Đó là, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp, kết cấu hạ tầng còn chưa hoàn chỉnh, một số tài nguyên thiên nhiên s
Trang 1LÊ HOÀNG THỊ NGÂN HÀ
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ
QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Đà Nẵng – Năm 2012
Trang 2LÊ HOÀNG THỊ NGÂN HÀ
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ
QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số : 60.31.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Võ Xuân Tiến
Đà Nẵng, Năm 2012
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Người cam đoan
Lê Hoàng Thị Ngân Hà
Trang 4MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 4
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 4
1.1 KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ 4
1.1.1 Một số khái niệm 4
a Tăng trưởng kinh tế 4
b Phát triển 5
c Phát triển kinh tế 5
1.1.2 Ý nghĩa của phát triển kinh tế 8
1.2 NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐỊA PHƯƠNG 9
1.2.1 Gia tăng các cơ sở sản xuất kinh doanh 9
1.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 10
1.2.3 Sử dụng có hiệu quả các nguồn lực 12
1.2.4 Nâng cao kết quả kinh tế của địa phương 13
1.3 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ 15
1.3.1 Điều kiện tự nhiên 15
1.3.2 Điều kiện kinh tế 17
1.3.3 Điều kiện xã hội 20
CHƯƠNG 2 23
QUẬN LIÊN CHIỂU THỜI GIAN QUA 23
2.1 CÁC ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA QUẬN LIÊN CHIỂU ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ 23
Trang 52.1.3 Đặc điểm về xã hội 28
2.2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ QUẬN LIÊN CHIỂU TRONG THỜI GIAN QUA 30
2.2.1 Thực trạng gia tăng các cơ sở sản xuất kinh doanh 30
2.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của quận thời gian qua 32
2.2.3 Tình hình huy động và sử dụng các nguồn lực 35
b Tình hình quản lý và sử dụng đất 38
c Tình hình huy động và sử dụng vốn đầu tư 40
e Tình hình phát triển cơ sở hạ tầng của quận 43
b Thực hiện nghĩa vụ nộp thuế 61
c Tình hình thu nhập bình quân đầu người 62
2.3 NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ QUẬN LIÊN CHIỂU 63
d Phát triển khoa học công nghệ 92
3.2.5 Phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật, xã hội 94
3.2.7 Tăng cường cải cách thủ tục hành chính 100
1 Kết luận 102
2 Kiến nghị 103
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GNP Tổng sản phẩm quốc dân
Trang 6KCN Khu công nghiệp
NL-TS Nông lâm thủy sản
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 7Số hiệu
2.1 Số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn quận 302.2 Số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh phân theo ngành nghề 302.3 Cơ cấu giá trị sản xuất trong nội bộ lĩnh vực nông nghiệp 332.4 Tổng hợp dân số - lao động toàn quận 352.5 Lao động làm việc trong các ngành kinh tế do quận quản lý 362.6 Diện tích các nhóm đất quận Liên Chiểu 382.7 Vốn đầu tư phát triển qua các năm 402.8 Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và vốn đầu tư 412.9 Giá trị sản xuất và tốc độ tăng trưởng qua các năm 442.10 Giá trị sản xuất công nghiệp phân theo ngành công nghiệp 482.11 Tình hình sản xuất công nghiệp do quận quản lý 492.12 Giá trị sản xuất hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn 512.13 Giá trị sản xuất trong nội bộ lĩnh vực nông nghiệp 552.14 Sản lượng các loại cây trồng hằng năm 562.15 Kết quả phát triển chăn nuôi trên địa bàn quận 572.16 Kết quả phát triển thủy sản trên địa bàn quận 592.17 Tình hình nộp thuế trên địa bàn quận Liên Chiểu 61
Trang 8Số hiệu
2.1 Tỷ trọng giá trị sản xuất từng ngành giai đoạn 2005 – 2010 322.2 Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế quận và của các ngành 452.3 Giá trị sản xuất và tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp 462.4 GTSX và tốc độ tăng trưởng toàn ngành nông nghiệp 54
Trang 9MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Phát triển kinh tế nhằm đưa tới cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn luôn là mục tiêu phấn đấu và là vấn đề thu hút sự quan tâm đối với tất cả các vùng, quốc gia trên thế giới Vì phát triển kinh tế sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho một quốc gia nâng cao khả năng cạnh tranh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đồng thời phát triển kinh tế là điều kiện để thực hiện tốt các chính sách xã hội, khai thác nguồn thu cho ngân sách, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người dân Phát triển kinh tế ở mỗi địa phương, thành phố vừa đem lại sự giàu có, nâng cao đời sống nhân dân địa phương đó, đồng thời đóng góp vào sự phát triển chung của cả nước Do đó con đường xây dựng đất nước giàu mạnh theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đặt ra yêu cầu cho từng địa phương, thành phố phải năng động, sáng tạo, khai thác triệt để lợi thế so sánh, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế
Quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng được thành lập theo Nghị định số 07/CP ngày 23/01/1997 của Chính phủ, trên cơ sở 3 xã Hoà Hiệp, Hoà Khánh, Hoà Minh của huyện Hoà Vang Là một quận công nghiệp trẻ, Liên Chiểu có ưu thế về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, thuận lợi phát triển giao thông vận tải, du lịch và là nơi tập trung 2 khu công nghiệp lớn của thành phố
Đà Nẵng Phát triển kinh tế quận Liên Chiểu thành công và hiệu quả sẽ nâng cao mặt bằng đời sống kinh tế, xã hội của người dân trên địa bàn quận Liên Chiểu, đóng góp vào sự phát triển chung của thành phố Đà Nẵng và cả nước Nhận thức được tầm quan trọng của phát triển kinh tế, quận Liên Chiểu thời gian qua đã tìm nhiều biện pháp để phát triển kinh tế và đã đạt được một
số kết quả nhất định Với kết quả đó, quận Liên Chiểu đã chứng tỏ sức mạnh của mình trong tiến trình phát triển kinh tế chung của Đà Nẵng và khẳng định:
Trang 10Mục tiêu trở thành một đô thị công nghiệp hiện đại phía Tây Bắc thành phố là hoàn toàn có thể làm được Những thành tựu mà quận Liên Chiểu đã đạt được
là rất quan trọng, nhưng quá trình phát triển kinh tế của quận cũng còn nhiều hạn chế và thách thức Đó là, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp, kết cấu hạ tầng còn chưa hoàn chỉnh, một số tài nguyên thiên nhiên suy giảm và có nguy
cơ cạn kiệt; chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế, thiếu đội ngũ lao động có tay nghề, kỹ năng chuyên môn sâu…Vì vậy tìm ra biện pháp để phát triển kinh tế quận Liên Chiểu là yêu cầu bức thiết, đó chính là lý do để tác giả chọn
đề tài “Giải pháp phát triển kinh tế Quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng”
làm đề tài nghiên cứu cho luận văn cao học của mình
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận liên quan đến phát triển kinh tế
- Phân tích thực trạng phát triển kinh tế quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua
- Đề xuất giải pháp phát triển kinh tế quận Liên Chiểu trong thời gian đến
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
a Đối tượng nghiên cứu
Là những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế sinh động trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
b Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: luận văn chỉ tập trung nghiên cứu một số nội dung cơ bản của phát triển kinh tế
- Về không gian: luận văn nghiên cứu nội dung trên tại quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
Trang 11- Về thời gian: các giải pháp đề xuất trong luận văn có ý nghĩa thực tiễn trong khoảng 5 năm đến.
