1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tâm lí học an toàn vệ sinh lao động

16 180 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 59,61 KB
File đính kèm Tâm lý học an toàn lao động.rar (54 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc các nhà quản lí lao động và người sử dụng lao động nhận thức được tầm quan trọng của yếu tố người, quan tâm trước hết đến bản thân người lao động, hiểu các đặc điểm tâm – sinh lí của người lao động sẽ góp phần đáng kể vào nâng cao hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn – vệ sinh và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động.

Trang 1

TÂM LÝ H C AN TOÀN V SINH LAO Ọ Ệ ĐỘ N G

PGS.TS Đào Thị Oanh

Viện Nghiên cứu Sư phạm, Đại học Sư phạm

Hà Nội

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngày 18 tháng 10 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 233/2006/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Quốc gia

về bảo hộ lao động, an toàn vệ sinh lao động với mục tiêu tổng

quát là: Chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, giảm ô nhiễm môi trường lao động; Ngăn chặn tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chăm sóc sức khoẻ người lao động; Nâng cao nhận thức

và sự tuân thủ pháp luật về bảo hộ lao động, bảo đảm an toàn tính mạng và hạnh phúc cho người lao động, tài sản của Nhà nước, của công dân, góp phần vào sự phát triển bền vững của quốc gia.

Bộ luật Lao động của nước ta có quy định về quyền của người lao động, trong đó có quyền được làm việc trong điều kiện đảm bảo

về an toàn lao động, vệ sinh lao động Hàng năm từ ngày 16 đến ngày 23 tháng 3, Nhà Nước có tổ chức Tuần lễ Quốc gia An toàn

-Vệ sinh lao động và cho đến nay hoạt động này đó là lần thứ 17 Việc hiện thực hóa những quyền lợi nêu trên của người lao động đòi hỏi sự vào cuộc của nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, trong

đó có Tâm lí học, mà cụ thể là Tâm lí học An toàn lao động

2 TÂM LÍ HỌC AN TOÀN LAO ĐỘNG NGHIÊN CỨU CÁI GÌ?

Việc khai thác kỹ thuật và công nghệ ở những nước phát triển trong những năm 60-70 của thế kỷ XX đã kéo theo sự tăng lên một cách đột ngột và thường xuyên số lượng các chấn thương trong

Trang 2

sản xuất Trong nhiều lĩnh vực sản xuất, trước hết là trong lĩnh vực năng lượng, vận tải, đặc biệt vận tải hàng không, số lượng các sự

cố rất nhiều, còn cái giá phải trả cho các sự cố đó thì thường xuyên tăng lên Việc thừa nhận ý nghĩa của yếu tố người trong hệ

thống “Người – Máy – Môi trường” đã dẫn đến việc hình thành

những phương pháp tiếp cận mới trong thiết kế và khai thác kỹ thuật Những bộ môn khoa học mới về lao động mang tính tích hợp cao đã ra đời như: Tâm lý học Lao động, Ecgônômi, Tâm lý học

An toàn lao động

Tâm lý học an toàn lao động là một phân ngành của Tâm lý học và

là một lĩnh vực của Ecgônômi Nhiệm vụ của nó là nghiên cứu các nguyên nhân tâm lý, tâm-sinh lý, tâm lý-xã hội của các trường hợp tai nạn trong sản xuất, xảy ra ở các loại hình lao động và các hoạt động nghề nghiệp khác nhau, đồng thời nghiên cứu tìm kiếm những con đường khác nhau nhằm nâng cao an toàn lao động Các vấn đề nghiên cứu của Tâm lý học An toàn lao động rất phong phú và đa dạng Đó là các quá trình tâm lý, các trạng thái tâm lý, các đặc điểm tâm lý của con người với tư cách là chủ thể của quá trình lao động, có liên quan hoặc đi kèm với hoạt động lao động,

có ảnh hưởng đến an toàn lao động Tâm lý học An toàn lao động tham gia giải quyết trực tiếp các nhiệm vụ nhằm tối ưu hóa hoạt động lao động, thiết kế kỹ thuật an toàn hơn, hoàn thiện các điều kiện lao động và các phương tiện bảo hộ lao động để nâng cao an toàn lao động bằng cách đưa các yếu tố tâm lý vào trong quá trình sản xuất

3 MỘT SỐ YẾU TỐ TÂM-SINH LÝ CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN AN TOÀN VÀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG

Trong một hệ thống sản xuất, mặc dù con người được xem là một tiểu hệ thống khép kín (có khả năng tự điều chỉnh), song về bản

Trang 3

chất đó vẫn là một hệ thống mở với nhiều đầu vào và nhiều đầu

ra Điều này làm cho yếu tố người mang tính chất của một nguồn tin cậy hay không tin cậy trong toàn bộ hệ thống Trong bất cứ một kiểu hệ thống sản xuất nào (chân tay, cơ giới hoá, bán tự động, tự động hoá), con người luôn luôn thực hiện những chức năng thao tác khác nhau bằng những khả năng của mình Tính chất của một hệ thống mở cho phép con người có thể thoát ra khỏi những tình huống khó khăn Nhưng các khả năng của con người không phải là không có giới hạn Các nghiên cứu về thành tích hoạt động cho thấy: Con người không bao giờ luôn luôn làm việc theo một nhịp độ đều đặn như nhau ở mọi thời điểm Ngay cả một người công nhân lành nghề, giàu kinh nghiệm thì tại một thời điểm nhất định nào đó, nhịp độ làm việc của người đó cũng có thể dao động từ 10% đến 30% so với nhịp độ trung bình Tuy con người có thể bao quát một phổ khá rộng các kích thước vật lý, nhưng khả năng phân biệt tín hiệu của con người còn hạn chế và nằm trong khoảng 7 ± 2 tín hiệu Chúng ta cũng biết rằng, ở những thời kì lịch sử khác nhau, khả năng của con người có khác nhau Nhưng, dù tiến bộ đến thế nào đi nữa thì thành tích của con người vẫn nằm trong chính thứ tự một giá trị độ lớn Chẳng hạn, từ rất lâu rồi, tốc độ chạy bộ vẫn nằm ở giá trị đo là m/s Rõ ràng là,

về bản chất, con người có một mức độ tự do nào đó mà trong những điều kiện bình thường cần được lưu ý

Như vậy, thành tích lao động và sự an toàn lao động chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: Tính chất của bản thân hoạt động lao động ( đơn điệu, nguy hiểm ); Điều kiện lao động (máy móc, môi trường vật lý, môi trường xã hội của lao động); Các đặc điểm tâm

lý, tâm-sinh lý, tâm lý - xã hội của bản thân người lao động (Trình

độ các kỹ năng/kỹ xảo lao động, khả năng tư duy, tri giác, trí nhớ,

Trang 4

sự tập trung/di chuyển/phân phối chú ý, vận động, tình trạng sức khoẻ, sức làm việc, động cơ/hứng thú/sự thoả mãn lao động ) Bắt đầu từ những năm 30 của thế kỷ trước, rất nhiều công trình nghiên cứu (nước ngoài) đã khẳng định chắc chắn mối liên hệ giữa các đặc điểm tâm – sinh lý của cá nhân với tình trạng chấn thương Đó là: Tình trạng sức khoẻ kém, cảm giác vận động kém; Khả năng chú ý (phân phối, tập trung, di chuyển) kém; Tính dễ bị kích động; Tự tin quá mức đến chủ quan; Thiếu nhạy cảm trong quan hệ với người khác; Thái độ thiếu tích cực đối với công việc lao động; Không hài lòng với không khí tâm lý của tập thể lao động nơi cá nhân đang làm việc

Một số nghiên cứu cũng tìm ra những đặc điểm xã hội có liên quan trực tiếp đến tần suất các trường hợp bất hạnh trong lĩnh vực giao thông đường sắt Đó là: Thiếu sự giám sát lẫn nhau giữa các công nhân do quá tin tưởng nhau vì đã làm việc lâu năm cùng với nhau; Sự ảnh hưởng hành vi của một thành viên trong đội tàu tới những thành viên khác; Nhận được các mệnh lệnh khác nhau cùng một lúc

Như trên đã nói, khả năng của con người là có giới hạn và có thể thấy rõ điều này khi xem xét khái niệm “Sức làm việc”

