởng nhanh, tỉ

lệ nạc cao Bên cạnh đó là việc áp dụng phương thức chăn nuôi theo hướng công nghiệp, quy mô chăn nuôi lớn, áp dụng các biện pháp kĩ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng tiên tiến, chế biến thức ăn chất lượng cao, các loại thức ăn thay thế, thức ăn bổ sung, phối hợp khẩu phần ăn có đầy đủ các chất dinh

dưỡng.Trong đó, công tác thú y đã được đặc biệt chú ý đến

Tuy nhiên, một trong những trở ngại lớn nhất của chăn nuôi lợn nái sinh sản là dịch bệnh còn xảy ra phổ biến, gây nhiều thiệt hại cho đàn lợn nái nuôi trong các trang trại cũng như nuôi nhỏ lẻ tại các hộ gia đình Đối với lợn nái nhất là lợn ngoại được chăn nuôi theo phương thức công nghiệp cho nên

tỷ lệ mắc bệnh sinh sản ngày càng nhiều hơn do khả năng thích nghi của đàn

Trang 11

lợn nái với điều kiện ngoại cảnh nước ta còn kém Mặt khác trong quá trình

sinh đẻ lợn nái dễ bị nhiễm các vi khuẩn như Streptococcus, E.coli… xâm

nhập và gây nhiễm trùng Đặc biệt là bệnh viêm tử cung, đây là loại bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của lợn mẹ Bệnh tuy không xảy ra ồ ạt nhưng gây thiệt hại lớn cho lợn nái: gây chết thai, lưu thai, sẩy thai…nghiêm trọng hơn bệnh vẫn âm thầm làm hạn chế khả năng sinh sản của đàn lợn nái ở các lứa đẻ tiếp theo, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và hiệu quả của toàn ngành chăn nuôi lợn Với mục đích góp phần năng cao khả năng sinh sản của đàn lợn, nâng cao hiệu quả của điều trị bệnh, tiết kiệm chi phí nái nuôi tại trại lợn Trần Văn Tuyên xã Đoàn Kết, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình

Từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá khả năng sinh sản và một số bệnh thường gặp ở đàn lợn nái ngoại Landrace (L01 VÀ L11) nuôi tại trại Trần Văn Tuyên xã Đoàn Kết, Yên Thủy, Hòa Bình ”

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích

- Xác định được khả năng sinh sản của giống lợn nái ngoại Landrace (L01 và L11) nuôi tại trại Trần Văn Tuyên xã Đoàn Kết, Yên Thủy, Hòa Bình

- Xác định được một số bệnh thường gặp ở đàn lợn nái ngoại Landrace (L01 và L11) nuôi tại trại Trần Văn Tuyên xã Đoàn Kết, Yên Thủy, Hòa

Bình

1.2.2 Yêu cầu

- Theo dõi thu thập đầy đủ thông tin và chính xác các số liệu có liện quan đến khả năng sinh sản của đàn lợn nái ngoại Landrace (L01 và L11)

nuôi tại trại

- Nắm được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái ngoại

Landrace và lợn con qua các giai đoạn

Trang 12

- Tìm hiểu nguyên nhân gây ra các bệnh thường gặp trên đàn lợn nái, từ

đó đưa ra phác đồ điều trị và biện pháp phòng bệnh

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập

2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại

Cơ cấu tổ chức gồm 3 nhóm:

+ Nhóm quản lý: 1 chủ trại phụ trách chung, 1 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại

+ Nhóm kỹ thuật: 2 kỹ sư chăn nuôi, 1 kỹ sư di truyền, 1 kỹ thuật điện, 1 kế

toán phụ trách chuyên môn

+ Nhóm công nhân: 15 công nhân, 7 sinh viên thực tập thực hiện công việc chuyên môn

Với đội ngũ nhân công trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng bầu Các tổ có bảng chấm công riêng cho từng công nhân trong tổ, ngoài ra các tổ trưởng có nhiệm vụ đôn đốc, quản lý các

Trang 13

thành viên trong tổ nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm và thúc đẩy sự phát triển của trang trại

Trang 14

2.1.1.3 Cơ sở vật chất của trang trại

Trang trại có tổng diện tích là 4,2 ha nằm trên địa bàn xã Đoàn Kết, có địa hình chủ yếu là núi đá vôi nhưng đường giao thông đã được nâng cấp, thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển

Để đảm bảo công tác phát triển sản xuất chăn nuôi và sinh hoạt của công nhân, trại được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật gồm:

Khu nhà điều hành, khu nhà ở cho công nhân, bếp ăn tập thể, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại

Khu chăn nuôicó hàng rào bao bọc xung quanh và có cổng vào riêng Chuồng trại được quy hoạch bố trí xây dựngphù hợp với hướng chăn nuôi công nghiệp, hệ thống chuồng nuôi lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái, lợn đực, sàn nhựa cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn.Chuồng nuôi được xây dựng đảm bảo đủ cho 1200 nái cơ bản bao gồm:

+ 3 chuồng nái đẻ: mỗi chuồng chia làm 2 khu A và khu B, mỗi khu có

2 dãy, mỗi dãy có 29 ô chuồng được thiết kế sàn nhựa cho lợn con và sàn bê tông cho lợn mẹ

+ 2 chuồng nái chửa: chuồng 1 và chuồng 2, mỗi chuồng gồm 8 dãy mỗi dãy có 75 ô để nuôi và chăm sóc lợn nái trong thời gian mang thai được sắp xếp theo các kỳ mang thai khác nhau Riêng chuồng 1:dãy 1 được thiết kế

để cho lợn nái chờ phối, có khu thử lợn, ép lợn và dãy 2 có khu để làm nơi thụ tinh nhân tạo cho lợn nái

+ 1 chuồng đực giống: bao gồm 34 ô để nuôi lợn đực và 1 ô để khai thác tinh

+ 4 chuồng cách ly: dùng để nuôi lợn hậu bị được nhập từ các trại gia công lợn hậu bị của Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam, mỗi chuồng có thể nuôi được từ 30 - 40 lợn hậu bị.Lợn được nuôi ở đây trong thời gian 3 tháng để làm vaccine đầy đủ trước khi được đưa lên giống