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp duy vật biện chứng;
- Phương pháp duy vật lịch sử;
- Phương pháp phân tích thực chứng;
- Phương pháp phân tích chuẩn tắc;
- Phương pháp thống kê;
- Phương pháp phân tích, so sánh
5 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về phát triển kinh tế
Chương 2 Thực trạng phát triển kinh tế của quận Liên Chiểu thời gian qua
Chương 3 Một số giải pháp phát triển kinh tế quận Liên Chiểu thời gian đến
Trang 12CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.1 KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.1.1 Một số khái niệm
a Tăng trưởng kinh tế
Mục tiêu cơ bản và quan trọng của các địa phương đó là tăng trưởng và phát triển kinh tế, đó cũng là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ trong mỗi giai đoạn của các địa phương hay quốc gia Điều này càng có ý nghĩa đối với những quốc gia có điểm xuất phát thấp đang theo đuổi mục tiêu tiến kịp và
hội nhập với các nước phát triển Theo tác giả Vũ Thị Ngọc Phùng [11], tăng
trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời
gian nhất định (thường là một năm) Sự gia tăng được thể hiện ở quy mô và tốc độ Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ Thu nhập của nền kinh tế có thể biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị Thu nhập bằng giá trị phản ánh qua các chỉ tiêu GDP, GNI và được tính cho toàn thể nền kinh tế hoặc tính bình quân trên đầu người Như vậy, bản chất của tăng trưởng kinh tế là phản ánh sự thay đổi
về lượng của nền kinh tế Ngày nay, yêu cầu tăng trưởng kinh tế được gắn liền với tính bền vững hay việc bảo đảm chất lượng tăng trưởng ngày càng cao Theo khía cạnh này, điều được nhấn mạnh nhiều hơn là sự gia tăng liên tục, có hiệu quả của chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người Hơn thế nữa, quá trình ấy phải được tạo nên bởi nhân tố đóng vai trò quyết định là khoa học, công nghệ và vốn nhân lực trong điều kiện một cơ cấu kinh tế hợp lý
Trang 13Gần đây, khái niệm này được định nghĩa theo hướng mở rộng: Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng sản lượng quốc gia trong một thời kỳ nhất định, đồng thời là sự gia tăng các nhân tố sản xuất được sử dụng trong điều kiện trạng thái kinh tế vĩ mô tương đối ổn định.
b Phát triển
Theo quan điểm triết học, phát triển là quá trình vận động theo chiều
hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện
đến hoàn thiện Trong khái niệm này, phát triển phải là một quá trình lâu dài,
luôn thay đổi và xu hướng thay đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện Như vậy, tăng trưởng và phát triển đều nói đến sự chuyển biến của sự vật theo hướng đi lên, tuy nhiên nó khác nhau về bản chất Tăng trưởng hiểu một cách đơn giản thì nó là sự gia tăng về quy mô, về số lượng, tức là gia tăng về lượng Phát triển nó bao gồm cả sự gia tăng về lượng và về chất của sự vật
Do đó, khái niệm phát triển rộng hơn và có ý nghĩa lớn hơn
c Phát triển kinh tế
Nhiều người thường hay đánh đồng các thuật ngữ tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế Nói chung giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng chúng có sự khác biệt căn bản Phần trên chúng ta đã nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế, tiếp theo chúng ta xem xét về phát triển kinh tế Trước hết cần làm rõ khái niệm phát triển Hiện nay mọi quốc gia đều phấn đấu vì mục tiêu phát triển kinh tế và trải qua thời gian, khái niệm về phát triển kinh
tế cũng đã đi đến thống nhất
Theo quan điểm kinh tế truyền thống, xét theo nghĩa hoàn toàn về mặt
kinh tế, phát triển kinh tế thường được coi là khả năng của một nền kinh tế
quốc dân, mà điều kiện kinh tế ban đầu của nó gần như ở một trạng thái tĩnh trong một thời gian dài, có thể tạo ra và duy trì một mức tăng hàng năm trong tổng sản phẩm quốc dân với tốc độ cao và tương đối ổn định Ví dụ: theo một
Trang 14nghị quyết của Liên Hợp Quốc thì những năm 60 và 70 của thế kỷ XX được gọi là những thập kỷ phát triển và phát triển được hiểu phần lớn theo nghĩa là khả năng đạt tốc độ tăng GNP theo chỉ tiêu hàng năm là 6% Một chỉ tiêu phổ biến khác về phát triển là việc sử dụng chỉ tiêu GNP bình quân đầu người, để tính khả năng của một số quốc gia trong việc tăng sản lượng với tốc độ nhanh hơn mức tăng dân số.
Theo quan điểm kinh tế mới về phát triển kinh tế, do phần lớn các nước đạt mục tiêu tăng trưởng về GNP và GNP bình quân đầu người theo mục tiêu chung của Liên Hợp Quốc, nhưng nhìn lại mức sống của đại đa số người dân vẫn phần lớn là không thay đổi, đã báo hiệu rằng có một điều gì đó sai lầm trong khái niệm về phát triển Quan điểm mới của các nhà kinh tế là ngoài các vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế theo quan điểm truyền thống thì phát triển còn phải tính đến cả vấn đề nghèo đói, thất nghiệp và phân phối lại thu nhập Vì vậy, phát triển kinh tế được định nghĩa lại trên cơ sở hạn chế và xoá
bỏ nạn đói nghèo, bất bình đẳng và thất nghiệp trong bối cảnh một nền kinh tế đang tăng trưởng
Như vậy phát triển kinh tế, về bản chất, phải thể hiện sự thay đổi đồng
bộ, trong đó xã hội đảm bảo những nhu cầu cơ bản, những mong muốn của các cá nhân, các nhóm dân cư trong xã hội đó; chuyển từ trạng thái mà người dân phải đối mặt với sự thiếu thốn, không thoả mãn sang trạng thái mọi người dân được hưởng cuộc sống vật chất cũng như tinh thần tốt hơn Khái niệm phát triển kinh tế cũng được lý giải như là một quá trình thay đổi theo hướng hoàn thiện về mặt của nền kinh tế bao gồm kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế trong một thời gian nhất định
Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi về chất, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện hai vấn đề kinh tế và xã hội ở
Trang 15mỗi quốc gia [11] Theo cách hiểu như vậy, phát triển kinh tế phải là quá trình lâu dài và do các nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết định Nội dung của phát triển kinh tế được khái quát theo ba tiêu thức:
Một là, sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập bình quân trên một đầu người Đây là tiêu thức thể hiện quá
trình biến đổi về lượng của nền kinh tế, là điều kiện cần để nâng cao mức sống vật chất của một quốc gia và thực hiện những mục tiêu khác của phát triển Nền kinh tế có tăng trưởng thì ngân sách nhà nước ngày càng mở rộng, thu nhập dân cư cũng nâng lên và như vậy có điều kiện nâng cao mức hưởng thụ về vật chất cũng như tinh thần cho người dân (thông qua tăng cường ngân sách cho đầu tư cơ sở hạ tầng, giáo dục, chăm sóc y tế, xoá đói giảm nghèo…)
Hai là, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế Đây là tiêu
thức phản ánh sự biến đổi về chất của nền kinh tế một quốc gia Để phân biệt các giai đoạn phát triển kinh tế hay so sánh trình độ phát triển kinh tế giữa các nước với nhau, người ta thường dựa vào dấu hiệu về dạng cơ cấu ngành kinh
tế mà quốc gia đạt được Thay đổi cơ cấu nền kinh tế gồm nhiều vấn đề rộng lớn, bao gồm những thay đổi về cấu trúc tỷ lệ trong tổng sản lượng quốc gia của ngành kinh tế, nguồn lao động, thành phần kinh tế, vùng kinh tế…Những thay đổi cơ cấu này phải theo xu hướng được đánh giá là ngày càng tiến bộ thực chất chuyển dịch từ một nền kinh tế nông nghiệp truyền thống sang nền kinh tế có công nghiệp hiện đại và các ngành dịch vụ được phát triển
Ba là, sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội Mục
tiêu cuối cùng của sự phát triển kinh tế trong các quốc gia không phải là tăng trưởng hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mà là xoá bỏ nghèo đói, suy dinh dưỡng, sự tăng lên của thọ bình quân, khả năng tiếp cận đến các dịch vụ y tế, nước sạch, trình độ dân trí giáo dục của quảng đại quần chúng nhân dân Ở
Trang 16đây muốn nhấn mạnh là đại bộ phận dân cư phải được hưởng lợi từ kết quả của quá trình phát triển Hoàn thiện các tiêu chí trên là sự thay đổi về chất xã hội của quá trình phát triển kinh tế.
