Sự phát triển của Đài Loan, Hồng Công, Hàn Quốc và Xinhgapore từ những năm 1960 trở lại đây là những thí dụ điển hình cho quá trình phấn đấu trở thành NICs.. + Về lịch sử cùa các nước và
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI
===================
GIÁO TRÌNH HỌC PHẦN CÁC NƯỚC VÀ VÙNG LÃNH THỔ NICS ĐÔNG Á
Giảng viên: Lê Trọng Đại
NĂM HỌC 2015-2016
Trang 2GIÁO TRÌNH CÁC NƯỚC VÀ VÙNG LÃNH THỔ NICS ĐÔNG Á
CHƯƠNG TRÌNH CHI TIẾT HỌC PHẦN
1 Tên học phần: CÁC NƯỚC VÀ VÙNG LÃNH THỔ NICS ĐÔNG Á TỪ SAU
CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI ĐẾN NAY
Mã số: SUCDTG.040
2 Số tín chỉ: 02
3 Đối tượng: Sinh viên ngành Sư phạm Lịch sử Hệ: Chính qui
4 Phân bố thời gian:
5 Điều kiện tiên quyế t:
Sinh viên đã hoàn thành HP Lịch sử thế giới hiện đại
6 Mục tiêu học phần:
Về kiến thức: Trang bị cho sinh viên một số hiểu biết cơ bản về các nước NIEs
Đông Á, các giai đoạn phát triển của các nước NICs Đông Á, nguyên nhân, bài học
kinh nghiệm về sự phát triển thần kỳ của các nước NICs Đông Á
Về kĩ năng: Tiếp tục rèn luyện cho sinh viên kĩ năng phân tích, đánh giá các sự
kiện lịch sử, khái quát vấn đề và vận dụng những kiến thức đã được học vào học tập, nghiên cứu và giảng dạy
Về thái độ: Cung cấp cho sinh viên một cái nhìn khách quan đúng đắn về con
đường phát triển của các nước NICs Đông Á
7 Mô tả vắn tắt nội dung học phần:
Nội dung học phần giới thiệu những nét tổng quan về các nước NICs Đông Á,
các giai đoạn phát triển của các nước NICs Đông Á, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm
về sự phát triển thần kỳ của các nước NICs Đông Á
8 Nhiệm vụ của sinh viên:
Trang 3Để hoàn thành học phần sinh viên cần thực hiện các nhiệm vụ:
- Lên lớp nghe giảng trên 75% thời gian giảng dạy, làm bài tập nhóm, và báo cáo kết quả thảo luận nhóm
- Thái độ học tập nghiêm túc, chủ động trong việc thu thập các tài liệu tham khảo Đọc, phân tích và nhận xét các tài liệu khi học từng chương, mục
- Nộp bài Xemina, bài kiểm tra đúng hạn và thỏa mãn các nội dung giảng viên yêu cầu
- Tự học: sinh viên phải dành thời gian ít nhất 60 giờ chuẩn bị cá nhân ở nhà để chuẩn
bị bài tập và nghiên cứu bài giảng, đọc trước các tài liệu tham khảo phục vụ học phần
9 Tài liệu học tập:
- Tài liệu chính: Lê Trọng Đại, (2014), Bài giảng Các nền Công nghiệp mới NICs Đông
Á, Đồng Hới
- Tài liệu tham khảo:
1 Lê Văn Toàn, (1999), Kinh tế NICs Đông Á kinh nghiệm đối với Việt Nam, NXB
Thống kê, HN
2 Ngụy Kiệt - Hạ Diêu, (1993), Bí quyết cất cánh của bốn con rồng châu Á, NXB
Chính trị Quốc gia, HN
3 Nguyễn Anh Thái (cb), (2003), Lịch sử thế giới hiện đại, NXB Giáo dục
4 Trần Thị Vinh, (2005), Lịch sử thế giới hiện đại tập 2, NXB ĐH Quốc gia, HN
5 Trung tâm khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, Viện thông tin khoa học xã hội
(1997), Hiện tượng thần kỳ Đông Á, các quan điểm khác nhau, NXB Thông tin Khoa học
xã hội - chuyên đề, HN
6 Ngô Xuân Bình - Phạm Qúy Long (đồng cb), (2000), Hàn Quốc trên đường phát
triển, NXBThống kê, Hà Nội
7 Vi.wikhi.pedia: Hàn Quốc, Xinhgapore, Hồng Công, Đài Loan
10 Tiêu chuẩn đánh giá sinh viên:
Chuyên cần, thái độ
- Chuẩn bị bài tốt
- Tích cực thảo luận
Quan sát, điểm danh
Kiểm tra thường xuyên
- Nội dung kiến thức 1: Nắm
và phân biệt được các thuật
Chấm báo cáo, bài tập
Trang 4ngữ: Các nước công nghiệp
phát triển, Các nước công
nghiệp mới và các nước đang
phát triển Tiêu chuẩn của một
nước NICs Khái quát chung về
các nền công nghiệp mới
- Nội dung kiến thức 2: quá
trình phát triển của NICs Đông
Á, đặc điểm nổi bật về kinh tế
và xã hội của NICs Đông Á
Nội dung kiến thức:
công, bài học kinh nghiệm về
phát triển kinh tế xã hội của các
nền kinh tế NICS Đông Á
- Chủ dề 3:+ Các quan điểm
khác nhau về sự thần kỳ của
NICS Đông Á Trình bày và
luận giải quan điểm của mình
về nguyên nhân sự thần kỳ của
Trang 5NỘI DUNG BÀI GIẢNG HỌC PHẦN
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ CÁC NƯỚC NICs ĐÔNG Á
1.1 Mục đích nghiên cứu; nguồn tài liệu
Từ các thập niên 60,70,80; trong số các nước đang phát triển có 1 số nước trỗi dậy vượt lên đạt được sự phát triển cao về kinh tế Mặc dù hiện nay có chậm lại nhưng các nước đó đã đạt được thành công trong công nghiệp hóa Đặc trưng của các nước và vùng lãnh thổ này là quá trình CNH thành công nhanh chóng làm thay đổi cơ cấu nền KT Tỷ trọng công nghiệp trong tổng sản phẩm trong nước có thể ngang với các nước CN Phát triển Nhóm nước và vùng lãnh thổ này đã hình thành nên nhóm nước có nền kinh tế công nghiệp mới Có nhiều nhóm song chúng ta chỉ nghiên cứu nhóm 4 nền kinh tế NICS Đông Á gồm: Hàn Quốc, Sinhgapore, Đài Loan và Hồng Kông đây là những nước và vùng lãnh thổ khá gần gũi VN về địa lý và lại có nhiều điểm tương đồng về lịch sử, văn hóa, điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển khi bước vào công nghiệp hóa Việc nghiên cứu nhóm này là rất cần thiết đối với VN Bởi vì VN là một trong số những nước đang phát triển, nằm trong khối ASEAN hiện nay đang phát triển nhanh là khu vực phát triển năng động, có nhiều triển vọng Nghiên cứu NICs Đông Á trong bối cảnh toàn cầu hóa
để học tập phát triển và hội nhập
Nghiên cứu chuyên đè này giúp chúng ta thấy được những thách thức mà VNcần vượt qua, những tháh thức mà VN phải đối mặt như sự cạnh tranh trong quá trình CNH Nghiên cứu chuyên đề này giúp chúng ta hiểu biết thêm về tình hình kinh tế xã hội, quan hệ quốc tế Nghiên cứu mô hình này đã có nhiều ý kiến khác nhau:
1) Có ý kiến cho rằng: Sự thần kỳ của NICs Đông Á đã bị chững lại sau khủng khoảng tài chính tiền tệ đầu thập kỷ 90 của TK XX lại đang tiếp tục trỗi dậy PT nhanh
Trang 62) có ý kiến cho rằng: Sự thần ký của NICS Đông Á đang chấm dứt vì nó chứa đựng bên trong nhiều hạn chế
3) Có ý kiến trung hòa cho rằng sự thần kỳ NICs Đông Á còn tiếp diễn thêm vài thập niên tiếp theo nữa mới phải tiến hành cải cách
* Giới hạn N/C của chuyên đề: 4 nước và vùng lãnh thổ NICs Đông Á xem xét đối sánh với Nhật Bản (cùng giai đoạn) và Việt Nam (từ 1986 đến nay)
1.2 Tổng quan về các nước công nghiệp mới (NICs)
Nhiệm vụ của Sinh viên: Phân biệt các khái niệm NICS NICS Đông Á
Đây là một vấn đề rộng do đó với khuôn khổ một chuyên đề tự chọn thuộc chuyên ngành thì chủ yếu là chúng ta tập trung N/C các vấn đề cơ bản sau đây:
- Nắm vững khái niệm NICs và NICs Đông Á
- Nghiên cứu nhóm này trong sự so sánh với Nhật Bản
- N/C chiến lược CNH, không chỉ đi sâu N/C kinh tế mà N/C cả điều kiện lịch sử, địa lý để thấy được lợi thế và tìm hiểu nắm vững những kinh nghiệm thành công của NICS Đông Á