Trang 15

Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng được thiết kế quạt hút gió, cóhệ thống điện chiếu sáng và bóng đèn hồng ngoại để sưởi ấm, úm lợn con, đảm bảo thoáng mát về mùa Hè ấm áp về mùa Đông bằng cách điều chỉnh hệ thống quạt, giàn mát và bóng đèn sưởi ấm trong chuồng Mỗi chuồng được lắp đặt máy bơm nước để tắm cho lợn và vệ sinh chuồng trại hằng ngày, cuối chuồng có hệ thống thoát phân và nước thải Bên cạnh chuồng đực có xây dựng phòng pha chế tinh lợn, với đầy đủ tiện nghi như: kính hiển vi, nhiệt kế, đèn cồn, máy ép ống tinh, tủ lạnh bảo quản tinh, nồi hấp, panh, kéo… Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các chậu nước sát trùng để trước cửa ra vào chuồng Nhìn chung khu vực chuồng nuôi được xây dựng khá hợp lý, thuận lợi cho việc chăm sóc, đi lại, đuổi lợn giữa các dãy chuồng

Ngay tại cổng vào khu chăn nuôi có xây dựng 5 phòng tắm sát trùng cho công nhân trước khi ra, vào chuồng chăm sóc lợn, 1 kho thuốc, 1 kho cám, 1 phòng ăn và 2 phòng nghỉ trưa cho công nhân

Một số thiết bị khác cũng được trang bị đầy đủ: tủ lạnh bảo quản vaccine, tủ thuốcđể bảo quản và dự trữ thuốc của trại, xe chở cám từ nhà kho xuống các dãy chuồng, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực trong và ngoài chuồng nuôi

2.1.1.4 Tình hình sản xuất của trang trại

* Công tác chăn nuôi

Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến

bộ khoa học kỹ thuật Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,40 - 2,45 lứa/năm Số con sơ sinh là 12,07 con/đàn, số con cai sữa là 10,45 con/đàn, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là

26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các trại chăn nuôi lợn giống của

Trang 16

công ty CP Theo đánh giá của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam thì trại hoạt động vào mức khá

Trong trại có 34 con lợn đực giống.Các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo Tinh lợn được khai thác từ 3 giống lợn là Landrace, Yorkshire và Duroc Lợn nái được phối 3 lần và được luân chuyển giống cũng như lợn đực

Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam cấp cho từng đối tượng lợn của trại

* Công tác vệ sinh thú y của trại

Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại sản xuất lợn giống luôn thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên công ty chăn nuôi CP Việt Nam

- Công tác vệ sinh:

Chuồng trại được xây dựng thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông, xung quanh các chuồng nuôi được trồng cây xanh nhằm tạo sự thoáng mát tự nhiên

Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, khơi thông cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn, phun thuốc sát trùng, hành lang đi lại được quét dọn và rắc vôi theo quy định

Công nhân, kỹ sư, khách tham quan trước khi vào khu chăn nuôi đều phải sát trùng tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo bảo hộ lao động

- Công tác phòng bệnh:

Trong khu vực chăn nuôi, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại được sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào

Quy trình phòng bệnh bằng vaccine luôn được trang trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm

Trang 17

riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, cho đến lợn con Lợn được tiêm vaccine

ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn Tỷ lệ tiêm phòng vác xin cho đàn lợn luôn đạt 100%

- Công tác trị bệnh: cán bộ kỹ thuật có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trại luôn được kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách ly, điều trị ở ngay giai đoạn đầu, nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 - 90% trong một thời gian ngắn Vì vậy, không gây thiệt hại lớn về số lượng đàn gia súc

Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn

quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân

Kèm theo đó là đội ngũ kỹ thuật với chuyên môn vững vàng, công nhân nhiệt tình, năng động và có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc Do đó

đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trang trại

Trang 18

lợn tại trại

2.2 Cơ sở khoa học của chăn nuôi lợn nái sinh sản

2.2.2 Đặc điểm về cơ quan sinh sản và sinh lý sinh sản của lợn nái

2.2.2.1 Một số cơ quan sinh dục

Quá trình hoạt động sinh lý của cơ quan sinh dục là rất quan trọng và

cơ bản, giúp gia súc trong hoạt động sinh sản nhằm duy trì nòi giống Cấu tạo của cơ quan sinh dục lợn nái bao gồm bộ phận sinh dục bên ngoài và bộ phận sinh dục bên trong

Bộ phận sinh dục bên ngoài là bộ phận sinh dục có thể nhìn thấy, sờ thấy và quan sát được, bao gồm: âm môn, âm vật và tiền đình Bộ phận sinh dục bên trong không nhìn thấy được nhưng bằng phương pháp gián tiếp người

ta có thể quan sát, hoặc sờ thấy được, bao gồm: âm đạo, tử cung, ống dẫn trứng và buồng trứng Mỗi bộ phận này đều đảm nhiệm một chức năng và giữ một vai trò quan trọng khác nhau

+ Bộ phận sinh dục ngoài bao gồm:

- Âm môn: hay còn gọi là âm hộ (vuhvae) nằm dưới hậu môn Phía ngoài âm môn có hai môi (labia pudenda) Hai môi được nối với nhau bằng hai mép (rima vulae) Trên hai môi của mỗi âm môn có sắc tố màu đen và có

nhiều tuyến tiết (như tuyến tiết chất nhờn trắng và tuyến mồ hôi)

Trang 19

- Âm vật (clitoris): âm vật nằm ở phía dưới hai mép của âm môn,

giống như dương vật của con đực được thu nhỏ lại Về cấu tạo, âm vật cũng

có các thể hồng như con đực

- Tiền đình (vestibulum): tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo

Trong tiền đình có dấu vết màng trinh, phía trong là âm đạo, phía ngoài có lỗ niệu đạo Màng trinh có các sợi cơ đàn hồi giữa và do hai lá niêm mạc gập thành mộtnếp Tiền đình có một số tuyến xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật, chúng có chức năng tiết dịch nhầy, (Nguyễn Mạnh Hà và cs, 2003) [4]

+ Bộ phận sinh dục bên trong bao gồm:

- Âm đạo: âm đạo có chức năng chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ và là ống thải các chất dịch từ tử cung Âm đạo có cấu tạo như một ống cơ có thành dày, phía trước âm đạo là cổ tử cung, phía sau là tiền đình có màng trinh che

lỗ âm đạo Âm đạo có cấu tạo gồm 3 lớp: lớp liên kết ở ngoài, lớp cơ trơn ở giữa và lớp niêm mạc ở trong Trên bề mặt niêm mạc có nhiều thượng bì gấp

nếp dọc Âm đạo của lợn dài 10 – 12 cm

- Tử cung (dạ con): tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và niệu đạo trong xoang chậu, hai sừng tử cung nằm ở trước xoang chậu, tử cung được giữ tại chỗ nhờ sự bám của âm đạo vào cổ tử cung

và được giữ bởi các dây chằng Tử cung lợn thuộc loại tử cung sừng kép, gồm hai sừng thông với 1 thân và cổ tử cung

