1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

GIÁO TRÌNH học PHẦN PPLuận sử học

51 397 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 803,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài tập chuẩn bị cho giờ Xemina: Chủ đề:1 Phân tích những nhận thức sai lầm phổ biến trong học sinh, thanh niên về môn lịch sử ở nhà trường phổ thông 2 Chọn một sự kiện lịch sử để chứn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH

KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI

===================

GIÁO TRÌNH PHƯƠNG PHÁP LUẬN SỬ HỌC

(Dành cho ĐHSP Lịch sử)

Giảng viên: Lê Trọng Đại

NĂM HỌC 2013-2014

Trang 2

GIÁO TRÌNH: PHƯƠNG PHÁP LUẬN SỬ HỌC

Giới thiệu vài nét về nội dung, tài liệu tham khảo và học tập HP

1 Nội dung học phần: Giới thiệu những vấn đề chủ yếu mang tính chất đại

cương về phương pháp luận sử học gồm qúa trình hình thành, phát triển, nội dung cơ bản, khái niệm, ý nghĩa và phương pháp học tập về phương pháp luận

sử học; tính chất, đặc trưng của nhận thức lịch sử và một số quan điểm phương pháp luận Mácxít - Lêninnít về nhận thức lịch sử Mặt khác, học phần còn trang

bị cho người học những tri thức về phương pháp nghiên cứu lịch sử: Cách làm bài tập, báo cáo, luận văn tốt nghiệp; một số vấn đề phương pháp luận sử học trong tư tưởng Hồ Chí Minh

2 Tài liệu học tập và tham khảo:

[1] Phan Ngọc Liên (cb) (1999), Phương pháp luận sử, Nxb ĐHQGHN

[2].Văn Tạo (1995), Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgích, Viện Sử

học Việt Nam

[3] Lê Tưởng Thành (1993), Lôgích học và phương pháp nghiên cứu khoa học, Nxb Trẻ TP Hồ Chí Minh

[4]. Lê Hữu Nghĩa (1987), Lịch sử và lôgích, Nxb SGK Mác-Lênin, HN

[5]. Nguyễn Phương (1974), Phương pháp sử học, Nxb Sao Mai, Sài Gòn

[6]. Trường Đại học Tuyên giáo Trung ương (1992), Khoa học luận, Nxb

Thông tin lý luận

[7] Vũ Cao Đàm (1999), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Khoa

học kỹ thuật, HN

3 Bài tập chuẩn bị cho giờ Xemina:

Chủ đề:1) Phân tích những nhận thức sai lầm phổ biến trong học sinh, thanh niên về môn lịch sử ở nhà trường phổ thông

2) Chọn một sự kiện lịch sử để chứng minh hiện thực khách quan của nó song được nhận thức khác nhau Những cơ sở nhận thức một cách khách quan khoa học sự kiện ấy

3) Ý nghĩa, tính chất, đặc điểm của việc nghiên cứu khoa học của SV

4) Những điều kiện để thực hiện một công trình sử học

5) Tìm hiểu các bước tiến hành nghiên cứu lịch sử

Trang 3

CHƯƠNG I KHÁI LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN SỬ HỌC (3 TIẾT)

1 Sơ lược về sự phát triển lý luận sử học

Tìm hiểu một bộ môn khoa học hay bất cứ một sự kiện lịch sử nào thì

chúng ta bao giờ cũng cần phải dựa trên quan điểm biện chứng Tức là xét xem

nó từ đâu mà có (nguồn gốc), đã trải qua các giai đoạn phát triển nào để trở

thành như ngày nay và tương lai nó sẽ ra sao (triển vọng) PPluận sử học cũng

trải qua quá trình nghiên cứu như vậy

a) Vấn đề PP luận của các khoa học: gần đây PPluận của các khoa học đã

và đang thu hút được sự chú ý của đông đảo các nhà khoa học, nhiều cuộc hội

thảo được tổ chức, nhiều công trình nghiên cứu được công bố Trong phạm vi sử

học nước ta, các vấn đề PPL cũng được nghiên cứu sâu rộng và thảo luận sôi

nổi, đặc biệt từ sau hội thảo KH đầu tiên về PPL sử học năm 1966

Thực ra nội dung vấn đề PPluận và thuật ngữ PPL đã có từ lâu Nó ra đời

cùng với sự xuất hiện của khoa học (từ khi xã hội có giai cấp xuất hiện đến nay)

Sự pt của mỗi khoa học được chi phối và chịu ảnh hưởng của quan điểm lập

trường tư tưởng của giai cấp nhằm sử dụng thành tựu của khoa học vào cuộc

đấu tranh cho quyền lợi của mình Khoa học XH gắn liền với các g/c trong

cuộc đấu tranh xã hội càng thể hiện những quan điểm của giai cấp trong việc

giải thích lịch sử

Ở mỗi thời đại, mỗi giai cấp, việc nghiên cứu khoa học luôn đứng trước

một loạt vấn đề đặt ra và đòi hỏi phải giải quyết trong quá trình nhận thức xã hội

và tự nhiên Đó là các vấn đề như: Nghiên cứu cái gì? (đối tượng), Nghiên cứu

để làm gì? (chức năng nhiệm vụ), nghiên cứu ntn? (phương pháp)… đó là những

vấn đề truyền thống của PPL KH Tuy nhiên nội dung giải quyết các vấn đề

nàylại khác nhau ở mỗi thời kỳ, ở các giai cấp khác nhau Bên cạnh đó cùng với

sự phát triển của KHXH mà nhiều vấn đề mới của PPL KH cũng được đặt ra

như vấn đề về sử dụng các thành tựu của KHTN vào việc N/C KHXH và nhân

văn, việc xử lý tính dân tộc, tính giai cấp, tính nhân loại trong N/C KH…

Do đó trong N/C PPL khoa học nói chung PPL Sử học nói riêng thường

diễn ra cuộc đấu tranh về quan điểm Vì không thể có lĩnh vực KH nào nhất là

KHXH lại không vận dụng những thành tựu tư tưởng và triết học của một g/c để

giải quyết những vấn đề đang nghiên cứu, nhất là vấn đề lý luận cơ bản Theo

Ăng ghen: “Dù những nhà KH có thái độ như thế nào đi nữa thì họ cũng vẫn bị

triết học chi phối Vấn đề ở chỗ, họ muốn được chi phối bỡi một thứ triết học sai

Trang 4

lầm hay họ muốn được hướng dẫn bởi một hình thái tư duy lí luận trên sự hiểu biết về lịch sử tư tưởng và những thành tựu của nó”

b) Tuy nhiên một hệ thống lý luận về nhận thức lịch sử phải trải qua một thời

gian dài mới được hình thành và hệ thống lý luận đó lại bị chi phối bởi những cơ

sở triết học khác nhau và tính phức tạp của đối tượng nhận thức

Theo Lênin: “Nhận thức là một sự tiếp cận vĩnh viễn, không cùng của tư duy

về đối tượng nhận thức” Sự phản ánh của tự nhiên và xã hội của con người không cứng đờ, không bất động, không trừu tượng, không một chiều mà diễn ra trong một quá trình vận động không ngừng, một quá trình nảy sinh và giải quyết các mâu thuẫn”

Khi xác định cho mình việc nhận thức và khôi phục lịch sử xã hội loài người từ trước đến nay, nhà sử học không thể tiến hành một cách máy móc, tùy tiện mà phải được chỉ đạo bỡi một cơ sở PP luận và được tiến hành bằng những

pp nghiên cứu phù hợp với đặc trưng và nội dung lịch sử

Để nhận thức cơ sở PPL sử học Mác - Lênin trong n/c, chúng ta cần tìm hiểu sơ bộ những nguyên tắc PPLSH của các trào lưu khác nhau ra đời trong lịch sử

c) Sơ lược về sự pt lý luận sử học trong khoa học lịch sử

Những yếu tố của nhận thức lịch sử đã có từ khi con người xuất hiện Nhận thức lịch sử phát triển theo trình độ nhận thức của con người nói chung đặc biệt

là khi lịch sử trở thành một khoa học thì lý luận sử học cũng dần dần phát triển

+ Thời cổ đại, những tiền đề quan trọng của nhận thức lịch sử đã được thể

hiện trong các truyền thuyết, cổ tích, thần thoại Tuy nhiên chủ yếu là sự nhận thức về thời gian; Nhận thức về cái đã qua đến cái đang diễn ra, và cái sẽ tiếp

tục ở tương lai Tuy nhiên ý niệm về quá khứ của người xưa còn rất mơ hồ…

Mặt khác sự nhận thức lịch sử thời đó vẫn mang nặng tính chất thần bí tôn giáo

Nhận thức lịch sử bị hòa lẫn vào các câu chuyện huyền thoại, truyền thuyết Tôn giáo đã thần thánh hóa hiện tại gắn nó với quá khứ huyền bí và một tương lai xa vời Tuy nhiên gạn lọc những tài liệu chân thực trong đó các nhà khoa học vẫn tìm ra cốt lõi lịch sử phản ánh được hiện thực quá khứ thời xa xưa

Khi chữ viết được phát minh, nó đã nhanh chóng đóng vai trò quan trọng trong việc nhận thức sự vận động của thời gian, nó ghi lại những những điều đã xảy ra làm cho nhận thức lịch sử có cơ sở xác thực hơn Sự hiểu biết về quá khứ

Trang 5

lúc bấy giờ chỉ mới giới hạn ở việc miêu tả và ghi chép những sự kiện xảy ra mà chưa có hệ thống lý luận sử học Tuy nhiên mọi ghi chép đều do những quan niệm nhất định chi phối

Hình thức ghi chép lịch sử đầu tiên ở cổ đại là hình thức biên niên sử Được xây dựng trên quan niệm rất thiết thực, nhằm nhắc lại cho người ta biết và ghi nhớ những gì cốt yếu nhất đã xảy ra trong quá khứ liên quan đến cuộc sống

ngày nay Tuy nhiên lịch sử lúc đó cũng phản ánh quan điểm, quyền lợi của giai cấp quí tộc thống trị

Các nhà sử học Hy - Mã cổ đại đã quan niệm: hiểu biết lịch sử là việc nắm được những gì xảy ra trong quá khứ đặc biệt là những sự kiện về đời sống chính trị, kinh tế nhất là những cuộc chiến tranh và công việc ngoại giao Hêrôđôt trong tác phẩm “Lịch sử cuộc chiến tranh Hy - Ba” không chỉ miêu tả sự kiện

mà còn đi sâu giải thích một số hiện tượng, như nêu sự khác biệt giữa 2 nền văn minh Hy lạp và Ba Tư, tìm nguyên nhân các cuộc chiến tranh ở sự đối lập của các nền văn minh…Từ đó các nhà sử học phương Tây cổ đại thấy rằng ghi chép

sự kiện quá khứ là chưa đủ “mà việc nghiên cứu lịch sử chỉ có ích khi nào bổ sung những câu chuyện đó bằng việc trình bày nguyên nhân của sự kiện” Tuy nhiên quan niệm về lịch sử lúc đó vẫn còn nhiều hạn chế như nhận thức lịch sử chủ yếu là việc thu nhận quá khứ, làm cho mỗi người nhớ lại thời đã qua, xem

nó là một loại hình nghệ thuật như thơ ca, tin vào số phận và sự can thiệp của các lực lượng siêu nhiên vào đời sống con người Nhìn chung về mặt lý luận sử học cổ đại đã xây dựng một cơ sở triết học cho việc nhận thức quá khứ

Ở phương Đông, sử học cũng ra đời khá sớm và được chỉ đạo bởi một quan niệm nhất định, như dùng quan niệm “thiện”, “ác“ để xem xét đánh giá lịch sử Thời cổ đại ở Trung Quốc vẫn chưa có quan điểm lý luận sử học

+ Thời phong kiến

Lý luận về sử học đã có bước tiến, làm cơ sở cho sự phát triển của nghiên cứu lịch sử Ở Trung Quốc thời Đường, Lưu Tri Kỷ (661 - 721) trong cuốn “Sử thông” đã tổng kết một cách hệ thống thực tiễn nghiên cứu lịch sử từ nhà Tần về sau, nêu lên hệ thống lý luận và phương pháp sử học Trong sách này ông xác định mục đích nghiên cứu không chỉ “khuyên răn điều thiện, ngăn điều ác mà còn biết sử dụng lịch sử vào những việc cấp bách của đời sống con người” Ông phản đối việc giải thích sự hưng vong của các triều đại, đất nước, sự thành bại

Trang 6

của con người dựa vào “mệnh” và “vận” Ông đưa ra cách phân kỳ lịch sử gồm các giai đoạn “thượng cổ”, “trung cổ”, “cận cổ” và đề ra tư cách của người làm

sử phải có “tài học và tri thức”

Ở phương Tây vào thời trung đại, sử học bị biến thành tên nô bộc của thần học, nhà thờ Thiên chúa giáo nắm lấy lịch sử làm công cụ thống trị tinh thần nhân dân Các biên niên sử thời kỳ này thể hiện quan điểm “lịch sử diễn ra dưới trần gian là do kế hoạch và ý định của Chúa” Đây là quan điểm phản khoa học

và chứa đựng nhiều mâu thuẫn Từ quan niệm đó, nên phương pháp nghiên cứu, học tập lịch sử được thể hiện chủ yếu ở thể loại kể chuyện cổ tích để gây hứng thú cho người nghe

+ Thời cận đại

Cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật, sự nhận thức về lịch sử, cũng như các ngành khoa học khác dần dần có cơ sở lý luận một cách hệ thống Nhiều vấn đề lý luận sử học được đề ra và giải quyết như tính chất, đặc điểm của đối tượng sử học, vấn đề nhận thức qui luật lịch sử

Ở phương Tây, tiêu biểu cho lý luận sử học thời cận đại là nhà triết học Italia Giôvannibattista Vicô (1668 - 1844) Trong quyển “Về nguyên lý khoa học mới chung của các dân tộc” Vicô cho rằng, quá trình phát triển cụ thể của lịch sử các dân tộc tuy có những điểm khác nhau nhưng đều trải qua “thuở ấu thơ” (thời đại của thần thống trị) qua thời đại anh hùng của “thời thanh niên”, do đại quí tộc thống trị và đến “thời đại người thường” của thời “tráng niên” tức là thời kỳ quân chủ lập hiến hoặc nền chính trị dân chủ cộng hòa Tuy sự phân kỳ này không có cơ sở khoa học, nhưng đã nêu lên được qui luật của sự phát triển

xã hội và đề cập một cách hệ thống các vấn đề lý luận về con đường nhận thức

và phương pháp nghiên cứu sử học

Các nhà triết học ánh sáng thế kỷ XVII- XVIII, đặc biệt là các nhà triết học Pháp đã chống lại các quan niệm thần học về “thiên mệnh”, “sự mầu nhiệm” trong lịch sử xã hội và lịch sử xã hội là lịch sử của con người phát triển theo những nguyên nhân và quy luật tự nhiên Hecde - Nhà triết học ánh sáng Đức đã viết: “Lịch sử là khoa học về những gì đã xảy ra trong thực tế, chứ không phải là những gì có thể xảy ra theo những đường nét huyền bí của số mệnh” Các nhà khai sáng đã xem “lịch sử như sự đi lên từ thấp đến cao, không thể nghiêng ngả” “lịch sử là lịch sử toàn diện chứ không phải chỉ có lịch sử chính trị”

Trang 7

(Vônte); hay “hoàn cảnh địa lý và xã hội có ảnh hưởng đến con người” (Mông texkiơ) Những quan điểm này đánh dấu bước phát triển tiến bộ của lịch sử xã hội Ngoài ra triết lý lịch sử của phái duy tâm cổ điển Đức (nửa sau thế kỷ XVIII) là một bước tiến hơn nữa của tư duy lý luận trong sử học, khi xem động lực sự phát triển xã hội là nhân tố bên trong hợp qui luật

Quan điểm Hêghen là đỉnh cao của triết lý sử học tư sản Mặc dù hình thức của nó còn nhiều yếu tố trừu tượng và duy tâm song đã vạch được sự phát triển

đi lên hợp qui luật của lịch sử thế giới Hêghen đã nêu lên sự phủ định của phủ định” trong sự phát triển xã hội Đó là sự thay đổi sâu sắc, biện chứng về lượng

và chất của các giai đoạn, là cái mới nảy sinh từ cái cũ và cái mới đến lượt nó lại già đi, nhường chỗ cho cái mới khác Tuy còn những hạn chế nhưng Heghen đã đặt vấn đề và đưa ra hướng giải quyết một cách biện chứng việc nhận thức lịch

sử xã hội Ở phương Đông, lý luận sử học vào thời kỳ lịch sử đang chuyển dần sang thời cận đại cũng có những bước tiến đáng kể, tuy quan niệm phong kiến vẫn còn ngự trị Vào thế kỷ XVIII, nhà sử học Trung Quốc, Chương Ngọc Thành trong quyển “Văn sử thông nghĩa” đã nói về “sử ý”(ý nghĩa lịch sử) là học tập lịch sử phải nắm cho được ý nghĩa của sự thực lịch sử (sử nghĩa) Vì một tác phẩm lịch sử gồm 3 phần khăng khít với nhau: sử (sự thực ls), văn (cách hành văn trong viết sử) và nghĩa (ý nghĩa lịch sử) Ở Việt Nam, từ sau Lê Văn Hưu đến Quốc sử quán triều Nguyễn, sử học đã có bước tiến nhiều mặt, trong đó

có vấn đề quan điểm lý luận

Sự ra đời của chủ nghĩa Mác đánh dấu một cuộc cách mạng trong nhận thức lịch sử Trong tác phẩm đầu tiên của mình “Hệ tư tưởng Đức”; Mác và Ăngghen

đã trình bày một cách hệ thống quan điểm duy vật lịch sử của mình Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định rằng lịch sử không phải do một cá nhân hay một lực lượng siêu nhiên nào sáng tạo ra, mà là “những hoạt động của con người theo đuổi mục đích của mình” Sự phát triển ấy trải qua các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, kế tiếp trong lịch sử một cách hợp qui luật, theo tác động của quần chúng nhân dân- nhân tố quyết định của sự phát triển của xã hội Nhân tố tích cực nhất đối với sự phát triển lịch sử xã hội là lực lượng sản xuất; và trong xã hội có giai cấp thì đấu tranh giai cấp là động lực phát triển lịch sử Quan điểm duy vật của chủ nghĩa Mác đã cho chúng ta tìm ra những qui luật trong tình trạng rối rắm và hỗn độn vẻ bề ngoài của xã hội Nhờ vậy sử học Mácxít vượt lên, khác với sử học trước đó, bởi vì khoa học xã hội và sử học trước Mác thì

Trang 8

nhiều lắm chỉ tích lũy được những sự kiện, góp nhặt một cách tình cờ và chỉ trình bày một số mặt nào đó của quá trình lịch sử Chủ nghĩa Mác đã “mở đường cho việc nghiên cứu rộng rãi và toàn diện quá trình phát sinh phát triển và sụp

đổ của các hình thái kinh tế -xã hội…”

Phương pháp luận sử học Mácxít được Lênin phát triển khi Người bảo vệ những quan điểm duy vật lịch sử Lênin còn phân tích sâu hơn vấn đề về phương pháp nghiên cứu lịch sử mà Mác đã xây dựng Người chỉ rõ:“Phương pháp của Mác trước hết xem xét nội dung khách quan của quá trình lịch sử trong một thời điểm lịch sử nhất định và trong những hoàn cảnh cụ thể nhất định, tìm hiểu xem trước hết hoạt động của giai cấp nào là động lực chính của sự tiến bộ có thể xảy

ra trong hoàn cảnh cụ thể ấy”

Lênin đã nhấn mạnh một nguyên tắc rất quan trọng đối với việc nghiên cứu lịch sử là phải có “…một thói quen thật sự đối với vấn đề này (tức quan điểm lịch sử của Mác) một cách đúng đắn và không lạc vào đống chi tiết vụn vặt trong muôn vàn ý kiến xung đột nhau Điều quan trọng nhất để có lập trường khoa học đối với vấn đề này là “không quên mối liên hệ lịch sử cơ bản, xem xét mỗi vấn

đề trên quan điểm là một hiện tượng nào đó trong lịch sử đã ra đời như thế nào, những giai đoạn chủ yếu trong sự phát triển của nó mà xem một vật nhất định hiện nay trở thành cái gì”

Trong giai đoạn hiện nay vấn đề PPL sử học được sự chú ý của đông đảo các nhà nghiên cứu lịch sử và cũng diễn ra cuộc tranh luận sôi nổi, một cuộc đấu tranh gay gắt, có liên quan mật thiết đến sự tồn tại của hệ thống chính trị - xã hội khác nhau, đến phong trào độc lập dân tộc đến những cuộc cải cách, cải tổ,đổi mới ở nhiều nước Có lẽ chưa bao giờ những vấn đề PPL sử học, những vấn đề

sử học nói chung, gắn với những vấn đề chính trị sâu sắc như vậy

Có những nhà sử học tư sản vạch trần những mặt tiêu cực, xấu xa của CNTB, song lại tỏ ra bất lực với việc rút ra những bài học kinh nghiệm cho ngày

nay Ví dụ một sử gia Pháp đã nhìn thấy ở “lịch sử là cái sản phẩm nguy hiểm nhất… Nó bắt người ta mơ ước, dấy lên ở nhân dân những hồi tưởng…nhưng tuyệt đối không dạy cho chúng ta điều gì cả” Nhiều nhà sử học tư sản hiện đang

ra sức chống phá chủ nghĩa cộng sản, đặc biệt là phủ nhận học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, về đấu tranh giai cấp…Họ ra sức xuyên tạc lịch sử để phủ nhận

sự tồn tại của các nước XHCN, tiên đoán về sự chấm dứt của CNCS cùng với

Trang 9

thế kỷ XX”(Philippe Moreau de Defarges: Les relations Internationales dans le monde…Ed STH Paris, 1992)

Sử học Mácxít Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu trước đây, ở Trung Quốc, Việt Nam có nhiều thành tựu to lớn, đã đấu tranh mạnh mẽ có hiệu quả chống những khuynh hướng sai lầm, phản động ở các nước TBCN Tuy nhiên sử học Mácxít ở các nước này cũng phạm những sai lầm về chủ nghĩa giáo điều, công thức, biệt lập với thành tựu tiến bộ của các nước, nên cũng hạn chế nhiều sự phát triển của sử học

Cùng với việc cải cách, đổi mới sử học Mácxít cũng đổi mới cải cách trên cơ

sở bảo vệ vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác Lênin, phù hợp với tình hình điều kiện mới của thế giới

Trong xu hướng chung của thời đại, nổi bật lên với việc quốc tế hóa đời sống xã hội, với việc xích gần lại giữa các dân tộc, sử học thế giới qua các đại hội, hội thảo khoa học, các sách, tạp chí… cũng thể hiện tinh thần đấu tranh cho việc nhận thức đúng lịch sử quá khứ, xây dựng sự hiểu biết, tình hữu nghị, đấu tranh cho hòa bình, tiến bộ, văn minh (Đại hội sử học quốc tế ở Canađa

1995 đã thể hiện quan điểm đó)

Sử học VN trong công cuộc đổi mới đất nước, do Đảng Cộng sản VN khởi xướng và lãnh đạo, đứng vững trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp thu di sản sử học của tổ tiên và nhân loại để xây dựng một nền sử học Mácxít hiện đại Việc đổi mới được thể hiện trong quan điểm, PPL, nội dung của nghiên cứu và dạy học lịch sử Các cuộc Hội thảo về “đổi mới nghiên cứu lịch sử”, “đổi mới dạy học lịch sử”, nhiều bài nghiên cứu đánh giá một số sự kiện lịch sử VN và thế giới chứng tỏ chúng ta cởi mở hơn trong tư duy khi nhìn nhận lại những vấn đề, những con người mà từ lâu nay vẫn bị xem

là tiêu cực, thậm chí phản động nữa, thanh minh cho họ thậm chí lật ngược lại cách đánh giá cũ Tuy vậy những biểu hiện mới đó vẫn không ngăn cản được sự xuống cấp đáng buồn của môn lịch sử trước hết là trên lĩnh vực giáo dục trong nhà trường

Những thành tựu đã đạt được, những vấn đề mới đặt ra trong PPL sử học, trong sử học nói chung, đòi hỏi chúng ta nổ lực phấn đấu hơn nữa để xây dựng

nền sử học với PPL của CN Mác - Lênin và TT Hồ Chí Minh

2 Khái niệm, nội dung cơ bản của phương pháp luận sử học Mácxít

Trang 10

Chúng ta cũng cần xác định rằng PPL khoa học được xây dựng trên cơ sở một triết học, quan điểm tư tưởng chính trị Từ đó cũng cần tìm hiểu các khái niệm để xác định mối quan hệ giữa PPL và triết học

Có xác định được khái niệm và nội dung cơ bản của PPL nói chung, PPLSH nói riêng, PPLSH Macxit mới có quan niệm đúng về nội dung và PP học tập hiệu quả

a) Khái niệm “phương pháp” và “phương pháp luận”

+ Khái niệm “phương pháp”: PP từ chữ Hy Lạp là Methodos có nghĩa là con đường nghiên cứu, con đường nhận thức lý luận, học thuyết, là hình thức tìm hiểu thấu đáo về mặt lý luận và thực tiễn hiện thực khách quan, xuất phát từ những qui luật vận động của khách thể được nghiên cứu Phương pháp là một

hệ thống các nguyên tắc điều khiển hoạt động cải tạo hiện thực hay hoạt động nhận thức lý luận của con người PP có ảnh hưởng lớn đến kết quả công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập PP đúng mang lại kết quả tốt

Nhà xã hội học Bungari Tôdo Paplôp định nghĩa: “PP là những quy luật cơ bản nội tại của vận động nhận thức để đạt đến chân lý đúng đắn hơn, nhanh chóng hơn, đầy đủ hơn”

C Mác cho rằng: không chỉ có kết quả nghiên cứu cần phải đúng mà con đường dẫn đến kết quả cũng phải đúng Có pp mới đạt được nội dung khoa học

PP đúng xuất phát từ lý luận khoa học chính xác được thực tiễn kiểm nghiệm

PP chỉ có tính khoa học khi nào nó phản ánh đúng các qui luật khách quan của thế giới Khi nào nó được xác định bỡi các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu bởi các qui luật của đối tượng ấy, bởi bản chất của nó, bản chất đã được phản ánh trong ý thức PP thống nhất với lý luận, được thực tiễn xác nhận, nguồn gốc khởi nguyên của PP là hoạt động thưc tiễn Nhận thức của con người phụ thuộc vào cái lô ghích khách quan của sự vật nên phải có PP nhận thức PP tư duy đúng đắn Khi hoạt động thực tiễn con người thấy trước kết quả công việc và PP tiền hành để đạt kết quả Trong hoạt động của con người thực tiễn được nâng lên thành lý luận và lý luận lại soi sáng hoạt động thực tiễn PP đóng vai trò đầu nối giữa lý luận và thực tiễn Trong khoa học PP xuất hiện như kết quả của sự phát minh, sáng tạo của lý luận mới Qúa trình nghiên cứu khoa học luôn được thực hiện trên cơ sở của PP đã được sáng tạo ra trong lịch sử khoa học Song PP tự bản thân nó dù khoa học mấy đi nữa cũng không thể quyết định hoàn toàn được kết quả nghiên cứu mà kết quả nghiên cứu phụ thuộc phần lớn vào PPL

Trang 11

+ Khái niệm “Phương pháp luận”: PPL trong chữ Hy Lạp là Methodologie” là

do ghép 2 từ Methodos và logo mà thành PPL là hệ thống quan điểm lý luận

qui định nguyên tắc việc nghiên cứu khoa học

Các nhá lý luận tư sản có nhiều định nghĩa khác nhau về PPL Các nhà

Bách khoa toàn thư triết học Liên Xô (cũ) định nghĩa: PPL là một học thuyết triết học về các PP nhận thức và cải tạo hiện thực, là vận dụng những nguyên lý của thế giới quan vào quá trình Nhận thức và sáng tạo tinh thần nói chung và vào thực tiễn” PPL đã xuất hiện và phát triển như một khía cạnh lý giải thế giới

về mặt triết học dưới góc độ nghiên cứu có phê phán các PPnhận thức- các PP triết học phổ biến, cũng như các PP khoa học cụ thể

Qúa trình hình thành PPL đã được hoàn chỉnh với việc hình thành chủ nghĩa duy vật biện chứng Như vậy triết học Mácxít là PPL phổ biến, đúng đắn của các khoa học, PPL duy vật biện chứng là kim chỉ nam cho quá trình nhận thức sáng tạo, sinh động và cho việc cải tạo thế giới một cách phù hợp các quy luật của nó

b) Khái niệm “Phương pháp luận sử học” nhà nghiên cứu Liên Xô cũ định

nghĩa:“Phương pháp luận sử học là một hệ thống những dạng bản chất của thế giới quan và lý luận (hay một loạt lý luận) qui định nguyên tắc nghiên cứu khoa học lịch sử”

Về nội dung khái niệm cần xác định PPL sử học là một lĩnh vực khoa học độc lập không đồng nhất với duy vật lịch sử Có nhiều định nghĩa PPL Mácxít nhưng các nhà sử học Mác xít đều nhất trí cho rằng cần phải xuất phát từ định

nghĩa có tính nguyên tắc của Lênin:“PPL sử học là sự thống nhất lý luận Mácxít

về quá trình lịch sử và phương pháp nghiên cứu Mácxít quá trình đó”

Trong nghiên cứu lịch sử, PPL sử học có vai trò to lớn trong việc hướng dẫn nghiên cứu lịch sử (nội dung nghiên cứu và pp nghiên cứu) cũng như pp dạy học lịch sử Không nắm được PPL các nhà nghiên cứu lịch sử sẽ mất phương hướng

hoạt động, không có khả năng giải quyết vấn đề lịch sử đặt ra Vì vậy đối với

những người làm công tác sử học, những vấn đề PPL là vấn đề rất quan trọng Nó đáp ứng yêu cầu nghiên cứu học tập và giảng dạy lịch sử, trang bị lý

luận cơ bản để tích cực chống lại PPL tư sản Hiện nay các sử gia tư sản vẫn tiếp tục xuyên tạc các sự kiện lịch sử cụ thể và mở rộng chiến dịch trực tiếp hoặc gián tiếp chống những cơ sở lý luận, nhận thức lịch sử Mácxít Cho nên để bảo

vệ chủ nghĩa Mac - Lênin, cơ sở PPL Mácxít, chúng ta cần đi sâu nghiên cứu và vận dụng sáng tạo những nguyên lý của triết học Mácxít về sử học

Trang 12

Phạm vi nghiên cứu của PPL sử học Macxit rất rộng, bao gồm những vấn đề chủ yếu sau:

- Đặc trưng của quá trình phản ánh hiện thực trong lịch sử

- Bản chất của khái niệm lịch sử, đặc trưng của việc hình thành các khái niệm

- Các phạm trù triết học, kinh tế học và các khoa học khác có liên quan được

sử dụng trong việc nghiên cứu lịch sử

- Phép biện chứng của cái chung, cái riêng trong nhận thức lịch sử

- Những cơ sở khoa học, nguyên tắc tiêu chuẩn của việc phân kỳ lịch sử (các vấn đề về hình thái kinh tế xã hội, thời đại, thời kỳ )

- Tương quan giữa chủ thể và khách thể trong quá trình lịch sử

- Tính hiện đại, tính thời sự trong trong lịch sử

- Tính Đảng và tính khách quan trong sử học

- Đối tượng chức năng của sử học

- Mối tương quan giữa nghiên cứu xã hội, xã hội học và lịch sử, nhận thức luận Macxit và khoa học lịch sử

- Mối liên hệ giữa quá khứ và hiện tại, mối tương quan giữa các cuộc cách mạng xã hội hiện nay và quá trình lịch sử

Tuy phạm vi PPL rộng lớn như vậy song học phần chỉ tập trung tìm hiểu những vấn đề cơ bản nhất, cần thiết nhất trong công tác học tập, nghiên cứu và giảng dạy lịch sử Đó là các vấn đề: đối tượng, chức năng, nhiệm vụ, tính đảng của khoa học lịch sử, những quan điểm, những cơ sở lý luận Mácxit về phương pháp nghiên cứu lịch sử và phân kỳ lịch sử Những vấn đề này trực tiếp giúp

chúng ta thu kết quả tốt, đúng trong công tác sử học và là cơ sở để tìm hiểu những vấn đề của PPL sử học

Trong việc phân chia nội dung các vấn đề PPluận sử học nêu trên, chúng ta

thấy rõ tính đa dạng của nó, tuy nhiên vẫn bảo đảm tư cách của nó là hệ thống tư tưởng nền tảng, những nguyên tắc chung mà xuất phát từ đó và bằng cái đó chỉ đạo nhà nghiên cứu trong hoạt động nhận thức của mình Chúng ta cần nắm

vững những điều chủ yếu của vấn đề này để tập trung vào giải quyết và nhận thức một cách khách quan việc nghiên cứu lịch sử, giữ vững quan điểm của CN Mac- Lênin và TT Hồ Chí Minh trong công tác khoa học phục vụ lợi ích dân tộc, cách mạng và nhân loại

Trang 13

Tóm lại, vấn đề PPL nói chung, PPL sử học nói riêng gắn chặt với vấn đề quan điểm TT, lợi ích của mỗi giai cấp, nó thể hiện tính đảng, nó xâm nhập, chi phối mọi hoạt động khoa học của nhà nghiên cứu Cho nên những vấn đề PPL

sử học là những vấn đề của nhà sử học, nhưng bản thân nhà sử học lại tham gia

ít nhất vào cuộc đấu tranh cho nhiều vấn đề khác nhau và trên nhiều lập trường khác nhau của sử học Tăng cường chú ý những vấn đề phương pháp luận không những đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của nhà sử học đối với nhiệm vụ của mình mà còn góp phần đấu tranh chống PPL duy tâm của sử gia tư sản đang từng giờ tấn công chủ nghĩa Mác và sử học Macxit Cuộc đấu tranh giữa PPL sử học Macxit và tư sản đang diễn ra gay gắt Đó là cuộc đấu tranh về mặt tư tưởng trong lĩnh vực sử học, hay là cuộc đấu tranh để khôi phục hình ảnh của quá khứ phù hợp với thực tế của nó

Xuất phát từ nội dung, tính chất đặc điểm của PPL, chúng ta cần xác định một thái độ và phương pháp học tập đúng để thu kết quả tốt nhất về nhận thức lý luận cũng như hoạt động thực tiễn của việc nghiên cứu học tập

Muốn học tập PPL sử học macxit phải nắm vững những kiến thức triết học Mac-Lênin, quan điểm đường lối của Đảng và TTHồ Chí minh có liên quan đến nội dung của nó Đây là điều kiện tiên quyết để học tập tốt phương pháp luận sử học Bao giờ người học PPL sử học cũng phải đặt các vấn đề “cơ

sở lý luận - tư tưởng của vấn đề này là gì?” Nội dung cụ thể của vấn đề phương pháp luận sử học đang học là gì ?

Ngoài cơ sở triết học, quan điểm của Đảng, cần phải hiểu rõ những vấn đề lịch sử cụ thể Việc học tập và vận dụng các kiến thức về PPL sử học để giải quyết trong nhận thức những vấn đề lịch sử là yêu cầu của việc học gắn với hành, lý luận đi đôi với thực tiễn

Để việc nhận thức các vấn đề phương pháp luận một cách sâu sắc có kết quả người học cần phải đọc tài liệu tham khảo cần thiết, nắm vững nội dung cơ bản, suy nghĩ trao đổi thảo luận riêng, tổ chức xemina, vận dụng vào giải quyết các vấn đề lịch sử cụ thể

Câu hỏi hướng dẫn học tập 1) Trình bày nội hàm các khái niệm “phương pháp”, “phương pháp luận” và

“phương pháp luận sử học” theo những quan niệm khác nhau (tư sản, Mác xít)

Trang 14

2) Nội dung các vấn dề cơ bản của PPL sử học Macxit là gì ?

3) Mối quan hệ giữa PPL sử học Mácxit với triết học Mác xít ?

4) Là sinh viên chuyên ngành Lịch sử bạn xác định phương pháp học tập bộ

môn PPL sử học như thế nào cho có hiệu quả ?

5) Với tư cách là người nghiên cứu, học tập và giảng dạy lịch sử thì việc học

tập nghiên cứu phương pháp luận sử học có vai trò như thế nào ?

CHƯƠNG II TÍNH CHẤT ĐẶC TRƯNG CỦA NHẬN THỨC LỊCH SỬ

1 Hiện thực lịch sử và nhận thức lịch sử, khả năng nhận thức của con

người về lịch sử khách quan

a) Hiện thực lịch sử: là bản thân những sự việc thực đã xảy ra trong quá

khứ (là sự kiện khách quan đã thực sự xảy ra trong quá khứ) Nói cách khác hiện

thực lịch sử là hiện thực khách quan quá khứ của xã hội loài người

b) Nhận thức lịch sử: Là hiểu biết của con người về hiện thực lịch sử nó

được thể hiện qua sự kiện được con người ghi lại trong sách lịch sử và do đó với

cùng một sự kiện lịch sử thì mỗi người có thể nhận thức một cách khác nhau Và

như vậy nhận thức lịch sử thì mang tính chủ quan còn hiện thực lịch sử là khách

quan Giữa hiện thực lịch sử và nhận thức lịch sử thường có khoảng cách nhất

định và khi nhận thức lịch sử của con người tiệm cận với hiện thực lịch sử thì

chúng ta mới đạt được chân lý lịch sử

c) khả năng nhận thức của con người về lịch sử khách quan: những sự

kiện, hiện tượng xảy ra trong quá khứ của xã hội loài người vốn là hiện thực

khách quan, tồn tại độc lập với ý thức chủ quan của người nhận thức nó, dù có

thừa nhận nó hay không hoặc nhận thức như thế nào thì nó vẫn tồn tại không có

cách nào thay đổi được Ví dụ sự kiện lực lượng Ankeda tấn công nước Mĩ ngày

11/9 năm 2001 là sự thực khách quan hoàn toàn không phụ thuộc vào chúng ta

dù chúng ta biết hay không, nhận thức như thế nào thì nó vẫn cứ diễn ra, đã từng

tồn tại một cách khách quan không thể thay đổi

Thừa nhận quá khứ tồn tại hay không, con người có khả năng nhận thức

được quá khứ hay không là những vấn đề phân chia ranh giới giữa sử học

Macxit với sử học tư sản, là tiêu chuẩn đánh giá nhà sử học có thái độ khách

quan khoa học hay rơi vào chủ nghĩa duy tâm khách quan hoặc chủ quan tư sản

Trang 15

Các nhà sử học theo chủ nghĩa tương đối, chủ nghĩa thực chứng hay chủ nghĩa kinh nghiệm chủ trương rằng họ chỉ tin cái gì là chân lý khi các giác quan của chính mình nhận thấy cái ấy Họ không thừa nhận cái gì ngoài trực quan Vì

vậy với họ quá khứ lịch sử không có thực Nhà sử học Pháp, Xâynhơbốt nói nhà

sử học không nhìn thấy cái gì hiện thực ngoài những tờ giấy đang viết thì hiện tại là hiện thực duy nhất Quan điểm này dẫn tới việc hoài nghi sự tồn tại của

quá khứ và khả năng nhận thức lịch sử của con người Một số sử gia tư sản theo chủ nghĩa chủ quan khác cho rằng quá khứ là cái gì không hiện thực, vì những con người của thời đại cũ đã chết đi không bao giờ trở lại, cho nên khái niệm lịch sử của chúng ta không thể là cái phản ánh về quá khứ không còn tồn tại, mà chỉ là sự phản chiếu những quan điểm khát vọng của riêng ta về cái đã qua Do

đó nội dung kiến thức lịch sử là hoàn toàn chủ quan, không thể có chân lý khách quan Quan điểm này hoàn toàn sai lầm vì nó đồng nhất hiện thực khách quan với việc nhận thức lịch sử và qui cái thứ nhất vào cái thứ hai

Các sử gia theo chủ nghĩa duy tâm lại hiểu quá khứ như cái gì tồn tại một chỗ nào đấy, ở bên cạnh hay phía sau thực tế hiện nay Quan điểm này dẫn đến

tư tưởng thần bí về sự tồn tại khách quan của “ý niệm tuyệt đối”

Các nhà sử học Macxit khẳng định rằng, xã hội loài người là một bộ phận của thế giới vật chất, là sự tiếp tục lịch sử quả đất trước khi có con người và xã hội loài người xuất hiện Vì vậy nó là một hện thực khách quan, tồn tại như giới

tự nhiên Trong lịch sử con người hoạt động có ý thức theo đuổi mục đích của mình khi tạo nên lịch sử nhưng lại phải tuân theo các qui luật khách quan của

sự phát triển xã hội và hoạt động trong những mqh xã hội nhất định Cái hệ thống quan hệ xã hội ấy tồn tại khách quan, độc lập với ý muốn của con người,

là cơ sở thực tại, là đối tượng nghiên cứu của sử học

Thừa nhận sự tồn tại của hiện thực lịch sử khách quan sử học Macxit cũng thừa nhận khả năng nhận thức được hiện thực này Ngược lại, do phủ nhận sự tồn tại thực tế của lịch sử, các nhà sử học tư sản cũng phủ nhận khả năng nhận

thức lịch sử của con người

2 Những điểm chung và khác nhau giữa đối tượng nhận thức của khoa học lịch sử và các khoa học khác

a) Những điểm chung trong nhận thức các đối tượng có nhiều, song chúng ta

tập trung vào một số điểm chủ yếu Hiện tượng lịch sử trong quá trình phát triển

Trang 16

xã hội loài người, đối tượng nhận thức khoa học lịch sử và hiện tượng tự nhiên, đối tượng nhận thức của khoa học tự nhiên đều có những điểm chung

Thứ nhất, hiện tượng và sự vật của lịch sử xã hội loài người và giới tự nhiên đều là hiện tượng tồn tại khách quan trong thế giới vật chất Điểm chung căn bản

của xã hội loài người và giới tự nhiên là tính thực tại khách quan của nó

Trái đất mà loài người cư trú đã có lịch sử khoảng 4 đến 5 tỉ năm Trái đất thời xa xưa không có sự sống càng không có loài người Trải qua quá trình phát triển dài dằng dặc, khi nhiệt độ trái đất hạ thấp xuống đến mức thích hợp với sự tồn tại của sự sống rồi trải qua quá trình hóa học lâu dài và phức tạp mới hình thành vật chất có sức sống nguyên thủy Sinh vật nguyên sinh lại trải qua diễn biến và phát triển lâu dài mới sinh ra giới thực vật và động vật cao cấp Tiếp đó, cách đây 3-5 triệu năm, loài người mới xuất hiện và hình thành nên xã hội loài người Qúa trình biến hóa này trong thế giới động vật nói lên rằng, xã hội loài

người là kết quả của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên Chỗ thống nhất giữa chúng là ở chỗ đều là bộ phận của giới tự nhiên

Thứ hai, xã hội loài người- kết quả phát triển lâu dài của giới tự nhiên, một

bộ phận của thế giới vật chất- cũng như tự nhiên đều tuân theo những quy luật chung nhất của sự vận động của thế giới vật chất, như quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, quy luật phủ định của phủ định, quy luật biến đổi qua lại của chất và lượng Đây là những quy luật mà lịch sử xã hội loài người cũng như các hiện tượng tự nhiên phải tuân theo Đương nhiên đây chỉ là một số quy luật cơ bản mà chủ nghĩa Mác đã phát hiện ra dựa vào những thành quả của nhận thức khoa học của loài người Việc nhận thức những quy luật chung nhất đòi hỏi phải tiếp tục đi sâu và phát triển cùng với việc tăng thêm tri thức khoa học của loài người về nhiều quy luật khách quan khác hiện chưa biết hoặc nhận thức chưa sâu sắc

b) Những điểm khác nhau

Sự vận động của lịch sử khách quan của xã hội loài người mà khoa học lịch

sử cần nhận thức và sự vận động của giới tự nhiên mà khoa học tự nhiên cần nhận thức khác nhau ở những điểm sau:

Thứ nhất, sự vận động của lịch sử khách quan xã hội loài người là hoạt động thực tiễn của loài người có ý thức với tính năng động và tính tư tưởng cao, còn sự vận động của giới tự nhiên nói chung là sự vận động tự thân với tính năng động tương đối thấp của tự nhiên không có ý thức tư tưởng

Trong giới tự nhiên, những hiện tượng về sự hình thành tài nguyên khoáng sản, sự sinh trưởng của thực vật, sự vận động của vỏ trái đất, sự thay đổi khí hậu, các hiện tượng động đất, bão lụt đều là kết quả của sự vận động mà giới

tự nhiên dựa vào quy luật, diễn ra một cách tự phát, không thể hiện ý đồ, không

có mục đích của bản thân tự nhiên Hành vi dùng cỏ cây làm tổ, dùng đá để đập

vở vỏ cứng để lấy thức ăn của một số động vật nào đó cũng chỉ xuất phát từ bản

năng sinh tồn Còn lao động của con người là những hoạt động sản xuất có mục đích, có ý thức; nó khác biệt về chất so với những hiện tượng tự nhiên, với

những hoạt động bản năng của loài vật Vì thế, nhà khoa học tự nhiên không coi đối tượng nghiên cứu của họ là đối tượng có mục đích, có ý thức, có tính năng động tự thân cao để nghiên cứu, mà coi chúng là những vật tự nhiên có những

Trang 17

đặc tính nào đó để tiến hành quan sát và thực nghiệm Căn cứ vào những số liệu thu được, nhà khoa học rút ra những quy luật hoặc sự phát triển và biến hóa của

Khoa học lịch sử nhận thức xã hội loài người đã qua, gồm con người có ý thức tư tưởng, có tình cảm; đó là chủ thể trong hoạt động của lịch sử xã hội Cho nên việc nhận thức những hoạt động của con người mang những chí hướng, những tư tưởng, tình cảm khác nhau, việc nhận thức chính xác quá trình phát triển lịch sử xã hội do những con người có ý thức tiến hành sẽ phức tạp và khó khăn hơn rất nhiều so với việc nhận thức sự vật hiện tượng của giới tự nhiên Ví như động đất và chiến tranh có thể gây nên sự chết chóc to lớn về người và sự phá hoại nghiêm trọng về tài sản xã hội, song động đất là hiện tượng tự nhiên, đằng sau nó không hề có ý đồ tư tưởng, không có âm mưu, mục đích trước Còn chiến ttranh với tư cách là hiện tượng của xã hội loài người thì đằng sau nó chứa

ý đồ và mục đích, hoặc là suy nghĩ sâu xa, hoặc là quyết định vội vàng của kẻ gây ra chiến tranh

Thứ hai, đối tượng nhận thức của khoa học lịch sử nhìn chung mang tính không lặp lại cả về thời gian và không gian Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xẩy ra trong một thời gian, không gian nhất định, còn đối tượng của khoa học tự nhiên thì tính lặp lại rất rõ ràng của không gian và thời gian

Rõ ràng rằng bất kì hoạt động nào của xã hội loài người cũng đều được tiến hành trong thời gian và không gian nhất định, trong thời gian và không gian khác nhau Không có một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào hoàn toàn giống nhau,

dù có điểm giống nhau, lặp lại thì vẫn là sự kế thừa, phát triển, “sự lặp lại trên

cơ sở không lặp lại” như đã nêu trên Đời sống của xã hội loài người trong qúa trình phát triển lịch sử của mình đã trải qua những sự thay đổi lớn lao Tất cả mọi lĩnh vực từ trình độ sản xuất, chế độ chính trị, quan hệ xã hội, đến ăn, mặc,

đi lại, tư tưởng triết lí, đạo đức đều trải qua những thay đổi, biến hóa không ngừng Chính điều đó buộc nhà nghiên cứu khi xem xét một sự kiện hiện tượng nào đó trong lịch sử xã hội loài người, phải xem xét tính cụ thể về thời gian làm nảy sinh sự kiện, hiện tượng đó Về mặt không gian, trong lịch sử xã hội loài người cũng có những khác biệt lớn so với giới tự nhiên Trong lịch sử thế giới, diện mạo đời sống xã hội của các dân tộc khác nhau, các quốc gia khác nhau, ở các khu vực khác nhau, dù trong cùng một thời gian có nhiều điểm khác nhau lớn Ví như, vào thời cổ đại, lịch sử Trung Quốc, Ai Cập, các nước Tây Âu đều

có sự khác nhau về phương thức sản xuất, chế độ pháp luật, chính trị, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán, khác nhau cả màu da, diện mạo, hình thái thân thể con người Cho dù ngày nay thế giới đã xích lại gần nhau, được xem cùng sống dưới một “mái nhà” chung thì những sự khác biệt này vẫn tồn tại ở những mức độ đáng kể Cho nên “lịch sử” còn hàm nghĩa “cái cụ thể”

Mặt khác các dân tộc và các quốc gia khác nhau sống trên những khu vực khác nhau, tuy bị tác động của những quy luật chung, trải qua quá trình phát triển, trình độ sản xuất không ngừng nâng cao, hình thái xã hội không ngừng phát triển từ thấp đến cao, đời sống văn hóa tinh thần của con người ngày càng phong phú, đa dạng nhưng tiến trình phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc không hoàn toàn giống nhau Ví như, phần lớn các quốc gia ở khu vực châu Âu

Trang 18

đều trải qua tiến trình lịch sử từ xã hội nguyên thủy, qua xã hội chiếm hữu nô lệ,

xã hội phong kiến tư bản chủ nghĩa, song ở nhiều quốc gia thuộc châu Á, Phi, khu vực Mỹ Latinh thì quá trình đó không diễn ra tuần tự như vậy Thậm chí cùng một loại hình thái xã hội, các dân tộc, các quốc gia khác nhau cũng có các mặt kết cấu kinh tế, thể chế nhà nước, hình thái ý thức khác nhau mang những sắc thái riêng Ví dụ, chế độ chiếm hữu nô lệ Hy Lạp, La Mã khác với chế độ nô

lệ của Trung Quốc, xã hội phong kiến ở Tây Âu và xã hội phong kiến ở Việt Nam cũng có nhiều khác biệt lớn

Chính do đặc thù này của đối tượng nhận thức của khoa học lịch sử mà

Lênin đã nhấn mạnh: “Khi phân tích vấn đề của bất cứ xã hội nào, yêu cầu tuyệt đối của lý luận Mácxít là vấn đề phải được đặt trong phạm vi lịch sử xã hội nhất

định” Đây là một nguyên tắc quan trọng đối với việc nhận thức những vấn

đề lịch sử xã hội

Còn đối tượng nghiên cứu của khoa học tự nhiên, mặc dù có một quá trình biến đổi, phát triển trong không gian và thời gian, song nói chung qúa trình đó hết sức chậm chạp mà nhiều khi chúng ta không nhận ra Ví như, con chim làm

tổ, đàn kiến kiếm mồi, bầy ong kiếm mật hàng nghìn năm về trước so với hiện nay, ở châu Phi hay châu Á gần như không có sự khác biệt lớn

Thứ ba, khoa học lịch sử nhận thức những biến cố, hiện tượng, nhân vật đã xảy ra trong đời sống xã hội, không lặp lại, không thể tái tạo và cũng không thể quan sát Còn đối tượng nhận thức của khoa học tự nhiên mang lại tính lặp lại,

nên khả năng quan sát của nhà nghiên cứu trên đối tượng, việc biểu diễn trong phòng thí nghiệm của đối tượng trong khoa học tự nhiên có thể tiến hành thường xuyên, thuận tiện, nhằm khôi phục hiện tượng khách quan

3 Lịch sử của chủ thể hóa

Khi trả lời câu hỏi “lịch sử là gì?” chúng ta đã nói tới 3 hàm nghĩa: hiện thực lịch sử, nhận thức lịch sử và khoa học lịch sử; đồng thời khẳng định lịch sử tồn tại khách quan nên có những điểm giống nhau và khác nhau giữa đối tượng nhận thức của khoa học lịch sử với khoa học khác Từ đó cần tìm hiểu một vấn đề

quan trọng khác: thế nào là lịch sử của chủ thể hóa, mối quan hệ giữa chủ thể hóa với lịch sử khách thể

a) Lịch sử nhận thức là lịch sử chủ thể hóa Lịch sử là hiện thực khách quan

Đương nhiên, nghiên cứu khoa học, kể cả khoa học tự nhiên là qúa trình nhận thức, tiếp cận dần đến chân lý khách quan, đều do người nghiên cứu miêu

tả, quy nạp đối tượng Vì thế, kết quả nghiên cứu đều không phản ánh hoàn toàn

Trang 19

đầy đủ đối tượng nhận thức Hơn nữa, đối tượng nhận thức của khoa học lịch sử không chỉ có đặc điểm khác nhau với đối tượng nhận thức của khoa học tự nhiên, mà cũng có đặc điểm khác với đối tượng nhận thức cuả các ngành khoa học xã hội cùng có một khách thể nghiên cứu chung: xã hội loài người Chính

điều này làm cho nhận thức của khoa học lịch sử mang dấu ấn ý thức của nhà nghiên cứu, khác các nhà khoa học khác

Khoa học lịch sử, với tư cách là một bộ môn khoa học xã hội, đối tượng nghiên cứu của nó là quá khứ của xã hội do con người tổ chức thành Đặc trưng rất cơ bản của đối tượng nghiên cứu lịch sử như đã nêu trên, không thể trực tiếp quan sát Lịch sử đối với nhận thức của con người như là một quá trình phát triển với nhiều sự kiện, hiện tượng, nhân vật Qúa trình này được con người gián tiếp thu được từ các nguồn tư liệu Phần lớn những tư liệu lịch sử được ghi lại trong trí óc của người đương thời và để lại cho đời sau bằng nhiều hình thức khác nhau: truyền miệng, thành văn và các hiện vật còn lại Nhà nghiên cứu tiếp nhận, giám định, phân tích những tư liệu lịch sử thông qua hiểu biết, suy nghĩ của mình Do đó, việc nhận thức quá khứ cũng mang dấu ấn của ý thức chủ thể cuả bản thân họ Vì vậy, tất cả những nhận thức lịch sử từ quá trình lịch sử với các sự kiện, hiện tượng khách quan đến sự nhận thức lịch sử đều trải qua ý thức

chủ thể của con người Sự nhận thức hiện thực lịch sử ít nhất đã trải qua hai lần trở lên, chứa đựng lập trường quan điểm giai cấp, ý thức dân tộc, tính cách của

người ghi chép đầu tiên đến những người nhận thức sự kiện đó Cho nên tất cả

những nhận thức lịch sử, tất cả các tác phẩm lịch sử đều là lịch sử của chủ thể hóa

Đây chính là một trong những vấn đề phức tạp nhất của phương pháp luận

sử họ Mácxít, được đưa ra bàn cãi nhiều nhất trong lý luận sử học và cũng dễ bị lợi dụng nhất trong công tác nghiên cứu lịch sử Chủ nghĩa khách quan lịch sử đòi hỏi phải gạt bỏ “cái tôi”, gạt bỏ tất cả những ảnh hưởng của lý luận và hình thái ý thức, như vậy sẽ có thể khôi phục lại bộ mặt vốn có của lịch sử một cách khách quan Chúng ta cũng khẳng định rằng, người nghiên cứu lịch sử cần phải làm rõ sự thực lịch sử một cách khách quan, cần phải tập trung sức vào việc khôi phục lại bộ mặt vốn có của lịch sử Nhưng “gạt bỏ” ý thức chủ thể của người nghiên cứu, gạt bỏ bất cứ ảnh hưởng lý luận và hình thái ý thức nào là điều không dễ thực hiện được Song người nghiên cứu lịch sử có thể và cần gạt bỏ trong ý thức chủ thể của mình những ảnh hưởng của lý luận và hình thái ý thức chủ quan, không khoa học, ngăn trở sự nhận thức lịch sử một cách khách quan,

tự giác vận dụng những lý luận khoa học, nhận thức đúng đắn lịch sử

Các nhà sử học tư sản đề xướng “chủ nghĩa khách quan” thường coi nhà sử học Hy Lạp cổ đại Tuyxidit (khoảng năm 460-400 tr.CN) là ông tổ của sử học chủ nghĩa khách quan Thực ra không phải như thế! Tuyxidit tôn trọng tính khách quan của sự thực lịch sử, cố gắng tránh việc thành kiến, không cả tin vào lời đồn Ông muốn thông qua những ghi chép sự thực lịch sử nói lên sự thành bại, hưng vong của quốc gia Aten để lưu truyền, khuyên dạy đời sau Song bản thân ông cũng không tránh khỏi sự bộc lộ quan điểm giá trị của mình Ông ca ngợi chính thể dân chủ của Aten, ca ngợi chính sách của chủ nô Rõ ràng trong tác phẩm sử học của ông đã thể hiện tình cảm, ý thức chủ quan trong việc tô đẹp

Trang 20

chế độ Aten, trong lúc người nô lệ, phụ nữ không được hưởng quyền dân chủ của chế độ nô lệ

Các tác phẩm sử học - lịch sử của chủ thể hóa còn biểu hiện rõ rệt trong các quan điểm khác nhau khi các nhà nghiên cứu trình bày và phân tích cùng một vấn đề lịch sử Do nhận thức chủ quan khác nhau mà họ rút ra những kết luận rất khác nhau, thậm chí trái ngược nhau về một sự kiện Ví dụ, như việc nghiên cứu, đánh giá Cách mạng Pháp thế kỉ XVIII luôn luôn là một vấn đề trung tâm, gây nhiều tranh luận trong giới nghiên cứu lịch sử Pháp từ trước đến nay Các nhà sử học với những ý thức chủ thể khác nhau, đã có những đánh giá hoàn toàn khác nhau đối với cuộc cách mạng ấy Lui Bơlâng (1811-1882) với tư cách là người xã hội chủ nghĩa tiểu tư sản, trong tác phẩm của mình “Lịch sử đại cách mạng Pháp” đã khẳng định đầy đủ ý nghĩa lịch sử to lớn của cuộc cách mạng tư sản này, nhưng cũng đã phê phán một số điểm trong cuộc đại cách mạng này Ông ta cho rằng Mirabô có mặt vĩ đại song cũng có chỗ bỉ ổi xấu xa; Mara là

“bạn của dân” nhưng lại quá tàn nhẫn; Đăngtơn nhiệt tình, can đảm và có chí hiểu biết hơn người, nhưng có thủy mà không có chung Theo ông, chỉ có Robex -pie là người cách mạng chân chính Sang nửa sau thế kỉ XIX, tầng lớp tích cực của giai cấp tư sản Pháp đi theo hướng bảo thủ và phản động đã phủ định ý nghĩa của cách mạng tư sản Pháp 1789, thậm chí cho rằng cách mạng ấy là một chuỗi sự điên cuồng, không có chỗ nào đúng cả

Từ những ví dụ trên, chúng ta có thể thấy rằng trong hoạt động nhận thức lịch sử, không có lúc nào, không có nơi nào không bị chi phối bởi những ý thức chủ thể nào đó mà bản thân họ có Mọi người luôn đứng trên một lập trường nhất định dưới sự chỉ đạo của một tư tưởng, mang một tính cách để quan sát lịch

sử, nhận thức lịch sử Kết quả thu được sẽ tỉ lệ thuận với năng lực nhận thức và nguồn tư liệu mà họ có được, đặc biệt là phương pháp luận nhận thức mà họ được trang bị Có thể nói, hầu hết các sự kiện, hiện tượng của lịch sử dân tộc

được viết trong các công trình nghiên cứu, trong sách giáo khoa lịch sử sau cách mạng tháng Tám 1945 ngày càng phản ánh sát đúng hiện thực lịch sử Song lịch

sử hết sức phong phú và phức tạp, nó đòi hỏi các nhà nghiên cứu càng đi sâu hơn, toàn diện hơn trong việc khôi phục lại qúa khứ Bổ sung, làm phong phú và đạt được sự thực nhiều hơn, khắc phục các sai lệch do trình độ khoa học, phương pháp nghiên cứu, biên soạn và quan điểm tư tưởng Sự thiếu sót, sai lệch này được thể hiện ở các điểm:

Thứ nhất, thiếu sót về tư liệu Nhiều sự kiện, hiện tượng trong lịch sử (dân tộc và thế giới) do thiếu tư liệu khoa học nên việc khôi phục quá khứ thiếu chính xác, hay chưa đầy đủ, nên có những kết luận không phản ánh đúng hiện thực Ví như, cuối năm 1982, trong một hội nghị thảo luận về công tác chuẩn bị kỉ niệm

500 năm ngày Côlômbô “phát hiện” ra châu Mỹ vào tháng 10/1492, do Liên Hợp Quốc tổ chức, một đoàn đại biểu đã đưa ra kháng nghị và cho rằng vinh dự phát hiện ra châu Mỹ đầu tiên là người Na Uy có tên là Lâyphơ Ôrícxơn Họ cho rằng đến năm 2000, Liên Hợp Quốc nên tổ chức 1000 năm phát hiện ra châu

Mỹ Đại biểu Ailen cũng khẳng định rằng, một nhà thuyết giáo Ailen từ sớm đã đến châu Mỹ trước Côlômbô Tây Ban Nha và một số nước châu Mỹ cũng sôi nổi đưa ra ý kiến khác Không khí trong phòng hội nghị có lúc căng thẳng và

Trang 21

Chủ tịch hội nghị đã phải tuyên bố tạm ngừng hội nghị Thực ra sự tranh luận và

sự khác nhau của giới học thuật về vấn đề này còn phức tạp, sâu sắc hơn nhiều

so với những gì đã được phản ánh trong hội nghị

Không những trong lịch sử cổ đại, trung đại có rất nhiều sự thực lịch sử do hạn chế về sử liệu nên đến nay vẫn chưa rút ra được kết luận xác đáng, mà ngay lịch sử cận đại, hiện đại cũng có tình hình như vậy Nhiều sự thực lịch sử về các cuộc cách mạng, các cuộc chiến tranh, cũng như trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, đời sống xã hội cũng có nhiều cách ghi chép mâu thuẫn với nhau, và cho đến nay vẫn chưa có kết luận nào xác đáng

Thứ hai, việc hạn chế về lập trường giai cấp và lập trường chính trị của người nghiên cứu Các nhà sử học từ trước đến nay đều đứng ở quyền lợi của giai cấp mình, đều chịu sự chi phối, đương nhiên ở mức độ hoàn toàn không giống nhau của thời đại Lịch sử phát triển của sử học đã chứng tỏ điều đó, cũng như được thể hiện hết sức rõ rệt trong lịch sử các khoa học xã hội Không có một tác phẩm sử học nào lại không thể hiện quan điểm và lập trường giai cấp của người biên soạn Điều này được phát triển ngày càng rõ rệt và tinh vi trong thời đại tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là từ khi chủ nghĩa Mác ra đời Cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản ngày càng trở nên gay gắt

và chia xã hội loài người thành hai trận tuyến lớn Cuộc đấu tranh đó không chỉ đặt ra vấn đề lật đổ nền thống trị của giai cấp tư sản, thủ tiêu chủ nghĩa tư bản,

mà còn đặt ra một vấn đề lớn hơn, triệt để hơn: xóa bỏ hoàn toàn xã hội có giai cấp và nền thống trị của giai cấp tư sản Giai cấp vô sản với hệ tư tưởng tiên tiến của nó, được trang bị hệ thống lý luận nhận thức lịch sử khách quan khoa học, phản ánh quan điểm, quyền lợi của một giai cấp trung tâm thời đại, có khả năng nhận thức đúng lịch sử như nó tồn tại Không thể và không nên tìm chỗ đứng ở một quan điểm chung, đứng ngoài mọi giai cấp và thời đại Bởi vì như Lênin đã khẳng định: “Không một người nào đang sống mà lại có thể không đứng về phía một giai cấp này hay giai cấp nọ (một khi họ hiểu được những quan hệ của giai cấp đó) mà lại có thể không vui sướng vì thắng lợi của giai cấp ấy, đau buồn về những thất bại của nó, tức giận đối với kẻ thù của nó.”

Vì vậy chúng ta có thể khẳng định rằng tất cả mọi nhận thức lịch sử và tác phẩm lịch sử đều là lịch sử đã chủ thể hóa, phản ánh hiện thực lịch sử Cho nên, mối quan hệ giữa lịch sử của chủ thể và lịch sử khách thể là một nguyên tắc, phương pháp luận quan trọng của nghiên cứu lịch sử

Lịch sử khách thể chính là lịch sử hiện thực, tồn tại khách quan, đã từng xảy

ra và chỉ xảy ra một lần duy nhất, không lặp lại Còn lịch sử chủ thể chính là sự nhận thức của con người về lịch sử khách quan đó Vậy quan hệ giữa chúng như thế nào? Có thể nói đó là mối quan hệ giữa thực tế và phản ánh, giữa chúng tồn tại mối quan hệ giữa ăn khớp và tách rời Trong bất kì tình huống nào cũng không thể giống nhau hoàn toàn

Các nhà nghiên cứu lịch sử luôn luôn đặt ra cho mình nhiệm vụ khôi phục lại quá khứ lịch sử Họ căn cứ vào những tư liệu lịch sử, những dấu vết còn lại của quá khứ, với năng lực nhận thức, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu để viết lịch sử quá khứ Điều đó đã quyết định lịch sử mà họ viết ra sẽ ăn khớp ở mức độ nhất định với lịch sử tồn tại khách quan Còn độ ăn khớp lớn,

Trang 22

khoa học, cho phép các nhà nghiên cứu tiếp cận gần hơn với chân lý khách quan

Thứ ba, là việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu trong nhận thức sự thực lịch sử Nghiên cứu khoa học nói chung và nghiên cứu lịch sử nói riêng

không phải là công việc tùy tiện mà đòi hỏi phải có phương pháp đúng đắn Cùng một khối lượng tư liệu như nhau, song xử lí tư liệu khác nhau, phương pháp nghiên cứu khác nhau cũng sẽ dẫn đến kết quả khác nhau Việc sử dụng đúng đắn các phương pháp nghiên cứu lịch sử sẽ cho phép kết quả nghiên cứu ít sai lệch hơn so với thực tế khách quan

Câu hỏi hướng dẫn học tập 1) Đặc trưng của hiện thực lịch sử là gì ? Phân tích những quan điểm tư sản

về lịch sử

2) Khả năng nhận thức lịch sử xã hội của con người như thế nào ? Những điểm giống và khác nhau giữa nhận thức xã hội và nhận thực tự nhiên 3) Việc không nhận thức đúng nội dung, đặc điểm của nhận thức lịch sử dẫn tới hậu quả gì trong học tập, nghiên cứu lịch sử ?

CHƯƠNG III SỬ HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC

1 Đối tượng của khoa học lịch sử

Dường như mọi người đều nhất trí với nhau rằng “nghiên cứu lịch sử là nghiên cứu những gì đã xảy ra trong quá khứ của xã hội loài người” Song vấn

đề không đơn giản như vậy! Bởi vì, lập tức một số thắc mắc, hoài nghi sẽ xuất hiện: “Vì sao sự việc xảy ra trong quá khứ chỉ là một mà những người viết khác nhau lại có sử liệu, miêu tả và giải thích khác nhau?” “Có sự kiện lịch sử tồn tại khách quan hay chỉ là sự suy nghĩ, mong muốn của mỗi người?” “Phạm vi nghiên cứu lịch sử là gì, làm sao không trùng lặp với các khoa học khác?”

Những vấn đề đặt ra như vậy là có cơ sở Trong thực tế bao giờ cũng có khoảng cách nhất định giữa hiện thực lịch sử khách quan và sự nhận thức lịch

sử Nhận thức - nghiên cứu, học tập lịch sử cũng là hoạt động nhận thức - bao giờ cũng tác động đến một hiện thực song không phải đạt được chân lý tuyệt đối, mà từng bước nắm được chân lý tương đối tiếp cận được chân lý tuyệt đối Khoảng cách giữa hiện thực và nhận thức được rút gọn thì sự nhận thức mới phản ánh được hiện thực khách quan, đạt tới chân lý Điều này phụ thuộc vào nhiều điều kiện, như trình độ khoa học, quan điểm tư tưởng, phương tiện kĩ

thuật Trong những điều kiện ấy có việc quan niệm đúng đối tượng nghiên cứu

Về mặt khoa học cần nhận thấy mối liên quan về sự khác biệt giữa khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu Nhầm lẫn hai khái niệm này sẽ không đạt được kết quả nghiên cứu vì không tác động đúng với sự việc, hiện tượng cần

biết Một cách đơn giản có thể hiểu khách thể nghiên cứu bao gồm một lĩnh vực rộng hơn là đối tượng nghiên cứu chung của nhiều khoa học lân cận họ hàng

Ví dụ, xã hội loài người là khách thể của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn Trong khách thể chung ấy, mỗi khoa học lại xác định một đối tượng nghiên cứu riêng của mình, để không lẫn với khoa học khác dù rất gần gũi Không có

Trang 23

khoa học nào không có đối tượng nghiên cứu riêng của mình Không có đối tượng nghiên cưú sẽ không có khoa học

1 Quan niệm về đối tượng nghiên cứu của sử học thời cổ đại, phong kiến

và tư bản chủ nghĩa

1.1 Đối tượng của sử học nói chung

Khoa học nói chung, sử họ nói riêng, ra đời trong xã hội phân chia thành giai cấp, cho nên ngay từ khi sử học mới hình thành cho đến nay, quan niệm về đối tượng sử học đều mang tính giai cấp và mang tính thời đại Tùy theo chế độ

xã hội, tính chất thời đại quyền lực của giai cấp đó cầm quyền mà quan niệm này có những nét riêng biệt bên cạnh những nét chung của giai cấp thống trị ở những xã hội có áp bức, bóc lột

a Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, những quan niệm về đối tượng sử học khác

hẵn với nhận thức lịch sử con người thời kì nguyên thủy Mọi sự việc, hiện tượng nghiên cứu của con người thời cổ đại đều phụ thuộc vào quan niệm nhận thức của giai cấp thống trị (chủ nô) Nó được thể hiện trong các loại biên niên

sử, tự truyện, biện luận lịch sử ở các nước cổ đại phương Đông, đặc biệt là Trung Quốc, ở phương Tây, chủ yếu trong tác phẩm cảu Hêrôđốt- được mệnh danh “người cha sử học” và Tuyxidít Tuy Hêrôđốt còn chưa tách lịch sử ra khỏi những câu chuyện khoa học tự nhiên, địa lý, nhân chủng, văn học nhưng ông biết tập trung chú ý vào việc trình bày sự kiện theo những chủ đề (tiểu sử, lịch sử, chiến tranh Hy Lạp - Ba Tư) và xem những chủ đề ấy là đối tượng nghiên cứu của mình Mặc dù ông dựa vào hệ tư tưởng của nền dân chủ chủ nô

và cho rằng thần linh có vai trò quyết định trong lịch sử, song trong tác phẩm của ông đã có những yếu tố phê phán lịch sử, khuynh hướng muốn phân biệt sự kiện chính xác và điều bịa đặt

Một hiện tượng lớn đáng chú ý trong lịch sử cổ đại là lần đầu tiên, vào thế

kỷ II tr.CN, đã xuất hiện khái niệm “lịch sử thế giới” gồm 40 tập của Pôlibi Ông cho rằng lịch sử không chỉ là lịch sử một nước mà cuả tất cả những nước quan trọng ở Địa Trung Hải bị La Mã chiếm Pôlibi xem việc tìm hiểu và trình bày các sự kiện xảy ra trong quá khứ, cũng như nguyên nhân làm nảy sinh các sự kiện là nhiệm vụ quan trọng nhất cuả việc nghiên cứu lịch sử Theo ông, “việc miêu tả đơn thuần những gì đã diễn ra tuy rất thú vị, nhưng lại không có tác dụng giáo dục gì Việc nghiên cứu chỉ bổ ích khi nào biết bổ sung những câu chuyện đó bằng việc trình bày các nguyên nhân của sự kiện Quan niệm về đối tượng sử học thời La Mã có bước tiến hơn, khi các sử gia xác định đúng niên đại, phân biệt chuyện cuả các thần linh với người trần

b Sử học phong kiến thấm nhuần hệ tư tưởng của giai cấp thống trị, xem hiện tượng lịch sử là kết quả sự can thiệp sức mạnh của Trời vào đời sống con

người: quá trình lịch sử do ý Trời định đoạt Theo thuyết thiên mệnh này, đối tượng của sử học là vua chúa - những kẻ “con trời” - bọn vua, quan phong kiến Nếu như trung tâm nghiên của sử học thời cổ đại là đời sống chính trị của giai

cấp chủ nô, thì việc ghi chép đời sống của các vua chúa, các tầng lớp trên của giai cấp phong kiến là nội dung chủ yếu trong các biên niên sử thời trung đại

Trong các tác phẩm sử học thời cổ đại, trung đại khó mà tìm được các tài liệu về

Trang 24

tình hình đời sống của nô lệ, nông nô, về các cuộc đấu tranh của họ, giả thử có chút tài liệu gì thì cũng rất lệch lạc, sai lầm Do đó, đối tượng nghiên cứu của sử học phong kiến rất hạn chế trong phạm vi những sự việc xảy ra trong đời sống chính trị, chiến tranh, bang giao, việc thay đổi triều đại Các nhà sử học thời trung đại ở châu Âu cũng nêu được yêu cầu nghiên cứu tính thống nhất của xã hôị loài người, song lại cho rằng, Chúa đã tạo ra sự thống nhất này, nên phải tìm hiểu “vương quốc của thần linh” bên cạnh việc nghiên cứu “vương quốc trần gian”

c Bắt đầu từ những nhà sử học thời Phục hưng nước Pháp (thậm chí còn sớm hơn”, sử học của giai cấp tư sản đang lên đã quan niệm được “đối tượng của sử học là con người và những sự vật quan hệ đến con người” Makiavenli đã đưa

cái nhìn thế tục về khoa học vào lịch sử, tìm cách giải thích lịch sử bằng bản thân hoạt động của con người; Mabiông (thế kỷ XVII) tìm cách nâng lịch sử thành một khoa học (về tính chân thật và tính đảng của sử liệu) Sự phát triển của khoa học tự nhiên cũng góp phần đẩy mạnh hơn nữa sự phát triển của tư tưởng về đối tượng sử học Bên cạnh việc lấy các hoạt động chính trị của loài người trong quá khứ làm đối tượng nghiên cứu, họ còn mở rộng lịch sử ra các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội Các nhà sử học của thế kỷ XVII, còn chú ý đến việc giải thích nguyên nhân của các sự kiện lịch sử, nêu khái niệm “tiến bộ”

và tìm hiểu động lực quyết định sự phát triển và tiến bộ của lịch sử Vônte, Môngtexkiơ, Gibông, Hium, Hecđe, Vicô, Côngđoocxê thuộc đội ngũ những nhà sử học tiến bộ này Đối tượng của sử học được mở rộng rất nhiều, đồng thời người ta cũng chú ý sâu sắc đến công tác nghiên cứu lịch sử Quan niệm về tính chân thật của sử học được đề cao, nguồn sử liệu được mở rộng sự ra đời của các khoa học gần gũi, như địa lý học, địa lý - lịch sử, dân tộc học, khảo cổ học, lịch

sử kinh tế, niên đại học cũng góp phần quan trọng vào việc tăng thêm nguồn

sử liệu

Đầu thế kỷ XIX, trước khi chủ nghĩa Mác ra đời, tư tưởng sử học tư sản đã phát triển đến trình độ cao đáng kể Các nhà sử học Pháp, Chieri, Misơlê, Ghidô, A.Chie, đã phát hiện ra giai cấp và vai trò của đấu tranh giai cấp trong xã hội (đặc biệt là xã hội Pháp cận đại) và lấy đó là một đối tượng nghiên cứu lịch sử S.Ximông còn nhấn mạnh vai trò các quan hệ sở hữu, hoạt động kinh tế và đấu tranh giai cấp Hêghen vạch ra mối liên hệ nội tại của sự vận động và biến đổi của lịch sử loài người

Tuy nhiên sử học tư sản thời kỳ đi lên đã phạm một số khuyết điểm cơ bản

về đối tượng nghiên cứu Họ xem lịch sử là lịch sử của trí tuệ, của văn minh, của

thời kỳ có chữ viết và bỏ ra ngoài đối tượng của sử học cả thời kỳ nguyên thủy dài dằng dặc của loài người Việc từ bỏ những sự kiện lịch sử này kéo

theo việc đặt ra ngoài đối tượng sử học lịch sử của các dân tộc chậm tiến,

hiện đang sống trong trời kỳ trước chủ nghĩa tư bản

Khuyết điểm cơ bản thứ hai của sử học tư sản về đối tượng nghiên cứu là

xem lịch sử chỉ là lịch sử của các cá nhân xuất chúng Toàn bộ hoạt động của quần chúng nhân dân lao động bị gạt bỏ ra ngoài đối tượng của sử học Hơn

nữa, trong khi tìm cách giải thích những động lực phát triển của lịch sử loài người, sử học tư sản trong thời kỳ đi lên đã viện dẫn các quy luật của tự nhiên,

Trang 25

các định luật của công thức toán học Quan niệm này không khỏi đưa họ đến tư tưởng duy tâm, thần bí, máy móc

Vì vậy, nếu trước kia các giai cấp chủ nô, vua quan là đối tượng nghiên cứu của sử học thời cổ đại, phong kiến thì những thương nhân, những nhà kinh doanh là nhân vật trung tâm của sử học tư sản Các nhà sử học tư sản phương Tây xem thường lịch sử các nước phương Đông; theo họ, chỉ có nền văn minh phương Tây mới xứng đáng là nền văn minh thế giới Họ đưa thuyết “châu Âu là trung tâm”, đem lịch sử các nước châu Âu làm trung tâm của lịch sử thế giới, xem đó là đối tượng chủ yếu của sử học Thuyết “Châu Âu là trung tâm” không

có cơ sở lịch sử vững chắc Châu Âu là chiếc nôi của chủ nghĩa tư bản, nhưng trong lịch sử loài người, chủ nghĩa tư bản cũng chỉ mới tồn tại một thời gian ba, bốn trăm năm Với cách mạng tháng Mười Nga (1917) một thời đại mới bắt đầu

- chủ nghĩa xã hội ra đời và nhất định sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản Hơn nữa, các nước phương Đông trước đó là chiếc nôi của nền văn minh cổ đại rực rỡ, tồn tại hàng nghìn năm Như vậy, châu Âu không phải là “trung tâm” của lịch sử thế giới từ trước đến nay mà mọi dân tộc đều có đóng góp cho sự phát triển chung của xã hội loài người Rõ ràng, thuyết “Châu Âu là trung tâm” chỉ là sản phẩm của bọn tư bản xâm lược châu Âu; nó phản ánh đầy đủ quan điểm của chủ nghĩa thực dân nhằm biện hộ cho việc thống trị các nước nhỏ yếu, ngăn cản sự phát triển của các dân tộc này

d Từ khi chủ nghĩa Mác ra đời và ngày càng chiếm được tâm trí của loài

người tiến bộ, đặc biệt là từ sau thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga năm

1917, bên cạnh sự phát triển của dòng sử học Mácxít, giới sử học tư sản đã tạo

ra rất nhiều trường phái lịch sử khác nhau dựa trên những học thuyết triết học khác nhau, nhằm chống lại chủ nghĩa Mác và sử học Mácxít Sử học thực chứng mới, từ bỏ những mặt tích cực của chủ nghĩa thực chứng thế kỉ XIX, phủ nhận tính chân thật của các khái niệm lịch sử, phủ nhận quy luật Rícke cho rằng

“Lịch sử là khoa học về các sự vật riêng biệt và cá thể” Sử học của phái “Tômát

mới” lại nhấn mạnh vai trò của Chúa trong sự tiến hóa của lịch sử Trường

phái duy vật kinh tế đi sâu hơn vào việc nghiên cứu các nhân tố kinh tế, nhưng lại phủ nhận vai trò của những quan hệ sản xuất và chỉ chú ý đến các vấn đề kỹ

thuật, dân số Trường phái tâm lí - lịch sử phủ nhận tính độc lập của khoa học lịch sử, xem lịch sử là một bộ phận của tâm lý học

Một số nhà sử học tư sản tiến bộ công nhận những cống hiến của chủ nghĩa Mác, nhưng cho rằng cần phải phát triển rộng rãi hơn nữa đối tượng của

sử học Họ đã đề ra hai phương hướng mới cho sử học: lịch sử văn minh và lịch

sử tổng quát Quan niệm lịch sử văn minh có phần tiến bộ của nó, song làm cho người ta dễ bỏ qua vấn đề cơ bản của lịch sử Đó là cuộc đấu tranh giai cấp trong lịch sử xã hội phân chia thành giai cấp Con đường đi tới của loài

người hiện nay đã trải qua nhiều cuộc đấu tranh chống các thế lực phản động

ngăn cản sự phát triển của xã hội văn minh, công bằng, tiến bộ Quan niệm lịch

sử tổng quát tuy mở rộng đối tượng nghiên cứu lịch sử, nhưng dựa trên học thuyết đa nhân tố trong triết học, phủ nhận vai trò quyết định của phương trức sản xuất Những quan niệm khác nhau về lịch sử của sử học học tư sản ngày nay

tuy có mở rộng ít nhiều đối tượng của sử học, nhưng lại hạ thấp vị trí của sử học

Ngày đăng: 20/11/2017, 12:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN