1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chiến lược, chính sách của các quốc gia và vùng lãnh thổ ở đông bắc á về một số vấn đề nổi bật của khu vực giai đoạn 2011 2020

161 1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 161
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xu hướng tái cấu trúc các nền kinh tế Đông Bắc Á nhằm thích ứng với bối cảnh sau suy thoái kinh tế toàn cầu xem mục II.2, chẳng hạn Trung Quốc sẽ phải tăng mạnh nhu cầu trong nước bao gồ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

VIỆN NGHIÊN CỨU ĐÔNG BẮC Á

GS TS Nguyễn Xuân Thắng – TS Trần Quang Minh

(Chủ biên)

ĐỐI SÁCH CỦA CÁC QUỐC GIA VÀ VÙNG LÃNH THỔ

Ở ĐÔNG BẮC Á TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VẤN

ĐỀ NỔI BẬT CỦA KHU VỰC GIAI ĐOẠN 2011 – 2020

(Sách chuyên khảo)

Hà Nội, 2013

Trang 2

Tập thể tác giả

GS TS Nguyễn Xuân Thắng TS.Trần Quang Minh

TS Đặng Xuân Thanh

TS Phạm Quí Long

TS Trần Thị Nhung

TS Hoàng Minh Hằng ThS Phạm Thị Xuân Mai ThS Phan Cao Nhật Anh

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ NỔI BẬT CỦA KHU VỰC

ĐÔNG BẮC Á GIAI ĐOẠN 2011-2020

I XU HƯỚNG ĐẨY MẠNH HỘI NHẬP KINH TẾ VÀ TÁI CẤU TRÚC CÁC NỀN KINH TẾ KHU VỰC

1 Hội nhập kinh tế khu vực

2 Tái cấu trúc các nền kinh tế

II THAY ĐỔI CỤC DIỆN CHÍNH TRỊ VÀ AN NINH KHU VỰC, TĂNG

CƯỜNG HỢP TÁC VÀ CẠNH TRANH CHIẾN LƯỢC

1 Xu hướng chuyển dịch cục diện chính trị, an ninh khu vực Đông Bắc Á

2 Xu hướng tiến triển của các điểm nóng tiềm tàng ở Đông Bắc Á

3 Các thách thức, nguy cơ đe dọa an ninh phi truyền thống tại khu vực

III Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG VÀ CÁC HỆ LỤY CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

1 Sử dụng năng lượng và vấn đề môi trường ở các nước Đông Bắc Á

2 Hệ lụy của Biến đổi khí hậu

IV MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÁC

2 Chủ nghĩa dân tộc

3 Gia tăng cạnh tranh về “sức mạnh mềm” văn hóa

Chương 2: CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH CỦA CÁC QUỐC GIA VÀ

VÙNG LÃNH THỔ ĐÔNG BẮC Á

I CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH CỦA NHẬT BẢN

1 Chiến lược tăng trưởng mới

2 Về chính trị - ngoại giao

3 Về các vấn đề an ninh phi truyền thống

4 Về các vấn đề môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu

5 Về các vấn đề xã hội

II CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH CỦA HÀN QUỐC

Trang 4

1 Về chuyển đổi mô hình tăng trưởng

2 Về thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế

III CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH CỦA TRUNG QUỐC

1 Về điều chỉnh mô hình tăng trưởng

2 Về đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế

IV CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH CỦA ĐÀI LOAN

1 Về sự thay đổi mô hình tăng trưởng

2 Về đẩy mạnh hội nhập kinh tế

3 Về chính trị - ngoại giao

4 Về các vấn đề môi trường

5 Về ứng phó với biến đổi khí hậu

Chương 3: NHẬN ĐỊNH, ĐÁNH GIÁ VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH

Trang 5

Trong lĩnh vực đảm bảo xã hội

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

CEPEA Quan hệ đối tác Kinh tế Toàn diện ở Đông Á

EAFTA Hiệp định thương mại tự do Đông Á

EAS Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á

EIU Cơ quan phân tích, đánh giá, và dự báo kinh tế

EU Liên minh châu Âu

FTA Hiệp định tự do thương mại

FTAAP Khu vực Mậu dịch tự do châu Á - Thái Bình Dương

GDP Tổng sản phẩm quốc nội

IMF Quỹ Tiền tệ quốc tế

NAFTA Khu vực Mậu dịch tự do Bắc Mỹ

ODA Viện trợ phát triển chính thức

RTA Hiệp định thương mại khu vực

R&D Hoạt động nghiên cứu và triển khai

TPP Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược Xuyên Thái Bình Dương

WTO Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 7

MỞ ĐẦU

Trong bối kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến theo chiều hướng xấu sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009, Đông Bắc Á vẫn được coi là khu vực năng động nhất trong nền kinh tế thế giới, với đầu tầu tăng trưởng là kinh tế Trung Quốc Tuy nhiên, khu vực này cũng tiềm ẩn khá nhiều rủi ro về bất ổn chính trị và an ninh, với sự trỗi dậy nhanh chóng của Trung Quốc và sự gia tăng vai trò và sự hiện diện của Mỹ ở châu Á Các điểm nóng tiềm tàng như vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan, và tranh chấp chủ quyền biển đảo giữa các nước trong khu vực như Nhật – Trung, Nhật – Hàn, Nhật – Nga vẫn ở trong trình trạng bấp bênh, lúc thăng lúc trầm

Và nhiều vấn đề khác như các vấn đề an ninh phi truyền thống, môi trường và những hệ lụy của biến đổi khí hậu, được dự báo sẽ tiếp tục là những vấn đề nổi bật của khu vực Đông Bắc Á trong thập kỷ tới Tất cả những thách thức nói trên

đã, đang và sẽ tiếp tục có những tác động không nhỏ đến sự phát triển của mỗi quốc gia nói riêng và đến cả khu vực nói chung Các nước trong khu vực không thể không có những phản ứng chính sách nhằm ứng phó với những thách thức này

Đối với Việt Nam, thứ nhất, những vấn đề nổi bật trong các lĩnh vực kinh

tế, chính trị, an ninh, văn hóa, xã hội, môi trường… có tác động và ảnh hưởng quan trọng, đòi hỏi chúng ta phải theo dõi sát sao, phân tích thấu đáo, đánh giá

khoa học, và dự báo một cách chính xác Thứ hai, đối sách của các quốc gia và

vùng lãnh thổ trong khu vực trong việc xử lý các vấn đề, thách thức nổi bật trên

sẽ cung cấp những hiểu biết quý báu cho giai đoạn gấp rút hoàn thành công

nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thập niên tới của Việt Nam Thứ ba, trên cơ sở

tổng hợp các phân tích, đánh giá, dự báo tình hình và xu thế biến chuyển của Đông Bắc Á, cũng như các bài học kinh nghiệm của các nước trong khu vực, kiến nghị các đối sách và giải pháp kịp thời, hiệu quả để thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2011-2015 và Chiến lược xây dựng đất nước 2011-2020

Với những lý do trên, Viện nghiên cứu Đông Bắc Á – Viện KHXH Việt

Nam cho ra mắt bạn đọc cuốn sách “Đối sách của các quốc gia và vùng lãnh thổ

ở Đông Bắc Á trong việc giải quyết các vấn đề nổi bật của khu vực giai đoạn 2011-2020” Nội dung chính của cuốn sách này là phân tích và làm rõ đối sách

của các quốc gia và vùng lãnh thổ ở khu vực Đông Bắc Á trong việc giải quyết các vấn đề nổi bật của khu vực này trong giai đoạn 2011-2020, trên cơ sở đó đánh giá những tác động có thể có đối với Việt Nam và đề xuất các giải pháp chính sách nhằm tận dụng cơ hội và hạn chế những thách thức trong quá trình thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước ta đến năm 2020

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc

Tập thể tác giả

Trang 8

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ NỔI BẬT CỦA KHU VỰC ĐÔNG BẮC Á GIAI ĐOẠN 2011-2020

I XU HƯỚNG ĐẨY MẠNH HỘI NHẬP KINH TẾ VÀ TÁI CẤU TRÚC CÁC NỀN KINH TẾ KHU VỰC 1

1 Hội nhập kinh tế khu vực

Hội nhập kinh tế quốc tế nói chung, và hội nhập kinh tế khu vực nói riêng

là quá trình hai chiều: từ dưới lên hay hội nhập chức năng (functional integration) do thị trường dẫn dắt và hội nhập từ trên xuống hay còn gọi là hội nhập thể chế (institutional integration) do các chính phủ thực hiện Từ các phân tích ở Phần I có thể thấy, quá trình hội nhập kinh tế tại khu vực Đông Bắc Á trong thập niên vừa qua đã diễn ra theo cả hai chiều kể trên

Thứ nhất, từ góc độ kinh tế, các nền kinh tế Đông Bắc Á có mức độ bổ

sung cho nhau khá cao về cơ cấu: Trung Quốc có lợi thế về nguồn nhân lực khổng lồ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan có lợi thế đi trước về công nghệ và vốn, trong khi vùng Viễn Đông thuộc Nga, Triều Tiên và Mông Cổ lại có lợi thế lớn về tài nguyên đất đai, khoáng sản và năng lượng Trên thực tế, tiến trình hội nhập kinh tế khu vực diễn ra chủ yếu theo chiều từ dưới lên từ nhiều thập niên qua do các doanh nghiệp là động lực chính Cho đến nay đã hình thành các chuỗi giá trị và mạng sản xuất xuyên quốc gia, từng bước kết nối hạ tầng giao thông vận tải, thông tin liên lạc, năng lượng, v.v Tuy nhiên, do tiến trình này diễn ra không đồng đều, nên đã hình thành một nhóm các nền kinh tế vượt lên trước trong hội nhập theo chiều từ dưới lên gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan, trong khi vùng Viễn Đông của Nga, Mông Cổ và nhất là Triều Tiền lại tụt hậu khá xa Thương mại ba bên Trung-Nhật-Hàn đã tăng hơn 4 lần

từ 130 tỷ USD, tương đương khoảng 20% tổng kim ngạch thương mại của ba nền kinh tế này vào năm 1999 - năm khởi đầu quan hệ tay ba, lên 690 tỷ USD tức là vượt 35% tổng kim ngạch thương mại của ba nền kinh tế này vào năm

2011 Trung Quốc đã thay thế Mỹ và EU trong vai trò đối tác thương mại số 1 của Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan, trong khi ba nền kinh tế này lần lượt là đối tác thương mại thứ 4, 6 và 10 của Trung Quốc Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc là ba nhà đầu tư hàng đầu vào Thị trường Trung Quốc với tổng vốn FDI tích lũy tương ứng lần lượt vượt 200 tỷ, 80 tỷ USD và 50 tỷ USD vào cuối 20112 Bốn nền kinh tế này còn thúc đẩy hợp tác sâu rộng trong các lĩnh vực vận tải và logistic, thông tin liên lạc, hải quan, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, khoa học-công

1

Chi tiết xem Báo cáo tổng hợp đề tài mũ Chương trình cấp Bộ 2009-2010 của Viện nghiên cứu Đông Bắc Á

“Một số vấn đề nổi bật về chính trị-kinh tế ở khu vực Đông Bắc Á giai đoạn 2011-2020” do GS TS Nguyễn

Xuân Thắng làm Chủ nhiệm

2

China’s MOFA China-Japan-ROK Cooperation (1999-2012)

Trang 9

nghệ, văn hóa-xã hội, riêng Trung-Nhật-Hàn còn đẩy mạnh hợp tác về tài tiền tệ Đây cũng là những nền kinh tế có mức độ tham gia vào phân công lao động quốc tế khá sâu với sự liên kết rất chặt chẽ và dày đặc của các mạng sản xuất và chuỗi cung ứng Đối với các nền kinh tế còn lại của Đông Bắc Á, Trung Quốc cũng ở vào vị trí đầu mối quan trọng, là đối tác thương mại số 1 của Triều Tiên và Mông Cổ, số 2 của Nga, đồng thời là nhà đầu tư số 2 vào Triều Tiên (sau Hàn Quốc) và số 1 vào Mông Cổ

chính-Trong những năm tới, nhu cầu hội nhập khu vực sẽ càng trở nên cấp thiết nhằm đáp ứng nhu cầu về năng lượng và nguyên liệu tăng lên, cũng như tận dụng sức mua tăng lên tại hầu hết các nền kinh tế trong khu vực Xu hướng tái cấu trúc các nền kinh tế Đông Bắc Á nhằm thích ứng với bối cảnh sau suy thoái kinh tế toàn cầu (xem mục II.2), chẳng hạn Trung Quốc sẽ phải tăng mạnh nhu cầu trong nước bao gồm cả nhu cầu nhập khẩu (hiện đã lên tới 12% nhập khẩu thế giới), Nhật Bản sẽ phải giảm mạnh các chính sách bảo hộ nội địa, thực hiện

mở cửa nhiều hơn để khắc phục tình trạng lực lượng lao động giảm sút, Nga, Mông Cổ, có thể cả Triều Tiên, sẽ tích cực thu hút đầu tư nước ngoài vào khu vực khai khoáng, … , sẽ tạo thêm xung lực cho quá trình hội nhập khu vực

Thứ hai, đó là cục diện chính trị và an ninh khu vực Đông Bắc Á không

thiếu sự năng động về kinh tế, nhưng lại thiếu lòng tin chính trị giữa các quốc gia, đồng thời dư thừa những bất đồng, tranh chấp, chia cắt do lịch sử để lại – những nhân tố cản trở các quốc gia và vùng lãnh thổ xích lại gần nhau Chính vì vậy, mức độ thể chế hóa hội nhập khu vực tụt hậu xa so với những liên kết kinh

tế thực tế Một trong những nguyên nhân chính ngăn cản hội nhập Đông Bắc Á

là tiến trình hội nhập khu vực thiếu sự lãnh đạo, nhất là việc Trung Quốc và Nhật Bản vẫn khó hòa giải được với nhau, do đó khó có thể cùng hợp lực tương

tự như “cặp đôi” Pháp-Đức trong tiến trình hội nhập Châu Âu Bất hòa Nhật cũng là nhân tố chủ yếu cản trở khởi động đàm phán FTA giữa hai nước này bên cạnh các bất đồng khác như vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, trợ giá nông nghiệp, v.v Chính vì vậy, mặc dù hội nhập kinh tế khu vực diễn ra rất nhanh chóng theo chiều từ dưới lên, nhưng lại tiến triển rất chậm chạp theo chiều từ trên xuống

Trung-Trong thập niên 2000 các nền kinh tế Đông Bắc Á đã chạy đua với nhau trong việc thiết lập các FTA với ASEAN, chấp nhận vai trò cầm lái của tổ chức này thông qua các cơ chế như ASEAN+1, ASEAN+3 và nhiều cơ chế khác lấy ASEAN làm trung tâm Sự thật là việc “đi nhờ xe” này mặc dù đã giúp các nước Đông Bắc Á ít nhiều xích lại gần nhau, nhưng ngày càng không đáp ứng những nhu cầu mới của các nước này, chẳng hạn như nhu cầu hợp tác về tài chính-tiền

tệ, phát triển thị trường vốn khu vực, xây dựng cơ chế hỗ trợ cán cân thanh toán, kiểm soát rủi ro và phòng chống khủng hoảng tài chính, tái cấu trúc kinh tế, quản trị rủi ro tranh chấp thương mại, tỷ giá, v.v Điều này đã thúc đẩy hội nhập kinh tế Đông Bắc Á có những bước tiến quan trọng như ký kết Hiệp định đầu tư Nhật-Hàn, Sáng kiến Chiang Mai đa phương hóa (CMIM)

Trang 10

Tiến trình hội nhập Đông Bắc Á có thể sẽ vẫn chỉ quanh quẩn ở việc “đi nhờ xe” hội nhập của Đông Nam Á nếu không xuất hiện từ cuối năm 2007 một

“sức ép bên ngoài” mới – đó là việc Mỹ thúc đẩy TPP nhằm lôi kéo các nước Đông Á3 Trung Quốc cảm nhận được sức ép này rõ hơn cả Vì vậy, gần như ngay lập tức hàng loạt bước đột phá chưa từng có đã được thực hiện như thiết lập cơ chế hội nghị thượng đỉnh tay ba Trung-Nhật-Hàn (2008), ký kết Hiệp định khung về hợp tác kinh tế Trung-Đài (2010), Hiệp định đầu tư Trung-Nhật-Hàn (2012), Thỏa thuận Trung-Hàn (tháng 12/2008) và Trung-Nhật (tháng 1/2012) về bước đầu thực hiện hoán đổi ngoại tệ và thanh toán một số hạng mục thương mại song phương bằng các đồng nội tệ mà không thông qua trung gian là đồng đôla Mỹ, thành lập Ban thư ký ba bên thúc đẩy FTA Trung-Nhật-Hàn, khả năng tái khởi động đàm phán FTA song phương Nhật-Hàn Để duy trì vai trò trung tâm của mình trong hội nhập khu vực Đông Á, tiến trình hợp nhất các FTA đã ký giữa ASEAN với từng đối tác riêng rẽ trong khuôn khổ ASEAN+6 cũng có động thái mới – khởi động thảo luận Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) từ đầu năm 2013

Thứ ba, đó là tác động của quá trình toàn cầu hóa Các cuộc khủng hoảng

tài chính Châu Á 1997-1998 và khủng hoảng tài chính thế giới kéo theo suy thoái kinh tế toàn cầu 2008-2009 chính là những cú huých quan trọng đối với tiến trình hội nhập kinh tế ở Đông Bắc Á Bất chấp việc có sự năng động vượt bậc, tình trạng thiếu sự gắn kết bền vững ở tầm khu vực khiến các nền kinh tế đứng riêng rẽ dễ bị tổn thương trước các cú sốc kinh tế, tài chính từ cả bên trong lẫn bên ngoài khu vực Hơn nữa, do hầu hết các nền kinh tế tại Đông Bắc Á đều theo mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu (và thu hút đầu tư để xuất khẩu), chủ yếu lợi dụng sức cầu khổng lồ từ các thị trường lớn là Mỹ và EU, nên biến động khủng hoảng, giảm nhập khẩu của các thị trường này lập tức làm suy yếu động lực tăng trưởng của các nền kinh tế Đông Bắc Á Ngoài ra, tiến trình hội nhập kinh tế bùng nổ tại nhiều khu vực khác trên thế giới như Châu Âu, Bắc Mỹ, Đông Nam Á, … cũng gây tác động biểu trưng kích thích hội nhập ở Đông Bắc

Á Đặc biệt là việc Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc cho đến nay vẫn phải “đi nhờ xe” hội nhập kinh tế của Đông Nam Á, chấp nhận vai trò cầm lái của ASEAN – một nhóm nước có thực lực kinh tế yếu hơn, không thể thỏa mãn các nước Đông Bắc Á4 Điều này cũng kích thích các nước Đông Bắc Á tìm kiếm cơ chế hội nhập riêng Theo nhà chính trị học Immanuel Wallerstein, trong bối cảnh các trung tâm kinh tế lớn của thế giới như Mỹ và EU khó khôi phục tăng trưởng kinh tế lên mức tiềm năng, ít nhất cho đến giữa thập niên 2010, nhu cầu duy trì tăng trưởng và thịnh vượng về kinh tế sẽ tạo ra “áp lực cấu trúc” tiếp tục

3

Takashi Terada Rise of Northeast Asian Economic Regionalism In Is Northeast Asian Regionalism the

Center of East Asian Regionalism edited by Bhubhindar Singh S.Rajaratnam School of International Studies,

Nanyang Technological University, 2012 P 4

4

Dương Minh Tuấn Về sự hình thành hiệp định thương mại tự do của các nước Đông Bắc Á//Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 8(126), 2011, tr 15-26

Trang 11

đẩy Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc xích lại gần nhau hơn về kinh tế5

Cần lưu ý rằng, chỉ trong vòng 10 năm vừa qua, Trung Quốc đã từ vị thế thụ động, đi sau trong tiến trình hội nhập Đông Bắc Á ngày càng trở thành nhân

tố đi đầu thúc đẩy tiến trình này Một là trong tầm nhìn đến năm 2020, do sự

giảm tốc của toàn cầu hóa, tăng trưởng trì trệ kéo dài của các thị trường chủ chốt

là Mỹ, EU và Nhật Bản, Trung Quốc có vị thế cực kỳ thuận lợi để trở thành động lực cho quá trình hội nhập kinh tế khu vực.Với mức tăng trưởng hàng năm được dự báo khoảng 7% - 8% trong thập kỷ này, vượt xa mức tăng trưởng trung bình 5,5% của toàn khu vực, Trung Quốc có địa vị gần như duy nhất trong việc

hỗ trợ tăng trưởng cho tất cả các nền kinh tế Đông Bắc Á, điều sẽ đẩy mức độ

phụ thuộc của các nền kinh tế này vào Trung Quốc lên một cấp độ cao hơn Hai

là, mặc dù có lợi thế so sánh thấp nhất so với hai đối tác Nhật Bản và Hàn Quốc

trong lĩnh vực đầu tư, và do đó ở thế yếu hơn trong Hiệp định đầu tư Nhật-Hàn6, nhưng Trung Quốc lại có lợi thế cạnh tranh trong lĩnh vực thương mại, do đó có thể trở thành lực đẩy quan trọng cho tiến trình xây dựng hiệp định thương mại tự do Đông Bắc Á Trên thực tế, Trung Quốc đã trở thành mắt xích sản xuất và xuất khẩu trung tâm của mạng sản xuất khu vực Các dòng thương mại, đầu tư, năng lượng, du lịch, lao động giữa Trung Quốc và các nền kinh tế xung quanh đang tăng nhanh Việc Ôxtralia bán khoáng sản ồ ạt cho Trung Quốc, Nga xây dựng các tuyến ống cung cấp dầu khí cho Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan tiếp tục đổ FDI vào Trung Quốc, đồng thời nhập khẩu hàng tiêu dùng nhiều hơn từ thị trường này, trong khi kinh tế Mông Cổ, Triều Tiên và vùng Viễn Đông của Nga sẽ phụ thuộc ngày càng lớn vào dòng đầu tư

Trung-từ Trung Quốc là những bằng chứng rõ ràng Trung Quốc cũng trở thành mắt xích kết nối mạng lưới các thể chế hội nhập kinh tế với FTA với ASEAN, các hiệp định hợp tác kinh tế (CEPA) với Hồng Công và Macao, ECFA với Đài Loan, hiệp định đầu tư ba bên với Nhật Bản, Hàn Quốc, đang đàm phán CJK

FTA, cũng như FTA song phương với Ôxtralia và New Zealand Ba là sự nổi

lên của đồng Nhân dân tệ như một đồng tiền quốc tế mới, chỉ trong vòng hai năm 2009-2011 đã tăng từ 0% lên 9% tổng giao dịch thương mại của Trung Quốc Năm 2011 Trung Quốc cho phép phát hành trái phiếu công ty và hoạt động tín dụng bằng đồng Nhân dân tệ tại thị trường vốn Hồng Công, Trung Quốc cũng lần lượt ký kết các thỏa thuận hóa đổi ngoại tế song phương với Hàn Quốc vào năm 2008, Nhật Bản vào tháng 1/2012 và Đài Loan vào tháng 8/2012 nhằm thúc đẩy thực hiện thánh toán thương mại song phương trực tiếp bằng đồng Nhân dân tệ Khả năng đồng Nhân dân tệ sẽ trở thành đồng tiền chủ chốt trong thương mại Đông Bắc Á sau đồng USD và bước đầu trở thành đồng tiền

dự trữ của các nền kinh tế trong khu vực ngay trong thập niên này là hoàn toàn

Trang 12

hiện thực Điều này sẽ gây tác động sâu rộng đến các chuỗi cung và mạng sản xuất khu vực theo hướng bị phụ thuộc, dẫn dắt nhiều hơn bởi thị trường Trung Quốc Trong bối cảnh đồng USD còn yếu trong thập niên tới, vai trò NDT sẽ tăng nhanh Hiện đã có trên 1000 định chế tài chính tại 90 quốc gia trên thế giới

thực hiện giao dịch đồng NDT Bốn là, các tập đoàn xuyên quốc gia (TNC) của

Trung Quốc sẽ ngày càng mở rộng quy mô và tầm hoạt động, tăng cường đầu tư, thâm nhập ngày càng sâu vào các nền kinh tế Đông Bắc Á nhằm chủ động tìm kiếm các công nghệ, bí quyết kỹ thuật, tri thức và nhân tài, đồng thời cạnh tranh mạnh với các TNC Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan, thâu tóm các chuỗi cung ứng và mạng sản xuất khu vực Trong khi đó, chính phủ Trung Quốc ngày càng

có xu hướng sử dụng viện trợ phát triển (ODA) và tín dụng phát triển như những công cụ của chính sách đối ngoại để mở đường cho các doanh nghiệp Trung Quốc đi ra bên ngoài để thâu tóm các tài sản năng lượng, khoáng sản ở khắp mọi nơi7, trong đó Nga, Mông Cổ, Triều Tiên là những địa chỉ chủ yếu tại khu vực

Việc Mỹ bất ngờ nắm quyền chủ đạo trong đàm phán TPP vào năm 2008, hơn 3 năm sau khi bốn nền kinh tế là Chile, Singapore, Brunei và New Zealand khởi xướng tiến trình hội nhập xuyên Thái Bình Dương này, đã gây cú huých rất mạnh cho tiến trình hội nhập kinh tế ở Đông Bắc Á nói riêng và Đông Á nói chung8 Hàng loạt các chuyển động sau đó như việc ký kết Hiệp định khung về hợp tác kinh tế Trung-Đài (ECFA), Hiệp định đầu tư Trung-Nhật-Hàn, khởi động đàm phán FTA Trung-Hàn và Trung-Nhật-Hàn, khai mạc thảo luận Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) giữa ASEAN và 6 đối tác trong khuôn khổ ASEAN+6 dự định sẽ ký kết vào năm 2015 cho thấy rõ tác động này Ngay cả những nền kinh tế hiện còn kém hội nhập như vùng Viễn Đông của Nga, Mông Cổ, và cả Triều Tiên nếu nước này tiến hành cải cách kinh tế, cũng

có những động thái hưởng ứng xu thế này Mặc dù định hướng chiến lược chính vẫn hướng về Châu Âu9, LB Nga sẽ thúc đẩy việc thực hiện Chương trình phát

triển vùng Đông Siberi và Viễn Đông đến 2025 nhằm dựa vào tiềm năng của khu

vực rộng lớn này để hội nhập sâu hơn vào Châu Á-Thái Bình Dương, thu hút đầu tư từ Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, … chứ không phải một mình Trung Quốc như hiện nay Việc Nga trở thành thành viên thứ 156 của WTO sau gần hai thập niên đàm phán cũng sẽ thúc đẩy xu hướng hội nhập trên Đặc biệt, Nga

sẽ sử dụng chính trị khí đốt và chính trị đường ống (pipeline politics)10 như đòn bẩy chiến lược để phát triển mạng lưới các tuyến ống dầu khí kết nối khu vực Viễn Đông của nước này với các thị trường Châu Á chủ chốt như Trung Quốc,

Nhật Bản, Hàn Quốc Chương trình khí đốt phía Đông công bố năm 2007 và

Chiến lược năng lượng của Nga đến năm 2030 công bố năm 2009 đề ra mục

Trang 13

tiêu tăng xuất khẩu dầu lửa của Nga sang Châu Á – Thái Bình Dương từ 8% hiện nay lên 22-25% và xuất khẩu khí đốt từ 4% lên 20%11 nhằm biến nước này trở thành nhà cũng cấp năng lượng lớn nhất cho Đông Bắc Á Nga cũng sẽ sử

dụng Tổ chức hợp tác Thượng Hải (SCO) và đề án Không gian kinh tế chung

Á-Âu như những đòn bẩy về chính sách để tăng cường kết nối kinh tế Nga với

Châu Á – Thái Bình Dương Triều Tiên đang xúc tiến một cách bất thường các khu kinh tế mở cửa gần biên giới với Trung Quốc và Nga trong tổng số 12 đặc khu kinh tế dự định xây dựng trên phạm vi cả nước Ngay từ bây giờ đã có một

số dự báo về triển vọng hình thành một Cộng đồng kinh tế Đông Bắc Á12

Với việc thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào năm 2015 và triển vọng ký FTA Trung-Nhật-Hàn (CJK FTA) vào khoảng nửa sau thập niên này, Đông Nam Á và Đông Bắc Á sẽ đứng trước đòi hỏi phải tăng cường liên kết kinh tế hơn nữa nếu không muốn bị chia rẽ Thực tế là mô hình hội nhập lấy ASEAN làm trung tâm (ASEAN+1, +3, +6, +8, …) vẫn có ưu thế hơn cả Khả năng tiến tới một FTA liên vùng đặc biệt là trong khuôn khổ ASEAN+6 là hiện thực hơn cả, trong khi việc lồng ghép vào một kiến trúc khu vực mở rộng như Khu vực mậu dịch tự do Châu Á-Thái Bình Dương (FTAAP), Cộng đồng Đông

Á (EAC) hay Cộng đồng Châu Á-Thái Bình Dương ít có khả năng xảy ra Theo Andrew Elek, “hội nhập kinh tế Đông Bắc Á sẽ tiến triển theo trò chơi FTA, chứ không theo trò chơi APEC”13 Trong tầm nhìn xa hơn, báo cáo Global Trend

2025 của Hội đồng tình báo quốc gia Mỹ (NIC) dự báo, “chủ nghĩa khu vực

Châu Á mở rộng” tiếp tục mạnh lên có thể thúc đẩy việc hình thành ở giai đoạn đầu một khối kinh tế lớn Đông Á (quasi-block) cạnh tranh với khối Bắc Mỹ và Châu Âu Tuy nhiên, việc thiếu vắng cơ chế hợp tác vững chắc tại khu vực này

sẽ kích thích cạnh tranh giữa 3 cường quốc khu vực là Trung Quốc, Nhật Bản và

Ấn Độ về thị trường và tài nguyên, đặc biệt là các nguồn cung năng lượng14

Điều đáng lo ngại là xu thế hội nhập địa kinh tế tại Đông Bắc Á lại diễn ra

trái chiều với xu thế cạnh tranh, chia cắt khu vực về địa chính trị Một là, tăng

cường cạnh tranh Mỹ-Trung về chính trị và an ninh không tránh khỏi gây hiệu ứng lan tràn (spillover effect) sang cả lĩnh vực kinh tế Từ quan điểm của Mỹ, một Châu Á gắn kết hơn có thể chấp nhận được nếu điều đó có tính ràng buộc hơn đối với các thế lực lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ – tức là một khuôn khổ đa phương cho trật tự khu vực đa cực không loại trừ sự tham gia của

Mỹ Hai là, việc Washington bất ngờ sử dụng TPP như công cụ lôi kéo tiến trình

hội nhập khu vực về phía Mỹ Nhật Bản, Hàn Quốc và thậm chí cả Đài Loan đang được mời gọi tham gia TPP, trong đó Tokyo đã tuyên bố sẽ tham gia tiến trình đàm phán, Seoul tuyên bố xem xét khả năng tham gia, còn Đài Bắc mới

11

Russian Federation The Energy Strategy for a Period up to 2030 Moscow, 2009 (in Russian)

12 Heo Mane Toward Northeast Asian Community//The Korea Times, Nov 19, 2009; Byung-woon Lyou Building the Northeast Asian Community//Indiana Journal of Global Legal Studies, Vol 11, Issue 2, 2004;

Trang 14

bày tỏ sự quan tâm tới khả năng tham gia trong 10 năm tới Sau khi Mexico cũng tuyên bố sẽ tham gia đàm phán TPP, có ý kiến cho rằng TPP chính là NAFTA mở rộng nhằm hạn chế sức hút hội nhập khu vực về phía Trung Quốc15 Thậm chí một số học giả Mỹ vào năm 2010 còn đưa ra ý tưởng về một khối kinh

tế mới bao gồm Mỹ, Canada, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, nhưng không bao gồm Trung Quốc16 Hiện tại, FTA Mỹ-Hàn đã được hai bên thông qua, đàm phán TIFA song phương giữa Mỹ và Đài Loan có thể được nối lại Trong trung và dài hạn, ba cơ chế hội nhập kinh tế tại Đông Á là các FTA do ASEAN làm trung tâm (với Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Ôxtralia và New Zealand), Cộng đồng kinh tế Đông Á do Nhật Bản cổ súy và TPP do Mỹ thúc đẩy sẽ co kéo các nền kinh tế Đông Bắc Á về các hướng khác nhau Bên cạnh đó, Nhật Bản vẫn tiếp tục chạy đua với Trung Quốc nhằm ngăn cản khả năng hình thành tại Đông Á một trật tự “ổ trục và nan hoa” về kinh tế hướng tâm vào Trung Quốc17, còn Hàn Quốc đang “bắt cá nhiều tay” – vừa thực hiện FTA Hàn Quốc-ASEAN, vừa thông qua FTA song phương Hàn-Mỹ, vừa thúc đẩy đàm phán

FTA với Trung Quốc, vừa xem xét khả năng gia nhập TPP Ba là, kết cấu an

ninh thiếu vững chắc, tình trạng thiếu hụt lòng tin và tiến thoái lưỡng nan về an ninh, các tranh chấp và các điểm nóng tiềm tàng tại Đông Bắc Á và chủ nghĩa dân tộc quá khích đang nổi lên tại nhiều nơi trong khu vực sẽ tiếp tục gây tác động ngoại ứng cản trở tiến trình hội nhập kinh tế khu vực, không cho phép tiến trình này tiến xa hơn một FTA khu vực trong tầm nhìn đến 2020 Việc Trung Quốc dừng xuất khẩu đất hiếm sang Nhật sau khi cảnh sát biển của Nhật bắt giữ tàu cá của của Trung Quốc vào tháng 9/2010 cho thấy quan hệ kinh tế Trung-Nhật vẫn chịu tác động mạnh như thế nào từ sự thiếu hụt lòng tin giữa hai bên

Căn cứ vào bốn cấp độ hội nhập khu vực Đông Bắc Á mà Chung-in Moo

đã chỉ ra gồm khu vực mở, mạng lưới, cộng đồng và hội nhập18, có thể thấy quá trình hội nhập kinh tế tại Đông Bắc Á đã vượt qua được “điểm chết” do tình trạng nghi kỵ lẫn nhau và bắt đầu có dấu hiệu tăng tốc Nhưng cùng với việc gia tăng các động lực hội nhập, thì các trở lực cũng mạnh lên Hiện tại triển vọng hội nhập kinh tế Đông Bắc Á vẫn đứng trước ngã ba đường: tiến tới một FTA khu vực Đông Á trong khuôn khổ ASEAN+6, bị chia rẽ bởi TPP hay ký kết FTA đầu tiên gồm ba nền kinh tế chủ chốt Trung-Nhật-Hàn vào khoảng giữa thập niên này – cơ chế sẽ đóng vai trò hạt nhân hội nhập, tạo lực hút lôi kéo các nền kinh tế còn lại như Mông Cổ và Nga cùng tham gia theo kiểu “sẻ hợp bầy” hơn là “đàn nhạn bay” trong tầm nhìn đến năm 202019 Tuy nhiên, các trở lực về chính trị, an ninh tăng lên sẽ ngăn quá trình này khó tiến xa hơn, chẳng hạn tới

Min Gyo Koo, Seungjoo Lee, Vinod K Aggarwal The Future of Northeast Asia’s Institutional Architecture

18 Chung-in Moon The Politics of Northeast Asian Regional Integration: Opportunity, Constraints, and Prospects Waseda University, August 3-7, 2009

19

Chi tiết xem Báo cáo tổng hợp đề tài mũ Chương trình cấp Bộ 2009-2010 của Viện nghiên cứu Đông Bắc Á

“Một số vấn đề nổi bật về chính trị-kinh tế ở khu vực Đông Bắc Á giai đoạn 2011-2020” do GS TS Nguyễn

Xuân Thắng làm Chủ nhiệm

Trang 15

một liên minh thuế quan hay liên minh tiền tệ theo xếp loại kinh điển của Bela Balassa20 Một trong những cách để thoát khỏi tình trạng bế tắc đó là xây dựng cộng đồng kinh tế - cấp độ thứ ba trong phân loại của Chung-in Moon - một mô hình rất được ưa chuộng ở Đông Á vì dựa trên sự phối hợp không ràng buộc về chính sách giữa các nền kinh tế khác mô hình thị trường chung hay liên minh

kinh tế được thể chế hóa cao độ theo kiểu Châu Âu

2 Tái cấu trúc các nền kinh tế

Trong tầm nhìn đến năm 2020, nếu tái cân bằng là một trong những xu hướng chủ đạo của cục diện chính trị-an ninh Đông Bắc Á, thì tái cơ cấu là một

trong những xu hướng nổi bật của cục diện kinh tế khu vực

Phân tích đã tiến hành ở các phần trước cho thấy, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là lực đẩy chính làm thay đổi cơ cấu kinh tế của các quốc gia và vùng lãnh thổ Đông Bắc Á Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính Châu

Á 1997-1998 là cú sốc mạnh buộc nhiều nền kinh tế trong khu vực phải “sang số”, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu của mình Từ đầu thập niên 2000, nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ Đông Bắc Á đã đẩy mạnh hội nhập kinh tế khu vực, đồng thời bắt đầu tiến hành cơ cấu lại nền kinh tế của mình Tại Trung Quốc, sự phát triển quá nhanh đã dẫn đến những mất cân đối kinh tế-xã hội nghiêm trọng, tiềm ẩn nguy cơ bùng nổ bất ổn Chính vì vậy, Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 17 vào năm 2007 đã chủ trương “chuyển đổi phương thức phát triển”, nhấn mạnh yêu cầu phát triển khoa học, phát triển hài hòa Nhật Bản ngay từ nhiệm kỳ của Thủ tướng Koizumi đã bắt đầu một số cải cách quan trọng để thoát khỏi tình trạng trì trệ kinh tế kéo dài và khi ông Hatoyama của Đảng Dân chủ lên cầm quyền cũng đã đề ra “chiến lược phát triển mới” cho Nhật Bản Từ năm 2008, Hàn Quốc đã bắt đầu thực hiện mô hình

tăng trưởng xanh thay thế cho mô hình tăng trưởng nâu, nhấn mạnh đến nền sản

xuất xanh – tiêu dùng xanh – giảm phát thải carbon nhằm đưa nước này vượt lên dẫn đầu một trào lưu phát triển mới của thế giới Năm 2009 nước Nga khởi động một chương trình hiện đại hóa kinh tế đầy tham vọng nhằm giảm sự phụ thuộc kinh niên vào xuất khẩu dầu khí và tài nguyên, hình thành một cơ cấu kinh tế đa dạng hóa dựa trên khoa học-công nghệ và đổi mới, trong đó bao gồm cả chiến lược phát triển kinh tế vùng Viễn Đông gắn với Châu Á-Thái Bình Dương Từ năm 2006, Mông Cổ bắt đầu thực hiện “Chiến lược phát triển quốc gia giai đoạn 2006-2015” nhằm chuyển đổi mô hình tăng trưởng sang mở cửa hội nhập, thu hút FDI, hướng mạnh vào xuất khẩu khoảng sản và các sản phẩm chăn nuôi Còn Triều Tiên đang đứng trước cơ hội lịch sử - thực hiện đợt cải cách kinh tế lần thứ hai sau thất bại của lần thử nghiệm đầu tiên vào năm 2002

Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu

“trăm năm một lần” mới chính là chấn động chưa từng có, làm đảo lộn trật tự kinh tế hiện hành, thay đổi lợi thế so sánh của các nền kinh tế, mức giá tương

20

Bela Balassa The Theory of Economic Integration R.D Irwin, 1961

Trang 16

đối giữa các hàng hóa và dịch vụ, buộc tất cả phải tái cấu trúc Hậu quả của cuộc khủng hoảng như xu hướng toàn cầu hóa giảm tốc, triển vọng chưa rõ ràng về một làn sóng đổi mới công nghệ tiếp theo, sức cầu trì trệ của các thị trường tiêu thụ hàng đầu như Mỹ, EU, các rủi ro và nguy cơ bất ổn tăng cao làm lộ rõ hơn bao giờ hết các mất cân đối, kém hiệu quả, tính chất dễ bị tổn thương ở các nền kinh tế theo mô hình tăng trưởng hướng vào xuất khẩu ở Đông Bắc Á, khiến không thể chần chừ lâu hơn nữa những chuyển đổi căn bản về cơ cấu kinh tế Tái cấu trúc kinh tế nhằm ít nhất 3 mục tiêu: i) Khắc phục các bất ổn vĩ mô, lấy lại cân bằng cho nền kinh tế; ii) Tái tạo động lực tăng trưởng mới dựa trên các lợi thế so sánh mới, thay thế các động lực cũ đã mất tính cạnh tranh; iii) Nắm bắt những ngành nghề, lĩnh vực mới sẽ đóng vai trò dẫn dắt tăng trưởng trong tương lai nhằm chống tụt hậu, nâng cao hơn vị thế của nền kinh tế trong chuỗi giá trị

và mạng sản xuất khu vực và toàn cầu

Tái cấu trúc các nền kinh tế Đông Bắc Á không đơn thuần là việc phân bổ lại các nguồn lực phát triển giữa các ngành nghề, lĩnh vực, vùng miền hay tầng lớp xã hội, mà còn là quá trình cải cách kinh tế-chính trị sâu sắc Cơ cấu kinh tế

cũ đã tồn tại trong một thời gian dài gắn với những nhóm lợi ích hùng mạnh có sức cố kết lớn trở thành các lực lượng bảo thủ cố sức duy trì và “tái sản xuất mở rộng” cơ cấu cũ Chính vì thế, tái cấu trúc kinh tế đòi hỏi phải thắng được sức ỳ thể chế, cũng như trở lực của các nhóm lợi ích gắn với chúng

Tái cấu trúc các nền kinh tế Đông Bắc Á không tách rời quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, do đó không diễn ra riêng rẽ, mà trái lại, có tác động qua lại, thúc đẩy lẫn nhau Việc một nền kinh tế chuyển dịch lên trên theo chuỗi sản xuất giá trị gia tăng luôn gây hiệu ứng lan tỏa, kích thích, lôi kéo lên các nền kinh tế khác cùng tham gia vào quá trình chuyển dịch cơ cấu nhằm duy trì hoạt động của các chuỗi giá trị và mạng sản xuất khu vực Ngược lại, nếu hội nhập kinh tế khu vực theo kiểu “sẻ hợp bầy” bù đắp được sự suy giảm động lực tăng trưởng do toàn cầu hóa giảm tốc, thì cũng sẽ thúc đẩy quá trình tái cấu trúc các nền kinh tế tại đây hướng đến một sự phân công lao động mới tại khu vực Chính vì thế, cần xem xét tái cấu trúc các nền kinh tế Đông Bắc Á như một xu hướng vận động chung của khu vực

Tuy nhiên, sự hiện diện thị trường khổng lồ có sức hút lớn là Trung Quốc

có thể gây tác động làm chệch hướng quá trình tái cấu trúc của các nền kinh tế tại khu vực Các nền kinh tế phát triển là Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan sẽ tiếp tục chịu hiệu ứng “rỗng ruột” do đầu tư, việc làm và công nghệ cao bị hút mạnh về Trung Quốc Trong khi đó, vùng Viễn Đông của Nga, Mông Cổ và Triều Tiên nhiều khả năng sẽ phải chống chọi với “căn bệnh Hà Lan” khi bị biến thành nguồn cung tài nguyên, năng lượng cho Trung Quốc

- Đối với Trung Quốc

Sau ba thập niên tăng trưởng thần kỳ, nền kinh tế này đang tiến đến ngưỡng phát triển mang tính cơ cấu Năm 2007, trước khi cuộc khủng hoảng tài

Trang 17

chính thế giới nổ ra, Trung Quốc đã xác định “có những vấn đề cấu trúc trong nền kinh tế quốc dân dẫn đến sự phát triển không chắc chắn, mất cân đối, thiếu phối hợp và không bền vững” Tại Hội nghị Chính trị hiệp thương lần thứ 11 vào tháng 3/2012, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã giải thích: “Không chắc chắn hàm

ý đầu tư quá nóng cũng như cung tín dụng và thanh khoản quá nhiều, thặng dư cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế quá lớn Không cân đối hàm ý

sự phát triển không đồng đều giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền khác nhau và giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội Thiếu phối hợp có nghĩa là thiếu sự cân đối cần thiết giữa các lĩnh vực thứ nhất, thứ hai và thứ ba, cũng như giữa đầu tư và tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế chủ yếu dẫn dắt bởi đầu

tư và xuất khẩu Phát triển không bền vững hàm ý rằng chúng ta đã không làm tốt việc tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường” Theo nhận định của giáo sư Michael Pettis từ Đại học Bắc Kinh, mô hình tăng trưởng không cân đối (unbalanced growth model) của Trung Quốc dựa trên “ba cái thấp” là tiền lương thấp, lãi suất thấp và tỷ giá đồng nội tệ thấp nhằm đảm bảo cung cấp “ba cái rẻ”

là lao động rẻ, vốn rẻ và đất đai, tài nguyên, môi trường rẻ, chuyển tỷ lệ tiết kiệm rất cao của người dân thành tín dụng giá rẻ cho khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là các nhà xuất khẩu, xây dựng cơ sở hạ tầng và kinh doanh bất động sản, đã đạt đến ngưỡng tới hạn21

Thứ nhất, có dấu hiệu cho thấy đang tiến tới “điểm ngoặt Lewis” (Lewis’s

point) tức là khi tiền công bắt đầu tăng nhanh hơn năng suất lao động Thứ hai,

tỷ lệ dân số giữa thành thị và nông thôn lần đầu tiên vượt qua ngưỡng 50/50 đòi hỏi phải thay đổi “mô hình tăng trưởng nhị nguyên” và mô hình quản trị xã hội tập trung-quan liêu, sang mô hình dựa nhiều hơn vào dịch vụ và vào vai trò tự

chủ của xã hội dân sự Thứ ba, bất bình đẳng và bất mãn xã hội đã đến mức báo

động, chi ngân sách cho đảm bảo an ninh, trật tự xã hội lần đầu tiên vượt chi tiêu cho quốc phòng Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, chỉ số GINI về bất bình đẳng thu nhập của Trung Quốc đã tăng nhanh từ 41,5 vào năm 1995 lên 43,8 vào năm 2000 và được dự báo sẽ đạt 47,4 vào năm 202022 - mức báo động

nguy cơ xảy ra động loạn xã hội Thứ tư, hình thành các nhóm lợi ích hùng mạnh ngăn cản những bước cải cách tiếp theo Thứ năm, hình thành các bong

bóng tài chính, bất động sản và nợ công của các chính quyền địa phương với hậu quả khó lường đối với hệ thống tài chính-ngân hàng và toàn nền kinh tế Từ góc

độ giai đoạn luận phát triển, sự thực là Trung Quốc đang phải đối mặt trực diện với nguy cơ rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” đòi hỏi phải có những bước cải cách cơ cấu và thể chế rất quyết liệt Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu trên thực tế đã gây tác động làm chậm lại bước cải cách này

Định hướng chính của chuyển đổi phương thức phát triển ở Trung Quốc trong Quy hoạch 5 năm lần thứ 12 và trong 10 năm tới là điều chỉnh cơ cấu kinh

Trang 18

tế nhằm tạo động lực tăng trưởng mới, không ưu tiên tăng trưởng như trước đây

mà chỉ đặt mục tiêu tăng trưởng trung bình 7%-8%/năm, hay nói cách khác,

“thời đại 10 + 2” (tăng trưởng trung bình 10%/năm, tỷ lệ lạm phát trung bình 2%) đặc trưng cho giai đoạn 10 năm vừa qua được thay thế bằng “thời đại 8 + 4” (tăng trưởng trung bình 8%/năm, tỷ lệ lạm phát trung bình 4%) Theo ông Chin Fu Lin – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cải cách và phát triển Hải Nam, giai đoạn mới sẽ đặc trưng bởi nguyên tắc “ưu tiên người dân giàu trước, nhà nước và doanh nghiệp giàu sau” thay cho nguyên tắc từ trước cho đế nay là “nhà nước và doanh nghiệp giàu trước, nhân dân giàu sau”, theo đó Trung Quốc sẽ chuyển từ “công xưởng của thế giới” thành “thị trường của thế giới” Theo các văn bản chính thức của Trung Quốc, nội dung tái cơ cấu chính là: 1) Thay đổi cơ cấu nhu cầu với trọng điểm là tăng cường nhu cầu tiêu dùng của người dân, tỷ trong tiêu dùng trong GDP giảm từ 47% vào năm 2000 xuống 36% vào năm

2010 sẽ tăng trở lại mức 50% vào năm 2020 và 60% vào 203023; 2) Chuyển đổi

cơ cấu ngành với trọng điểm là đẩy mạnh phát triển khu vực dịch vụ, chấn hưng

10 ngành như ô tô, thép, điện tử viễn thông, … , và phát triển các ngành mới nổi mang tính chiến lược như năng lượng mới (điện phong, pin mặt trời, …), hàng không vũ trụ, y dược sinh học, … Trung Quốc thông báo kế hoạch đầu tư 5 ngàn

tỷ NDT (tương đương 738 tỷ USD) trong giai đoạn 2011-2020 để phát triển năng lượng sạch nhằm hạn chế sự phụ thuộc vào các nguồn hydrocarbon ngày càng khan hiếm như than đá, dầu lửa và khí đốt; 3) Đổi mới cơ cấu khu vực với trọng điểm là thực hiện chiến lược phát triên cân đối hơn giữa các vùng miền,

ưu tiên phát triển miền Trung, Tây và Đông Bắc; 4) Đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu thành thị/nông thôn với trọng tâm là thực hiện đô thị hóa bền vững, đổi mới

công tác quản trị xã hội và tăng cường thực hiện tam nông24 Tuy nhiên, theo

báo cáo Trung Quốc năm 2030 của WB, nội dung của cải cách cơ cấu sắp tới

của Trung Quốc sẽ phức tạp hơn nhiều, trong đó ưu tiên trước hết là “xác định lại vai trò của nhà nước, cải cách và cấu trúc lại các doanh nghiệp và ngân hàng quốc doanh, phát triển khu vực tư nhân, thúc đẩy cạnh tranh và làm sâu sắc các cải cách về đất đai, lao động và thị trường tài chính”25

Cần lưu ý, những chủ trương cụ thể như thay đổi chiến lược thu hút đầu

tư nước ngoài nhấn mạnh vào thu hút công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến và nhân tài; thúc đẩy các doanh nghiệp Trung Quốc “đi ra ngoài” mở rộng thị phần, thâu tóm các tài sản chiến lược ở các nước khác, chuyển các khâu sản xuất đã hết lợi thế cạnh tranh sang các nước kém phát triển hơn; đẩy mạnh thực hiện chiến lược biển, … sẽ tác động trực tiếp và nhanh chóng đến toàn khu vực26

23

Dynkin A.A (Ed.) Strategic Global Outlook IMEMO, 2011 (in Russian) P 106

24 Lưu Văn Sơn Báo cáo đề dẫn đọc tại Hội thảo Lý luận lần thứ 8 của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc Hạ Long, tháng 6/2012

Trang 19

Tuy nhiên, chuyển đổi phương thức phát triển không đơn thuần chỉ là tái

cơ cấu kinh tế hay thay đổi phương thức tăng trưởng, mà thực chất là đổi mới quan hệ sản xuất Học giả Trung Quốc Minxin Pei cho rằng, định hướng lại nền kinh tế Trung Quốc hướng nhiều hơn vào thị trường trong nước không đơn giản

là cấp nhiều tiền hơn vào ví của người tiêu dùng, mà là quá trình chuyển đổi môi trường kinh doanh theo hướng pháp quyền và dân chủ hóa27 Sau hơn ba thập niên cải cách mở cửa với nhiều thành công, vấn đề quan hệ sản xuất một lần nữa lại trở thành nhân tố kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất tại Trung Quốc Các mâu thuẫn kinh tế, xã hội dưới tầng sâu ngày càng nổi lên trên bề mặt, cải cách chính trị trở thành vấn đề không thể né tránh Chính vì vậy, Thủ tướng

Ôn Gia Bản đã tuyên bố, cải cách ở Trung Quốc đã bước vào giai đoạn vô cùng quan trọng, không có cải cách chính trị thành công thì Trung Quốc không thể thực hiện cải cách kinh tế thành công, thậm chí những thành quả đã đạt được có thể bị xóa mất28 Cảnh báo của ông Ôn Gia Bảo về nguy cơ tái diễn một cuộc Cánh mạng Văn hóa nếu cải cách chính trị không được thực hiện cho thấy tính cấp bách của vấn đề này tại Trung Quốc

- Đối với Nhật Bản

Việc kinh tế nước này trì trệ kéo dài với 5 lần suy thoái trong gần suốt hai thập niên vừa qua do căn bệnh mãn tính “4D” (dân số già hóa và suy giảm, giảm phát kéo dài, thâm hụt ngân sách và tỷ lệ nợ công tăng cao) mà không có biện pháp giải quyết, không có nghĩa là Nhật Bản có thể tiếp tục tăng trưởng trung bình 1% như được dự báo trong tầm nhìn đến 2020 so với 1,1% của Châu Âu, 2,1% của Mỹ và 7% – 7,5% của Trung Quốc Sự thực là kinh tế Nhật Bản đang tiến dần tới ngưỡng khủng hoảng do tiết kiệm của người dân đã giảm từ 25% vào năm 1990 xuống 16% vào năm 2000 và tiếp tục sụt xuống mức thấp kỷ lục khoảng 2% – 4% hiện nay Điều này hàm ý rằng không còn xa đến lúc chính phủ không chỉ buộc phải tăng lãi suất vay nợ trong nước, mà còn phải vay nợ từ các nguồn tín dụng bên ngoài kéo theo chi phí vốn vay tăng lên Trong bối cảnh

đó, thảm họa “3 trong 1” động đất – sóng thần – sự cố hạt nhân Fukushima vào tháng 3/2011 như giọt nước tràn ly, tạo cú huých cho quá trình tái cấu trúc kinh

tế Nhật Bản Thứ nhất, do lợi thế cạnh tranh trong sản xuất các sản phẩm tiêu

dùng cuối cùng như TV, máy giặt, điều hòa nhiệt độ, … đang giảm sút nhanh chóng, cơ cấu sản xuất công nghiệp và cơ cấu xuất khẩu của Nhật Bản sẽ tiếp tục chuyển dịch mạnh lên phía thượng nguồn của chuỗi cung nhằm bảo vệ vị thế của nền kinh tế này là trung tâm tài chính lớn nhất Châu Á, đồng thời là mắt xích trung tâm về công nghệ cao, nơi sản xuất các sản phẩm trung gian tinh vi nhất của toàn khu vực như linh kiện vi điện tử, vật liệu bán dẫn, sản phẩm hóa tinh vi, thép đặc chủng, vật liệu từ sợi carbon tổng hợp dùng trong công nghiệp

Trang 20

hàng không, ô tô chạy điện và hydro, … 29 “Sáng tạo xanh” được cho là một

trong 4 lĩnh vực then chốt của Chiến lược tăng trưởng mới mà Đảng Dân chủ

Nhật Bản hiện đang cầm quyền tuyên bố30 Do đó, Nhật Bản sẽ tiếp tục duy trì mức đầu tư hàng đầu thế giới 3,6% GDP, chỉ đứng sau Mỹ, cho hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) nhằm duy trì vị trí dẫn đầu khu vực về công

nghệ Thứ hai, sau thảm họa tam trùng tháng 3/2011, Nhật Bản phải thực hiện

đổi mới căn bản hệ thống cung cấp và tiêu thụ năng lượng, từng bước giảm dần

và tiến tới chấm dứt hoàn toàn sự lệ thuộc của nước này vào điện hạt nhân hiện đáp ứng tới 35% nhu cầu điện năng, phát triển một nền kinh tế xanh dựa trên các nguồn năng lượng tái tạo, các công nghệ tiết kiệm năng lượng như siêu dẫn, nano, Trong ngắn hạn, nước này sẽ phải tăng cường nhập khẩu năng lượng từ bên ngoài, điều đã khiến cho cán cân thương mại của Nhật lần đầu tiên bị thâm

hụt vào năm 2011 sau hơn 30 năm liên tục thặng dư Thứ ba, thay đổi mô hình

quản trị doanh nghiệp cũng như văn hóa doanh nghiệp kiểu cũ đã xơ cứng, mất tính hiệu quả Các tập đoàn hàng đầu của Nhật Bản đang trong quá trình tái cấu trúc, thay đổi chiến lược kinh doanh nhằm thu hẹp các lĩnh vực sản xuất để tập trung cao độ vào các thế mạnh cốt lõi của mình, tìm mọi cách để nâng cao lợi

nhuận, chuyển dịch lên trên theo chuỗi sản xuất giá trị gia tăng Thứ tư, lành

mạnh hóa kinh tế vĩ mô mà trọng tâm là tài chính công nhằm giảm ½ thâm hụt ngân sách vào năm 2015 và phấn đấu có thặng dư vào năm 2020 thông qua việc tăng thuế tiêu dùng từ 5% hiện nay lên 10% theo lộ trình đến năm 2015, giảm

chi tiêu công, tăng giá hàng hóa, chống tình trạng giảm phát triền miên Thứ

năm, mở cửa thị trường nội địa cho hành hóa nhập khẩu, dòng đầu tư và nhân

lực từ nước ngoài, giải quyết tình trạng chi phí sản xuất cao, thiếu nhân công lao động

Tuy nhiên, không có gì đảm bảo chắc chắn cho một đường hướng tái cơ cấu kinh tế quyết liệt sẽ diễn ra ở Nhật Bản Mọi kế hoạch tái cơ cấu kinh tế của nước này cho đến nay đều khá mù mờ, thiếu quyết đoán Tương tự như ở Trung Quốc, tái cấu trúc kinh tế Nhật Bản đòi hỏi phải thực hiện những bước đột phá cải cách chính trị Tuy nhiên, khả năng này là không nhiều do giới lãnh đạo thiếu quyết tâm chính trị, bị ràng buộc bởi hệ thống quan hệ phe phái chằng chịt, tính chất bảo thủ của nền hành chính quan liêu và xã hội đơn văn hóa khép kín31 Với việc thay 14 đời thủ tướng trong hai thập niên và 6 thủ tướng trong 6 năm gần đây, chưa kể đến nhiều lần thay đổi nội các dưới thời một thủ tướng, cái mà nước này cần là một cuộc cải cách chính trị căn bản hơn là chỉ tái cơ cấu về kinh

tế

- Đối với Hàn Quốc

29

Claude Meyer Post-Tsunami Japan//Politique Internationale, No 131, 2011

30 Ba lĩnh vực còn lại là “sáng tạo cho cuộc sống” (y tế, chăm sóc sức khỏe), “hướng vào kinh tế châu Á” (đưa Nhật Bản trở thành trung tâm công nghiệp Châu Á, đào tạo nhân lực chất lượng cao, cung cấp kết cấu hạ tầng, cung cấp ý tưởng, tiêu chuẩn, giá trị cho khu vực), “du lịch và kinh tế địa phương” Xem Government of Japan The New Growth Strategy: Blueprint for Revitalising Japan Tokyo, 2010

31

Dunkin A.A (Ed.) Strategic Global Forcast IMEMO, 2011 (in Russian) P 381

Trang 21

Như đã trình bày ở mục I.3, trong những năm sau khủng hoảng tài chính Châu Á 1997-1998, Hàn Quốc đã thực hiện những cải cách kinh tế sâu sắc theo

hướng tự do hóa, đặc biệt là đã tái cấu trúc rất mạnh các tập đoàn chaebol và hệ

thống tài chính-ngân hàng theo hướng minh bạch hóa và áp dụng các chuẩn mực kinh doanh, kế toán quốc tế Hàn Quốc đã thực hiện chính sách công nghiệp theo hướng thúc đẩy chuyển dịch vốn ra khỏi các ngành đã mất lợi thế cạnh tranh như thép, dệt may, hóa chất, điện tử, … để tập trung vào các ngành mới như quang học, máy móc chính xác, màn hình tinh thể lỏng, v.v Năng lực cạnh tranh tổng thể của nền kinh tế được nâng lên giúp Hàn Quốc xuất siêu, tăng mạnh dự trữ ngoại hối Những cải cách kinh tế trên đã không thể thành công nếu không có các cải cách chính trị quyết liệt theo hướng dân chủ hóa xã hội Đây chính là nền tảng cho phép Hàn Quốc trở thành nền kinh tế phát triển gần như duy nhất tránh được suy thoái sau khủng hoảng tài chính thế giới32 Đặc biệt là khu vực sản xuất đã chịu đựng được cú sốc khủng hoảng, giữ được tỷ lệ đầu tư

và xuất siêu giảm tương đối ít trong suốt thời gian khủng hoảng

Theo dự báo của Economic Intelligence Unit, tốc độ tăng trưởng trung bình kinh tế Hàn Quốc trong giai đoạn 2011-2016 sẽ vào khoảng 3,6%, nhưng

sẽ giảm xuống còn 3,2% trong giai đoạn 2016-2020 Trong bối cảnh mới, Hàn Quốc tiếp tục thực hiện tái cơ cấu kinh tế đặt trọng tâm vào “dân chủ hóa kinh

tế”, tức là tăng cường kiểm soát các chaebol do vị thế độc quyền của các tập

đoàn gia đình này vẫn có xu hướng “tái sản xuất” sau những cải cách trước đây,

thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh nhằm mục đích đưa Hàn Quốc bắt kịp,

thậm chí vượt lên dẫn đầu trào lưu chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng tiết kiệm nguyên, nhiên liệu và thân thiện với môi trường Vào năm 2009, gói kích thích kinh tế 38,1 tỷ USD đã được thiết kế để giành 81% cho mục tiêu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, đứng đầu thế giới, vượt xa EU 59% và Trung Quốc 38% Chẳng hạn, 10,5 tỷ USD được đầu tư vào các dự án cải tạo các dòng sông, 5,8 tỷ USD cho mục tiêu sử dụng hiệu quả năng lượng, 1,8 tỷ USD cho trồng rừng (1,8 tỷ),…33 Kế hoạch 5 năm tăng trưởng xanh 2009-2013 trị giá 83 tỷ

USD được thông qua vào tháng 7/2010 cho thấy quyết tâm của Seoul trong việc thúc đẩy mục tiêu tái cấu trúc kinh tế nước này Các tập đoàn công nghiệp của Hàn Quốc cũng đầu tư rất mạnh vào nghiên cứu và triển khai các công nghệ mới, đồng thời tập trung tăng thị phần tại các thị trường mới nổi thông qua việc ký kết hàng loạt hiệp định FTA nhằm khai thác sức cầu tăng nhanh – đầu tư FDI của Hàn Quốc tăng vọt từ năm 2006 và sẽ tiếp tục xu hướng tăng mạnh mẽ này trong tầm nhìn đến 202034 Khu vực ít bị động chạm nhất, đồng thời được ưu đãi nhiều nhất hiện nay lại chính là các doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ có quy

34

Aki Fukuchi South Korea’s Export Competitiveness: Critical to Overcoming the Global Crisis and Issues Going Forward//Bank of Tokyo-Mitsubishi UFJ Economic Review, Vol 5, No 2, Feb 2010

Trang 22

mô vừa và nhỏ - khu vực đang bị cạnh tranh ngày càng mạnh từ phía các nhà sản xuất Đài Loan, Trung Quốc Đây chính là khu vực cần nâng cấp trong những năm tới Về dài hạn, tương tự như Nhật Bản, do lợi thế cạnh tranh trong các ngành chế tạo giảm dần nên Hàn Quốc sẽ phải cải cách lại hệ thống thuế, chính sách công nghiệp, thị trường lao động, … để thực hiện bước chuyển dịch mạnh hơn sang các ngành dịch vụ35 Cũng có những lo ngại nhất định về nguy cơ mô hình tăng trưởng xanh sẽ không sản sinh đủ động lực cần thiết để đưa kinh tế Hàn Quốc bước vào một chu kỳ phát triển mới bền vững, mà chỉ dừng lại ở mức

độ một trào lưu thời thượng, nặng tính dân túy, quảng bá hình ảnh, cuối cùng sẽ đẩy Hàn Quốc vào “bẫy Nhật Bản”

- Đối với Đài Loan

Cơ cấu kinh tế hiện nay của Đài Loan với 70% là công nghiệp chế biến, 25% là dịch vụ và 5% là nông nghiệp đang đối mặt với một loạt thách thức lớn: i) Mức độ dễ bị tổn thương cao do phụ thuộc lớn vào xuất khẩu, đặc biệt là tình trạng “Chaiwan”, tức là phụ thuộc rất lớn vào thị trường Trung Quốc, trong khi Đài Loan gặp khó khăn khó vượt qua trong việc chủ động mở cửa hơn nữa các thị trường khác thông qua việc ký kết các hiệp định thương mại tự do, còn đối thủ kinh tế chủ yếu của Đài Loan là Hàn Quốc lại có lợi thế lớn về hội nhập kinh

tế quốc tế; ii) Sức ép “giải công nghiệp hóa” do việc di chuyển mạnh dòng vốn đầu tư, các cơ sở sản xuất và lao động có kỹ năng sang Đại Lục; iii) Dân số già hóa và chảy máu lực lượng lao động có kỹ năng Hậu quả trước tiên là mức lương tại Đài Loan có xu hướng giảm sút, tình trạng thất nghiệp có nguy cơ bùng phát trong những năm tới kéo theo nguy cơ bất ổn xã hội36

Trong thập niên này, cơ cấu kinh tế Đài Loan sẽ tiếp tục chuyển dịch theo hướng dịch vụ hóa công nghiệp và chuyển dịch lên cao hơn trên chuỗi giá trị gia tăng, chủ yếu là các ngành thâm dụng tri thức như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học Cụ thể là, Đài Loan sẽ thúc đẩy chuyển đổi từ mô hình công nghệ cao nhưng thâm dụng vốn như sản xuất vi mạch, chip nhớ, … sang mô hình công nghệ cao thâm dụng tri thức, tập trung đầu tư phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa, y tế, giáo dục-đào tạo chất lượng cao, nông nghiệp công nghệ cao, các ngành dựa vào công nghệ xanh, sạch, tiết kiệm năng lượng và nguyên liệu, xây dựng các công viên khoa học và các cụm công nghiệp công nghệ cao

để thúc đẩy sáng chế, phát minh – điều được Ủy ban quốc gia về khoa học hậu thuẫn Mặt khác, Đài Loan sẽ phải mở cửa, tự do hóa mạnh hơn lĩnh vực dịch vụ của mình như du lịch, tin học viễn thông, vận tải quốc tế, y tế, giáo dục đại học, công nghệ sinh học, … nhằm thu hút dòng FDI chất lượng cao từ các nước phát triển Kinh tế Đài Loan cũng sẽ phải hội nhập sâu hơn với Đại Lục để bù đắp sự

Trang 23

thiếu hụt về khả năng ký kết các FTA với các nền kinh tế chủ chốt khác như Mỹ,

EU, Nhật Bản và với các nước ASEAN37

Các phân tích trên cho thấy, các nền kinh tế Đông Bắc Á sẽ đồng loạt có những chuyển dịch về cơ cấu trong những năm tới Trong bối cảnh toàn cầu hóa giảm tốc, tự do hóa kinh tế và mở cửa hướng vào xuất khẩu với vai trò là hai trong số những thành tố chính đã góp phần tạo nên mô hình “sự thần kỳ Đông Á” trong những thập niên qua không còn mạnh mẽ như trước, nếu không nói là giảm sút, sẽ rất khó có một đường hướng chung trong chuyển dịch cơ cấu các nền kinh tế tại khu vực như trước đây Vì thế, các yếu tố nội sinh như sức cầu trong nước, số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, tiềm lực khoa học-công nghệ, tài nguyên thiên nhiên, thể chế kinh tế-chính trị, các giá trị văn hóa, … đang nổi lên như những nhân tố bổ sung, thậm chí là thay thế ở mức độ nhất định động lực tự do hóa kinh tế Điều này ủng hộ quan điểm hội nhập khu vực kiểu “sẻ hợp bầy” chứ không phải “đàn nhạn bay” Tuy nhiên, do quy mô và trình độ chênh lệch quá lớn giữa các nền kinh tế Đông Bắc Á, nên quá trình này

có thể dẫn đến những kết quả khác nhau

II THAY ĐỔI CỤC DIỆN CHÍNH TRỊ VÀ AN NINH KHU VỰC, TĂNG CƯỜNG HỢP TÁC VÀ CẠNH TRANH CHIẾN LƯỢC 38

1 Xu hướng chuyển dịch cục diện chính trị, an ninh khu vực Đông Bắc Á

Để có thể dự báo xu hướng chuyển dịch cục diện chính trị, an ninh khu vực Đông Bắc Á trong thập niên tới, trước hết cần xác định những nhân tố chủ yếu chi phối cục diện này Không thể phủ nhận rằng, nhân tố Mỹ và Trung Quốc là những biến số đặc trưng cho hai nguồn cung sức mạnh chủ yếu nhất, cả về kinh tế lẫn chính trị, an ninh đóng vai trò chi phối, kiến tạo không chỉ diện mạo, kết cấu, mà cả nền tảng địa chính trị và địa kinh tế của khu vực Các nguồn cung sức mạnh khác liên quan đến khu vực như Nga, Ấn Độ hay ASEAN tuy có ảnh hưởng nhất định, nhưng không có được vai trò dẫn dắt hay thay đổi cuộc chơi, mà thiên về mang tính ứng biến, lợi dụng

cơ hội, nên có mức độ tương liên cao với động thái chiến lược mang tính chủ động của Trung Quốc và Mỹ, do đó có thể xem như các biến số phụ thuộc Ngoài ra, cục diện Đông Bắc Á còn được quyết định bởi khả năng của khu vực trong việc chủ động hấp thu, thích ứng, tiếp biến hay kháng trở các tác động của hai nhân tố Mỹ và Trung Quốc nhằm đảm bảo trạng thái cân bằng cục bộ của khu vực

Như vậy, có thể nói xu hướng chuyển dịch của cục diện chính trị, an ninh khu vực Đông Bắc Á trong tầm nhìn đến năm 2020 sẽ phụ thuộc vào chiều hướng vận động của cặp quan hệ Trung-Mỹ và khả năng, cách thức, mức độ phản ứng của khu vực trước các tác động từ cặp quan hệ này Hay nói cách khác, trong từng kịch bản quan hệ Trung-Mỹ với những phản ứng khác nhau của khu vực sẽ cho thấy một khả

37 Hiện mới chỉ có Singapore và Ấn Độ đã hoàn tất nghiên cứu khả thi một hiệp định FTA với Đài Loan, New Zealand và Phillipines đang bắt đầu triển khai nghiên cứu

38

Chi tiết xem Báo cáo tổng hợp đề tài mũ Chương trình cấp Bộ 2009-2010 của Viện nghiên cứu Đông Bắc Á

“Một số vấn đề nổi bật về chính trị-kinh tế ở khu vực Đông Bắc Á giai đoạn 2011-2020” do GS TS Nguyễn

Xuân Thắng làm Chủ nhiệm

Trang 24

năng của cục diện chính trị, an ninh khu vực trong thời gian tới Dưới đây là một số dự báo cụ thể:

Cục diện chính trị, an ninh khu vực với kịch bản Trung-Mỹ cạnh tranh

Nếu cạnh tranh Trung-Mỹ tại khu vực Đông Bắc Á diễn ra với cường độ thấp theo kiểu trò chơi “mèo vờn chuột” – vừa chạy đua về quân sự, vừa tranh giành ảnh hưởng chính trị, vừa lôi kéo về kinh tế, thì các quốc gia còn lại sẽ phải thích ứng bằng cách liên tục điều chỉnh chính sách đối nội và đối ngoại để giữ cân bằng giữa hai cường quốc này Theo Richard L Armitage và Joseph S Nye, cường độ cạnh tranh Trung-Mỹ càng mạnh, cục diện khu vực sẽ càng dễ bị phân cực, “nhất biên đảo” sẽ càng trở thành lựa chọn phổ biến, cho đến khi cạnh tranh Trung-Mỹ trở thành đối đầu chiến lược kiểu chiến tranh Lạnh Các quốc gia và vùng lãnh thổ trong khu vực sẽ bị buộc phải lựa chọn một trong hai bên, dẫn tới tình trạng “Balkan hóa” (Balkanization) – chia rẽ, thậm chí phân rã khu vực tương tự như tình trạng bán đảo Balkan sau Chiến tranh Lạnh39 Các động thái gần đây như việc gia tăng đột biến các cuộc tập trận hải quân quy mô lớn giữa Mỹ với các đồng minh Nhật, Hàn, Ôxtralia, Philippines và hàng loạt các đối tác khác, việc Mỹ lôi kéo Nhật Bản, Hàn Quốc tham gia xây dựng lá chắn tên lửa chung với Mỹ, hay việc Washington tăng cường thăm dò khả năng quay trở lại các căn cứ quân sự tại Thái Lan, Philippines, Singapore, New Zealand, v.v, trong khi

đó Trung Quốc lại sử dụng đòn bẩy ODA và FDI để lôi kéo rất mạnh các nước như Campuchia, Lào, Thái Lan, Myanmar, cho thấy chiều hướng này đang mạnh lên Nếu liên kết khu vực không chịu đựng được sự co kéo của Mỹ và Trung Quốc, các nước trong khu vực sẽ bị phân hóa, cường độ cạnh tranh Mỹ-Trung càng bị đẩy lên cao, thì theo Amitav Acharya, có thể xảy ra “kịch bản Trung Á thế kỷ 19” – hàm ý sự tranh giành ảnh hưởng Trung-Mỹ tại Đông Á trở nên quyết liệt tương tự như giữa Nga và Anh tại Trung Á vào thế kỷ 19 với các xung đột cục bộ xảy ra trên toàn tuyến ranh giới ảnh hưởng giữa hai bên, đặc biệt là tại các điểm nóng tiềm tàng

Cục diện chính trị, an ninh khu vực với kịch bản Mỹ “rút khỏi Châu Á”

Nếu Mỹ lún sâu vào khủng hoảng kinh tế đến mức buộc phải rút khỏi Châu Á hay Đông Á, thì khoảng trống quyền lực này sẽ nhanh chóng biến thành “sân sau” của Trung Quốc Amitav Acharya gọi đây là “kịch bản Châu Mỹ thế kỷ 19” với việc Trung Quốc đẩy các cường quốc bên ngoài ra khỏi Đông Nam Á và Đông Bắc Á tương tự như việc Mỹ trỗi dậy vào thế kỷ 19 đã đẩy các cường quốc Châu Âu ra khỏi Tây Bán cầu, làm hình thành một cục diện bá quyền đơn cực tại khu vực sân sau của họ Kịch bản này cũng dựa trên kinh nghiệm nửa thế kỷ can dự của Mỹ vào Đông Á từ Chiến tranh Việt Nam đến nay đã có tới 2 lần Mỹ giảm quan tâm đối với khu vực: lần thứ nhất vào cuối cuộc Chiến tranh Việt Nam – trên thực tế Mỹ hầu như đã rút khỏi khu vực; lần thứ hai là trong thời gian Mỹ tiến hành chiến tranh ở Afghanistan và Iraq –

Mỹ cũng lơ là, coi nhẹ khu vực này Tùy thuộc vào mức độ “rút lui” của Mỹ mà cục diện khu vực có thể diễn biến theo hai hướng: i) “Phần-Lan hóa” (Finlandization) –

Mỹ rút hẳn khỏi khu vực, còn Trung Quốc áp đặt quyền chi phối đối với các nước xung quanh theo kiểu “vừa dùng sức mạnh chính trị, quân sự để kiểm soát, vừa lấy lợi

39

Richard L Armitage và Joseph S Nye The US – Japan Alliance: Getting Asia Right through 2020 CSIS Report, Feb 2007

Trang 25

ích kinh tế để lôi kéo, vỗ về” tương tự như họ đã từng làm trong lịch sử40, trong khi các nước láng giềng phải thỏa hiệp với Trung Quốc trong các vấn đề khu vực và quốc

tế41; ii) “Châu Âu cuối Thế kỷ 19”42 – Mỹ chấm dứt can dự vào Đông Bắc Á, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan buộc phải tự bảo vệ bằng việc cấp tập quân sự hóa Trung Quốc, Triều Tiên, Nga cũng lao vào cuộc chay đua vũ trang Hình thành thế đối chọi

đa cường giống như ở Châu Âu vào cuối Thế kỷ 19, hay nói theo cách của Aaron L Friedberg, “quá khứ của Châu Âu có thể là tương lai của Châu Á” 43

Cục diện chính trị an ninh khu vực với kịch bản Trung-Mỹ hợp tác

Có 3 khả năng hợp tác Trung-Mỹ có thể xảy ra Một là, có thể hình thành cái

mà Richard L Armitage và Joseph S Nye gọi là “chế độ cộng quản Mỹ-Trung” (condominium) Đây chẳng qua là cách gọi khác của hình thức cộng sinh G-2 do Zb Brzezinski đề xuất hay “Chimerica” theo cách gọi của sử gia người Anh Niall Ferguson, theo đó Mỹ và Trung Quốc sẽ cùng phối hợp quản trị trật tự khu vực Các nước còn lại sẽ đứng trước sức ép phải chấp nhận các điều kiện mà G-2 áp đặt nếu không muốn bị trừng phạt Hai là kịch bản “dàn giao hưởng Châu Á” được Henry Kissinger đề xuất từ thập niên 1990 lấy cảm hứng từ trật tự “dàn giao hưởng Châu Âu” xác định bởi Hòa ước Vienna năm 1815 sau thất bại của Napoleon Theo kịch bản này,

Mỹ, Trung Quốc phối hợp với các nước lớn khác như Nhật, Nga và Ấn Độ để cùng quản trị khu vực44 Tuy nhiên, như Alan Dupont đã phân tích, kịch bản này ít có khả năng xảy ra do sự khác biệt quá lớn do tính chất quá phức tạp về địa chính trị của khu vực Đông Á, cũng như lợi ích quá khác biệt giữa các cường quốc có lợi ích liên quan ở khu vực này45 Ba là khả năng hình thành một trật tự đa phương khu vực, bao gồm Trung Quốc, Mỹ và các quốc gia lớn, nhỏ khác đóng vai trò “những cổ đông có trách nhiệm” của khu vực46 như Robert Zoellick đưa ra vào năm 2005 (lúc ông này đang giữ chức Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ trước khi làm Chủ tịch Ngân hàng Thế giới) Kịch bản này hàm ý phải xây dựng một tổ chức khu vực mở, đủ sức giữ chân các nước lớn, đồng thời thỏa mãn được lợi ích của tất cả các bên có liên quan

Cục diện chính trị an ninh khu vực với kịch bản Trung Quốc khủng hoảng

Không thể loại trừ khả năng Trung Quốc rơi vào khủng hoảng do các nguyên nhân kinh tế, chính trị, xã hội hay tôn giáo, sắc tộc bên trong Chênh lệch phát triển quá lớn giữa các vùng, miền, giữa các giai tầng xã hội, giữa thành thị và nông thôn, tình trạng nông dân mất đất, tham nhũng, ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên đang trở thành những nhân tố gây bất ổn nghiêm trọng Vụ Thiên An Môn năm 1989, Pháp luân công năm 1999, những “sự kiện quần chúng” tức là biểu tình, bạo loạn nổ ra liên tiếp gần đây như tại Tân Cương, Tây Tạng và nhiều địa phương

Trang 26

US-khác, nguy cơ đổ vỡ bong bóng chứng khoán, bất động sản, hay vụ tham nhũng của Bạc Hy Lai gây chấn động dư luận năm 2012 vừa qua là những dấu hiệu cảnh báo Mức độ tồi tệ của kịch bản này phụ thuộc vào tác động phá hoại của nó tới trật tự của khu vực Tùy theo mức độ trầm trọng của khủng hoảng tại Trung Quốc mà tác động của nó có thể chỉ giới hạn trong nội bộ nước này, xóa đi sự lo ngại của khu vực về

“mối đe dọa Trung Quốc”, nhưng cũng có thể lan ra khu vực, đẩy Đông Bắc Á rơi vào khủng hoảng, thậm chí bùng nổ chiến tranh, trước hết là tại những điểm nóng tiềm tàng tại bán đảo Triều Tiên, eo biển Đài Loan với những hậu quả không thể lường trước

Tuy nhiên, các kịch bản trên chỉ mô tả những đường hướng cơ bản Thực tế có thể diễn biến theo những ngõ ngách phức tạp hơn nhiều, chẳng hạn có thể chuyển biến nhanh chóng từ kịch bản này sang kịch bản khác hoặc diễn ra đồng thời theo hai-ba kịch bản khác nhau Để đưa ra những dự báo sát hơn về triển vọng khu vực cần có những phân tích sâu hơn về chiều hướng biến chuyển của hai nhân tố Mỹ-Trung, cũng như phản ứng của khu vực Đông Bắc Á trước những biến chuyển đó Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng, tương tác “lưỡng siêu” Mỹ-Trung tại khu vực Đông Bắc Á rất khác so với mối quan hệ đối đầu quân sự lưỡng cực Xô-Mỹ trong Chiến tranh Lạnh hay quan

hệ cạnh tranh kinh tế Mỹ-Nhật trong thập niên 1980 Thứ nhất, quan hệ Mỹ-Trung

ngày nay không đơn thuần chỉ mang tính cạnh tranh, bao vây, kiềm chế lẫn nhau đặc trưng cho kiểu trò chơi chiến lược có tổng bằng 0 hay tổng âm, mà bao gồm cả sự thỏa hiệp, trao đổi, hợp tác cùng có lợi ở mức độ lớn của trò chơi có tổng dương Tính chất phức tạp của mối tương tác Trung-Mỹ còn ở chỗ, ngay trong từng lĩnh vực cụ thể, chẳng hạn như vấn đề hạt nhân Triều Tiên, thì tính chất của trò chơi chiến lược giữa

hai bên có thể thay đổi rất nhanh từ kiểu này sang kiểu khác Thứ hai, cả hai chiều

cạnh chính trị và kinh tế hay an ninh và phát triển trong quan hệ Mỹ-Trung đều rất quan trọng, tạo ra mức độ tùy thuộc lẫn nhau rất lớn, do đó cạnh tranh giữa hai nước luôn gây sức ép phản hồi rất mạnh lên nội bộ từng bên, gia tăng mâu thuẫn, căng thẳng

bên trong, ngăn cản từng bên hành động “quá đà” Thứ ba, mặc dù có sự khác biệt lớn

về ý thức hệ, nhưng với việc Trung Quốc tiến hành cải cách, mở cửa, tiếp nhận những giá trị kinh tế thị trường trong hơn ba thập niên vừa qua, sự đối đầu về ý thức hệ không còn mang tính sống còn như trước đây Cạnh tranh giữa mô hình “đồng thuận Washington” và mô hình “đồng thuận Bắc Kinh”47 nếu có thì cũng không mang tính

loại trừ lẫn nhau Sách Vàng về Chủ nghĩa xã hội do Viện KHXH Trung Quốc ấn hành

năm 2011 tuyên bố “Trung Quốc sẽ không xuất khẩu mô hình phát triển của mình, không áp đặt các giá trị của mình cho người khác48 Tất cả những điều trên cho phép

dự báo rằng, nguy cơ đối đầu lưỡng cực Mỹ-Trung theo kịch bản chiến tranh lạnh là tương đối nhỏ Tuy nhiên, do không có một kết cấu an ninh bao trùm lên toàn khu vực tương tự như ASEAN ở Đông Nam Á, nên các quốc gia và vùng lãnh thổ Đông Bắc Á phải chịu áp lực phân cực khá lớn, và trên thực tế có mức độ phân cực về đối ngoại cao hơn nhiều so với các nước Đông Nam Á (Ngoại trừ Mông Cổ do vị trí địa lý nằm kẹp giữa Nga và Trung Quốc, nên khó có lựa chọn nào khác ngoài việc cố gắng tìm kiếm “nước láng giềng thứ 3”)

2 Xu hướng tiến triển của các điểm nóng tiềm tàng ở Đông Bắc Á

Trang 27

a Xu hướng tiến triển của tình hình Bán đảo Triều Tiên

Trong thập niên 2000, an ninh trên bán đảo Triều Tiên đã có sự thay đổi rất căn bản từ chỗ chỉ bao gồm vấn đề chiến tranh hay hòa bình thống nhất hai miền đến chỗ

mở rộng thành năm vấn đề khác nhau, nhưng đan kết chặt chẽ với nhau: 1) Nguy cơ chiến tranh giữa hai miền kéo theo khả năng can thiệp từ phía Trung Quốc và Mỹ; 2) Chương trình sản xuất vũ khí hạt nhân và tên lửa tầm xa của Triều Tiên; 3) Nguy cơ di dân ồ ạt kéo theo thảm họa nhân đạo và bất ổn xã hội lan rộng ra khu vực một khi chiến tranh Nam-Bắc nổ ra; 4) Sự tồn vong của chế độ chính trị tại Triều Tiên; 5) Triển vọng thống nhất hai miền kéo theo những chuyển dịch nền tảng địa chính trị khu vực Ngoài bốn bên Trung-Triều-Hàn-Mỹ trực tiếp can dự vào các vấn đề an ninh kể

trên, cơ chế Đàm phán 6 bên bao gồm thêm hai nước liên quan là Nga, Nhật để giải

quyết chương trình hạt nhân quân sự của Bình Nhưỡng Do các bên can dự có sự khác biệt lớn, thậm chí đối lập nhau về lợi ích chiến lược đối với triển vọng và phương cách giải quyết các vấn đề an ninh của bán đảo Triều Tiên, nên duy trì nguyên trạng là kết quả có tính quy luật khi các bên đều “lựa chọn điều tốt thứ hai” 49

Với việc làm chủ được công nghệ vũ khí hạt nhân và tên lửa tầm xa, Triều Tiên

đã đẩy “giá đặt cược” của các bên có liên quan đối với an ninh trên bán đảo Triều Tiên

và toàn khu vực lên một ngưỡng mới, đồng thời giành được thế mặc cả cao hơn – chỉ chấp nhận đánh đổi việc chấm dứt chương trình hạt nhân quân sự của mình lấy cam kết không tấn công, bảo đảm hòa bình, bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ, ký kết một hiệp định hòa bình trên bán đảo Triều Tiên cộng thêm chương trình viện trợ phát triển Quá trình chuyển giao quyền lực sang thế hệ lãnh đạo thứ ba cho Kim Jong-

un mặc dù đã hoàn tất giai đoạn đầu vào tháng 6/2012 với việc ông này nắm được tất

cả các chức vụ quan trọng nhất là Bí thứ thứ nhất Đảng Lao động Triều Tiên, Chủ tịch thứ nhất Hội đồng quốc phòng quốc gia, Chủ tịch Quân ủy Trung ương và Nguyên soái Tổng tư lệnh quân đội, nhưng giai đoạn hai xây dựng một ban lãnh đạo mới gồm những người trẻ tuổi hơn mới chỉ bắt đầu và có thể kéo dài vài năm Đây là giai đoạn đặc biệt nhạy cảm đối với sự ổn định của chế độ vì: i) Về đối nội có thể xảy ra những biến cố khó lường nếu quá trình này gặp trục trặc liên quan đến sự chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ; ii) Về đối ngoại Triều Tiên vẫn trong tình trạng bị Mỹ và các đồng minh bao vây, cấm vận về kinh tế, cô lập về chính trị và đe dọa về quân sự cao độ Vì vậy, trong ngắn hạn nhiều khả năng Bình Nhưỡng vẫn sẽ tăng cường sử dụng chiến lược

thăng bằng bên miệng hố chiến tranh như một trong những phương sách cơ bản để

củng cố sự đoàn kết bên trong và khả năng răn đe bên ngoài Vụ phóng tên lửa mang theo vệ tinh vào tháng 4/2012 và dấu hiệu gần đây về hoạt động chuẩn bị một vụ thử hạt nhân thứ ba cho thấy rõ chiều hướng này Trong khi đó, ngày càng có những dấu hiệu cho thấy, cải cách kinh tế ở Triều Tiên có thể đang trong giai đoạn khởi động Sự sụp đổ gần đây của hàng loạt chế độ tại Bắc Phi – Trung Đông, cải cách ở Cuba và Myanmar đã và đang tác động lớn đến nhận thức của lãnh đạo Triều Tiên về sự cần thiết phải có những thay đổi Nếu thực sự xảy ra, thì nhiều khả năng cải cách kinh tế sẽ bắt đầu từ năm 2013-2014 khi quá trình chuyển tiếp chính trị cơ bản hoàn tất Cải cách nóng vội khi hệ thống chính trị chưa ổn định, có thể dẫn đến những thất bại như đã

49

R.G Lipsey, K Lancaster The General Theory of Second Best//The Review of Economic Studies, 24(1), pp

11-32

Trang 28

thấy trong lần thử nghiệm trước vào những năm 2002-2005, nhưng cải cách quá chậm trễ khi hệ thống đã định hình lại có thể mất thời cơ

Do quán tính của xu hướng đối đầu hiện nay, quan hệ liên Triều sẽ còn tiếp diễn tình trạng “ăn miếng, trả miếng” ít nhất cho đến hết năm 2013 Đáp trả các cuộc tập trận quy mô lớn chưa từng thấy của Hàn Quốc và Mỹ, Triều Tiên sẽ sử dụng các

“chiêu thức” đã biết như làm giàu hạt nhân, thử tên lửa, nhưng ít có khả năng tiến hành một vụ thử hạt nhân lần thứ ba Chuyên gia hàng đầu về Triều Tiên Andrei Lankov nhận xét, “các nhà lãnh đạo Triều Tiên đơn giản muốn nhắc nhở Seoul rằng, họ có khả năng gây nhiều rắc rối nếu yêu cầu của họ không được đáp ứng”50 Tuy nhiên, quan hệ giữa hai miền có khả năng từng bước chuyển sang hòa dịu hơn từ năm 2014 Một chính quyền mới tại Hàn Quốc sau cuộc bầu cử cuối năm 2012 nhiều khả năng sẽ theo đuổi một đường lối ôn hòa, mềm dẻo hơn với người anh em phía Bắc, mở ra một giai đoạn bớt căng thẳng trong quan hệ liên Triều kéo dài ít nhất cho đến cuối thập niên này Ngay cả trong trường hợp quan hệ hai miền trở nên hòa dịu, thì tiến trình thống nhất bán đảo Triều Tiên sẽ khó có bước đột phá căn bản từ nay cho đến năm 2020 Chỉ

đến trước năm 2030, thì theo dự báo của Strategic Global Forecast 2030 của Viện

Kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế Nga (IMEMO), tiến trình thống nhất bán đảo Triều Tiên mới hoàn tất51

b Xu hướng tiến triển của tình hình Eo biển Đài Loan

Để dự báo được tình hình eo biển Đài Loan, ngoài việc xem xét sức hút về kinh

tế, cần tính đến những nhân tố khác có tác động lớn đến quan hệ hai bờ

Thứ nhất, đó là quan điểm, thái độ của người dân Đài Loan về quan hệ hai bờ -

nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến chính sách đối ngoại của Đài Bắc Điều tra dư

luận xã hội thường niên được Global Views Survey Research Center (GVSRC) công

bố vào tháng 4/2011 cho thấy, 53,5% số người được hỏi lựa chọn giữ nguyên hiện trạng hai bờ, 27% mong muốn Đài Loan độc lập và chỉ có 7,5% ủng hộ thống nhất với Đại Lục So với thời điểm trước khi ông Mã Anh Cửu lên cầm quyền vào năm 2008, thì tỷ lệ các ý kiến phản đối thống nhất hai bờ cũng như các ý kiến ủng hộ “Đài Loan độc lập” đều có xu hướng tăng mặc dù có thể không nhiều Rõ ràng là đang có một trạng thái cân bằng nhất định trong thái độ của dân chúng Đài Loan xung quanh quan điểm giữ nguyên vị thế hiện nay của hòn đảo: đa số kỳ vọng vào những lợi ích kinh tế

từ quan hệ thương mại và đầu tư với Đại Lục, mong muốn có hòa bình và ổn định, nhưng đồng thời phản đối thống nhất hai bờ

Thứ hai, đó là việc Mỹ tăng cường hiện diện chiến lược tại Châu Á-Thái Bình

Dương – không chỉ tạo trở lực đối với tiến trình hội nhập giữa hai bờ, mà còn có thể kéo Đài Loan ra xa Đại Lục hơn trong tầm nhìn trung hạn Từ góc độ địa chính trị, Đài Loan có vị trí đặc biệt xung yếu trong chiến lược khu vực và toàn cầu của Mỹ với vai trò là: 1) Điểm chốt chặn và mắt xích then chốt trên “chuỗi đảo thứ nhất” kéo dài từ Biển Nhật Bản đến Biển Đông, ngáng trở con đường Trung Quốc tiến ra Thái Bình Dương; 2) Van điều tiết áp lực địa chính trị tại Đông Bắc Á và Đông Á trong tương quan với các điểm nóng tiềm tàng khác như bán đảo Triều Tiên hay Biển Đông; 3) Nguồn khuếch tán của các tư tưởng dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, thậm chí cả

Trang 29

chủ nghĩa ly khai vào nội bộ Trung Quốc Học giả theo chủ nghĩa bảo thủ Robert Kagan còn đi xa hơn khi cho rằng, quan hệ chiến lược Mỹ-Đài là một thành tố của địa

vị bá quyền khu vực và toàn cầu của Mỹ52 Trong bối cảnh nhu cầu của Mỹ đối với việc kiểm soát sự trỗi dậy của Trung Quốc tăng lên, thì những giá trị địa chiến lược nêu trên của Đài Loan chỉ có thể tăng lên, chứ không giảm đi như một số ý kiến lẻ tẻ xuất hiện gần đây trong giới học giả Mỹ về khả năng “Mỹ từ bỏ Đài Loan” để đổi lấy

sự hợp tác của Trung Quốc trong các vấn đề quản trị toàn cầu53,54 Điều này giải thích

vì sao Mỹ không phản đối việc xích lại gần nhau về kinh tế giữa hai bờ nhằm giảm thiểu nguy cơ xung đột, nhưng rất cảnh giác đối với bất cứ động thái chính trị thân thiện hay hợp tác an ninh nào giữa hai bờ, chẳng hạn như trong vấn đề tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Senkaku/Điếu Ngư hay ở Biển Đông55 - điều có thể xói mòn địa vị độc quyền của Mỹ trong quan hệ chính trị và an ninh với Đài Loan Vì thế trong thời gian tới, Mỹ sẽ phải đảm bảo khoảng cách về chính trị và an ninh giữa Đài Loan

và Đại Lục không thu hẹp quá ngưỡng gây “đoản mạch” trong quan hệ hai bờ

Thứ ba, đó là sách lược của Trung Quốc đối với Đài Loan trong quan hệ tam

giác Trung-Mỹ-Đài Những thành công vừa qua trong việc lôi kéo Đài Loan về phía Đại Lục sẽ củng cố cho cách tiếp cận mềm dẻo, linh hoạt hiện nay của Trung Quốc nhằm vào ba hướng: 1) Về chính trị, tiếp tục sử dụng khẩu hiệu “cộng đồng chung vận mệnh” và chấp nhận mô hình “một nước Trung Quốc với các cách hiểu khác nhau” như nguyên tắc tham chiếu trong đàm phán “hòa bình thống nhất” với Đài Loan thay cho mô hình “một đất nước, hai chế độ” đã áp dụng thành công đối với Hồng Công, Macao, nhưng không tranh thủ được sự đồng tình của dân chúng Đài Loan; 2) Về kinh

tế, tăng cường hơn nữa các biện pháp nhằm lôi kéo các tầng lớp xã hội Đài Loan hội nhập kinh tế với Đại Lục; 3) Về quân sự, tiếp tục áp dụng sách lược “cây gậy và củ cà rốt” răn đe quân sự đối với Đài Loan nhưng mềm dẻo hơn với việc ưu tiên lôi kéo Đài Loan hội nhập về kinh tế hơn là làm căng vấn đề Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan Thế hệ lãnh đạo thứ 5 ở Trung Quốc nhiều khả năng sẽ đẩy mạnh hơn nữa sách lược thực dụng trong quan hệ với Đài Loan

Trên thực tế, Trung Quốc sẽ tiếp tục áp dụng chiến thuật “dò đá qua sông” trong quan hệ tam giác Trung-Mỹ-Đài, mà thực chất là chia nhỏ các bước đi lớn nhằm vừa tránh gây sốc trong dư luận vốn rất nhạy cảm ở Đài Loan, vừa thăm dò thái độ của

Mỹ, cố gắng từng bước hạ thấp cận dưới mà Washington có thể chấp nhận đối với quan hệ Đài-Trung Trong thời gian tới, Trung Quốc sẽ nỗ lực củng cố các bước tiến

đã đạt được, tiếp tục tranh thủ các lực lượng ủng hộ hợp tác hai bờ, làm suy yếu thế lực “Đài Loan độc lập”, ngăn chặn nguy cơ đảo chiều trong quan hệ hai bờ Trong số các biện pháp có thể được Trung Quốc sử dụng phải kể tới khả năng đưa ra đề xuất đàm phán một hiệp định đầu tư song phương theo hình mẫu Hiệp định đầu tư Trung-Nhật-Hàn vừa ký kết vào tháng 4/2012, thiết lập cơ chế thanh toán giữa hai bờ bằng các động nội tế, tạo điều kiện hơn nữa cho dòng di chuyển vốn, hàng hóa và thể nhân giữa hai bờ, thúc đẩy hiệp thương về các vấn đề chính trị, quốc phòng tiến tới ký kết

Trang 30

một hiệp ước hòa bình56, đề nghị một số hình thức xây dựng lòng tin về an ninh-quốc phòng ở mức độ thấp như giao lưu hải quân, phối hợp tuần tra chung trên biển, cùng quản lý và khai thác các nguồn lợi trên biển, thậm chí hợp tác trong vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, v.v Thậm chí một số học giả lạc quan ở Trung Quốc đã bắt đầu thảo luận về triển vọng hình thành “hệ thống phòng thủ chung hai bờ” nhằm lôi kéo Đài Bắc vào không gian an ninh chung do Trung Quốc dẫn dắt57 - được xem như tiền đề để hai bờ thiết lập quan hệ chính trị Mô hình này dường như lấy cảm hứng từ

Tổ chức an ninh tập thể (ODKB) do Nga thiết lập tại không gian “hậu Xô-Viết” Tất

nhiên, Trung Quốc sẽ vẫn “nhỏ giọt” trong việc chấp nhận cho Đài Loan mở rộng không gian đối ngoại thông qua việc gia nhập các tổ chức quốc tế, tìm kiếm các thỏa thuận hợp tác kinh tế, văn hóa, xã hội với các nước khác, …58 Bắc Kinh cũng sẽ tiếp tục ngăn chặn sự hoạt động của nhiều tổ chức xã hội dân sự Đài Loan tại Đại Lục Đây

là những yếu tố cản trở không nhỏ cho quan hệ hai bờ

Các phân tích trên cho thấy, xu hướng tiếp tục xích lại gần nhau về kinh tế đồng thời duy trì nguyên trạng về chính trị-an ninh trong quan hệ giữa hai bờ eo biển Đài Loan sẽ vẫn là “lựa chọn tốt thứ hai” tạm thời thỏa mãn được lợi ích của tất cả các bên Vấn đề là ở chỗ, như học giả Đài Loan Vincent Wei-cheng Wang nhận xét, “nguyên trạng không bao giờ là tĩnh tại”59 Về dài hạn, xu hướng xích lại gần Đại Lục của Đài Loan không hướng tới một đích chính trị-an ninh cụ thể nào khó có thể bền vững Một

là, mức độ bất đối xứng về sức mạnh quân sự giữa hai bờ eo biển Đài Loan ngày càng doãng rộng, đặc biệt là việc Trung Quốc phát triển nhanh chóng năng lực “chống tiếp cận/chống phong tỏa khu vực” đe dọa phá vỡ nguyên trạng an ninh eo biển60 Hai là,

Mỹ sẽ tăng cường “đầu tư” vào Đài Loan như một tài sản chiến lược quan trọng của mình trong mục tiêu kiểm soát sự trỗi dậy của Trung Quốc, đặc biệt là việc Mỹ không dừng việc bán vũ khí cho Đài Loan Ba là, sự kiên nhẫn, kiềm chế của Trung Quốc nhiều khả năng sẽ giảm đi trước việc Đài Loan tăng cường sức mạnh quân sự hay thế lực “Đài Loan độc lập” mạnh lên Cho tới cuối nhiệm kỳ thứ hai của ông Mã Anh Cửu,

sự gia tăng các nhân tố không bền vững này có thể làm triệt tiêu đà xích lại gần nhau giữa hai bờ trước khi bước vào giai đoạn tương đối trì trệ, thậm chí lạnh nhạt vào nửa

sau của thập niên này

c Xu hướng tiến triển của các tranh chấp biển, đảo trong khu vực

Tranh chấp Nga-Nhật về 4 hòn đảo thuộc Nam Kuril/Lãnh thổ phía Bắc sau thời gian tương đối lắng dịu đã trở lại căng thẳng từ đầu thập niên 2010 với việc lần đầu tiên một Tổng thống Nga (lúc đó là ông Medvedev) đã đến thăm những hòn đảo này, tiếp sau đó là việc Nga tăng cường đầu tư phát triển và bố trí lực lượng quân sự ở đây Thỏa thuận không chính thức vào thập niên 1990 giữa Moscow và Tokyo về việc đổi 2 trong số 4 hòn đảo này lấy hiệp ước hòa bình song phương dường như đã bị xóa

56 Hạ Lập Bình Đàm phán về các vấn đề chính trị quân sự - hòn đá tảng và bước đột phá trong quan hệ giữa hai

bờ eo biển//Tạp chí Bình luận Trung Quốc, tháng 7/2011 Bản dịch của TTXVN Tài liệu tham khảo đặc biệt, 31/7/2011

Trang 31

bỏ Ít nhất là trong bối cảnh các tài sản địa chiến lược ở Đông Bắc Á đều “lên giá” do Trung Quốc trỗi dậy và Mỹ trở lại Châu Á, thì tranh chấp Nga-Nhật sẽ khó có triển vọng được giải quyết, đồng thời cũng ít có nguy cơ chuyển thành xung đột, do vậy sẽ tiếp tục đảo chiều từ nóng sang lạnh và ngược lại Tương tự như vậy, căn cứ vào xu hướng xích lại gần nhau chưa từng có giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, tranh chấp giữa hai nước này xung quanh vấn đề chủ quyền đối với đảo đá Takeshima/Dokdo nhiều khả năng sẽ giảm cường độ dao động, tuy chưa thể có bước hòa giải đột phá, trong khi nguy cơ tái bùng phát tranh cãi xung quanh vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn hiện vẫn

được kiểm chế tuy không thật sự chắc chắn bởi Hiệp định phát triển chung khu vực thềm lục địa phía Nam có hiệu lực đến năm 2028 Nhân tố chính làm phức tạp tranh

chấp này là việc các thế lực dân tộc chủ nghĩa ở cả hai nước thường xuyên sử dụng vấn đề chủ quyền đối với các tranh chấp biển đảo này như chất kích thích thu hút sự chú ý của dư luận

3 Các thách thức, nguy cơ đe dọa an ninh phi truyền thống tại khu vực

Mặc dù nằm trong khu vực được coi là tương đối ổn định từ sau Chiến tranh Lạnh (Đông Á) với sự nổi trội của xu thế đối thoại và tránh đối đầu, song những điểm nóng đang tồn tại (Bán đảo Triều Tiên, Eo biển Đài Loan) với mức độ dính líu khác nhau của các cường quốc, những mâu thuẫn do lịch sử để lại cùng với nhiều tranh chấp lãnh thổ chưa được giải quyết… đã biến Đông Bắc Á thành khu vực tương đối phức tạp về an ninh Không khó để kể ra hàng loạt tranh chấp chủ quyền tồn tại giữa các nước trong khu vực Trong khi những vấn đề thuộc về an ninh quốc gia (tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển đảo…) chưa được giải quyết dứt điểm, các nước Đông Bắc Á lại phải đối mặt với nhiều bất ổn đe dọa tới sự phát triển ổn định và bền vững của mỗi nước trong khu vực nói riêng và với cả khu vực nói chung, đó là những thách thức và nguy cơ an ninh phi truyền thống

Tại khu vực Đông Bắc Á, có thể thấy những thách thức nổi bật là các vấn đề liên quan đến ô nhiễm môi trường, sự khan hiếm và cạn kiệt các nguồn tài nguyên, an ninh năng lượng, lương thực, làn sóng di cư, nạn buôn lậu (ma túy, vũ khí), dịch bệnh HIV/AIDS và SARS Thực tế đó cũng là những vấn đề nằm trong các toàn cầu được nói đến rất nhiều trong nhiều năm trở lại đây

Trước hết là tình trạng cạn kiệt các nguồn tài nguyên và vấn đề an ninh năng lượng Không thể phủ nhận rằng, nhiều nguồn tài nguyên cá và rừng đang bị khai thác

vượt quá khả năng tái tạo Sự phát triển và sử dụng nguồn tài nguyên than đá và dầu

mỏ để thúc đẩy các nền kinh tế trong khu vực tăng trưởng nhanh đang ngày làm trầm trọng hơn tình trạng căng thẳng về môi trường Với tốc độ khai thác hiện nay, Châu Á

sẽ cạn kiệt gỗ trong vòng chưa đến 30 năm tới Đó là thông tin được đưa ra trong báo cáo mới được Tổ chức Nghiên cứu công nghiệp và khoa học Liên bang Australia (CSIRO) và Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) công bố năm 2011 Có thể thấy, cả ba nước Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc đều phụ thuộc vào nguồn năng lượng nhập khẩu và là những nước tiêu thụ năng lượng lớn trên thế giới Trong bối cảnh khoảng cách giữa tiêu dùng và sản xuất năng lượng tại các nước này ngày càng mở rộng do nhu cầu phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh năng lượng trở thành vấn

đề sống còn đối với phát triển bền vững trước những bất ổn có thể xảy ra ảnh hưởng đến giá cả và nguồn cung năng lượng

Trang 32

Thứ hai là vấn đề mất an ninh lương thực Theo đánh giá của Tổ chức Lương

Nông thế giới (FAO), khoảng 90% sản lượng gạo của toàn thế giới được sản xuất tại Châu Á nhưng châu lục này có tới 65% dân số đang bị thiếu lương thực Những năm gần đây, tình trạng mất an ninh lương thực đang tác động tiêu cực tới đời sống hàng trăm triệu người dân các nước Đông Bắc Á Tại Trung Quốc, giá lương thực, đặc biệt

là gạo và thịt lợn tăng chóng mặt đã đẩy chỉ số giá tiêu dùng (CPI) lên mức cao Tình trạng mất an ninh lương thực tại Trung Quốc xuất phát từ nguyên nhân cơ bản là diện tích đất canh tác bị thu hẹp Trong vòng 10 năm qua, do tình trạng sa mạc hóa, đô thị hóa và phát triển công nghiệp, Trung Quốc đã mất 5,5% diện tích đất canh tác (khoảng

8 triệu ha) Tại Nhật Bản, để phát triển đô thị và công nghiệp, trong thời gian 25 năm

từ 1965 đến 1990, Nhật Bản đã mất 50% diện tích đất trồng lúa Năng suất trồng lúa, liên tục gia tăng trong nhiều thập niên, từ 14 năm nay đã bị chững lại Nhật Bản phải nhập khẩu phần lớn lương thực để đáp ứng nhu cầu trong nước và cả của ngành chăn nuôi (Nhật Bản mới tự túc được 40% lương thực và đang phấn đấu nâng tỉ lệ này lên 50% trong 10 năm tới) Tại Hàn Quốc, những năm gần đây diện tích đất nông nghiệp của Hàn Quốc giảm dần do chuyển đổi mục đích sử dụng Theo một báo cáo do Cục thống kê Hàn Quốc công bố trong tháng 10/2011, sản xuất lúa gạo của nước này dự kiến giảm xuống mức thấp nhất trong 31 năm qua, có thể chỉ đạt 4,21 triệu tấn trong năm 2011 Nguyên nhân ngoài điều kiện thời tiết xấu còn do diện tích trồng lúa giảm

Thứ ba là tình trạng buôn lậu vũ khí và ma túy Ma túy được sản xuất tại Trung

Á và Đông Nam Á đã tìm đường đến các thị trường ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Nga, thông thường qua Trung Quốc Do diện tích rộng lớn, gần vùng Tam giác vàng, lại có nhiều thành phố ven biển với những cảng lớn, Trung Quốc đã trở thành một nơi quá cảnh hấp dẫn đối với những kẻ buôn lậu ma túy Số người bị bắt giữ và kết án vì buôn bán ma túy tại Trung Quốc đã tăng nhiều lần trong vòng 1 thập kỷ qua Trung Quốc có khoảng 900.000 người nghiện ma túy có đăng ký, song số liệu không chính thức ước tính trên thực tế cao hơn rất nhiều, vào khoảng 12 triệu người Tỉ lệ lây nhiễm HIV/AIDS qua con đường tiêm chích ma túy tại nước này cũng rất cao Nhật Bản là nước có tỉ lệ lạm dụng ma túy bất hợp pháp thấp nhất trong số các nước đang phát triển (theo ước tính của Bộ Y tế Nhật Bản vào năm 2010, tỉ lệ này là 2,9% dân số Nhật Bản – khoảng 2,76 triệu người), tuy nhiên, buôn lậu ma túy tại đất nước mặt trời mọc này cũng đang là vấn đề nổi cộm Những người sử dụng ma túy tại Nhật Bản hầu hết đều là thanh niên ở độ tuổi 20 Loại ma túy họ sử dụng thường là cần sa được đưa từ những nước như Thái Lan vào Nhật Bản Theo thông tin của Cơ quan cảnh sát quốc gia Nhật Bản đăng trên tờ Yomiuri Shimbun ngày 20/11/2010, một cuộc điều tra với

180 người mua cần sa và các chất kích thích trên mạng cho thấy 70% trong số họ chưa

có tiền án tiền sự, 80% là nam giới và 46% là người thất nghiệp61.

Thứ tư là vấn đề di cư bất hợp pháp và buôn bán người Di cư quốc tế từ lâu là

một hiện tượng toàn cầu và là xu hướng khu vực quan trọng tại Đông Bắc Á Dòng di chuyển người xuyên biên giới tại khu vực này thể hiện dưới nhiều hình thức cả hợp pháp và bất hợp pháp, gồm có di cư lao động, người tị nạn, li khai và buôn bán người62

61 Fact and Details, “Marijuana and illegal drugs in Japan”, trên website:

http://factsanddetails.com/japan.php?itemid=664&catid=19&subcatid=125

62

Theo điều 3 Nghị định thư Liên Hợp Quốc về phòng, chống và trừng phạt việc buôn bán người, đặc biệt là phụ

nữ và trẻ em, bổ sung cho Công ước Liên Hợp Quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, “buôn bán người bao gồm các hình thức tuyển dụng, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp, tiếp nhận người thông qua các

Trang 33

– vấn nạn nhức nhối tại khu vực này Tại Trung Quốc, nạn buôn bán người là một vấn

đề nghiêm trọng, có phần nguyên nhân từ việc chênh lệch giới tính tại quốc gia 1,3 tỉ dân này Tại Nhật Bản, nước được coi là nước quá cảnh và là điểm đến đối của các vụ buôn bán người từ các nước Đông Nam Á, Trung Quốc, Đông Âu, rất nhiều nạn nhân của những vụ buôn người bị cưỡng chế vào việc khai thác tình dục tại các câu lạc bộ thoát y, quán bar… Tương tự, tại Hàn Quốc, một lượng lớn trong số phụ nữ từ các nước Đông Nam Á, Nga, Uzbekistan, Kazakhstan, Trung Quốc, Mông Cổ được tuyển dụng tới làm việc tại nước này bị buôn bán để khai thác tình dục và làm nô lệ bắt buộc trong nước

Thứ năm là mối đe dọa từ dịch bệnh Hội chứng hô hấp cấp tính nặng (Severe

acute respiratory syndrome) được biết đến dưới cái tên “dịch SARS”, được phát hiện lần đầu ở Quảng Đông, Trung Quốc vào tháng 11 năm 2002, sau đó lan rộng khắp Trung Quốc (tình hình đặc biệt nghiêm trọng tại Bắc Kinh và Hồng Kông) và nhiều nước khác trên thế giới Vào thời điểm tháng 5/2003, số ca mắc SARS đã là 7.000 người ở 29 quốc gia Tỉ lệ tử vong ban đầu ước khoảng 3% nhưng sau đó lên tới 15%63 Dịch bệnh không chỉ ảnh hưởng tới người dân Trung Quốc mà còn lan ra các quốc gia khác, cho thấy các chính phủ không thể bảo vệ được cuộc sống và sức khỏe của công dân của mình sẽ không thể đảm bảo được an ninh con người Một bệnh dịch khác không thể không nhắc đến là căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS Sự gia tăng nhanh chóng số người nhiễm căn bệnh này trong 10 năm đầu thế kỷ XXI tại các nước Đông Bắc Á là vấn đề đáng quan tâm Tại Nhật Bản, số ca nhiễm HIV/AIDS đã vượt qua ngưỡng 10.000 trong năm 2004 Theo một báo cáo cuối năm 2006 của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), có ít nhất 17.000 người nhiễm HIV/AIDS tại Nhật Bản Tại Hàn Quốc, số người sống chung với HIV/AIDS này đến năm 2010 vào khoảng 13.000 người, gấp hơn 3 lần so với thời điểm năm 2001 Tỉ lệ phổ biến HIV/AIDS tại Hàn Quốc không cao, khoảng 2 trên 10.000 người lớn, song điều đáng nói là hầu hết những trường hợp này đều bị lây nhiễm qua con đường tình dục Tại Trung Quốc, số người bị nhiễm HIV/AIDS tính đến tháng 11/2006 là 183.733 người, tăng 39.644 người so với cuối năm 200564 Theo đánh giá vào cuối tháng 11 năm 2009 của các quan chức thuộc WHO, Cơ quan thực hiện chương trình phối hợp phòng chống AIDS của Liên Hợp Quốc (UNAIDS) và Bộ Y tế Trung Quốc về tình trạng lây nhiễm HIV/AIDS ở quốc gia này, tình trạng lây nhiễm HIV/AIDS qua đường tình dục tại Trung Quốc đang ở mức báo động, với ước tính đến cuối năm 2009 sẽ có khoảng 920.000 người Trung Quốc nhiễm bệnh

Có thể khẳng định rằng, trong thập niên tới, các vấn đề an ninh phi truyền thống trên đây sẽ vẫn tiếp diễn và có tác động tiêu cực tới sự phát triển bền vững của các quốc gia trong khu vực

biện pháp đe dọa, sử dụng vũ lực hoặc các hình thức khác như ép buộc, bắt cóc, lừa đảo, hoặc gian lận, lạm dụng quyền lực hoặc vị trí của nhóm dễ bị tổn thương hoặc thông qua việc nhận hoặc trả tiền… cho những người đang nắm quyền kiểm soát người khác, vì mục đích bóc lột”

Trang 34

III Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG VÀ CÁC HỆ LỤY CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 65

Là khu vực phát triển năng động trên thế giới, đi đôi với tốc độ phát triển cao, Đông Bắc Á đang phải đối mặt với nạn ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Mưa a xít

và rác thải hạt nhân trên biển, những hiện tượng đều đang tồn tại ở khu vực này, là những ví dụ điển hình cho những vấn đề xuyên biên giới không thể giải quyết bằng các biện pháp đơn phương của từng quốc gia Bên cạnh đó, tình trạng nóng lên toàn cầu và nước biển dâng cũng là những vấn đề cần quan tâm khi Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc là ba quốc gia phát thải khí CO2 nhiều nhất trong khu vực Ở cả ba nước Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đều tồn tại tình trạng ô nhiễm không khí và ô nhiễm nguồn nước và những hệ lụy nghiêm trọng của biến đổi khí hậu Đó là hậu quả của việc công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng trong khi việc xây dựng cơ sở hạ tầng chưa theo kịp cộng với việc các nước một thời coi trọng sự phát triển kinh tế hơn sức khỏe của người dân

1 Sử dụng năng lượng và vấn đề môi trường ở các nước Đông Bắc Á

Khu vực Đông Bắc Á (ĐBA) là khu vực có nhiều sự khác biệt, cả về chế

độ chính trị cũng như trình độ phát triển Những nước nằm trong khu vực Đông Bắc Á bao gồm từ những nước công nghiệp phát triển, mật độ dân số cao nhưng nghèo tài nguyên như Nhật Bản, Hàn Quốc, đến những nước có nguồn tài nguyên vừa phải và đang tìm cách để phát triển như Mông Cổ, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, đến Trung Quốc nước có nguồn tài nguyên phong phú nhưng có một dân số khổng lồ, cho đến vùng Viễn Đông của Nga chỉ có ít dân

cư nhưng lại giàu tài nguyên Khu vực Đông Bắc Á có tốc độ tăng trưởng ấn tượng trong thập kỷ qua, đặc biệt là Trung Quốc

Và như chúng ta đã đề cập ở trên tăng trưởng kinh tế nhanh thường đi kèm với sự gia tăng mạnh mẽ nhu cầu về năng lượng Đây là khu vực tiêu thụ năng lượng nhiều nhất trên thế giới, chiếm 30,6% nhu cầu năng lượng thế giới năm 2008 Các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, Hàn Quốc chiếm vị trí thứ 2,

3, 4 và thứ 9 trong tiêu dùng năng lượng hóa thạch trên thế giới66

Bảng 1 cho chúng ta thấy, than là nguồn cung cấp năng lượng chính cho các nước Đông Bắc Á khi chiếm tới 46,4% tổng lượng than sử dụng của thế giới năm 2006, dầu chỉ chiếm 19,7% và khí ga là 6,7% Trung Quốc chiếm tới hơn 80% lượng than sử dụng ở khu vực (1.119/1.435 triệu tấn) Việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch, đặc biệt là than đã làm cho ô nhiễm không khí ở khu vực Đông Bắc Á tăng nhanh Than chiếm tới 85% nguồn nhiên liệu ở Bắc Triều Tiên, 80%

ở Mông cổ, và 77% ở Trung Quốc Ngay cả Nhật Bản, Hàn Quốc nơi có sự thay

65

Chi tiết xem Báo cáo tổng hợp đề tài cấp Bộ 2011-2012 của Viện nghiên cứu Đông Bắc Á “Đối sách của các

quốc gia và vùng lãnh thổ Đông Bắc Á về biến đổi khí hậu và các vấn đề môi trường giai đoạn 2011-2020” do

TS Trần Quang Minh làm Chủ nhiệm

66

David F Von Hippel and Peter Hayes 2008 Growth in Energy Needs in Northeasr Asia: Projections,

Consequences,and Opportunities.Nautilus Institute for Security and Sustainable Development

http://www.keia.org/Publications/Other/vonHippelFINAL.pdf

Trang 35

thế nhiên liệu tương đối rộng rãi thì cũng sử dụng tới 20% nhiên liệu là than Theo các nhà khoa học, nhiên liệu hóa thạch khi đốt sẽ thải ra rất nhiều các chất gây ô nhiễm Chẳng hạn như đốt 1 tấn than đá sẽ thải ra 40 kg khí CO2, 9 kg khí

NO2, 100 kg tro bụi và các loại khí khác

Với nhiều nước, than chỉ dùng trong các nhà máy điện nên khí phát thải

dễ kiểm soát Ở Đông Bắc Á tình hình phức tạp hơn khi than được sử dụng tới 45% trong các ngành công nghiệp và 16% ở khu vực dân cư Việc đốt than ở đây dùng để chạy máy hơi nước và sưởi ấm nên thường có qui mô nhỏ và phân tán67 Sử dụng than ở khu vực này có hiệu quả thấp gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, và do nằm rải rác nên rất khó kiểm soát ô nhiễm

Hình 1 Xu hướng sử dụng các loại năng lượng của khu vực ĐBA 68

Theo dự báo thì nhu cầu sử dụng năng lượng của các nước trong khu vực

sẽ không ngừng tăng trong tương lai và nhiên liệu hóa thạch sẽ vẫn là nguồn năng lượng chính cho đến những năm 2030 (hình 1) Nhu cầu về năng lượng sẽ tăng gấp đôi trong vòng 25 năm, từ 110 tỷ Giga jun năm 2005 sẽ tăng lên 210 tỷ vào năm 2030 Tỉ lệ của than trong tổng nguồn cung cấp năng lượng sẽ giảm bớt, dầu và khí ga sẽ có xu hướng tăng Tuy nhiên việc thải các khí gây ô nhiễm

ở khu vực vẫn tiếp tục gia tăng

Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2010 đã công bố danh sách 10 nước có khối lượng phát thải khí nhà kính lớn nhất thế giới, trong đó có 4 nước Đông Bắc Á là Trung Quốc, Nga, Nhật và Hàn Quốc với vị trí lần lượt là số 1 với

Trang 36

6.018 triệu tấn/năm, số 3 với 1.704 triệu tấn/năm, số 5 với 1.247 triệu tấn/năm

và số 9 với 514 triệu tấn/năm Vị trớ này đó thay đổi nhiều so với năm 1998 khi Trung Quốc, Nga, Nhật Bản là những nước đứng ở vị trí thứ hai, thứ ba, thứ tư trên thế giới trong việc thải khí CO2 Nếu tính thêm cả Hàn Quốc thì 4 nước này

đã chiếm tới 27% tổng lượng khí thải CO2 của thế giới 69 Cỏc nhà khoa học dự đoỏn mức độ phỏt thải khớ nhà kớnh của khu vực ĐBA sẽ tiếp tục tăng cho đến năm 2030 (hỡnh 2)

Hỡnh 2 cho thấy năm 1990, lượng phỏt thải khớ CO2 của cỏc nước Đụng Bắc Á mới chỉ chiếm 20% tổng lượng khớ phỏt thải của thế giới, năm 2005 tăng lờn 27% và dự đoỏn sẽ tăng lờn 34% vào năm 2030

Hỡnh 2 Cỏc nước ĐBA trong tổng lượng phỏt thải khớ CO 2 của thế giới 70

Sự nổi lờn của Trung Quốc như là một siờu cường kinh tế gắn liền với con

số tiờu dựng năng lượng khổng lồ Theo Cơ quan năng lượng quốc tế (IAE), năm 2011, Trung Quốc sử dụng 1,84 tỉ tấn than; tiờu thụ 9,76 triệu thựng dầu mỗi ngày Số liệu về hiệu quả sử dụng năng lượng (Energy Intensive: EI) cho thấy, năm 2010, để cú được 1 tỉ USD của GDP, Trung Quốc phải tiờu hao 204 triệu tấn dầu, trong khi Ấn Độ và Brazil chỉ tiờu hao hết 117 triệu tấn, cũn mức trung bỡnh của thế giới là 129 triệu tấn Điều này cú nghĩa là Trung Quốc tiờu thụ năng lượng lóng phớ gần gấp đụi so với hai nước trờn và cao hơn 30% so với

69

Environmental Inform mation Network in Northeast Asia Region, Environmental Problems in the Norhtwest Pacific Region, http://www.npec.or.jp/northeast_asia/en/environmental/page05.html

70

Nguồn: David F Von Hippel and Peter Hayes 2008 Growth in Energy Needs in

Northeasr Asia: Projections, Consequences,and Opportunities Nautilus Institute for Security

and Sustainable Development.

Trang 37

mức trung bỡnh của thế giới71 Than chiếm tới 70% năng lượng sơ cấp của Trung Quốc Cũn lại là cỏc loại năng lượng khỏc: thủy điện (6%), khớ đốt tự nhiờn (4%), năng lượng hạt nhõn (1%) và cỏc nguồn năng lượng tỏi tạo khỏc (0,3%) Với sự tiờu dựng năng lượng húa thạch lớn như vậy thỡ hậu quả về mụi trường sẽ khụng chỉ ảnh hưởng ở Trung Quốc mà cũn gõy ảnh hưởng ở cấp độ khu vực và thế giới

ễ nhiễm mụi trường, cạn kiệt tài nguyờn và phỏt thải nhiều khớ nhà kớnh đang là vấn đề nghiờm trọng ở khu vực Chẳng hạn như khí Sulfua do các nhà máy điện dùng than của Trung Quốc, Bắc Triều Tiên và một vài nơi khác trong khu vực thải ra là nguyên nhân chính gây ra mưa a xít Nhiều nhà khoa học đã khẳng định rằng bán đảo Triều Tiên và Nhật Bản đã phải gánh chịu mưa a xít do gió từ vùng Mãn Châu của Trung Quốc thổi tới, còn Mông Cổ tiếp nhận mưa a xít có nguồn gốc từ biên giới Tây Bắc giáp với Nga Tuỳ vào từng thời gian trong năm một số nước có thể là người gây ra hoặc người phải chịu mưa a xít, đặc biệt

là Bắc Triều Tiên 72 Gần đây mưa a xít với chỉ số pH 4,5-5.0 đã được ghi nhận ở Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc Nồng độ a xít trong nước mưa ở những nước này tuy chưa ảnh hưởng nhiều tới đất trồng, nước tưới, thiết bị nhưng nếu chỉ cần nhích lên một chút thì sẽ làm tổn hại đến môi trường sống của con người Hiện nay Trung Quốc là một trong những nước cú mức độ ụ nhiễm khụng khớ tồi tệ nhất khu vực Đõy là một trong những cỏi giỏ phải trả cho việc phỏt triển quỏ núng của Trung Quốc

2 Hệ lụy của Biến đổi khớ hậu

Trong mấy thập kỷ qua Đụng Bắc Á đó trở thành khu vực phỏt triển năng động nhất trong nền kinh tế thế giới Tuy nhiờn, quỏ trỡnh cụng nghiệp húa và đụ thị húa nhanh chúng đó để lại những hậu quả nghiờm trọng về mụi trường ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và sự phỏt triển bền vững của mỗi quốc gia núi riờng và cả khu vực núi chung Sau sự thần kỳ của Nhật Bản trong những năm

1960, 1970, của Hàn Quốc trong những năm 1970, 1980, và sự nổi lờn của Trung Quốc trong hai thập kỷ gần đõy, với nhu cầu sử dụng năng lượng húa thạch tăng lờn tới mức khổng lồ, đó gõy ra những hậu quả nghiờm trọng về mụi trường khụng chỉ cho bản thõn cỏc quốc gia này mà cũn ảnh hưởng lớn tới cỏc nước trong khu vực Trờn phạm vi toàn cầu, sự gia tăng nhanh chúng của nồng

độ cỏc loại khớ nhà kớnh, đặc biệt là CO2, trong bầu khớ quyển do sử dụng nhiờn liệu húa thạch trong quỏ trỡnh cụng nghiệp húa của cỏc nước, đặc biệt là trong mấy thập kỷ gần đõy, được coi là nguyờn nhõn chủ yếu của tỡnh trạng biến đổi khớ hậu hiện nay

Biến đổi khớ hậu, một trong những hệ quả nghiờm trọng của quỏ trỡnh cụng nghiệp húa, cựng với hàng loạt cỏc vấn đề về mụi trường khỏc như ụ nhiễm

71

quoc.html

http://www.petrotimes.vn/news/vn/nang-luong-xanh/nhung-thach-thuc-voi-an-ninh-nang-luong-cua-trung-72

Peter Hayes, Lyuba Zarsky 1993 Regional Cooperation and Environmental Issues in Northeast Asia Policy Paper, California 8-9 October 1993 p 2

Trang 38

không khí, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất đã và đang gây ra những tác động tiêu cực hết sức nghiêm trọng đe dọa sự tồn vong của sự sống trên trái đất Theo

Báo cáo đánh giá số 4 của IPCC (AR4), trong thế kỷ 21 con người sẽ phải đối

mặt với những ảnh hưởng nghiêm trọng từ biến đổi khí hậu như: giảm nguồn nước ngọt, sự tuyệt chủng của một số loài, bão lũ và ngập lụt do ảnh hưởng của mực nước biển dâng, khủng hoảng lương thực và sức khỏe Trên quy mô toàn cầu, khi nhiệt độ trung bình tăng 1-3°C so với mức của giai đoạn 1980-1999, một số lĩnh vực có thể có lợi như nông nghiệp ở các vùng lạnh hơn Tuy nhiên, hiệu ứng tiêu cực về kinh tế được dự báo sẽ chiếm ưu thế trong tất cả các nơi trên thế giới nếu nhiệt độ tăng 2-3°C hoặc lớn hơn Bốn khu vực được xác định

là đặc biệt dễ bị tổn thương với biến đổi khí hậu là Bắc Cực; Châu Phi; các quốc gia đảo nhỏ; và các khu vực đồng bằng châu thổ73

lớn ở Châu Á có nguy cơ cao

về nước biển dâng, bão và lũ sông Biến đổi khí hậu được dự báo sẽ tiếp tục gây

ra những hệ lụy nghiêm trọng tại các nước Đông Bắc Á trong nhiều thập kỷ tới, với những biểu hiện chủ yếu dưới đây:

Thứ nhất, các hiện tượng thời tiết cực đoan: Theo dự báo, nhiệt độ trung

bình hàng năm đối với toàn bộ khu vực Đông Á sẽ tăng khoảng 3°C vào năm

2050 và 5°C vào năm 2080 Tỷ lệ nóng lên được dự báo thay đổi theo mùa và thời gian trong ngày, với sự ấm lên trong mùa Đông tăng nhanh hơn trong mùa

Hè và sự ấm lên vào buổi đêm tăng nhanh hơn vào ban ngày Tần suất, thời gian

và cường độ của các đợt nóng vào mùa hè và số lượng những ngày nóng cũng được dự báo sẽ tăng lên khắp khu vực Đông Á Lượng mưa và tần suất của các trận mưa cường độ cao cũng được dự báo sẽ tăng trên toàn khu vực Đông Á Lượng mưa trung bình tại các nước và vùng lãnh thổ Đông Bắc Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan được dự báo sẽ tăng hơn 10% trong thế kỷ 21, đặc biệt là trong những mùa ấm áp Sự khác biệt giữa các khu vực và các mùa về tần suất

và cường độ mưa sẽ tiếp tục gia tăng Lượng mưa trong mùa Hè (từ tháng 6 đến tháng 9) ở các quốc gia và vùng lãnh thổ Đông Bắc Á được dự báo sẽ tăng 17 đến 19%, trong khi lượng mưa trong mùa Đông được dự báo hoặc không thay đổi hoặc giảm nhẹ

Đi liền với các hiện tượng thời tiết cực đoan là nước biển dâng Dọc theo

bờ biển của các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, mực nước biển đã tăng lên với tốc độ nhanh chóng 3,3 mm mỗi năm kể từ giữa những năm 1980

và với tốc độ 5,0 mm mỗi năm từ năm 1993 Tốc độ mực nước biển dâng tối đa

đã được ghi nhận tại Kushiro, Hokkaido, tăng 9,3 mm mỗi năm từ 1970 đến năm

2003 (JMA, 2004) Theo các dự báo về biến đổi khí hậu, mực nước biển toàn cầu sẽ tăng thêm từ 0,18m đến 0,59m vào năm 2100 Ở Đông Á, tốc độ mực nước biển dâng hàng năm được dự báo sẽ tăng lên 5 mm mỗi năm trong thế kỷ tới Sự gia tăng nhanh của mực nước biển như vậy đã và đang đe dọa nghiêm

73

Hình thành vùng đất bùn phẳng và thấp được tạo ra trong khu vực nơi sông giao với biển Vùng đồng bằng rộng lớn được hình thành ở cửa sông lớn như sông Hằng và sông Mekong được gọi là đồng bằng châu thổ

Trang 39

trọng khu vực bờ biển của các nước trong khu vực nơi có một bộ phận lớn dân

cư sinh sống và nhiều hoạt động kinh tế quan trọng, đặc biệt là tại Nhật Bản So với các nước khác, Nhật Bản có số lượng người dân lớn thứ sáu (hơn 30 triệu người) sống trong phạm vi 10 km tính từ bờ biển (IIED, 2007) Các thành phố ven biển của Nhật Bản chiếm khoảng 32% tổng diện tích, 46% tổng dân số, sản xuất khoảng 47% sản lượng công nghiệp của cả nước (Kojima, 2004) Nước biển dâng cũng làm trầm trọng thêm các cơn bão biển, sóng thần, xói mòn bờ biển Đây chính là những mối đe dọa lớn đối với cộng đồng dân cư ven biển và các hoạt động kinh tế (Kojima, 2004) Trận sóng thần kinh hoàng tàn phá gần như toàn bộ khu vực Đông Bắc của Nhật Bản ngày 11/3/2011 là một trong những ví dụ điển hình về tai họa thảm khốc do thiên nhiên gây ra tại quốc gia này Tại Hàn Quốc, dấu hiệu rõ nhất của biến đổi khí hậu là rét đậm vào mùa Đông, mưa kéo dài và số lượng những ngày nắng nóng gia tăng vào mùa Hè Tuyết dày gần 100cm đã xẩy ra ở tỉnh Gangwon trong tháng 2 năm 2010 (110cm ở Samcheok và 100cm ở Donghae) Tuyết dày nhất trong vòng 80 năm qua cũng đã xẩy ra Ulsan làm tê liệt thành phố này và buộc hãng motors Hyundai phải ngừng sản xuất xe hơi (ngày 4 tháng 2) Mật độ tuyết dày nhất 52cm trong vòng 60 năm qua cũng đã xẩy ra ở Pohang vào tháng 1 năm 2010 Tuyết dày 25,8cm đã xẩy ra ở Seoul Đây là trận mưa tuyết dày nhất kể từ năm

1937 Tháng 2 năm 2010, tại Hàn Quốc đã xẩy ra một đợt rét lạnh kỷ lục nhất (nhiệt độ thấp nhất xuống dưới âm 20 độ C) đã gây thiệt hại lớn chưa từng có đối với thủ đô Seoul trong vòng 10 năm và thành phố Busan trong vòng 96 năm Mưa lớn bất thường cũng đã xảy ra ở Hàn Quốc trong mùa mưa năm 2010 Tại Thủ đô Seoul, mưa đã kéo dài trong suốt 24 ngày trong tháng 8/2010, dài nhất

kể từ khi hệ thống dự báo thời tiết hiện đại lần đầu tiên được giới thiệu ở đây vào năm 1908 Tại Trung Quốc, mùa Đông khắc nghiệt năm 2010 (từ tháng 9 năm 2010 đến tháng 2 năm 2011) đã gây tổn thất lớn chưa từng thấy cho các tỉnh phía Đông của vùng Sơn Đông trong vòng 60 năm qua (240.000 cư dân phải gánh chịu việc thiếu nước và 4 triệu hecta đất có nhu cầu cấp nước)

Thứ hai, đe doạ sức khỏe của con người Sức khỏe con người là một trong

những lĩnh vực bị tác động nhiều nhất của biến đổi khí hậu Sự thay đổi của khí hậu sẽ kéo theo những dịch bệnh, trong đó có nhiều dịch bệnh xảy ra với con người Chẳng hạn, nắng nóng sẽ làm muỗi sinh sôi nảy nở mà muỗi chính là mầm bệnh của bệnh sốt rét Hay nhiệt độ tăng cao và mưa lớn trái quy luật là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sốt xuất huyết tăng cao đột biến Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm có khoảng 150.000 người tử vong do biến đổi khí hậu liên quan đến các bệnh như sốt rét, tiêu chảy , đáng

chú ý một nửa trong số này tập trung ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương

Biến đổi khí hậu cũng làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh ở người già, trẻ em Trong thời gian qua, nhiều dịch bệnh nguy hiểm mới đã xuất hiện như SARS, H5N1 Trước sự thay đổi của khí hậu việc tìm hiểu về các loại bệnh mới là rất

Trang 40

cần thiết để có những cách phòng chống74 Chết vì nóng, vì bệnh dịch, vì ô nhiễm không khí - trong tương lai sẽ có thêm nhiều nạn nhân của biến đổi khí hậu toàn cầu Đó là kết luận của một nghiên cứu do Bộ Môi trường Mỹ thực hiện Bản báo cáo này gồm 149 trang vừa được công bố tại Washington là một trong nhiều phân tích khoa học mới đây tìm giải đáp cho câu hỏi sự ấm nóng toàn cầu sẽ tác động đến sức khỏe của người dân như thế nào Các nhà khoa học

đã khẳng định rằng những nguy hại cho sức khỏe con người sẽ tăng lên cùng với quy mô và tiến độ của biến đổi khí hậu Theo đó, con số những nạn nhân của thời tiết khắc nghiệt và của những bệnh do ký sinh trùng hay ve lan truyền sẽ tăng cùng với nhiệt độ Sẽ có thêm nhiều người bị dị ứng vì mùa Đông ấm áp hơn sẽ càng làm cho phấn hoa bay sớm hơn và lâu hơn Ô nhiễm không khí, nguyên nhân chính cho những bệnh phổi và đường hô hấp, sẽ tăng thêm

Biến đổi khí hậu còn tác động đến con người bằng nhiều cách khác, từ trực tiếp như nắng nóng, giá rét, lũ lụt và bão đến gián tiếp như thay đổi chất lượng không khí, chất lượng nước, mất cân bằng hệ sinh thái và phá vỡ hệ thống kinh tế xã hội

Tại Nhật Bản, theo các mô hình khí hậu khu vực được dự báo, cường độ các đợt nắng nóng đối với Nhật Bản sẽ gia tăng, và nhiệt độ tăng có thể làm cho tình trạng già hóa dân số diễn ra nhanh hơn do sự gia tăng căng thẳng do nóng bức Nhiệt độ tăng cũng có thể khuyến khích sự lây lan của một số bệnh truyền qua vật chủ trung gian và qua đường nước Theo một khảo sát của Viện nghiên cứu bệnh truyền nhiễm quốc gia Nhật Bản, môi trường sống của các loại muỗi ở Nhật Bản đang được mở rộng Chúng có thể mang theo bệnh sốt xuất huyết đến tận Hokkaido (NIFD, 2007) Nhiệt độ tăng cũng có thể mang đến những điều kiện sinh trưởng tốt hơn cho các loại sinh vật và ký sinh trùng gây bệnh Theo một nghiên cứu y tế quốc gia tập trung vào tác động của biến đổi khí hậu, Nhật Bản đã trải qua mức độ cao của các trường hợp khẩn cấp liên quan đến sự nóng bức Các bệnh dị ứng gia tăng cũng như các bệnh liện quan đến dị ứng phấn hoa cây Tuyết tùng của Nhật Bản ngày càng trở nên phổ biến

Theo một nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD),

những thay đổi khí hậu đã không những làm tăng xác xuất của các trường hợp lũ lụt, đặc biệt là ngập lụt ở đô thị, mà còn làm tăng tính chất dễ bị tổn thương từ lũ lụt do mật độ dân số tăng và tập trung tài sản kinh tế ở các nước Đông Bắc Á Kết quả là, xác suất các trường hợp lũ lụt phát triển thành thảm họa đã tăng lên và các quốc gia trong khu vực này sẽ phải đối mặt với chi phí cuộc sống gia tăng và sự cần thiết phải gia tăng chi phí bảo hiểm từ các thảm họa "tự nhiên"

Châu Á đặc biệt dễ bị tổn thương với các thảm họa thiên nhiên Biến đổi khí hậu sẽ càng làm trầm trọng thêm tính dễ bị tổn thương có của các quốc gia trong khu vực Theo ước tính của ABI, thiệt hại liên quan đến gió được bảo hiểm từ những cơn bão khắc nghiệt ở Nhật Bản có thể tăng từ thua lỗ hàng ngày

74

http://www.tin247.com/bien_doi_khi_hau_lam_150000_nguoi_tu_vongnam-12-3516.html

Ngày đăng: 20/11/2015, 09:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chương Địch Vũ. Phương thức giải quyết tranh chấp của Trung Quốc với các nước láng giềng thời Cổ đại/Tri thức thế giới, Bộ Ngoại giao Trung Quốc. Bắc Kinh, 7/2012. Bản dịch của TTXVN, 181-TTX, 7/7/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương thức giải quyết tranh chấp của Trung Quốc với các nước láng giềng thời Cổ đại/Tri thức thế giới
2. Đỗ Tuyết Khanh, 2011. Chính sách khai thác tài nguyên của Trung Quốc. Tạp chí Thời Đại Mới, số 23, tháng 11-2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách khai thác tài nguyên của Trung Quốc
3. Diêm Học Thông, Từ vấn đề Nam Hải bàn về điều chỉnh ngoại giao. Bản dịch của TTXVN, Tin tham khảo đặc biệt, 060-TTX, 5/3/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vấn đề Nam Hải bàn về điều chỉnh ngoại giao
4. Đặng Vũ Tùng, “Nỗ lực bảo vệ môi trường của Chính phủ Hàn Quốc”, http://www.tinmoitruong.vn/cdm/no-luc-bao-ve-moi-truong-cua-chinh-phu-han-quoc_24_7698_1.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nỗ lực bảo vệ môi trường của Chính phủ Hàn Quốc
6. Nguyễn Đình Cử, Hà Tuấn Anh, Thay đổi cơ cấu dân số và dự báo giai đoạn cơ cấu dân số “vàng” ở Việt Nam. Kỷ yếu khoa học 20 năm thành lập Viện dân số và các vấn đề xã hội (1992-2012). Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân. Hà Nội 3 năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thay đổi cơ cấu dân số và dự báo giai đoạn cơ cấu dân số “vàng” ở Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân. Hà Nội 3 năm 2012
7. Quang Thái, “Chạy đua tìm vùng đất mới”, http://tuoitre.vn/The-gioi/Ho- so/365750/Ky-1-Chay-dua-tim-vung-dat-moi.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chạy đua tìm vùng đất mới
8. Phùng Thị Huệ. Khai phát miền Tây: chiến lược thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa hai miền Đông – Tây Trung Quốc. Nghiên cứu Trung Quốc, số 6/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai phát miền Tây: chiến lược thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa hai miền Đông – Tây Trung Quốc
9. Phùng Thị Huệ - Chủ biên (2010), Phát triển xã hội ở Trung Quốc và một số nước Đông Á, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển xã hội ở Trung Quốc và một số nước Đông Á
Tác giả: Phùng Thị Huệ - Chủ biên
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
Năm: 2010
10. Trần Thị Nhung, Về chế độ bảo hiểm chăm sóc lâu dài ở Hàn Quốc. Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á số 6(124), Hà Nội 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chế độ bảo hiểm chăm sóc lâu dài ở Hàn Quốc
11. Trần Thị Nhung (2008), Đảm bảo xã hội trong nền kinh tế thị trường Nhật Bản hiện nay”, NXB từ điển bách khoa.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo xã hội trong nền kinh tế thị trường Nhật Bản hiện nay
Tác giả: Trần Thị Nhung
Nhà XB: NXB từ điển bách khoa. Tiếng Anh
Năm: 2008
5. Những tính toán chiến lược của Trung Quốc trước sự thay đổi của môi trường xung quanh//Tạp chí Ngoại giao Trung Quốc, tháng 8/2012. Bản dịch của TTXVN, Tài liệu tham khảo đặc biệt, 231-TTX, 26/8/2012 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Xu hướng sử dụng các loại năng lượng của khu vực ĐBA 68 - Chiến lược, chính sách của các quốc gia và vùng lãnh thổ ở đông bắc á về một số vấn đề nổi bật của khu vực giai đoạn 2011 2020
Hình 1. Xu hướng sử dụng các loại năng lượng của khu vực ĐBA 68 (Trang 35)
Hình 2 cho thấy năm 1990, lượng phát thải khí CO2 của các nước Đông  Bắc Á mới chỉ chiếm 20% tổng lượng khí phát thải của thế giới, năm 2005 tăng  lên 27% và dự đoán sẽ tăng lên 34% vào năm 2030 - Chiến lược, chính sách của các quốc gia và vùng lãnh thổ ở đông bắc á về một số vấn đề nổi bật của khu vực giai đoạn 2011 2020
Hình 2 cho thấy năm 1990, lượng phát thải khí CO2 của các nước Đông Bắc Á mới chỉ chiếm 20% tổng lượng khí phát thải của thế giới, năm 2005 tăng lên 27% và dự đoán sẽ tăng lên 34% vào năm 2030 (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w