Sừng tử cung: dài 50 – 100 cm, hình ruột non thông với ống dẫn trứng Thân tử cung: dài 3 – 5 cm

Cổ tử cung: dài 10 – 18 cm, có thành dày hình trụ, có các cột thịt xếp

theo kiểu cài răng lược thông với âm đạo

Vách tử cung gồm 3 lớp từ ngoài vào trong: lớp tương mạc, lớp cơ trơn và lớp nội mạc

Trang 20

- Ống dẫn trứng: ống dẫn trứng gồm có phễu phần rộng và phần

eo Phễu mở ra để tiếp nhận noãn và có những sợi lông nhung để ra tăng diện tích tiếp xúc với buồng trứng khi xuất noãn Phễu tiếp nối với phần rộng Phần rộng chiếm 1/2 chiều dài của ống dẫn trứng, đường kính tương đối lớn và mặt trong có nhiều nếp gấp với tế bào biểu mô có lông nhỏ Phần eo tiếp nối với sừng tử cung, nó có thành dầy hơn phần rộng

và ít gấp nếp hơn Vai trò cơ bản của ống dẫn trứng là vận chuyển noãn

và tinh trùng đến nơi thụ tinh của ống dẫn trứng (1/3 phía trên của ống dẫn trứng) tiết ra các chất để nuôi dưỡng noãn, duy trì sự sống và tăng khả năng thụ tinh của tinh trùng, tiết các chất nuôi dưỡng phôi trong vài ngày trước khi phôi đi vào tử cung, nơi tiếp giáp giữa phần eo và tử cung

có vai trò điều khiển sự di chuyển của tinh trùng đến phần rộng của ống dẫn trứng hoặc di chuyển của phôi vào tử cung

- Buồng trứng: buồng trứng nằm trong xoang chậu, gồm một cặp, thực hiện cả hai chức năng: ngoại tiết (bài noãn) và nội tiết (sản sinh hormone sinh dục cái) Buồng trứng được hình thành trong giai đoạn phôi thai, hình dáng và kích thước của buồng trứng biến đổi theo giai đoạn của chu kỳ sinh dục và chịu ảnh hưởng của tuổi, đặc điểm cá thể, chế độ dinh dưỡng…

Buồng trứng được bao bọc từ phía ngoài bởi một lớp màng liên kết sợi Phía trong buồng trứng được chia thành hai miền là miền vỏ và miền tủy Miền vỏ đảm bảo quá trình phát triển của trứng đến khi trứng chín

và rụng

Trang 21

2.2.2.2 Đặc điểm sinh lý sinh sản

Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên, nó báo hiệu khả năng có thể sinh sản ở lợn nái Phối giống cho lợn ở lần động dục đầu tiên sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái vì lúc này

bộ máy sinh dục của lợn chưa hoàn chỉnh, thể vóc cũng chưa đạt mức thành thục Nên phối ở lần thứ 2, 3 trở đi, tuy nhiên cũng không nên phối quá muộn

vì sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động sinh lý bình thường của lợn cũng như ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi

Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003)[3] cho rằng: tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng khi khối lượng đạt từ

20 -25kg Ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn sơ với lợn nội thuần, ở lợn lai F1 (có sẵn máu nội) động dục bắt đầu lúc 6 tháng tuổi khi khối lượng cơ thể đạt 50-55kg Ở lợn ngoại động dục muộn hơn so với lợn lai, tức là lúc động dục 6 - 7 tháng khi lợn có khối lượng 60-80kg Tuỳ theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn Ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi) các giống lợn ngoại (Yorkshire, Landrace) có tuổi động dục lần đầu muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi

Trang 22

Sự thành thục về thể vóc

Thành thục về thể vóc là tuổi mà con vật đã có sự phát triển hoàn thiện

về ngoại hình, xương đã được cốt hóa hoàn toàn, tầm vóc ổn định

Tuổi thành thục về thể vóc bao giờ cũng muộn hơn tuổi thành thục về tính Khi đã thành thục về tính con vật vẫn tiếp tục sinh trưởng, phát triển để hoàn thiện về mặt thể vóc Đây là lý do không nên cho gia súc sinh sản quá sớm sẽ ảnh hưởng tới sự thành thục về thể vóc Ngược lại nếu đưa gia súc vào khai thác quá muộn sẽ không đem lại hiệu quả kinh tế

Theo Nguyễn Thiện và cs (1993)[9], chu kỳ tính của lợn nái thường diễn ra trong phạm vi 19 - 21 ngày Thời gian động dục thường kéo dài khoảng 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn ngoại), và được chia làm ba giai đoạn: giai đoạn trước khi chịu đực (bắt đầu), giai đoạn chịu đực (phối giống), giai đoạn sau chịu đực (kết thúc)

Chu kỳ động dục chia làm 4 giai đoạn:

Giai đoạn trước động dục: Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ động dục (thường kéo dài 2 - 3 ngày) Ở giai đoạn này các noãn bào phát triển thành thục và nổi rõ trên bề mặt buồng trứng, khi đó buồng trứng to hơn bình thường Các tế bào ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số lượng lông

Trang 23

nhung tăng lên, đường sinh dục tăng tiết dịch nhầy, xung huyết nhẹ, các noãn bào dần chín và tế bào trứng tách ra ngoài, tử cung co bóp mạnh, con vật bắt đầu xuất hiện tính dục Biểu hiện bên ngoài: âm đạo sưng to, đỏ hồng, không

có hoặc có ít nước nhờn, không cho con đực nhảy hoặc bỏ chạy, lợn thường

bỏ ăn hoặc ăn ít, kêu rít liên tục

Giai đoạn động dục: Tính từ khi tế bào trứng chín (kéo dài 2 - 3 ngày) Giai đoạn này estrogen tiết ra đạt giá trị cao nhất Trứng chín dưới tác dụng của FSH và LH gây rụng trứng, hình thành thể vàng Các cơ quan sinh dục biến đổi lúc này rõ rệt nhất.Biểu hiện tính hưng phấn cao độ, đứng nằm không yên, ăn uống giảm, kêu rít, phá chuồng đi tìm con đực, luôn nhảy lên lưng con khác hoặc để con khác nhảy lên lưng mình, khi gần đực thì luôn ở tư thế sẵn sàng chịu đực (đuôi cong lên và lệch sang một bên, hai chân sau dạng ra và khụy xuống sẵn sàng cho con đực nhảy lên) Bên trong cổ tử cung đã hé mở

và co bóp mạnh, âm hộ chuyển sang màu mận chín có dịch nhờn chảy ra.Sau khi chịu đực khoảng 2 giờ thì trứng rụng và thời gian trứng rụng kéo dài 10 -

15 giờ Phối ở giai đoạn này sẽ cho hiệu quả cao nhất Nếu trứng rụng được thụ tinh thì lợn nái chuyển sang giai đoạn có chửa, nếu không được thụ tinh thì chuyển sang giai đoạn sau động dục

Giai đoạn sau động dục: Thường kéo dài 3 - 4 ngày Biểu hiện: hoạt động sinh dục của con cái giảm dần, âm hộ teo và tái lại,lợn ăn tốt hơn, giảm hưng phấn thần kinh, không muốn gần đực và trở lại trạng thái bình thường Bên trong buồng trứng thể vàng xuất hiện và tiết ra progesteron tác dụng lên tuyến yên làm giảm estrogen từ đó làm con vật không có biểu hiện động dục nữa Nếu gia súc mang thai, thể vàng sẽ tồn tại đến 2 - 3 ngày trước khi đẻ còn không thì sau 14 - 15 ngày thể vàng sẽ tiêu biến và một chu kỳ mới lại bắt đầu

Trang 24

Giai đoạn yên tĩnh: Là giai đoạn dài nhất, thường bắt đầu từ ngày thứ 4 sau rụng trứng đến khi thể vàng tiêu biến Ở giai đoạn này lợn nái không có các biểu hiện về hành vi sinh dục Trong buồng trứng, thể vàng bắt đầu teo đi, noãn hoàng bắt đầu phát triển, nhưng chưa nổi rõ trên bề mặt buồng trứng Đây là giai đoạn nghỉ ngơi yên tĩnh để khôi phục lại cấu tạo chức năng cũng

như năng lượng cho chu kì tiếp theo

Cơ chế động dục:

Chu kì động dục của lợn nái được điều khiển bằng thần kinh và hormone vùng dưới đồi (Hypothalamus), tuyến yên, buồng trứng theo cơ chế điều hòa ngược Khi các nhân tố ngoại cảnh (ánh sáng, dinh dưỡng, nhiệt độ, mùi vị ) được con vật nhận biết, tín hiệu được chuyển vào vỏ não và đưa tới vùng dưới đồi Tại đây nó giải phóng ra GnRH (Gonadotropine Releaser Hormone) GnRH kích thích lên thùy trước tuyến yên giải phóng FSH

(Folliculine Stimuline Hormone) và LH (Lutein Hormone)

FSH kích thích sự phát triển của buồng trứng, còn LH kích thích quá trình rụng trứng và sinh trưởng của tổ chức thể vàng Tác động đồng thời của FSH và LH làm cho bao noãn chín và rụng

Hàm lượng estrogen trong máu tăng gây hiện tượng động dục, đồng thời dưới tác dụng của estrogen cơ quan sinh dục biến đổi: tử cung âm đạo hé

mở, sừng tử cung ống dấn trứng tăng sinh tạo điều kiện cho sự làm tổ của hợp

tử sau này

Đến cuối chu kỳ động dục hormone estrogen lại kích thích tuyến yên tiết ra LH, giảm FSH Khi LH được tiết ra nó kích thích trứng chín và rụng Tại vị trí rụng hình thành thể vàng, thể vàng tiết progesterone có tác dụng

an thai và đồng thời ức chế sự phân tiết của GnRH của tuyến yên gây ức chế sự thành thục của noãn bào làm cho lợn không động dục Sau khi thụ tinh hợp tử làm tổ ở sừng tử cung và phát triển thành thai Thời gian mang

Trang 25

thai của lợn nái khoảng 114 ngày Sau khi cai sữa 7 ngày thì lợn nái động dục trở lại (có thể dao động từ 5 - 12 ngày), tùy thuộc vào thời gian cai sữa lợn con sớm hay muộn và tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ trong thời gian nuôi con Do vậy việc phát hiện lợn cái động dục và cho phối giống đúng thời điểm là biện pháp quan trọng của công tác giống nhằm nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái

2.3 Chỉ tiêu sinh sản và các yếu tốảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái

2.3.1 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục và sinh sản của lợn nái

Tuổi phối giống lần đầu (ngày)

Thông thường ở tuổi động dục lần đầu thể vóc chưa phát triển hoàn chỉnh và số trứng rụng trong lần đầu rất ít Vì vậy người ta thường bỏ qua lần động dục đầu tiên mà chỉ phối ở lần động dục 2 - 3

Tuổi đẻ lứa đầu (ngày)

Là thời gian từ sơ sinh cho đến khi lợn cái hậu bị động dục lần đầu Chỉ tiêu này ở lợn Yorkshire là 203 - 208 ngày tuổi Trung bình là 12 tháng tuổi, nếu lợn đẻ sớm khi chưa thành thục về thể vóc làm cho con sinh ra nhỏ, ảnh hưởng đến chất lượng đàn con Cho lợn đẻ muộn sẽ không tốt, làm giảm khả năng sinh sản, giảm số lượng con sinh ra/nái Chỉ tiêu này đánh giá tuổi thành thục về tính và thể vóc của từng giống, đánh giá tốc độ sinh trưởng của lợn

Số con sơ sinh đẻ ra/ổ (con)

Là số con lợn nái sinh ra bao gồm cả thai gỗ, thai chết, thai non và số thai sống Thai gỗ: Là loại thai đã chết trong tử cung lúc 35 - 90 ngày tuổi, thai chết ở giai đoạn này thường không gây sảy thai mà các bào thai chết thường khô cứng lại

Trang 26

Thai non: Là loại thai phát triển không hoàn thiện có thể do lợn mẹ bị

ốm hoặc có các tác động của hóa chất làm cho lợn con phát triển không đầy

đủ mặc dù đã kết thúc giai đoạn chửa Loại thai non này đã chết trong thời gian lợn nái đang mang thai hoặc chết trước khi sinh ra

Thai chết: Từ 90 ngày tuổi trở lên thai chết trong thời gian lợn nái đang mang thai hoặc chết trước khi sinh ra

Số con đẻ ra còn sống/ổ (con)

Trong số những con lợn khi sinh ra sống, một số con nào đó có thể bị chết trong 24 giờ đầu do các lý do khác nhau ví dụ như mẹ đè chết, chết rét, chết ngạt

Như vậy số con sơ sinh còn sống đến 24 giờ sẽ bằng số con đẻ ra còn sống trừ đi số con chết trong 24 giờ

Tỷ lệ sống (%) = (Số con sống đến 24 giờ/ Số con đẻ ra) ×100

Số con để nuôi /ổ (con)

Số con để nuôi/ổ = Số con sống đến 24 giờ - (Số con loại thải ± Số con nuôi gửi)

Chỉ tiêu này đánh giá khả năng nuôi con của lợn nái tốt hay không tốt

và cũng nói lên tình trạng của lợn nái khi sinh,ngoài ra nó còn phụ thuộc vào

số vú của lợn mẹ

Khối lượng sơ sinh toàn ổ (kg)

Là khối lượng cân sau khi con đẻ ra lau khô, cắt rốn, bấm răng nanh và chưa cho bú sữa đầu

Khối lượng trung bình sơ sinh/con/ổ (kg)

Để xác định chỉ tiêu này, cần phải cân lợn trước khi bú Chỉ tiêu này đánh giá khả năng nuôi thai và kĩ thuật chăm sóc của người chăn nuôi đối với lợn nái chửa

Trang 27

Số con cai sữa/ổ (con)

Là số con còn sống đến lúc cai sữa Chỉ tiêu này đánh giá khả năng nuôi con của lợn nái, chăm sóc và nuôi dưỡng đàn lợn con

Khối lượng cai sữa/ổ (con)

Đánh giá khả năng tăng trọng của lợn con, khả năng tiết sữa của lợn mẹ

và kỹ thuật của người chăn nuôi

Thời gian động dục trở lại sau cai sữa (ngày)

Là thời gian từ lúc cai sữa đến lúc động duc trở lại Chỉ tiêu này phụ thuộc vào giống lợn, thể trạng, chế độ dinh dưỡng trong giai đoạn nuôi con và sau cai sữa

Khoảng cách giữa hai lứa đẻ(ngày)

Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ = Thời gian nuôi con + Thời gian chờ phối+ Thời gian mang thai

2.3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của lợn

Ảnh hưởng của yếu tố di truyền

Trong yếu tố này trước tiên phải nhắc đến giống, đây là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái Các giống khác nhau có khả năng sinh sản rất khác nhau Sự khác nhau này không chỉ liên quan đến

số con đẻ ra mỗi lứa, khối lượng lợn con mà còn khác nhau cả ở khả năng mắn đẻ Hầu hết những giống cải tiến đều có khả năng mắn đẻ hơn, tức số lứa trên năm cao so với những giống địa phương chưa được cải tiến

Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng và thức ăn

Chế độ dinh dưỡng và thức ăn ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lơn nái, 3 tuần đầu lợn mang thai nếu bị đánh đập hay nuôi dưỡng kém thì dễ bị sảy thai, đẻ non, chất lượng đàn con kém

Trang 28

Do đó phải chăm sóc và nuôi dưỡng lợn tốt mới nâng cao được năng suất sinh sản của lợn nái Đối với thức ăn phải đầy đủ các yếu tố: protein, năng lượng, vitamin

A, B, D, E Khoáng đa lượng và khoáng vi lượng bao gồm (Ca, P, K, Na, Cl, Cu,

Fe, Zn, Mg, Mn)

Ảnh hưởng của thời tiết và khí hậu

Nhiệt độ thích hợp cho lợn sinh sản là 18 - 21C, độ ẩm 70 - 75%, những lợn nái nuôi ở nhiệt độ lớn hơn 30C sẽ bị giảm tỷ lệ thụ thai, số con đẻ ra Do vậy, vào mùa hè tỷ lệ thụ thai và số con đẻ ra thấp hơn so với mùa khác Mùa hè nóng có thể gây sảy thai, đẻ non và gây bệnh cho lợn Nếu nhiệt độ thấp dưới 18C thì gây cho lợn bị tiêu chảy, lạnh và tỷ lệ nuôi sống lợn thấp

Ảnh hưởng của yếu tố tuổi và khối lượng phối giống lần đầu

Nếu chọn lợn nái đi phối giống lần đầu sớm quá khi chưa thành thục về thể vóc thì con đẻ ra ít, nhỏ yếu Mặt khác nó còn ảnh hưởng tới thể vóc của lợn mẹ trong thời gian tiếp theo Nhưng khi cho đi phối giống muộn thì năng suất không cao

Đối với lợn nội 8 tháng tuổi đạt 45 - 50kg cho đi phối giống

Đối với lợn ngoại 8 tháng tuổi đạt 100-110kg cho đi phối giống

Đối với lợn ngoại thường bỏ qua chu kỳ động dục 1 và 2, phối giống vào lần

3 Nếu cá thể nào động dục lần 2 mà đạt khối lượng yêu cầu thì có thể cho phối luôn Lợn nái muốn đẻ nhiều, khi phối giống ta nên phối tinh dịch chết để lần 3 trứng rụng nhiều

Ảnh hưởng của phương pháp và kỹ thuật phối giống

Có hai phương pháp phối giống là cho nhảy trực tiếp và phương pháp thụ tinh nhân tạo

Phương thức phối giống: Dùng phương pháp phối lặp hay phối kép thì nâng cao tỷ lệ thụ thai, số con đẻ ra, khối lượng sơ sinh của lợn con

Phương thức phối giống giúp tránh được sự đồng huyết và ghép đôi thích hợp giữa lợn đực và lợn cái

Trang 29

2.4 Một số giống lợn nuôi tại trại

2.4.1 Lợn Yorkshire

Được chọn lọc nhân giống tại vùng Yorkshire nước Anh thế kỷ 19, hiện nay được nuôi ở hầu khắp các nước trên thế giới Khả năng thích nghi của giống lợn này tốt hơn các giống lợn khác

Ngoại hình: có lông màu trắng tuyền, tai dựng đứng, trán rộng, ngực rộng, ngoại hình thể chất chắc chắn, nuôi con khéo,chịu được kham khổ, chất lượng thịt tốt, khả năng chống chịu stress cao Khối lượng trưởng thành con đực khoảng 300 - 400kg, con cái khoảng 230 - 300kg

2.4.2.Lợn Landrace

Xuất xứ từ Đan Mạch, có hình đúng như quả tên lửa, lông da trắng tuyền, mõm dài thẳng, hai tai to ngả về phía trước che cả mắt, mình lép, 4 chân hơi yếu, đẻ con sai (trừ Landrace nước Bỉ) thích nghi kém hơn Yorkshire trong điều kiện nóng ẩm, tỷ lệ nạc cao

Hai giống L01 và L11 là giống Landrace thuần được nhập về từ Cty TNHH Minh Châu và một số được nhập từ Đan Mạch về Có khả năng thích nghi cao với điều kiện khí hậu nước ta, khả năng sinh sản tốt

2.4.3.Lợn Duroc

Xuất xứ từ Bắc Mỹ

Ngoại hình: Thân hình vững chắc, lông có màu từ nâu nhạt đến nâu sẫm, bốn chân to khỏe, cao, đi lại vững vàng, tai to ngắn cụp che mắt Mông vai nở, tỷ lệ nạc cao, có chất lượng thịt tốt Được sử dụng trong lai hai máu,

ba máu hoặc 4 máu giữa các giống cao sản đạt hiệu quả cao về năng suất và chất lượng thịt Lai với nái địa phương (Móng Cái) không đạt kết quả tốt, da con lai dày, lớn chậm, số con/ổ thấp

Trang 30

2.5 Một số bệnh thường gặpở đàn lợn nái sinh sản hiện

2.5.2 Bệnh bại liệt trước khi đẻ

Bệnh bại liệt trước khi đẻ là một quá trình sinh lý phức tạp xuất hiện ở

cơ thể khi có thai gây lên tình trạng bệnh nặng nên con vật chỉ nằm bẹp một chỗ Nguyên nhân là do: chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý và sử dụng không đúng mục đích, không đúng kỹ thuật, khẩu phần thức ăn không đầy đủ

và không phù hợp với yêu cầu phát triển theo từng giai đoạn phát triển của thai, ở thời kỳ có thai giai đoạn cuối nhu cầu của cơ thể mẹ cần đạm, vitamin, khoáng chất nhất là Ca và P.Bệnh này phát triển có thể từ từ hay xảy ra đột ngột.Trường hợp bệnh phát triển từ từ, lú đầu con vật đi lại khó khăn (trong một vài ngày) đứng không vữn, sau mới nằm bẹp một chỗ Còn trường hợp bệnh này xảy ra đột ngột thì con vật chỉ nằm mà không đứng dậy được

Trang 31

2.5.3 Bệnh đẻ khó

Bệnh đẻ khó ở lợn xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau Sau đây là những nguyên nhân chủ yếu:Do lợn nái không được chăm sóc tốt trong suốt quá trình nuôi từ hậu bị đến khi lợn chửa, đẻ, như ít vận động, cơ bụng, cơ hoành, cơ liên sườn yếu và xương chậu hẹp Trong quá trình chăm sóc chúng

ta nên lưu ý đến chế độ ăn, bổ sung đầy đủ các khoáng chất, vitamin, cân đối chất đạm, chất xơ chúng ta có thể bổ sung chế phẩm sinh học Vườn Sinh thái vào trong thức ăn, pha trộn theo tỷ lệ như HD, trong chế phẩm chứa đầy

đủ và cân bằng các chất khoáng vi lượng, đa lượng, men, vitamin,acid amin sẽ làm cho lợn mẹ tăng sức đề kháng.Do xương chậu hẹp bẩm sinh, do thai quá to vì chế độ ăn uống cho lợn nái khi có chửa không đúng quy trình kỹ thuật Lợn nái có biểu hiện rặn nhiều lần, thời gian lâu mà không đẻ được, cơn co bóp rặn đẻ thưa dần, lợn nái mệt mỏi khó chịu, nước ối tiết nhiều và có lẫn máu (màu hồng nhạt) Có trường hợp lợn nái đẻ được một con rồi nhưng vẫn đẻ khó ở con tiếp theo Khi thò tay vào thấy thai nằm ngay xương chậu nhưng do đẻ ngược thai (quay lưng ra), do xương chậu hẹp nhưng bào thai quá to.Trường hợp đã vượt quá thời gian rặn đẻ cho phép, cần tiêm Oxytocin

20 - 50UI/ 1con nái, có thể tiêm vào tĩnh mạch là tốt nhất Trường hợp không

có kết quả, cần can thiệp bằng tay hoặc phẫu thuật để lấy thai ra.Sau khi can thiệp xong, cần thụt rửa âm đạo bằng nước muối pha loãng, dùng các loại kháng sinh sau đây chống viêm tử cung, âm đạo

2.5.4.Bệnh sót nhau

Trong quá trình sinh đẻ bình thường của lợn mẹ, sau khi sổ thai (lợn con

sổ ra ngoài) 10 - 60 phút thì nhau thai sẽ ra ngoài Nếu quá thời gian trung bình kể trên mà nhau thai không được đẩy ra ngoài thì được gọi là sót nhau.Nguyên nhân là do:lợn nái bị viêm niêm mạc tử cung nên sau khi đẻ

Trang 32

nhau không ra hết.Can thiệp vội vàng, thô bạo, không đúng kỹ thuật nên nhau thai bị đứt và sót lại Tử cung co bóp kém không đẩy được nhau thai ra được, dolợn nái quá già, đẻ nhiều đuối sức.Lợn bị sót nhau thường biểu hiện triệu chứng không rõ ràng:lợn mẹ không yên tĩnh, hơi đau đớn, thỉnh thoảng rặn, thân nhiệt hơi tăng, lợn thích uống nước (nhờ vào kinh nghiệm chăm sóc cũng như theo dõi trong quá trình chăm sóc thực tế mà ta biết được lượng nước lợn uống có nhiều hơn bình thường hay không) Từ cơ quan sinh dục của lợn mẹ luôn thải ra dịch màu nâu.Từ đó cần thiệp kịp thời (ngay khi phát hiện ra lợn

mẹ có những dấu hiệu bệnh, không để quá muộn), đúng kỹ thuật (không quá mạnh tay → tránh những tổn thương → sót nhau) Tiêm thuốc Oxytoxin dưới

da để kích thích co bóp tử cung đẩy nhau ra hết Sau khi nhau ra, dùng thuốc tím nồng độ 0,1% hoặc nước muối 0,9% để rửa tử cung trong ba ngày liên tục

2.6.Một số bệnh thường gặp ở đàn lợn con theo mẹ

2.6.1 Bệnh viêm khớp

Là các vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể theo đường miệng, cuống rốn, vết thương khi cắt đuôi, bấm răng, bấm tai, các vết thương trên chân, da, đầu gối khi chúng chà sát trên nền chuồng cứng, thô ráp hoặc qua vết thiến Một nguyên nhân khác là do lợn con sau khi sinh không được bú sữa đầu từ lợn

mẹ đầy đủ, nhất là ở những lợn bị mất mẹ…Thấy chúng đi khập khiễng từ 3 -

4 ngày tuổi Khớp chân sưng lên sau đó 7 - 15 ngày tuổi và lợn có thể chết sau

đó lúc 2 - 5 tuần tuổi Dấu hiệu viêm có thể thấy trên mọi ổ khớp nhưng thường thấy nhất là khớp cổ chân, khớp háng và khớp bàn chân

2.6.2.Bệnh về đường hô hấp

Bệnh hô hấp do nhiều nguyên nhân gây ra, có thể xếp vào hai nhóm chính như sau: (1) Do vi sinh vật và(2) Do môi trường và chăm sóc quản lý Đặc trưng của bệnh đương hô hấp là lợn ho, sốt cao, khó thở, thở thể bụng, chảy

Trang 33

nhiều dịch mũi, giảm ăn học bỏ ăn Một vài trường hợp có thể thêm triệu

chứng chảy máu mũi Để phân biệt bệnh viêm phổi do Mycoplasma thì lợn ho

từng cơn dài 7 - 10 tiếng, ho mọi lúc, sáng sớm, chiều tối, sau khi ăn, chạy nhảy

2.6.3 Bệnh tiêu chảy lợn con

Bệnh do vi khuẩn E.coli có sẵn trong đường ruột của lợn gây ra do mất

cân bằng giữa vi khuẩn có lợi với vi khuẩn có hại trong đường tiêu hóa, do các yếu tố stress Bệnh có thể xảy ra ngay những ngày đầu mới sinh, tỷ lệ chết

từ 20 - 100% Những nguyên nhân chính làm tăng độ nhiễm E.coli ở lợn

con.Giai đoạn sơ sinh: lợn con không bú được nhiều sữa đầu, sữa lợn mẹ có chất lượng không tốt Lợn con bị lạnh: do không được úm, gió lùa, độ ẩm cao… chăm sóc lợn mẹ không tốt, khâu đỡ đẻ không tốt, thay đổi thức ăn liên tục dẫn đến: lợn mẹ bị viêm vú, viêm tủ cung, sữa lợn mẹ quá ít, lợn con không sữa bú Giai đoạn tập ăn: chọn thức ăn tập ăn không tốt, không đúng chủng loại dẫn đến rối loạn tiêu hóa Tập ăn không đúng phương pháp: không

bổ sung men sống hỗ trợ, đổ quá nhiều thức ăn, thức ăn thừa quá nhiều dẫn đến ôi thiu, nhiễm khuẩn Giai đoạn cai sữa: Cai sữa không đúng phương pháp: cho ăn quá nhiều, không dùng men và kháng sinh hỗ trợ, chuồng vệ sinh kém.Lợn con bị tiêu chảy, phân nhiều nước, có bọt, màu trắng (vàng), có mùi hôi tanh, khó chịu Lợn có thể nôn bụng thóp lại, mắt lõm sâu, da tím tái

Lợn mất nước, lông xù,bỏ bú,suy kiệt trần trọng, dẫn đến chết Nhóm E.coli

gây phù đầu thương gặp trên lợn con sau cai sữa 1 - 2 tuần và những con lớn trội trong đàn là những con nhiễm đầu tiên Lợn giảm ăn, đi đứng siêu vẹo hay nằm liệt, co giật, hôn mê Sưng phù ở mí mắt, hầu, họng

2.8 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.8.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Trang 34

Chăn nuôi lợn trên thế giới liên tục phát triển trong những năm vừa qua Xuất phát từ thực tiễn và nhu cầu của người tiêu dùng các nhà chọn giống lợn trên thế giới đã sử dụng các phương pháp lai, tạo ưu thế lai nhằm tạo ra con lai thương phẩm nhiều máu có năng suất và tỷ lệ nạc cao Nhiều giống lợn cao sản như: Yorkshire, Landrace, Pietran, Hampshire được sử dụng làm nguyên liệu cho các công thức lai Nhưng được sử dụng chủ yếu là Yorkshire và Landrace

Các nghiên cứu của Gerasimov và cs (1997) [16] cho biết lai hai, ba giống đều có tác dụng nâng cao các chỉ tiêu sinh sản như: số con đẻ ra/lứa, tỷ lệ nuôi sống và khối lượng ở 60 ngày tuổi/con

White B và cs (1997)[18] nhận thấy nái lai F1 (Yorkshire ×Meishan) có

số trứng rụng, số thai và số con đẻ ra/ổ nhiều hơn giống thuần Khi cho lợn đực Pietrain phối với lợn nái F1 (Landrace × Yorkshire), tỷ lệ nạc đạt 52 - 55% và đạt khối lượng 100 kg ở 161 ngày tuổi

Theo Vangen O và cs (1997)[19] , trong số 1,2 triệu lợn giết mổ hàng năm tại Nauy thì lợn lai chiếm trên 60% Nái lai (L×Y) có tỷ lệ đẻ, số con đẻ ra/lứa cao hơn nái thuần L, nái lai (L×Y) được sử dụng nhiều trong các công thức lai (Gaustad – Aas và cs., 2004)[15]

2.8.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Trong nhiều năm qua có nhiều nghiên cứu về năng suất và chất lượng của một số giống lợn Phần lớn trong số đó là các lợn lai giữa các giống lợn nội và lợn ngoại Tính đến 2006 cả nước đã nghiên cứu khảo sát trên 45 tổ hợp lai Nhiều tổ hợp lai hai giống và một phần ba, bốn giống được đưa vào ứng dụng trong sản xuất

Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thanh Hải (2006)[5] cho biết: công thức lai Pi×MC đạt mức tăng trọng 509 g/ngày; trong thời gian nuôi thí nghiệm 23,02

kg (90 ngày tuổi) đến 80,03 kg (202 ngày tuổi) tiêu tốn thức ăn là 3,8 kg thức

Ngày đăng: 22/11/2017, 14:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Vũ Bình, Nguyễn Văn Tường, Đoàn Văn Soạn, Nguyễn Thị Kim Dung (2005), “Khả năng sản xuất của một số công thức lai của đàn lợn chăn nuôi tại Xí nghiệp chăn nuôi Đồng Hiệp, Hải Phòng”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sản xuất của một số công thức lai của đàn lợn chăn nuôi tại Xí nghiệp chăn nuôi Đồng Hiệp, Hải Phòng”
Tác giả: Đặng Vũ Bình, Nguyễn Văn Tường, Đoàn Văn Soạn, Nguyễn Thị Kim Dung
Năm: 2005
2. Đinh Văn Chỉnh, Phan Xuân Hảo, Đỗ Văn Chung (2001), “ Đánh giá khả năng sinh sản của lợn Landrace và Yorkshire nuôi tại trung tâm giống Phú Lãm – Hà Tây”, Kết quả nghiên cứu Khoa học kỹ thuật khoa Chăn nuôi thú y (1991 – 1995), Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Đánh giá khả năng sinh sản của lợn Landrace và Yorkshire nuôi tại trung tâm giống Phú Lãm – Hà Tây
Tác giả: Đinh Văn Chỉnh, Phan Xuân Hảo, Đỗ Văn Chung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
3. Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2003),“Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con”, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con”
Tác giả: Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
4. Nguyễn Mạnh Hà, Trần Huê Viên, Phan Văn Kiểm (2003), Giáo trình truyền giống nhân tạo, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình truyền giống nhân tạo
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hà, Trần Huê Viên, Phan Văn Kiểm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
5. Lê Thanh Hải, Nguyễn Văn Đồng, Nguyễn Ngọc Phục, Pham Duy Phẩm (2006), “Năng suất sinh trưởng và khả năng cho thịt của lợn lai 3 giống ngoại Landrace, Yorkshire, Duroc”, Tạp chí khoa học kỹ thuật chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất sinh trưởng và khả năng cho thịt của lợn lai 3 giống ngoại Landrace, Yorkshire, Duroc”
Tác giả: Lê Thanh Hải, Nguyễn Văn Đồng, Nguyễn Ngọc Phục, Pham Duy Phẩm
Năm: 2006
6. Phan Xuân Hảo, Đinh Văn Chỉnh, Vũ Ngọc Sơn (2001): “ Đánh giá khả năng sinh sản và sinh trưởng của lợn nái Landrace và Yorkshire tại trại giống lợn ngoại Thanh Hưng – Hà Tây”, kết quả nghiên cứu Khoa học kỹ thật khoa Chăn nuôi thú y (1999 – 2001), Nxb Nông Nghiệp – 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng sinh sản và sinh trưởng của lợn nái Landrace và Yorkshire tại trại giống lợn ngoại Thanh Hưng – Hà Tây
Tác giả: Phan Xuân Hảo, Đinh Văn Chỉnh, Vũ Ngọc Sơn
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp – 2001
Năm: 2001
7. Phan Xuân Hảo, Hoàng Thị Thúy (2006), “Nghiên cứu năng suất sinh sản và sinh trưởng cảu tổ hợp lai giữa nái Landrace, Yorkshire và F1 (L x Y) phối với đực lai giữa Pietrain và Duroc (PIDU)”,Tạp chí Khoa học và Phát triển: Tập 7, số 3: 269 – 275. Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu năng suất sinh sản và sinh trưởng cảu tổ hợp lai giữa nái Landrace, Yorkshire và F1 (L x Y) phối với đực lai giữa Pietrain và Duroc (PIDU)”,"Tạp chí Khoa học và Phát triển
Tác giả: Phan Xuân Hảo, Hoàng Thị Thúy
Năm: 2006
8. Nguyễn Hải Quân, Đặng Vũ Bình, Đinh Văn Chỉnh, Ngô Thị Đoan Trinh (1995),Giáo trình chọn lọc và nhân giống gia súc, Trường Đại Học Nông Nghiệp I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chọn lọc và nhân giống gia súc
Tác giả: Nguyễn Hải Quân, Đặng Vũ Bình, Đinh Văn Chỉnh, Ngô Thị Đoan Trinh
Năm: 1995
9. Nguyễn Thiện, Nguyễn Tấn Anh (1993), Thụ tinh nhân tạo cho lợn ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thụ tinh nhân tạo cho lợn ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thiện, Nguyễn Tấn Anh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1993
11. Nguyễn Khắc Tích (1995), “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý, sinh dục, khả năng sinh sản của đàn lợn nái ngoại nuôi tại Xí nghiệp giống vật nuôi Mỹ Văn – Hưng Yên”, kết quả nghiên cứu khoa học chăn nuôi thú y, 1991 – 1995, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý, sinh dục, khả năng sinh sản của đàn lợn nái ngoại nuôi tại Xí nghiệp giống vật nuôi Mỹ Văn – Hưng Yên
Tác giả: Nguyễn Khắc Tích
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1995
12. Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2006), Giáo trình sinh lý học vật nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr 196 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh lý học vật nuôi
Tác giả: Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
13. Phùng Thị Vân, Trương Hữu Dũng, Nguyễn Khắc Quắc (1994), “Khả năng sinh trưởng và cho thịt của hai tổ hợp lai F1( L × Y) và F1( Y × L)”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sinh trưởng và cho thịt của hai tổ hợp lai F1( L × Y) và F1( Y × L)”, "Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Tác giả: Phùng Thị Vân, Trương Hữu Dũng, Nguyễn Khắc Quắc
Năm: 1994
14. Phùng Thị Vân, Hoàng Hương Trà, Lê Thị Kim Ngọc, Trương Hữu Dũng (2000), “Nghiên cứu khả năng cho thịt của lợn lai giữa giống hai giống L,Y, giữa ba giống L,Y,D và ảnh hưởng của hai chế độ tới khả năng cho thịt của lợn ngoại có tỷ lệ nạc > 52%”, Báo cáo khoa học Chăn nuôi thú y (1999 - 2000), phần chăn nuôi gia súc, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng cho thịt của lợn lai giữa giống hai giống L,Y, giữa ba giống L,Y,D và ảnh hưởng của hai chế độ tới khả năng cho thịt của lợn ngoại có tỷ lệ nạc > 52%
Tác giả: Phùng Thị Vân, Hoàng Hương Trà, Lê Thị Kim Ngọc, Trương Hữu Dũng
Năm: 2000
15. Gaustad – Aas A. H., Hofmo P. O., Kardberg K. (2004), “The importance of farrowing to service interval in sows served during lactation or after shorter lactation than 28 days”, Animal Reproduction Science, 81, pp. 289 - 293 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The importance of farrowing to service interval in sows served during lactation or after shorter lactation than 28 days”, "Animal Reproduction Science
Tác giả: Gaustad – Aas A. H., Hofmo P. O., Kardberg K
Năm: 2004
16. Gerasimov V.I, Danlova T . N; Pron E . V. (1997), “The results of 2 and 3 breed crossing of pigs”, Animal Breeding Abstracts, 65(3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The results of 2 and 3 breed crossing of pigs”, "Animal Breeding Abstracts
Tác giả: Gerasimov V.I, Danlova T . N; Pron E . V
Năm: 1997
17. Kasovac O., Vidovic M. (1997). Phenotype parameters of reproductive traits of sows of different genotypes at the first two farrowing”, Animal Breeding Abstracts, 65(2), ref, 923 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Animal Breeding Abstracts
Tác giả: Kasovac O., Vidovic M
Năm: 1997
18. White B. R., Baknes J., Wheeler M. B. (1997),“Reproductive physiology in Chinese Meishan pigs. A. University of Illinois perspective”, Animal Breeding Abstracts, 65(8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reproductive physiology in Chinese Meishan pigs. A. University of Illinois perspective”, "Animal Breeding Abstracts
Tác giả: White B. R., Baknes J., Wheeler M. B
Năm: 1997
19. Vagen O., Sehested E. (1997), “ Swine production and reseach in Norway” , Animal Breeding Abstracts. 65(8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Swine production and reseach in Norway” , "Animal Breeding Abstracts
Tác giả: Vagen O., Sehested E
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm