1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

GIÁO TRÌNH học PHẦN LỊCH sử VIỆT NAM HIỆN đại

127 881 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do chênh lệch lực lượng nên cuộc chiến anh dũng của quân dân Nam Bộ phải trải qua gian lao, nhiều tổn thất, nhưng đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm chiến đấu gây dựng phong trào chiến t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH

KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI

===================

GIÁO TRÌNH HỌC PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI (TỪ 1945 ĐẾN NAY DÀNH CHO ĐHSP LỊCH SỬ)

Giảng viên: Lê Trọng Đại

NĂM HỌC 2013-2014

Trang 2

GIÁO TRÌNH LỊCH SỬ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI (TỪ 1945 ĐẾN NAY)

Bài 1: Hướng dẫn học tập học phần Lịch sử Việt Nam hiện đại (từ 1945 đến nay) + Chương trình: Học phần gồm 4 tín chỉ 60 tiết, trong đó có 48 tiết lý thuyết và 12 tiết

bài tập Mõi tiết lên sinh viên phải chuẩn bị ở nhà 2 tiết

+ Nội dung học phần:

- Về kiến thức sẽ trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản, hệ thống và hiện đại

(cập nhật những thành tựu mới nhất của khoa học Lịch sử) về tiến trình phát triển của lịch

sử Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay

Trong đó tín chỉ 1 sẽ giới thiệu với người học lịch sử nước ta từ sau cách mạng tháng Tám 1945 đến 21 tháng 7 năm 1954 Đây là giai đoạn dân tộc ta vừa kháng chiến vừa kiến quốc Nhân dân ta phải đương đầu với cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp và từ năm 1950 có sự can thiệp của Mỹ Cuộc kháng chiến này trải qua nhiều giai đoạn với những mốc là những biến cố lịch sử khác nhau gốm 23/9/1945 Pháp nổ súng trở lại xâm lược nhân dân Nam bộ bắt đầu cuộc kháng chiến, ngày 19/12/1946 kháng chiến toàn quốc bùng nổ Thu đông 1947, với chiến thắng Việt Bắc đây là chiến dịch phản công thắng lợi lớn đầu tiên của ta Chiến thắng Việt Bắc là thắng lợi có tính bước ngoặt làm phá sản hoàn toàn kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của Pháp Chiến thắng Biên giới thu đông 1950, là thắng lợi tạo nên sự xoay chuyển cục diện chiến tranh ta từ chỗ phòng ngự chuyền sang giành và giữ quyền chủ động trên chiến trường chính Bắc bộ Ngày 7/5/1954, chiến dịch lịch sử Điện phủ kết thúc với thắng lợi thuộc về

ta Đây là chiến thắng có tác dụng bẻ gãy hoàn toàn tham vọng giành thắng lợi của Pháp trong cuộc chiến này buộc Pháp phải ký hiệp định Giơ ne vơ chấm dứt chiến tranh, lập lại hoàn bình và công nhận độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Đông Dương Tín chỉ 2, sẽ giới thiệu với người học về 10 năm đầu nhân dân ta kháng chiến chống

đế quốc Mỹ xâm lược 1954 - 1964 Đây là thời klỳ nước ta tạm thời chia cắt làm 2 miền Đảng đề ra cho mỗi miền một chiến lược cách mạng riêng nhưng cùng nhằm thực hiện một mục tiêu nhiệm vụ chung giải phóng miền Nam thống nhất tổ quốc để đưa cả nước quá độ lên CNXH

Miền Nam miền nam trực tiếp chống Mỹ và tay sai, tiến hành cuộc đấu tranh chính trị phát triển lên khởi nghĩa (1954-1960) rồi tiến lên đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ

Miền Bắc bắt đầu thực hiẹn những nhiệm vụ của cách mạng trong thời kỳ quá độ lên CNXH Xây dựng miền Bắc thành một hậu phương vững mạnh cho cách mạng cả nước

Trang 3

Tín chỉ 3, trình bày lịch sử nước ta ở giai đoạn cả nước có chiến tranh Dưới sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước nhân dân ta đã đánh bại 2 chiến lược chiến tranh của Mỹ đó là chiến lược chiến tranh cục bộ 1965-1968 và Việt Nam hóa chiến tranh 1969-1975 Trong những năm 1965-1968, ta đánh bại chiến lược chiến tranh Cục bộ của Mỹ Từ 1969-1973,

ta làm phá sản bước đầu chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari chấm dứt chiến tranh, rút hết quân Mỹ và chư hầu về nước (ta đánh cho Mỹ cút) Từ

1973 đến 1975 ta đánh bại hoàn toàn chiến lược Việt nam hóa chiến tranh của Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất tổ quốc

Tín chỉ 4, Việt Nam trên con đường xây dựng đất nước quá độ lên CNXH, đây là con đường đi lên phù hợp với xu thế thời đại song đây là con đường còn mới mẻ và chưa có tiền lệ do đó trong 10 năm đầu đi lên bên cạnh những thành tựu đạt được Việt Nam cũng

đã vấp phải những sai lầm làm cho đất nước lâm vào khủng hoảng về kinh tế và xã hội Tuy nhiên Đảng ta đã kịp thời phát hiện và tiến hành công cuộc đổi mới đật nước từ 1986 đến nay và đã thu được những thành tự đáng khích lệ đưa nước ta ra khỏi nhóm những nước nghèo nhất trên thế giới Chặng đường đi lên tuy có những thuận lợi nhất định nhưng vẫn còn rất nhiều chông gai và thách thức để đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại

- Về kỹ năng học phần tiếp tục rèn luyện và củng cố cho sinh viên các kĩ năng nghiên

cứu, phân tích so sánh, đánh giá, đặc biệt là kỹ năng vận dụng những kiến thức đã học vào việc giảng dạy lịch sử Việt Nam ở lớp 9 THCS

+ Phương pháp học tập: Sinh viên chủ động đọc trước giáo trình, tài liệu tham khảo,

chuẩn bị chu đáo các bài tập ở nhà tham gia thảo luận tích cực trên lớp tăng cường các giờ Xêmina

+ Bài tập: Đây là các bài tập phục vụ các giờ Xêmina trên lớp được phân cho các tổ yêu

cầu mỗi sinh viên phỉ chuẩn bị nộp cho tổ để tập hợp bổ sung thành một bản hoàn chỉnh

và cử đại diện thuyết trình trên lớp trong các giờ Xêmina Phân công cụ thể như sau:

Tổ 1 Vai trò lịch sử của Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

Tổ 2 So sánh chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947 với Biên giới thu đông 1950

Tổ 3 So sánh kế hoạch Rơve với kế hoạch Đlat Đơtatxinhi

Tổ 4 So sánh kế hoạch Đlat Đơtatxinhi với kế hoạch Nava

Cả lớp: Sự sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin vào việc lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Tổ 1 Vai trò của hậu phương tại chỗ, hậu phương lớn miền Bắc và hậu phương quốc tế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Tổ 2 Vai trò của chủ tịch Hồ Chí Minh đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống

Trang 4

Tổ 3 Qúa trình hình thành đường lối cách mạng miền Nam của Đảng ta trong cuộc

kháng chiến chống Pháp (nội dung, thời gian đặc điểm)

Tổ 4 Những thành tựu bước đầu của công cuộc đổi mới đất nước từ tháng 12 năm 1986

đến nay (đường lối đổi mới, thành tựu và thách thức, bài học kinh nghiệm)

Cả lớp : So sánh nội dung, phân tích kết quả mà nhân dân ta đã đạt đưoiực qua việc ký

kết các Hiệp định: Sơ bộ (6/3/1946); Giơnevơ (21/7/1954); Pari 27/01/1973

Cả lớp: Vận dụng kiến thức đã học vào dạy học khoá trình lịch sử ở lớp 9 THCS (tìm

hiểu phân phối chương trình, đối chiếu nội dung học phần với nội dung lịch sử Việt Nam

ở lớp 9 THCS về những điểm giống và khác nhau vận dụng những kiến thức đã được học

ở đại học vào giảng dạy THCS như thế nào ?

+ Tài liệu học tập và tham khảo:

1) Ubkhxh; Lịch sử Việt Nam Tập 2 Nxb Khoa học Xã hội, 1976

2) Nhiều tác giả; Đại cương lịch sử Việt Nam tập 1, 2, 3, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998

3) Nguyễn Quang Ngọc (cb), Tiến trình lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục, 2004

4) Giáo trình Lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến 1975, sách Dự án Đào tạo giáo viên

THCS, Nxb Đại học Sư phạm, 2005

5) Trần Bá Đệ (cb); Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến nay, Nxb ĐH Quốc gia Hà Nội, 2001

6) Trần Bá Đệ (cb); Một số chuyên đề lịch sử Việt Nam, Nxb ĐHQG Hà Nội, 2002

7) Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ chính trị; Chiến tranh cách mạng Việt

Nam 1945 – 1975 thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị Quốc gia, 2000

8) Võ Nguyên Giáp; Chiến đấu trong vòng vây, Nxb Quân đội nhân dân, HN, 2001

9) Sách giáo khoa, giáo viên, bài tập; Lịch sử lớp 9, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2005

10) H Nava, Thời điểm của sự thật, NXB Công an nhân dân, 1994

11) R MC Manara, Hồi tưởng: bi kịch và bà học Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân,

2000

12) Các tạp chí NCL sử, Nhân chứng và sự kiện, tạp chí Cộng sản, tạp chí Nghiên cứu

Quốc tế

13) Nguyễn Văn Hoa; Giáo trình Lịch sử Việt Nam 1945 -1954, Huế 2001

14) Lê Cung- Nguyễn Văn Hoa; Bài giảng Lịch sử Việt Nam 1954- 2000, Huế 2003

15) Trần Bá Đệ (cb); Giáo trình Lịch sử Việt Nam 1945-1975, Nxb Đại học Sư phạm,

2007

Chương 1 BƯỚC ĐẦU XÂY DỰNG CHÍH QUYỀN CM, ĐẤU

TRANH CHỐNG NGOẠI XÂM NỘI PHẢN (02/9/45 -19/12/1946)

Trang 5

1.1 Việt Nam trong bối cảnh quốc tế sau chiến tranh thế giới thứ hai

Nhìn chung so sánh lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng có biến chuyển

theo hướng thuận lợi cho CM:

- CNXH đã vượt qua phạm vi một nước

- Các nước đế quốc châu Âu suy yếu các nước phát xít kệt quệ, các nước thực dân

cũ như Anh, Pháp suy yếu

- Phong trào đấu tranh đòi dân sinh dân chủ của công nhân, ndlđ, của đảng cộng sản ở nhiều nước tư bản, có tác động đến chính sách đối nội đối ngoại của các thế lực đang cầm quyền của các nước tư bản

- Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc phát triển mạnh mẽ làm lung lay hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ

b) Khó khăn

- Theo thỏa thuận Ianta thì csau chiến tranh các nước tư bản Âu Mỹ được quyền khôi phục lại phạm vi ảnh hưởng truyền thống, do đó núp dưới danh nghĩa Đồng minh vào Đông Dương giải giáp quân Nhật, thực dân Anh đã mở đường và giúp Pháp trở lại Đông Dương

- Liên Xô bị thỏa thuận Ianta đó ràng buộc và lại đang phải ra sức khắc phục hậu quả chiến tranh đồng thời giúp đỡ các nước Đông Âu nên chưa thể có động thái nào hỗ trợ cho cách mạng nước ta lúc này Tình hình trên khiến VNDCCH ra đời nhưng chưa có một quốc gia nào trên thế giới công nhận và giúp đỡ

- Để bảo vệ cơ đồ của chủ nghĩa thực dân và tìm cách ngăn chặn sự phát triển của phong trào cộng sản trên thế giới, các thế lực thực dân đế quốc và chống cộng đã gạt bỏ bất đồng để liên kết với nhau ngăn chặn phong trào giải phóng dân tộc và xu hướng đi lên của các cuộc cách mạng do các đảng Cộng sản lãnh đạo

Tình hình thế giới đó tác động sâu sắc đến CM nước ta sau CM tháng Tám 1945

1.1.2 Tình hình Việt Nam

a) Thuận lợi

Ta có những thuận lợi căn bản là đã có chính phủ VNDCCH do Chủ tịch Hồ Chí Minh giỏi sáng suốt lãnh đạo, Đảng ta sau 15 năm thành lập đã ra hoạt động công khai và trở thành đảng cầm quyền

Trang 6

Nhân dân ta đã được đổi đời từ nguời dân nô lệ trở thành chủ nhân của một nước độc lập đang rất phấn khởi và tin tưởng mạnh mẽ vào sự lãnh đạo của Hồ Chủ tịch Bên cạnh đó thì cách mạng nước ta đang gặp phải những khó khăn thách thức hết sức nặng nề trong tình thề được gọi là "ngàn cân treo đầu sợi tóc"

b) Khó khăn

+ Thách thức lớn nhất là nguy cơ giặc ngoại xâm nội phản, chưa bao giờ trên

đất nước ta cùng một lúc lại có nhiều kẻ thù như lúc này Cố thi sĩ Tố Hữu viết

" Lũ đế quốc đứng nhìn ta đó

Như một bầy cú vọ trong đêm

Mắt đỏ nọc máu thèm lên cổ

Tưởng mồi ngon một miếng là êm "

- Từ vĩ tuyến 16 trở ra 20 vạn quân Tưởng (sau lưng có Mỹ hậu thuẫn và theo chân chúng là bọn Việt gian tay sai của Tưởng gồm Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc) và Việt Nam cách mạng đảng (Việt Cách) tiến vào Chúng núp dưới danh nghĩa Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật nhưng thực chất nhằm thực hiện âm mưu thâm độc là lật đổ chính quyền cách mạng tiêu diệt đảng Cộng sản bắt giam Hồ Chí Minh, dựng nên chính quyền tay sai biến nước ta thành thuộc địa

- Từ vĩ tuyến 16 trở vào quân Anh - Ấn cũng núp dưới danh nghĩa Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật nhưng thực chất là mở đường cho thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam Ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp mới được Anh giải thoát đã nổ súng đánh chiếm trụ sở chính quyền cách mạng ở Sài Gòn Gia Định Nhân cơ hội này, bọn Việt gian thân Nhật, thân Pháp lâu nay nằm im đã ngóc đầu dậy hoạt động chống phá chính quyền cách mạng Ngoài ra trên đất nước ta lúc đó vẫn còn trên 6 vạn quân Nhật vẫn còn nguyên vũ khí

+ Khó khăn về kinh tế, tài chính (giặc đói)

Nạn đói cuối năm 1944 đầu 1945 có nguy cơ quay lại, do chính cách vơ vét bóc lột của Pháp, Nhật để lại, vụ hè thu 1945, lụt ở 9 tỉnh, sau đó hạn hán kéo dài làm cho hơn 1/2 diện tích ruộng đất không gieo cấy được khiến nhiều nơi mất mùa; nhân dân Bắc

kỳ và Trung kỳ đang đứng trước nạn đói, gạo ở miền Nam không chở ra được (Nhà nước cũng không có tiền để mua, Pháp trở lại xâm lược ở Nam bộ cản trở việc lưu thông lúa gạo) Nền kinh tế nước ta đang ở trong tình trạng nông nghiệp lạc hậu Nhiều xí nghiệp còn nằm trong tay tư bản Pháp Các cơ sở công nghiệp của ta chưa phục hồi được sản xuất, hàng vạn công nhân thất nghiệp Hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng vọt, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn

Trong Cách mạng tháng Tám ta không chiếm được ngân hàng nên ngân hàng Đông Dương vẫn do Pháp kiểm soát Ngân khố nhà nước gần như trống rỗng chỉ có 1,2

Trang 7

triệu đồng Thêm vào đó quân Tưởng còn tung ra thị trường các loại tiền Quan kim và Quốc tệ mất giá làm rối loạn tài chính

+ Nạn thất học, văn hóa lạc hậu (giặc dốt)

Với chính sách ngu dân của thực dân Pháp gần 80 để lại di sản văn hóa lạc hậu khiến hơn 90 % dân số mù chữ, các tệ nạn xã hội như cờ bạc rượu chè, nghiện hút, mê tín, dị đoan còn phổ biến

Chính quyền cách mạng non trẻ thiếu kinh nghiệm quản lý

1.2 Bước đầu xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng (về chính trị -

quân sự, kinh tế - tài chính và văn hóa - giáo dục)

1.2.1 Về chính trị - quân sự

Chính quyền cách mạng vừa thành lập, chưa được củng cố đã phải đối mặt với

những khó khăn chồng chất Do đó nhiệm vụ trước mắt của nhân dân ta là phải xây dựng

và củng cố chính quyền vừa giành được

Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng chính phủ ngày 3/9/1945, Hồ Chủ tịch đã

đề nghị tiến hành tổng tuyển cử, tổ chức càng sớm càng tốt, theo phổ thông đầu phiếu

Sau cuộc bầu cử Quốc hội, tại các địa phương thuộc Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đã tiến hành cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân từ cấp tỉnh, huyện đến xã theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu UB hành chính các cấp được thành lập thay cho UB nhân dân Bộ máy chính quyền các cấp bước đầu được củng cố và kiện toàn Thắng lợi của bầu cử Quốc hội

và Hội đồng nhân dân đã tạo cơ sở pháp lí vững chắc cho Nhà nước cách mạng thực hiện nhiệm vụ đối nội, đối ngoại trong thời kỳ mới góp phần nâng cao uy tín của Việt Nam dân chủ cộng hòa trên trường quốc tế

Việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cũng được chú trọng Khắp nơi trên đất

Trang 8

lực lượng xung kích ra đời trong thời kì Tổng khởi nghĩa nay được củng cố và mở rộng Đến cuối năm 1945, lực lượng

quân tự vệ tăng lên hàng chục vạn người

Các đơn vị Việt Nam giải phóng quân được củng cố và mở rộng, tháng 9/1945 đổi tên thành Vệ quốc đoàn Đây là đội quân chính quy của nhà nước

1.2.2 Về kinh tế - tài chính

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ chủ tịch, Chính phủ đã thực hiện nhiều biện pháp về kinh tế tài chính

+ Giải quyết nạn đói: Trong phiên họp đầu tiên ngày 3/9/1945, Hội đồng chính phủ

đã bàn về biện pháp chống đói Hồ Chủ tịch đã đề nghị nhiều biện pháp, có thể chia thành

2 nhóm:

Những biện pháp giải quyết nạn đói trước mắt gồm: Lạc quyên, lập hũ gạo cứu

đói Phát động ngày đồng tâm, kêu gọi đồng bào cả nước nhường cơm xẻ áo Hồ chủ tịch vừa vận động vừa nêu gương thực hiện do đó nhân dân nghe theo và noi gương Người Trên khắp cả nước nhân dân lập hũ gạo cứu đói, ngày đồng tâm để góp gạo cứu đói, không dùng gạo, ngô khoai sắn nấu rượu Chính phủ cũng có biện pháp tích cực để điều hòa thóc gạo ở các địa phương, ra lệnh nghiêm trị những ai đầu cơ tích trữ thóc gạo

Những biện pháp để giải quyết căn bản nạn đói: Tăng gia sản xuất được xác định

là biện pháp hàng đầu và có tính chất lâu dài Hồ chủ tịch đã kêu gọi toàn dân tăng gia sản xuất: Tăng gia sản xuất, tăng gia sản xuất ngay, tăng gia sản xuất nữa đó là cách để chúng ta giữ vững quyền tự do độc lập Nhân dân đã hưởng ứng sôi nổi lời kêu gọi của

Hồ chủ tịch khắp cả nước dưới các khẩu hiệu: không một tấc đất bỏ hoang, tấc đất tấc vàng công nhân, bộ đội, cán bộ, nhân viên nhà nước, học sinh trí thức giới công thương

tổ chức từng đoàn về nông thôn giúp nông dân khai hoang phục hóa, đắp đê phòng lụt Ruộng đất hoang hóa, vắng chủ nhanh chóng được gieo trồng các loại cây lương thực, hoa màu đê điều bị phá vỡ trước đó được đào đắp lại

Để góp phần cải thiện đời sống của nông dân, ngày 7/9/1945, Chính phủ ban hành sắc lệnh số 11 bãi bỏ thuế thân và các thứ thuế vô lý của chế độ cũ, ra Thông tư giảm tô 25%, miễn thuế ruộng đất đối với những vùng bị lũ lụt và vùng có chiến sự cùng

cả các loại đất hoang hóa mới được gieo trồng Giảm thuế ruộng 20 % trong toàn quốc cho nông dân, tịch thu ruộng đất của đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo; chia lại ruộng đất công cho cả nam và nữ Nhờ đề ra được những biện pháp tích cực kịp thời

mà nạn đói được đẩy lùi, diện tích, sản lượng lương thực, hoa màu tăng gấp

bội, đời sống nhân dân được cải thiện một bước

Trang 9

Đối với công nhân và các tầng lớp lao động khác nhà nước chú trọng giải quyết những quyền lợi thiêt thực như ban hành luật lao động qui định ngày làm 8 giờ, đảm bảo chế độ hợp đồng

Với các xí nhiệp công nghiệp cần thiết cho quốc kế dân sinh như điện, nước, than, gạch ngói, vải sợi, xi măng, sửa chữa cơ khí để cho tư bản tiếp tục kinh doanh theo luật lệ và chịu sự kiểm soát của chính phủ theo sắc luật

+ Về thương nghiệp, chính phủ quan tâm nghiêm cấm các hoạt động dầu cơ tích trữ, chợ đen

mở đường cho lưu thông hàng hóa

+ Về giao thông vận tải bước đâù cũng được phục hồi, đảm bảo sinh hoạt đi lại của nhân dân

+ Về tài chính, chính phủ ra sắc lệnh số 4/SL về qũi độc lập nhằm động viên tinh thần tự nguyện đóng góp của nhân dân Nhân dân đã hăng hái hưởng ứng đóng góp tiền của vàng bạc Chỉ trong một thời gian ngắn nhân dân đã đóng góp được 370 kg vàng, 20 triệu đồng vào quĩ độc lập và 40 triệu đồng vào quĩ đảm phụ quốc phòng Nhờ đó ngày 31/3/1946, chính phủ đã phát hành giấy bạc Việt nam thay thế giấy bạc Đông Dương Ta giành được chủ quyền về tiền tệ, giải quyết một phần chi tiêu của Chính phủ, phục vụ sản xuất bước đầu xây dựng nền tài chính độc lập của Việt Nam mới

1.2.3 Về văn hóa, giáo dục

Ngay trong phiên họp đầu tiên Chính phủ cũng đã bàn đến biện pháp giải quyết nạn thất học (giặc dốt) Chính phủ coi việc chống giặc dốt, xóa nạn mù chữ là nhiệm vụ cấp bách là nhiệm vụ có ý nghĩa chính trị sâu sắc, đảm bảo trình độ văn hóa để nhân dân tham gia quản lý đất nước có hiệu quả Hồ Chủ tịch nêu rõ: "Muốn giữ vững nền độc lập, làm cho dân giàu nước mạnh, mọi người VN phải hiểu biết quyền lợi của mình, phải có kiến thức mới để tham gia vào công việc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ" Ngày 8/9/1945, Hồ Chủ tịch đã ký sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ chuyên lo chống giặc dốt, xóa nạn mù chữ trong toàn quốc

Trong vòng 1 năm từ 8/8/45 đến 8/9/46, trên toàn quốc đã tổ chức được 75.805 lớp học với 87.664 giáo viên và đã xóa mù chữ cho 2.520.673 người Các trường phổ thông, đại học cũng được khai giảng nhằm đào tạo những công dân cán bộ trung thành, có nămng lực phụng sự Tổ quốc, phục vụ kháng chiến - kiến quốc Nội dung và phương pháp giáo dục bước đầu được đổi mới theo tinh thần dân tộc - dân chủ

Báo chí CM và công tác xuất bản sớm trở thành vũ khí sắc bén chống ngoại xâm nội phản, góp phần giáo dục lòng yêu nước chí căm thù giặc và tinh thần cách mạng cho đông đảo quần chúng

Trang 10

Cuộc vận động đời sống mới do Hồ Chủ tịch đề xướng được đông đảo nd cả nước hưởng ứng, các hũ tục lac hậu, mê tín dị đoan, cờ bạc, rượu chè, mại dâm, ma chay, cưới xin linh đình bị loại trừ khỏi đời sống xã hội

1.3 Đấu tranh chống ngoại xâm và nội phản bảo vệ chính quyền

? Tại sao Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch hòa hoãn và nhân nhượng lúc đầu với Tưởng và sau đó với Pháp

trong năm đầu sau cm tháng Tám

a) Kháng chiến chống Pháp ở miền Nam, hòa hoãn với quân Tưởng ở miền Bắc

+ Kháng chiến chống thực dân Pháp ở miền Nam

Với dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa, ngay sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh, C/phủ Đờgôn đã quyết định thành lập một đạo quân do tướng Lơcléc chỉ huy và cử Đacgiăngliơ làm Cao ủy sang Đông Dương

Ngày 2/9/1945, khi nd Sài Gòn - Chợ Lớn tổ chức mít tinh chào mừng ngày độc lập,

TD Pháp đã xả súng vào đám đông, làm 47 người chết và nhiều người bị thương

Ngày 6/9/1945, quân Anh đến Sài Gòn cùng với một Đại đội quân Pháp làm nhiệm

vụ tiền trạm Vừa đến Sài Gòn chúng đã yêu cầu ta phải giải tán lực lượng vũ trang, thả hết tù binh Pháp (do Nhật bắt giam ngày 9/3/45) rồi trang bị vũ khí cho số tù binh được thả và cho quân Pháp chiếm đóng bến tàu, cùng một số vị trí quan trọng trong thành phố Đêm 22, rạng ngày 23/9/45, được Anh giúp đỡ, TD Pháp nổ súng đánh úp trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ và Cơ quan Tự vệ thành phố, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai

Trước tình hình đó, Xứ ủy Nam Bộ đã họp và và quyết định phát động nd Nam Bộ đứng lên kháng chiến Quyết định này được TW, Chính phủ và Hồ Chủ tịch tán thành và quyết tâm lãnh đạo, tổ chức lực lượng cả nước chi viện mọi mặt cho nhân dân Nam bộ kháng chiến

Giữ vững lời thề độc lập, ND Nam Bộ nhất tề đứng lên chiến đấu bảo vệ Tổ quốc Các chiến sỹ ta đột nhập sân bay Tân Sơn Nhất, đốt cháy tàu Pháp vừa cập bến Sài Gòn, đánh kho tàng, phá nhà giam Phối hợp với bộ đội nhân dân SG đã triệt nguồn tiếp tế của địch, dựng chướng ngại vật và chiến lũy trên đường phố, từ chối hợp tác với địch Các công sở, nhà máy hãng buôn đóng cửa, chợ búa nghỉ họp, tàu xe ngừng chạy, điện nước

bị cắt Quân Pháp ở trong thành phố bị bao vây luôn bị quân ta tập kích tiêu hao Pháp phải chờ thêm viện binh nên đã đề nghị đình chiến với ta Hai bên ngừng chiến một tuần Sau khi có tăng viện, dựa vào so sánh lực lượng có lợi, lại được quân Anh, Nhật hỗ trợ nên Pháp đã mở cuộc tấn công phá vòng vây ở Sài Gòn Cuối tháng 11, sau khi có thêm viện binh Pháp đánh chiếm các thị xã, đường giao thông chiến lược miền Trung và một phần Tây Nam Bộ và Tây nguyên Đến đầu tháng 2/1946, nhiều tỉnh lỵ và đường giao

Trang 11

thông quan trọng ở Tây Nguyên và Nam Trung Bộ đã bị giặc chiếm Trong thời gian đó

TW Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch đã đề ra nhiều chủ trương kịp thời lãnh đạo cuộc kháng chiến ở miền Nam, tích cực đối phó với âm mưu mở rộng chiến tranh ra cả nước

Ngày 25/11/45, Đảng ra chỉ thị "Kháng chiến - Kiến quốc" nêu rõ "Phải động viên lực lượng kiên trì kháng chiến tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến lâu dài’ Ban Thường

vụ TW Đảng đã đề ra nhiệm vụ cụ thể cho quân dân miền Nam là phải: "cắt đứt liên lạc giữa các thành phố đã lọt vào tay địch, phong toả về kinh tế, bao vây về quân sự Phải

áp dụng chiến tranh du kích triệt để, cổ động nhân dân thi hành bất hợp tác với giặc thi hành vườn không nhà trống nếu địch tràn về quê "Cuộc kháng chiến của nhân dân Nam

Bộ được TW trực tiếp chỉ đạo và được cả nước chi viện mọi mặt Ở miền Bắc, hàng vạn thanh niên hăng hái gia nhập quân đội xung phong vào các đoàn quân Nam tiến Những cán bộ chiến sỹ có ít nhiều kinh nghiệm, những vũ khí trang bị tốt nhất đều dành cho Nam Bộ Đồng bào Bắc Bộ và Trung Bộ thường xuyên tổ chức quyên góp tiền bạc, quần

áo thuốc men ủng hộ đồng bào Nam Bộ Bên cạnh đấu tranh quân sự đồng bào Nam Bộ còn thực hiện vườn không nhà trống, tiến hành phá hoại, ngăn chặn sự tiến công của địch, đấu tranh chính trị, bãi công, bất hợp tác với địch gây cho chúng nhiều khó khăn

Do chênh lệch lực lượng nên cuộc chiến anh dũng của quân dân Nam Bộ phải trải qua gian lao, nhiều tổn thất, nhưng đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm chiến đấu gây dựng phong trào chiến tranh du kích, xây dựng lực lượng, bảo vệ và củng cố chính quyền tạo điều kiện để cả nước chuẩn bị lực lượng cho kháng chiến toàn quốc về sau + Hòa hoãn với quân Tưởng ở miền Bắc

Trong hoàn cảnh phải đối phó cả với cuộc xâm lược trở lại của Pháp ở miền Nam

và sự uy hiếp lật đổ chính quyền của quân Tưởng cùng tay sai của chúng ở miền Bắc, với nhận thức: Pháp mới là kẻ thù chính, Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch đã sáng suốt chỉ

ra: "Phải tránh các trường hợp một mình đối phó với nhiều lực lượng đồng minh tràn vào nước ta" để tập trung mũi nhọn đối phó với Pháp ở miền Nam, ta chủ trương tạm thời hòa

hoãn, tránh xung đột với Tưởng Ta đấu tranh chính trị với quân Tưởng một cách khéo léo nhưng kiên quyết nhằm hạn chế sự phá hoại của chúng Khi quân Tưởng đến Hà Nội

ta huy động nhân dân hàng chục vạn người đội ngũ chính tề đón tiếp chúng và để biểu dương lực lượng Trước khí thế và sức mạnh của quần chúng, quân Tưởng không thể thực hiện ý định lật đổ chính quyền cách mạng mà dùng bọn tay sai Việt Quốc, Việt Cách phá hoại từ bên trong Có sự ủng hộ của quân Tưởng, bọn tay sai đòi ta thay đổi quốc kỳ, quốc ca, cải tổ chính phủ để cho chúng một số ghế trong Quốc hội không thông qua bầu

cử đòi Hồ Chí Minh từ chức và gạt những người cộng sản ra khỏi chính phủ Chúng còn

tổ chức ám sát, bắt cóc nhân viên Chính phủ

Trang 12

Để giảm bớt sức ép công kích của kẻ thù.ngày 11/11/1945, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán nhưng thực chất là rút vào bí mật

Nhằm hạn chế sự phá hoại của quân Tưởng và tay sai, Quốc hội khóa I đồng ý cho bọn tay sai

Tưởng 70 ghế trong Quốc hội, cho Nguyễn Hải Thần - lãnh tụ Việt Quốc làm Phó Chủ tịch Chính phủ cùng 4 ghế bộ trưởng dành cho tay sai của Tưởng Đồng thời ta còn nhân nhượng cho quân Tưởng một số quyền lợi kinh tế như cung cấp một phần lương thực, thực phẩm, phương tiện giao thông, nhận tiêu tiền Quan kim và Quốc tệ ở Việt Nam Đối với các tổ chức phản động tay sai Tưởng, chính quyền cách mạng dựa vào quần chúng kiên quyết vạch trần âm mưu và hành động chia rẽ, phá hoại của chúng Những kẻ phá hoại có đủ bằng chứng thì trừng trị theo pháp luật Chính phủ ban hành một số sắc lệnh nhằm trấn áp bọn phản cách mạng Sắc lệnh ngày 5/9/45, giải tán Đại Việt quốc gia

xã hội cách mạng" và "Đại Việt quốc dân đảng" là tay sai Nhật Ngày 12/9/45, ban hành sắc lệnh đưa đi an trí những người nguy hiểm đối với nền cộng hòa, sắc lệnh lập tòa án quân sự trừng trị bọn phản cách mạng

Thực hiện những biện pháp đó, ta đã hạn chế đến mức thấp nhất các hoạt động chống phá của quân Tưởng và tay sai, làm thất bại âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng của chúng

b) Hòa hoãn với Pháp để gạt Tưởng ra khỏi nước ta

Đầu năm 1946, Pháp và Tưởng đã bắt tay cấu kết chống lại cách mạng Việt Nam

Sở dĩ 2 thế lực ngoại xâm này cấu kết với nhau lúc này vì tình hình có sự thay đổi: Thực dân Pháp đã cơ bản chiếm xong các đô thị, các đường giao thông chiến lược quan trọng ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ Ngày 28/01/1946, quân Anh rút khỏi Sài Gòn và đến 5/3/1946 sẽ rút khỏi Đông Dương nhường cho Pháp quyền thay thế Anh làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật ở vĩ tuyến 16 trở vào Do đó việc tiếp theo của Pháp là chuẩn bị tiến quân ra Bắc thực hiện ý đồ thôn tính cả nước ta Song với lực lượng hiện tại chỉ với 3,5 vạn lại chưa bình định xong ở miền Nam, nếu thực hiện ngay ý đồ này Pháp gặp 2 trở ngại lớn Trở ngại thứ nhất là lực lượng kháng chiến của nhân dân ta, thứ hai là sự có mặt của quân Tưởng và bọn tay sai ở miền Bắc Tình hình đó buộc Pháp phải tìm đến thủ đoạn chính trị là điều đình với Tưởng để thay thế quân Tưởng chiếm đóng miền Bắc Trong lúc này Tưởng cần phải tập trung lực lượng để đối phó với phong trào cách mạng Trung Quốc do Đảng Cộng sản lãnh đạo đang lên cao Tình hình đó buộc Tưởng đi đến thỏa hiệp với Pháp Ngày 28 tháng 2 năm 1946, tại Trùng Khánh, Hiệp ước Pháp - Hoa được ký kết Theo Hiệp ước, Pháp nhường cho Tưởng một số quyền lợi về kinh tế, chính trị như hủy bỏ cai trị ngoài pháp quyền của Pháp trên đất Trung Quốc, nhượng cho Tưởng một khu đặc biệt để tự do buôn bán và có quyền kiểm soát thuế quan ở cảng Hải

Trang 13

Phòng, bán cho Tưởng đoạn đường sắt từ Hồ kiều đi Côn Minh Những kiều dân Trung Quốc ở Đông Dương được hưởng nhiều quyền lợi đặc biệt Ngược lại Tưởng nhường cho quân đội Pháp quyền thay thế quân đội Tưởng chiếm đóng ở phía bắc Đông Dương từ vĩ tuyến 16 trở ra với nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật

Hiệp ước Pháp-Hoa đã đặt nhân dân ta trước sự lựa chọn một trong hai con đường: hoặc là cầm vũ khí chiến đấu chống td Pháp không cho chúng đổ bộ vào miền Bắc; hoặc

là hòa hoãn, nhân nhượng Pháp để tránh tình trạng phải đối phó một lúc nhiều kẻ thù, đẩy quân Tưởng về nước và có thêm thời gian tiếp tục củng cố phát triển lực lượng cách mạng chuẩn bị mọi mặt để bước vào cuộc chiến đấu về sau khi tình thế bắt buộc

Trước tình hình đó, ngày 3/3/1946, Trung ương Đảng đã có chủ trương:"Vấn đề lúc này không phải là muốn đánh hay không muốn đánh Vấn đề là biết người, biết mình, nhận định một cách khách quan những điều kiện có hại trong và ngoài nước mà chủ trương cho đúng"

Đêm 5/3/1946, Ban chấp hành TW Đảng mở rộng họp và quyết định chọn con đường hòa hoãn với Pháp để gạt Tưởng và tay sai của chúng ra khỏi nước ta

Chiều 6/3/1946, tại ngôi nhà 36 Lý thái Tổ Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ ta đã ký với G Xanhtơni đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định sơ

bộ đặt cơ sở cho cuộc đàm phán hai bên để đi đến một Hiệp định chính thức Nội dung

Hiệp định sơ bộ gồm các điểm chủ yếu sau:

+ Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một quốc gia tự

do có chính phủ riêng, nghị viện riêng, quân đội và tài chính riêng là thành viên trong Liên bang Đông Dương nằm trong Khối Liên hiệp Pháp Việc thống nhất 3 kỳ do nhân dân Việt Nam tực tiếp phán quyết

+ Chính phủ VNDCCH thỏa thuận để 15000 quân Pháp vào miền Bắc thay quân Tưởng làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật Số quân này sẽ rút dần trong thời hạn 5 năm

+ Hai bên ngừng bắn giữ nguyên quân đội của mình tại vị trí cũ, tạo điều kiện cần thiết đi đến đàm phán thân thiện để bàn về các vấn đề ngoại giao của Việt Nam chế độ tương lai của Đông Dương, quyền lợi kinh tế văn hóa của Pháp ở Việt Nam

Hướng dẫn sv phân tích nội dung hiệp định để thấy được sự thông minh tài trí tuyệt

vời của Đảng và Hồ Chủ tịch trong việc xử lý tình huống hiểm nghèo của cách mạng lúc này và ý nghĩa thắng lợi của việc ký kết Hiệp định

Sau hiệp định ta thi hành nghiêm chỉnh còn Pháp ra sức phá hoại

- Từ 19/4 đến 11/5/1946, Hội nghị trù bị Đà Lạt được tổ chức nhằm chuẩn bị cho đàm phán chính thức ở Pari Hội nghị kéo dài mà không đi đến thỏa thuận nào do dã tâm

Trang 14

- Ngày 31/5/1946, phái đoàn Việt Nam do Phạm Văn Đồng dẫn đầu lên đường sang Pháp đàm phán Cùng ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng sang thăm nước Pháp với tư cách

là thượng khách của chính phủ Pháp

- Ngày 5/7/1946, cuộc đàm pháp chính thức giữa phái đoàn chính phủ VNDCCH với phái đoàn chính phủ Pháp bắt đầu tại Phôngtennơblô bắt đầu Tại cuộc đàm phán, lập trường của Pháp không có gì thay đổi là đòi đặt lại chế độ toàn quyền ở Việt Nam, tách Nam bộ khỏi Việt Nam, Việt Nam không có ngoại giao riêng còn lập trường của ta là độc lập dân tộc, hợp tác bình đẳng với Pháp Việt Nam không chấp nhận bất cứ chính phủ Liên bang nào, Việt Nam độc lập trong liên hiệp Pháp Trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa, VN sẵn sàng hợp tác với Pháp nếu cần cố vấn Việt Nam dùng cố vấn Pháp trước Đàm phán kéo dài nhưng cuối cùng thất bại do lập trường hai bên khác xa nhau Cuộc đàm phán chấm dứt ngày 10/9/1946 càng làm cho tình hình trở nên căng thẳng Nguy cơ một cuộc chiến tranh Pháp - Việt đang đến gần Hồ Chí Minh đã có một quyết định nhanh chóng nhằm kéo dài thời gian hòa hoãn để tiếp tục xây dựng, củng cố thêm lực lượng cách mạng, làm cho nhân dân Pháp và thế giới thấy rõ thiện chí hòa bình của Việt Nam

và dã tâm xâm lược của Pháp Do đó ngày 14/9/1946, Hồ Chủ tịch đã ký với Mutô - Đại

diện chính phủ Pháp bản tạm ước 14/9/1946 * Nội dung chính tạm ước:

+ Cp Việt Nam và Cp Pháp cam kết tiếp tục chính sách hợp tác như Hiệp định sơ bộ đã nêu, tiếp tục cuộc đàm phán sẽ được triển khai chậm nhất vào tháng Giêng 1947

+ Chính phủ VN đảm bảo các quyền tự do dân chủ, quyền lợi kt - vh của người Pháp ở VN.dân chủ của nhân dân

+ VN và Pháp thả hết tù chính trị, chấm dứt tuyên truyền không thân thiện

+ Việc trưng cầu dân ý ở Nam Bộ do hai bên qui định thời gian và cách thức

Đây là sự nhân nhượng cuối cùng của ta nhằm cứu vãn tình thế hết sức khó khăn để duy trì hòa bình của đất nước lúc đó

Trang 15

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Marius Moutet ký bản tạm ước Việt - Pháp ngày 14/9/1946 Ảnh tư

liệu

1.3.3 Chuẩn bị kháng chiến chống Pháp về sau

Tranh thủ thời gian hòa hoãn, Chính phủ và nhân dân ta ra sức củng cố, xây dựng

và phát triển lực lượng mọi mặt chuẩn bị cho kháng chiến

Ở miền Nam, sau hiệp định sơ bộ, nhiều cán bộ, bộ đội ta đi sâu vào vùng tạm

chiếm, khôi phục chính quyền dân chủ nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, phát triển chiến tranh du kích, phát động quần chúng phá tề trừ gian

Tại các đô thị ta tổ chức các cuộc dấu tranh chính trị như biểu tình, bãi công, bãi

thị liên tiếp Phong trào lan rộng lôi kéo cả các tầng lớp trí thức, giới công thương đấu tranh phản đối "Chính phủ Nam Kỳ tự trị" đòi thống nhất đất nước Chính quyền cách mạng được xây dựng và củng cố ở hơn 1000 xã trên tổng số 1234 xã ở Nam Bộ Vùng giải phóng nông thôn được mở rộng so với trước 6/3/1946 Nhiều căn cứ địa lớn được hình thành và củng cố như Đồng Tháp Mười, rừng U Minh, chiến khu D Các căn cứ nhỏ liên huyện, liên xã cũng ra đời Lực lượng vũ trang 3 thứ quân ở Nam Bộ được xây dựng

và củng cố Ở nông thôn hầu hết các xã đều có đội du kích Ở Sài Gòn, lực lượng tự vệ được xây dựng và củng cố Các đơn vị bộ đội tập trung- các chi đội Vệ quốc đoàn từ cấp tỉnh đến cấp khu được xây dựng Nam bộ đã XD được 25 chi đội, tăng 25% so với lúc mới hình thành

Ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, nhiều căn cứ du kích được hình thành Ngoài các

đơn vị tập ở vùng tự do Liên khu V, đến 7/1946, tại cực Nam Trung Bộ đã xây dựng được 4 trung đoàn

Ở miền Bắc, tranh thủ thời gian hòa hoãn sau Hiệp định sơ bộ, quân và dân ta ra

Trang 16

liên hiệp quốc dân Việt Nam (Hội Liên Việt) được thành lập nhằm đoàn kết rộng rãi các

tổ chức, đảng phái và cá nhân chưa tham gia Việt Minh Ngày 27/5/46, Hội nghị đại biểu công nhân họp đã thành lập Tổng liên đoàn lao động VN, nhằm đoàn kết lao động trí óc

và lao động chân tay, không phân biệt nam nữ, dân tộc, tôn giáo để kháng chiến kiến quốc Ngày 27/7/46, Đảng Xã hội VN thành lập nhằm tập hợp trí thức yêu nước Ngày 20/10/46, Hội liên hiệp phụ nữ VN ra đời

Trên cơ sở Mặt trận thống nhất được củng cố, Đảng và Chính phủ kiện toàn bộ mày Nhà nước, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài Từ 28/10 đến 9/11/46, Quốc hội khóa I họp phiên thứ hai đã thông qua danh sách Chính phủ mới do Hồ chủ tịch đứng đầu

và bản Hiến pháp nước VNDCCH Việc Quốc hội thông qua bản Hiến pháp - đạo luật cơ bản của Nhà nước VN mới là một thắng lợi chính trị quan trọng Nó làm cho nhà nước VNDCCH có chỗ dựa vững chắc về pháp lý

Xây dựng lực lượng vũ trang giai đoạn này là một nhiệm vụ quan trọng và cấp

thiết được Đảng và Nhà nước đặc biệt chú ý Vệ quốc đoàn trở thành Quân đội quốc gia

của nước VNDCCH từ ngày 22/5/1946 Bên cạnh việc xây dựng LLVT thường trực, Chính phủ còn quan tâm xây dựng lực lượng bán vũ trang Đến cuối năm 1946, ta có 8 vạn bộ đội thường trực, gần 1 triệu dân quân tự vệ ở hầu khắp các địa phương Các trường đào tạo cán bộ chính trị, quân sự được thành lập: như trường Quân chính Bắc Sơn, trường Võ bị Trần Quốc Tuấn

CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN TẬP CHƯƠNG 1

1) Thuận lợi và khó khăn của nước ta trong năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám 1945? Khó khăn nào là nghiêm trọng nhất vì sao?

2) Hiệp định sơ bộ: Hoàn cảnh, nội dung, ý nghĩa

3) Trong Hiệp định sơ bộ và Tạm ước 14/9/1946, Pháp không công nhận Việt Nam là một nước độc lâp nhưng vì sao ta vẫn ký kết?

4) Chứng minh Hiến pháp năm 1946 của nước VNDCCH là một hiến pháp dân chủ và tiến bộ

5) Vì sao Đảng và Chính phủ phát động toàn quốc kháng chiến vào đêm 19/12/1946 ? 5) Cuộc kháng chiến chống Pháp trở lại xâm lược ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ đã diễn

ra như thế nào?

Trang 17

CHƯƠNG 2: NHỮNG NĂM ĐẦU CUỘC KHÁNG CHIẾN

CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1946 - 1954)

2.1 Âm mưu và hành động chiến tranh của Pháp Kháng chiến toàn

quốc bùng nổ Đường lối kháng chiến chống Pháp của Đảng

Trong năm đầu xâm lược, thực dân Pháp buộc phải ký Hiệp định sơ bộ và Tạm ước

14/9/1946, nhưng ký xong chúng tìm cách phá hoại, tích cực chuẩn bị chiến tranh nhằm

khôi phục lại nền thống trị của chúng

Từ cuối tháng 11/1946 trở đi, tình hình trong Nam ngoài Bắc trở nên hết sức căng

thẳng Ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, thực dân Pháp tập trung quân tiến công các căn cứ,

các cơ sở cách mạng, đánh chiếm các vùng tự do còn lại của ta

Ở miền Bắc, ngày 20/11/1946, quân Pháp nổ súng đánh chiếm các vị trí xung yếu ở

Hải Phòng và tấn công quân ta ở thị xã Lạng Sơn Tại Hà Nội, từ đầu tháng 12/1946

Thực dân Pháp liên tiếp gây ra những cuộc xung đột vũ trang, đốt nhà thông tin ở phố

Tràng Tiền, chiếm cơ quan Bộ Tài chính và Bộ Giao thông công chính Chúng tàn sát

đồng bào ta ở phố Hàng Bún, gây xung đột đổ máu ở cầu Long Biên, khu Cửa Đông, phố

Yên Ninh

Ngày 18/12/1946, Pháp gửi tối hậu thư đòi ta phải giải tán lực lượng tự vệ, giao

quyền kiểm sóat Hà Nội cho chúng và đe dọa nếu ta không thực hiện các yêu cầu đó thì

ngày 20/12/1946, quân đội chúng sẽ hành động

Chúng ta đã nhân nhượng Pháp đến mức cuối cùng nhưng chúng càng lấn tới vì

chúng âm mưu thôn tính nước ta một lần nữa Chúng gây sức ép quân sự đặt nhân dân ta

trước hai lựa chọn là phải đầu hàng hoặc chiến tranh Ta đã lựa chọn tiến hành kháng

chiến vì nhân dân ta lúc này đã sẵn sàng đem tât cả tinh thần và klực lượng, sức mạnh và

của cải để bảo vệ nền độc lập tự do vừa giành được

Đúng như cố thi sỹ Tố Hữu đã viết:

"Ta như thuở xưa Phù Đổng Tổ quốc ta quyết không mất nữa

Vụt lớn lên đánh đuổi giặc Ân Mối góc núi xây thành chiến lũy

Sức nhân dân khỏe như ngựa sắt Mỗi đầu thôn thành một pháo đài

Chí căm thù rèn thép thành roi Mỗi viên đạn một đời thằng quỷ

Lữa chiến đấu ta phun vào mặt Mỗi lối đi một hố chông gài"

Lũ sát nhân cướp nước hại nòi Trong 2 ngày 18 và 19/12/1946, Ban Thường vụ TW Đảng ta họp tại Hà Đông đã

quyết định phát động toàn quốc kháng chiến chống td Pháp xâm lược

Đêm 19/12/1946, Hồ Chủ tịch đã thay mặt TW Đảng và Chính phủ ra lời kêu gọi

Trang 18

đứng lên kháng chiến, Hà Nội là địa phương đầu tiên mở màn cho toàn quốc kháng chiến Đúng 20h ngày 19/12/1946, đèn điện vụt tắt, quân ta nổ súng tấn công quân Pháp tại Hà Nội mở đầu cho kháng chiến toàn quốc bùng nổ

Đường lối kháng chiến được nêu lên những nét cơ bản đầu tiên trong "Lời kêu goi toàn quốc kháng chiến" của Hồ Chủ tịch, sau đó được nêu đầy đủ trong bản chỉ thị "Toàn dân kháng chiến" của Ban thường vụ TW Đảng ngày 22/12/1946 và trong tác phẩm

"Kháng chiến nhất định thắng lợi" của Tổng Bí thư Trường Chinh tháng 9/1947

? Phân tích tính chất của cuộc kháng chiến

Cuộc kháng chiến chống Pháp của nd ta là cuộc chiến tranh tự vệ, chính nghĩa và tiến bộ, nhằm bảo vệ và phát huy thành quả của cách mạng tháng Tám Cuộc kháng chiến này còn nhằm tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc và từng bước thực hiện nhiệm vụ dân chủ, đem lại ruộng đất cho nông dân

Cuộc kháng chiến đó diễn ra trên tất cả các mặt trận, quân sự, chính trị, khinh tế, văn hóa Với đường lối độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo (toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh) nhân dân ta có được vũ khí sắc bén, niềm tin vững chắc để chống lại cuộc xâm lược của thực dân Pháp, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi

? Phân tích cơ sở của việc đề ra đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường

Hà Nội, khống chế những nơi đóng quân và kèm chặt các cơ quan đầu não của ta Ngoài

ra ở HN còn có 13.000 Pháp kiều sống tập trung trong 2 khu vực nối tiếp nhauthành một dải cắt đôi thành phố Trong số này, nhiều người đã được trang bị vũ khí, nhiều căn nhà trở thành những ổ chiến đấu bí mật"

Lực lượng vũ trang của ta ở HN có 5 tiểu đoàn bộ binh được trang bị vũ khí thô sơ

và thiếu thốn: 9 khẩu sơn pháo, pháo chống tăng, pháo cao xạ cũ kĩ được bố trí ở Láng, Xuân Canh, Xuân Tảo, Đào Xuyên Ngoài ra còn có 8 trung đội Công an xung phong, 1 đại đội tự về chiến đấu, đông đảo nhất là LL dân quân tự vệ nội ngoại thành khoảng 28.500 người trang bị chủm yếu bằng lựu đạn, dao kiếm Mặc dù LL chênh lệch song quân dân HN đã chiến đấu ngoan cường Tuy mới lần đầu giáp trận không tránh khỏi lúng túng và thiếu sót nhưng với khí thế quyết tử cho tổ quốc quyết sinh, nhất tề xông lên, quân dân HN đã giành được quyền chủ động và phá tan thế trận bao vây của quân Pháp

Trang 19

định đánh úp ta, đẩy chúng vào tình thế bị động đối phó Cuộc chiến đấu đã diễn ra ác liệt giữa ta và địch ở ga Hàng Cỏ, phố Khâm Thiên, phố Hàng Đậu, đầu cầu Long Biên, khu vực Bắc Bộ Phủ, các phố Hàng Bông, Hàng Trống, Hàng Da, trường bay Bạch Mai Đến ngày 20/12/1946, nhờ có thêm viện binh, Pháp đánh ra ngoại thành, quân và dân ta chiến đấu ngăn chặn địch bung ra Bên trong quân dân Liên khu I kiên cường bám trụ địch Ngày 6/1/1947, Trung đoàn Thủ đô chính thức thành lập (khoảng 2000 quân có

cả phụ nữ và trẻ em) làm nhiệm vụ chiến đấu giam chân địch trong thành phố Cuộc chiến diễn ra hết sức quyết liệt ta và địch giành nhau từng ngôi nhà, từng góc phố

Trung tuần tháng 2/1947, địch mở liên tiếp những đợt tấn công nhằm chia cắt Liên khu I và thực hiện âm mưu tiêu dệt Trung đoàn Thủ đô Cuộc chiến đấu của quân dân Liên khu I và các khu nội thành càng trở nên khó khăn Để bảo toàn lực lượng, đêm 17/2/

1947, Trung đoàn Thủ đô thực hiện cuộc rút quân khỏi vòng vây đồn bốt địch trở lại hậu

cứ an toàn Trong gần 2 tháng đầu toàn quốc kháng chiến, quân và dân ta ở Hà Nội đã đánh 200 trận, giết và làm bị thương hàng ngàn tên địch phá hủy hàng chục xe cơ giới, bắn rơi và phá hủy 5 máy bay, thu nhiều đạn dược, quân trang quân dụng; hoàn thành nhiệm vụ được giao là giam chân địch trong thành phố một thời gian để hậu phương kịp huy động lực lượng kháng chiến, di chuyển kho tàng, công xưởng về chiến khu, bảo vệ an toàn cho TW Đảng, Chính phủ và các cơ quan đầu não của ta rút về căn cứ địa lãnh đạo kháng chiến lâu dài

Ở Nam Định Quân dân ta bao vây địch trong gần 2 tháng, diệt hơn 400 tên Địch

mở nhiều cuộc tấn công phá vây nhưng đều bị quân ta đánh lui Có thêm quân cứu viện địch tăng cường những cuộc phản kích Để tránh một cuộc chiến đấu bất lợi, ngày 12/3/47, quân ta rút khỏi thành phố

Ở Vinh, ngay từ đầu cuộc chiến đấu quân dân ta đã buộc địch đầu hàng Ở thành phố Huế, quân ta tấn công Tòa khâm sứ và nhà hàng Moranh buộc địch phải cố thủ Trong 50 ngày đêm tiến công và bao vây, quân dân ta diệt trên 200 địch, hạ 1 máy bay, phá 3 xe thiết giáp, thu nhiều súng đạn Ngày 8/2/47, ta rút khỏi thành phố để bảo toàn lực lượng

Ở Đà Nẵng, quân dân ta tiến công, bao vây cô lập sân bay và đánh lui nhiều đợt tấn công phá vây của địch Đầu tháng 1/47, được tăng viện địch điều 2000 quân đổ bộ từ biển lên giải vây sân bay, thành phố

Ở Nam Trung bộ, quân dân ta tiến hành chiến tranh du kích, đánh chặn địch trên các tuyến giao thông, phá cơ sở hậu cần của chúng

Trên cả nước trong những tháng đầu toàn quốc kháng chiến, quân và dân ta đã chủ động tiến công địch bao vây và giam chân chúng ở các đô thị tạo thế trận đi vào cuộc chiến đấu lâu dài

Trang 20

Phía Pháp, sau một thời gian bị động, đầu năm 1947, nhờ viện binh từ Pháp sang và rút một phần quân từ Nam Bộ ra, chúng đã mở những cuộc tiến công giải vây các thành phố, mở rộng phạm vi chiếm đóng ngoài các đô thị các tuyến giao thông chiến lược

Với tầm nhìn chiến lược, ngay sau cm tháng Tám thành công Hồ Chủ tịch đã phân công Phạm Văn Đồng cùng một số cán bộ ở lại Việt Bắc một thời gian để củng cố căn cứ địa Cuối tháng 10/1946, Hồ Chủ tịch đã phân công Nguyễn Lương Bằng trở lại Việt Bắc chuẩn bị địa điểm xây dựng căn cứ địa kháng chiến Tháng 11/46, TW thành lập Đội công tác đặc biệt do Trần Đăng Ninh phụ trách lo việc nghiên cứu di chuyển và chọn địa điểm an toàn để đặt trụ sở các cơ quan TW sau khi Pháp tấn công Hải Phòng (20/11/46), công việc chuẩn bị cho các cơ quan TW, CP, MT rời thủ đô được đẩy mạnh, cuộc Tổng

di chuyển bắt đầu

Cuối tháng 12-1946, khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ, các cơ quan TW lần lượt rời HN về phái tây nam chuyển dần đến các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây; đến đầu 1947, chuyển đến địa phận các tỉnh thuộc căn cứ địa Việt Bắc

Đợt tổng di chuyển từ cuối tháng 11/1946 đến đầu 1947, nhằm đưa đến những nơi

an toàn các máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu (đặc biệt là công nghiệp quốc phòng), lương thực thực phẩm (chủ yếu là gạo muối) hàng hóa

Giai cấp công nhân đã đem hết sức mình để bảo vệ và di chuyển máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu đến nơi an toàn ở nông thôn, rừng núi các tỉnh khu IV, khu V, Việt Bắc

để tiếp tục sản xuất Chỉ trong 3 tháng đầu toàn quốc kháng chiến ta đã di chuyển được hơn 3 vạn tấn máy móc và dụng cụ sản xuất, hàng vạn tấn nguyên vật liệu ra vùng căn cứ Riêng ở Bắc Bộ gần 2/3 số máy móc được chuyển lên căn cứ Việt bắc Nhờ đó ta đã xây dựng được 57 cơ sở công nghiệp, chủ yếu là quốc phòng, sản xuất đáp ứng phần quan trọng nhu cầu vũ khí, đạn dược, quân trang quân dụng cho các lực lượng vũ trang và nhu cầu tối thiểu cho đời sống của nhân dân

Đồng thời với hoạt động di chuyển ở thời kỳ đầu kháng chiến là hoạt động "tiêu thổ"

để kháng chiến, vận động và tổ chức tản cư, đảm bảo tài sản tính mạng của nhân dân, nhanh chóng chuyển đất nước sang thời chiến Thực hiện chủ trương tiêu thổ để kháng chiến nhân dân ta đã tự tay phá hủy nhà cửa, đường sá, cầu cống ở những nơi có nguy cơ

sẽ bị địch chiếm đóng để lập căn cứ chống lại kháng chiến Kết quả những hoạt động tiêu thổ và thực hiện "vườn không nhà trống" đã có tác dụng ngăn chặn phần nào những hoạt động hành quân càn quét của địch vào hậu phương của ta

Sau việc di chuyển Nhà nước bắt tay xây dựng lực lượng mọi mặt để bước vào cuộc kháng chiến lâu dài

Về chính trị, Chính phủ quyết định chia cả nước thành 14 khu, thành lập thêm Uỷ

ban Kháng chiến Đến tháng 10/1947, sáp nhập UB Kháng chiến với UB Hành chính

Trang 21

thành UBKC-HC để thực hiện 2 nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc Hội Liên Việt phát triển thu hút được rộng rãi các tầng lớp nd yêu nước, các nhân sỹ tham gia kháng chiến

Về quân sự, Chính phủ qui định mọi người dân từ 18 tuổi đến 45 tuổi đều tham gia

dân quân và từ dân quân được tuyển chọn vào du kích rồi bộ đội địa phương hoặc chủ lực Lực lượng vũ trang các cấp không ngừng tăng lên về số lượng, được huấn luyện về chính trị và quân sự Vũ khí vừa tự tạo vừa lấy của địch để tự trang bị

Về kinh tế, Chính phủ ban hành các chính sách để duy trì và phát triển sản xuất, nhất

là lương thực theo khẩu hiệu "Thực túc binh cường" "Ăn no đánh thắng" Sản lượng lúa năm 1947, đạt 2.1890000 tấn (năm 1946 chỉ 2.000.000 tấn) Các cơ quan thương nghiệp nhà nước thực hiện nhiều biện pháp phục vụ đời sống nhân dân, tiếp tế cho cán bộ, bộ đội Nha Tiếp tế được thành lập làm nhiệm vụ thu mua, dự trữ và phân phối thóc gạo, muối vải, đảm bảo nhu cầu ăn, mặc cho bộ đội và nd ở hậu phương

Về văn hóa, phong trào bình dân học vụ tiếp tục được duy trì và phát triển Trường

phổ thông các cấp được xây dựng thu hút con em nhân dân, việc xây dựng đời sống mới

nhanh", tháng 4/1947, Chính phủ Pháp đã cử Bôlaec sang làm Cao ủy thay Đácgiăngliơ

Bôlaec sang đã thực hiện âm mưu khá thâm độc: Về chính trị Pháp ra sức tập hợp các phần tử Việt gian phản động, lập ra cái gọi là "Mặt trận quốc gia thống nhất" làm tay sai tiến tới thành lập chính phủ bù nhìn trung ương hòng lừa bịp dư luận Về quân sự, Pháp chuẩn bị một cuộc tấn công qui mô lên Việt Bắc nhằm mục đích:

- Phá căn cứ địa chính của cả nước, tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến, tiêu diệt quân chủ lực cách mạng, chiếm đóng vùng biên giới Việt - Trung, ngăn chặn con đường liên lạc quốc tế của ta

- Phá hoại hậu phương kháng chiến các cơ sở kinh tế, kho tàng, mùa màng, cướp bóc lúa gạo triệt phá đường tiếp tế hòng làm giảm khả năng kháng chiến của ta

- Giành thắng lợi quân sự để thúc đẩy tập hợp bọn tay sai, tiến tới lập chính phủ bù

Trang 22

Thu đông 1947, Pháp huy động 12.000 quân tinh nhuệ và hầu hết máy bay ở Đông Dương, chia thành 3 cánh, mở cuộc tấn công lên Việt Bắc từ ngày 7/10/1947

chiếm thị xã Bắc Cạn, rồi Chợ mới, chợ Đồn Một binh đoàn khác do Đại tá Bôphơre chỉ huy từ Lạng Sơn đánh lên Cao Bằng trên đường số 4 chiếm các cứ điểm dọc đường và dự kiến từ Cao Bằng một bộ phận theo đường số 3 tiến xuống Bắc Cạn tạo thành gọng kìm bao vây Việt Bắc về phía đông và phía bắc

Anh /Chị hãy tường thuật diễn biến chiến dịch Việt bắc qua lược đồ

Ngày 9/10/1947, một binh đoàn hỗn hợp gồm bộ binh và lính thủy đánh bộ do Đại tá Cômmuynan chỉ huy từ Hà Nội ngược sông Lô và sông Gâm lên thị xã Tuyên Quang, Chiêm Hóa và Đài Thị, bao vây căn cứ địa Việt Bắc ở phía tây

Thấy được âm mưu địch, từ giữa tháng 9 /1947, Đảng và Chính phủ đã nhắc nhỡ nhân dân cả nước phải nêu cao cảnh giác, chuẩn bị đối phó với cuộc tiến công thu - đông tới của chúng

Ngày 15/10/1947, Thường vụ TW Đảng ra chỉ thị "Phải phá tan cuộc tiến công mùa đông của Pháp" Thực hiện chỉ thị đó quân và dân ta trên các hướng, khắp các mặt trận đã

Trang 23

anh dũng chiến đấu, tiêu diệt nhiều sinh lực địch từng bước phá vỡ các gọng kìm của chúng Tại Bắc Cạn, ngay từ đầu quân dân ta đã chủ động kịp thời phản công và tiến công địch, tiến hành bao vây chia cắt, cô lập địch tổ chức tập kích vào Chợ Mới, Chợ Đồn, chợ

Rã, Ngân Sơn phục kích địch trên các đường từ Bắc Cạn đi chợ Mới, chợ Đồn, Phủ Thông Vừa chặn địch quân ta vừa bí mật khẩn trương di chuyển các cơ quan TW Đảng, Chính phủ, các công xưởng kho tàng, từ nơi địch uy hiếp đến nơi an toàn

Ở hướng Đông, quân ta phục kích trên đường số 4, cản bước tiến của chúng tiêu biểu là trận phục kích trên đoạn đường Bản Sao - Đèo Bông Lau, ngày 30/10/1947, ta đánh trúng đoàn xe cơ giới địch, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1 đại đội, phá hủy 27 xe, thu nhiều vũ khí quân trang quân dụng Do bị chặn đánh quân của Bôphơre không gặp được quân của Commuynan ở Đài Thị Hai gọng kìm Đông Tây của địch không khép kín được

Ở hướng Tây, quân ta phục kích đánh địch nhiều trận trên sông Lô Ngày 24/10/ 1947; 5 tàu chiến địch có máy bay yểm trợ từ Tuyên Quang đi Đoan Hùng lọt vào trận địa phục kích của ta (sát bờ sông Lô), quân ta nổ súng bắn cháy 2 tàu và bắn bị thương 2 tàu khác Ngày 10/11, hai tàu chiến và 1 ca nô địch từ Chiêm Hóa về thị xã Tuyên Quang

bị quân ta phục kích tại Khe Lau (ngã ba sông Lô, sông Gâm) Quân ta bắn cháy tàu và diệt hàng trăm tên địch

Phối hợp với Việt Bắc, tại chiến trường trên cả nước quân ta hoạt động mạnh, kiềm chế không cho địch tập trung binh lực vào chiến trường chính Quân dân Hà Nội mở cuộc tập kích vào các đồn bốt địch ở ngoại thành như Gia lâm, Thạch Bích, Văn Điển, Vĩnh Tuy, Cầu Giấy, Cầu Đuống ở Sài Gòn, quân dân ta cũng mở hàng loạt cuộc tập kích vào đồn bốt, kho tàng của địch ở Thị Nghè, Gia Định, Gò Vấp Ở Niều địa phương khác cũng có những cuộc tập kích vào các đồn bốt, kho tàng địch như Sơn La, Sơn Tây, Hà Đông, Bắc Ninh

Cuộc chiến liên tục 75 ngày đêm giữa ta và địch kết thúc bằng cuộc rút chạy của đại

bộ phận quân Pháp khỏi Việt Bắc ngày 19/12/1947

Kết quả: Quân ta đã loại khỏi vòng chiến hơn 6.000 địch, bắn rơi 16 máy bay, bắn chìm 11 tàu chiến, cac nô, phá hủy nhiều xe quân sự và pháo các loại Cơ quan đầu não kháng chiến được bảo vệ, bộ đội chủ lực của ta không bị tiêu diệt mà trưởng thành lên Pháp tuy phá hủy một số kho tàng, thị trấn làng bản của ta và vẫn còn chiếm đóng một số

cứ điểm trên đường số 3 và số 4 nhưng không đạt được mục tiêu của cuộc tiến công, không thực hiện được ý đồ chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh" và buộc phải chuyển sang đánh lâu dài với ta

? Hãy phân tích ý nghĩa lịch sử của chiến thắng Việt Bắc

Trang 24

Ý nghĩa thắng lợi: Chiến dịch Việt Bắc là chiến dịch phản công lớn đầu tiên của ta trong kháng chiến chống Pháp giành được thắng lợi Chiến thắng này chứng minh sự đúng đắn của đường lối kháng chiến của Đảng; chứng minh sự vững chắc của căn cứ địa Việt Bắc Là mốc lịch sử đánh dấu sự thay đổi tương quan lực lượng giữa ta và Pháp có lợi cho cuộc kháng chiến của ta Chiến thắng này có tác dụng cổ vũ to lớn niềm tin của nhân dân ta vào sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ và Hồ chủ tịch đó là niềm tin kháng chiến nhất định thắng lợi Sau chiến dịch Việt Bắc ta có thêm điều kiện xây dựng và phát triển lực lượng kháng chiến toàn quốc

b) Đẩy mạnh kháng chiến toàn dân toàn diện

+ Âm mưu thủ đoạn của pháp sau thất bại ở Việt Bắc

Sau thất bại ở Việt Bắc và buộc phải chuyển sang đánh lâu dài với ta, td Pháp tăng

cường thực hiện chính sách "dùng người Việt đánh người Việt", "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" nhằm chống lại cuộc kháng chiến lâu dài, toàn dân toàn diện của ta Chúng

đã xúc tiến các biện pháp:

Bên cạnh hoạt động quân sự td Pháp ra sức thực hiện các thủ đoạn chính trị thâm độc Bước sang năm 1948, chúng xúc tiến thành lập chính phủ bù nhìn trung ương do Bảo Đại cầm đầu, phát triển ngụy quân, củng cố hội tề, rải quân đóng đồn bốt ở nhiều nơi, tiến hành càn quét bắt người, cướp của cung cấp cho chiến tranh Thông qua Hội tề Pháp nhằm chia rẽ khối đoàn kết toàn dân gây thanh thế cho cp bù nhìn Hội ttề còn là tai mắt dò xét cơ sở kháng chiến Về quân sự Hội tề còn giúp Pháp tuyển mộ binh lính, làm bình phong bảo vệ đồn bốt Mặt Khác Pháp còn dùng thủ đoạn thành lập các xứ tự trị ở các vùng dân tộc thiểu số nhằm chia rẽ khối đoàn kết dân tộc của nd ta

+ Chủ trương đẩy mạnh kháng chiến của ta

Để chống lại âm mưu mới thâm độc của kẻ thù Đảng và Chính phủ chủ trương tăng cường sức mạnh và hiệu lực của chính quyền dân chủ nhân dân từ TW đến cơ sở, tăng cường lực lượng vũ trang nd đẩy mạnh kháng chiến toàn diện

- Về quân sự, với đường lối chiến tranh nhân dân, Đảng chủ trương xd LLVT 3 thứ quân Tháng 2/1947, Bộ Quốc phòng ra thông tư quy định mọi công dân VN từ 18 tuổi đến 45 tuổi vào dân quân và quy định nhiệm vụ của dân quân, tự vệ cùng các đội du kích địa phương Ta chủ trương động viên nd thực hiện vũ trang toàn dân, phát triển chiến tranh du kích, tiến hành du kích chiến là chính, kết hợp vận động chiến rồi từ du kích chiến tiến dần lên vận động chiến Thực hiện chủ trương của đảng từ mùa hè 1947, trở đi, hàng chục vạn người hăng hái gia nhập dân quân, du kích và tự vệ chiến đấu, Đến cuối năm 1949, dân quân du kích trong cả nước đã có trên 1 triệu người Dân quân du kích là

LL chủ yếu quyết định sự pt mạnh mẽ của pt chiến tranh du kích trong cả nước Bên cạnh

đó PT xung phong tòng quân cũng diễn ra sôi nổi Riêng mùa hè 1947 đã có 35.000

Trang 25

người nhập ngũ nâng quân chủ lực từ 85.000 lên 112.000 quân Từ 1948, ta thực hiện chủ trương đẩy mạnh chiến tranh du kích Trong những năm 1948-1949, ta chủ trương phân tán phần lớn bộ đội chính qui thành lập những Đại đội độc lập, Trung đội vũ trang tuyên truyền tiến sâu vào vùng tạm chiếm, gây dựng cơ sở kháng chiến dìu dắt các lực lượng vũ trang địa phương phát động chiến tranh du kích, biến hậu phương địch thành tiền phương của ta Kết hợp với phong trào du kích phát triển sâu rộng sau lưng địch, bộ đội chủ lực

mở những chiến dịch tiến công qui mô nhỏ ở chiến trường chính, tiêu hao từng bộ phận sinh lực địch, giải phóng đất đai và dân, mở rộng vùng tự do qua đó rèn luyện bộ đội cách đánh vận động, đánh tập trung dài ngày Nhờ đó bộ đội chủ lực của ta trưởng thành nhanh chóng Tháng 8/49, tại căn cứ địa Việt Bắc, Đại đoàn chủ lực 308 (Đại đoàn quân tiên phong) được thành lập, đánh dấu bước trưởng thành của quân đội nhân dân Việt Nam Năm 49, tại chiến trường Bắc Bộ và Trung Bộ, mỗi Liên khu có từ 1 đến 2 trung đoàn Ở Nam Bộ, mỗi liên khu xây dựng được 1 tiểu đoàn chủ lực Từ cuối 1948, thực hiện chủ trương tổng phá tề, xóa bỏ chính quyền địch ở cơ sở, LL du kích cùng nd vùng địch tạm chiếm nổi dậy phá tề trên phạm vi rộng lớn, lập lại chính quyền kháng chiến Phong trào chiến tranh du kích diễn ra phong phú Du kích và nhân dân đánh giặc bằng mọi phương tiện, mọi thứ vũ khí dưới nhiều hình thức, tiêu hao ạưc lượng địch biến hậu phương địch thành tiền phương của ta Trong 2 năm 1949, 1950, chiến tranh du kích ngày càng ptmạnh mẽ, rộng khắp; hình thành nhiều làng chiến đấu như cảnh Dương, Cự Nẫm, Lệ Sơn, Hưng Đạo ở Quảng Bình

Song song với chiến tranh du kích là chính thì bộ đội chủ lực và bô đội địa phương còn tranh thủ đánh vận động, từ 1948-1950, quân đội ta mở hàng chụcchiến dịch đánh vận động quy mô nhỏ trên toàn quốc.Điển hình là các chiến dịch Nghĩa Lộ (3/1948); Yên Bình(6/1948) Đông Bắc(10/1948), Sông Đà(1/1949) Từ các trận đánh nhỏ sử dụng binh lực cấp Đại đội, dần dần quân ta tiến lên đánh tập trung qui mô tiểu đoàn Có chiến dịch

sử dụng đến 4, 5 Trung đoàn trên một địa bàn rộng

- Về Chính trị - Ngoại giao, tháng 6/1949, Việt Minh và Liên Việt thống nhất thành

một mặt trận các tố chức từ TW đến cơ sở được sáp nhập Chính quyền dân chủ nhân dân từng bước được kiện toàn và củng cố, phát huy vai trò tổ chức, động viên toàn dân kháng chiến, kiến quốc Trong Chính phủ cải tổ, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm mời các nhân

sĩ, trí thức tiêu biểu của dân tộc tham gia Liên hiệp quốc dân rộng rãi Đầu năm 1949, cả nước tổ chức bầu cử Hội đồng nhân dân và Uỷ ban Kháng chiến hành chính cấp tỉnh đến

xã Chính quyền cách mạng được củng cố đã tổ chức động viên nhân dân kháng chiến và còn góp phần làm phá sản hệ thống chính quyền bù nhìn tay sai của Pháp Công tác xd Đảng được chú trọng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ lãnh đạo kháng

Trang 26

được kết nạp vào Đảng Nhằm phát huy tính năng động của cơ sở và ứng phó kịp thời với tình thế, Đảng chủ trương xd "Chi bộ tự động công tác" Nhìn chung qua đấu tranh Đảng ngày càng vững mạnh

Cuộc kháng chiến của nhân dân ta lúc này đã bắt đầu dành được sự ủng hộ đồng tình của loài người tiến bộ Ngày 14/1/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã thay mặt chính phủ

VNDCCH tuyên bố với thế giới rằng: "Chính phủ VNDCCH là chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn thể nhân dân Việt Nam Căn cứ trrên nguyên tắc chung, Chính phủ VNDCCH sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với tất cả chính phủ nước nào tôn trọng quyền bình đẳng, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước VN để cùng nhau bảo vệ hòa bình và cùng nhau xây đắp dân chủ thế giới" Sau lời tuyên bố đó

ngày 18/1/1950, Chính phủ CHND Trung Hoa quyết định công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với chính phủ VNDCCH Tiếp đến ngày 31/1/1950, Chính phủ Liên xô và trong vòng 1 tháng sau các nước XHCN khác lần lượt công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ ta, đây là một thắng lợi quan trọng về ngoại giao của cách mạng VN

- Về kinh tế, Ta vừa đẩy mạnh xây dựng, bảo vệ phát triển nền kinh tế dân chủ nhân dân

có khả năng tự cấp tự túc vừa ra sức phá hoại kinh tế của địch Sản xuất nông nghiệp bảo đảm lương thực cho nhân dân và cán bộ ở hậu phương, cho bộ đội ở tiền phương Chính phủ đề ra chủ trương triệt để giảm tô 25%, thực hiện giảm tức, xóa nợ, hoãn nợ, chia lại ruộng đất cho công bằng hợp lý, tạm cấp ruộng đất vắng chủ, ruộng đất lấy từ tay td và bọn Việt gian phản động cho nông dân Đến cuối 1950, chính quyền cm đã tạm cấp được

253863 ha ruộng đất cho gần 50 vạn nhân khẩu Công nghiệp cũng được phát triển theo qui mô nhỏ và phân tán, sản xuất công cụ thô sơ kết hợp với cơ khí, tự cấp tự túc Chú trọng công nghiệp địa phương công nghiệp quốc phòng Đến năm 1948- 1949, ta đã sản xuất được súng cối 60 và 120 li, súng không giật SKZ, súng và đạn phóng bom Các cơ

sở công nghiệp quốc doanh thiết yếu được xây dựng và hoạt động có hiệu quả Tiểu thủ công nghiệp được chú trọng nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của đời sống nhân dân và quốc phòng Đội ngũ công nhân trong các vùng tự do, các vùng căn cứ kháng chiến ngày càng tập trung và trưởng thành

- Về văn hóa - giáo dục: tiếp tục phát triển trong hoàn cảnh chiến tranh, nhằm đáp ứng yêu cầu của kháng chiến Các cấp các ngành mở nhiều loại trường lớp để đào tạo cán bộ, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật Hệ thống các trường đại học và trung học chuyên nghiệp cũng được xây dựng Tháng 7/1950, Chính phủ đề ra chủ trương thực hiện cải cách giáo dục phổ thông Thay hệ thống giáo dục cũ bằng hệ thống giáo dục 9 năm, nhằm xóa bỏ các tàn tích phong kiến, hướng giáo dục tích cực phục vụ kháng chiến, kiến quốc đặt nền móng cho nền giáo dục cm Tháng 3/ 1948, Hồ Chủ tịch đã phát động

Trang 27

phong trào thi đua yêu nước Phong trào này đã trở thành động lực mạnh mẽ, lôi cuốn mọi tầng lớp nhân dân tham gia thực hiện nhiệm vụ kháng chiến, kiến quốc

2.4 Thực dân Pháp thực hiện kế hoạch Revers Ta chuyển từ du kích chiến sang vận động chiến

Bước vào năm 1949, trước sự phát triển manh mẽ của phong trào kháng chiến trên khắp cả nước của quân và dân ta; trước việc Quân giải phóng Trung Quốc ào ạt tiến xuông Hoa Nam, thực dân Pháp một lần nữa phải thay đổi kế hoạch xâm lược

Từ 16/5 đến ngày 17/6/1949, tướng Revers-Tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp cùng với 6 Nghị sỹ Quốc hội Pháp được cử sang Đông Dương nghiên cứu tình hình Tháng 7/1949, kế hoạch Revers ra đời với nội dung chính sau:

- Tập trung nổ lực để giữ vững Bắc Bộ, coi Bắc Bộ là chiến trường chính Tiến hành tăng quân cho Bắc Bộ, mở rộng phạm vi chiếm đóng ở đồng bằng và trung du, tăng cường phòng thủ trung du và khu tứ giác Lạng Sơn- Tiên Yên- Hải Phòng - Hà Nội, bao vây căn cứ địa Việt Bắc, phòng thủ có trọng điểm tuyến biên giới

- Phát triển ngụy quân, dùng quân ngụylàm nhiệm vụ chiếm đóng Tập trung quân Phi để xây dựng lực lượng cơ động, tiến hành càn quét, đánh phá phong trào du kích, chuẩn bị cho những cuộc tấn công lớn tiêu diệt chủ lực của Ta

- Củng cố ngụy quyền, lợi dụng tôn giáo, chia rẽ dân tộc, tăng cường đánh ta về chính trị và kinh tế

Thực hiện kế hoạch này Pháp ra sức bắt lính đưa sang Đông Dương và tăng thêm quân ngụy

Đến cuối năm 1949, tổng số quân địch tren chiến trường Đông Dương là 210.000 tên trong đó có 96.000 quân ngụy.Phần lớn quân Âu- Phi được tập trung ở chiến trường Bắc

Bộ Tháng 9/1949, tướng Carpentier sang thay Blaizot làm Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương Chi phí cho cuộc chiến xâm lược được tăng nhanh lên 138,2 tỷ franc năm

1949 Ngụy quyền trung ương được Pháp xúc tiến thành lập Pháp ký với Bảo Đại hiệp

định Elyseés, theo đó, Pháp vạch ra qui chế: Việt Nam là một quốc gia liên kết độc lập trong liên hiệp Pháp, Pháp vẫn giữ quyền kiểm soát các lực lượng vũ trang Việt Nam và ngoại giao, Pháp cho phép việc thống nhất của ba kỳ Tháng 7/1949/ Pháp đưa Bảo Đại

về nước thành lập chính phủ bù nhìn do Y làm Quốc trưởng Với lực lượng được tăng cường, từ tháng 7/1949, Pháp mở liên tiếp các cuộc hành quân qui mô lớn nhằm lấn chiếm đồng bằng và trung du Bắc Bộ: Cuộc hành quân Bastille (13/7) mở rộng phạm vi chiếm đóng Bắc Ninh, Bắc Giang, Phúc Yên Cuộc hành quân Canigou (8/1949) đánh chiếm Vĩnh Phúc

Quân dân ta ở Bắc Bộ bước vào một giai đoạn thử thách mới khó khăn hơn Trước

Trang 28

cuộc tiến công ồ ạt và chính sách đốt sạch, giết sạch, phá sạch của địch, bộ máy chính quyền ở nhiều địa phương tan vỡ và tổn thất, nhiều làng kháng chiến bị tàn phá

Trước khi Pháp đề ra kế hoạch Revers, Tại Hội nghị TW lần thứ sáu, Đảng ta đã đề ra những nhiệm vụ cần kíp của quân và dân thời gian tới về chính trị, quân sự, kinh tế Riêng về quân sự Nghị quyết nêu rõ: trọng tâm công tác là xây dựng bộ đội chủ lực, tập trung cán bộ, vũ khí và phương tiện thông tin liên lạc cho những đơn vị có nhiệm vụ đánh vận động chiến Có kế hoạch rút dần các đại đội độc lập, tập trung trở lại

Đối phó với tình hình trên Đảng đã kịp thời đề ra những chủ trương biện pháp phù hợp để đưa cuộc kháng chiến đi lên Ngày 12/8/1949, Ban Thường vụ TW đã ra chỉ thị về

"phá tan âm mưu chiếm đóng trung du của địch và tích cực chuẩn bị chiến dịch thu đông 1949" Ta chủ trương "phải đánh vận động tiêu diệt, làm cho địch thiệt hại nặng nề và đánh bật chúng ra khỏi trung du" tích cực chuẩn bị cho chiến dịch thu đông về mọi mặt, tiến công ở những hướng có tác dụng chiến lược quan trọng, nơi địch sơ hở, từ chủ động chiến dịch đi đến chủ động chiến lược từng bộ phận Thực hiện chủ trương trên, một trong những nhiệm vụ cấp bách lúc này là xây dựng LL vũ trang ba thứ quân Tháng 4/1949, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh thành lập bộ đội địa phương Nhiều đội du kích được nâng lên thành trung đội, đại độ;i bộ đội địa phương ở huyện và tiểu đoàn ở tỉnh Sắc lệnh Quân đội quốc gia Việt Nam qui định: Quân đội quốc gia VN có 2 phần quân đội chính qui và quân đội địa phương Bộ đội địa phương có 3 đặc điểm chính là có tính địa phương, có nhiệm vụ tác chiến bảo vệ địa phương, tự trang bị và tự túc về cấp dưỡng"

Tháng 8/1949, Thường vụ TW Đảng ra chỉ thị "về xây dựng bộ đội địa phương và phát triển dân quân" Chỉ thị nêu rõ: "xây dựng bộ đội địa phương và phát triển dân quân là một công tác then chốt để đẩy mạnh chiến tranh tiến tới Bộ đội địa phương và dân quân trong quá trình tiến triển là lực lượng hậu bị của của quân chủ lực” Công tác xây

dựng bộ đội địa phương và phát triển dân quân được xúc tiến mạnh Ở Bắc Bộ trong năm

1949 lực lượng bộ đội địa phương đã có 80 đại đội, 48 trung đội và 7 tiểu đội với quân số 11.719 người Dân quân du kích phát triển mạnh trên các địa phương ở Bắc Bộ, năm

1949 tổng số dân quân du kích là 279.021 người Ở Nam Bộ có 270.593 dân quân và 14.618 du kích Song song với việc xây dựng bộ đội địa phương, dân quân và phát triển

du kích, từ giữa năm 1949 ta bắt đầu rút dần các đại đội độc lập về cùng các tiểu đoàn tập trung để thành lập các trung đoàn đại đoàn chủ lực Ngày 28/8/1949, Đại đoàn 308 - đại đoàn chủ lực đầu tiên được thành lập Đến cuối năm 1949, lực lượng vũ trang 3 thứ quân

đã hình thành Qua 3 năm chiến đấu và xây dựng bộ đội ta đã có 230.000 quân, lực lượng cơ động của ta đã nhiều hơn lực lượng cơ động của địch Các biện pháp huấn luyện nâng cao chất lượng chiến đấu của bộ đội được thực hiện thường xuyên, có kế hoạch Trường lục quân và các trường Quân chính được mở rộng Tại Trung Bộ và Nam Bộ đã

Trang 29

thành lập thêm các phân hiệu trường lục quân để huấn luện rèn luyện cán bộ và chỉnh

huấn chiến sỹ.Vũ khí đạn dược do ngành quân giới sản xuất tăng nhanh đã chế được các

loại vũ khí có sức công phá mạnh như Bazôca, côi 85, 645 đạn DKZ Nhờ sự lớn mạnh

của LLVT ba thứ quân, ta mở ra những chiến dịch tiến công trên nhiều hướng chiến lược

quan trọng Riêng năm 1949 đã có các chiến dịch khá lớn như: Chiến dịch Cao Bắc Lạng

từ 15/3 đến 30/4; dọ Bộ tổng tư lệnh chỉ đạo với qui mô 4 trung đoàn, ta làm tê liệt đường

số 4 làm tan rã khối ngụy binh triệt tiếp tế của địch toàn khu Đông Bắc Ta đã tiêu diệt

nhiều vị trí như Bản Trại, đồn Bản Phát, Bông Lau- Lũng Phầy

Chiến dịch sông Thao từ 19/5 đến 18/7 ở địa bàn Yên Bái, Lào Cai với qui mô 6

tiểu đoàn, ta tiêu diệt 9 vị trí, buộc địch rút bỏ16 vị trí khác Qua chiến dịch bộ đội chủ

lực ta tiến bộ vượt bậc về chiến thuật diệt cứ điểm Ở miền Trung có các chiến dịch Hồ

Chí Minh và Phạm Văn Đồng, miền Nam có chiến dịch Cầu Kè ta đều thu được thắng lợi

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 2

1) Phân tích nội dung cơ bản đường lối kháng chiến của Đảng và Chính phủ ta

2) Những thành tựu trong kháng chiến kiến quốc của quân và dân ta từ ngày đầu toàn

quốc kháng chiến đến chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947? Ý nghĩa của những thành

tựu đó?

3) Vì sao sau thất bại ở Việt Bắc, Pháp phải chuyển hướng chiến lược sang đánh lâu dài

với ta? Những khó khăn khi Pháp chuyển sang đánh lâu dài với ta?

4) Sự giống và khác nhau giữa du kích chiến và vận động chiến? Ta đã làm gì để chuyển

từ du kích

chiến lên vận động chiến? Tại sao đến đầu 1949, ta vẫn để phương châm du kích chiến là

căn bản,

vận động chiến là phụ trợ?

Trang 30

CHƯƠNG 3: VIỆT NAM TỪ CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI THU ĐÔNG ĐẾN CHIẾNTHẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ VÀ KẾT THÚC

HỘI NGHỊ GIƠNEVƠ (1950 – 1954) 3.1 Hoàn cảnh lịch sử mới của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

Trên thế giới lực lượng XHCN được tăng cường: Liên xô đã hoàn thành công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triền kinh tế, văn hóa đạt được những thành tích đáng khích lệ Năm 1949, Liên xô, chế tạo thành công bon nguyên tử phá thế độc quyền của Mỹ Các nước đông Âu đã hoàn thành cách mạng dân chủ nhân dân đang chuyến sang xây dựng CNXH, cách mạng Trung Quốc thành công- phe XHCN hình thành kéo dài từ Âu qua Á

Phong trào giải phóng dân tộc tiếp tục phát triển mạnh gây cho chủ nghĩa đế quốc những khó khăn lúng túng ở nhiều nơi

Từ tháng 1 đến tháng 2/1950, các nước XHCN lần lượt công nhận chính phủ VNDCCH làm cho uy tín của VN được nâng cao trên trường quốc tế Ta bắt đầu nhận được sự viện trợ của Liên Xô và Trung Quốc cùng sự cổ vũ động viên về tinh thần của nhân dân các nước XHCN và những người yêu chuộng hòa bình trên thế giới

Ngược lại TD Pháp ở Đông Dương ngày càng khó khăn càng lệ thuộc vào Mỹ Phong trào đấu tranh đòi chấm dứt cuộc chiến tranh bẩn thỉu của nhân dân Pháp lên cao

Lo sợ sự phát triển của phong trào cộng sản ở Đông Nam Á mà Mỹ lúc đầu phản đối Pháp trở lại Đông Dương (kêu gọi thực hiện ở Đông Dương chế độ Uỷ trị của Liên Hợp Quốc) rồi làm ngơ, tiến đến trực tiếp can thiệp và biến Pháp thành tay sai thực hiện ý đồ của Mỹ Sau thắng lợi của cm Trung Quốc, Mỹ càng can thiệp sâu và dính líu trực tiếp vào cuộc chiến tranh Đông Dương Ngày 7/2/1950, Mỹ công nhận chính phủ bù nhìn Bảo Đại (do Pháp thành lập tháng 7/1949) Ngày 8/5/1950, Mỹ viện trợ cho Pháp ở Đông Dương về kinh tế và quân sự gói đầu tiên là 10 triệu đôla Tháng 7/1950, Mỹ đặt phái đoàn cố vấn viện trợ quân sự (MAAG) ở Việt Nam với âm mưu nắm quyền điều khiển trực tiếp cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam

Nhờ viện trợ về tài chính và quân sự của Mỹ, td Pháp đã đưa ra nổ lực mới bằng kế hoạch Rơve Với kế hoạch này Pháp đưa vũ khí mới vào, tập trung quân ở Nam Bộ và Trung Bộ thiết lập hàng loạt cứ điểm ở những vị trí quan trọng nhằm bao vây căn cứ địa Việt Bắc và khóa chặt biên giới Việt - Trung bằng cách tăng cường hệ thống phòng thủ

về phía Đông Bắc trên đường số 4 và lập hành lang Đông Tây để ngăn cách Việt Bắc với Đồng bằng Bắc Bộ, (từ Hải Phòng đến Hà Nội - Hòa Bình- Sơn La, Liên khu III và Liên khu IV) Trên cơ sở đó, Pháp chuẩn bị một kế hoạch qui mô lớn tấn công căn cứ địa Việt

Trang 31

Bắc lần thứ hai mong giành thắng lợi quân sự quyết định nhanh chóng kết thúc chiến tranh xâm lược ở Đông Dương

3.2 Chiến thắng Biên giới Đại hội Đảng toàn quốc lần II, Đảng ra hoạt động công khai

a) Chiến thắng Biên giới Thu - Đông 1950

Để phá âm mưu của td Pháp (có Mỹ giúp đỡ), đưa cuộc kháng chiến phát triển lên

bước mới, tháng 6/1050, Đảng và Chính phủ ta quyết định mở chiến dịch Biên Giới, nhằm mục đích tiêu diệt một bộ phận một bộ phận sinh lực địch, khai thông con đường liên lạc quốc tế giữa ta với các nước XHCN, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt bắc, tạo điều kiện đẩy mạnh cuộc kháng chiến tiến lên

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp làm chỉ huy trưởng kiêm chính ủy mặt trận, ta huy động tham gia chiến dịch gồm Đại đoàn 308, Trung đoàn 209, trung đoàn 174, trung đoàn 95 pháo binh và 3 tiểu đoàn địa phương (của Lạng Sơn và liên khu Việt bắc), các đại đội địa phương và dân quân du kích hai tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn các ngành các cấp

ở TW và cơ sở huy động lực lượng phục vụ mặt trận và tác chiến phối hợp để đảm bảo chiến dịch toàn thắng Do tầm quan trọng của chiến dịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp ra mặt trận cùng Bộ chỉ huy chỉ đạo và động viên bộ đội chiến đấu Bộ chỉ huy đã chọn Đông Khê là hường tiến công quyết định của chiến dịch

? Vì sao ta lại chọn Đông Khê làm trận mở màn chiến dịch

? Diễn biến của chiến dịch, Sinh viên tường thuật qua lược đồ

Quân ta tiến công

Trang 32

Sáng 16/9/1950, với lực lượng áp đảo và theo lối đánh công kiên quân ta tấn công vào cụm cứ điểm ở Đông khê mở màn chiến dịch Tại Đông khê nơi trận đánh diễn ra các liệt bộ đội ta đã xuất hiện nhiều tấm gương anh dũng tiêu biểu là La Văn Cầu Sau 3 ngày giao chiến, sáng 19/9, Đông Khê hoàn toàn bị ta tiêu diệt Thất khê bị uy hiếp và Thị xã Cao Bằng bị cô lập, hệ thống phòng ngự đường số 4 bị lung lay Sau khi mất Đông khê, tuyến phòng ngự đường số 4 của địchbị cắt đôi

Ngày 30/9, quân Pháp được lệnh rút khỏi Cao Bằng theo đường số 4 bằng một cuộc hành quân kép: Một mặt địch vét lực lượng dự bị chiến lược ở Bắc Bộ (6 tiểu đoàn)

mở chiến dịch Phôcơ (chó biển) đánh lên thị xã Thái Nguyên hy vọng thu hút chủ lực của

ta ở mặt trận Biên giới để đỡ đòn cho đồng bọn và trấn an dư luận vì thất thủ ở Đông Khê Mặt khác quân Pháp từ Thất khê được lệnh tiến đánh chiếm lại Đông Khê để đón cánh quân từ Cao Bằng về Đoán trước ý định của địch, quân ta tổ chức mai phục chặn đánh trên đường số 4 gây thiệt hại nặng nế cho hai cánh quân của binh đoàn Lơ Pagiơ từ Thất Khê lên và binh đoàn Sáctông từ Cao Bằng về làm cho chúng không liên lạc được với nhau Hơn 600 quân Pháp do ĐơlaBôm chỉ huy từ Thất Khê phải lên ứng cứu nhưng

cả hai binh đoàn của Sactông và Lơ Pagiơ vẫn không tránh khỏi bị tiêu diệt Tiểu đoàn ĐơlaBôm phải tháo chạy về Thất Khê vào đêm 8/10/1950 Quân địch ở Thất Khê bị cô lập và uy hiếp, buộc phải rút về Nà Sầm ngày 10/10/1950 và sau đó quân địch ở Nà Sầm cũng phải rút chạy Thất bại ở Đông Khê, Thất khê đã khiến quân địch ở các cứ điểm còn lại trên đường số 4 hoang mang Ngày 17/10, quân địch ở Đồng Đăng rút chạy Ngày 18/10 quân địch ở Lạng Sơn rồi Lộc Bình, Đình Lập, An Châu rút chạy, đến 22/10/ 1950, địch phải rút hết khỏi đường số 4

Tại Việt bắc cuộc tiến công của 6 tiểu đoàn quân Pháp lên Thái Nguyên cũng bị đập tan, ta diệt gần 1000 tên địch

Phối hợp với mặt trận đường số 4 quân ta hoạt động mạnh ở tả ngạn sông Hồng, tai chiến trường Bắc bộ ta tiêu diệt 700 tên địch, buộc địch phải rút bỏ 44 vị trí Ở Tây Bắc địch phải rút khỏi thị xã Lào Cai và Sa pa; ta đánh mạnh ở đường số 6, đường 12, buộc địch phải rút khỏi thị xã Hòa bình Phong trào du kích chiến phát triển

mạnh ở Bình Trị Thiên, Liên khu V, Nam Bộ

Kết quả: Sau hơn một tháng chiến đấu (từ 16/9 đến 22/10/1950) trên mặt trận Biên giới

quân dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 8.000 địch gồm quân Âu- Phi và lính ngụy

(gồm 8 tiểu đoàn Âu -Phi và 2 tiểu đoàn ngụy) thu trên 3000 tấn vũ khí và phương tiện

chiến tranh, giải phóng biên giới Việt - Trung dài 750 km, với 35 vạn dân, mở rộng căn cứ địa Việt Bắc, chọc thủng hành lang Đông - Tây, thế bao vây cả trong và ngoài căn cú địa Việt Bắc bị phá vỡ Kế hoạch Rơve của Pháp bị phá sản

Trang 33

Tính chung trên cả nước trong thu đông 1950, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 11.500 địch, bức rút 217 vị trí, trong đó có những thị xã quan trọng (Cao Bằng, Lạng Sơn, Hòa Bình, Thái Nguyên), giải phóng 4000km 2 , với gần 400.000 dân Con đường liên lạc với quốc tế của ta được khai thông

Đây là sự kiện đánh dấu sự phá sản của kế họạch Revơ

+ Ý nghĩa thắng lợi của chiến dịch Biên giới: Đây là chiến dịch tiến công qui mô

lớn đầu tiên của ta giành thắng lợi, mục tiêu của chiến dịch đã đạt được đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của quân đội ta, mở ra bước phát triển mới của cuộc kháng chiến chống Pháp Sau chiến dịch Biên giới, tình thế chiến tranh giữa ta và Pháp thay đổi căn bản, Quân ta giành được quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính (Bắc Đông Dương), liên tiếp mở những chiến dịch tiến công và phản công giành nhiều thắng lợi đẩy địch vào thế bị động đối phó Chiến thắng này đã khai thông con đường liên lạc của ta với các nước XHCN

+Mĩ can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh Đông dương Kế hoạch Đlát Đơtát xinhi

Từ năm 1950, cuộc kháng chiến của nd ta đã giành được nhiều thắng lợi to lớn

về chính trị quân sự và ngoại giao sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao các nước XHCN bắt đầu viện trợ cho nd ta về vật chất và tinh thần Năm 1950 hàng viện trợ của Trung Quốc bắt đầu được chuyển đến Việt Nam, lúc này ptgpdt trên thế giới pt mạnh, PT đấu tranh của nh/dân tiến bộ Pháp phản đối cuộc chiến tranh của Pháp ở Đông Dương lên cao Trước tình thế đó Pháp thấy khó có thể tiếp tục cuộc chiến nếu không có sự giúp sức của Mỹ

Do đó dù có mâu thuẫn nhất định với Mỹ, td Pháp phải dựa vào Mĩ, cầu xin viện trợ của

Mĩ để đeo đuổi cuộc chiến

Về phía Mĩ, theo thuyết Đôminô nếu mất Đông Dương là sẽ mất Đông Nam Á vào tay cộng sản nên Mĩ đã nhân lúc Pháp thấ bai ở mặt trận biên giớithông qua viện trợ để can thiệp vào cuộc chiến tranh Đông Dương

Tháng 12/1950 Mĩ, Pháp kí với các chính phủ bù nhìn Việt miên Lào Hiệp định phòng thủ chung Đông Dương" Qua đó Mĩ cam kết viện trợ cho 3 Chính phủ Đông Dương Tháng 9/1951, Mĩ đã kí với Chính phủ Bảo Đại "Hiệp ước hợp tác kinh tế Việt - Mĩ" nhằm chuyển thẳng một phần viện trợ của Mĩ cho chính quyền Bảo Đạiđẻ qua đó từng bước nắm chặt ngụy quyền Bảo Đại Dựa vào các Hiệp định trên viện trợ Mĩ ngày càng chiếm tỷ lệ lớn hơn trong ngân sách chiến tranh Đông Dương;

Năm 1950: 52 tỷ Fr = 19% ngân sách Năm 1951: 62 tỷ Fr = 16% ngân sách Năm 1952: 200 tỷ Fr = 35% ngân sách Năm 1953: 285 tỷ Fr = 43% ngân sách Năm 1954: 555 tỷ Fr = 73% ngân sách

Trang 34

Từ 10950 Mĩ đưa vào Đông Dương 400.000 tấn vũ khí và phương tiện chiến tranh Riêng 2 năm 1952 1953, cho Pháp vay 314 triệu đôla

a) Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ hai (2/ 1951), Đảng ra hoạt động công khai

Đứng trước những âm mưu mới của Pháp - Mỹ, để đẩy mạnh kháng chiến đòi hỏi nhân dân ta phải tăng cường hơn nữa tính chất toàn diện và sự lãnh đạo của Đảng Nhằm đẩt mạnh kháng chiến đến thắng lợi, Đảng cộng sản Đông Dương đã tiến hành Đại hội đại biều toàn quốc lần thứ hai tại căn cứ địa Việt Bắc (Chiêm Hóa- Tuyên Quang) từ ngày 11 đến 19 tháng 2 năm 1951 Tham dự đại hội có 158 đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết thay mặt cho 766349 đảng viên toàn Đảng Đại hội đã nghe thảo luận và thông qua Báo cáo Chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh và báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam của Tổng Bí thư Trường Chinh Báo cáo chính trị vạch ra nhiệm vụ trước mắt của cách mạng Việt nam là " tiêu diệt thực dân Pháp và đánh bại bọn can thiệp Mỹ, giành thống nhất độc lậphoàn toàn, bảo vệ hòa bình thế giới", biện pháp để thực hiện nhiệm vụ

đó là động viên tinh thần yêu nước, ra sức thi đua ái quốc, đẩy mạnh xây dựng lực lượng

vũ trang và các đoàn thể quần chúng, tăng cường mặt trận đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, thực hiện chính sách ruộng đất Báo cáo Bàn về cách mạng Việt nam nêu rõ kẻ thù trước mắt của cách mạng là chủ nghĩa đế quốc xâm lược, đánh đổ bù nhìn Việt gian bán nước, giành độc lập thống nhất hoàn toàn cho dân tộc, thủ tiêu chế độ thuộc địa xóa

bỏ tàn tích phong kiến, làm cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân dân gây cơ sở cho CNXH Nhiệm vụ chống PK được thực hiện đồng thời với nhiệm vụ chống

đế quốc nhưng thực hiện từng bước, có kế hoạch để vừa bồi dưỡng lực lượng kháng chiến vừa giữ vững khối đại đoàn kết toàn dân kháng chiến Lực lượng CMVN bao gồm công nhân, nông dân tiểu tư sản, tư sản dân tộc và nòng cốt là công nông Ngoài ra còn có các nhân sỹ dân chủ, thân sỹ yêu nước đứng vào Mặt trận Công nhân là giai cấp lãnh đạo

cm Đại hội đề ra những chính sách cơ bản về công tác xây dựng và củng cố chính quyền, tăng cường quân đội, mở rộng mặt trận đoàn kết dân tộc và quốc tế, phát triển kinh tế, tài chính, văn hóa giáo dục nhằm đẩy mạnh kháng chiến toàn diện Đại hội quyết định tách Đảng Cộng sản Đông Dương để thành lập ở mỗi nước một đảng Mãcít riêng, có cương lĩnh phù hợp với đặc điểm phát triển từng dân tộc Ở Việt Nam, Đại hội quyết định thành lập Đảng Lao động Việt Nam VÀ đưa Đảng ra hoạt động công khai, đảm nhận sứ mệnh lãnh đạocuộc kháng chiến của Việt nam.Đại hội đã thông qua Tuyên ngôn, chính cương, Điều lệ mới, bầu ban chấp hành trung ươnggồm 19 ủy viên chính thức và 10 Uỷ viên dự khuyết Bộ Chính trị gồm 7 ủy viên do Hồ chí Minh làm Chủ tịch Đảng và Trường Chinh làm Tổng bí thư

Đại hội II, đánh dấu bước trưởng thành của Đảng trong quá trình lãnh đạo là "Đại hội kháng chiến thắng lợi"

Trang 35

3.3 Phát triển hậu phương kháng chiến về mọi mặt Giữ vững thế chủ động

đánh địch trên chiến trường

a) Phát triển hậu phương kháng chiến về mọi mặt

+ Về chính trị: Từ ngày 3-7/3/1951, Đại hội toàn quốc thống nhất Mặt trận Việt Minh với Hội Liên Việt thành một mặt trận lấy tên là Mặt trận Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Mặt trận Liên Việt) nhằm đoàn kết những người yêu nước tham gia kháng chiến Ngày 11/3/1951, Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Khơme Itxarắc, mặt trận Lào Itxala họp Hội nghị đại biểu đã thành lập Liên minh nhân dân Việt -Miên- Lào Liên minh thành lập nhằm tăng cường tình đoàn kết giữa nhân dân 3 nước trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là Pháp và can thiệp Mỹ

Phong trào thi đua yêu nước ngày càng lan rộng trong các ngành, các giới, làm nảy

nở nhiều đơn vị và cá nhân ưu tú Ngày 1-5-1952, Đại hội chiến sỹ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thứ nhất đã tổng kết, biểu dương thành tích của phong trào và bầu chọn 7 anh hùng: Cù Chính Lan, La Văn Cầu, Nguyễn Quốc Trị, Nguyễn Thị Chiên, Ngô Gia Khảm, Trần Đại Nghĩa, Hoàng Hanh

+ Về kinh tế: Năm 1952, chính phủ mở cuộc vận động lao động sản xuất và thực hành tiết kiệm Cuộc vận động đã lôi cuốn mọi ngành mọi giới tham gia Năm 1953, vùng tự

do và vùng căn cứ du kích từ Liên khu IV trở ra đã sản xuất được 275.7000 tấn thóc và hơn 650.000 tấn hoa màu Sản xuất thủ công nghiệp và công nghiệp cơ bản đáp ứng được nhu cầu về công cụ sản xuất và những mặt hàng thiết yếu của đời sống Năm 1953, ta sản xuất được 3500 tấn vũ khí đạn dược cung cấp tạm đủ cho bộ đội về thuốc men quân trang quân dụng Mặt khác Chính phủ chấn chỉnh chế độ thuế khóa, xây dựng nền tài chính, ngân hàng và thương nghiệp Để bồi dưỡng sức dân năm 1953, Chính phủ đề ra chính sách triệt để giảm tô và cải cách ruộng đất Từ tháng 4/1953 đến tháng 7/1954, ta thực hiện 5 đợt giảm tô và 1 đợt cải cách ruộng đất ở 53 xá thuọoc vùng tự do Thái Nguyên, Thanh Hóa Từ Liên khu IV trở ra chính quyền cm đã tạm cấp cho nông dân 184000 ha ruộng đất

+ Về văn hóa, giáo dục, y tế: Ta tiếp tục cuộc cải cách giáo dục năm 1950, thực hiện 3 phương châm: phục vụ kháng chiến, phục vụ dân sinh, phục vụ sản xuất, gắn nhà trường với đời sống xã hội Văn nghệ sỹ hăng hái thâm nhập mọi mặt của đời sống, chiến đấu và sản xuất thực hiện lời dạycủa Hồ Chủ tịch "kháng chiến hóa văn hóa và văn hóa hóa kháng chiến" Công tác vệ sinh phòng bệnh, thực hiện đời sống mới, bài trừ mê tín dị đoan ngày càng mang tính chất quần chúng rộng lớn Công tác chăm lo sức khỏe của nhân dân được coi trọng Bệnh viện, bệnh xá, phòng y tế, trạm cứu thương được xây dựng nhiều nơi

Trang 36

b)Giữ vững thế chủ động đánh địch trên chiến trường

Để giữ vững quyền chủ động chiến lược trên chiến trường đẩy địch lùi sâu vào thế bị động đối phó, trong thời gian từ cuối năm 1950 đến giữa 1951, quân ta liên tiếp mở 3

chiến dịch: Chiến dịch Trần Hưng Đạo (trung du) đánh vào hệ thống phòng ngự của địch ở Phúc Yên, Vĩnh Yên Chiến dịch Hoàng Hoa Thám đánh vào hệ thống phòng ngự của địch trên đường số 18 từ Phả Lại đến Uông Bí Chiến dịch Quang Trung(Hà

Nam Ninh) đánh vào hệ thống phòng ngự của địch Ở Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình Đây là những chiến dịch tiến công qui mô lớn của ta đánh vào phòng tuyến kiên cố của địch ở trung du và đồng bằng đã loại khỏi vòng chiến đấu nhiều sinh lực địch, phá vỡ từng mảng kế hoạch bình định của chúng Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân và lựa chọn địa bàn 3 chiến dịch chưa phù hợp với khả năng tác chiến của bộ đội ta lại có lợi cho địch nên kết quả chiến đấu bị hạn chế Rút kinh nghiệm từ 3 chiến dịch trên ta đã đề ra phương châm chiến lược mới là "Đánh chắc thắng" và "tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu" nên đã mở những chiến dịch tiếp theo ở vùng rừng núi

+ Chiến dịch Hòa Bình đông xuân 1951 -1952

Từ cuối 1950 1951, Pháp đã tăng cường mở những cuộc phản công và tiến công quân ta hòng giành lại quyền chủ động đã mất trên chiến trường Bắc Bộ Từ ngày 9 đến 14/11/1951, Đơlát Đơtatxinhi đã tập trung 20 tiểu đoàn bộ binh tinh nhuệ, có pháo binh,

cơ giới và máy bay hỗ trợ mở chiến dịch Lôtúyt đánh chiếm Chợ Bến và Hòa Bình Nhằm tiêu diệt sinh lực địch ở Hòa Bình, phá kế hoạch bình định của chúng ở đồng bằng Bắc Bộ và đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích sau lưng địch; ta sử dụng 3 đại đoàn

304, 308 và 312 làm nhiệm vụ vây hãm và truy kích tiêu diệt quân cơ động của địch trên mặt trận Hòa Bình Hai đại đoàn 316 và 320 làm nhiệm vụ hỗ trợ hoạt động của lực lượng vũ trang và nhân dân vùng sau lưng địch ở Bắc Bộ

Sau hơn 3 tháng chiến đấu ta buộc địch phải rút khỏi Hòa Bình Tại các mặt trận ta đã loại khỏi vòng chiến hơn 22.000 tên Tính riêng mặt trận sau lưng địch, ta loại khỏi vòng chiến hơn 15.000 tên.Hơn 1000 tháp canh, đồn bốt của địch bị ta san phẳng hoặc bức rút các căn cứ du kích của ta ở Bắc Bộ được mở rộng

+ Chiến dịch Tây Bắc thu - đông 1952

Tây bắc là vùng chiến lược quan trọng bị địch chiếm đóng, từ đó chúng uy hiếp căn

cứ Việt Bắc và che chở cho vùng Thượng Lào của chúng Từ ngày 14/10 đến 10/12/1952,

ta mở chiến dịch Tây Bắc, Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt ở Mộc Châu, Thuận Châu, Sơn

La, Yên Bái Kết thúc chiến dịch ta giải phóng 28000 km vuông với 25 vạn dân, gồm toàn tỉnh Nghĩa Lộ, gần hết tỉnh Sơn La,4 huyện ở Lai Châu, 2 huyện ở Yên Bái phá một phần âm mưu lập xứ Thái tự trị của địch

Trang 37

+ Chiến dịch Thượng Lào 1953

Đây là vùng chiến lược quan trọng, là hậu phương an toàn của địch Sau thất bại ở Tây Bắc địch tăng cường phòng thủ ở đây Đầu năm 1953, TW Đảng và C/ phủ ta cùng Chính phủ kháng chiến Lào và Mặt trận Itxala thỏa thuận mở chiến dịch Thượng Lào, nhằm tiêu diệt sinh lực địch giải phóng đất đai, đẩy mạnh cuộc kháng chiến của nhân dân Lào Chiến dịch diễn ra từ ngày 8/4 đến 15/5/1953 Liên quân Việt-Lào đã giải phóng toàn bộ tỉnh Sầm Nưa một phần tỉnh Xiêng Khoảng và tỉnh Phong xa lỳ với 30 vạn dân Phối hợp với chiến trường chính, từ 1951 đến 1953, ở các chiến trường Trung Bộ và Nam Bộ quân ta đã tận dụng các hình thức chiến tranh du kích, tiêu diệt, tiêu hao nhiều sinh lực địch, phá hủy nhiều tổ chức tề, ngụy và nhiều cơ sở kinh tế của chúng

3.4 Cuộc tiến công C/lược Đông Xuân 1953-1954 và C/ thắng Điện Biên Phủ a) Âm mưu mới của Pháp - Mỹ ở Đông Dương "Kế họch Nava"

Sau 8 năm kháng chiến và kiến quốc lực lượng của ta lớn mạnh đáng kể như tướng

Nava nhận xét: Việt minh là một quốc gia rõ rệt, họ có chính quyền, ảnh hưởng của họ lan cả vào vùng kiểm soát của quân đội viễn chinh Tại đó họ tuyển đươc người, thu được thuế, thực hiện các chính sách thu mua được các thứ cần thiết cho chiến tranh Từ năm

1945 đến nay họ chỉ có một chính phủ, một lãnh tụ Hồ Chí Minh và một Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp Trong khi nước Pháp đã 17 lần thay đổi Chính phủ, 5 lần thay đổi Cao ủy

7 lần thay đổi Tổng chỉ huy

Phía Pháp sau 8 năm chiến tranh thất bại dồn dập, cùng những khó khăn về kinh tê

ở Đông Dương đã tác động mạnh đến tình hình chính trị nước Pháp, gây nên cuộc khủng hoảng nội các Phong trào đấu tranh của nhân dân Pháp đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược Đông Dương lên cao Quân Pháp ở Đông Dương thiệt hại ngày càng nặng nề, đến năm 1953, bị ta loại khỏi vòng chiến hơn 39 vạn quân Pháp đã tiêu tốn đến 2000 tỉ Phrăng, vùng chiếm đóng bị thu hẹp Quân Pháp trên chiến trường ngày càng đi vào thế phòng ngự bị động do đó thực dân Pháp buộc phải dựa hẵn vào Mỹ, xin thêm viện trợ để đẩy mạnh chiến tranh với mong muốn giành một thắng lợi quân sự quyết định kết thúc chiến tranh Trước tình thế sa lầy và thất bại của Pháp, Mỹ can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh Đông Dương, ép Pháp phải kéo dài và mở rộng chiến tranh, tích cực chuẩn bị thay thế Pháp Ngày 7 tháng 5 được sự nhất trí của Mỹ, Chính phủ Pháp đã cử Tướng Nava làm tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương (thay tướng Xalăng) Sau một tháng nghiên cứu tình hình Đông Dương Nava đề ra kế hoạch chính trị - quân sự mang tên ông với hy vọng trong 18 tháng giành lấy một thắng lợi quyết định để "kết thúc chiến tranh trong danh dự"

Kế hoạch quân sự Nava được chia làm 2 bước:

Trang 38

Bước thứ nhất, trong thu- đông 1953-1954, giữ thế phòng ngự chiến lược ở Bắc Bộ,

tấn công chiến lược để bình định miền Trung và Nam Đông Dương, giành lấy nguồn nhân lực, vật lực, xóa bỏ vùng tự do Liên khu V, đồng thời mở rộng ngụy quân, tập trung binh lực xây dựng đội quân cơ động chiến lược mạnh

Bước thứ hai, từ thu - đông 1954, chuyển lực lượng ra chiến trường Bắc Bộ, thực

hiện tiến công chiến lược cố giành thắng lợi quân sự quyết định buộc ta phải đàm phán với những điều kiện có lợi cho Pháp nhằm kết thúc chiến tranh Để thực hiện kế hoạch Nava, Pháp điều thêm 12 tiểu đoàn rút từ châu Âu và bắc Phi qua, xin thêm Mỹ viện trợ gấp đôi năm trước chiếm tới 73% chi phí chiến tranh ở Đông Dương Mặt khác Pháp ra sức tăng cường ngụy quân, đưa lực lượng này lên 334 000 quân vào đầu năm 1954

Từ thu đông 1953, Nava tập trung lực lượng quân cơ động ở đồng bằng Bắc Bộ lên đến 44 tiểu đoàn (trong tổng số 84 tiểu đoàn trên toàn Đông Dương), tiến hành những cuộc càn quét bình định vùng chiếm đóng, mở rộng hoạt động thổ phỉ, biệt kích ở vùng núi phía Bắc Mở cuộc tấn công lớn vào Ninh Bình, Thanh Hóa (10/1953) để phá kế hoạch tiến công của ta

b) Cuộc tiến công chiến lược đông xuân 1953 - 1954

Đứng trước âm mưu mới của kẻ thù, Hội nghị Bộ Chính trị TW Đảng họp tháng

9/1953 đề ra kế hoạch tác chiến Đông -Xuân 1953-1954 với quyết tâm giữ vũng quyền chủ động đánh địch trên cả hai mặt trận chính diện và sau lưng địch, phối hợp hoạt động trên phạm vi cả nước và toàn Đông Dương Phương hướng của ta trong Đông

Xuân là" Tập trung lực lượng mở những cuộc tiến công vào những hướng quan trọng

về chiến lược mà địch tương đối yếu, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng đất đai, đồng thời buộc chúng phải bị động phân tán lực lượng đối phó với ta trên những điạ bàn xung yếu mà chúng không thể bỏ, do phải phân tán lực lượng mà tạo ra cho ta những điều kiện thuận lợi mới để tiêu diệt thêm từng bộ phận sinh lực của chúng".Phương châm chiến lược chung trong toàn bộ cuộc tiến công Đông -Xuân là

Tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt" "Đánh chắc thắng" (chắc thắng thì đánh cho kỳ thắng, không chắc thắng thì kiên quyết không đánh) Thực hiện phương châm

chiến lược đó quân ta mở một loại chiến dịch tiến công địch trên nhiều hướng, ở hầu khắp chiến trường Đông Dương

Ngày 20/11/1953, phát hiện bộ đội chủ lực ta di chuyển lên Tây Bắc, Nava cho

6 tiểu đoàn tinh nhuệ nhảy dù xuống Điện Biên Phủ Ngày 10/12/1953, quân ta bao vây uy hiếp địch ở Điện Biên Phủ, bộ phận còn lại mở cuộc tiến công địch ở thị xã Lai Châu, Na va buộc phải đưa thêm 6 tiểu đoàn ở Đ/ bằng Bắc Bộ lên tăng cường cho Điện Biên Phủ Như thế sau đồng bằng BB, Điên Biên Phủ trở thành nơi tập trung quân thứ hai của địch

Trang 39

Đầu tháng 12, liên quân Việt Lào mở cuộc tiến công địch ở Trung Lào, loại

khỏi vòng chiến 3 tiểu đoàn Âu -Phi giải phóng 4 vạn km2 và thị xã Thà Khẹt, bao vây

uy hiếp Xavănnakhét và căn cứ Senô Địch buộc phải tăng cường lực lượng cho Sênô

và Sênô trở thành nơi tập trung quân thứ thứ ba của chúng Ở Hạ Lào, một đơn vị

nhỏ quân tình nguyện Việt nam phối hơpự với quân đội Pha thét Lào men theo dãy Trường Sơn tiến xuống giải phóng thị xã Atôpơ và toàn bộ cao nguyên Bôlôven, loại khỏi vòng chiến 1000 địch, sau đó phối hợp với quân giải phóng Cămpuchia giải phóng Vươn sai và Xiêm pang, uy hiếp Tungstreng, nối liền khu du kích Cămpuchia với căn cứ Hạ Lào

Ngày 20/01/1954, Nava tập trung 20 tiểu đoàn bộ binh mở "Chiến dịch Átlăng" đánh chiếm Tuy Hòa (Phú Yên) ròi mở rộng đánh chiếm vùng tự do của ta ở

Liên khu V theo kế hoạch đã định Giữ vững quyền chủ động đánh địch, đầu tháng

2/1954, bộ đội chủ lực ta mở cuộc tiến công địch ở Bắc Tây Nguyên, loại khỏi vòng chiến đấu 2000 địch, giải phóng thị xã và toàn tỉnh Kon Tum, đồng thời bao vây uy hiếp Plâycu Địch buộc phải bỏ dở cuộc tiến công Tuy Hòa để tăng cường lực lượng cho Plâycu và Plâycu trở thành nơi tập trung quân thứ tư của chúng

Để đánh lạc hướng phán đoán của địch, tạo điều kiện cho quân ta đẩy mạnh công tác chuẩn bị ở Điện Biên Phủ, bộ đội chủ lực ta phối hợp với quân đội Pha thét Lào mở chiến dịch ở Thượng Lào giả phóng khu vực sông Nậm Hu Thừa lúc địch hoang mang

một bộ phận tiến lên phía Bắc giải phóng hoàn toàn tỉnh Phong xa lì Lo sợ Liên

quân Lào - Việt thừa thắng đánh vào Luông Phabăng; Nava phải dùng cầu hàng không

đưa quân từ ĐB Bắc Bộ tăng cường cho Luông phabăng và Mường Sài, 2 vị trí này trở thành nơi tập trung quân thứ 5 của địch

Phối hợp với mặt trận chính, phong trào chiến tranh du kích phát triển mạnh ở vùng sau lưng địch Ở Nam Bộ, bộ đội chủ lực khu và tỉnh đẩy mạnh tiến công vào vùng địch tạm chiếm, tiêu diệt nhiều địch, hỗ trợ quần chúng đấu tranh quân sự, chính trị kết hợp với địch vận Ở Nam Trung Bộ, chiến tranh du kích phát triển mạnh, tiêu diệt hoặc bức rút nhiều căn cứ của địch, giải phóng vùng rộng lớn như Diện Bàn, Hòn Khói, Tây Bắc Khánh Hòa, vùng Tánh Linh và Lương Sơn (Bình thuận)

Ở Bình Trị Thiên, bộ đội ta hoạt động mạnh trên đường số 9, phá hủy nhiều cầu cống, diệt nhiều địch, diệt và bứ rút 6 căn cứ địch giải phóng toàn huyện Hướng Hóa Trên đường quốc lộ số 1 và đường sắt, quân ta diệt nhiều xe và đoàn tàu địch

Ở đồng bằng Bắc Bộ, quân ta hoạt động mạnh Phòng tuyến sông Đáy bị phá vỡ, căn cứ của ta ở tả ngạn và hữu ngạn sông Hồng được mở rộng Đường số 5 - tuyến giao thông huyết mạch của địch liên tiếp bị phục kích, nhiều lúc tê liệt làm nhiều đoàn tàu và

Trang 40

Gia Lâm (HN), Cát Bi (Hải phòng) bị bộ đội ta tập kích Quân ta tiêu diệt nhiều địch, phá hủy máy bay, các phương tiện chiến tranh cùng nhiều kho tàng của chúng

Tóm lại: Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 của ta đã làm phá sản bước đấu kế hoạch Nava của Pháp - Mỹ, buộc quân chủ lực chúng phải bị động phân tán

và giam chân tại miền rừng núi bất lợi cho chúng Cuộc tiến công thắng lợi đồng thời là

sự chuẩn bị những điều kiện vật chất và tinh thần cho quân dân ta mở đợt tiến công có tính chất quyết định vào tập đoàn cứ điểm Điện biên Phủ của địch

a) Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ

Theo đánh giá của Nava và nhiều nhà quân sự Pháp - Mỹ thì "Điện Biên Phủ ở vào một vị trí lược quan trọng chẳng những đối với Đông Dương mà còn đối với Đông Nam Á" Nó như một chiếc bàn xoay có thể xoay đi bốn phía Việt Nam, Lào, Miến Điện, Trung Quốc, như cái chìa khóa bảo vệ Thượng Lào từ đó có thể đánh chiếm những vùng

đã mất ở Tây Bắc trong những năm 1950, 1953 và tạo điều kiện để đánh tiêu diệt quân chủ lực của ta tại đây Khi bắt đầu triển khai kế hoạch Nava, phát hiện hướng tiến công chủ yếu của quân ta lên Tây Bắc Việt Nam và Thượng Lào, td Pháp điều lực lượng lớn quân đội lên hướng đó, cho quân nhảy dù xuống cánh đồng Mường Thanh chiếm Điện Biên Phủ để bảo vệ vùng có ý nghĩa chiến lược này

Điện Biên Phủ là một thung lũng rộng lớn ở phía tây vùng rừng núi Tây Bắc, có lòng chảo Mường Thanh dài gần 20 km, rộng từ 6-8 km, cách Hà Nội khoảng 300 km, cách Luông phabăng khoảng 200km đường chim bay Thung lũng này gần biên giới Việt

- Lào trên một đầu mối giao thông quan trọng, có tuyến đi Lào, có con sông Nậm Rốm chảy theo hướng Bắc - Nam đổ xuống sông Nậm Hu, có sân bay Mường Thanh được xây dựng từ năm 1889 Dân số Điện Biên khoảng 2 vạn người gồm 11 dân tộc khác nhau (kinh, Mông, Thái Nùng, Mường, Tày Lào, Xá, Puộc, Hoa, )

Điện Biên Phủ được Pháp có Mỹ giúp đỡ (về cố vấn, kỹ thuật, trang bị ) xây dựng thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương,và trở thành trung tâm điểm của kế hoạch quân sự Nava Số lượng quân địch chiếm đóng ở đây tăng dần từ 6 tiểu đoàn lên 13 tiểu đoàn lúc cao nhất có tới 16.200 quân gồm 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội tăng, 1 đại đội vận tải, 1 phi đội 12 máy bay Lực lượng của chúng được bố trí thành hệ thống phòng ngự mạnh gồm 49 cứ điểm chia làm 3 phân khu: Phân khu Trung tâm có chỉ huy sở nhiều trung tâm đề kháng, nhiều

cứ điểm bao quanh sân bay Mường Thanh; phân khu Bắc có 2 trung tâm đề kháng là Độc Lập, Bản Kéo, phân khu Nam có trung tâm đề kháng Hồng Cúm, có trận địa pháo và sân bay Sự hình thành hệ thống phòng thuơr Điện Biên Phủ lúc đầu là để "cứu nguy Lai Châu", "bảo vệ Thượng Lào" nhưng về sau được tạo thành một "cái bẫy hiểm ác", một

"cái máy nghiền khổng lồ" nhằm vào quân chủ lực của ta Cơ sở thực tế cho những tính

Ngày đăng: 20/11/2017, 12:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w