Sức làm việc là một khái niệm sinh lý học, nói lên khả năng làm việc dẻo dai, lâu bền, không biết mệt mỏi sớm Sức làm việc

của con người phụ thuộc vào nhiều nhân tố: bên ngoài (những yêu cầu của sản xuất: Tính chất của các động tác/sự phức tạp của chúng, độ chính xác, cường độ ; Những điều kiện của môi trường sản xuất, như điều kiện vệ sinh, không khí tâm lý; Trình độ chuyên môn của công nhân; Tuổi tác ) và bên trong (tính chất phản ứng của công nhân, tình trạng của hệ thống chức năng, trạng thái thần

Trang 5

kinh – tâm lý, trạng thái mệt mỏi ) Thông thường, người ta lấy năng suất lao động làm chỉ số của sức làm việc

Trong một ngày lao động (hay một ca sản xuất), sức làm việc

có những biến đổi xác định, mang tính quy luật, không phụ thuộc vào công việc hay môi trường lao động Sự biến đổi đó được thể hiện dưới dạng một đồ thị, được gọi là “Đường cong của sức làm việc” Đồ thì này có ý nghĩa to lớn đối với thực tiễn lao động sản xuất của con người

Trong trường hợp điển hình, với nhịp độ tối ưu của hoạt động sản xuất, sức làm việc được biến đổi theo một đường cong hai pha: Tăng ở lúc đầu và giảm ở cuối ca sản xuất Trong một nửa ngày làm việc có ba giai đoạn rõ rệt là: Giai đoạn “đi vào công việc” (a); Giai đoạn “sức làm việc tối đa” hay “sức làm việc ổn định” (b); Giai đoạn “sức làm việc giảm sút” hay “ sự mệt mỏi phát triển” (c)

Tuỳ theo loại hình lao động và các điều kiện lao động cụ thể mà thời gian diễn ra ở từng giai đoạn có thể dao động từ vài phút đến hàng giờ

Trang 6

Ở nửa sau của ngày làm việc, ba giai đoạn trên lặp lại kế tiếp nhau song có sự khác biệt, thể hiện ở chỗ: Giai đoạn 1 ngắn hơn; Giai đoạn 2 cũng ngắn hơn, tuy nhiên sức làm việc tối đa thấp hơn; Giai đoạn 3 sự mệt mỏi xảy ra sớm hơn Trong một số trường hợp, có sự nâng cao sức làm việc ở cuối ngày (d) Đó là do tác động của cảm xúc khi người lao động nhìn thấy trước sự kết thúc ngày làm việc (xem hình 1) Nhìn chung, các nghiên cứu cho thấy, sức làm việc của nửa ngày đầu cao hơn nửa ngày sau khoảng 30%

Cần nói thêm rằng, đường cong điển hình của sức làm việc không chỉ thể hiện sự biến đổi của sức làm việc trong một ngày làm việc, mà cả trong một tuần làm việc, một tháng làm việc, một năm làm việc Nó không giống với khái niệm “nhịp sinh học”

Như trên đã nói, đồ thị có ý nghĩa thực tiễn to lớn vì căn cứ vào

đó có thể tổ chức các giờ giải lao một cách hợp lý, khoa học trong một ca sản xuất nhằm tránh sự mệt mỏi đến sớm, góp phần đảm bảo an toàn lao động cho người lao động Bởi vì nhiều nghiên cứu (ở Anh, Mỹ, ) cho thấy tỷ lệ các trường hợp bất hạnh trong sản xuất tăng lên khi độ mệt mỏi tăng và hạ thấp rõ rệt khi công nhân được nghỉ ngơi Ở cuối nửa ca đầu và cuối nửa ca sau, tỷ lệ đó chiếm những “đỉnh” cực cao, bởi đó là những lúc người công nhân

mệt mỏi nhất Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, sự mệt mỏi thúc đẩy việc nảy sinh trường hợp bất hạnh chứ không gây ra sự bất hạnh Đó là một nhân tố có tính chất tạm thời, theo nghĩa, nó là

một hiện tượng khách quan không thể tránh khỏi vì có lao động là

có mệt mỏi, nhưng không phải ai mệt mỏi cũng gây tai nạn, vì thế

có thể khắc phục bằng cách xây dựng chế độ làm việc và nghỉ ngơi hợp lý Ngày nay, khi nghiên cứu về nguyên nhân gây ra các trường hợp tai nạn trong sản xuất, các công trình càng chú ý nhiều

Trang 7

hơn tới vai trò của các trạng thái tâm lý, tâm trạng người lao động, thái độ của họ đối với lao động Các nghiên cứu cũng cho thấy nguyên nhân chủ yếu là do người lao động chưa tuân thủ nghiêm ngặt các quy định an toàn lao động, chưa tự giác chấp hành quy trình quy phạm vận hành máy móc, khai thác thiết bị một cách an toàn Bên cạnh đó, các nhà quản lý lao động chưa quan tâm đúng mức đến việc cải thiện điều kiện làm việc vệ sinh hơn, an toàn hơn cho người lao động, trong đó có an toàn về mặt tâm lý

4 LÀM THẾ NÀO ĐỂ NGĂN NGỪA CÁC TAI NẠN LAO ĐỘNG

Bất cứ một cơ sở sản xuất nào cũng được xem là một hệ thống Vì vậy vấn đề an toàn lao động cần được bao quát trong toàn bộ hệ thống bởi vì sự tác động qua lại giữa các thành tố sẽ làm cho bất

cứ một thay đổi nào trong phạm vi của một thành tố cũng sẽ gây

ra những thay đổi trong toàn bộ hệ thống

Vấn đề an toàn lao động đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhau cho nên luôn đòi hỏi sự cộng tác của các nhà chuyên môn thuộc những lĩnh vực khác nhau Tuy nhiên, như đã nói ở trên, yếu tố quan trọng nhất là người lao động, người tham gia một cách hữu hiệu, tích cực vào an toàn lao động và tự bảo vệ bản thân Với mục đích hoàn thiện tình trạng an toàn cho hệ thống, hành động ngăn ngừa được thể hiện thông qua một loạt biện pháp có liên quan với nhau và hỗ trợ cho nhau Từ góc độ tâm lí học, có thể vận dụng các yếu tố tâm lí vào xây dựng môi trường lao động trở nên hợp lí, thuận tiện, vệ sinh, gúp phần làm giảm thiểu các nguy

cơ mất an toàn trong quá trình sản xuất, đồng thời làm tăng năng suất lao động (ánh sỏng, màu sắc trong cụng nghiệp,…)

a/ Tuyên truyền giáo dục về an toàn lao động Đây là một

biện pháp ngăn ngừa nhằm hình thành cho người công nhân một hành vi phù hợp thông qua thái độ thực của họ để nâng cao hiệu

Trang 8

quả và sự an toàn lao động Thay đổi hành vi của con người là việc làm không dễ dàng, nhất là việc thay đổi các thói quen và kỹ xảo lao động, vì thế, nếu được quan tâm sớm (ví dụ, ngay trong giai đoạn đào tạo nghề) thì sẽ thuận lợi hơn nhiều

b/ Đào tạo nghề nghiệp Để có thể góp phần làm thay đổi

hành vi nhằm nâng cao an toàn lao động cho công nhân, việc đào tạo nghề cần phải được tiến hành có kế hoạch và phải được kiểm tra cẩn thận Ở đây không chỉ lưu ý hình thành tay nghề mà còn hình thành cả thái độ đối với nghề nghiệp Để ngăn ngừa các tai nạn lao động có thể xảy ra, có một số điểm cần được lưu ý là:

- Thống nhất các mã thông tin, thông báo

- Dạy thực hiện các thao tác phụ và các thao tác chính tốt như nhau (trên thực tế, các thao tác phụ dễ gây ra tai nạn Ngoài ra, con người thường có khuynh hướng xem nhẹ sự nguy hiểm của tai nạn lao động)

- “Học đón trước” giúp người lao động có khả năng đoán trước (nhìn thấy trước) các tình huống nguy hiểm để có thể giải quyết chúng nhanh chóng, hiệu quả và điều đó giúp nâng cao an toàn lao động

- Xây dựng các nhóm lao động dựa trên các đặc điểm về chuẩn mực của nhóm

- Hình thành thái độ trách nhiệm đối với an toàn lao động

c/ Tổ chức lao động sẽ giúp xác định được các điều kiện tối

ưu để hệ thống vận hành tốt Liên quan đến vấn đề này có nhiều công việc cụ thể như:

- Hoàn thiện sự hợp tác giữa các đơn vị dịch vụ

- Hoàn thiện chương trình thông tin về an toàn lao động

- Bố trí các vị trí làm việc phù hợp

Trang 9

- Đối với những loại hình công việc trong đó các thao tác lao

động mang tính đơn điệu cao cần tổ chức luân phiên công nhân

làm việc ở những vị trí khác nhau để tránh cảm giác nhàm chán (là cái làm cho mệt mỏi đến sớm) từ đó làm tăng năng suất lao động, tăng chất lượng sản phẩm và giảm tai nạn lao động

- Thay đổi nhịp độ của các động tác trong băng chuyền theo quy luật của sức làm việc Sự thay đổi có điều chỉnh nhịp độ trong thời gian một ca sản xuất sẽ hạ thấp tính đơn điệu, do đó sẽ làm giảm sự mệt mỏi và giảm tai nạn lao động

- Xây dựng chế độ lao động và nghỉ ngơi hợp lý, khoa học, đặc biệt quan tâm các giờ giải lao ngắn của công nhân (nhằm đón trước sự mệt mỏi) và sử dụng thể dục sản xuất

- Sử dụng hợp lý, khoa học các phương pháp tác động thẩm mỹ khác nhau trong sản xuất, nhất là màu sắc và âm nhạc

- Xây dựng và sử dụng hệ thống thưởng – phạt hợp lý Theo các nhà Tâm lý học An toàn lao động, việc khiển trách, áp dụng các hình phạt (ví dụ, đe doạ thu hồi hoặc thu hồi các khoản đã chi trả) đối với người lao động, trong nhiều trường hợp không giải quyết được vấn đề mà chỉ khiến họ giấu giếm việc họ đã phạm sai sót Thay vì tra vấn họ hãy xem xét hoặc điều chỉnh lại các quy định, quy trình an toàn lao động

d/ Áp dụng các nguyên tắc của Ecgônômi (thiết kế hoặc sửa

chữa) nhằm điều chỉnh một số khiếm khuyết hoặc thiết lập các nhiệm vụ an toàn lao động cho máy ngay trong giai đoạn thiết kế (lắp đặt các thiết bị an toàn, làm cho thiết bị phù hợp với các đặc điểm nhân trắc của người lao động); Hoàn thiện môi trường lao động; Hoàn thiện việc bảo dưỡng máy móc và nơi làm việc của người lao động Các nguyên tắc của Ecgônômi phải luôn luôn lưu ý

Trang 10

tới những khả năng cũng như giới hạn về mặt tâm - sinh lý của người lao động

Chẳng hạn, các nhà Tâm lý học thuộc hãng Hàng không Boeing

đã sử dụng các kiến thức tâm lý học của mình tham gia vào việc thiết kế máy bay (thiết kế lắp đặt bảng điều khiển, thiết kế chỗ ngồi của phi công, thiết kế màn hình máy tính trong khoang lái, hoàn thiện các thông tin cảnh báo, chỉ báo ), xây dựng quy trình bảo dưỡng bảo trì máy bay (rất quan trọng), tuyển chọn nhân sự, xây dựng các quy tắc an toàn lao động nhằm nâng cao hiệu quả

và an toàn cho các chuyến bay thương mại Một chương trình bảo dưỡng đã trở nên khá nổi tiếng trong ngành hàng không là Maintenance Error Decision Aid (viết tắt là MEDA) đã được xây dựng và ứng dụng từ những năm 90 của thế kỷ trước Các nguyên tắc chính của MEDA là:

- Yếu tố cơ học không có xu hướng tạo ra các sai sót

- Các sai sót là kết quả của các yếu tố như: Tài liệu hướng dẫn viết không rõ ràng, thiếu giao tiếp giữa các nhân viên khi họ giao

ca, hoặc công nhân bị thiếu những công cụ lao động cần thiết

- Các nhà quản lý có thể xác định các nhân tố tạo ra sai sót (chẳng hạn, họ có thể mua các thiết bị hoặc làm rõ những chỉ dẫn

về bảo dưỡng )

Nhìn chung, chương trình này nhấn mạnh đến những yếu tố tâm lý nằm sau các sai sót (quá trình giao tiếp bị gián đoạn, việc đào tạo không đúng )

e/ Hoàn thiện các mối quan hệ sản xuất nói riêng và các

mối quan hệ người – người nói chung Hoạt động lao động sản xuất công nghiệp đặt cá nhân vào một hệ thống các mối quan hệ phức tạp cả về phương diện kỹ thuật lẫn về phương diện xã hội

Ngày đăng: 13/11/2017, 17:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w