- Trang bị cho người học những hiểu biết sâu hơn về lịch sử kinh tế đối ngoại, về vai trò của nhà nước và những chính sách điều tiết của NN; N/C quan hệ quốc tế, rút bài học cho VN trong công cuộc đổi mới và đẩ mạnh CNH, HĐH
1.2.1 Khái niệm nước và vùng lãnh thổ công nghiệp mới (NICs)
NICs là viết tắt của cụm từ tiếng Anh (New Industrial Cuntries) nhóm này còn được gọi là New Industrialized Economics viết tắt là NIEs Cả hai cụm từ này đều được dùng để chỉ những nước và vùng lãnh thổ công nghiệp mới hay những nền kinh tế công nghiệp mới NICs viết tắt của cụm từ tiếng Anh dùng để gọi những nước và vùng lãnh
thổ vốn là các nước đang phát triển đã đạt được sự tăng trưởng kinh tế cao Đặc trưng của nhóm nước này là quá trình công nghiệp hóa diễn ra nhanh chóng đã làm thay
đổi hẵn cơ cấu kinh tế Tỷ trọng công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc nội có thể
so sánh với các nước công nghiệp phát triển Tuy nền kinh tế các nước này chưa hoàn
toàn đạt trình độ của các nước công nghiệp phát triển nhưng đã vượt trình độ các nước đang phát triển, hình thành nên nhóm nước và vùng lãnh thổ công nghiệp mới gọi là NICs
Đến nay vẫn chưa có sự thống nhất trong việc chọn những nước để xếp vào NICs
và đang tồn tại 3 quan điểm khác nhau:
Trang 7Theo tổ chức OEDC của Liên hiệp quốc thì trên thế giới hiện có 10 nước và
vùng lãnh thổ gồm: Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Nam Tư, Braxin và Mêhicô, Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng công và Xinhgapo
Quan điểm thứ hai, với sự chấp nhận bớt chặt chẽ hơn người ta còn xếp vào danh
sách NICS thêm cho là 15 nước và vùng lãnh thổ thêm 5 nước khác gồm Achen ti na, Ấn
Độ, Pakixtan, Chi Lê, Ai Cập
Quan điểm thứ ba, một số tổ chưc khác lại có cách nhìn rộng rãi hơn nữa về khái
niệm NICS cho rằng NICs có tới 19 nước và vùng lãnh thổ ngoài 15 nước trên còn thêm
cả Côlômbia, Thái Lan, Philippin, Malaixia
Tuy việc lựa chọn chưa có sự thống nhất nhưng về cơ bản có thể đưa ra 3 tiêu chuẩn NICs gồm:
+ Khu vực công nghiệp chiếm trên 40% tổng sản phẩm trong nước (GDP)
+ Đại đa số lao động trong nước hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, quá trình chuyển biến từ một xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp ngày một nhanh + Thu nhập quốc dân bình quân đầu người đạt trên 3.000 USD/ năm
Với các tiêu chí theo quan điểm mới này hiện nay chúng ta có thể xếp cả các nền kinh tế mới nổi (BRIS) vào NICS được hay không ?
Sự phát triển của Đài Loan, Hồng Công, Hàn Quốc và Xinhgapore từ những năm
1960 trở lại đây là những thí dụ điển hình cho quá trình phấn đấu trở thành NICs Chỉ trong một thời gian ngắn cơ cấu kinh tế của các nước và vùng lãnh thổ nói trên đã thay đổi một cách căn bản Từ 1990, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ của Đài Loan chiếm 42% và 53, 5%; Hàn Quốc: 34,6 % và 41,8 %; Hồng Công: 25,6 và 73,8 %; Xinhgapore: 29,1% và 62,3 %
Với khuôn khổ chuyên đề chuyên sâu có thời lượng 30 tiết chúng ta giới hạn nghiên cứu trong phạm vi 4 nền kinh tế NICs Đông Á gần với VN lại có nhiều điểm tương đồng với VN là: Hàn Quốc, Xinhgapore, Đài Loan và Hồng Công
Câu hỏi hướng dẫn học tập:
1) Phân biệt các khái niệm: NICS, NICS Đông Á; BRIS, G7,
2) Trình bày các quan điểm khác nhau về NICS
3) Các tiêu chí để xác định một nền kinh tế đạt trình độ NICS
Trang 81.2.2 Tổng quan về quá trình phát triển của NICs Đông Á
Giữa các nền kinh tế NICS Đông Á có những điểm tương đồng và khác biệt ntn ? a) Những điểm tương đồng
+ Các nước và vùng lãnh thổ này có điểm tương đồng về xuất phát điểm kinh tế
thấp So với các nước đang phát triển khác thì 4 nền kinh tế NICs Đông Á đều gặp phải khá nhiều khó khăn ở xuất phát điểm về kinh tế xã hội khi bắt đầu quá trình CNH
+ Các nước và vùng lãnh thổ này có điểm tương đồng về điều kiện tự nhiên là đều
có diện tích nhỏ hẹp, nghèo tài nguyên thiên nhiên nhưng lại có vị trí địa lý thuận lợi về hàng hải
+ Điểm tương đồng về xã hội là 4 nước và vùng lãnh thổ này đều có thị trường nội địa không lớn cả về qui mô dân số lẫn sức mua
+ Về lịch sử cùa các nước và lãnh thổ này vốn đều là thuộc địa của các nước đế quốc phương Tây đều có nền kinh tế kém phát triển mang tính chất thuộc địa trong những năm chiến tranh thế giới thứ hai bị biến thành nơi cung cấp nhân lực, vật lực cho chính quốc + Về chính trị các nước và vùng lãnh thổ này đều có hoàn cảnh chính trị đặc biệt: Vốn là những nước và vùng lãnh thổ là thuộc địa của chủ nghĩa thực dân phương Tây + Các nước và vùng lãnh thổ này đều nhận được sự ưu đãi từ Mỹ về viện trợ và thị trường, những đơn đặt hàng phục vụ chiến tranh của Mỹ (trừ Hồng Công giữ mối quan hệ với Liên hiệp Anh)
- Hồng Công là vùng đất mà chính quyền phong kiến Mãn Thanh nhượng lại cho Thực dân Anh ở thế kỷ XIX sau cuộc chiến tranh thuốc phiện năm 1840, tồn tại với một qui chế đặc biệt thuộc Anh Năm 1997 Hồng Công được trả lại cho Trung Quốc nhưng được hưởng chế độ chính trị đặc biệt cho tới năm 2047 và được gọi là Đặc khu hành chính Hồng Kông (về chính trị vẫn giữ lại kết cấu của dân chủ tư sản)
- Xinhgapore cũng là một trường hợp đặc biệt vì sau 2 năm gia nhập Liên bang Malaixia do những bất đồng và khó khăn về kinh tế, chính trị và xã hội đã tuyên bố tách khỏi Liên bang và trở thành một quốc gia độc lập từ tháng 2 năm 1965
- Sau khi chiến tranh Triều tiên chấm dứt (1950 – 1953) với thỏa thuận ngừng bắn hai miền đã lấy vĩ tuyến thứ 38 làm ranh giới chia cắt bán đảo Triều Tiên thành 2 miền: Bắc Triều Tiên về sau được gọi là Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên từ phía Bắc vĩ tuyến 38 đến biên giới Trung Quốc Nam Triều Tiên về sau được gọi Đại Hàn Dân quốc hay Hàn Quốc là vùng nằm phía nam vĩ tyến 380 củabán đảo Triều Tiên
- Đài Loan là một vùng lãnh thổ của Trung Quốc, năm 1949 chính quyền Tưởng Giới Thạch bị thất bại trong cuộc nội chiến ở đại lục phải bỏ chạy ra Đài Loan và lập chính
Trang 9quyền riêng tự gọi mình là Trung Hoa dân Quốc Tuy nhiên phía nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa không thừa nhận Đài Loan là một quốc gia và luôn coi nó là một bộ phận lãnh thổ Trung Quốc
- Các nước và vùng lãnh thổ NICS Đông Á đều iết khai thác lợi thế về vị trí địa lý để phát triển kinh tế
Đài Loan là một bộ phận lãnh thổ của Trung Quốc, gồm đảo Đài Loan và hơn 80 đảo nhỏ khác, trong đó có cụm đảo Bành Hồ Chính quyền Tưởng Giới Thạch khi chạy ra Đài Loan (năm 1949) thiết lập chính quyền ở đó đã tự gọi là Trung Hoa dân quốc Đài Loan là một đảo lớn ở biển Hoa Đông nằm cách Trung Hoa đại lục là 150 km (từ đầu thế