1.1.2 Ý nghĩa của phát triển kinh tế
- Phát triển kinh tế sẽ tạo cơ sở vật chất để Chính phủ đề ra và thực thiện được các chính sách và chương trình xã hội hướng tới mục tiêu cải thiện đời sống cho nhân dân, xoá đói giảm nghèo, phát triển y tế, giáo dục, nông nghiệp nông thôn, hạn chế tệ nạn xã hội Khó có một quốc gia nào thực hiện được điều đó nếu chỉ dựa vào nguồn lực giúp đỡ của nước ngoài
- Phát triển kinh tế làm tăng thu nhập quốc dân và phúc lợi xã hội, chất lượng cuộc sống của cộng đồng được cải thiện như giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng
và tử vong ở trẻ em, giảm bớt tình trạng đói nghèo
- Làm tăng khả năng tích tụ và tập trung vốn của các doanh nghiệp và tạo điều kiện để các doanh nghiệp vươn lên thành doanh nghiệp lớn góp phần giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp và đóng góp ngày càng lớn cho ngân sách nhà nước
- Là tiền đề vật chất để phát triển văn hoá, giáo dục, y tế và các lĩnh vực khác của xã hội, đảm bảo ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội
- Tạo điều kiện vật chất để củng cố an ninh, quốc phòng giữ vững chế
độ chính trị, tăng hiệu lực quản lý của nhà nước, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng
- Là điều kiện tiên quyết để khắc phục sự tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước tiên tiến trên thế giới, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, mở rộng quan hệ quốc tế, định hướng XHCN Góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
Trang 171.2 NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐỊA PHƯƠNG
Phát triển trên khía cạnh kinh tế là sự gia tăng phúc lợi vật chất của xã hội do kết quả của quá trình sản xuất xã hội và nhờ nó mới có cơ sở nâng cao chất lượng cuộc sống của đại bộ phận dân chúng và nó được thể hiện qua các nội dung và tiêu chí như sau:
1.2.1 Gia tăng các cơ sở sản xuất kinh doanh
Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng lên về mọi mặt của các yếu
tố, các bộ phận đặc biệt là các đơn vị sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế Gia tăng các cơ sở sản xuất kinh doanh nghĩa là sự gia tăng số lượng các cơ
sở, đơn vị sản xuất kinh doanh trên địa bàn, làm cho xuất hiện ngày càng nhiều các cơ sở, đơn vị sản xuất kinh doanh tham gia vào quá trình sáng tạo
và cung cấp sản phẩm cho xã hội
Phải làm gia tăng số lượng các cơ sở sản xuất kinh doanh vì các cơ sở sản xuất kinh doanh có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của một quốc gia hay địa phương Các cơ sở sản xuất kinh doanh là đơn vị cơ sở tạo ra giá trị sản xuất, dịch vụ, tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm phục vụ đời sống kinh tế - xã hội, tạo ra GDP cho quốc gia Khi các cơ sở sản xuất kinh doanh phát triển sẽ làm tăng thêm nhiều của cải, sản phẩm cho xã hội, sẽ kéo theo sự phát triển của khoa học - công nghệ, mở rộng khả năng sản xuất, giải quyết việc làm, tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế
Tuy nhiên việc gia tăng số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh không chỉ là
sự tăng lên về số lượng cơ sở có đăng ký mà phải là sự tăng lên về số lượng
cơ sở thực chất hoạt động, đồng thời sự gia tăng đó phải phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế Việc gia tăng số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh cần được xem xét đánh giá cơ cấu ngành nghề, khu vực hợp lý đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu cũng như cơ cấu về trình độ công
Trang 18nghệ phù hợp với sự phát triển của khoa học - công nghệ trong nước và thế giới [7]
Để tăng thêm các cơ sở, đơn vị sản xuất kinh doanh thì việc tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của các doanh nghiệp, công ty có ý nghĩa vô cùng
to lớn Muốn vậy các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chính quyền phải khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động đúng vai trò của họ, thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp mới được thành lập và hoạt động.Tiêu chí đánh giá sự gia tăng các cơ sở sản xuất kinh doanh:
- Số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn;
- Tốc độ tăng hàng năm các cơ sở sản xuất kinh doanh
1.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu là khái niệm nhằm để chỉ cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của nó Nếu coi nền kinh tế quốc dân như một hệ thống với nhiều bộ phận cấu thành và các kiểu cơ cấu hợp thành chúng Theo thời gian khi nền kinh tế vận động và phát triển thì các bộ phận và các kiểu cơ cấu đó cũng thay đổi Do đó cơ cấu kinh tế được hiểu là tổng thể những mối quan hệ về số lượng và chất lượng giữa các bộ phận cấu thành đó trong một thời gian và trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Mối quan hệ về số lượng giữa các bộ phận cấu thành có thể biểu hiện qua tỷ trọng của mỗi ngành trong GDP, trong tổng lao động hay tổng vốn của nền kinh tế tại một thời điểm nào đó Nếu xem xét theo thời gian và trong mối quan hệ giữa các yếu tố đó sẽ phản ánh mối quan hệ về chất lượng mà thực chất là sự chuyển dịch cơ cấu
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi của cơ cấu kinh tế theo thời gian từ trạng thái và trình độ này tới một trạng thái và trình độ khác phù hợp
Trang 19với sự phát triển kinh tế xã hội và các điều kiện vốn có nhưng không lặp lại trạng thái cũ Chính điều này mà cơ cấu kinh tế phản ánh sự thay đổi về chất
và là cơ sở để so sánh các giai đoạn phát triển Trong quá trình phát triển kinh
tế, cơ cấu kinh tế (đặc biệt là cơ cấu ngành) luôn chuyển dịch theo một xu hướng nào đó qua đó thay đổi trình độ phát triển kinh tế Quá trình phát triển kinh tế của các quốc gia có 5 giai đoạn: xã hội truyền thống, chuẩn bị cất cánh, cất cánh, trưởng thành và tiêu dùng cao, mỗi giai đoạn đó có một cơ cấu kinh tế đặc trưng Nhưng tính quy luật được quan tâm và sử dụng để đánh giá nhiều nhất trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế đó là chuyển từ kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp [3]
Xét trên khía cạnh tăng trưởng và phát triển kinh tế thì dạng cơ cấu ngành được xem là quan trọng nhất, được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất vì nó phản ánh sự phát triển của khoa học công nghệ, lực lượng sản xuất, phân công lao động chuyên môn hóa và hợp tác sản xuất Trạng thái cơ cấu ngành là dấu hiệu phản ánh trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành là một quá trình diễn ra liên tục và gắn liền với sự phát triển kinh tế Ngược lại, nhịp độ phát triển, tính chất bền vững của quá trình tăng trưởng lại phụ thuộc vào khả năng chuyển dịch cơ cấu ngành linh hoạt, phù hợp với những điều kiện bên trong, bên ngoài và các lợi thế tương đối của nền kinh tế
Để đánh giá chất lượng chuyển dịch cơ cấu kinh tế người ta sử dụng các tiêu chí:
- Tỷ lệ đóng góp của các ngành vào giá trị sản xuất
% ∆ =Y it ( / ) 100%Y Y it ×
Trong đó: Y là GO nền kinh tế
Yit là giá trị sản xuất của ngành i năm t
Trang 20- Sự thay đổi tỷ lệ đóng góp của các ngành vào tổng giá trị sản xuất hay GDP, chỉ tiêu này phản ánh mức chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
%∆ =Y it %Y it −%Y io
1.2.3 Sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
Nguồn lực phát triển kinh tế là tổng thể các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tài sản quốc gia, vốn, và con người có thể huy động trước mắt và lâu dài cho hoạt động kinh tế Theo nhận thức phổ biến hiện nay, các nguồn lực bao gồm:
- Nguồn lực tài nguyên thiên nhiên: có thể nói, tài nguyên thiên nhiên là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tuy nhiên, đối với phát triển kinh tế, tài nguyên thiên nhiên chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ Tài nguyên thiên nhiên chỉ trở thành sức mạnh kinh tế khi con người biết khai thác và sử dụng một cách hiệu quả
- Nguồn lực lao động: đây là nhân tố không thể thiếu được của bất kỳ quá trình kinh tế, xã hội nào; là nhân tố quyết định việc tổ chức và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác của nền kinh tế hay nói cách khác nguồn lao động trở thành động lực của sự phát triển Với tư cách là một yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, để phát triển kinh tế thì nguồn lao động phải được sử dụng có hiệu quả nhằm đảm bảo việc làm việc làm, tăng thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống
- Nguồn lực vốn: vốn có vai trò rất lớn đối với quá trình phát triển kinh tế – xã hội Việc tăng vốn góp phần vào việc giải quyết công ăn, việc làm cho người lao động khi mở ra các công trình xây dựng và mở rộng quy mô sản xuất Ngoài ra, cơ cấu sử dụng vốn đầu tư là điều kiện quan trọng tác động vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước
Hiểu biết và đánh giá đúng cũng như biết huy động tối đa các nguồn lực sẽ thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia Các nước đang
Trang 21phát triển muốn nhanh chóng thoát khỏi sự nghèo nàn, tụt hậu cần phải phát hiện và sử dụng hợp lí, có hiệu quả các nguồn lực sẵn có trong nước, đồng thời tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài, nhất là từ các nước phát triển Nếu muốn huy động được các nguồn lực tốt cần phải có hình thức và cơ chế chính sách huy động hợp lý Khi các nguồn lực đã được huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh cần phải biết cách sử dụng và phát huy các nguồn lực có hiệu quả nhất Hiệu quả sử dụng các nguồn lực được thể hiện qua các chỉ tiêu:
- Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp:
Năng suất = Sản lượng sản phẩm nông nghiệp/ diện tích đất sử dụngHay năng suất = Giá trị sản lượng hàng hóa thu được / diện tích đất sử dụng
- Số lượng, chất lượng và cơ cấu lao động trong ngành và nền kinh tế
- Số vốn so với mức tăng kết quả sản xuất:
ICOR = I/ ∆Y
1.2.4 Nâng cao kết quả kinh tế của địa phương
Một trong những nhiệm vụ đặt ra của quá trình phát triển kinh tế địa phương là đảm bảo kết quả kinh tế không ngừng tăng lên Kết quả là những gì
mà địa phương đạt được sau một quá trình sản xuất nhất định Kết quả kinh tế của địa phương được thể hiện ở:
- Giá trị sản xuất:
+ Tổng giá trị sản xuất (GO): là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo nên trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)
1
n
i i i
Trang 22+ Giá trị sản xuất của ngành (GO ngành) bằng sản lượng hàng hóa dịch vụ của ngành (Q) nhân với giá cả hàng hóa dịch vụ (P).
1
n
i i i
=
+ Tốc độ tăng giá trị sản xuất của các ngành;
+ Năng suất lao động của các ngành
NSLĐ = GO/số lao động hay NSLĐ = Sản lượng/số lao động
- Đóng góp cho ngân sách nhà nước: việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế
của các doanh nghiệp đối với Nhà nước thể hiện sự đóng góp của các doanh nghiệp đối với phát triển kinh tế xã hội của địa phương Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp phát triển, càng có hiệu quả thì phần đóng góp vào ngân sách Nhà nước thông qua thuế càng lớn; điều đó được thể hiện qua:
+ Giá trị thu thuế nộp vào ngân sách;
+ Tỷ lệ giá trị thu từ thuế nộp vào ngân sách và GDP
- Thu nhập bình quân trên đầu người: suy đến tận cùng, mỗi địa phương
phát triển kinh tế cũng đều vì mục tiêu phục vụ con người tại địa phương đó,
để họ có thể có cuộc sống tốt đẹp hơn, phúc lợi ngày càng cao hơn Để đơn giản, phúc lợi của người dân sẽ được đo lường bằng thu nhập bình quân trên đầu người của địa phương Thu nhập bình quân đầu người là chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế có tính đến sự thay đổi dân số Quy mô và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người là những chỉ báo quan trọng phản ánh và là tiền đề để nâng cao mức sống dân cư giữa các vùng, quốc gia với nhau
Trang 231.3 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.3.1 Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên là tất cả các nhân tố của tự nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Điều kiện tự nhiên bao gồm ánh sáng mặt trời, núi sông, không khí, động, thực vật, đất đai, nước, các loại năng lượng và những khoáng sản trong lòng đất [19]
Điều kiện tự nhiên (trong đó có cả tài nguyên) có vai trò quan trọng đối với việc phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương vì điều kiện tự nhiên không những chỉ cung cấp “đầu vào” mà còn chứa đựng “đầu ra” cho các quá trình sản xuất và đời sống đồng thời môi trường tự nhiên liên quan đến tính ổn định và bền vững của sự phát triển kinh tế - xã hội
Hoạt động sản xuất là một quá trình bắt đầu từ việc sử dụng nguyên, nhiên liệu, vật tư, thiết bị máy móc, đất đai, cơ sở vật chất kỹ thuật khác, sức lao động của con người để tạo ra sản phẩm hàng hoá Những dạng vật chất trên không phải gì khác, mà chính là các yếu tố môi trường Như vậy chính các yếu tố điều kiện tự nhiên là “đầu vào” của quá trình sản xuất của con người Điều kiện tự nhiên cung cấp nguyên liệu và không gian cho sản xuất
xã hội Xét trên phạm vi toàn thế giới, nếu không có tài nguyên, đất đai thì
sẽ không có sản xuất và cũng không có sự tồn tại của loài người
Sự giàu nghèo của mỗi nước phụ thuộc khá nhiều vào nguồn tài nguyên: rất nhiều quốc gia phát triển chỉ trên cơ sở khai thác tài nguyên để xuất khẩu đổi lấy ngoại tệ, thiết bị công nghệ hiện đại Những nước được thiên nhiên
ưu đãi về tài nguyên thiên nhiên với trữ lượng lớn và đa dạng nên nhanh chóng thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, tăng thu ngoại tệ, tạo tích lũy vốn nhờ vào khai thác các nguồn này Tuy nhiên, đối với phát triển kinh tế, tài
Trang 24nguyên thiên nhiên chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ Trên thực tế, nếu công nghệ là cố định thì lưu lượng của tài nguyên thiên nhiên sẽ là mức hạn chế tuyệt đối về sản xuất vật chất trong những ngành công nghiệp sử dụng khoáng quặng làm nguyên liệu đầu vào như thép, nhôm Tài nguyên thiên nhiên chỉ trở thành sức mạnh kinh tế khi con người biết khai thác và sử dụng một cách hiệu quả Thực tế đã cho thấy, nhiều quốc gia mặc dù có trữ lượng tài nguyên phong phú, đa dạng, điều kiện tự nhiên thuận lợi, song vẫn là nước nghèo và kém phát triển, ví dụ như Cô Oét, Arập Sêrút, Vênêzuêla, Chilê Ngược lại nhiều quốc gia có ít tài nguyên khoáng sản nhưng lại trở thành những nước công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Anh, Pháp, [11]
Tài nguyên thiên nhiên còn là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trong giai đoạn đầu phát triển, các nước đang phát triển thường quan tâm nhiều đến việc xuất khẩu sản phẩm thô, đó là những sản phẩm được khai thác trực tiếp từ nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước, chưa qua chế biến hoặc ở dạng sơ chế Nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng là cơ sở để phát triển các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp chế biến, các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, thuỷ tinh, sành sứ [11]
Ngược lại điều kiện tự nhiên cũng lại là nơi chứa đựng, đồng hoá “đầu ra” các chất thải của các quá trình hoạt động sản xuất và đời sống Quá trình sản xuất thải ra môi trường rất nhiều chất thải Trong các chất thải này có thể
có rất nhiều loại độc hại làm ô nhiễm, suy thoái, hoặc gây ra các sự cố về môi trường Quá trình sinh hoạt, tiêu dùng của xã hội loài người cũng thải ra môi trường rất nhiều chất thải Những chất thải này nếu không được xử lý tốt cũng
sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Vấn đề ở đây là phải làm thế nào để hạn chế được nhiều nhất các chất thải, đặc biệt là chất thải gây ô nhiễm, tác động tiêu cực đối với môi trường
Trang 25Để phát triển, dù là giàu có hay nghèo đói đều tạo ra khả năng gây ô nhiễm môi trường Vấn đề ở đây là phải giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa phát triển và bảo vệ môi trường Để phát triển bền vững không được khai thác quá mức dẫn tới huỷ hoại tài nguyên, môi trường; thực hiện các giải pháp sản xuất sạch, phát triển sản xuất đi đôi với các giải pháp xử lý môi trường; bảo tồn các nguồn gen động vật, thực vật; bảo tồn đa dạng sinh học; không ngừng nâng cao nhận thức của nhân dân về bảo vệ môi trường,
1.3.2 Điều kiện kinh tế
- Nguồn lao động
Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định
của pháp luật, có khả năng, có nguyện vọng tham gia lao động và những người ngoài (trên) độ tuổi đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân Việc quy định cụ thể về độ tuổi lao động là khác nhau giữa các nước, các thời
kỳ, do trình độ và yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Đa số các nước quy định cận dưới (tuổi tối thiểu) của độ tuổi lao động là 15 tuổi, còn cận trên (tuổi tối đa) có sự khác nhau (60 tuổi, hoặc 64 tuổi ) Ở Việt Nam, theo quy định của
Bộ luật Lao động (2002), tuổi lao động của nam là từ 15 tuổi đến 60 tuổi; tuổi lao động của nữ từ 15 tuổi đến 55 tuổi Lao động có vai trò đặc biệt hơn các yếu tố khác vì lao động có vai trò hai mặt Trước hết, lao động là một nguồn lực sản xuất chính và không thể thiếu được trong các hoạt động kinh tế Thứ hai, lao động - một bộ phận của dân số, là những người được hưởng thụ lợi ích của quá trình phát triển Mọi quốc gia đều nhấn mạnh đến mục tiêu “phát triển vì con người và coi đó là động lực của sự phát triển” [11]
- Nguồn lực về vốn
Vốn sản xuất là giá trị của những tài sản được sử dụng làm phương tiện trực tiếp phục vụ cho quá trình sản xuất và dịch vụ, bao gồm vốn sản xuất và vốn lưu động Vốn đầu tư là toàn bộ các khoản chi phí nhằm duy trì hoặc gia
Trang 26tăng mức vốn sản xuất Vốn đầu tư và vốn sản xuất được coi là yếu tố quan trọng của quá trình sản xuất Vốn sản xuất vừa là yếu tố đầu vào, vừa là sản phẩm đầu ra của quá trình sản xuất Vốn đầu tư không chỉ là cơ sở để tạo vốn sản xuất, tăng năng lực sản xuất của các doanh nghiệp và của nền kinh tế, mà còn là điều kiện để nâng cao trình độ khoa học – công nghệ, góp phần đáng
kể vào việc đầu tư theo chiều sâu, hiện đại hoá quá trình sản xuất Việc tăng vốn đầu tư cũng góp phần vào việc giải quyết công ăn, việc làm cho người lao động khi mở ra các công trình xây dựng và mở rộng quy mô sản xuất Cuối cùng, cơ cấu sử dụng vốn đầu tư là điều kiện quan trọng tác động vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước
- Khoa học và công nghệ
Khoa học là tập hợp những hiểu biết và tư duy nhằm khám phá những thuộc tính tồn tại khách quan của các hiện tượng tự nhiên và xã hội Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ và phương tiện để biến đổi các nguồn lực thành các sản phẩm hay dịch vụ phục vụ cho đời sống xã hội Khoa học và công nghệ là một bộ phận nguồn lực không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế xã hội Dưới tác động của khoa học và công nghệ, các nguồn lực sản xuất được
mở rộng, tạo điều kiện chuyển từ phát triển kinh tế theo chiều rộng sang phát triển kinh tế theo chiều sâu Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ sẽ thúc đẩy quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực Việc áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất còn tăng sức khả năng cạnh tranh của hàng hóa, thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường
- Cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội
Cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội là toàn bộ lĩnh vực hạ tầng có ý nghĩa tạo điều kiện về mặt kỹ thuật cho sản xuất và đời sống xã hội Cơ sở hạ tầng bao
Trang 27gồm hạ tầng kỹ thuật như hệ thống đường giao thông, hệ thống năng lượng,
hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống cấp thoát nước và hạ tầng xã hội như
hệ thống trường học, bệnh viện, chợ, nhà văn hóa, sân thể thao Các ngành kinh tế không thể phát triển được với một hệ thống cơ sở hạ tầng thấp kém, thiếu thốn, không đồng bộ Do đó, cơ sở hạ tầng được phát triển có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia và từng địa phương nói riêng Cơ sở hạ tầng tốt sẽ góp phần quan trọng làm giảm chi phí đầu tư, giảm giá thành sản phẩm, tăng tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư; cải thiện môi trường đầu tư từ đó thu hút đầu tư trong và ngoài nước, đồng thời ta lại có thể sử dụng một phần vốn đầu tư nước ngoài để xây dựng hệ thống cơ
sở hạ tầng, tạo động lực cho các ngành sản xuất vật chất khác hoạt động có hiệu quả hơn Không những thế, cơ sở hạ tầng hợp lý còn tạo ra sự thay đổi
cơ bản trong cơ cấu kinh tế và là cơ sở để tạo ra và duy trì sự phát triển kinh
tế bền vững
Một hệ thống cơ sở hạ tầng hợp lý đáp ứng 3 yêu cầu: đồng bộ, quy mô
và bảo đảm tính phát triển Đồng bộ: việc phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng như điện, giao thông vận chuyển, thông tin liên lạc phải đặt trong mối liên
hệ chặt chẽ với quy mô, tốc độ, định hướng phát triển trong các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội mà còn liên hệ giữa các ngành liên quan Quy mô: một quy mô hợp lý là kết quả tính toán giữa khả năng đầu tư và nhu cầu phát triển Muốn vậy phải dự báo tốt, dự báo sai sẽ dẫn đến quy mô không phù hợp và lãng phí Tính phát triển: trong hệ thống cơ sở hạ tầng có loại không chỉ tồn tại vài chục năm mà có khi là hàng thế kỷ Do vậy, nó phải được thiết kế với khả năng cải tiến và tiếp nhận tiến bộ kỹ thuật để không trở thành gánh nặng khi kỹ thuật cao trở thành phổ biến [8]
Trang 281.3.3 Điều kiện xã hội
Điều kiện xã hội chính là tổng thể các quan hệ giữa người với người Điều kiện xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác Các nhân tố thuộc về điều kiện trường xã hội ảnh hưởng đến phát triển kinh tế bao gồm:
- Chính sách phát triển kinh tế xã hội của địa phương
Chính sách bao gồm các biện pháp khác nhau cả về kinh tế và phi kinh tế được sử dụng để tác động vào các hoạt động kinh tế xã hội thông qua đó ảnh hưởng đến mức sản lượng của nền kinh tế và phân bổ chúng
Chính sách phát triển là sản phẩm chủ quan của con người mà đại diện là các cơ quan của chính quyền và các nhà hoạch định chính sách Sản phẩm chủ quan này phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người và phụ thuộc vào mục tiêu của họ Trong phát triển kinh tế thì chính sách về kinh tế luôn có vai trò
vô cùng to lớn Tuy nhiên, chính sách nếu phù hợp với xu thế và quy luật vận động của nền kinh tế thì sẽ phát huy được tác dụng, nếu không sẽ ít có hiệu quả hoặc trở thành lực cản cho sự phát triển của nền kinh tế Chính sách đúng đắn thể hiện ở những thay đổi của nền kinh tế, chi phí xã hội giảm, không gây lãng phí
Đối tượng tác động của các chính sách phát triển chính là nền kinh tế hay chính là các hoạt động kinh tế trong đó Đây là cơ sở pháp lý bảo đảm quyền bình đẳng về cơ hội kinh doanh của các chủ thể kinh tế, là điều kiện để các đơn vị kinh tế chủ động khai thác tiềm lực của mình, tạo ra năng suất lao động và lợi nhuận cao Các đơn vị kinh tế nhỏ trong nền kinh tế chính là các doanh nghiệp, tổ chức và hộ gia đình Hành vi của họ tuân theo các quy luật khách quan nhất định Nhưng các tác động của các chính sách sẽ làm thay đổi
Trang 29hành vi của các doanh nghiệp và người tiêu dùng Sự thay đổi này sẽ tích cực hay tiêu cực tùy thuộc vào chất lượng của các chính sách
Chính sách của các địa phương như cấp quận phụ thuộc vào chính sách chung của quốc gia nhưng vẫn có những chính sách riêng của mình Chẳng hạn chính sách phát triển nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp hay thương mại, chính sách ưu đãi nhà đầu tư, cải cách hành chính, đào tạo nguồn nhân lực, đầu tư kết cấu hạ tầng… của quận trong lĩnh vực kinh tế Còn có những chính sách xã hội như xóa nhà tạm, giảm tỷ lệ hộ nghèo, y tế, dân số, giáo dục…
- Thị trường xã hội
Thị trường xã hội bao gồm thị trường hàng hoá, thị trường sức lao động, thị trường vốn, thị trường công nghệ thông tin thị trường là nơi diễn ra quá trình trao đổi hàng hoá thông qua giá cả và giá cả lại bị chi phối bởi quan hệ cung - cầu Thị trường tạo ra sự giao lưu thương mại, kích thích đổi mới thiết
bị công nghệ, tăng thêm đầu tư mở rộng quy mô, tăng nhanh sản lượng, sản phẩm hàng hoá, dịch vụ Hoàn thiện hệ thống thị trường là tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở kinh tế có cơ hội khai thác sức mạnh của mình, đẩy nhanh quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế
- Truyền thống văn hóa và nghề nghiệp dân cư, sự thuận lợi về ngôn
ngữ, tôn giáo, phong tục tập quán đều có thể trở thành sự khuyến khích hay
kìm hãm phát triển kinh tế Xã hội nào có hàm lượng văn hóa trong các lĩnh vực của đời sống con người ngày càng cao bao nhiêu thì khả năng phát triển kinh tế - xã hội càng bền vững bấy nhiêu Trong nền kinh tế thị trường, một mặt văn hóa dựa vào tiêu chuẩn cái đúng, cái tốt, cái đẹp để hướng dẫn và thúc đẩy con người không ngừng phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật nâng cao tay nghề, sản xuất ra hàng hóa với số lượng, chất lượng ngày càng cao đáp ứng nhu cầu của xã hội Mặt khác văn hóa sử dụng sức mạnh của các giá trị truyền thống, của đạo lý dân tộc để hạn chế xu hướng sùng bái lợi ích vật
Trang 30chất, sùng bái tiền tệ Ngoài ra những kinh nghiệm, tập quán sản xuất của dân
cư cũng ảnh hưởng đến phát triển kinh tế
Trang 31CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ QUẬN LIÊN CHIỂU THỜI GIAN QUA
2.1 CÁC ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA QUẬN LIÊN CHIỂU ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ
2.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý của quận
Quận Liên Chiểu nằm về phía Tây Bắc thành phố Đà Nẵng, ở vị trí
15059 độ vĩ Bắc, 108002 kinh tuyến Đông Phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế qua đèo Hải Vân, phía Đông giáp vịnh Đà Nẵng, phía Đông nam giáp quận Thanh Khê, phía Tây giáp huyện Hoà Vang và Tây nam giáp quận Cẩm
Lệ Là địa phương nằm trên trục giao thông Bắc - Nam, với quốc lộ 1A đi ngang qua, là cửa ngõ ra biển Đông, có sông (giao thông đường thuỷ); nằm gần cảng biển, sân bay quốc tế, nhà ga đường sắt Là nơi tập trung 2 khu công nghiệp lớn của thành phố và cụm công nghiệp Phước Lý đang trong giai đoạn đầu tư cơ sở hạ tầng Trong tương lai cảng nước sâu Liên Chiểu và ga đường sắt Bắc Nam sẽ được xây dựng Ngoài những đặc điểm vị trí địa lý trên, Liên Chiểu còn có vị trí chiến lược quân sự cực kỳ quan trọng
b Địa hình
Địa hình quận Liên Chiểu tương đối đa dạng, vừa có đồng bằng vừa có núi Có thể phân chia thành hai vùng rõ rệt, vùng đồi núi Hoà Hiệp Bắc, Đà Sơn, Khánh Sơn với độ dốc khá lớn (trên 400) là nơi tập trung rừng đặc dụng
và vùng đồng bằng ven biển Xuân Thiều, Nam Ô, Chơn Tâm, Trung Nghĩa Vùng đồng ven biển là vùng thấp chịu ảnh hưởng của biển, bị nhiễm mặn, lại
Trang 32là vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân sự và các khu dân cư đông đúc.
c Khí hậu
Quận Liên Chiểu cũng như thành phố Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ cao và biên độ dao động không lớn Nhiệt độ trung bình hằng năm trên 250C Mùa đông là thời kỳ hoạt động của gió mùa Đông Bắc, thỉnh thoảng có các đợt rét mùa đông ngắn, nhiệt độ ít khi xuống dưới 120C Mùa hè nhiệt độ trung bình 280C - 300C Độ ẩm không khí trung bình 82%, lượng mưa trung bình 2.066mm, giờ nắng trung bình 2.150 giờ trong năm Mùa mưa trùng với mùa bão, nên thường bị ngập úng nhiều nhưng không kéo dài Các sông trên địa bàn chịu ảnh hưởng của thuỷ triều theo chế
độ bán nhật triều, nước mặn thường xâm nhập sâu vào hạ lưu các sông
d Tài nguyên thiên nhiên
- Tài nguyên nước
+ Về nước mặt: sông Cu Đê dài 38km, nằm ở phía Bắc của thành phố, bắt nguồn từ dãy núi Bạch Mã, là hợp lưu của 2 con sông, sông Bắc dài 23km
và sông Nam dài 47km, tổng diện tích lưu vực 426km2, tổng lượng nước bình quân hằng năm vào khoảng 0,5 tỷ m3 Hạ lưu sông Cu Đê thường xuyên bị nhiễm mặn trong mùa khô (với gần ½ chiều dài sông bị nhiễm mặn) Trong mùa lũ mực nước sông Cu Đê cao hơn mực nước trung bình năm Dòng sông này là nguồn cung cấp nước chính phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đời sống của nhân dân quận Liên Chiểu Đồng thời, sông Cu Đê mang phù sa tạo
ra những cánh đồng phì nhiêu, những làng quê êm ả ven sông Bên cạnh đó,
có những điểm du lịch sinh thái hấp dẫn, phụ trợ cho các khu du lịch biển và
du lịch núi của quận Liên Chiểu
+ Về nước ngầm: Theo tài liệu đánh giá nước ngầm mới nhất của Đoàn địa chất 501, nước ngầm khu vực Liên Chiểu thuộc tầng chứa nước trầm tích
Trang 33bở rồi Holocen-Peistocen và tầng chứa nước khe nứt hệ tầng A vương Phần lớn nước ở các tầng chức nước thuộc hệ Đệ Tứ ở các vùng hạ lưu sông Cu Đê
bị nhiễm phèn, mặn do có nguồn gốc là các trầm tích sông biển Tầng chứ nước ngầm trên khu vực Khu công nghiệp cũng bị ô nhiễm nặng do chất thải công nghiệp
- Tài nguyên đất
Quận Liên Chiểu có tổng diện tích đất tự nhiên là 7.912 ha Trong những năm qua việc phát triển cơ sở hạ tầng và chỉnh trang đô thị đã làm thay đổi toàn bộ cơ cấu các loại đất, tình hình đất đai luôn biến động Theo số liệu tổng kiểm kê đất đai năm 2009 của nhóm đất trên địa bàn quận Liên Chiểu được chia làm 4 nhóm như sau:
Nhóm đất nông nghiệp: 294 ha
Nhóm đất lâm nghiệp: 3.937 ha
Nhóm đất phi nông nghiệp: 3.367 ha
Trang 34núi Bạch Mã và Bà Nà - Núi Chúa cùng tạo ra một hành lang đủ lớn để bảo tồn và phát triển các loài động vật hoang dã đã có nguy cơ diệt chủng Khu này có diện tích tự nhiên 10.850 ha, hiện diện 501 loài thực vật bật cao thuộc
251 chi, 124 họ, 205 loài chim thú thuộc 60 họ, 23 bộ, trong đó có 27 loài chim, thú
+ Rừng phòng hộ: các khu rừng mang tính chất phòng hộ đầu nguồn sông Cu Đê với diện tích 12.300 ha có chức năng điều hoà nguồn nước, duy trì khả năng sinh thuỷ phục vụ sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt và bảo vệ môi trường
+ Rừng sản xuất: đây là những khu rừng thuộc lâm trường sông Nam, diện tích đất rừng đã giao cho các tổ chức, hộ gia đình và các cá nhân để tiến hành sản xuất kinh doanh lâm nghiệp hoặc hạt kiểm lâm quản lý, bảo vệ Hiện nay, diện tích đất rừng sản xuất có xu hướng giảm
- Tài nguyên biển
Với bờ biển dài khoảng 26 km từ chân đèo Hải Vân đến cầu Phú Lộc, Liên Chiểu là nơi tập trung khá phong phú các loài động vật biển như:
+ San hô: phân bố phía Nam chân đèo Hải Vân nhờ có nền đáy là đá thích hợp cho san hô bám, có nước trong và có độ muối cao, ổn định tạo điều kiện cho san hô phát triển
+ Cá, mực, tôm, ghẹ: tập trung với trữ lượng phong phú
Ngoài ra, vùng biển Liên Chiểu với các vịnh, vùng, cửa sông đã tạo nên diện tích tiềm năng về nuôi trồng thuỷ sản
- Tài nguyên du lịch và di sản văn hoá
Với vị trí địa lý thuận lợi, Liên Chiểu có nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên vô cùng phong phú, trải dài từ những vùng đồi núi, làng mạc, sông ngòi cho đến các bãi biển hấp dẫn Đặc biệt, ngay tại cửa ngõ phía Bắc thành phố, Liên Chiểu có một danh thắng, một di tích lịch sử, đồng thời là khu bảo tồn
Trang 35thiên nhiên rừng Hải Vân và đèo Hải Vân Tiềm năng về du lịch của Hai Vân
có thể khai thác phát triển dịch vụ Bên cạnh đó, Liên Chiểu còn có các bãi tắm đẹp như Nam Ô, Xuân Thiều là nơi lý tưởng để nghỉ ngơi, thư giãn.Liên Chiểu có bờ biển dài 26 km, với nhiều bãi tắm tự nhiên đẹp như Nam Ô, Xuân Thiều, Bắc Ninh, bờ biển uốn lượn chạy vòng cung ôm dọc theo tuyến đường Nguyễn Tất Thành - một trong những con đường đẹp nhất của thành phố, thuận lợi cho khai thác và phát triển du lịch Ngoài ra còn có tiềm năng phát triển ngành nuôi trồng và đánh bắt hải sản
Ngoài ra, Liên Chiểu còn có làng nghề nước mắm Nam Ô Hiện nay, đang có chủ trương khôi phục lại làng nghề này tạo nên sản phẩm du lịch đặc thù của Liên Chiểu nói riêng và thành phố nói chung
Quận có vị trí cách 3 di sản văn hoá thế giới với bán kính dưới 100 km,
là khu vực hấp dẫn khách du lịch nội địa và quốc tế
- Tài nguyên khoáng sản
Trên địa bàn quận có các mỏ cát trắng Hoà Khánh, Nam Ô, Thanh Vinh với trữ lượng khoảng 25 triệu tấn, chất lượng tốt để phục vụ cho sản xuất và xuất khẩu Dọc núi Phước Lý còn có các mỏ đá có thể khai thác làm vật liệu xây dựng Ngoài ra, còn có các khoáng sản khác như: đồng (Thuỷ Tú), than bùn (bàu Sấu, bàu Tràm) với trữ lượng nhỏ, cuội sỏi (Hoà Khánh trên các gò cao 4-7m), sét gạch ngói (Hoà Minh), cát xây dựng (sông Cu Đê)
2.1.2 Đặc điểm về kinh tế
Cùng với sự phát triển của kinh tế thành phố, kinh tế quận Liên Chiểu đã
có nhiều chuyển biến tích cực, phù hợp với xu hướng phát triển của cả nước bao gồm nhiều thành phần kinh tế trong đó kinh tế tư nhân ngày càng phát triển và đầu tư nước ngoài đang được khuyến khích trong mọi lĩnh vực
Nền kinh tế quận phát triển theo cơ cấu: Công nghiệp - Dịch vụ - Nông nghiệp Các ngành kinh tế đều có giá trị sản xuất tăng trưởng khá cao, trong
Trang 36đó, ngành công nghiệp giữ vai trò chủ đạo với tổng giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đạt trên 4.525 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm đạt 47,4% Tổng giá trị thương mại - dịch vụ đạt hơn 1.061 tỷ đồng; sản xuất nông - lâm - thuỷ sản đạt 103 tỷ đồng; thu, chi ngân sách tăng khá, hằng năm đều đạt và vượt chỉ tiêu Kinh tế phát triển đã đem lại sự phát triển dân sinh, đô thị và giải quyết việc làm Thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh qua các năm
Trên địa bàn quận có chợ Hoà Khánh và các chợ khác như chợ Thanh Vinh, Nam Ô, Hoà Mỹ và nhiều đại lý bán sỉ và lẻ các mặt hàng phong phú đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Ngoài ra, Bến xe Trung tâm thành phố đóng trên địa bàn quận đã tạo điều kiện thuận lợi để luân chuyển hàng hoá và đón đưa khách từ các tỉnh thành khác đến với Đà Nẵng
Trong công tác đầu tư hạ tầng cơ sở, quận đã chú trọng đến hệ thống giao thông, điện, nước sinh hoạt, chợ, trường học và bệnh viện Hiện nay với hơn 60 dự án quy hoạch khu dân cư như dự án Trung tâm đô thị mới Tây Bắc, Khu đô thị sinh thái Quan Nam - Thuỷ Tú, Dự án nâng cấp và mở rộng Xí nghiệp Dây và cáp điện Tân Cường Thành, đường DT 606 (lên khu du lịch nghỉ dưỡng Bà Nà), mở rộng và nâng cấp đường Hoàng Văn Thái sẽ tạo nên
bộ mặt đô thị ngày càng khang trang, hiện đại
2.1.3 Đặc điểm về xã hội
Dân số của quận Liên Chiểu vào năm 2005 là 82.162 người với mật độ dân số là 1.038 người/km2, đến năm 2010 dân số là 132.183 người với mật độ dân số là 1.670 người/km2 Tỷ lệ tăng dân số trung bình thời kỳ 2005 - 2010
là 7,62% Lực lượng lao động của quận có chiều hướng gia tăng, trong giai đoạn 2005 - 2010 số lao động được thu hút vào các ngành nghề của quận tăng lên 38.783 lao động (bình quân thu hút được 6.464 lao động/năm) Điều đó cho thấy quận Liên Chiểu đã góp phần giải quyết một lượng lớn việc làm cho
Trang 37người lao động trên địa bàn, thành phố và các địa phương lân cận, khả năng thu hút lao động trên địa bàn quận là rất lớn Tỷ lệ lao động không có việc làm giảm từ 8,73% năm 2005 xuống còn 5,51% năm 2010
Về đơn vị hành chính, quận Liên Chiểu có 5 phường: Hoà Minh, Hoà Khánh Nam, Hoà Khánh Bắc, Hoà Hiệp Nam, Hoà Hiệp Bắc Quận Liên Chiểu không có phường thuộc diện xa trung tâm quận nhưng có một số thôn thuộc vùng sâu, vùng xa như thôn Hoà Vân, khối Thuỷ Tú (Hoà Hiệp), khối
Đà Sơn, Khánh Sơn (Hoà Khánh)
Quận Liên Chiểu có 2 khu công nghiệp: KCN Liên Chiểu và KCN Hoà Khánh Đây là nơi tập trung trên 200 nhà máy, xí nghiệp công nghiệp lớn của thành phố, trung ương và các nhà đầu tư trong và ngoài nước với lượng công nhân trên 30.000 người Với một chính sách thông thoáng, cởi mở tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ cho các nhà đầu tư từ các cấp chính quyền, các nhà đầu
tư đến đây yên tâm làm ăn
Trên địa bàn quận có 02 trường đại học, 04 trường cao đẳng, 06 trường trung học chuyên nghiệp (trường Đại học Bách Khoa, Đại học sư phạm, Cao đẳng Kinh tế - kế hoạch Đà Nẵng, Cao đẳng GTVT II, trường TH BCVT và Công nghệ thông tin II, trường Trung học Xây dựng miền Trung) đã thu hút trên 32.000 học sinh, sinh viên cả nước lưu trú và học tập, đây cũng là nguồn nhân lực chất xám dồi dào cung cấp đội ngũ kỹ sư, cán bộ, công nhân thạo việc, có tay nghề đáp ứng nhu cầu của các nhà tuyển dụng để phát triển quận
và thành phố
Như vậy, từ những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội cho ta nhận xét sau:
- Liên Chiểu là một quận công nghiệp trẻ, có điều kiện thuận lợi nhất về giao thông vận tải của thành phố Đà Nẵng Vị trí địa lý của quận là điều kiện đặc biệt thuận lợi cho việc giao lưu với các tỉnh và khu vực xung quanh, trong nước và quốc tế
Trang 38- Với thế mạnh là đầu mối giao thông phía Tây Bắc thành phố, cùng với
sự phát triển của Khu Công nghiệp Liên Chiểu, cảng nước sâu Liên Chiểu, Liên Chiểu có những điều kiện rất tốt cho ngành công nghiệp phát triển
- Liên Chiểu có lợi thế về tài nguyên biển để phát triển đánh bắt hải sản và phát triển du lịch
- Liên Chiểu là nơi tập trung của các trường đại học, trung học chuyên nghiệp, có hai khu công nghiệp là Hoà Khánh và Liên Chiểu, tập trung nhiều nhà máy, nhiều đơn vị sản xuất kinh doanh đã thu hút rất nhiều học sinh, sinh viên, người lao động đến đây học tập, làm việc và sinh sống nên đây là thị trường lớn giúp hoạt động thương mại - dịch vụ phát triển nhanh, mạnh
- Trên địa bàn quận tập trung nhiều trường đại học chất lượng cao của thành phố, trong đó, trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng là lò đào tạo nhân lực trình độ cao, đóng góp hiệu quả vào việc cung cấp lao động cho các doanh nghiệp trên địa bàn quận và cả thành phố Đà Nẵng
- Mật độ dân số tương đối thấp hơn các quận nội thành khác trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nên còn có điều kiện cải tạo đô thị và mở rộng đô thị
2.2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ QUẬN LIÊN CHIỂU TRONG THỜI GIAN QUA
2.2.1 Thực trạng gia tăng các cơ sở sản xuất kinh doanh
Sau khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực (01/01/2000), thủ tục đăng ký kinh doanh được đơn giản hóa, nhiều giấy phép không cần thiết được bãi bỏ làm cho số lượng các cơ sở, đơn vị sản xuất kinh doanh trên địa bàn quận Liên Chiểu không ngừng Sự gia tăng số lượng các đơn vị sản xuất kinh doanh trên địa bàn quận được thể hiện qua các số liệu thống kê ở bảng 2.1
Trang 39Bảng 2.1 Số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn quận
Số lượng cơ sở Cơ sở 3.10
6
4.307
5.621
6.666
7.32
6 8.181
- Tốc độ tăng trưởng % 38,8
7
30,51
18,59
9,90 11,67
Nguồn: Niên giám thống kê quận Liên Chiểu
Qua số liệu thống kê 2.1 có thể thấy, năm 2005 toàn quận có 3.106 cơ sở sản xuất kinh doanh, đến năm 2010 có 8.181 cơ sở, tăng 2,64 lần so với năm
2005 Số cơ sở sản xuất đăng ký mới tăng nhanh với tốc độ tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2005 - 2010 là 21,37%, bình quân mỗi năm trên địa bàn quận có trên 840 cơ sở mới thành lập Tuy nhiên, tốc độ tăng số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh mới hàng năm lại có xu hướng giảm dần Năm 2006 có 1.201 cơ sở mới được thành lập với tốc độ tăng là 38,87% nhưng đến năm
2009 chỉ có 660 cơ sở mới được thành lập với tốc độ tăng là 9,9%
Xét về lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực vận tải có số lượng cơ sở tăng nhanh nhất với tốc độ bình quân là 25,31%, năm 2010 tăng 3,1 lần so với năm 2005 Sở dĩ có sự gia tăng nhanh trong lĩnh vực vận tải là do sự gia tăng
về lượng khách du lịch tại Đà Nẵng nói chung và tại quận Liên Chiểu nói riêng
Bảng 2.2 Số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh phân theo ngành nghề Chỉ tiêu ĐVT
giai đoạn
Trang 40Lĩnh vực thương mại - dịch vụ vẫn đóng vai trò quan trọng và luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn quận, chiếm trên 85% tổng số các cơ sở hoạt động trên địa bàn quận Theo số liệu thống kê 2.2, số lượng cơ sở hoạt động trong ngành thương mại và dịch vụ luôn tăng mạnh, tính tới năm 2010 số lượng các cơ sở đã tăng gấp 2,7 lần so với năm 2005 Cuối cùng là các cơ sở sản xuất công nghiệp có tốc độ tăng bình quân là 14,97% chiếm tỷ trọng khoảng 9,5% trong các cơ sở sản xuất kinh doanh Nhìn chung trong những năm qua, số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn quận ngày một gia tăng Số lượng doanh nghiệp kinh doanh phát triển với tốc độ rất nhanh Mức tăng này rất phù hợp với xu hướng phát triển đô thị và đã nói lên được vai trò của dịch vụ trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như chuyển dịch lao động trong thời gian qua Tuy nhiên hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh lại mang nặng tính tự phát, buôn bán theo kiểu kiếm lợi nhuận trước mắt, thiếu tính chiến lược lâu dài, chưa chú trọng đến công tác nghiên cứu thị trường.
2.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của quận thời gian qua
Với chủ trương xây dựng quận Liên Chiểu trở thành trung tâm công nghiệp của thành phố Đà Nẵng, quận đã xác định phát triển nền kinh tế theo hướng CN - TTCN giữa vai trò chủ đạo, dịch vụ giữ vị trí quan trọng, nông nghiệp giữ vị trí ổn định, theo cơ cấu kinh tế: công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp Quận đã xác định cơ cấu kinh tế của quận đến năm 2010 là công nghiệp chiếm 73,71%, ngành dịch vụ chiếm 25,14% và ngành nông nghiệp chiếm 1,15% Thực tế kết quả chuyển dịch cơ cấu sản xuất của quận trong những năm qua như sau: