Sau sự thần kỳ của Nhật Bản trong những năm 1960, 1970, của Hàn Quốc trong những năm 1970, 1980, và sự nổi lên của Trung Quốc trong hai thập kỷ gần đây, với nhu cầu sử dụng năng lượng hó
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN NGHIÊN CỨU ĐÔNG BẮC Á
Trang 2Tập thể tác giả:
1 TS Trần Quang Minh
2 Th.S Phạm Thị Xuân Mai
3 Th.S Trần Thị Duyên
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Chương 1: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU - BIỂU HIỆN, HỆ LỤY VÀ ĐỐI
SÁCH CỦA CÁC QUỐC GIA VÀ VÙNG LÃNH THỔ Ở ĐÔNG BẮC Á
1.3.1 Đẩy mạnh công tác nghiên cứu dự báo 37 1.3.2 Giảm thiểu sự tác động của biến đổi khí hậu 46 1.3.3 Thích ứng với biến đổi khí hậu 71
Chương 2: MÔI TRƯỜNG - MỘT SỐ VẤN ĐỀ NỔI BẬT VÀ ĐỐI
SÁCH CỦA CÁC QUỐC GIA VÀ VÙNG LÃNH THỔ ĐÔNG BẮC Á
77
2.1 QUAN HỆ GIỮA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
79 2.1.1 Một số khái niệm về ô nhiễm môi trường 79 2.1.2 Quan hệ giữa phát triển kinh tế và ô nhiễm môi trường 81
2.2 ĐỐI SÁCH CỦA CÁC NƯỚC VỀ CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG
93
Trang 42.2.3 Đối sách của Trung Quốc 125
Chương 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ NỔI BẬT VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ
MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Trong mấy thập kỷ qua Đông Bắc Á đã trở thành khu vực phát triển năng động nhất trong nền kinh tế thế giới Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng đã để lại những hậu quả nghiêm trọng về môi trường ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia nói riêng và cả khu vực nói chung Sau sự thần kỳ của Nhật Bản trong những năm 1960, 1970, của Hàn Quốc trong những năm
1970, 1980, và sự nổi lên của Trung Quốc trong hai thập kỷ gần đây, với nhu cầu sử dụng năng lượng hóa thạch tăng lên tới mức khổng lồ, đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng về môi trường không chỉ cho bản thân các quốc gia này mà còn ảnh hưởng lớn tới các nước trong khu vực Trên phạm
vi toàn cầu, sự gia tăng nhanh chóng của nồng độ các loại khí nhà kính, đặc biệt là CO2, trong bầu khí quyển do sử dụng nhiên liệu hóa thạch trong quá trình công nghiệp hóa của các nước, đặc biệt là trong mấy thập kỷ gần đây, được coi là nguyên nhân chủ yếu của tình trạng biến đổi khí hậu hiện nay
Biến đổi khí hậu, một trong những hệ quả nghiêm trọng của quá trình công nghiệp hóa, cùng với hàng loạt các vấn đề về môi trường khác như ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất đã và đang gây
ra những tác động tiêu cực hết sức nghiêm trọng đe dọa sự tồn vong của sự sống trên trái đất Nhân loại đã ý thức được điều này và đã và đang cố gắng khắc phục những sai lầm của mình nhằm cứu trái đất Ở Đông Bắc Á, các nước trong khu vực, tùy theo trình độ phát triển của mình, cũng đều đã có những chính sách và biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm thiểu sự xuống cấp của môi trường, xây dựng cuộc sống xanh, và phát triển bền vững
Tuy nhiên, ứng phó với biến đổi khí hậu và giải quyết các vấn đề về môi trường là những công việc hết sức khó khăn và lâu dài, đòi hỏi nỗ lực
Trang 6chung của tất cả các quốc gia trên thế giới Nhưng hiện nay do trình độ phát triển của các nước rất khác nhau, sự phối hợp giữa các nước cũng như việc thực hiện cam kết của các nước về vấn đề này còn nhiều hạn chế Ngay cả với giả định tất cả các quốc gia trên thế giới nghiêm chỉnh thực hiện Nghị định thư Kyoto về cắt giảm khí nhà kính, thì biến đổi khí hậu vẫn sẽ tiếp tục diễn ra trong mấy chục năm tới do hậu quả của việc phát thải quá mức khí nhà kính vào khí quyển trong những thập kỷ vừa qua Những thách thức về biến đổi khí hậu và môi trường đối với các nước trong khu vực trong những thập niên tới chắc chắn sẽ vẫn hết sức nghiêm trọng Vì thế, mỗi quốc gia trong khu vực phải có những đối sách của mình với những thách thức về biến đổi khí hậu và môi trường, trước hết là để đảm bảo cho
sự phát triển bền vững và cuộc sống tốt đẹp của bản thân nước mình, sau
đó là góp phần vào nỗ lực chung của cả khu vực và thế giới giải quyết các vấn đề này
Việt Nam đang trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Những hệ lụy của biến đổi khí hậu không loại trừ Việt Nam Các vấn
đề về môi trường của Việt Nam cũng hết sức nghiêm trọng Việc nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu và giải quyết các vấn đề môi trường cũng như định hướng đối sách của các nước trong khu vực về các vấn đề này trong thập kỷ tới chắc chắn sẽ là những tham khảo hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam trong việc hoạch định chiến lược phát triển quốc gia đảm bảo tăng trưởng
và phát triển bền vững Xuất phát từ yêu cầu này, Viện nghiên cứu Đông Bắc Á, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, cho ra mắt bạn đọc cuốn sách
“Đối sách của các quốc gia và vùng lãnh thổ Đông Bắc Á về biến đổi khí hậu và các vấn đề môi trường giai đoạn 2001-2020”
Nội dung chính của cuốn sách là phân tích và đánh giá đối sách của một số quốc gia và vùng lãnh thổ ở Đông Bắc Á như Trung Quốc, Nhật
Trang 7Bản, Hàn Quốc, và vùng lãnh thổ Đài Loan về biến đổi khí hậu và các thách thức về môi trường giai đoạn 2001-2020 Từ kinh nghiệm của các quốc gia và vùng lãnh thổ này và căn cứ thực trạng các vấn đề nói trên ở Việt Nam, đề xuất các giải pháp trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu và giải quyết các vấn đề nổi bật về môi trường của nước ta hiện nay
Kết cấu của cuốn sách bao gồm 3 chương với các tiêu đề là:
Chương I: Biến đổi khí hậu - Biểu hiện, hệ lụy, và đối sách của các quốc gia và vùng lãnh thổ ở Đông Bắc Á
Chương II: Môi trường - Một số vấn đề nổi bật và đối sách của các quốc gia và vùng lãnh thổ ở Đông Bắc Á
Chương III: Một số vấn đề về biến đổi khí hậu và môi trường ở Việt Nam và kiến nghị chính sách
Xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc Mặc dù nhóm tác giả đã có nhiều cố gắng trong nghiên cứu và biên soạn cuốn sách này, song chắc chắn không tránh khỏi còn những khiếm khuyết nhất định Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của độc giả
TM tập thể tác giả
TS Trần Quang Minh
Trang 8Chương 1 BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU: BIỂU HIỆN, HỆ LỤY VÀ ĐỐI SÁCH CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ VÙNG LÃNH THỔ Ở ĐÔNG BẮC Á
Trong mấy thập kỷ qua, nhân loại đã và đang trải qua các biến động bất thường của khí hậu toàn cầu Trên bề mặt Trái đất, khí quyển và thủy quyển không ngừng nóng lên làm xáo động môi trường sinh thái, đã và đang gây ra nhiều hệ lụy đối với đời sống loài người
Các công trình nghiên cứu quy mô toàn cầu về hiện tượng này đã được các nhà khoa học ở những trung tâm nổi tiếng trên thế giới tiến hành
từ đầu thập kỷ 90 thế kỷ XX Hội nghị quốc tế do Liên hiệp quốc triệu tập
tại Rio de Janeiro năm 1992 đã thông qua Hiệp định khung và Chương trình hành động quốc tế nhằm cứu vãn tình trạng “xấu đi” nhanh chóng của
bầu khí quyển trái đất, vốn được coi là nguyên nhân chủ yếu của sự gia tăng hiểm họa Tổ chức nghiên cứu liên chính phủ về biến đổi khí hậu của Liên hiệp quốc (IPCC)1 đã được thành lập, thu hút sự tham gia của hàng
ngàn nhà khoa học quốc tế Tại Hội nghị Kyoto năm 1997, Nghị định thư Kyoto đã được thông qua Đầu tháng 2/2005 nó đã được nguyên thủ của
165 quốc gia phê chuẩn và bắt đầu có hiệu lực từ 10/2/2005 Hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ ở Đông Bắc Á đã tham gia Nghị định thư Kyoto
và áp dụng nhiều biện pháp chính sách hữu hiệu ứng phó với tình trạng biến đổi khí hậu hiện nay
Nội dung chính của chương này là nhìn nhận một cách tổng quan về biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu, những biểu hiện cụ thể và hệ lụy
1
The Intergovernmental Panel on Climate Change (IPCC) is the leading international body for the assessment of climate change It was established by the United Nations Environment Programme (UNEP) and the World Meteorological Organization (WMO)
in 1988 to provide the world with a clear scientific view on the current state of
knowledge in climate change and its potential environmental and socio-economic impacts
Trang 9của nó ở các nước Đông Bắc Á, và đối sách của các quốc gia và vùng lãnh thổ ở Đông Bắc Á về vấn đề này
I TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ HỆ LỤY CỦA
NÓ Ở MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG BẮC Á
1 Tổng quan về biến đổi khí hậu
- Khí hậu: Khí hậu là trạng thái khí quyển ở một phạm vi không gian
và thời gian nhất định, được đặc trưng bởi các trị số trung bình nhiều năm
về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, lượng bốc thoát hơi nước, mây, gió Nó là
sự phản ánh giá trị trung bình nhiều năm của thời tiết và thường có tính chất ổn định, ít thay đổi
- Biến đổi khí hậu: Nói một cách đơn giản, biến đổi khí hậu là sự
thay đổi trạng thái khí hậu đã được xác lập một cách tương đối ổn định theo thời gian, gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường sống và hệ sinh thái của trái đất Theo công ước khung của LHQ về biến đổi khí hậu2,
“Biến đổi khí hậu là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi, sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý, hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội, hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”
Trong lịch sử địa chất của trái đất, sự biến đổi khí hậu đã từng nhiều lần xẩy ra với những thời kỳ lạnh và nóng kéo dài hàng vạn năm mà người
2
Trước những hiểm họa và thách thức lớn về khí hậu đối với nhân loại, Liên hợp quốc với 2
cơ quan chuyên môn chính của mình là Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) và Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc (UNEP), đã tập hợp nhiều nhà khoa học, chuyên gia trên thế giới bàn bạc và đi đến nhất trí cần có một Công ước quốc tế về khí hậu và coi đó là cơ sở pháp
lý để tập trung nỗ lực chung của cộng đồng thế giới đối phó với những diễn biến tiêu cực của biến đổi khí hậu Sau một quá trình soạn thảo (tháng 02/1991-tháng 5/1992), Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC) đă được chấp nhận vào ngày 9/5/1992 tại Trụ sở của Liên hợp quốc ở New York
Trang 10ta gọi là các thời kỳ băng hà và gian băng Thời kỳ băng hà cuối cùng đã xảy ra cách đây 10.000 năm và hiện nay là giai đoạn ấm lên của thời kỳ gian băng Sự thay đổi khí hậu này là do sự tiến động và thay đổi độ nghiêng trục quay trái đất, sự thay đổi quỹ đạo quay của trái đất quanh mặt trời, vị trí các lục địa và đại dương và đặc biệt là sự thay đổi trong thành phần khí quyển
Hiện tượng nhiệt độ bề mặt Trái đất nóng lên và lạnh đi vốn là hiện tượng tự nhiên xảy ra có tính chu kỳ trong lịch sử hình thành và phát triển của Trái đất Không phải chỉ bây giờ, lịch sử Trái đất hàng triệu triệu năm
đã trải qua nhiều lần nóng lên rồi lại lạnh đi kéo theo những biến động to lớn trong đời sống sinh vật trên Trái đất, làm thay đổi cả diện mạo địa hình lục địa và đại dương Tính từ 1,6 triệu năm đến nay đã có 5-6 chu kỳ biến động lớn Đó là các thời kỳ băng hà kéo theo mực nước biển hạ thấp (biển lùi) và các thời kỳ gian băng (băng tan) kéo theo mực nước biển dâng cao (biển tiến) Vào các thời kỳ băng hà, nhiệt độ bề mặt Trái đất khô lạnh Vào thời kỳ gian băng nhiệt độ bề mặt Trái đất đan xen giữa nóng ẩm và khô hạn Vào các thời kỳ đó, biên độ dao động của nước biển (dâng, hạ) lên đến hàng chục, hàng trăm mét Mỗi chu kỳ kéo dài hàng vạn, chục vạn năm Mỗi chu kỳ như vậy còn được chia ra các chu kỳ ngắn hơn với thời gian kéo dài nhiều trăm năm đến nghìn năm với biên độ dao động mực nước biển 2-3 m hoặc hơn
Bằng phương pháp khoan sâu tới 3.270m ở vùng Nam cực và phân tích các bóng khí nằm trong các lớp băng tuyết ở độ sâu vài km, các nhà khoa học lần đầu tiên đã có thể tìm hiểu về lịch sử biến đổi khí hậu hàng trăm nghìn năm trước và đi đến kết luận về sự tương quan giữa nồng độ khí
CO2 và hiện tượng tăng nhiệt độ trên Trái đất Theo kết quả nghiên cứu, nhiệt độ Trái đất đã ở mức cao nhất vào thời kỳ cách đây 320.000 năm, khi
mà nhiệt độ tại Nam cực nóng hơn 3-5 độ C so với ngày nay và nồng độ
Trang 11CO2 trong khí quyển khi đó có tỷ lệ 320 ppm (320/1 triệu đơn vị) so với
380 ppm hiện nay Nồng độ CO2 trong khí quyển hiện nay ở mức cao nhất trong 800.000 năm qua Cũng theo các nhà khoa học, 667.000 năm trước là thời kỳ CO2 có nồng độ thấp nhất trong khí quyển (chỉ khoảng 172 ppm) và
họ cho rằng khi đó các đại dương có thể hấp thụ một lượng khí CO2 tốt hơn
Ngày nay, người ta có thể nhận biết được những diễn biến của biến đổi khí hậu qua các trạm quan trắc của các quốc gia bằng việc đo đạc nhiệt
độ, lượng mưa, bức xạ, gió và các thông số khác sau đó tập hợp lại và đưa
ra một số liệu trung bình biểu đồ của nhiệt độ từng năm và đem so sánh với các năm trước Chúng ta cũng có thể nhận biết được biến đổi khí hậu một cách đơn giản trong cuộc sống đời thường là tại sao năm nay mùa Đông lại ngắn lại, hạn hán, mưa lũ thất thường không giống quy luật mấy chục năm
về trước Cây trồng có sự thay đổi về thu hoạch, dịch bệnh nhiều hơn, bệnh mới xuất hiện Đặc biệt là cảm nhận được nhiệt độ của mùa Hè các đợt nóng tăng lên và kéo dài, mùa Đông ngắn lại Tất cả những yếu tố này tác động trực tiếp đến cuộc sống của mỗi con người
- Nguyên nhân của biến đổi khí hậu hiện nay:
Nguyên nhân của biến đổi khí hậu hiện nay được quy cho hai nhân tố khách quan và chủ quan Nhân tố khách quan có liên quan đến chu kỳ biến đổi tự nhiên của trái đất trong hệ mặt trời như đã được đề cập đến ở trên Nguyên nhân chủ quan là do sự tác động của con người Tuy nhiên, theo báo cáo mới nhất của Liên hiệp quốc, nguyên nhân của hiện tượng biến đổi khí hậu hiện nay chủ yếu (tới 90%) là do con người gây ra, chỉ có 10% là
do tự nhiên Hầu hết giới khoa học đã khẳng định nguyên nhân chủ yếu gây
ra biến đổi khí hậu hiện nay là do nồng độ của khí hiệu ứng nhà kính tăng lên trong khí quyển ở mức độ cao đã làm cho nhiệt độ bề mặt Trái đất ấm
Trang 12lên Và sự ấm lên của nhiệt độ bề mặt Trái đất đã tạo ra những biến đổi khác thường trong các vấn đề thời tiết hiện nay
Theo các kết quả nghiên cứu được công bố, trong vòng 1.000 năm qua, nhiệt độ trung bình của bề mặt Trái đất tăng, giảm không đáng kể
và có thể nói là ổn định Nhưng trong vòng 200 năm trở lại đây, khi nhân loại bắt đầu khai thác và sử dụng than đá, dầu lửa và các nhiên liệu hoá thạch trong các hoạt động công nghiệp, và đặc biệt là trong mấy chục năm vừa qua khi công nghiệp hoá phát triển mạnh, con người đã phát thải một lượng lớn khí CO2, nitơ ôxít, mêtan vào bầu khí quyển, trong đó lượng khí CO2 chiếm tỷ lệ cao nhất Trong tổng lượng CO2 phát thải ra bầu khí quyển, hoạt động của các nhà máy và sưởi của các hộ dân chiếm 33%, nhiệt điện chiếm 33%, ô tô và xe tải chiếm 22%, máy bay, tàu thủy chiếm 12% Ngoài ra, nạn chặt phá rừng bừa bãi làm mất nguồn hấp thụ khí CO2 càng làm cho nồng độ CO2 trong khí quyển tăng nhanh Theo thống kê, nồng độ CO2 đặc biệt tăng nhanh trong hơn hai thập kỷ qua Từ năm 1970 đến năm 2000, nồng độ CO2 tăng trung bình 1,5 ppm/năm và trong những năm gần đây, nồng độ này đã tăng hơn 2 ppm/năm
Mối liên quan giữa quá trình gia tăng hàm lượng CO2 và các khí thải gây hiệu ứng nhà kính do con người gây ra với sự gia tăng nhiệt độ bề mặt Trái đất đã được minh chứng qua các số liệu mấy thế kỷ và nhất là trong vài thập kỷ gần đây Nhiệt độ bề mặt Trái đất có được là nhờ hấp thụ nhiệt
từ Mặt trời và nhận dòng nhiệt của chính mình tỏa ra từ bên trong lòng đất
Sự có mặt của một hàm lượng khí CO2 cần thiết trong bầu khí quyển vốn là tấm áo giáp ngăn chặn bức xạ nhiệt (bức xạ hồng ngoại) từ Trái đất thoát vào vũ trụ mênh mông lạnh lẽo Thiếu nó thì mặt đất sẽ không có được một nhiệt độ điều hòa cho sự sinh sôi phát triển sự sống Các công trình nghiên cứu áp dụng công nghệ hiện đại cho chúng ta biết suốt thiên niên kỷ trước khi có cuộc cách mạng công nghiệp, hàm lượng khí CO2 trong khí quyển
Trang 13dao động ở mức 280 phần triệu (ppm) Tuy nhiên, tính từ đầu thế kỷ XIX đến nay hàm lượng đó đã tăng liên tục đến 360 ppm Số liệu quan trắc trong 4 thập kỷ gần đây cho thấy, cứ mỗi thập kỷ hàm lượng CO2trong khí quyển lại tăng 4%
Nhiệt độ trung bình của bề mặt trái đất được quyết định bởi sự cân bằng giữa hấp thụ năng lượng mặt trời và lượng nhiệt trả vào vũ trụ Khi lượng nhiệt bị giữ lại nhiều trong bầu khí quyển thì sẽ làm nhiệt độ trái đất tăng lên Chính lượng khí CO2 chứa nhiều trong khí quyển đã tác dụng như một lớp kính giữ nhiệt lượng của trái đất tỏa ngược vào vũ trụ Cùng với khí CO2 còn có một số khí khác, được gọi chung là khí nhà kính như NOx, CH4, CFC Với sự gia tăng mạnh mẽ của nền sản xuất công nghiệp và việc
sử dụng các nhiên liệu hoá thạch ngày càng nhiều, theo các nghiên cứu dự báo, nhiệt độ toàn cầu sẽ gia tăng từ 1,4oC đến 5,8oC từ 1990 đến 2100 và
vì vậy sẽ kéo theo những nguy cơ ngày càng sâu sắc đối với chất lượng sống của con người Có thể khẳng định rằng những cứ liệu và luận giải đã được nêu ra là đầy sức thuyết phục
- Biểu hiện của biến đổi khí hậu:
Biến đổi khí hậu làm cho nhiệt độ bề mặt trái đất ấm lên, độ ẩm trong không khí tăng, băng ở hai cực trái đất tan ra, nước biển dâng và các hiện tượng thời tiết cực đoan như lũ lụt, hạn hán xảy ra trầm trọng…
Hiện nay, nhiệt độ trung bình trên bề mặt trái đất đã tăng lên tới 0,3 - 0,4 độ C trong mấy chục năm vừa qua và hiện đang có xu hướng tăng tiếp Theo các mô hình nghiên cứu, trong thế kỷ 21 nhiệt độ trung bình của Trái đất có thể tăng từ 1,1 – 6,0 độ C, khả năng xảy ra từ 1,8 – 4,0 độ C tùy theo
sự phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính được cắt giảm đến mức độ nào Nếu như ngay từ lúc này, nhân loại dừng phát thải khí nhà kính thì nhiệt độ bề mặt Trái đất vẫn tiếp tục nóng lên, nước biển vẫn tiếp tục dâng lên trong
Trang 14vòng 50 năm nữa Nhiệt độ trái đất nóng lên làm cho băng của các dãy Himalaya và Nam cực, Bắc cực và các vùng khác tan chảy Những núi băng này tan chảy sẽ làm cho mực nước biển tăng lên
Mực nước biển sẽ dâng lên từ 28 - 43 cm Nhưng có thể mực nước biển này còn cao hơn nữa tùy theo sự phát thải của khí gây hiệu ứng nhà kính và tác động của con người gây ra
Các báo cáo của IPCC và nhiều trung tâm nghiên cứu có uy tín hàng đầu trên thế giới công bố trong thời gian gần đây đã đưa ra nhiều thông tin
và dự báo quan trọng Theo đó, nhiệt độ trung bình trên bề mặt địa cầu ấm lên gần 1°C trong vòng 80 năm (từ 1920 đến 2005) và tăng rất nhanh trong khoảng 25 năm nay (từ 1980 đến 2005) Mới đây, ông Mark Lowcok, quan chức của Bộ Phát triển Quốc tế Anh đã đến thăm Việt Nam và có buổi
thuyết trình về “Báo cáo Stern” do các nhà khoa học Anh xây dựng, được
chính phủ Anh công bố về vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu Báo cáo cho rằng nếu không thực hiện được chương trình hành động giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính theo Nghị định thư Kyoto, đến năm 2035 nhiệt độ bề mặt địa cầu sẽ tăng thêm 2°C Về dài hạn, có hơn 50% khả năng nhiệt độ
tăng thêm 5°C
Hệ quả đồng hành với việc bề mặt Trái đất ấm lên là sự tan chảy của những khối băng vĩnh cửu ở hai đầu địa cực và trên đỉnh những dãy núi cao Nhưng có lẽ chưa bao giờ tốc độ tan băng lại diễn ra nhanh và với quy
mô lớn như hiện nay Tại Nam Cực, tháng 3/2002, các nhà khoa học đã tận mắt chứng kiến khối băng 500 tỷ tấn tan rã thành hàng nghìn mảnh; Tại Bắc Cực, mùa hè năm 2002, lượng băng tan ở Greenland cao gấp đôi so với năm 1992, diện tích băng tan đã lên tới 655.000 m2 Hơn 110 sông băng và những cánh đồng băng vĩnh cửu ở bang Montana thuộc miền Tây Bắc Hoa
Kỳ đã biến mất trong vòng 100 năm qua Theo dự báo các sông băng sẽ hầu như biến mất khỏi dãy Alpes (châu Âu) vào năm 2050 (nếu tốc độ tan
Trang 15chảy duy trì như hiện nay) Mùa hè 2002, các nhà khoa học đã ghi nhận một khối băng 3,5 triệu tấn tách ra, gây ra lũ băng từ dãy núi Mali trên đỉnh Kavkaz thuộc Nga Trong vòng 13 năm gần đây, số băng tan ở châu Âu đã tăng gấp đôi so với lượng băng tan của 30 năm trước (1961-1990)
Băng tan và nhiệt độ tăng làm nở thể tích trung bình của nước được coi như hai nguyên nhân chính dẫn đến mực nước đại dương cao dần lên, làm tràn ngập các đồng bằng thấp ven biển Các số liệu quan trắc mực nước biển thế giới cho thấy mức tăng trung bình trong vòng 50-100 năm qua là 1,8 mm/năm Nhưng chỉ trong 12 năm gần đây, các số liệu đo đạc của vệ tinh NASA cho thấy xu thế biển dâng đang gia tăng rất nhanh, với tốc độ trung bình là 3 mm/năm Báo cáo của IPCC, do hàng chục nhà khoa học soạn thảo và hơn 2000 nhà khoa học từ 130 quốc gia tham gia đóng góp ý kiến, đưa ra dự báo: đến cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ bề mặt Trái đất sẽ tăng thêm từ 1,4 đến 4°C, mực nước biển sẽ dâng thêm khoảng 28-43 cm Nhiều nhà khoa học còn đưa ra những dự báo mực nước biển đang dâng nhanh hơn nhiều, nhất là do hiện tượng tan băng đang xảy ra với tốc độ đáng kinh ngạc trong thời gian gần đây Nhà địa lý học Richard Alley ở Đại học Pennsylvania, Hoa Kỳ nói: Chỉ cần 15% lớp băng ở Greenland bị tan cũng tạo ra một khối nước mới trong các đại dương đủ để làm ngập tiểu bang Florida của Hoa Kỳ và nhiều vùng duyên hải khác trên thế giới
Theo Báo cáo đánh giá lần thứ 4 (AR4) của IPCC, nếu nhiệt độ
trung bình toàn cầu tiếp tục ở mức cao hơn 1-4°C so với giai đoạn năm
1990 đến 2000, các dải băng ở Greenland và Tây Nam cực3 sẽ tan chảy trong một vài trăm năm hay vài ngàn năm, nâng cao mực nước biển từ 4 đến 6m hoặc hơn Nếu dải băng ở Greenland hoàn toàn tan chảy, dự báo
3
Tại đường kinh độ 0 đến 180 độ, bên bán cầu phía đông của Nam Cực được gọi là
"Đông Nam Cực" và phía tây bán cầu được gọi là “Tây Nam Cực” Bán đảo Nam Cực
mở rộng về phía Nam Mỹ, biển Ross và biển Weddell nằm trong khu vực này
Trang 16mực nước biển dâng khoảng 5m, và nếu dải băng Tây Nam cực biến mất,
có thể làm tăng mực nước biển lên đến 7m
Hình 1: So sánh độ bao phủ nhỏ nhất băng biển Bắc cực được chụp bởi vệ tinh
Trong tháng 9 năm 1979 (trái) và tháng 9 năm 2007 (phải) 4
Nguồn: Cơ quan Thám hiểm Không gian Vũ trụ Nhật Bản (Japan Aerospace Exploration Agency)
2 Hệ lụy của Biến đổi khí hậu nói chung và ở một số nước Đông Bắc Á
a Gây ra các hiện tượng thời tiết cực đoan
Biểu hiện rõ nhất của biến đổi khí hậu có thể nhận thấy là sự thay đổi một cách bất thường của tình hình thời tiết như: rét đậm, mưa lớn, bão to, nắng nóng gay gắt và kéo dài…Rất nhiều minh chứng đã cho thấy hệ lụy của biến đổi khí hậu được biểu hiện qua hàng loạt tác động cực đoan của khí hậu trong thời gian gần đây Khoảng 250 triệu người bị ảnh hưởng bởi những trận lũ lụt ở Nam Á, châu Phi và Mexico Các nước Nam Âu đang đối mặt với nguy cơ bị hạn hán nghiêm trọng dễ dẫn tới những trận cháy rừng, sa mạc hóa, còn các nước Tây Âu thì đang bị đe dọa xảy ra những trận lũ lụt lớn, do mực nước biển dâng cao cũng như những đợt băng giá
4
Đối với mức độ băng biển vào năm 1979, sử dụng dữ liệu do NASA SMMR quan sát; về mức độ băng biển trong năm 2007, sử dụng dữ liệu do Cơ quan Thám hiểm Không gian vũ trụ Nhật Bản (JAXA) AMSR-E quan sát
Trang 17mùa Đông khốc liệt Những trận bão lớn vừa xẩy ra tại Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ có nguyên nhân từ hiện tượng trái đất ấm lên trong nhiều thập kỷ qua Những dữ liệu thu được qua vệ tinh từng năm cho thấy
số lượng các trận bão không thay đổi, nhưng số trận bão, lốc cường độ mạnh, sức tàn phá lớn đã tăng lên, đặc biệt ở Bắc Mỹ, Tây Nam Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Bắc Đại Tây Dương Số lượng các trận bão lớn, lốc xoáy cường độ mạnh tăng gấp đôi, trùng hợp với nhiệt độ bề mặt đại dương tăng lên Trận sóng thần ở Ấn Độ Dương (2004) cướp đi sinh mạng 225.000 người thuộc 11 quốc gia, hay cơn bão Katrina đổ bộ vào nước Mỹ (2005) gây thương vong lên đến hàng ngàn người và thiệt hại kinh tế ước tính 25 tỷ USD, và gần đây nhất siêu bão Nargis đánh vào Myanmar (2008)
là thảm họa thiên nhiên tàn khốc nhất trong năm tính theo số lượng người thiệt mạng Trận bão này đã cướp đi sinh mạng của hơn 135.000 người và đẩy hơn một triệu người vào cảnh không nhà cửa Tính ra, thiên tai đã cướp
đi mạng sống của hơn 220.000 người trong năm 2008 và gây thiệt hại khoảng 200 tỷ USD, biến nó thành một trong những năm đáng sợ nhất trong lịch sử loài người tính theo tổn thất thiên tai về người và của Diễn biến mới nhất của thiên tai là trận cháy rừng khủng khiếp do thời tiết quá khô hạn xảy ra ở nước Úc (2/2009) đã giết chết ít nhất 210 người và làm bị thương hơn 500 người cùng những thiệt hại nặng nề về vật chất Một nghiên cứu dự báo với xác suất lên tới 90% cho thấy sẽ có ít nhất 3 tỷ người rơi vào cảnh thiếu lương thực vào năm 2100, do tình trạng ấm lên của Trái đất
Biến đổi khí hậu không phải là vấn đề hàn lâm mà thực tế nó có tác động rất lớn đến cuộc sống, là mối đe dọa trực tiếp đến sức khỏe và cuộc sống của con người Đã đến lúc con người phải nhận thức được những việc sai lầm mà mình đã làm và phải cứu vãn hành tinh này
Trang 18Biến đổi khí hậu là sự thay đổi cơ bản nhất của các hệ thống môi trường của trái đất bao gồm cả nhiệt độ và lượng mưa Vì vậy, hiệu ứng của nó có thể được nhận thấy trong phạm vi nhiều lĩnh vực rộng lớn, chẳng hạn như lưu thông thủy văn và tài nguyên nước, hiểm họa về nước và bờ biển, hệ sinh thái trên cạn và trên biển, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, sức khoẻ con người và công nghiệp Những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu có thể theo các hai chiều hướng tích cực và tiêu cực Một ví dụ về ảnh hưởng tích cực là các hoạt động quang hợp tăng lên do nồng độ CO2 tăng trong khí quyển Điều này sẽ dẫn đến năng suất ngũ cốc cao hơn (thụ phấn có hiệu quả) Tuy nhiên, các nghiên cứu đến thời điểm này đều cho thấy những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu là rất nghiêm trọng và lớn hơn rất nhiều so với những tác động tích cực
Theo Báo cáo đánh giá số 4 của IPCC (AR4), trong thế kỷ 21 con
người sẽ phải đối mặt với những ảnh hưởng nghiêm trọng từ biến đổi khí hậu như: giảm nguồn nước ngọt, sự tuyệt chủng của một số loài, bão lũ và ngập lụt do ảnh hưởng của mực nước biển dâng, khủng hoảng lương thực
và sức khỏe Trên quy mô toàn cầu, khi nhiệt độ trung bình tăng 1-3°C so với mức của giai đoạn 1980-1999, một số lĩnh vực có thể có lợi như nông nghiệp ở các vùng lạnh hơn Tuy nhiên, hiệu ứng tiêu cực về kinh tế được
dự báo sẽ chiếm ưu thế trong tất cả các nơi trên thế giới nếu nhiệt độ tăng 2-3°C hoặc lớn hơn Bốn khu vực được xác định là đặc biệt dễ bị tổn thương với biến đổi khí hậu là Bắc Cực; Châu Phi; các quốc gia đảo nhỏ;
và các khu vực đồng bằng châu thổ5 lớn ở Châu Á có nguy cơ cao về nước biển dâng, bão và lũ sông
5
Hình thành vùng đất bùn phẳng và thấp được tạo ra trong khu vực nơi sông giao với biển Vùng đồng bằng rộng lớn được hình thành ở cửa sông lớn như sông Hằng và sông Mekong được gọi là đồng bằng châu thổ
Trang 19Tại Nhật Bản: Những hệ lụy của biến đổi khí hậu được thể hiện rất
rõ nét ở Nhật Bản Thời tiết, khí hậu tại Nhật Bản đã có sự thay đổi đáng
kể Nhiệt độ ấm lên, mực nước biển dâng cao, những thay đổi về quy luật mưa và tuyết rơi cũng như các trường hợp thời tiết khắc nghiệt đã và đang ảnh hưởng đến Nhật Bản ở nhiều khía cạnh như nông nghiệp, lâm nghiệp, sức khỏe con người, cơ sở hạ tầng, du lịch, và hệ sinh thái Dưới đây là một
số biểu hiện đã được nhận thấy và được dự báo từ biến đổi khí hậu ở Nhật Bản
Theo nhiều bài phân tích, Nhật Bản đang ấm lên Nhiệt độ trung bình hàng năm của Nhật Bản đã tăng khoảng 1,0°C trong thế kỷ qua (Cruz et al., 2007) Hơn nữa, số lượng những ngày nắng nóng ở Nhật Bản ngày càng nhiều hơn qua mỗi năm (những ngày có nhiệt độ tối đa cao hơn 35°C), trong khi số lượng những ngày lạnh cực độ lại giảm đi (JMA, 2005) Tại Hokkaido, sự thay đổi này thậm chí còn nhiều hơn mức trung bình của cả nước Nhiệt độ trung bình hàng năm tại Hokkaido đã tăng 1,33°C so với mức trung bình quốc gia 1,09°C (JMA, 2006)
Tổng lượng mưa trên toàn Nhật Bản không có sự thay đổi rõ rệt, song số lượng các trận mưa và cường độ mưa đã có sự thay đổi rất rõ rệt Theo Báo cáo đánh giá số 4 của IPCC, xét về tổng thể, tại Nhật Bản không
có xu hướng tăng hoặc giảm đáng kể về lượng mưa trong suốt thế kỷ 20 Tuy nhiên, thời gian, mùa vụ, và số lượng các trận mưa đã có sự thay đổi rõ rệt Đây là loại thay đổi rất khó dự báo, làm cho việc quy hoạch quản lý tài nguyên nước và nông nghiệp trở nên khó khăn hơn Sự phân bố lượng mưa trong các vùng cũng có sự thay đổi đáng kể Tại một số khu vực của Nhật Bản, lượng mưa có xu hướng giảm trong khi ở một số khu vực khác lại gia tăng (Cruz et al, 2007)
Trang 20Một hiện tượng nữa có thể nhận thấy rất rõ về biến đổi khí hậu ở Nhật Bản là thời gian băng trôi và mức độ của băng biển ở phần phía Nam của Biển Okhotsk (Ishizaka 2004; Hirota et al, 2006), bao gồm cả phần biển dọc theo bờ biển Hokkaido (JMA, 2007a) cũng có những thay đổi rõ rệt Hình ảnh vệ tinh trên biển Okhotsk cho thấy mỗi năm đã có 4,4% lượng băng trên biển suy giảm trong ba thập kỷ qua (EORC, 2008) Trong
4 năm (2005-2008), số lượng trung bình các ngày quan sát thấy băng trôi trên khu vực biển phía Bắc của Nhật Bản đã giảm từ 87 ngày xuống 65 ngày mỗi năm (JMA, 2008)
Có thể nói rằng các trường hợp thời tiết khắc nghiệt ở Nhật Bản đã tăng lên cả về tần suất và cường độ Trong suốt 100 năm qua, tần suất của các trận mưa đỉnh điểm đã gia tăng Trong đó, đặc biệt là giai đoạn từ sau những năm 1960 đến nay, số lượng các trận mưa cực lớn đã tăng mạnh (Isobe 2002; Kanai et al, 2004)
Theo dự báo, nhiệt độ trung bình hàng năm đối với toàn bộ khu vực Đông Á (Lal et al, 2001; Alam et al, 2007) sẽ tăng khoảng 3°C vào năm
2050 và 5°C vào năm 2080 Đối với Nhật Bản, nhiệt độ được dự báo cũng tương tự, với nhiệt độ trung bình hàng năm dự kiến sẽ tăng 2-3°C trong vòng 100 năm tới (MOE, 2006) Ở Hokkaido nhiệt độ được dự báo tăng lên
sẽ vượt mức 4°C ở xung quanh khu vực biển Okhotsk (Kurihara et al, 2005; MOE, 2006a) Tỷ lệ nóng lên được dự báo thay đổi theo mùa và thời gian trong ngày, với sự ấm lên trong mùa Đông tăng nhanh hơn trong mùa
Hè và sự ấm lên vào buổi đêm tăng nhanh hơn vào ban ngày (Kurihara et
al, 2005) Số ngày sương giá trên khắp Nhật Bản được dự báo sẽ giảm 20 đến 45 ngày vào năm 2090 với những thay đổi lớn nhất ở Hokkaido và dọc theo bờ biển Nhật Bản (Mizuta et al, 2005) Tần suất, thời gian và cường
độ của các đợt nóng vào mùa hè và số lượng những ngày nóng cũng được
dự báo sẽ tăng lên khắp khu vực Đông Á (Gao et al, 2002; Meehl, 2004;
Trang 21Cruz et al, 2007) Tương tự như vậy, khả năng các mùa nóng đỉnh điểm tại Nhật Bản được dự báo có sự gia tăng lớn và nhiệt độ trung bình ban ngày mùa hè (tháng 6, tháng 7 và tháng 8) ở Nhật Bản được dự báo tăng từ 3,0 đến 4,2°C vào năm 2100 (MOE, 2006a; JMA, 2007a) Hơn nữa, một nghiên cứu Nhật Bản gần đây đã cho thấy số lượng những ngày trên 30°C
sẽ tăng mạnh từ khoảng 40 ngày một năm hiện nay lên hơn 100 ngày một năm vào năm 2100 (CCSR, 2004) Sự thay đổi nhiệt độ như vậy có nghĩa là Nhật Bản có thể chuyển đổi từ một quốc gia có bốn mùa thành quốc gia chỉ
có ba mùa, điều này sẽ đưa đến những thay đổi có thể gây tác động ngược trong toàn bộ nền văn hóa Nhật Bản Các đại dương có khả năng sẽ tiếp tục
ấm lên, với nhiệt độ bề mặt biển tăng từ 1 đến 6°C, bao gồm cả dọc theo bờ biển phía Đông của Hokkaido (Murazaki et al, 2005)
Lượng mưa và tần suất của các trận mưa cường độ cao cũng được dự báo sẽ tăng trên toàn khu vực Đông Á (Ichikawa, 2004; Emori et al, 2005; JMA, 2005; Cruz et al, 2007; Christensen et al, 2007) Lượng mưa trung bình tại Nhật Bản được dự báo sẽ tăng hơn 10% trong thế kỷ 21, đặc biệt là trong những mùa ấm áp (Kimoto et al, 2005) Sự khác biệt giữa các khu vực và các mùa về tần suất và cường độ mưa sẽ tiếp tục gia tăng Lượng mưa trong mùa Hè (từ tháng 6 đến tháng 9) ở Nhật Bản được dự báo sẽ tăng 17 đến 19% (MOE, 2006a), trong khi lượng mưa trong mùa Đông trên khắp Nhật Bản được dự báo hoặc không thay đổi hoặc giảm nhẹ
Biến đổi lớn hơn về cường độ của các trận mưa được dự báo diễn ra trên khắp Nhật Bản, số ngày mưa lớn (những ngày có lượng mưa trên 30mm/ngày) dự báo sẽ tăng 5 ngày một năm và số ngày không có mưa được dự báo sẽ tăng 10 ngày một năm (Kimoto et al, 2005) Hokkaido được dự báo có tần suất và cường độ mưa tăng mạnh nhất so với các khu vực khác trên cả nước (Nishimori và Kitoh, 2006; Mizuta et al, 2005)
Trang 22Sự gia tăng tần suất và/hoặc cường độ của các trường hợp thời tiết khắc nghiệt, như hạn hán, lũ lụt và lốc xoáy nhiệt đới, cũng được dự báo sẽ diễn ra ở một số khu vực của Nhật Bản (Cruz et al, 2007) Trong thực tế,
sự gia tăng nhiệt độ bề mặt biển từ 2°C đến 4°C so với nhiệt độ hiện tại có thể làm gia tăng 10% đến 20% cường độ của các cơn bão nhiệt đới, tùy thuộc vào độ nhạy khí hậu (Knutson và Tuleya, 2004)
Đi liền với các hiện tượng thời tiết cực đoan là nước biển dâng Dọc
theo bờ biển của Nhật Bản, mực nước biển đã tăng lên với tốc độ nhanh chóng 3,3 mm mỗi năm kể từ giữa những năm 1980 và với tốc độ 5,0 mm mỗi năm từ năm 1993 (JMA, 2007a) Tốc độ mực nước biển dâng tối đa đã được ghi nhận tại Kushiro, Hokkaido, tăng 9,3 mm mỗi năm từ 1970 đến năm 2003 (JMA, 2004) Theo các dự báo về biến đổi khí hậu, mực nước biển toàn cầu sẽ tăng thêm từ 0,18m đến 0,59m vào năm 2100 (IPCC, 2007) Ở Đông Á, tốc độ mực nước biển dâng hàng năm được dự báo sẽ tăng lên 5 mm mỗi năm trong thế kỷ tới (Cruz et al, 2007) Sự gia tăng nhanh của mực nước biển như vậy đã và đang đe dọa nghiêm trọng 34.000
km bờ biển của Nhật Bản - nơi có một bộ phận lớn dân cư sinh sống và nhiều hoạt động kinh tế quan trọng của Nhật Bản (Kojima, 2004) So với các nước khác, Nhật Bản có số lượng người dân lớn thứ sáu (hơn 30 triệu người) sống trong phạm vi 10 km tính từ bờ biển (IIED, 2007) Các thành phố ven biển của Nhật Bản chiếm khoảng 32% tổng diện tích, 46% tổng dân số, sản xuất khoảng 47% sản lượng công nghiệp của cả nước (Kojima, 2004) Nước biển dâng cũng làm trầm trọng thêm các cơn bão biển, sóng thần, xói mòn bờ biển Đây chính là những mối đe dọa lớn đối với cộng đồng dân cư ven biển và các hoạt động kinh tế (Kojima, 2004) Trận sóng thần kinh hoàng tàn phá gần như toàn bộ khu vực Đông Bắc của Nhật Bản ngày 11/3/2011 là một trong những ví dụ điển hình về tai họa thảm khốc do thiên nhiên gây ra tại quốc gia này
Trang 23Những tác động liên quan đến sự gia tăng mực nước biển là lũ lụt ngày càng trở nên nghiêm trọng, sự xâm nhập của nước mặn vào các con sông và các tầng chứa nước ngầm, và xói mòn vùng đất ven biển của Nhật Bản Con người và các loài động vật hoang dã sẽ trải nghiệm những tác động gia tăng mức độ của lũ lụt, bão, nước biển dâng và sự xâm lấn của thủy triều vào hệ thống các sông và cửa sông (McLean et al.,2001) Trong thực tế, sự gia tăng mực nước biển trung bình 0,3m đã có khả năng loại bỏ hơn 50% bãi cát trên bờ biển của Nhật Bản Nếu mực nước biển dâng tới 1 mét thì hơn 90% các bãi biển của Nhật Bản sẽ biến mất cùng với nhiều vùng đất ngập nước thủy triều, nơi cung cấp nguồn thức ăn cho các loài chim di cư (Hulme và Sheard năm 1999; MOE, 2004; Harasawa 2006) Chính phủ Nhật Bản ước tính các chi phí liên quan đến việc bảo vệ đất nước này khỏi tình trạng nước biển dâng 1m sẽ vào khoảng 115 tỷ USD, trong khi giá trị các tài sản có nguy cơ rủi ro từ việc mực nước biển dâng 1m vượt quá 1 nghìn tỷ USD (Kojma, 2006)
Tại Hàn Quốc: Dấu hiệu rõ nhất của biến đổi khí hậu là rét đậm vào
mùa Đông, mưa kéo dài và số lượng những ngày nắng nóng gia tăng vào mùa Hè Tuyết dày gần 100cm đã xẩy ra ở tỉnh Gangwon trong tháng 2 năm 2010 (110cm ở Samcheok và 100cm ở Donghae) Tuyết dày nhất trong vòng 80 năm qua cũng đã xẩy ra Ulsan làm tê liệt thành phố này và buộc hãng motors Hyundai phải ngừng sản xuất xe hơi (ngày 4 tháng 2) Mật độ tuyết dày nhất 52cm trong vòng 60 năm qua cũng đã xẩy ra ở Pohang vào tháng 1 năm 2010 Tuyết dày 25,8cm đã xẩy ra ở Seoul Đây là trận mưa tuyết dày nhất kể từ năm 1937
Tháng 2 năm 2010, tại Hàn Quốc đã xẩy ra một đợt rét lạnh kỷ lục nhất (nhiệt độ thấp nhất xuống dưới âm 20 độ C) đã gây thiệt hại lớn chưa từng có đối với thủ đô Seoul trong vòng 10 năm và thành phố Busan trong vòng 96 năm
Trang 24Sóng lạnh bất thường và mưa tuyết dày đã làm cho tất cả các phương tiện giao thông vận tải như ô tô, tàu thuyền và máy bay đều bị tạm dừng, hoa màu bị hư hại, niềm tin của người tiêu dùng bị suy giảm, phục hồi kinh
tế chậm lại và việc cung cấp các nguồn nguyên liệu bị trì hoãn
Mưa lớn bất thường cũng đã xảy ra ở Hàn Quốc trong mùa mưa năm
2010 Tại Thủ đô Seoul, mưa đã kéo dài trong suốt 24 ngày trong tháng 8/2010, dài nhất kể từ khi hệ thống dự báo thời tiết hiện đại lần đầu tiên được giới thiệu ở đây vào năm 1908
Cơ quan Dự báo khí tượng Hàn Quốc cho biết, chỉ riêng trong tháng 8/2010, cả nước đã có lượng mưa 374,5 mm, cao hơn so với 304,2 mm trong thời điểm gió mùa của nước này vào giữa tháng 6 và tháng 7 Cơ quan này cũng cho biết, tình hình bất thường này vẫn được tiếp tục trong tháng 8 với lượng mưa 933,2 mm ở Seoul từ ngày 1 tháng 8 đến ngày 11 tháng 9, chiếm gần 75% lượng mưa hàng năm của thủ đô Seoul
Tổ máy số 1 và 2 trong nhà máy điện hạt nhân Kori đã phải ngừng hoạt động vì mưa lớn trong tháng 7 năm 2010 Lượng mưa trên toàn quốc trong tháng 8 năm 2010 đạt 374,5mm (tăng 141,3% so với lượng mưa trung bình hàng năm) Mưa lớn cục bộ đỉnh điểm 98mm cũng đã xẩy ra trong khu vực Thủ đô trong những ngày nghỉ lễ Chuseok (từ ngày 21 đến
22 tháng 9 năm 2010) Cùng với mưa lớn, cơn bão Kompasu đã lấy đi 6 sinh mệnh và những thiệt hại do cơn bão gây ra đã lên tới 167,4 tỷ won Mưa lớn cục bộ làm cho cuộc sống của người dân bị xáo trộn bao gồm cả
sự gián đoạn về cung cấp năng lượng do lũ lụt
b Đe doạ đời sống của con người
Biến đổi khí hậu gây nguy hiểm do nó làm cho Trái đất nóng lên, nước biển dâng lên Trái đất có 7 tỷ người và hiện giờ, có đến hơn một nửa
số người này sống ở vùng duyên hải của Trái đất trong phạm vi 100 km trở
Trang 25lại từ vùng bờ biển Khi nước biển dâng lên làm ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng tỷ người Theo dự báo của các nhà khoa học, thủ đô Bangkok (Thái Lan) trong vòng hai mươi năm nữa sẽ bị ngập Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam cũng là một trong những vùng rất "nhạy cảm" với tác động của biến đổi khí hậu
Sức khỏe con người là một trong những lĩnh vực bị tác động nhiều nhất của biến đổi khí hậu Sự thay đổi của khí hậu sẽ kéo theo những dịch bệnh, trong đó có nhiều dịch bệnh xảy ra với con người Chẳng hạn, nắng nóng sẽ làm muỗi sinh sôi nảy nở mà muỗi chính là mầm bệnh của bệnh sốt rét Hay nhiệt độ tăng cao và mưa lớn trái quy luật là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sốt xuất huyết tăng cao đột biến Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm có khoảng 150.000 người tử vong do biến đổi khí hậu liên quan đến các bệnh như sốt rét, tiêu chảy , đáng chú ý một nửa trong số này tập trung ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong
đó có Việt Nam Việt Nam là một trong 5 quốc gia bị ảnh hưởng mạnh nhất của biến đổi khí hậu Lũ lụt liên tiếp đã xảy ra ở miền Trung Tình trạng thiếu nước ngọt đã xẩy ra ở khu vực vốn được coi là có nguồn nước dồi dào như Đồng bằng sông Hồng Biến đổi khí hậu cũng làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh ở người già, trẻ em Trong thời gian qua, nhiều dịch bệnh nguy hiểm mới đã xuất hiện như SARS, H5N1 Trước sự thay đổi của khí hậu việc tìm hiểu về các loại bệnh mới là rất cần thiết để có những cách phòng chống6
Chết vì nóng, vì bệnh dịch, vì ô nhiễm không khí - trong tương lai sẽ
có thêm nhiều nạn nhân của biến đổi khí hậu toàn cầu Đó là kết luận của một nghiên cứu do Bộ Môi trường Mỹ thực hiện Bản báo cáo này gồm 149 trang vừa được công bố tại Washington là một trong nhiều phân tích khoa
6
3516.html
Trang 26http://www.tin247.com/bien_doi_khi_hau_lam_150000_nguoi_tu_vongnam-12-học mới đây tìm giải đáp cho câu hỏi sự ấm nóng toàn cầu sẽ tác động đến sức khỏe của người dân như thế nào Các nhà khoa học đã khẳng định rằng những nguy hại cho sức khỏe con người sẽ tăng lên cùng với quy mô và tiến độ của biến đổi khí hậu Theo đó, con số những nạn nhân của thời tiết khắc nghiệt và của những bệnh do ký sinh trùng hay ve lan truyền sẽ tăng cùng với nhiệt độ Sẽ có thêm nhiều người bị dị ứng vì mùa Đông ấm áp hơn sẽ càng làm cho phấn hoa bay sớm hơn và lâu hơn Ô nhiễm không khí, nguyên nhân chính cho những bệnh phổi và đường hô hấp, sẽ tăng thêm
Những bệnh như sốt rét, bệnh tả hay sốt xuất huyết tăng rõ rệt trong những vùng bị ngập lụt Mầm bệnh có thể phát sinh trong khí hậu nóng ẩm
và trong điều kiện kém vệ sinh không mấy khó khăn và lan truyền rộng rãi như dịch bệnh Theo bà Vickie Patton, Phó chủ tịch của tổ chức bảo vệ môi trường phi chính phủ Environmental Defense, sự ấm nóng toàn cầu không chỉ đe dọa nghiêm trọng sức khỏe và cuộc sống của con người mà còn có ảnh hưởng lan truyền rộng khắp Các bác sĩ Mỹ cũng cho rằng sự ấm nóng một phần cũng là nguyên nhân làm cho bệnh sỏi thận trở nên phổ biến Nghiên cứu của nhóm các nhà khoa học thuộc Đại học Texas (Mỹ) theo mô hình toán học đã cho thấy có sự liên quan trực tiếp giữa nhiệt độ trung bình
và xuất hiện sỏi thận Theo sự giải thích của họ: Khi nhiệt độ nóng hơn, cơ thể thường thiếu nước nhiều hơn Đây là một trong những yếu tố chủ yếu gây ra bệnh sỏi thận Hiện nay các nhà y học đã gọi miền Đông Nam ấm áp của nước Mỹ là "vành đai sỏi thận" Tại Mỹ, tỷ lệ những người mang bệnh này đã tăng từ 3,6 lên 5,6% dân số trong thời gian từ 1980 đến 1994, với nhiệt độ trung bình hằng năm tăng 0,5°C Dựa vào mô hình toán học, các nhà khoa học cũng đã dự tính khu vực rủi ro sẽ lan rộng ra các bang kế cận
ở miền Bắc nước Mỹ Trong một số vùng, số bệnh nhân mắc bệnh này được dự báo sẽ tăng tới 30%
Trang 27Biến đối khí hậu tác động đến con người bằng nhiều cách, từ trực tiếp như nắng nóng, giá rét, lũ lụt và bão đến gián tiếp như thay đổi chất lượng không khí, chất lượng nước, mất cân bằng hệ sinh thái và phá vỡ hệ thống kinh tế xã hội
Tại Nhật Bản, theo các mô hình khí hậu khu vực được dự báo, cường
độ các đợt nắng nóng đối với Nhật Bản sẽ gia tăng (Cruz et al, 2007), và nhiệt độ tăng có thể làm cho tình trạng già hóa dân số diễn ra nhanh hơn do
sự gia tăng căng thẳng do nóng bức (Stern, 2006) Nhiệt độ tăng cũng có thể khuyến khích sự lây lan của một số bệnh truyền qua vật chủ trung gian
và qua đường nước (WHO, 2002; MOE, 2004; Chính phủ Nhật Bản, 2006) Theo một khảo sát của Viện nghiên cứu bệnh truyền nhiễm quốc gia Nhật Bản, môi trường sống của các loại muỗi ở Nhật Bản đang được mở rộng Chúng có thể mang theo bệnh sốt xuất huyết đến Hokkaido (NIFD, 2007) Nhiệt độ tăng cũng có thể mang đến những điều kiện sinh trưởng tốt hơn cho các loại sinh vật và ký sinh trùng gây bệnh (Chính phủ Nhật Bản, 2006) Theo một nghiên cứu y tế quốc gia tập trung vào tác động của biến đổi khí hậu, Nhật Bản đã trải qua mức độ cao của các trường hợp khẩn cấp liên quan đến sự nóng bức Các bệnh dị ứng gia tăng cũng như các bệnh liện quan đến dị ứng phấn hoa cây Tuyết tùng của Nhật Bản ngày càng trở nên phổ biến (Koike, 2006)
Do biến đổi khí hậu, các mô hình thời tiết của Nhật Bản bị ảnh hưởng có khả năng tăng mạnh hơn và thường xuyên hơn các trường hợp thời tiết khắc nghiệt như bão, hạn hán và lũ lụt, mà gần như chắc chắn sẽ có tác động nghiêm trọng đến nền kinh tế của Nhật Bản
Theo một nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh
tế (OECD), những thay đổi khí hậu đã không những làm tăng xác xuất của
các trường hợp lũ lụt, đặc biệt là ngập lụt ở đô thị, mà còn làm tăng tính
Trang 28chất dễ bị tổn thương từ lũ lụt do mật độ dân số tăng và tập trung tài sản kinh tế ở Nhật Bản Kết quả là, xác suất các trường hợp lũ lụt phát triển thành thảm họa đã tăng lên và Nhật Bản sẽ phải đối mặt với chi phí cuộc sống gia tăng và sự cần thiết phải gia tăng chi phí bảo vệ từ các thảm họa "tự nhiên"
Châu Á đặc biệt dễ bị tổn thương với các thảm họa thiên nhiên và Nhật Bản cũng không ngoại lệ Biến đổi khí hậu sẽ làm trầm trọng thêm tính dễ bị tổn thương hiện có của Nhật Bản với các trường hợp thời tiết khắc nghiệt (ABI, 2005) ABI ước tính rằng thiệt hại liên quan đến gió được bảo hiểm từ những cơn bão khắc nghiệt ở Nhật Bản có thể tăng từ thua lỗ hàng ngày hiện tại từ 10-14 tỷ USD lên 15-20 tỷ USD, tăng 67-70%, nhiều hơn gấp hai lần các chi phí của mùa bão năm 2004, chi phí đắt
đỏ nhất trong vòng 100 năm qua (ABI, 2005) Bên cạnh đó, những thiệt hại
về kinh tế liên quan đến thời tiết trong hơn 40 năm qua cũng đã tăng gấp 10 (IPCC, 2001) Bão là một trong những thảm họa thiên nhiên chủ yếu ảnh hưởng đến thị trường bảo hiểm Nhật Bản, thị trường lớn thứ ba trên thế giới Tính trung bình, tổng thiệt hại trong ngành công nghiệp do những cơn bão được bảo hiểm gây ra ở Nhật Bản lên tới 4 tỷ USD Năm 2004 là năm chi phí tốn kém nhất cho mùa mưa bão trong vòng một thế kỷ qua, với tổng thiệt hại từ 3 cơn bão lên đến 14 tỷ USD (ABI, 2005)
Sự suy giảm mức độ băng biển và tuyết bao phủ cũng tác động đến hoạt động du lịch trượt tuyết của Nhật Bản, đặc biệt là các thị trấn nghỉ mát trượt tuyết của Niseko, Hokkaido (JMA, 2007a) Đại dương nóng lên làm cho lượng băng và số ngày có băng suy giảm dẫn tới số lượng du khách giảm và thu nhập từ ngành du lịch trượt băng, tuyết cũng giảm theo Theo dự báo, Abashiri, Hokkaido của Nhật Bản sẽ là những nơi đầu tiên các tảng băng nổi biến mất
Trang 29Một phần lớn dân số và sản lượng công nghiệp của Nhật Bản nằm được phân bố ở gần bờ biển do đó rất dễ bị ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
Cơ sở hạ tầng tại các cảng công nghiệp nặng của Nhật Bản là đặc biệt dễ bị tổn thương (ví dụ, nhà xưởng, nhà máy lọc dầu, khí đốt hóa lỏng và hóa chất thực vật, các nhà máy thép, nhà máy đóng tàu và các thùng chứa dầu) (Hulme và Sheard, 1999) Nhật Bản có một số lượng đáng kể các bờ biển Nguy cơ mực nước biển dâng kết hợp với bão biển và thiên tai, bao gồm
cả sóng thần, xói mòn bờ biển và lũ lụt (UNDP, 2007) đe dọa sự tồn tại của các khu công nghiệp này là rất lớn Trong thực tế, khoảng 860 km2 diện tích các thành phố công nghiệp lớn của Nhật Bản thấp hơn mực nước trung bình và khả năng dễ bị tổn thương của khu vực này sẽ lớn hơn gấp ba lần khi mực nước biển dâng cao thêm 1 mét (Hulme và Sheard, 1999) Các lĩnh vực khác dễ bị tổn thương với biến đổi khí hậu bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, tài nguyên nước, quản lý ven biển, hệ sinh thái tự nhiên, và sức khỏe con người
Tại Hàn Quốc, số ngày sóng nhiệt (hơn 33 độ C) ở Hàn Quốc trong những năm gần đây là trên 10 ngày/năm, tăng hơn 2 ngày so với mức trung bình trước đó Nhu cầu điện lớn nhất trong mùa hè năm 2010 đã tăng 11,8% lên 70,7 triệu kw so với mức trung bình năm Giá rau thực phẩm đã tăng mạnh do sóng nhiệt, nóng cháy và mưa lớn trong mùa Thu xảy ra ở các khu vực canh tác nông nghiệp vùng cao ở Daegwallyeong trong năm
2010 Giá rau Baechu (hay bắp cải Trung Quốc) tăng tới hơn 15.000 won mỗi cái
Sóng nhiệt và đêm đen nhiệt đới là mầm gây bệnh cho con người, nhất là các bệnh truyền nhiễm Hạn hán đã làm xáo trộn cuộc sống của người dân và gây thiệt hại cho ngành công nghiệp do tình trạng thiếu nước Theo các chuyên gia thời tiết, điều kiện thời tiết gần đây ở Hàn Quốc đã chịu ảnh hưởng của sự nóng lên toàn cầu Mưa kéo dài hàng tuần, nhiệt độ
Trang 30mùa hè nóng bỏng và tuyết rơi kỷ lục trong mùa Đông đều liên quan đến hiện tượng này và sự ấm lên hơn mức bình thường của Thái Bình Dương Trong những năm gần đây Hàn Quốc đã trải qua những trận mưa cực lớn Dường như có những thời kỳ trong năm cả nước đã bị chìm trong mưa lớn trong vòng gần một tháng và những thiệt hại liên quan được báo cáo hàng ngày Những chiếc ô đã trở thành một “mặt hàng thiết yếu” bán chạy nhất trong những ngày này
Theo ông Kim Seung-bae, phát ngôn viên của Cục Khí tượng Hàn Quốc (KMA) "những trận mưa mà chúng ta đang trải qua hiện nay rõ ràng
là không điển hình" Những trận mưa lớn đã ngày càng trở nên không thể
dự báo trước được, giống như những cơn bão nhiệt đới bất ngờ phá hủy các khu vực nhỏ hơn
c Tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp
Theo Chủ tịch Viện Chính sách Trái Đất, ông Lester Brown, nước dành cho việc sản xuất lương thực ở Trung Quốc và Ấn Độ có nguy cơ cạn kiệt khi hiện tượng ấm lên toàn cầu khiến cho các sông băng tan chảy Đây
là mối đe dọa khủng khiếp nhất đối với nông nghiệp toàn cầu
Sông Hằng ở Ấn Độ, sông Hoàng Hà và sông Dương Tử ở Trung Quốc được cung cấp nước bởi những cơn mưa trong mùa mưa, nhưng trong mùa khô nguồn cung cấp nước chủ yếu cho chúng là băng ở dãy Himalaya Chỉ riêng sông băng Gangotri ở Himalaya đã cung cấp tới 70% lượng nước cho sông Hằng trong mùa khô
Mùa khô là giai đoạn mà nước trở nên cần thiết nhất đối với việc tưới tiêu các cánh đồng lúa gạo và lúa mì - hai loại ngũ cốc nuôi sống hàng
tỷ người trên thế giới Theo Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu, nhiều sông băng ở dãy Himalaya có thể biến mất vào năm 2035 Các nhà
Trang 31khoa học Trung Quốc cũng ước tính khoảng hai phần ba sông băng ở vùng cao nguyên Tây Tạng - Thanh Hải có thể biến mất vào năm 2060
Sự suy giảm của lượng nước chảy ra từ sông băng có thể khiến dòng chảy của sông Hằng, sông Hoàng Hà và sông Dương Tử thay đổi theo mùa Trung Quốc và Ấn Độ sản xuất hơn một nửa sản lượng lúa mì và gạo của thế giới Trong khi đó, lưu vực của ba con sông lớn cung cấp phần lớn lượng lương thực này Hàng năm, sông Dương Tử tưới nước cho khoảng một nửa diện tích trồng lúa tại Trung Quốc Trong khi đó, những cánh đồng còn lại của Trung Quốc và Ấn Độ được tưới bởi nguồn nước lấy từ các tầng nước ngầm nước dưới lòng đất Do tác động của hoạt động bơm hút, quá trình mất nước ở đây diễn ra nhanh hơn quá trình thay thế Lượng nước dưới lòng đất ở hai khu vực trồng ngũ cốc chính - cao nguyên phía bắc của Trung Quốc và khu vực Punjab của Ấn Độ, đang giảm nhanh
Nếu mất cả hai nguồn cung cấp nước chủ yếu cho các kênh thủy lợi, hai quốc gia này có thể đối mặt với tình trạng thiếu lương thực, nhất là khi nhu cầu lương thực ngày càng tăng theo tốc độ phát triển của dân số Tại
Ấn Độ, nơi mà chỉ hơn 40% trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng, nạn đói
sẽ gia tăng và tỷ lệ sống sót của trẻ em sẽ giảm7
Hiểm họa lương thực từ hai nước sẽ nhanh chóng tác động tới thế giới Lương thực được mua bán trên phạm vi toàn cầu và giá lương thực đang leo thang chóng mặt do nhu cầu đối với chúng tăng không ngừng Cách duy nhất để tránh hiểm họa là loại bỏ những chính sách năng lượng kém hiệu quả và cắt giảm 80% lượng khí thải carbon vào năm 2020 Cần phải chấm dứt việc xây dựng những nhà máy nhiệt điện sử dụng than đá Nhưng có một nghịch lý là Trung Quốc và Ấn Độ lại là hai nước đang xây dựng nhiều nhà máy nhiệt điện dùng than đá nhất thế giới
7
Dẫn lời ông Lester Brown
Trang 32Ngoài Ấn Độ và Trung Quốc, Pakistan cũng là nước chịu ảnh hưởng của tình trạng băng tan Theo ông Amir Mohammad, cựu bộ trưởng Nông nghiệp Pakistan, 60% lương thực của Pakistan phụ thuộc vào sông Indus Các sông băng ở Himalaya cũng cung cấp nước cho dòng sông này Tình trạng tan chảy của các sông băng đã bắt đầu tác động tới dòng chảy của nó
Tại Nhật Bản, nhiệt độ tăng và lượng mưa biến động hơn có thể có ảnh hưởng bất lợi đối với lượng nước trên các lưu vực sông, đến đời sống của các loài trong hệ sinh thái và các loại nông sản (MOE, 2004) Những thay đổi trong việc phân bố lượng mưa, lượng mưa và nhiệt độ gia tăng cũng sẽ có tác động đáng kể đến chất lượng nước và nguồn nước (Gitay et
al 2002) Nhiệt độ ấm lên và sự giảm nguồn nước sẵn có cũng có thể ảnh hưởng xấu đến một số hồ nước ngọt ở Nhật Bản, đặc biệt chất lượng nước
có thể sẽ xấu đi và việc gia tăng nồng độ các chất hóa học trong nước tăng
đã có những ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất và thu hoạch cây trồng (Gitay, et al., 2002) Những thay đổi về tài nguyên nước cũng có thể tác động đến khu vực kinh tế - xã hội và môi trường như sức khỏe, an toàn cộng đồng, đa dạng sinh học, nông nghiệp và ngành công nghiệp (EEA, 2007)
Những tác động của tình trạng nhiệt độ nóng lên cũng có ảnh hưởng đáng kể đến ngành nông nghiệp của Nhật Bản (Hirota et al., 2006) Nhiệt
độ khu vực tăng lên đã ảnh hưởng không nhỏ đến ngành nông nghiệp của Hokkaido theo các khía cạnh khác nhau, thuận lợi cho canh tác lúa nhưng không thuận lợi cho các loại cây trái Trong thực tế, nhiệt độ tăng cao đã ảnh hưởng tiêu cực đến một số loại cây ăn quả và các sự cố trái cây bất thường đã được xác định trên khắp Nhật Bản từ việc quả Nho không chuyển màu đỏ cho đến cùi quả Đào chuyển màu nâu Sự gia tăng nhiệt độ nước do biến đổi khí hậu gây ra sẽ ảnh hưởng đến quá trình sinh thái, sự phân bố địa lý của các loài thủy sản và có thể dẫn đến sự suy
Trang 33giảm và có nguy cơ tuyệt chủng của một số loài quan trọng khỏi khu vực Hokkaido được coi là một trong những khu vực sản xuất gạo lạnh nhất trên thế giới, cây lúa được phân bố có giới hạn Nghiên cứu gần đây cho thấy sự gia tăng nhiệt độ có thể dẫn đến sự gia tăng của sản xuất lúa gạo (ví dụ, nhiệt độ tăng 1oC có thể dẫn đến năng suất lúa tăng 6%) Nhưng khi các yếu tố khác - chẳng hạn như bức xạ mặt trời và tốc
độ gió, được kể tới, sản lượng gạo có thể dao động từ giảm 30% đến tăng 41% Điều này cho thấy độ không chắc chắn lớn trong mô hình tác động của khí hậu đến việc trồng lúa ở khu vực này của Nhật Bản (Shimono et al, 2007) Theo IPCC AR4, năng suất lúa được dự báo sẽ giảm đến 40% trong khu vực đồng bằng tưới tiêu ở miền Trung và miền Nam Nhật Bản dưới bầu khí quyển tăng gấp đôi nồng độ CO2 (Cruz et al, 2007)
d Tác động tiêu cực đến hệ sinh thái
Bức ảnh chú gấu Bắc cực cố bám lấy tảng băng chìm đã trở nên lỗi thời với hiện tượng trái đất ấm lên Hiện nay đã xuất hiện rất nhiều dấu hiệu khác cho thấy hệ sinh thái của trái đất đang bị suy thoái bởi sự can thiệp của con người Theo một báo cáo được công bố tại Hội nghị quốc tế
về đa dạng sinh học lần thứ 9 do LHQ chủ trì tại Đức, sự tuyệt chủng của các loài động thực vật hàng năm đã làm mất đi 6% GDP của thế giới, tương đương với khoảng 2.000 tỉ Euro Theo đó, nhà nghiên cứu Pavan Sukhdev, một quan chức cao cấp của ngân hàng Deutsche Bank, đã khẳng định sự mất mát của đa dạng sinh học đang chiếm đến 50% tài nguyên về kinh tế của các nước nghèo Trong đó nạn phá rừng đã dẫn đến sự tuyệt diệt của nhiều loài động thực vật và là nguyên nhân làm gia tăng của 20% lượng khí CO2 thải vào bầu khí quyển
Trang 34Các tổ chức quốc tế cũng khẳng định, tính đến ngày 12/9/2007 đã có 1/4 loài động vật có vú, 1/8 loài chim, 1/3 loài lưỡng cư và 70% loài thực vật đang bị đe dọa xóa sổ
Tại Nhật Bản: Mỗi năm người ta lại nhận thấy sự ra hoa và nở hoa
sớm hơn của cây Anh đào Đây là một trong những ví dụ tiêu biểu cho một
xu hướng lớn hơn đang tác động tiêu cực đối với con người và thiên nhiên
ở Nhật Bản Từ những loài quý hiếm cho đến cả hệ sinh thái và từ các hoạt động riêng lẻ cho đến tổng thể nền kinh tế của đất nước hoa Anh đào này đều đang chịu sự tác động của biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu đã có tác động lớn nhất đến các hệ sinh thái biển và ven biển, các khu vực miền núi và rừng (Alam et al, 2007) Trong thực tế, hơn 20% động vật có vú, động vật lưỡng cư, các loài cá nước lợ và cá nước ngọt, các thực vật có mạch (nhựa) đang sinh sống ở Nhật Bản phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng, cùng với khoảng 20% các loài bò sát và hơn 10% các loài chim (MOE, 2006) Biến đổi khí hậu sẽ làm trầm trọng thêm vấn
đề này
Tại Hokkaido người ta đã quy hoạch một số khu vực hoang dã rộng lớn nhất ở Nhật Bản Hàng trăm loài cây được đưa về đây từ những khu rừng ôn đới mát mẻ ở phía Nam cho đến tiểu hệ sinh thái cận Bắc cực ở phía Bắc cùng với hàng trăm loài động vật và loài chim Ngoài ra, đây cũng
là khu vực duy nhất ở Nhật Bản tạo điều kiện sinh trưởng cho loài gấu nâu Tuy nhiên, sự biến đổi khí hậu cộng thêm những áp lực hiện có đang
đe dọa các loài và các khu vực tự nhiên này Khi nhiệt độ tiếp tục tăng lên, một số loài chỉ tồn tại ở độ cao nhất của các dãy núi của Hokkaido là những loài sẽ bị đe dọa nhất Một loài động vật quý hiếm sống ở vùng núi có tên
là Pica bị đã và đang bị đe dọa trong suốt quá trình phân bố sinh sống của chúng (WWF, 2008) Pika được liệt kê trong Danh sách đỏ của Bộ Môi
Trang 35trường Nhật Bản là một loài động vật quý hiếm của địa phương đang có nguye cơ bị diệt chủng Pica đã bị tuyệt chủng cục bộ ở một số vùng trên thế giới (Beeveret al, 2003)
Khi nhiệt độ tăng, một số loài cây rừng đã thích nghi dần bằng cách
di chuyển lên độ cao hơn và đang xâm lấn những bãi cỏ cao nguyên (MOE, 2004) Nếu xu hướng này tiếp tục, Nhật Bản có thể mất nhiều bãi cỏ cao nguyên và các loài động vật ăn cỏ ở đó
Ngoài ra, các loài di cư như những con Thiên nga (Whooper) và Đại bàng biển (Steller) cũng có thể bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu như nhiệt
độ ấm lên và các mô hình lượng mưa thay đổi Một phần ba trong tổng
số các loài chim này của thế giới di cư tới bờ biển phía Đông Bắc của Hokkaido Loài sếu Nhật Bản, biểu tượng quốc gia, tượng trưng cho cuộc sống lâu dài và hạnh phúc, cũng bị ảnh hưởng tương tự Hiện nay, Hokkaido cũng là một trong những địa điểm trú Đông cho các loài tượng trưng này Loài ngỗng trắng (white-fronted goose) gần như đang bị đe dọa xóa sổ tại đây (Anser albifrons) (MOE, 2004) Các loài khác cũng có thể phải cạnh tranh cho các nhu cầu sống và đòi hỏi về thức ăn tương tự Biến đổi khí hậu cũng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và vòng đời của một
số loài động thực vật Ví dụ, người ta đã nhận thấy sự phân bố dịch chuyển về phía Bắc của loài bướm, sâu bướm, chuồn chuồn và ve sầu ở Nhật Bản (MOE, 2004) Nhiều loài sẽ bị buộc phải di chuyển về phía các cực hoặc những nơi có độ cao lớn hơn (khi có thể) trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu Sự di cư của các loài này chắc chắn sẽ làm thay đổi thành phần của hệ sinh thái hiện tại và các khu vực hoang dã (Gitay et al., 2002)
Thiệt hại của các loài do biến đổi khí hậu gây ra và nguy cơ tuyệt chủng cũng đe dọa các loại cây trồng nông nghiệp (ví dụ như các loài thụ phấn), y dược và bản sắc văn hóa Nhiệt độ tăng và lượng mưa biến động
Trang 36có ảnh hưởng đến sự phát triển của các loài thực vật riêng lẻ, chẳng hạn như nở hoa sớm hơn trong mùa Xuân so với thập kỷ qua (Root et al 2003) Số ngày đổ màu lá vàng mùa Thu và số ngày lá rơi cũng đang thay đổi (JMA, 2007b) Trong hơn 50 năm qua, số ngày nở sớm hơn trung bình đối với hoa Anh đào của Nhật Bản là 4,2 ngày (JMA, 2007b) Những thay đổi chu kỳ phát triển cũng đã được phát hiện ở cây Ginkgo và cây Thích (maple) ở Nhật Bản Cả hai loại cây này đều có mùa sinh trưởng dài hơn Hiện loài cây Ginkgo bắt đầu mùa sinh trưởng sớm hơn 4 ngày và kết thúc muộn hơn khoảng 8 ngày so với thời kỳ sinh trưởng của loài cây này trong suốt 4 thập kỷ qua (Matsumoto, et al., 2003) Những thay đổi chu kỳ phát triển cũng đã được phát hiện ở các loại cây trồng khác của Nhật Bản, bao gồm cả cây Bồ công anh (Dandelion) và cây Đậu tía (Wisteria) Nhìn chung, nhiệt độ ấm hơn đã làm cho hoa nở sớm hơn và do đó gây
ra lo ngại về sự không phù hợp hệ sinh thái, các loài chim và côn trùng đang có nguy cơ lớn nhất (JMA, 2007b)
Biến đổi khí hậu cũng ảnh hưởng đến sản lượng cá nước ngọt, cá nước mặn trên khắp Nhật Bản và các vùng nước ven biển của quốc gia này, đe dọa thay đổi trụ cột chính của ẩm thực Nhật Bản Một trong những nghiên cứu đầu tiên cho thấy về sự thay đổi lớn trong sự phân bố và phong phú của các loài cá là ở phía Bắc biển Bering (Grebmeier et al, 2006) Những kết quả nghiên cứu này cũng được áp dụng cho các vùng biển khác của Nhật Bản Một ví dụ là sự thay đổi được dự báo đối với loài cá Thu đao
ở phía Bắc Thái Bình Dương ngoài khơi bờ biển của Nhật Bản (MAFF, 2007) Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, tăng trưởng và phân
bố của các loài cá và có thể thay đổi các hiệu ứng mạng lưới thức ăn của cán cân động vật ăn thịt - con mồi, thay đổi mức độ các chất dinh dưỡng trong nước Do băng trôi tạo ra một môi trường đại dương giàu dinh dưỡng thúc đẩy tảo băng tăng trưởng và do đó hình thành nên các liên kết chính
Trang 37trong chuỗi thức ăn đại dương Sự thay đổi trong thời gian trôi của các dải băng sẽ ảnh hưởng đến sản lượng cá và tiếp đó là ngành công nghiệp đánh bắt cá của Nhật Bản (MOE, 2006a) Trong khi vùng biển ngoài khơi của Nhật Bản hiện có một số loài thủy sản được xem là nhiều nhất thế giới [phần lớn là do sự hội tụ của dòng cận nhiệt đới Nhật Bản (Kuroshio) và dòng cận Bắc cực Kurile (Oyashio) (MOE, 2006)], song các nghiên cứu đã cho thấy Nhật Bản có thể phải đối mặt với sự suy giảm đáng kể về một số loại cá đánh bắt trong thế kỷ 21
Tại Hàn Quốc: Do biến đổi khí hậu (trái đất ấm lên, nước biển
dâng), phần phía Nam của Hàn Quốc vốn là vùng khí hậu ôn đới và cận nhiệt đới ngày càng trở thành môi trường sống cho các loài động, thực vật thường thấy ở các nước có khí hậu nhiệt đới Các chuyên gia khí hậu cho rằng, biến đổi khí hậu đang thách thức hệ sinh thái của Hàn Quốc Nó làm suy giảm các loài thuộc hệ sinh thái truyền thống và làm cho môi trường ngày càng trở nên thân thiện hơn với các loài động thực vật nhiệt đới
Chim Hải Âu của Bulwer, một loài chim sinh sống ở các nước nhiệt đới và Châu Phi, đã được phát hiện trên đảo Jeju của Hàn Quốc Các chuyên gia cho biết, việc đánh bắt được cá nhiệt đới ở vùng biển ngoài khơi Jeju và các khu vực ven biển phía Nam của Hàn Quốc diễn ra cũng không còn là điều bất ngờ nữa
Viện nghiên cứu và Phát triển Thủy sản quốc gia Hàn Quốc gần đây
đã đưa ra kết luận là toàn bộ khu vực đại dương và môi trường đất ở phần phía Nam của Hàn Quốc đã thay đổi tương tự như các nước nhiệt đới Viện này cho biết, các loại trái cây nhiệt đới như ổi, đu đủ và quả việt quất đang được trồng ở Haenam, phía Nam tỉnh Jeolla, 400 km về phía Tây Nam Seoul
Trang 38Nhiệt độ trung bình tại Hàn Quốc đã tăng 1,5 độ C trong vòng 100 năm qua, mùa Đông trở nên ngắn hơn và mùa hè dài hơn, thời gian hoa mùa Xuân nở đã đến sớm hơn do sự nóng lên toàn cầu Kết quả của những thay đổi này là năng suất nông nghiệp giảm xuống, các khu vực canh tác cho cây trồng ôn đới chuyển dịch về phía Bắc và thiệt hại do các loại côn trùng có hại vào mùa Đông tăng lên
Mùa xuân ở Seoul đã được nhận thấy đến sớm hơn so với khu vực phía Nam Cây bụi nở hoa (vào ngày 07 tháng 4 trong núi Namsan và vào ngày 20 tháng 4 trong núi Wolak) Các cây Anh đào ở núi Namsan có xu hướng nở hoa sớm hơn so với trước đây Diện tích cây xanh tại các khu rừng hàn đới ở núi Halla đang giảm dần
Nghiên cứu phân tích về sự phân bố của các loài tảo trên các bãi triều ở vịnh Hampton cho thấy tỷ lệ loài tảo đỏ đang gia tăng Sau khi nhiệt
độ bề mặt nước biển tăng lên, hệ thực vật tảo ở vịnh Hampyong quay về dạng cận nhiệt đới Ngoài ra, các loài chim trong khu vực phía nam như gà lôi nước và chim dẽ giun đã được phát hiện ở Upo Wetland, cho thấy rằng biến đổi khí hậu cũng dẫn đến sự thay đổi trong các loài chim di cư ở Upo Wetland Do nhiệt độ tăng lên, cây sồi có xu hướng mở rộng tán và phát triển lá sớm hơn so với bình thường Động vật lưỡng cư và bò sát cũng khá nhạy cảm với những thay đổi về lượng mưa và biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu cũng làm thay đổi địa hình của nhiều vùng đồng bằng ven biển của Hàn Quốc với sự gia tăng hoặc giảm mực nước thủy triều, bùn lầy, và nồng độ muối Theo dự báo, bùn lầy ở khu vực ngập nước
sẽ biến mất trong khi muối ở các vùng ngập nước ngày càng tăng lên nhanh chóng Sau khi nhiệt độ trung bình tăng lên trong tháng 1, 2 và 3 ở các vùng đất ngập nước của vịnh Hampyung, các nhà máy muối như Haehon-
Trang 39namul, Namunjae, Chilmyuncho và Gaetjandi đã mọc lên sớm hơn bình thường
Cửa sông Hàn: Bùn lầy ở khu vực ngập nước được dự báo sẽ dần dần biến mất bắt đầu từ năm 2075 trong khi muối ở các vùng ngập nước sẽ phát triển dọc theo cửa sông Hàn Vịnh Hampyung: Bùn lầy ở khu vực ngập nước được dự báo sẽ tăng lên vào năm 2050 và sau đó bị nước nhấn chìm Vịnh Suncheon: khu vực đất ngập nước được dự báo sẽ bị nhấn chìm bắt đầu từ năm 2050, vùng đất nội địa sẽ hẹp lại và muối ở các vùng ngập nước sẽ tăng lên Cửa sông Nakdong: Bùn lầy ở khu vực ngập nước sẽ gia tăng bắt đầu từ năm 2050, các vùng đất ngập nước được dự báo sẽ mở rộng làm nhấn chìm nhiều vùng đồng bằng
II ĐỐI SÁCH CỦA CÁC NƯỚC VÀ VÙNG LÃNH THỔ ĐÔNG BẮC Á
Trên phạm vi toàn thế giới, các nhà khoa học và chính phủ các nước
đã có những động thái nào nhằm giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu? Đây là
là vấn đề mang tính toàn cầu và đã được đề cập đến tại nhiều diễn đàn và
hội nghị quốc tế Năm 2007, Uỷ ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu
(Intergovernmental Panel on Climate Change - IPCC) đã công bố Báo cáo đánh giá lần thứ 4 (IPCC AR4) của tổ chức này Nội dung của bản báo cáo
đã phản ánh đúng hiện trạng biến đổi khí hậu hiện nay Giới khoa học cá nước nói chung đã đồng lòng và nhất trí trong việc nghiên cứu và ứng dụng các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu
Có thể nói rằng hiện nay nhân loại không thiếu tiền, công nghệ, chất xám nhưng điều cốt lõi phải là quyết tâm chính trị và sự đồng thuận của tất
cả các nước về vấn đề này Thực tế là, khi ký Nghị định thư Kyoto, đã có nước đứng ngoài cuộc, có nước gây ra những cản trở này khác, có nhiều nước vẫn tiếp tục gia tăng phát thải các loại khí gây hiệu ứng nhà kính
Trang 40Một số nước trên thế giới còn thiếu quyết tâm chính trị và thiếu sự hợp tác trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu Tổng thư ký Liên hiệp quốc đã kêu gọi tất cả các quốc gia hãy đồng tâm nhất trí để giải quyết vấn đề này
Để ứng phó với biến đổi khí hậu, có hai vấn đề cần đặt ra Một là làm giảm tốc độ của biến đổi khí hậu và hai là thích ứng với biến đổi khí hậu
Để làm giảm tốc độ của biến đổi khí hậu cần phải sử dụng nhiên liệu hóa thạch một cách hợp lý nhằm giảm phát thải khí thải nhà kính Trong nông nghiệp và lâm nghiệp cần sử dụng nhiều phân bón hữu cơ để tránh phát thải khí metan Ngoài ra, còn có rất nhiều các biện pháp liên ngành và đòi hỏi các chính sách phù hợp với từng nước và từng địa phương với mục tiêu đạt được hiệu quả tối đa Mỗi cá nhân phải có ý thức trong việc bảo vệ môi trường, bao gồm giữ gìn môi trường, sử dụng giao thông tốt nhất như
đi nhiều người một xe, dùng bóng đèn tiết kiệm, ra khỏi phòng tắt điện ngay, tắt máy tính khi không dùng Mỗi cá nhân phải nhận thức rằng năng lượng và sự bảo vệ môi trường là hết sức quan trọng sẽ làm cho thế giới tốt hơn
Để thích ứng với biến đổi khí hậu, cần phải có những biện pháp đối phó thích nghi sống cùng biến đổi khí hậu và tránh thiệt hại tối đa Cần có các chính sách và biện pháp ứng phó trực tiếp Ví dụ, việc đắp đê biển, trồng rừng ngập mặn để bảo vệ, nghiên cứu phát triển các loại giống cây trồng và gia súc mới phù hợp với điều kiện thời tiết thay đổi là những biện pháp thích ứng
Trước những hệ lụy của biến đổi khí hậu, các quốc gia và vùng lãnh thổ ở Đông Bắc Á đã có những đối sách ra sao sẽ là nội dung chính của phần này Có thể phân nhóm các đối sách này thành 3 nhóm chính là: (1) Đẩy mạnh công tác nghiên cứu dự báo; (2) Giảm thiểu những tác động của biến đổi khí hậu; và (3) Thích ứng với biến đổi khí hậu Cần nói thêm rằng