kỷ XVI Đài Loan từng là thuộc địa của Hà Lan) Năm 1683, Đài Loan được Cheng Cheng giải phóng và sáp nhập vào Trung Quốc Từ năm 1895 đến 1945, Đài Loan là thuộc địa của Nhật Bản Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc Đài Loan được trả về cho Trung Quốc từ ngày 25 tháng 10 năm 1945 Do thất bại trong cuộc nội chiến với Đảng Cộng sản Trung Quốc mà năm 1949, tàn quân Quốc dân Đảng của Tưởng giới Thạch phải từ Trung Hoa lục địa đã chạy ra Đài Loan dựa vào Mỹ để tồn tại Với chính sách một Trung Quốc; Cộng hòa nhân dân Trung Hoa yêu cầu các nước không công nhận Trung Hoa Dân quốc với tư cách là một quốc gia như một điều kiện để duy trì quan hệ với Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Tuy nhiên đa số các nước đều có văn phòng đại diện không chính thức tại Đài Loan Hoa Kỳ vẫn giữ quan hệ không chính thức với Đài Loan thông qua Hiệp hội Mỹ tại Đài Loan Trên thực tế Trung Hoa dân quốc cũng giữ các đại
Trang 10sứ quán và lãnh sự tại hầu hết các nước dưới tên gọi là văn phòng Đại diện Kinh tế và văn hóa Đài Bắc (gọi tắt là Văn phòng Đại diện Đài Bắc)
Với chính sách một Trung Quốc của CHND Trung Hoa đã buộc Trung Hoa Dân quốc (THDQ) chỉ có thể tham gia vào các tổ chức quốc tế nơi họ không được công nhận như là một quốc gia độc lập có chủ quyền Từ năm 1945 - 1971 (THDQ) đảm nhận tư cách đại diện cho toàn bộ lãnh thổ Trung Hoa và là một trong những quốc gia sáng lập và
là Ủy viên thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp quốc Năm 1971, với việc Liên Hợp Quốc thông qua Nghị quyết 2758 của Đại hội đồng Liên hợp quốc, vai trò nói trên của Trung Hoa Dân quốc đã bị Công hòa nhân dân Trung Hoa thay thế Từ đó THDQ luôn chịu áp lực phải sử dụng cái tên không có tư cách là một quốc gia về chính trị là Đài Bắc Trung Quốc Trong các sự kiện quốc tế như thế vận hội, Ôlimpic, các đoàn của Đài Loan tham dự thi đấu thì đều bị ngăn cản sử dụng quốc ca và quốc kỳ của THDQ vào các địa điểm tổ chức các sự kiện quốc tế
Về hành chính hiện tại Đài Bắc Trung Quốc gồm: 2 tỉnh và 5 thành phố tương
từ đại lục chạy ra Đài Loan, từ đó cắt đứt mối liên hệ bình thường giữa Đài Loan với đại lục của Tổ quốc Tuy nhiên chínhquyền Tưởng Giớ Thạch cuungx mạng ra Đài Loan
Trang 11toàn bộ dự trử vàng của Trng Quốc lúc đó và một đội ngũ những trí thức doanh nhân ưu
tú Đây là cơ sở để chính quyền Tưởng Giới Thạch ổn định , khoi phục và phát triển kinh
tế Đài Loan
Gần 40 năm nay, nhà cầm quyền Đài Loan đã tổng kết kinh nghiệm lịch sử, chăm lo trị nước yên dân, triệt để lợi dụng viện trợ Mỹ, đồng thời xuất phát từ đặc điểm diện tích nhỏ hẹp, tài nguyên nghèo nàn, thị trường có hạn, họ đã xem thời liệu thế, kịp thời nắm bắt cơ hội có lợi trong phân công quốc tế, lấy kinh tế hướng về xuất khẩu để thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế xã hội phát triển, nhanh chóng thực hiện cất cánh kinh tế, tìm ra một con đường phát triển công nghiệp hóa độc đáo
Sự phát triển kinh tế của Đài Loan chỉ giành được sau khi đã khắc phục thành công nhiều khó khăn gặp phải sau chiến tranh và những rối loạn xã hội do chạy khỏi đại lục Lúc chiến tranh vừa kết thúc, tình hình Đài Loan rất nghiêm trọng: số dân tăng nhanh, sản xuất nông nghiệp không đủ, công nghiệp cũng đang trong thời kỳ khôi phục do bị chiến tranh tàn phá Năm 1948 sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 59% mức năm 1941 Hàng tiêu dùng khan hiếm, vật giá tăng vọt Năm 1947, vật giá tăng 77%, năm 1948 tăng 1144%, tháng 6-1949 tăng 1189% Chính phủ của Đảng Quốc dân rút về cố thủ Đài Loan, lòng người không yên, lo lắng về tương lai Trước tình hình đó, nhà cầm quyền Đài Loan đã áp dụng một loạt các biện pháp khẩn cấp để ổn định lòng người, nắm vững kinh
tế, xoay chuyển tình hình Các biện pháp chủ yếu gồm:
+ Biện pháp phát triển nông nghiệp mà cốt lõi là cải cách ruộng đất Cải cách
ruộng đất ở Đài Loan tiến hành qua ba khâu: („giảm tô 375“ „chia đất công“ và „người cày có ruộng“ Cuộc cải cách ruộng đất tiến hành từ năm 1949 đến năm 1952 đã hình thành nên tầng lớp đông đảo là nông dân tự canh, kích thích tinh thần tích cực sản xuất của nông dân, hòa hoãn mâu thuẫn trong nông thôn, tạo điều kiện sản xuất nông nghiệp
+ Biện pháp ổn định tài chính, kinh tế Những biện pháp chủ yếu là thành lập
„Ủy ban quản lý sản xuất khu vực Đài Loan“; thông qua cải cách tiền tệ để ngăn chặn lạm phát; tăng cường quản lý ngoại tệ; khôi phục và phát triển công nghiệp Những biện pháp đó đều đã thu được kết quả ở mức độ khác nhau
+ Phát động phong trào „cải tạo“ Đảng Quốc dân, tiếp thu những bài học kinh
nghiệm thất bại ở đại lục, chỉnh đốn tổ chức, thống nhất tư tưởng, thống tham ô, hủ hóa
+ Điều chỉnh thái độ đối với Mỹ, tranh thủ sự giúp đỡ và viện trợ của Mỹ Đến
giữa năm 1951, Mỹ đã cung cấp Đài Loan khoảng 50 triệu USD viện trợ kinh tế Theo tính toán, từ 1950-1965, Đài Loan đã nhận được khoảng 1,5 tỷ USD viện trợ Mỹ
Trang 12Nhờ có những nổ lực trên, đến năm 1952, nền kinh tế Đài Loan đã khôi phục được mức cao nhất trước chiến tranh Sản lượng lương thực đạt 112% mức cao nhất trước chiến tranh Lạm phát bị chặn đứng Những kết quả đó đã tạo điều kiện thuận lợi để kinh
tế Đài Loan chuyển sang giai đoạn phát triển với tốc độ cao
Quá trình phát triển kinh tế Đài Loan từ những năm 50 tới nay, về đại thể, có thể chia làm mấy giai đoạn như sau:
a) Giai đoạn thứ nhất (1953-1962)
Đó là giai đoạn Đài Loan phát triển kinh tế bản địa nhằm thay thế nhập khẩu Trong giai đoạn này kinh tế Đài Loan giành được hai thành tựu nổi bật Một là, với phương châm chiến lược „lấy nông nghiệp nuôi công nghiệp, lấy công nghiệp thúc đẩy nông nghiệp“ đã chuẩn bị cơ sở cho sự phát triển các ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu Việc phát triển nông nghiệp rất được coi trọng Ví dụ: ưu tiên cho việc đầu tư xây dựng cơ bản nông nghiệp; xây đắp, tu sửa các công trình thủy lợi, mở rộng sản xuất phân bón, cải tiến khâu chọn giống, nâng cao trình độ canh tác, v.v Từ 1953-1962, sản xuất nông nghiệp tăng trưởng bình quân hằng năm 4,8% Đài Loan không những đã tự túc được lương thực, mà còn cải tiến cơ cấu sản xuất nông nghiệp, đồng thời đã đẩy mạnh xuất khẩu hàng nông sản và những mặt hàng gia công từ sản phẩm nông nghiệp Hai là, tích cực phát triển công nghiệp thay thế nhập khẩu Đài Loan phát triển công nghiệp thay thế nhập khẩu bắt đầu từ sản xuất phân hóa học và công nghiệp dệt, tiếp đó là công nghiệp thực phẩm, đặc biệt là ngành đóng hộp, sợi nhân tạo, công nghiệp chất dẻo, v.v
Từ 1953-1962 sản xuất công nghiệp tăng trưởng bình quân hằng năm 7,9 % Cùng thời
đó tỷ trọng sản xuất công nghiệp trong tổng giá trị sản phẩm quốc dân từ 17,9% tăng lên 27,8 %
b) Giai đoạn thứ hai (1963-1973)
Đó là giai đoạn Đài Loan phát triển kinh tế theo hướng xuất khẩu Để đẩy mạnh việc chuyển nền kinh tế thay thế nhập khẩu hướng sang xuất khẩu, chính quyền Đài Loan
đã thực thi một loạt cải cách quan trọng Ví dụ: lợi dụng quan hệ đặc biệt Mỹ -Nhật lúc bấy giờ, quyết định nhập thiết bị máy móc, vật tư nguyên liệu và bán thành phẩm của Nhật, về gia công, rồi bán sang Mỹ; hạ thuế suất, nới rộng quản lý nhập khẩu, ban bố một loạt các biện pháp ưu đãi đầu tư và hợp tác kỹ thuật để thu hút các nhà kinh doanh nước ngoài và Hoa kiều đầu tư vào công nghiệp Đài Loan; thành lập các khu gia công xuất khẩu, tạo môi trường thuận lợi cho tư bản nước ngoài đầu tư; hướng dẫn các ngành nghề chuyển hướng và nâng cấp một cách thuận lợi, từ thay thế nhập khẩu chuyển sang hướng vào xuất khẩu, chuyển sang các ngành như máy móc điện tử, v.v Từ 1963-1973 sản xuất
Trang 13công nghiệp Đài Loan tăng bình quân hăng năm 18,5%, tổng giá trị sản phẩm quốc dân tăng bình quân hằng năm 10,1%
c) Giai đoạn thứ ba (1974-1989)
Đó là giai đoạn Đài Loan điều chỉnh cơ cấu ngành nghề tập trung phát triển các ngành có hàm lượng vốn và kỹ thuật cao Sự phụ thuộc của kinh tế Đài Loan vào thị trường quốc tế rất lớn, 2/3 năng lượng cần dùng nhờ vào nhập khẩu Cuộc khủng hoảng năng lượng trên thế giới năm 1974 đã ảnh hưởng rất lớn tới nền sản xuất của Đài Loan, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm trước là 32,8%, năm sau sụt xuống 1,12% Tài nguyên, xây dựng cơ bản, lao động kỹ thuật và thị trường tiêu thụ nước ngoài trở thành khâu then chốt trong phát triển kinh tế Do vậy, trong kế hoạch xây dựng kinh tế 1976-1981, chính quyền Đài Loan xác định trọng điểm phát triển là công nghiệp có hàm lượng vốn và kỹ thuật cao, chủ trương đẩy mạnh nâng cấp các ngành Trong giai đoạn này Đài Loan đã
xây dựng „khu vườn công nghiệp khoa học Tân Trúc“ chuyên thu hút, sử dụng, khai thác, phát triển và phổ biến kỹ thuật cao; tiến hành „mười công trình xây dựng lớn“ và
„mười hai chương trình xây dựng“ khác, làm cho các ngành công nghiệp điện lực, giao
thông vận tải, lọc dầu, hóa dầu, gang thép, đóng tàu, v.v , đều phát triển nhanh chóng
Năm 1986 vạch „kế hoạch 10 năm vận hành và kinh doanh các khu vườn công nghiệp
khoa học“, xác định mục tiêu phát triển từ đó về sau là các ngành xuất khẩu kỹ thuật cao
Từ 1974-1985 sản xuất công nghiệp tăng bình quân hằng năm 9,2%, tổng giá trị sản phẩm quốc dân tăng 7,2%; từ 1986-1988, sản xuất công nghiệp tăng bình quân hăng năm 7,7%, tổng giá trị sản phẩm quốc dân tăng bình quân hằng năm 6,6%
Tốc độ phát triển kinh tế của Đài Loan rất cao Từ 1952-1988 giá trị tổng sản phẩm quốc dân tăng bình quân hăng năm 8,7%, trong đó có 14 năm tăng trên 10%, 20 năm tăng trên 5%, chỉ có 3 năm dưới 5% Năm 1988, tổng giá trị sản phẩm quốc dân của Đài Loan đạt 114,7 tỷ USD, thu nhập bình quân tính theo đầu người đạt 5.798 USD Thành tích nổi bật của Đài Loan trong 40 năm qua gắn liền với việc tích cực phát triển nền kinh tế hướng vào xuất khẩu
Diện tích khu vực Đài Loan hẹp, thị trường trong đảo trở thành chướng ngại của sự
phát triển kinh tế Khắc phục sự hạn chế của thị trường đảo, khai thác thị trường quốc tế,
gắn chặt nền kinh tế bản địa với thị trường thế giới là cách làm thiết thực duy nhất mà Đài Loan có thể lựa chọn Do đó, chính quyền Đài Loan đã vận dụng mọi biện pháp
chính trị, kinh tế, ngoại giao, khuyến khích các xí nghiệp và hàng hóa bản địa đi vào thị
trường quốc tế, khai thác thị trường thương phẩm mới, mở rộng xuất khẩu Trong thời
gian 38 năm, từ 1952-1989, tổng kim ngạch xuất khẩu của Đài Loan từ 303 triệu USD
Trang 14tăng vụt lên 118,2 tỷ USD, nhiều hơn 390 lần; trong đó xuất khẩu hàng hóa tăng
nhanh hơn: từ 116 triệu USD lên 65,9 tỷ USD, nhiều hơn 567 lần Năm 1987, kim ngạch
xuất khẩu của Đài Loan chiếm tỷ lệ 2% trong kim ngạch xuất khẩu của toàn thế giới, đứng thứ 11, trong đó 98% giá trị xuất khẩu là của hàng công nghiệp Thành tích to lớn
đó khẳng định sự thành công của chiến lược „hướng vào xuất khẩu“ mà chính quyền Đài
Loan đã thực hiện Ngay từ 1985, Đài Loan đã có 21 mặt hàng xuất khẩu đứng vị trí số
một trên thế giới Cùng với quá trình nâng cấp ngành nghề, một số mặt hàng công nghiệp
điện tử đã chiếm vị trí số một xuất khẩu trên thế giới Nền mậu dịch xuất khẩu tích cực và
linh hoạt làm cho Đài Loan thu được những khoản xuất siêu lớn, năm 1989 lên tới 13,6
tỷ USD, chỉ đứng sau Nhật bản Có thể nói sự tăng trưởng của nền kinh tế của Đài Loan
ở mức độ rất lớn, do xuất khẩu mang lại Giá trị xuất khẩu của Đài Loan chiếm khoảng 50% tổng giá trị sản phẩm quốc dân Có thể dự đoán rằng, cùng với tiến trình hòa hoãn tình hình tại eo biển Đài Loan, cùng với chủ trương „một nước hai chế độ“ do Đảng cộng sản Trung Quốc đề xuất ngày càng đi vào lòng người cùng với đà phát triển nhanh chóng của công cuộc cải cách mở cửa trên đại lục, cùng với sự cải thiện quan hệ và tăng cường hợp tác kinh tế giữa hai bờ eo biển, sự tăng trưởng kinh tế của Đài Loan chắc chắn sẽ gặp nhiều thuận lợi hơn nữa
1.3.2 Hồng Công
Hồng Công cũng là một vùng lãnh thổ của Trung Quốc có diện tích là 1.104 km2, dân số năm 2008 là 8.985.200 người, GDP năm 2016 đạt 316,070,652 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người là 58.322 USD Tăng trưởng kinh tế năm 2013 chỉ 1,8% Cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp 0, công nghiệp 7%, dịch vụ chiếm 93% Sản phẩm xuất khẩu: Nguyên liệu thô, hàng tiêu dùng, vốn, thực phẩm, nhiên liệu (tái xuất khẩu)
Hồng Công nằm ở phía đông của sông Châu Giang miền duyên hải đông nam của Trung Quốc, gần đặc khu kinh tế Thâm Quyến, cách Quảng Châu 130km Hồng Công là cánh cửa lớn của Trung Hoa nhìn ra thế giới bên ngoài Hồng Công có vị trị xung yếu trên các tuyến giao thông đường biển và đường không tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương Khu vực Hồng Công gồm hơn 230 hòn đảo, phần lớn trên các đảo đó không có người ở Năm 1840, bằng cuộc tiến công vũ trang xâm lược thực dân phương Anh đã buộc Trung Quốc phải cắt Hồng Công cho nước Anh „mượn“ với thời gian từ 1840 -
1997
Khu vực Hồng Công hẹp, tài nguyên khan hiếm, trước Chiến tranh thế giới thứ hai hầu như không có công nghiệp Chỗ dựa duy nhất của Hồng Công là cảng Víchtoria có
Trang 15độ sâu tự nhiên Nhờ vậy mà Hồng Công trở thành một trung tâm mậu dịch ngày càng phồn vinh ở phương Đông GDP của Hồng Công năm đạt 274,01 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt 51.508, 86 USD (năm 2009) Tuy Hồng Công bị nước Anh cai trị từ lâu, nhưng nền kinh tế chỉ mới cất cánh từ sau những năm 50 của thế kỷ XX Trong những năm Chiến tranh thế giới thứ hai, chỗ dựa chủ yếu của Hồng Công là nền mậu dịch chuyển khẩu hầu như bị ngừng trệ hoàn toàn, sau chiến tranh cũng chưa thể khôi phục nhanh chóng được Đầu những năm 50, Hồng Công bắt đầu từng bước chuyển từ trung tâm mậu dịch chuyển khẩu sang trung tâm công nghiệp chế tạo, mở ra quá trình
công nghiệp hóa Có hai nhân tố trực tiếp dẫn tới sự chuyển biến đó Một là, do Đảng
cộng sản Trung Quốc giành được chính quyền ở đại lục, thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, làm cho nhiều người vì không hiểu chính sách của đảng Cộng sản đã chạy sang Hồng Công, trong số đó có nhiều nhà kinh doanh và nhân viên kỹ thuật đã
mang theo một số lượng tương đối lớn tiền vốn và kỹ thuật Hai là, khi chiến tranh Triều
Tiên bùng nổ, Liên Hợp Quốc do Mỹ thao túng đã thực hiện bao vây kinh tế đối với Trung Quốc, giáng một đòn nữa vào nền mậu dịch chuyển khẩu của Hồng Công Đó là thử thách nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế của Hồng Công Trong bối cảnh đó, tích cực phát triển các ngành gia công, chế tạo dùng nhiều lao động mà không cần nhiều vật tư nguyên liệu, là sự lựa chọn tốt nhất để phát triển nền kinh tế Hồng Công
Trong tiến trình công nghiệp hóa ở Hồng Công chẳng có dự án nào phải bàn nhiều Lúc bắt đầu chuyển từ mậu dịch chuyển khẩu sang phát triển công nghiệp, đã xác định chủ yếu tập trung vào ngành công nghiệp nhẹ, ngành dệt phục vụ xuất khẩu Tình hình đó khác với các quốc gia và khu vực chủ yếu dựa vào tài nguyên và thị trường trong nước để tích lũy vốn, từng bước chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp Quá trình phát triển của Hồng Công thực chất là một quá trình chuyển hóa từ đơn thuần mậu dịch xuất khẩu sang nhập nguyên liệu về gia công thành phẩm, rồi xuất khẩu bán ra thị trường thế giới hưởng lãi Hàng công nghiệp xuất khẩu của Hồng Công có nhiều điều kiện thuận lợi nhờ chính sách ưu đãi về thuế quan trong quan hệ mậu dịch giữa các nước thành viên Khối Liên hiệp Anh Kinh tế Hồng Công phát triển nhanh Từ những năm 50 tới nay trải qua các giai đoạn sau:
+ Giai đoạn thứ nhất (những năm 50-60)
Đó là thời kỳ Hồng Công chuyển từ mậu dịch chuyển khẩu sang các ngành chế tạo
và từng bước đạt tới phồn vinh Những năm 50, Hồng Công đã xây dựng nền công nghiệp hiện đại, đi trước là ngành dệt và ngành may mặc Chọn công nghiệp dệt làm chính, chủ yếu là vì sau chiến tranh hàng công nghiệp tiêu dùng trên thế giới nói chung
Trang 16rất khan hiếm, các nước công nghiệp phương Tây và Nhật Bản đang trong thời kỳ khôi phục sau chiến tranh, chưa chú tâm tới thị trường khu vực Đông Nam Á; hơn nữa, nhu cầu về hàng công nghiệp nhẹ, hàng dệt rất lớn Bước vào những năm 60, Hồng Công dần dần trở thành trung tâm xuất khẩu một số ít mặt hàng công nghiệp nhẹ, công nghiệp dệt; động lực kinh tế cũng từ chỗ do hoàn cảnh bức bách chuyển sang sự phát triển nội tạ, chủ động Trong giai đoạn này, Hồng Công đã tích cực thu hút vốn và kỹ thuật nước ngoài, thúc đẩy kinh tế cất cánh
+ Giai đoạn thứ hai (những năm 70)
Trong giai đoạn này nền công nghiệp Hồng Công đã „định hình“ và đa dạng, xét về trình độ phát triển cũng như về quy mô cơ cấu Trong giai đoạn này, nền công nghiệp Hồng Công xuất hiện nhiều nét mới: một là, xuất khẩu mặt hàng may mặc tiếp tục đứng hàng đầu thế giới; hai là, công nghiệp điện tử trở thành ngành công nghiệp thứ hai sau ngành dệt; ba là, ngành công nghiệp làm đồ chơi và đồng hồ phát triển nhanh chóng; bốn
là, bắt đầu từ các ngành nghề sử dụng nhiều lao động chuyển sang các ngành nghề tập trung vốn và kỹ thuật
+ Giai đoạn thứ ba (những năm 80)
Trong giai đoạn này Hồng Công theo dõi sát sao diễn biến của cuộc cách mạng kỹ trhuật mới trên thế giới Các ngành nghề được nâng cấp nhanh chóng Công nghiệp chế tạo máy tính điện tử, các ngành công nghiệp chế tạo sợi tổng hợp, cơ khí chính xác, v.v , phát triển rất nhanh, trở thành cá ngành sản xuất chủ yếu của Hồng Công Một mô hình kinh tế hàng hóa hiện đại lấy công nghiệp hiện đại làm cơ sở, lấy mậu dịch làm lực đẩy đang từng bước hình thành Nhiều bảng thống kê đã chứng tỏ nền kinh tế Hồng Công đang tăng trưởng rất nhanh Tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm trong những năm 1961-1966 là 10,9%, 1966-1971 là 7,1% Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong những năm 70 còn nhanh hơn những năm 60 Tính theo giá cos định, mức tăng trưởng bình quân hằng năm từ 1970-1979 là 9%, tính riêng năm 1976 là 17,1%, năm 1977-12,5%, 1987-9,5%, 1979-11,7% Bước vào thập kỹ 80, mặc dù có cuộc suy thoái kinh tế nghiêm trọng nhất
kể từ sau chiến tranh thế giới, nhưng tốc độ tăng trưởng trung bình hằng năm từ
1980-1984 vẫn là 7,6%, năm 1986-11%, năm 1987-12%
Sự phát triển kinh tế ở Hồng Công rất giống ở Xingapore, nghĩa là mậu dịch xuất nhập khẩu đóng vai trò quan trọng tuyệt đối Bắt đầu từ năm 1959, từ nền kinh tế hải đảo lấy chuyển khẩu mậu dịch làm chính, Hồng Công từng bước chuyển thành khu vực xuất khẩu công nghiệp phát triển mới, kết hợp chuyển khẩu mậu dịch với gia công mậu dịch, lấy gia công mậu dịch làm chính Suốt trong thời gian hơn 20 năm sau đó, giá trị các mặt
Trang 17hàng xuất khẩu gia công từ các vật liệu nhập khẩu luôn chiếm trên 70% tổng giá trị xuất khẩu Ngành gia công mậu dịch trở thành đông lực chủ yếu thúc đẩy sự tăng trưởng kinh
tế, và là nguồn chủ yếu trong giá trị tổng sản phẩm của Hồng Công Từ những năm 60 tới nay, mậu dịch đối ngoại của Hồng Công phát triển nhanh chóng, tốc độ phát triển bình quân hằng năm từ 5% trong những năm 50 lên tới 13%, những năm 70 cao tới 20% Từ 1949-1984 mức tăng bình quân hằng năm là 12,1%, cao hơn so với mức tăng của thế giới
tư bản chủ nghĩa trong cùng thời gian đó là 10% Đồng thời, vị trí của Hồng Công trong mậu dịch thế giới cũng từ thứ 27 năm 1959 lên thứ 13 năm 1984; tổng kim ngạch mậu dịch đạt 57,02 tỷ USD, chiếm 1,57% tổng kim ngạch mậu dịch của cả thế giới Năm
1989, tổng kim ngạch mậu dịch đạt tới 145,6 tỷ USD, trong đó xuất khẩu là 73,7 tỷ, nhập khẩu là 72,3 tỷ Cho tới nay, đã có hơn 160 quốc gia và khu vực có quan hệ xuất khẩu hoặc mậu dịch chuyển khẩu với Hồng Công Vị trí của Hồng Công trong mậu dịch thế giới ngày càng quan trọng
Một đặc điểm nổi bật trong phát triển kinh tế ở Hồng Công là tuân theo lý luận
kinh tế tự do, cơ bản dựa vào sự điều tiết tự phát của kinh tế thị trường, chính phủ cố gắng không can thiệp, để mạnh được yếu thua Điểm căn bản của cơ chế vận hành kinh tế
là sự kết hợp giữa sự điều tiết thi trường ở mức cao nhất và sự can thiệp của chính phủ ở mức thấp nhất Hồng Công là điển hình về sự thao túng của cơ chế thị trường, và sự thực
hiện nguyên tắc mạnh được yếu thua Tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh, và nguyên tắc chính phủ cố tránh can thiệp vào kinh tế tư nhân đã trở thành cơ sở để chính quyền soạn thảo các luật kinh tế và các chính sách quản lý hành chính Ông Hạ Đỉnh Cơ, người đã từng nhiều năm phụ trách sở tài chính nói rõ rằng: cách đối xử của chính quyền Hồng Công đối với nền kinh tế là do hoàn cảnh chuyển đổi kinh tế của Hồng Công dẫn tới Trong một thế giới kinh tế thị trường như ở Hồng Công, sự phát triển kinh tế mậu dịch chủ yếu dựa vào đối ngoại, thì một mặt, chính phủ không có khả năng phân bổ nguồn vốn nói chung và can thiệp quá nhiều vào quá trình vạch chính sách và quản lý công thương nghiệp; mặt khác, đối với một số lượng lớn các xí nghiệp tư nhân, dù họ thành công hay thất bại trong cuộc cạnh tranh, thì chính phủ không cần phải can thiệp trực tiếp, mà chỉ có thể tôn trọng sức mạnh của thị trường Trách nhiệm của chính phủ là tạo ra môi trường tự
do và an toàn cho sự kinh doanh của các xí nghiệp tư nhân Trên thực tế, sự phát triển của kinh tế Hồng Công đã tỏ rõ sự ưu việt của chủ trương không can thiệp Thế nhưng như vậy không có nghĩa là chính quyền Hồng Công khoanh tay ngồi nhìn kinh tế phát triển
mà không làm gì Từ năm 1960 đã thành lập Tổng hội công nghiệp Hồng Công và Hiệp hội quản lý khoa học Hồng Công nhằm tăng cường công tác chỉ đạo và nghiên cứu về
Trang 18môi trường phát triển của nền công nghiệp Giữa những năm 60 lại thành lập ba cơ quan công thương (Cục phát triển mậu dịch Hồng Công, Cục phát triển sản xuất Hồng Công và Cục bảo hiểm tính dụng xuất khẩu Hồng Công) và ba trung tâm kỹ thuật (Trung tâm tiêu chuẩn và giám định Hồng Công, Trung tâm thiết kế công nghiệp, Trung tâm bao bì đóng gói) Nửa sau thập kỷ 70 lại thành lập „Hội đồng tư vấn đa nguyên hóa kinh tế“ và „Công
ti làng công nghiệp“ Chính quyền Hồng Công đã tích cực tham gia chỉ đạo kinh tế và đã giành được những kết quả tốt đẹp Có những dự đoán rằng: sự tiến trển của công cuộc cải cách mở cửa ở Trung Quốc sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự phồn vinh của Hồng Công Tương lai của nền kinh tế Hồng Công đầy hứa hẹn
1.3.3 Hàn Quốc
Hàn Quốc còn có tên gọi là Nam Hàn, Đại Hàn Dân Quốc, Cộng hòa triều Tiên, là
một quốc gia nằm ở khu vực Đông Á thuộc miền Nam bán đào Triều Tiên Phía Bắc giáp Bắc Triều Tiên (CHDCND Triều Tiên), phía Đông giáp biển Nhật Bản phía Tây giáp biển Hoàng Hải Thủ đô Xeun là một thành phố lớn Hàn Quốc có khí hậu ôn đới, địa hình chủ yếu là đồi núi Lãnh thổ Hàn Quốc trải rộng trên diện tích 100.032 km2 GDP
năm 2016 đạt 1.404,380 tỷ USD Bình quân đầu người năm 2013 đạt 32.400 USD
Về hành chính, Hàn Quốc gồm 9 tỉnh và 78 thành phố trong đó có 1 tỉnh tự trị, thủ
đô Sơ un là thành phố đặc biệt và 1 thành phố tự trị
Về chính trị, Hàn Quốc theo thể chế cộng hòa; tổng thống là người đứng đầu quốc
gia do dân bầu cử trực tiếp cứ 5 năm 1 lần và không được tái ứng cử Là lãnh tụ - đại diện cao nhất của quốc gia và có quyền chỉ huy quân đội Thủ tướng do Tổng thống chỉ định
là người đứng đầu Chính phủ Chính phủ có từ 15 đến 30 bộ Các bộ trưởng do Thủ tướng chỉ định cả thủ tướng và các bộ trưởng phải được sự thông qua của Quốc hội Quốc hội Hàn quốc đóng vai trò cơ quan lập pháp chỉ có 1 viện với 299 đại biểu được bầu ra với nhiệm kỳ 4 năm Cơ quan tư pháp là tòa án tối cao gồm 9 thành viên trong đó có 3 thành viên do Tổng thống chỉ định được Quốc hội thông qua, 3 thành viên do Quốc hội bầu ra, 3 Thẩm phán còn lại do Chánh án tòa án tối cao chỉ định
Cư dân của Hàn quốc gồm đa số là người Triều Tiên Dân tộc thiểu số duy nhất là
người Hoa
Về văn hóa: Ngôn ngữ chính thức là tiếng Hàn Quốc (Triều Tiên) Ngôn ngữ này
đươc các nhà ngôn ngữ xếp vào ngữ hệ Altai một số khác lại cho rằng tiếng Hàn là loại ngôn ngữ biệt lập Nghệ thuật điện ảnh của Hàn Quốc rất phát triển và có nhiều thành tựu quan trọng
Trang 19Về tôn giáo: Theo số liệu thống kê năm 2005 do chính phủ Hàn Quốc cung cấp thì có
khoảng 46% cư dân không theo tôn giáo 29,2% theo đạo Cơ đốc trong đó có 18,3% theo đạo tin lành, 10,9% là công giáo 22% Phật giáo, 2% theo các tôn giáo khác
Về giáo dục Hệ thống giáo dục quốc dân gồm phổ thông 1 năm được chia thành các
bậc học: Tiểu học 6 năm, trung học cơ sở 3 năm và trung học phổ thông 3 năm Giáo dục phổ cập đến THCS là bắt buộc và miễn phí Hiện giáo dục Hàn Quốc được tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế thế giới (OEDC) giáo dục khoa học của Hàn Quốc xếp hạng tốt thứ ba thế giới
Về kinh tế, Hàn Quốc đã trở thành quốc gia có nền kinh tế phát triển, đứng thứ ba
châu Á và đứng thứ 10 trên thế giới năm 2006 theo GDP Bình quân đầu người tăng vọt
từ 100 USD năm 1963 lên 10.000 năm 1995 và đạt 32.400 USD năm 2013 Bất chấp các khủng hoảng kinh tế ở châu Á và trên thế giới Hàn Quốc đã khôi phục nhanh chóng và vững chắc Người ta thường nhắc đến sự phát triển thần kỳ của Hàn Quốc như là huyền thoại sông Hàn Đến nay huyền thoại này vẫn tiếp tục Hàn Quốc hiện là nước phát triển
có sự tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới theo dự báo thì đến 2025 Hàn Quốc sẽ trở thành nước giàu thứ ba thế giới dự kiến đến 2050 Hàn quốc sẽ trở thành nước giàu thứ hai thế giới
Trong quá trình phát triển Hàn Quốc sau ngày đọc lập Hàn quốc cũng xây dựng chiến lược phát triển theo 2 giai đoạn gồm:
1) Giai đoạn công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu (1953-1961) là giai đoạn
khôi phục kinh tế sau chiến tranh Chính sách kinh tế trong giai đoạn này là nhằm thay thế nhập khẩu đối với những mặt hàng tiêu dùng không lâu bền và một số mặt hàng khác thông qua hàng rào thuế quan và hạn chế nhập khẩu Chiến lược phát triển đó đã nhành chóng mất hiệu ứng vì thị trường trong nước hạn hẹp và vì thiếu những khoản đầu tư lớn cần thiết Lại thêm không phát triển đầy đủ nền công nghiệp dân tộc, quá dựa dẫm vào
„viện trợ Mỹ“, làm cho nợ nước ngoài ngày càng chồng chất, vật giá ngày càng leo thang Từ 1953-1962, mức tăng trưởng bình quân hằng năm tổng giá trị sản phẩm quốc
dân của Cộng hòa Triều tiên chỉ là 3,7%, tính bình quân theo đầu người là 0,7%
2) Giai đoạn công nghiệp hóa hướng ra xuất khẩu
Gồm ba tiểu giai đoạn giai đoạn
Từ (1962-1971) là giai đoạn Cộng hòa Triều Tiên thực hiện chiến lược đẩy mạnh
toàn diện sự phát triển mậu dịch Năm 1961, Cộng hòa Triều tiên bắt đầu thực hiện kế hoạch năm năm tập trung phát triển kinh tế Trong giai đoạn này đã thực hiện hai kế hoạch năm năm, lần thứ nhất và lần thứ hai Chính nhờ thành quả của hai kế hoạch đó mà
Trang 20Cộng hòa Triều tiên đã trở thành một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới Do tài nguyên thiên nhiên khan hiếm, thị trường trong nước hạn hẹp, nên trong giai đoạn này Chính phủ Cộng hòa Triều tiên đã chọn lựa chiến lược phát triển kinh tế hướng ngoại, coi trọng xuất khẩu Các ngành sản xuất cần nhiều sức lao động vốn
có ưu thế nay được khuyến khích phát triển, được hưởng những điều kiện ưu đãi Qua chiến lược phát triển đó, các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp dệt cần ít vốn mà đạt hiệu quả nhanh, dễ thu lãi, đã phát triển nhanh chóng Sản phẩm của ngành sợi hóa chất
đã trở thành “nắm đấm„ của ngành xuất khẩu của Cộng hòa Triều Tiên Cơ cấu hàng xuất khẩu từ những năm 60 chủ yếu dựa vào sản phẩm chất lượng thấp đã được thay đổi căn bản Trong giai đoạn này, cơ cấu kinh tế trong nước cũng có sự thay đổi lớn Tỷ trọng công nghiệp chế tạo và công nghiệp khai khoáng trong thu nhập quốc dân từ 16% năm
1962 tăng lên 22% năm 1971 Thu nhập quốc dân thực tế tăng gấp đôi, tốc độ tăng trưởng hằng năm là 9.5% Chiến lược hướng về xuất khẩu của Hàn Quốc đã thành công đến mức làm cho người ta phải kinh ngạc
Giai đoạn (1972-1981) là giai đoạn Cộng hòa Triều tiên thực hiện kế hoạch năm
năm lần thứ ba và thứ tư Đó là giai đoạn chính phủ can thiệp rộng rãi vào nền kinh tế Đặc điểm của chiến lược phát triển của Cộng hòa Triều tiên trong giai đoạn này là đẩy mạnh sự can thiệp có hiệu quả của chính phủ; chính sách của chính phủ tập trung vào việc đẩy mạnh sản xuất trong nước để thay thế nhập khẩu Chính sách kinh tế trong giai đoạn này nhằm hai mục tiêu: một là, hiện đại hóa nông thôn; hai là, tập trung phát triển công nghiệp nặng và công nghiệp hóa chất Chính phủ tập trung phát triển công nghiệp nặng và công nghiệp hóa chất nhằm hai mục đích: mở ra triển vọng chiến lược mới của ngành công nghiệp xuất khẩu; đẩy mạnh sản xuất trong nước nhằm tự túc vật tư và hàng hóa cơ bản, thay thế nhập khẩu Một số khối lượng lớn và thiết bị kỹ thuật tiến tiến được nhập và đầu tư có trọng điểm vào các ngành“công nghiệp chiến lược„ như gang thép, kim loại màu, cơ khí, đóng tàu, ô tô, hóa dầu, xi măng, gốm sứ, kéo sợi và đã đạt được thành tựu to lớn Ví dụ: sản lượng thép năm 1973 chỉ có 1,6 triệu tấn, năm 1987 đạt tới 10 triệu tấn; ngành đóng tàu năm 1973 chỉ đạt 1,2 vạn tấn, năm 1982 đạt tới 142,6 vạn tấn, đứng hàng thứ hai trên thế giới, chỉ sau Nhật Bản
Bước vào thập kỷ 80, nền kinh tế Hàn Quốc chuyển sang một giai đoạn mới Trong
giai đoạn này chính phủ đã có những điều chỉnh lớn trong chính sách nhằm mục tiêu ổn định và tự do hóa nền kinh tế Nửa sau năm 1979 xuất khẩu và tổng giá trị sản phẩm quốc dân bị giảm sút; năm 1980, lần đầu tiên sau 20 năm, xuất hiện tốc độ tăng trưởng âm Do
đó, chính phủ đã điều chỉnh tư tưởng chiến lược, tập trung nổ lực nhằm thực hiện các
Trang 21mục tiêu ổn định vật giá, tự do hóa thị trường và phát triển cân đối nền kinh tế Chính phủ
đã từ bỏ dần cơ chế vận hành thị trường do chính phủ quản lý chặt chẽ mà trước đó đã thực hiện có kết quả, để chuyển sang chính sách tự do thị trường toàn diện và đã đạt hiệu quả tích cực
Khác với thể chế kinh tế “thị trường chủ đạo„ của Hồng Công, vai trò chính phủ trong phát triển kinh tế của Cộng hòa Triều tiên rất nổi bật Cộng hòa Triều Tiên đã thực hiện thể chế kinh tế “Chính phủ chủ đạo„ Trong phát triển kinh tế, chính phủ có quyền
uy cao và thực hiện khống chế tập quyền „Viện quy hoạch các xí nghiệp kinh tế“ thành lập năm 1962 có quyền lực rất lớn, là cơ quan chủ yếu của chính phủ dùng để khống chế, can thiệp vào nền kinh tế Viện trưởng „Viện quy hoạch các xí nghiệp kinh tế“ do Phó Thủ tướng đặc trách kế hoạch kinh tế kiêm nhiệm Viện này như một „siêu bộ“ trong chính phủ Cộng hòa Hàn Quốc, đóng vai trò chủ yếu trong việc chỉ đạo phát triển kinh tế
từ những năm 60 về sau Khác với các cơ quan kế hoạch của các nước đang phát triển khác, Viện quy hoạch các xí nghiệp kinh tế của Cộng hòa Triều Tiên không chỉ có nhiệm
vụ vạch kế hoạch kinh tế nhà nước dài hạn và ngắn hạn, mà còn thông qua quyền dự toán
và chức năng điều tiết kinh tế của nó để kiểm soát tài sản của chính phủ Ngoài ra, từ những năm 60 đã thành lập“Ủy ban xuacs tiến mậu dịch„ do tổng thống trực tiếp phụ trách, nhằm đẩy mạnh chiến lược phát triển“theo hướng xuất khẩu„ khai thác và phổ biến thông tin, thắt chặt mói liên hệ giữa chính phủ và khu vực tư doanh Mặc dù xét theo tiêu chuẩn hiện đại, cơ chế kinh tế „chính phủ chủ đạo“ của Cộng hòa Triều tiên đã thể hiện phương thức mệnh lệnh hành chính và không dân chủ trong điều hành phát triển kinh tế
và thực thi chính sách kinh tế, nhưng trong quá trình hoạch định chính sách, Chính phủ Cộng hòa Triều tiên luôn dựa trên cơ sở khoa học, nên đã tránh được những sai lầm vấp váp, mặt lợi của cơ chế đó lớn hơn mặt hại của nó
Sự can thiệp của Chính phủ Hàn Quốc đã dẫn tới những thành công nổi bật nhất trong việc nâng cấp các ngành sản xuất và mở rộng xuất khẩu Trong những năm 60 Chính phủ Cộng hòa Triều tiên xác định chiến lược phát triển theo hướng xuất khẩu, coi việc mở rộng xuất khẩu là „con đường sống thực sự“, đề ra thuyết „xuất khẩu trước hết“ Nhằm mục đích đó, chính phủ đã áp dụng một loạt các biện pháp, chính sách để phát triển ngành công nghiệp dệt và sợi hóa học sử dụng nhiều lao động, và trong một thời gian ngắn đã giành được kết quả rõ rệt Những năm 70, Chính phủ Cộng hòa Triều tiên tích cực xúc tiến việc nâng cấp các ngành sản xuất Năm 1973 ra bản „Tuyên ngôn công nghiệp hóa“ chủ trương tập trung phát triển công nghiệp nặng, công nghiệp hóa chất, coi các ngành luyện thép, đóng tàu, điện tử, ô tô, v.v là „công nghiệp chiến lược“ Chính
Trang 22phủ ra sức chi viện, giúp đỡ, can thiệp để nhanh chóng nâng cao năng lực sản xuất của các ngành đó Theo thống kê, giá trị xuất khẩu các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp hóa chất năm 1973 mới chỉ đạt 830 triệu USD, năm 1981 đã lên tới 9,96 tỷ USD, trong thời gian chín năm tăng hơn 11 lần Bước sang những năm 80, chính phủ lại xác định trọng điểm phát triển kỹ thuật cho thời gian sắp tới Cuối năm 1981 quy định năm ngành: điện tử, cơ khí, sinh hóa, tình báo, nguyên tử là „các ngành chiến lược quốc sách“ Chính phủ đã có những chính sách ưu đãi về tài chính, thuế suất, bảo hiểm, v.v , để giúp đỡ các ngành đó Đồng thời đã lấy 6 khu công nghiệp (Quy Vĩ, Mạo Nguyên, v.v.) làm căn cứ khai thác và phát triển kỹ thuật mới Năm 1989 tổng kim ngạch mậu dịch xuất nhập khẩu của Hàn Quốc đạt 1, 237 tỷ USD Ngay người Nhật cũng đã phải thốt lên răng: Phải chăng Hàn Quốc sẽ vượt Nhật Bản?
Singapore nằm giữa cửa ra vào của eo biển Malacca, yết hầu của con đường hàng hải giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương Trước chiến tranh thế giới thứ hai là thuộc địa của Anh Trong chiến tranh thế giới thứ hai Sinhgapore bị Nhật chiếm đóng Sau chiến tranh thế giới thứ hai Singapore tuyên bố độc lập (thoạt khỏi thân phận thuộc địa của Anh) Năm 1963, Sinhgapore gia nhập Liên bang Malaixia Tháng 8/1965 Singapore tách ra khỏi Liên bang Malaixia, thành lập nước cộng hòa Singapore là thành viên trong
„Khối liên hiệp Anh“
Về tài nguyên Sinhgapore là nước hầu như không có tài nguyên, nguyên liệu đều phải nhập từ bên ngoài Sinhgapore chỉ có một ít than, chì, nham thạch, đất sét; không có nước ngọt, đất canh tác hẹp chủ yếu để trồng cao su, dừa, rau và cây ăn quả, do vậy nông nghiệp không phát triển , hàng năm phải nhập lương thực, thực phẩm nhằm đáp ứng nhu cầutrong nước
Trang 23Trước ngày độc lập, nền kinh tế Xingapore chủ yếu dựa vào buôn bán chuyển khẩu, hầu như không cố một cơ sở công nghiệp nào Chi phí cung cấp cho đội quân chiếm đóng Anh bấy giờ chiếm 1/6 tổng giá trị sản phẩm quốc dân và 1/5 việc làm ở Singapore Từ sau ngày độc lập năm 1965, dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Lý Quang Diệu, Singapore
đã phát huy những nhân tố có lợi trong nước, thi hành chính sách kinh tế tự do, tích cực thu hút vốn đầu tư nước ngoài, mở rộng buôn bán đối ngoại, đồng thời chú ý khắc phục tình trạng đơn thuần dựa vào buôn bán, khuyến khích phát triển kinh tế đa dạng
Singapore là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trên thế giới hiện nay Trong thời gian 20 năm, từ 1965-1984, tố độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm là 10%, đứng đầu bảng về tăng trưởng kinh tế của „bốn con rồng nhỏ“ Những năm 60 tới giữa năm 70 là thời kỳ hoàng kim trong phát triển kinh tế của Singapore Tổng giá trị sản phẩm kinh tế quốc dân năm 1965 đạt 970 triệu đôla Mỹ (USD), năm 1985 vụt lên 17,47 tỷ USD, năm 1987: 19,89 tỷ USD, năm 1989: 28.36 tỷ USD; năm 1989 gấp 28 lần so với năm 1965 Tuy nhiên do tình trạng „trì trệ“ kinh tế và chính sách bảo hộ mậu dịch của các nước phát triển trong những năm 80 và do nước Singapore thực hiện chuyển đổi cơ cấu công nghiệp, tăng lương hàng loạt làm cho giá thành sản xuất lên cao, nên năm 1985 lần đầu tiên kinh tế Singapore xuất hiện tốc độ tăng trưởng âm, giảm sút 1,8% so với năm trước, năm 1986 chỉ tăng 1,9%; nhưng sau đó tốc
độ tăng trưởng cao lại được khôi phục ngay Tốc độ tăng trưởng năm 1987 là 8,8% Tốc
độ tăng trưởng những năm tiếp sau cũng không thấp Năm 1989, thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người đạt 10.450 USD, đứng thứ hai ở châu Á, sau Nhật Bản Quá trình phát triển kinh tế của Singapore có thể chia làm ba giai đoạn:
+ Giai đoạn 1965-1973
Mục tiêu chủ yếu của phát triển kinh tế trong giai đoạn này là: tạo thêm việc làm, giảm bớt thất nghiệp; xây dựng công nghiệp cơ sở, làm thay đổi cơ cấu kinh tế trước kia chủ yếu dựa vào buôn bán chuyển khẩu Ngành nghề trọng điểm được chọn để phát triển trong giai đoạn này là các ngành công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động
+ Giai đoạn 1974-1978
Khi vấn đề việc làm đã được giải quyết về cơ bản, đồng thời các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động đứng trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường quốc tế, thì vấn đề lựa chọn ngành nghề mới trở nên cấp thiết Năm 1973, giá dầu mõ tăng cao đã tạo cơ may cho Singapore, làm cho công nghiệp hóa chất Singapore phát triển mạnh Công nghiệp lọc dầu từng bước trở thành trụ cột của nền công nghiệp Singapore
+ Giai đoạn 1979 - 1989
Trang 24Những năm 70 và đầu những năm 80 đã xuất hiện cao trào cách mạng kỹ thuật mới trên thế giới Singapore đã tích cực đề ra khẩu hiệu tiến hành „cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai“, đẩy mạnh nền công nghiệp phát triển theo hướng tập trung vốn và kỹ thuật: như phụ tùng máy bay, khí tài tự động hóa, máy tính điện tử, các máy móc điện tử, quang học, các hóa phẩm cao cấp v.v
Đất nước Singapore nhỏ hẹp, nhu cầu của thị trường trong nước có hạn Trong phát triển kinh tế, Xingapore kiên quyết thực hiện chiến lược công nghiệp hóa lấy kinh tế hướng ngoại làm chủ đạo Vì vậy, Singapore đã ra sức thu hút một số lượng lớn vốn và
kỹ thuật nước ngoài, tập trung phát triển công nghiệp gia công xuất khẩu, tích cực khai thác thị trường quốc tế, đồng thời áp dụng các biện pháp khuyến khích các nguồn vốn trong nước, chuyển từ thương nghiệp sang công nghiệp, từ ngành nghề cấp thấp sang ngành nghề cấp cao Để quán triệt chiến lược phát triển theo hướng xuất khẩu, Singapore
đã áp dụng một loạt các biện pháp và chính sách có hiệu quả Ví dụ: Các xí nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, dù là xí nghiệp của người trong nước, xí nghiệp chung vốn hay xí nghiệp nước ngoài, đều được ưu tiên miễn giảm thuế, thời hạn được miễn giảm thuế lâu nhất là 15 năm Đối với những kho tàng mới xây dựng, những lệ phí, những nguyên liệu thiết bị nhập khẩu phục vụ xuất khẩu đều được ưu tiên miễn giảm thuế ở mức độ khác nhau Đồng thời thiết lập các cơ cấu tín dụng bảo hiểm phục vụ xuất khẩu; giảm nhẹ những thiệt thòi, tổn thất của các xí nghiệp do việc xuất khẩu gây ra; sửa đổi các luật về lao động và thuê nhân công, cho phép giới chủ có quyền rộng rãi hơn trong việc sử dụng người nhằm mục đích nâng cao năng suất lao động Đồng thời nhà nước dùng hình thức pháp lệnh, yêu cầu không ngừng tăng lương, thúc đẩy giới chủ tiết kiệm lao động, chuyển sang các ngành công nghiệp kỹ thuật cao, vốn lớn và lãi nhanh Ngoài ra, chính phủ còn tích cực tăng đầu tư để cải thiện cơ sở hạ tầng, tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu
tư trong nước và nước ngoài
Singapore tạo dựng đất nước bằng việc buôn bán, mậu dịch xuất khẩu đã kéo dài
sự phát triển của công nghiệp chế tạo và các ngành kinh tế khác Đầu những năm 60, chủ yếu dựa vào mậu dịch chuyển khẩu, hàng hóa chuyển khẩu chiếm trên 93,8% hàng xuất khẩu Biện pháp chủ yếu là nhập khẩu nguyên liệu và linh kiện, sử dụng lao động giá rẻ
để gia công, lắp ráp rồi xuất khẩu thành phẩm Cuối những năm 70 bắt đầu chuyển trọng điểm phát triển sang xuất khẩu các sản phẩm tập trung vốn và kỹ thuật Hai mươi năm lại đây, nền mậu dịch Singapo tăng 20 lần Theo thống kê, từ 1960-1970 mậu dịch xuất khẩu tăng bình quân hằng năm 3,3%, từ 1970-1980 là 28,2%, 1980-1984: 5,6%, 1985-1989: trên 19% Năm 1984, kim ngạch xuất khẩu của Xingapore chiếm 1,8% của thế giới, đứng
Trang 25thứ 20, giá trị xuất khẩu tươnbg đương với Trung Quốc Năm 1986, giá trị xuất khẩu đạt 22,5 tỷ USD, năm 1989 lên tới 45,1 tỷ USD Trong thời gian đó cơ cấu hàng xuất khẩu cũng có sự thay đổi lớn
Trong quá trình phát triển kinh tế, Singapo rất coi trọng phát triển tự do kinh tế Kinh tế thị trường là chỗ dựa chủ yếu của sự phát triển kinh tế ở Singapore Nói chung chính phủ không can thiệp tùy tiện vào sản xuất kinh doanh của các xí nghiệp Nhưng không có nghĩa là chính phủ không có vai trò trong đó Trên thực tế, trong quá trình phát triển kinh tế ở Singapore, sự chỉ đạo tích cực và sự can thiệp kịp thời của chính phủ có một vai trò tương đối quan trọng.Ví dụ: chính phủ rất coi trọng việc tăng cường quản lý
vĩ mô đối với nguồn vốn nước ngoài Về biện pháp hành chính, Cục phát triển kinh tế vạch ra chính sách tổng thể về đầu tư, xét duyệt các chương trình đầu tư, xác định các chế
độ đãi ngộ đối với yêu cầu của phía đầu tư, xét duyệt nghiêm ngặt khi phê chuẩn, căn cứ vào mặt hàng sản xuất, mức độ đầu tư và trình độ kỹ thuật Về biện pháp kinh tế: Singapore đã tăng cường quản lý và khống chế vốn đầu tư nước ngoài bằng các đòn bẩy kinh tế như thuế, tín dụng, tiền lương, v.v , và đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm có hiệu quả cao về mặt này Có điều cần nói là chính phủ Singapore biết lo xa, kết hợp việc thu hút vốn nước ngoài với việc mở thị trường đô la Mỹ ở châu Á Từ năm 1968 bắt đầu
mở thị trường đô la Mỹ ở châu Á, 1978 hoàn toàn bãi bỏ việc quản chế ngoại hối, thu hút hàng loạt các ngân hàng nước ngoài tới mở các chi nhánh ở Singapore, tiền vốn và lợi nhuận có thể lưu động tự do Việc đó có tác dụng tích cực quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế Singapore
Từ những năm 1990 tới nay tuy có một số năm bị ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ trên thế giới song nhìn chung kinh tế Sinhgaporre vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng cao Sinh gapore đạt tốc độ tăng trưởng vào loại cao nhất thế giới những năm cuối thập niên 80, năm 1994 chỉ số tăng trưởng đạt 10%, năm 1995 là 8,9%, năm 1997 do ảnh hưởng của khung hoảng tài chinh mà kinh tế Sinh gapore có bị chững lại, năm 1998 chỉ còn 1,3% Từ 1999 Sinhgapore bắt đầu phục hồi nhanh: năm 1999 lên mức 5,5% năm
2000 đạt 9% Do ảnh hưởng của vụ khủng bố 11/9 ở Mỹ và đại dich SART, kinh tế Sinhgapore chịu ảnh hưởng nặng nề, lần đầu tiên trong lịch sử kinh tế Sinhgapore rơi vào