1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

TÀI LIỆU VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC

68 122 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 3,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Thuỷ quyển và tài nguyên nước Trái Đất là hành tinh duy nhất trong Hệ Mặt Trời mà bề mặt có nước ở dạng lỏng. Nước bao phủ71% bề mặt Trái Đất (97% là nước biển và 3% nước ngọt tính theo thể tích) và chia thành 5 đại dươngvới 7 lục địa. Các hiện tượng quỹ đạo quanh Mặt Trời của Trái Đất, núi lửa, trường hấp dẫn, hiệu ứngnhà kính, từ trường và khí quyển giàu ôxy có lẽ đã hợp thành để tạo ra Trái Đất như là một hành tinhchứa nước. Trái Đất thực sự là hành tinh nằm trên rìa ngoài của ranh giới quỹ đạo có đủ độ ấm để tạo ranước ở dạng lỏng. Không có hiện tượng nhà kính, nước của Trái Đất có lẽ đã bị đóng băng hết. Cácchứng cứ hóa thạch chỉ ra rằng tại thời điểm sau khi các vi khuẩn lụclam (Xyanobacteria) đã chiếm hếtcác đại dương, hiệu ứng nhà kính đã bị mất, và các đại dương của Trái Đất có thể bị đóng băng hoàntoàn trong 10 đến 100 triệu năm (sự kiện quả cầu tuyết Trái Đất). Trên các hành tinh khác, như Kim Tinh, nước ở dạng hơi bị phân hủy bởi bức xạ tia cực tím củaMặt Trời, và hiđrô bị ion hóa và bay đi mất theo gió Mặt Trời. Đây là một giả thuyết giải thích tại saoKim Tinh không có nước. Không có hiđrô, ôxy tương tác với bề mặt và liên kết trong các khoáng chất

Trang 1

CHƯƠNG 1 TÀI NGUYÊN NƯỚC

A KHÁI QUÁT VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC

I MỘT SỐ THÔNG TIN CHUNG VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC

1 Thuỷ quyển và tài nguyên nước

Trái Đất là hành tinh duy nhất trong Hệ Mặt Trời mà bề mặt có nước ở dạng lỏng Nước bao phủ 71% bề mặt Trái Đất (97% là nước biển và 3% nước ngọt tính theo thể tích) và chia thành 5 đại dương với 7 lục địa Các hiện tượng quỹ đạo quanh Mặt Trời của Trái Đất, núi lửa, trường hấp dẫn, hiệu ứng nhà kính, từ trường và khí quyển giàu ôxy có lẽ đã hợp thành để tạo ra Trái Đất như là một hành tinh chứa nước

Trái Đất thực sự là hành tinh nằm trên rìa ngoài của ranh giới quỹ đạo có đủ độ ấm để tạo ra nước ở dạng lỏng Không có hiện tượng nhà kính, nước của Trái Đất có lẽ đã bị đóng băng hết Các

chứng cứ hóa thạch chỉ ra rằng tại thời điểm sau khi các vi khuẩn lục-lam (Xyanobacteria) đã chiếm hết

các đại dương, hiệu ứng nhà kính đã bị mất, và các đại dương của Trái Đất có thể bị đóng băng hoàn toàn trong 10 đến 100 triệu năm (sự kiện quả cầu tuyết Trái Đất)

Trên các hành tinh khác, như Kim Tinh, nước ở dạng hơi bị phân hủy bởi bức xạ tia cực tím của Mặt Trời, và hiđrô bị ion hóa và bay đi mất theo gió Mặt Trời Đây là một giả thuyết giải thích tại sao Kim Tinh không có nước Không có hiđrô, ôxy tương tác với bề mặt và liên kết trong các khoáng chất rắn

Trong khí quyển Trái Đất, một lớp mỏng ôzôn trong tầng bình lưu hấp thụ phần lớn năng lượng bức xạ cực tím, làm giảm hiệu ứng phân hủy Ôzôn, chỉ có thể tạo ra trong khí quyển chứa một lượng lớn ôxy phân tử tự do và phụ thuộc vào sinh quyển (thực vật) Từ trường của Trái Đất cũng là lớp lá chắn bảo vệ cho tầng ion khỏi bị cuốn đi bởi gió Mặt Trời

Cuối cùng, hiện tượng núi lửa liên tục tỏa ra hơi nước từ bên trong Kiến tạo địa hình trên Trái Đất chu chuyển cacbon và nước như là đá vôi thành các chất trong lớp phủ và giải phóng theo núi lửa trong dạng như điôxít cacbon dạng khí và hơi nước nóng Ước tính rằng các khoáng chất trong lớp phủ

có thể chứa ít nhất là gấp 10 lần lượng nước của các đại dương hiện nay, mặc dù phần lớn nước bị chiếm giữ này sẽ không bao giờ được giải phóng

Tổng khối lượng của thủy quyển khoảng 1,4 × 1021 kg, khoảng 0,023 % tổng khối lượng Trái Đất Diện tích: 70,8 % bề mặt Trái Đất là nước, 29,2 % là đất liền

phức tạp cấu tạo thành tuần hoàn nước còn gọi là chu trình thuỷ văn

Nước bốc hơi từ các đại dương và lục địa trở thành một bộ phận của khí quyển Hơi nước được vận chuyển vào bầu không khí, bốc lên cao cho đến khi chúng ngưng kết và rơi trở lại mặt đất hoặc mặt biển Lượng nước rơi xuống mặt đất một phần bị giữ lại bởi cây cối, chảy tràn trên mặt đất thành dòng chảy trên sườn dốc, thấm xuống đất, chảy trong đất thành dòng chảy sát mặt đất và chảy vào các dòng sông thành dòng chảy mặt Phần lớn lượng nước bị giữ lại bởi thảm phủ thực vật và dòng chảy mặt sẽ quay trở lại bầu khí quyển qua con đường bốc hơi và bốc thoát hơi Lượng nước ngấm trong đất có thể thấm sâu hơn xuống những lớp đất bên dưới để cấp nước cho các tầng nước ngầm và sau đó xuất lộ thành các dòng suối hoặc chảy dần vào sông ngòi thành dòng chảy mặt và cuối cùng đổ ra biển hoặc bốc hơi vào khí quyển Có thể coi quá trình tuần hoàn nước là một hệ thống thuỷ văn, thực chất là quá trình chuyển từ mưa sang dòng chảy với các thành phần là nước rơi, bốc hơi, dòng chảy và các pha khác nhau của chu trình Các thành phần này có thể được tập hợp thành các hệ thống con của chu trình lớn Chu trình vòng tuần hoàn toàn cầu được mô tả trên hình (1-1) Theo sơ đồ tuần hoàn nước trên hình, ta có nhận xét như sau:

• Tương ứng với 100 đơn vị mưa trên lục địa có 38 đơn vị chảy dòng chảy mặt ra biển; 1 đơn vị chảy ngầm ra biển; 61 đơn vị bốc hơi từ lục địa Rõ ràng lượng bốc hơi từ mặt đất là rất lớn so với lượng nước mặt và lượng nước ngầm chảy ra biển

Trang 2

• Trên đại dương, tương ứng với 385 đơn vị mưa xuống đại dương có 424 đơn vị bốc hơi từ đại dương (chênh lệch 424 - 385 = 39 đv)

Hình 1: Sơ đồ của vòng tuần hoàn nước trên hành tinh

2 Khái niệm tài nguyên nước

− Nước nguyên chất là hợp chất của 2 nguyên tử H và 1 nguyên tử O Các phân tử nước thường tồn tại dưới dạng liên kết nhóm, ở các dạng khác nhau: rắn, lỏng, khí ở trạng thái lỏng, nước tinh khiết không màu, mùi và vị Trong điều kiện môi trường không ô nhiễm, khí quyển sạch thì nước mưa, nước từ băng tuyết tan trên núi có thể coi là nước nguyên chất

− Tài nguyên nước là tất cả các dạng vật chất và năng lượng mà con người có thể khai thác được từ các dạng nước (hơi, lỏng, rắn) trên trái đất để phục vụ cho sự sống và phát triển của mình

− Tài nguyên nước bao gồm: Nước trong khí quyển, Nước mặt (nước trong các thuỷ vực: Ao, hồ, sông ngòi, biển và đại dương), Nước ngầm TN nước là TN tái tạo, nằm trong chu trình tuần hoàn của nước, dưới các dạng: mây, mưa, trong các vật thể chứa nước như ao hồ, sông suối, đầm, biển, đai dương, các cơ thể sinh vật, các vật chất, đất đai,

− Khoảng 97% tổng lượng nước trên hành tinh là nước mặn tồn tại trong các biển và đại dương, chỉ còn 3% là nước ngọt, nhưng 75% số chúng tồn tại dưới dạng băng, đá Trong gần 0,8% lượng nước ngọt còn lại thì có đến 90% tồn tại trong đất và chỉ còn lại 0,08% tổng lượng nước trên hành tinh là nước ngọt (hơi nước và nước tồn tại trong các thuỷ vực lục địa)

− Nguồn nước mưa: được sử dụng rộng rãi ở các vùng khan hiếm nước ngọt, tuy nhiên nước mưa phân

bố không nhiền Con người đã sử dụng nhiều cách khác nhau để thu và tích nước Nhìn chung, nước mưa sạch, có thể đáp ứng được các tiêu chuẩn cho nước dùng ăn uống và sinh hoạt

− Nguồn nước mặt: Là tất cả các vực nước có mặt thoáng, tiếp xúc với không khí, thường xuyên được tiếp nhận và bổ sung nước từ nước mưa và nước ngầm tầng nông cũng như nước thải Vì vậy, chất lượng nước mặt thay đổi nhiều theo vùng không gian và thời gian, vì do sự xáo trộn/ vận chuyển mà tầng nước mặt thường được phân bố đều nhiệt, chất hoà tan, không khí, Nhìn chung, chất lượng nước mặt phụ thuộc vào nhiều yếu tố: cấu trúc địa chất, địa hình, địa mạo, các hoạt động của con người, thực vật

− Nguồn nước ngầm: Gồm các nguồn nước tồn tại trong các khoảng trống dưới đất, trong các khe nứt, các mao quản, thấm trong các lớp đất đá, có thể tập trung thành từng bể, bồn hoặc thành dòng chảy trong lòng đất Nước này chứa các hợp chất hoà tan từ các lớp đất đá mà nó chảy qua Một phần nước ngầm là do nước mưa thấm, phần khác là nước thải từ các hoạt động của con người, trong quá trình thấm lọc và phân giải sinh học, chất lượng nước ngầm được cải thiện đáng kể

Trang 3

3 Sự phân bố của nước trên trái đất

Trên hành tinh chúng ta nước tồn tại dưới những dạng khác nhau: Nước trên trái đất, ngoài đại dương, ở các sông suối, hồ ao, các hồ chứa nhân tạo, nước ngầm, trong không khí, băng tuyết và các dạng liên kết khác Theo V I Verônatske, khối lượng nước trên trái đất vào khoảng 1,46 tỷ km3, trong

đó nước trong đại dương chiếm khoảng 1,37 tỷ km3

Sự phân bố nước trên hành tinh chúng ta theo số liệu ước tính của UNESCO năm 1978 như sau: Tổng lượng nước trên trái đất vào khoảng 1.385.984.610 km3 trong đó nước trong đại dương vào khoảng 1.338.000.000 km3 chiếm 96,5% Nước ngọt trên trái đất chiếm tỷ lệ rất nhỏ chỉ vào khoảng 3,5% Nước ngọt phân bố ở nước ngầm, nước mặt, dạng băng tuyết và các dạng khác, trong đó lượng nước ở dạng băng tuyết chiếm tỷ lệ cao nhất (xấp xỉ 70%), nước ngọt ở các tầng ngầm dưới đất chiếm tỷ

lệ vào khoảng 30,1%, trong khi đó nước trong hệ thống sông suối chỉ chiếm khoảng 0,006% tổng lượng nước ngọt trên trái đất, một tỷ lệ rất nhỏ

Trong khi đó theo một số tài liệu khác thì nước ngọt chỉ chiếm 2,5% trong khối lượng nước có trên hành tinh.Trong 2,5% thì nước ngọt ở thể băng chiếm 79%, nước dưới đất khó khai thác chiếm 20%, chỉ có 1% nước trên mặt đất Trong số này thì: + Hồ chiếm 52%; + Độ ẩm của đất 38%; + Bốc hơi trong khí quyển 8%; + Hình thành dòng chảy mặt 1%; + Trong cơ thể sống của sinh vật 1% (Hình 2)

- Lượng nước mưa rơi xuống mặt đất;

- Nước tồn tại trong các sông, rạch, ao, hồ; - Một phần rất ít nước từ đầm lầy và băng tuyết

* Nước ngọt trong lòng đất:

Trang 4

- Nước dưới đất có loại nước mặn, nước lợ và nước ngọt, trong đó nước ngọt chỉ có lưu lượng nhất định Nước dưới đất được trữ trong các lỗ hổng và khe hở đất đá

- Tầng chứa nước: Các lớp đất đá có thành phần hạt thô (cát, sạn, sỏi), khe hở, nứt nẻ, có tính thấm nước, dẫn nước tốt mà con người có thể khai thác nước phục vụ cho nhu cầu của mình gọi là các tầng chứa nước

- Tầng cách nước: Là tầng đất đá với thành phần hạt mịn (sét, bột sét), có hệ số thấm nhỏ, khả năng cho nước thấm xuyên qua yếu, khả năng khai thác nước trong tầng này thấp

Mưa và lượng nước trong đất: Tổng lượng nước trên quả đất ước tính khoảng 165.000 x 109 acrơ - fut, trong đó nước ngọt chiếm khoảng 7% Phần lớn nước ngọt là nước ngầm và băng tuyết ở hai cực quả đất, cộng tất cả nước sông ngòi, ao hồ và nước trong đất dùng được trong nông nghiệp chỉ bằng khoảng 0,08% tổng lượng và chỉ bằng khoảng 0,05% lượng mưa hàng năm (bảng 2)

Bảng 2 Ước tính lượng nước của thuỷ quyển quả đất (Ackerman, 1959)

Bảng 3: Ước tính lượng nước trên trái đất

Nguồn: Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam, 2000

Trang 5

Tổng lượng nước ngọt tuy ít so với tổng lượng nước trên hành tinh của chúng ta, nhưng so với nhu cầu sử dụng của con người thì không hề nhỏ Nhưng do chúng phân bố không đồng đều theo cả không gian và thời gian, nên nước đã trở thành nguồn tài nguyên khan hiếm đối với nhiều khu vực trên thế giới

từ xưa đến nay Mặt khác, do nhu cầu về nước ngày càng tăng cao, do con người khai thác quá mức và không bền vững đối với tài nguyên nước mà nguồn tài nguyên quan trọng này ngày càng trở nên khan hiếm hơn Hiện tượng biến đổi khí hậu hiện nay lại càng làm cho vấn đề này trầm trọng hơn:

 Sự phân bố theo không gian rất không đều: Nước mưa, nước sông, nước ngầm đều phân bố không đều ở các vùng trên thế giới Ví dụ: Trên trái đất có vùng có lượng mưa khá phong phú, nhưng lại có những vùng khô hạn Các vùng nhiều mưa (lượng mưa > 2000 mm trong năm) trên thế giới phân bố như sau: Châu Âu có vùng núi Anpơ, Côcazơ, Nauy; Châu á có Việt Nam (trừ một số vùng như châu thổ Cửu Long, Cao Bằng, Lạng Sơn ), Inđônêxia, Philipin, Nhật Bản, Malaixia, Campuchia v.v

 Một trong những đặc thù quan trọng nữa là: Nguồn nước có trữ lượng hàng năm không phải là vô tận, sự biến đổi của nó không vượt qua một giới hạn nào đó và không phụ thuộc vào mong muốn của con người

 Nước thường phân bố không đều theo không gian và thời gian, dẫn đến sự không phù hợp giữa tài nguyên nước và yêu cầu sử dụng của con người

Tài nguyên nước được đánh giá bởi ba đặc trưng quan trọng: Lượng, chất lượng và động thái của nó:

• Lượng nước: tổng lượng nước sinh ra trên một khu vực nào đó trong khoảng thời gian một năm hoặc một thời kỳ nào đó trong năm Nó biểu thị mức độ phong phú của tài nguyên nước trên một vùng lãnh thổ

• Chất lượng nước: bao gồm các đặc trưng về hàm lượng của các chất hoà tan và không hoà tan trong nước (có lợi hoặc có hại theo tiêu chuẩn sử dụng của đối tượng sử dụng nước)

• Động thái của nước được đánh giá bởi sự thay đổi của các đặc trưng dòng chảy theo thời gian,

sự trao đổi nước giữa các khu vực chứa nước, sự vận chuyển và quy luật chuyển động của nước trong sông, sự chuyển động của nước ngầm, các quá trình trao đổi chất hoà tan, truyền mặn Nguồn nước trên thế giới là rất lớn, nhưng nước ngọt mới là yêu cầu cơ bản cho hoạt động dân sinh kinh tế của con người Nước ngọt trên thế giới ở dạng khai thác được có trữ lượng không lớn, chiếm khoảng trên dưới 1% tổng lượng nước có trên trái đất Khi sự phát triển dân sinh kinh tế còn ở mức thấp, nước chỉ mới được coi là môi trường cần thiết cho sự sống của con người Trong quá trình phát triển, càng ngày càng có sự mất cân đối giữa nhu cầu dùng nước và nguồn nước Dưới tác động các hoạt động kinh tế xã hội của con người, nguồn nước ngày càng có nguy cơ bị suy thoái và cạn kiệt, khi

đó nước được coi là một loại tài nguyên quý cần được bảo vệ và quản lý Các luật nước ra đời và cùng với nó ở mỗi quốc gia đều có một tổ chức để quản lý nghiêm ngặt loại tài nguyên này

4 Vai trò và ý nghĩa của TN nước

Nước là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển môi trường sống Nước là một loại tài nguyên thiên nhiên quý giá và có hạn, là động lực chủ yếu chi phối mọi hoạt động dân sinh kinh tế của con người Nước được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, thủy điện, giao thông vận tải, chăn nuôi, thuỷ sản Bởi vậy, tài nguyên nước có giá trị kinh tế và được coi là một loại hàng hoá Nước là loại tài nguyên có thể tái tạo được, cần phải sử dụng một cách hợp lý để duy trì khả năng tái tạo của nó

Nhu cầu nước là nhu cầu không thể thiếu và là nguyên nhân chủ yếu của sự phát triển lịch sử loài người Trong quá trình phát triển, bằng các biện pháp thủy lợi con người đã làm thay đổi trạng thái

tự nhiên của nguồn nước nhằm thoả mãn các yêu cầu về nước ngày càng tăng của xã hội loài người Các biện pháp thủy lợi cũng đa dạng, bao gồm: Hồ chứa, đập dâng nước, hệ thống đê, hệ thống các trạm bơm và cống tưới tiêu, cống ngăn mặn Các biện pháp thủy lợi ngày càng phát triển sẽ làm thay đổi mạnh mẽ chế độ tự nhiên của dòng chảy sông ngòi

Ngày nay, hầu như mọi người đều hiểu rằng nước là một trong những nguồn tài nguyên thiên nhiên cơ bản và quý giá nhất Hàng loạt tài liệu khoa học công bố trong nhiều thế kỷ vừa qua trên thế giới đã nói lên điều đó Khoảng hơn hai trăm năm trước đây, trong sách “Vân Đài loại ngữ”, nhà bác học Việt Nam Lê Quý Đôn đã viết:

"Vạn vật không có nước không thể sống được, Mọi việc không có nước không thể thành được"

Trang 6

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có câu nói tuyệt vời trong huấn thị của Người tại Hội nghị Thủy lợi toàn miền Bắc họp tại Bắc Ninh, ngày 14-9-1959 như sau:

"Việt Nam ta có hai tiếng Tổ quốc, ta cũng gọi Tổ quốc là đất nước; có đất và có nước, thì mới thành Tổ quốc Có đất lại có nước thì dân giàu nước mạnh Nhiệm vụ của chúng ta là làm cho đất với nước điều hoà với nhau để nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội"

Một số người cho rằng, nước trong thế kỷ XXI sẽ quý như dầu mỏ trong thế kỷ XX Nói như vậy không sai, nhưng chưa phải hoàn toàn đúng vì dầu mỏ tác động chủ yếu về năng lượng, còn nước thì tác động đến mọi mặt của cuộc sống vật chất và tinh thần của con người Tài nguyên nước ngọt tương đối phong phú, đa dạng, nhưng lại rất phức tạp về tính chất và đang có những diễn biến mà nếu không được quản lý tích cực và kịp thời sẽ đem lại những khó khăn to lớn cho cuộc sống của người dân và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Hay nói cách khác, không có dầu mỏ, con người vẫn có thể sống, tồn tại và thậm chí là phát triển theo hướng thích nghi riêng của họ, còn nếu không có nước thì sẽ không có sự sống và nếu thiếu nước thì chúng ta không có 1 loại tài nguyên nào khác để thay thế, giống như có thể dùng nhiều loại nhiên liệu hoặc năng lượng khác để thay thế dầu mỏ Chúng ta đã thường nói, Không gian, thời gian; nước; không khí và thức ăn là những yếu tố tối thiểu để con người có thể tồn tại: Để có thể tồn tại được trong 1 ngày (24h), con người cần tối thiểu: - Không gian, thời gian 24 giờ

- 4 m3 không khí sạch để thở

- 2 lít nước sạch để ăn và uống

- 2000 - 2400 kcalo năng lượng lấy qua thức ăn Tóm lại, nước có các vai trò quan trọng sau:

− Nước là thành phần cấu tạo nên sinh quyển và không thể thiếu trong tất cả các cơ thể sống (nước chiếm 70% khối lượng cơ thể con người), là yếu tố chủ yếu của HST, là nhu cầu cơ bản của mọi sự sống trên TĐ, nước rất cần thiết cho các hoạt động KT-XH của loài người Nước là 1 trong 4 nguồn lực cơ bản để PT KT-XH, là một trong các nhân tố quyết định chất lượng cuộc sống của con người

− Mỗi con người để có thể tồn tại thì bên cạnh cần không gian sống, không khí để hít thở, thức ăn, họ còn cần tối thiểu 2 lít nước sạch để uống, chưa kể đến nước cho sinh hoạt (200 lít/ người/ ngày), nước cho nông nghiệp (1500 lít/ người/ ngày), cho cả công nghiệp (2000 l/ng/ngày)

− Mặc dù lượng nước trên TĐ là khổng lồ, song lượng nước ngọt cho phép con người sử dụng chỉ chiếm 1/100.000 Hơn nữa sự phân bố TN nước lại rất không đều theo thời gian và giữa các vùng, vì thế nước trở nên 1 dạng tài nguyên đặc biệt, ngày càng quan trong và khan hiếm khi nhu cầu về nước ngày càng tăng Nước là loại tài nguyên rất cần được bảo vệ và sử dụng hợp lý

− Bên cạnh đó, nước trong chu trình của nó còn giúp con người: (1) làm sạch nguồn nước bẩn cung cấp trở lại cho các nhu cầu ngày càng tăng, (2) Phân bố lại nhiệt trên toàn hành tinh, thu bớt nhiệt từ các vùng nhiệt đới khi nước bốc hơi và giải phóng lượng nhiệt đã hấp thu khi mưa rơi xuống các vùng xa xích đạo Năng lượng cho chu trình nước tích luỹ và phân phối chiếm tới 1/4 tổng năng lượng mặt trời tới TĐ

a Yêu cầu dùng nớc và phân loại

Khai thác nguồn nước có thể theo những mục đích khác nhau: cấp nước tưới, cấp nước cho công nghiệp, cấp nước cho sinh hoạt, phát điện, giao thông thủy, du lịch, cải tạo môi trường, phòng chống lũ

lụt, tiêu úng, lấn biển v.v , có thể gọi chung là các yêu cầu về nước Yêu cầu về nước rất đa dạng và có

thể chia thành các nhóm như sau

* Yêu cầu cấp nước: Bao gồm các dạng sau:

- Cấp nước tưới

- Cấp nước sinh hoạt

- Cấp nước phục vụ công nghiệp

Các hộ dùng nước loại này tiêu hao một lượng nước khá lớn và hầu như không hoàn lại hoặc hoàn lại rất

ít nên thường gọi là các hộ tiêu hao nước

* Yêu cầu sử dụng nước: Bao gồm các dạng sau:

- Khai thác thuỷ năng

- Giao thông thuỷ

- Phát triển du lịch

- Nuôi trồng thuỷ sản

Trang 7

Các hộ dùng nước loại này không tiêu hao hoặc tiêu hao rất ít lượng nước mà nó được sử dụng nên thường gọi là các hộ sử dụng nước

* Yêu cầu về cải tạo và bảo vệ môi trường: Bao gồm các dạng sau:

- Phòng chống lũ lụt và tiêu thoát nước

- Xử lý nước thải và chống ô nhiễm nguồn nước

- Cải tạo môi trường sinh thái

- Chỉnh trị sông và bảo vệ bờ

b Lợi ích cấp nước

Cho tưới và tiêu úng:

- Sản lượng lúa gạo tăng lên do có công trình cấp nước tưới và làm tăng thu nhập quốc dân

- Làm tăng thu nhập quốc dân từ việc xuất khẩu lúa gạo

- Làm tăng sản phẩm cho xã hội do sự thay đổi tập quán canh tác và thay đổimngành nghề sản xuất của khu vực di dân

- Lợi ích mang lại do giảm sức lao động cho người trồng lúa ở vùng được cấp nước Người nông dân

sẽ có cơ hội làm những nghề phụ khác làm tăng sản phẩm xã hội

- Tăng sức sản xuất của các lĩnh vực có liên quan: sản xuất xi măng, sắt thép, công nghiệp chế biến Ngoài ra còn có những lợi ích không tính được bằng tiền Đó là các vấn đề về cải thiện điều kiện môi trường, lợi ích xã hội khác mang lại

Cho phát triển thuỷ năng

- Lợi ích do cung cấp điện cho các ngành kinh tế mang lại: tăng năng suất lao động, tăng trưởng các ngành kinh tế, tăng cơ hội việc làm góp phần tăng thu nhập của nền kinh tế quốc dân

- Làm hạ giá thành điện năng do phát triển thủy năng và giảm ngoại tệ do nhập khẩu điện năng

- Làm thay đổi chế độ dòng chảy vùng hạ du có lợi cho sản xuất nông nghiệp, giao thông thủy v.v

Cho phát triển vận tải thuỷ

- Tăng khả năng vận chuyển lưu thông hàng hoá trên thị trường

- Làm giảm giá thành vận chuyển hàng hoá

- Tạo nhiều công ăn việc làm cho xã hội

Cho phòng lũ

- Làm giảm thiệt hại do lũ lụt gây ra

- Ổn định kinh tế vùng lũ, tạo điều kiện phát triển kinh tế vùng lũ

- Giảm thiệt hại do cải tạo môi trường vùng lũ

- Cải thiện đời sống nhân dân vùng ngập lũ

- Cải thiện môi trường văn hoá xã hội vùng lũ

Trên đây là những nội dung chính khi phân tích lợi ích của dự án quy hoạch

Ngoài ra các lợi ích khác như phát triển du lịch, nuôi trồng thủy sản, cải tạo môi trường, thay đổi có lợi

về môi trường sinh thái và các lợi ích khác cũng được phân tích tuỳ thuộc vào từng dự án cụ thể

Bảng 4 : Lượng nước dưới đất phát sinh và sử dụng ở một số quốc gia (năm 2005)

Trang 8

c Nhu cầu nước sinh thái

Theo quan điểm phát triển bền vững, khai thác nguồn nước phải đảm bảo không làm cạn kiệt, suy thoái nguồn nước và đảm bảo cân bằng sinh thái Những biện pháp khai thác nguồn nước nhằm mục đích phát triển kinh tế xã hội và phục vụ đời sống của con người có thể làm thay đổi đáng kể nguồn nước cả về lượng, chất lượng và động thái của nó dẫn đến sự thay đổi cân bằng nước trên lưu vực sông

Sự thay đổi cân bằng nước tự nhiên có thể có lợi hoặc có hại cho môi trường sinh thái Bởi vậy, phát triển nguồn nước phải hướng tới sự thay đổi có lợi về cân bằng sinh thái của lưu vực sông Nhu cầu nước sinh thái được coi là một trong những tiêu chí đánh giá các dự án phát triển nguồn nước

Nhu cầu nước sinh thái được xem xét theo các mục đích như sau:

- Đảm bảo cân bằng sinh thái tự nhiên

- Tái tạo một phần MT sinh thái do tác động xấu của việc sử dụng nước của con người

- Cải tạo hoặc tạo ra một môi trường sinh thái mới có lợi cho con người

Theo quan điểm hiện đại, mục đích khai thác tài nguyên nước không chỉ vì mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà cần hướng tới sự đảm bảo chất lượng môi trường sống đối với con người Bởi vậy, nhu cầu nước cho sinh thái được ưu tiên hàng đầu trong các quy hoạch và quản lý nguồn nước Việc xác định yêu cầu nước sinh thái thường rất khó khăn và phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của bài toán quy hoạch đặt ra Hiện nay, trên thế giới người ta nói nhiều đến khái niệm "ngưỡng khai thác" Ở Việt Nam, vấn

đề ngưỡng khai thác cũng đã được đề cập đến trong những năm gần đây, tuy nhiên chưa có một chuẩn mực cho những quy định về ngưỡng khai thác Đối với lưu vực sông có mức độ khai thác lớn ở thượng lưu cần quy định lưu lượng tối thiểu cần xả xuống hạ du trong thời kỳ mùa kiệt Hiện nay, ở nước ta thường chọn lưu lượng này tương ứng với một tần suất quy định nào đó Tần suất này hiện nay thường lấy bằng 90%

d Nh÷ng th¸ch thøc vÒ n−íc trong t−¬ng lai

Sự gia tăng dân số và sự phát triển kinh tế xã hội trong thế kỷ 21 sẽ làm gia tăng mạnh nhu cầu

dùng nước và đồng thời tác động mạnh mẽ đến tài nguyên nước Tài nguyên nước (xét cả về lượng và chất) liệu có đảm bảo cho sự phát triển bền vững kinh tế xã hội trong hiện tại và tương lai hay không? Đây là một vấn đề lớn cần được quan tâm Dưới đây xin nêu một số thách thức chủ yếu

Trước hết, sự gia tăng dân số sẽ kéo theo sự gia tăng về nhu cầu nước sạch cho ăn uống và lượng nước cần dùng cho sản xuất Đồng thời, tác động của con người đến môi trường tự nhiên nói chung và tài nguyên nước nói riêng sẽ ngày càng mạnh mẽ, có thể dẫn đến những hậu quả rất nghiêm trọng Ở nước ta, mức bảo đảm nước trung bình cho một người trong một năm từ 12.800 m3/người vào năm

1990, giảm còn 10.900 m3/người vào năm 2000 và có khả năng chỉ còn khoảng 8500 m3/người vào khoảng năm 2020 Tuy mức bảo đảm nước nói trên của nước ta hiện nay lớn hơn 2,7 lần so với Châu Á (3970 m3/người) và 1,4 lần so với thế giới (7650 m3/người), nhưng nguồn nước lại phân bố không đều giữa các vùng Do đó, mức bảo đảm nước hiện nay của một số hệ thống sông khá nhỏ: 5000 m3/người đối với các hệ thống sông Hồng, Thái Bình, Mã và chỉ đạt 2980 m3/người ở hệ thống sông Đồng Nai Theo Hội Nước Quốc tế (IWRA), nước nào có mức bảo đảm nước cho một người trong một năm dưới

4000 m3/người thì nước đó thuộc loại thiếu nước và nếu nhỏ hơn 2000 m3/người thì thuộc loại hiếm nước Theo tiêu chí này, nếu xét chung cho cả nước thì nước ta không thuộc loại thiếu nước, nhưng không ít vùng và lưu vực sông hiện nay đã thuộc loại thiếu nước và hiếm nước, như vùng ven biển Ninh Thuận - Bình Thuận, hạ lưu sông Đồng Nai Đó là chưa xét đến khả năng một phần đáng kể lượng nước được hình thành ở nước ngoài sẽ bị sử dụng và tiêu hao đáng kể trong phần lãnh thổ đó Hơn nữa, nguồn nước sông tự nhiên trong mùa cạn lại khá nhỏ chỉ chiếm khoảng 10 - 40% tổng lượng nước toàn năm, thậm chí bị cạn kiệt và ô nhiễm, nên mức bảo đảm nước trong mùa cạn nhỏ hơn nhiều so với mức bảo đảm nước trung bình toàn năm

Nhu cầu dùng nước tăng lên mạnh mẽ: Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và sự gia tăng dân

số, nhu cầu dùng nước cho sinh hoạt, sản xuất công nông nghiệp sẽ tăng lên mạnh mẽ trong tất cả các vùng Theo kết quả đánh giá năm 1999, tổng lượng nước cần dùng của cả nước chiếm khoảng 8,8% tổng lượng dòng chảy năm tương ứng với tần suất 75%, tăng lên tới 12,5% vào năm 2000 và 16,5% vào khoảng năm 2010 Tổng lượng nước dùng để tưới cho cây trồng khá lớn, từ 41 km3 (chiếm 89,8%) năm

1985, tăng lên 46,9 km3 (năm 1990) và 60 km3 năm 2000 (chiếm 85%) Lượng nước cần dùng trong mùa cạn rất lớn, nhất là lượng nước dùng cho nông nghiệp Tổng lượng nước cần dùng trong mùa cạn

Trang 9

năm 2000 đạt tới 70,7 km3, chiếm khoảng 42,4% tổng lượng nước có khả năng cung cấp trong mùa cạn (bao gồm nước sông, nước dưới đất và nước do các hồ chứa điều tiết), hay 51% tổng lượng dòng chảy mùa cạn tương ứng với tần suất 75% Vào khoảng năm 2010, tổng lượng nước cần dùng trong mùa cạn

có thể tới 90 km3, chiếm khoảng 54% tổng lượng nước có thể cung cấp hay 65% tổng lượng dòng chảy trong mùa cạn tương ứng với tần suất 75% Đặc biệt, ở không ít vùng và lưu vực sông, lượng nước cần dùng có thể gấp vài lần tổng lượng nước có thể cung cấp, tức là chẳng những vượt quá xa ngưỡng lượng nước cần có để duy trì sinh thái mà còn không có nguồn nước tại chỗ để cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất

Cạn kiệt và ô nhiễm nguồn nước: Như trên đã nêu, sự gia tăng dân số và các hoạt động của con

người sẽ ngày càng tác động mạnh mẽ đến môi trường tự nhiên nói chung và môi trường nước nói riêng Những hoạt động tự phát, không có quy hoạch của con người như chặt phá rừng bừa bãi, canh tác nông lâm nghiệp không hợp lý và thải chất thải bừa bãi vào các thuỷ vực đã và sẽ gây nên những hậu quả rất nghiêm trọng, làm cho nguồn nước bị cạn kiệt, bị ô nhiễm, hạn hán có khả năng càng khốc liệt Nguy cơ thiếu nước sạch càng trầm trọng, nhất là vào mùa cạn ở các vùng mưa ít

Tác động của biến đối khí hậu toàn cầu: Sự biến đổi của khí hậu toàn cầu đã, đang và sẽ tác

động mạnh mẽ đến tài nguyên nước Theo đánh giá bước đầu, vào khoảng năm 2070, với kịch bản nhiệt

độ không khí tăng thêm 2,5 - 4,50C, lượng dòng chảy sông ngòi cũng sẽ biến đổi tuỳ theo mức độ biến đổi của lượng mưa, nếu lượng mưa giảm 10% thì dòng chảy năm có thể giảm 17 - 53% đối với kịch bản nhiệt độ không khí tăng 2,50C và giảm 26 - 90% với kịch bản nhiệt độ không khí tăng 4,50C Mức độ biến đổi mạnh nhất xẩy ra ở Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ Ngoài ra, trái đất nóng lên sẽ làm cho nước biển có thể dâng cao thêm 0,3 - 1,0 m và do đó nhiều vùng thấp ở đồng bằng sông Cửu Long, vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ và ven biển Trung Bộ sẽ bị ngập chìm trong nước biển Nếu nước biển dâng 1m, diện tích ngập lụt là 40.000 km2, chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long, 1700 km2 vùng đất ngập nước cũng bị đe doạ và 17 triệu người sẽ chịu hậu quả của lũ lụt

Cuối cùng, sự cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước cũng như sự khan hiếm nguồn nước sẽ càng trầm

trọng nếu không có các biện pháp quản lý tốt tài nguyên nước Cũng vì lẽ đó mà người ta cho rằng,

khủng hoảng nước hiện nay không chỉ do nước quá ít không đủ để thoả mãn nhu cầu của con người mà còn do sự quản lý nguồn nước quá kém gây nên hàng tỷ người và môi trường gánh chịu hậu quả

Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc công bố ngày 5/3/2003 được thảo luận tại diễn đàn thế giới lần thứ 3 về nước, tổ chức tại Kyoto (Nhật Bản) từ ngày 16-23/3/2003 cho thấy, nguồn nước sạch toàn cầu đang cạn kiệt một cách đáng lo ngại do sự bùng nổ dân số, tình trạng ô nhiễm môi trường cùng với nhiệt

độ trái đất nóng lên sẽ làm mất đi khoảng 1/3 nguồn nước sử dụng trong 20 năm tới Hiện nay đã có khoảng 12.000 km3 nước sạch trên thế giới bị ô nhiễm, hàng năm có hơn 2,2 triệu người chết do các căn bệnh có liên quan đến nguồn nước bị ô nhiễm và điều kiện vệ sinh nghèo nàn

Tóm lại, khan hiếm và thiếu nước là mối đe doạ rất nghiêm trọng đối với sự tồn tại của con người trong tương lai Vì lẽ đó, cần có các giải pháp quản lý, khai thác và bảo vệ tốt tài nguyên nước Trước hết, cần phải củng cố, bổ sung mạng lưới điều tra quan trắc tài nguyên nước, bao gồm cả nước mặt và nước dưới đất, cả lượng và chất, hình thành mạng lưới quan trắc điều tra tài nguyên nước thống nhất trong phạm vi cả nước, tiến hành kiểm kê đánh giá tài nguyên nước trong các lưu vực sông, các vùng và toàn lãnh thổ Trên cơ sở kiểm kê đánh giá tài nguyên nước và cân bằng kinh tế nước mà xây dựng chiến lược, chính sách phát triển bền vững tài nguyên nước quốc gia nói chung và cho các lưu vực nói riêng Cần thực hiện nghiêm chỉnh Luật Tài nguyên Nước và đẩy mạnh hoạt động của Hội đồng Tài nguyên Nước Quốc gia và Ban quản lý lưu vực các sông

II CÁC DẠNG TÀI NGUYÊN NƯỚC

1 Tài nguyên nước mặt

Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước biển Nguồn nước mặt, thường được gọi là tài nguyên nước mặt, tồn tại thường xuyên hay không thường xuyên trong các thuỷ vực ở trên mặt đất như: sông ngòi, hồ tự nhiên, hồ chứa (hồ nhân tạo), đầm lầy, đồng ruộng và băng tuyết Tài nguyên nước sông là thành phần chủ yếu và quan trọng nhất, được sử dụng rộng rãi trong đời sống và sản xuất Do đó, tài nguyên nước nói chung và tài nguyên nước mặt nói riêng là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ hay một quốc gia

Trang 10

Trên thế giới, tài nguyên nước mặt được sử dụng chủ yếu nhất là nước sông Trong suốt quá trình hình thành và phát triển xã hội loài người, sông ngòi đóng một vai trò rất quan trọng, từ nền kinh tế nguyên thuỷ đến nền kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, và cho đến nay chúng ta vẫn thấy các thành phố lớn của thế giới hầu hết nằm bên các dòng sông

1.1 Mét sè kh¸i niÖm:

a Hệ thống sông ngòi

- Sông ngòi là dòng chảy của nước và các vật liệu mang theo, được hình thành dưới tác động bào mòn

của dòng chảy do nước mưa hoặc tuyết tan (Sông là một dải lãnh thổ trên đó có dòng nước chảy tương đối lớn và tương đối ổn định)

- Hệ thống sông: Là một tập hợp những sông suối gồm một sông chính và các phụ lưu, phân lưu lớn

nhỏ có liên quan chặt chẽ với nhau về dòng chảy và lưu vực tập trung nước

Ví dụ: HT sông Hồng: sông Hồng và các sông Đà, Thao, Lô, Gâm…

HT sông Mã: sông Mã và các sông Chu, Âm, Bưởi

- Phân loại sông:

o HT sông hình nan quạt

o HT sông hình lông chim

o HT sông hình cành cây

o HT sông hình song song

Một hệ thống sông lớn thường có hình dạng hỗn hợp

- Phân cấp hệ thống sông:

o Sông chính: là dòng sông có kích thước dài nhất và có lượng nước chảy trong sông lớn nhất

o Sông phụ: Nhập lưu (là dòng sông phụ cung cấp nước cho hệ thống), (phụ lưu)

Phân lưu: là dòng sông phụ lấy nước của hệ thống, (Chi lưu)

Hình 3: Dòng chính với các phụ lưu và chi lưu Hình 4: Một phần lưu vực sông Mêkông

- Dòng chảy sông ngòi: Thuật ngữ “Dòng chảy” được dùng để chỉ khả năng cung cấp nước của một

lưu vực sông nào đó trong một khoảng thời gian nhất định

Phân loại dòng chảy sông ngòi: * Theo nguồn gốc: Dòng chảy mặt; Dòng chảy ngầm

* Theo thời gian: Dòng chảy năm; Dòng chảy lũ; Dòng chảy kiệt

Hình 5: Lưu vực sông và đường phân lưu Hình 6: Sông Hồng và diện tích lưu vực

Trang 11

- Lưu vực của một con sụng là phần mặt đất mà nước trờn đú sẽ chảy ra sụng (kể cả nước mặt và nước ngầm)

- Đường chia nước của lưu vực sụng (đường phõn lưu) là đường cong giới hạn vựng cấp nước cho

sụng Cú hai loại: đường chia nước mặt và đường chia nước ngầm

o Việc xỏc định đường chia nước ngầm là rất khú nờn thụng thường người ta lấy đường chia

nước mặt làm đường phõn lưu

o Lưu vực kớn: là lưu vực cú đường chia nước mặt trựng với đường chia nước ngầm

o Lưu vực hở: là lưu vực cú đường chia nước mặt khụng trựng với đường chia nước ngầm

- Diện tớch lưu vực sụng: Là diện tớch khu vực được khống chế bởi đường phõn lưu Ký hiệu: F Đơn

vị: km2

- Chiều dài sụng: Là chiều dài đường nước chảy trờn sụng chớnh tớnh từ nguồn đến mặt cắt cửa ra lưu

vực Ký hiệu: Ls Đơn vị: km

- Chiều dài lưu vực: Là chiều dài đường gấp khỳc nối từ cửa ra qua cỏc điểm giữa của cỏc đoạn thẳng

cắt ngang lưu vực (vuụng gúc với trục sụng chớnh) cho đến điểm xa nhất của lưu vực Ký hiệu: Llv Đơn vị: km

b Mưa

- Mưa: Là hiện tượng nước ở thể lỏng hoặc thể rắn từ cỏc tầng khớ quyển rơi xuống bề mặt đất

- Quỏ trỡnh hỡnh thành mưa: Khụng khớ ẩm bị lạnh đi xuống dưới điểm sương; Hơi nước quỏ bóo hũa

ngưng kết lại thành hạt; Cỏc hạt lớn lờn và khi trọng lượng thắng lực ma sỏt của tầng khớ quyển và tốc độ cỏc luồng khụng khớ đi lờn mà rơi xuống thành mưa

- Phõn loại mưa: * Theo tớnh chất của mưa: Mưa rào; Mưa dầm; Mưa phựn

* Theo nguyờn nhõn làm khối khụng khớ thăng lờn cao:

- Mưa đối lưu; - Mưa bóo

- Mưa địa hỡnh; - Mưa giú xoỏy

- Lượng mưa: là lớp nước mưa đo được tại một trạm quan trắc trờn một đơn vị diện tớch trong một thời

gian nào đú Ký hiệu: HT Đơn vị: mm Cú: Lượng mưa trận, Lượng mưa ngày, Lượng mưa thỏng, Lượng mưa năm, Lượng mưa TB năm

- Cường độ mưa: Là lượng mưa rơi trong một đơn vị thời gian Ký hiệu: at Đơn vị: mm/h, mm/phỳt

- Cỏc phương phỏp tớnh lượng mưa bỡnh quõn lưu vực:

X f

i i

n i i i

1 1

F

X X f X

n

i

i i i

đẳng trị có lượng mưa

tương ứng là Xi và Xi+1

Trang 12

Về mặt nông nghiệp, tuần hoàn nước quan trọng nhất là tuần hoàn lượng nước mưa Lượng mưa

ở Việt Nam khoảng 1920 mm/năm, nhưng khác biệt rất lớn giữa các vùng Ví dụ lượng mưa cao nhất tại huyện Bắc Quang (Hà Giang): 4.802 mm, lượng mưa thấp nhất tại Phan Rí - Mũi Dinh (Ninh Thuận):

600 mm trong năm Ðối với sản xuất cây trồng, sự phân bố mùa mưa quan trọng hơn lượng mưa Ở vùng mưa nhiều, nếu phân bố mùa mưa không khớp với mùa cần nước của cây trồng thì dễ dẫn đến hạn hán Tính không đều của phân bố mưa là một trong những đặc trưng tuần hoàn nước, không thể tránh khỏi Ðất, với tư cách là vật hút chứa nước, có tác dụng quan trọng về mặt làm dịu tính không đều của tuần hoàn nước Nước mà cây trồng hút được từ đất (nước hữu hiệu) thường biểu thị bằng trị số lấy lượng giữ nước lớn nhất của đất trừ đi lượng nước cây trồng không hút được (hệ số héo) Hình 7 cho thấy, nước hữu hiệu khác nhau tùy loại đất, đất thịt, đất thịt pha sét giữ được nhiều nước hữu hiệu hơn đất cát hay đất sét Nhưng phản ứng của cây trồng đối với lượng nước trong đất dù trong phạm vi nước hữu hiệu cũng vẫn có khác nhau Hình 25.3 cho thấy, thực vật trước khi héo, quang hợp thấp xuống rõ rệt, đó là do lượng nước trong đất ít đi, hút nước và thoát hơi nước ở trạng thái không cân bằng, khí khổng đóng kín lại

Mưa và lượng nước trong đất: Tổng lượng nước trên quả đất ước tính khoảng 165.000 x 109 acrơ

- fut (acrơ = 0,047ha; fut = 0,3048m), trong đó nước ngọt chiếm khoảng 7% Phần lớn nước ngọt là nước ngầm và băng tuyết ở hai cực quả đất, cộng tất cả nước sông ngòi, ao hồ và nước trong đất dùng được trong nông nghiệp chỉ bằng khoảng 0,08% tổng lượng và chỉ bằng khoảng 0,05% lượng mưa hàng năm (bảng 5)

Hình 7: Quan hệ giữa loại đất và khả năng giữ nước của đất

Trang 13

Bảng 5 Ước tính lượng nước của thuỷ quyển quả đất (Ackerman, 1959)

1.2 Tài nguyên nước mặt Việt Nam:

Tài nguyên nước mặt (dòng chảy sông ngòi) của một vùng lãnh thổ hay một quốc gia là tổng của lượng dòng chảy sông ngòi từ ngoài vùng chảy vào và lượng dòng chảy được sinh ra trong vùng (dòng chảy nội địa)

Tài nguyên nước mặt của Việt Nam tương đối phong phú, chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy của các sông trên thế giới, trong khi đó diện tích đất liền nước ta chỉ chiếm khoảng 1,35% của thế giới Tuy nhiên, một đặc điểm quan trọng của tài nguyên nước mặt là những biến đổi mạnh mẽ theo thời gian (dao động giữa các năm và phân phối không đều trong năm) và còn phân bố rất không đều giữa các

hệ thống sông và các vùng

Tổng lượng dòng chảy năm của sông Mê Kông bằng khoảng 500 km3, chiếm tới 59% tổng lượng dòng chảy năm của các sông trong cả nước, sau đó đến hệ thống sông Hồng 126,5 km3 (14,9%), hệ thống sông Đồng Nai 36,3 km3 (4,3%), sông Mã, Cả, Thu Bồn có tổng lượng dòng chảy xấp xỉ nhau, khoảng trên dưới 20 km3 (2,3 - 2,6%), các hệ thống sông Kỳ Cùng, Thái Bình và sông Ba cũng xấp xỉ nhau, khoảng 9 km3 (1%), các sông còn lại là 94,5 km3 (11,1%)

Một đặc điểm quan trọng nữa của tài nguyên nước sông của nước ta là phần lớn nước sông (khoảng 60%) lại được hình thành trên phần lưu vực nằm ở nước ngoài, trong đó hệ thống sông Mê Kông chiếm nhiều nhất (447 km3, 88%) Nếu chỉ xét thành phần lượng nước sông được hình thành trong lãnh thổ nước ta, thì hệ thống sông Hồng có tổng lượng dòng chảy lớn nhất (81,3 km3) chiếm 23,9%, sau đó đến hệ thống sông Mê Kông (53 km3, 15,6%), hệ thống sông Đồng Nai (32,8 km3, 9,6%)

Bảng 6: Thống kê diện tích lưu vực 10 sông lớn ở Việt Nam

TT Lưu vực sông Diện tích tổng cộng (km2) Phần diện tích lưu vực ở Việt Nam

Nguồn: Đánh giá tổng quan ngành thủy lợi, Báo cáo chính do WB, ADB, FAO, UNDP, IWRP lập, 1996

Việt Nam là một trong những nước có hệ thống sông ngòi chằng chịt là một thuận lợi cho việc cung cấp nguồn nước mặt Tổng lượng nước bình quân hàng năm chảy trên các sông suối Việt Nam kể

Trang 14

cả từ ngoài lãnh thổ chảy vào theo số liệu đánh giá của WB và UNDP (Việt Nam - Đánh giá tổng quan ngành thủy lợi, Báo cáo chính do WB, ADB, UNDP và IWRP lập, 1996) là 879 tỷ m3, trong đó 75% lượng nước này thuộc lưu vực sông Hồng và sông Mê Kông Theo kết quả nghiên cứu của đề tài KC-12 (1995) con số này là 835 tỷ m3 So với các nước láng giềng, lượng nước có dùng trên đầu người (lượng nước chảy hàng năm của một nước/ dân số) ở nước ta thuộc loại cao trong khu vực Và theo FAO, tổng lượng dũng chảy sụng ngũi trung bỡnh hàng năm của nước ta bằng khoảng 847 km3, trong đó tổng lượng ngoài vùng chảy vào là 507 km3 chiếm 60% và dũng chảy nội địa là 340 km3, chiếm 40%

Việt Nam hầu như nằm ở cuối hạ lưu các sông lớn: Sông Hồng, sông Mê Kông, sông Mã, sông

Cả, sông Đồng Nai Chẳng hạn: Sông Mê Kông có 90% diện tích lưu vực nằm ở nước ngoài và cũng 90% luợng nước sông Mê Kông chảy vào Việt Nam từ nước ngoài; Sông Hồng có gần 50% diện tích lưu vực nằm ở Trung Quốc và 30% lượng nước hàng năm bắt nguồn từ Trung quốc Do đó, khả năng có nước, đặc biệt là mùa khô, khi các nước ở vùng thượng nguồn gia tăng sử dụng nguồn nước là điều nằm ngoài tầm kiểm soát của Việt Nam

Việt Nam là một trong những nước nằm trong vùng nhiệt đới chịu tác động mạnh mẽ của các hình thế thời tiết gây mưa lớn Vì vậy, tình trạng lũ lụt là mối đe dọa thường xuyên đối với các vùng dân

cư nằm ở hạ lưu các sông lớn, đặc biệt là vùng đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng sông Cửu Long là hai vùng đông dân nhất Việt Nam nằm ở vùng cửa sông của hai sông lớn là sông Hồng và sông Mê Kông Hàng năm, lũ của hai sông luôn đe dọa cuộc sống của hàng triệu người vùng châu thổ hai sông này Lũ quét cũng là mối hiểm hoạ đối với các vùng dân cư thuộc các tỉnh miền núi

Do đặc điểm địa hình, đặc điểm sông ngòi và sự hình thành lũ của các vùng khác nhau nên công tác quy hoạch phòng chống lũ của các vùng cũng có những đặc thù khác nhau ở nước ta có đến 70% số dân nằm trong vùng thường xuyên bị đe dọa bởi lũ lụt Bởi vậy, phòng chống lũ là một trong những vấn

đề được nhà nước quan tâm đặc biệt Do đặc điểm khí hậu nên sự phân bố dòng chảy trong năm rất không đều Tổng lượng dòng chảy trong 3 đến 5 tháng mùa lũ hiếm khoảng từ 70% đến 80% lượng dòng chảy trong năm, trong khi đó trong suốt 7 đến 9 tháng mùa kiệt tỷ lệ này chỉ vào khoảng 20% đến 30%

Tình trạng ô nhiễm nước mặt trong những năm gần đây gia tăng theo nhịp điệu phát triển công nghiệp Tình trạng ô nhiễm nguồn nước mặt rõ ràng nhất ở các khu đô thị như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh Tốc độ phát triển kinh tế cao là nguy cơ làm xấu đi chất lượng nguồn nước trên các sông suối Bên cạnh đó, thái độ quá ưu tiên việc phát triển kinh tế, đặt vấn đề môi trường và phát triển bền vững xuống hàng thứ yếu, sự hạn chế về năng lực và yếu kém đi cùng thiếu trách nhiệm trong công tác quản

lý tài nguyên và môi trường cũng đã góp phần làm gia tăng những hiểm hoạ về suy thoái chất lượng nước, đặc biệt ở các thành phố lớn Hiện tượng xâm nhập mặn vùng ven biển cũng là một trong những vấn đề chính cần phải giải quyết đối với vùng đồng bằng ven biển, đặc biệt là đồng bằng sông Cửu Long

1.3 Khai thác TN nước mặt:

a Đắp đập, xây hồ trữ nước:

Từ xa xưa con người đã biết đắp đập trữ nước, chủ yếu dùng cho sinh hoạt và nông nghiệp Dấu tích các đập ít nhất từ 3000 năm trước công nguyên đã tìm thấy ở Jordan, Ai Cập và vùng Trung Đông Nhưng chỉ đến nửa sau của thế kỷ 20, xây đập mới trở thành một trào lưu mạnh mẽ do nhu cầu phát triển công nghiệp, thuỷ điện và phòng chống lũ lụt Theo thống kê năm 1998 của Uỷ ban đập nước thế giới (WCD), nhân loại đã xây dựng 47.655 đập nước lớn ở trên 150 nước Năm nước có nhiều đập nhất là Trung Quốc 22.000 cái, Hoa Kỳ 6.575 cái, An Độ 4.291cái, Nhật Bản 2.675 cái và Tây Ban Nha 1.196 cái Theo khu vực, đứng đầu là châu á với 31340 cái, tiếp theo là Tây Âu 4277 cái, châu Phi 1269 cái, Đông Âu 1203 cái, Nam Mỹ 979 cái, Bắc và Trung Mỹ 801 cái, châu úc và các nước châu á gần cạnh 577 cái ở lân cận Việt Nam, ngoài Trung Quốc, Thái Lan có 204 cái, Lào 1 cái

và Campuchia 1cái Thời gian xây dựng các đập thường 5-10 năm và trung bình mỗi năm thế giới có thêm 160-320 đập mới Việc xây đập tăng nhanh đến mức chóng mặt vào những năm 70, khi mỗi ngày có 2 hoặc 3 đập lớn được hoàn thành ở nơi nào đó trên thế giới Vào những năm 90, trung bình mỗi năm chi phí 32-46 tỉ USD để xây dựng các đập lớn, mà bốn phần năm số đập ở các nước đang phát triển với kinh phí đầu tư 22-31 tỉ USD

b Lợi ích to lớn cña c¸c đập trữ nước:

Trang 15

Trong thế kỷ 20, các đập lớn được coi là một trong những công cụ hiệu quả nhất đối với việc sử dụng và quản lý tài nguyên nước Hơn 45 nghìn đập lớn đã thực sự đóng vai trò quan trọng trợ giúp nguồn nước cho cộng đồng và phát triển kinh tế, sản xuất lương thực, cung cấp điện năng, phòng chống

lũ lụt và dùng trong sinh hoạt ở châu á, mục tiêu sử dụng đập chứa bao gồm tưới 63%, thuỷ điện 7%, trữ nước 2%, ngăn ngừa lũ lụt 2%, đa mục tiêu 26% và các mục đích khác 4%

Các đập chứa đáp ứng một nhu cầu rất lớn nước tưới và sinh hoạt Một nửa số đập chứa dùng cho tưới hoặc ban đầu là tưới và 30-40% của 271 triệu hecta đất được tưới nhờ vào đập, đóng góp 12-16% tổng lương thực thế giới Dân số thế giới trên 6 tỷ và mỗi người cần có 50lít nước ngọt sinh hoạt mỗi ngày hay hơn 18,25m3/năm Ngày nay, mỗi năm nhân loại cần 3800km3 nước ngọt, gấp hai lần so với 50 năm trước Trong đó, 67% nước cho nông nghiệp, 19% cho công nghiệp, 9% cho dân dụng và sinh hoạt Vào năm 2025 sẽ có 3,5 tỷ người sống ở vùng thiếu nước, gấp 6,5 lần hiện nay

Lũ lụt là một trong những thiên tai kinh hoàng nhất của nhân loại Vào những năm từ 1972 đến

1996, lũ tác động đến cuộc sống của hàng trăm triệu người, gây hại hơn bất kỳ một tai hoạ nào, kể cả chiến tranh, hạn hán và nạn đói Với số lượng đập trữ nước lớn hiện có, chúng đã đóng vai trò tích cực phòng chống lũ lụt và góp phần giảm nhẹ thiên tai này

Nhu cầu điện năng vẫn còn rất lớn Thế giới có khoảng 2 tỷ ngưòi nghèo ở nông thôn và ở cả thành thị chưa được dùng điện Thuỷ điện đã cung cấp 19% điện năng ở hơn 150 nước trên thế giới, trong đó có 24 nước dựa 90% vào nguồn điện năng này Phát triển thuỷ năng hiện đang chiếm tỷ trọng lớn trong hệ thống năng lượng của Việt Nam Tỷ trọng này còn giữ trong nhiều năm nữa Hiện nay, các nhà máy thủy điện Hoà Bình, Thác Bà, Đa Nhim, Trị An, Yaly, Thác Mơ đã được xây dựng Các hồ chứa phát điện Tuyên Quang, Sê San 3, Bản Vẽ đang được xây dựng; thủy điện Sơn La và một số công trình thuỷ điện khác đang chuẩn bị khởi công và một loạt các nhà máy thủy điện khác sẽ được xây dựng trong vòng 15 năm tới Trong bảng (1-3) thống kê một số công trình thủy điện lớn đã và sẽ được xây dựng trong những năm tới

Bảng 1-3: Một số công trình thủy điện hiện có và dự kiến đợc xây dựng

Công trình hiện có hoặc đang xây dựng Các công trình

Công trình Lưu vực Công suất lắp máy (MW) Công trình Lưu vực Công suất lắp máy (MW) Hoà Bình S Đà 1920 Sê San 3 S Sê San 273

Thác Bà S Chảy 108 Sê San 3A S Sê San 100

Tuyên Quang S.Lô 342 Sê San 4 S Sê San 330

Sơn La S.Đà 2400 Cần đơn S.Đồng Nai 60

Thác Mơ S Bé 150 Hàm Thuận S Đồng Nai 34

Sông Hinh S Ba 66 Đa Mi S Đồng Nai 36

Đa Nhim S Đồng Nai 160 Đồng Nai 4 S Đồng Nai 64

Yaly S Sê San 700 Cửa Đạt Sông Mã 120

Plei Krong S Sê San 120

Các đập chứa còn mang lại một số lợi ích khác như điều hoà khí hậu, tăng quỹ đất ngập nước và nghề cá nước ngọt Trong số 957 khu đất ngập nước có tầm quan trọng Quốc tế (Ramsar Site) vào cuối

1998, có 10% là khu đất ngập nước hồ nhân tạo bên cạnh 25% khu đất ngập nước hồ tự nhiên

c Tác động nghiêm trọng cña c¸c đập trữ nước:

Lợi ích các đập rất lớn, nhưng hậu quả của chúng ngày càng được đánh giá là nghiêm trọng và

có thể nhân loại chưa nhận thức hết được Tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái do chúng gây ra không chỉ ở trên lưu vực, mà còn rất lớn ở vùng cửa sông ven bờ, không chỉ ở qui mô địa phương, mà còn ở qui mô khu vực, toàn cầu Về phương diện dân sinh-kinh tế, các công trình đập có những tác động trực tiếp, làm khoảng 40-80 triệu người phải di dời cùng với những thiệt hại có thể, hoặc không thể bù đắp được về tài sản, cơ sở hạ tầng, văn hoá cộng đồng, những mất mát tại chỗ về tài nguyên nhân văn và thiên nhiên Mất mát tài nguyên thiên nhiên và tác động tiêu cực về môi trường sinh thái không chỉ tại chỗ, mà trên toàn lưu vực, kể cả thượng nguồn, hạ nguồn và vùng biển ven bờ mà trên 60% tác động không được tính đến khi thiết kế đập

Hiện nay, những biến động môi trường toàn cầu liên quan đến nhân tác ở tầm vĩ mô thuộc về hai vấn đề quan trọng nhất Thứ nhất là biến đổi khí hậu, trong đó có gia tăng khí nhà kính làm trái đất nóng

Trang 16

lên do hoạt động công nghiệp và phá rừng Thứ hai là sự suy giảm nghiêm trọng nguồn vật chất từ lục địa đưa ra biển do sông chuyển tải, bao gồm nước, trầm tích và dinh dưỡng Mặt trái đất được chia thành

ba đới cơ bản là lục địa, dải ven bờ và đại dương Dải ven bờ theo quan điểm về tương tác lục địa và đại dương ở dải ven bờ (LOICZ) bao gồm cả vùng thềm lục địa Đây là nơi tập trung tài nguyên thiên nhiên, dân số và các cơ sở kinh tế quan trọng nhất của nhân loại Hàng năm, một lượng nước ngọt khổng lồ từ lục địa đổ ra dải ven bờ, mang theo 13,5 x 109 tấn vật chất rắn lơ lửng, 1,5 x109 tấn vật liệu di đáy và 4 x109 tấn vật chất tan Quá trình tương tác và trao đổi vật chất giữa lục địa và đại dương ở dải ven bờ tạo nên một thế cân bằng động về môi trường, sinh thái và cơ cấu tài nguyên thiên nhiên Quá trình này đã xảy ra hàng trăm triệu năm trong những hoàn cảnh cổ địa lý khác nhau và trạng thái hiện tại cơ bản được thiết lập trong 6-8 nghìn năm qua Chỉ vào nửa sau thế kỷ 20, các đập, bồn chứa nội địa và nước tưói đã làm giảm 60% nước sông và kèm theo là một lượng rất lớn chất rắn và hoà tan bị lưu giữ lại lục địa Phân bố của phần còn lại khi đưa ra biển cũng bị thay đổi sâu sắc Sự mất đi đột ngột một lượng rất lớn nước ngọt, trầm tích và dinh dưỡng đưa ra dải ven bờ gây ra những hậu quả nghiêm trọng như xói lở bờ biển, xâm nhập mặn, thay đổi chế độ thủy văn, mất nơi cư trú và bãi giống, bãi đẻ của sinh vật, suy kiệt dinh dưỡng và giảm sức sản xuất của vùng biển ven bờ, dẫn đến thiệt hại lớn về đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản đánh bắt, nuôi trồng

Ví dụ rõ rệt nhất là ở vùng cửa sông Hoàng Hà, một trong những con sông lớn nhất thế giới Lưu lượng nước và trầm tích của sông này giảm mạnh từ những năm 1950 do 200 hệ thống nước tưới và

8 đập lớn nước tưói và thuỷ điện dọc sông Tại Trạm thuỷ văn Lijin cách cửa sông 105km, tải lượng nước 49,1km3/năm vào những năm 50 chỉ còn 15,4km3/năm vào những năm 90 Tải lượng trầm tích 1,3

x 109 tấn/năm vào những năm 50 giảm xuống chỉ còn 0,287 x 109 tấn/năm vào những năm 90 Nước trên lưu vực sông Hoàng Hà dùng cho công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt 12,2 km3 vào những năm

50 tăng lên 30 km3 vào những năm 90 Sự suy giảm nước và trầm tích của sông mạnh vào đầu những năm 70 chủ yếu do xây đập chứa Sanmenxia, mạnh nhất vào những năm 90 khi đập chứa Xiaolangdi lớn nhất trên sông được xây dựng với dung tích chứa 12,7 tỉ m3 nước và chúng giữ lại hồ 9,75 tỉ tấn bùn cát Hoàng Hà trở thành sông chảy theo mùa và không còn dòng chảy ở hạ lưu Tại Trạm Lijin, vào

1972 có 19 ngày trong năm, nhưng đến năm 1997 có tới 226 ngày trong năm không có dòng chảy, dù rằng lượng mưa ở trung và thượng lưu vào những năm 90 gấp 1,7 lần những năm 50

Nhiều đập khác cũng làm giảm đáng kể nước và bùn cát lơ lửng xuống hạ lưu sông và ven bờ Đập Farakka trên sông Hằng ở ấn Độ làm giảm 75% dòng chảy xuống Bangladesh Sự bồi tụ chậm của châu thổ sông Nin vẫn được duy trì sau khi đắp đập chứa nước Delta vào năm 1868 Hiện nay, đập Aswan làm giảm một lượng nhỏ nước sông, nhưng lại giữ lại lượng trầm tích rất lớn Đập này cùng các đập khác đã gây xói lở 5-8m/năm, có chỗ đạt 240m/năm trên phần lớn bờ châu thổ Bờ biển Togo và Benin đang bị xói lở 10-15m/năm do đập Akosombo trên sông Volta ở Ghana bẫy giữ trầm tích đưa ra biển Trên sông Rhone ở Pháp, các đập nước đã làm giảm bồi tích đưa ra Địa Trung Hải từ 12 triệu tấn/ năm vào thế kỷ XIX, nay chỉ còn 4-5 triệu tấn/năm, gây xói lở 5m/năm cho bãi biển vùng Camargue và Longuedoc, gây tốn phí rất lớn cho bảo vệ bờ biển

Có nhiều dẫn liệu về mối liên hệ giữa đập và sự suy giảm lượng cá cửa sông ven bờ Đập Aswan làm giảm đáng kể cá mòi và một số loài cá khác ven bờ Địa Trung Hải Hàng năm Senegal bị mất 11250 tấn cá do đắp đập ở Niger Sự suy giảm này do đập thượng nguồn gây ra những thay đổi về điều kiện sinh thái ven bờ, giảm nguồn dinh dưỡng, mất nơi cư trú và bãi giống, bãi đẻ, mất đường di cư sinh sản của cá Đập cản đường di cư của cá lên thượng nguồn hoặc xuống hạ lưu Trên sông Columbia, lượng cá hồi bị giết khoảng 5-14% mỗi khi vượt qua 1 trong 8 đập lớn khi ngược sông Có một số hạn chế cầu vượt cho cá được thiết kế khi xây đập, ví dụ như 16 cầu vượt trên 450 đập ở Nam Phi và 9,5% trong số

1825 đập ở Mỹ Đập Pak Mun trên sông Mekong ở Thái Lan cũng được thiết kế cầu cho cá vượt Tuy nhiên, hiệu quả của các cầu vượt thấp ở Na Uy, trong số 34 cầu vượt cho cá trên 40 đập, 26% hoạt động tốt, 41% không tốt và 32% không hoạt động được Nói chung, 36% các dự án đập không đáp ứng được vấn đề di cư của cá Không chỉ giảm tải lượng nước, chế độ dòng chảy thay đổi cũng tạo nên bất lợi cho môi trường sống của các loài thuỷ sản ở châu thổ Zambezi, dòng chảy mùa thay đổi do đập làm mất 10 triệu USD tiền tôm ở ven bờ

Dòng nước ngọt làm tăng sản phẩm cá biển do làm tăng dinh dưỡng và có nhiều trứng cá, cá con

ở cửa sông, ven bờ châu thổ Gần đây, khi đánh giá tác động của một đập lớn ba bậc có tên là Three Gorges chuẩn bị xây dựng trên sông Trường Giang, giáo sư Chen T A C (2000) ở Đài Loan, đã phát hiện ra mối quan hệ đồng biến giữa lượng nước ngọt do sông tải ra và lượng cá ở biển Đông Trung Hoa Theo Ông, dinh dưỡng photpho từ sông đưa ra biển rất nhỏ và sự giảm phot pho do đắp đập trên lưu vực

Trang 17

không lớn Tổng lượng photpho và nitơ của các sông Trung Hoa và Hàn Quốc, kể cả Trường Giang và Hoàng Hà, đổ vào biển Đông Trung Hoa tương ứng là 9 tỉ và 100 tỉ moles và tỉ số N/P là 111, lớn hơn nhiều tỷ số Redfield N/P là 16, thích ứng với quá trình tạo năng suất sơ cấp của thực vật nổi Do vậy, nguồn photpho nghèo kiệt, trong khi nitơ thừa dư trong nước nguồn gốc sông Lớp trầm tích mặt đáy biển ven bờ vốn khá giàu phot pho nguồn gốc sinh vật Nguồn photpho quan trọng trong nước tầng mặt

để thực vật nổi phát triển được cung cấp nhờ hoạt động của nước trồi thẳng đứng từ đáy lên, liên quan đến cơ chế cân bằng nước-muối do có nguồn nước ngọt từ sông đưa ra Nguồn nước ngọt ra biển sẽ giảm nhiều khi đập Three Gorges trên sông Trường Giang được hoàn thành Nếu dòng chảy sông giảm 10% thì sẽ làm giảm trao đổi nước theo mặt cắt ngang thềm lục địa khoảng 9%, dựa trên cân bằng nước- muối nêu trên Do vậy, nguồn dinh dưỡng, đặc biệt là muối photpho giảm mạnh trong nước tầng mặt, năng suất sơ cấp và sản lượng cá sẽ giảm tương ứng Tình hình này tương tự với sự kiện El Nino khô nóng và mưa ít làm dòng nước ngọt từ sông ra giảm hẳn và lượng cá đánh bắt cũng giảm theo Ví

dụ, ở biển Đông Trung Hoa, sau El- Nino 1982-1983, sản lượng loài cá thương phẩm quan trọng Navodon sepient giảm trên 60%, tương ứng lượng mưa ven bờ giảm 50%

b Đắp đập, xây hồ trữ nước ở Việt Nam:

Việt Nam ta việc đánh giá ảnh hưởng của hồ chứa đến môi trường thượng lưu và hạ nguồn đã có nhưng đánh giá ảnh hưởng đến môi trường cửa sông và vùng ven biển còn ít được xem xét So với nhiều nước, sự căng thẳng về tài nguyên nước ngọt của ta chưa phải là lớn Kinh nghiệm của thế giới cho thấy

ta cần có đánh giá tác động môi trường kỹ lưỡng của đập lên lưu vực nói chung và ở vùng cửa sông, ven

bờ biển nói riêng để có những ứng xử thích hợp Từ sau năm 1975, việc xây dựng các hồ và đập chứa phát triển khá mạnh Đến nay, cả nước có khoảng trên 650 hồ, đập chứa cỡ lớn và vừa; trên 3500 hồ, đập chứa cỡ nhỏ Các hồ, đập chứa đa mục tiêu, chủ yếu phục vụ phát điện và chống lũ lụt Lớn nhất là đập Hoà Bình được khởi công năm 1979, bắt đầu vận hành năm 1989 Đập có dung tích chứa nước 9,5x109 m3 nước, lượng trữ nước thường xuyên 5,6 x109 m3, sản xuất điện 7,8x109 kWh, cung cấp 40% năng lượng điện cho cả nước và có thể giảm mức lũ Hà Nội năm 1971 từ 14,8m xuống 13,3m Các nhu cầu sử dụng khác về mùa khô như nước sinh hoạt, nước tưới, lưu thông thủy lợi, chống ô nhiễm, khống chế mặn rất đáng kể, nhưng chỉ là sản phẩm phụ

Các đập thủy điện thường có sức chứa lớn, tập trung trên lưu vực sông Hồng và Đồng Nai Tổng khối của 5 đập thủy điện lớn nhất về sức chứa gồm Hoà Bình, Thác Bà, Trị An, Thác Mơ và Đa Nhim

là 18,5km3 Các đập trữ nước tưới và các mục tiêu khác phổ biến trên các lưu vực sông miền Trung và các nơi khác có sức chứa không lớn, lớn nhất là đập Dầu Tiếng ở Tây Ninh, trên sông Sài Gòn với sức chứa 1,5 km3 So với tổng lượng nước mặt của tất cả các sông là 890 km3/năm (nguồn từ ngoài Việt Nam là 555 km3/năm), thì lượng lưu giữ nước trên các hồ, đập chứa của ta không lớn lắm Tuy nhiên,

sự thay đổi phân bố dòng chảy mùa do vận hành của các đập tạo nên biến động lớn điều kiện môi trường sinh thái cửa sông ven bờ, nhất là nhiễm mặn về mùa khô đối với các đập có chức năng chính là tưới và khi mà chúng ta không có khả năng kiểm soát được hoạt động của các đập chứa ngoài lãnh thổ Có lẽ xâm nhập mặn mùa khô tăng mạnh gần đây ở vùng cửa sông Cửu Long liên quan tới các đập trữ nước tưới trên lưu vực thuộc địa phận Trung Quốc và 1,7 triệu hecta đất bị nhiễm mặn hiện nay ở đồng bằng này có thể tăng lên 2,2 triệu hecta nếu thiếu các giải pháp quản lý tích cực

Tổng lượng lưu giữ nước của các đập thủy điện chưa lớn, nhưng khả năng bẫy giữ trầm tích của chúng đã rất lớn Chỉ riêng đập Hoà Bình hàng năm lưu giữ trong lòng hồ một khối lượng rất lớn, trên dưới 50 x106 m3 bùn cát, trong khi tải lượng bùn cát của sông Đà nhiều năm trước đây là 53 x106 tấn/năm Sự kiện này có thể liên quan đến gia tăng cường độ xói lở bờ biển Hải Hậu ở ven bờ châu thổ sông Hồng, mặc dù hơn mười năm qua khu vực này ít bão so với trước Tại đây, so sánh hai giai đoạn 1991-2000 và 1965-1990, trung bình trên chiều dài gần 20km tốc độ xói lở tăng từ 8,6m/năm lên 14,5m/năm và diện tích xói sạt tăng từ 17 ha/năm lên 25ha/năm Mặc dù chưa có những khảo sát, đánh giá định lượng và đầy đủ nhưng có thể thấy sự thiếu hụt bùn cát từ lục địa ra biển do bị lưu giữ lại ở đáy các hồ, đập chứa là một trong những nguyên nhân quan trọng góp phần gây xói lở bờ biển nước ta hiện đang có qui mô rộng, cường độ lớn

Các hồ, đập chứa còn nhiều hạn chế về khả năng ngăn ngừa, phòng chống lũ lụt và có thể tác động hai mặt đến lũ lụt Chúng có khả năng cắt lũ nhỏ và giảm mức lụt tối đa, nhưng lại có thể tích luỹ tiềm năng gây lũ lụt Vào mùa khô ở ven bờ Trung Bộ, các đập chứa trên lưu vực làm giảm đáng kể lượng chảy ra ở các cửa sông và cửa đầm phá, tạo điều kiện cho quá trình bờ bồi cạn, thậm chí lấp kín

Trang 18

các cửa này, làm cản thoát nước và gây lũ ngập ven bờ vào mùa mưa lũ tiếp theo Đập Hoà Bình giảm mức lụt tối đa, nhưng làm đê phải ngăn giữ mức nước cao kéo dài, bão hoà nước và giảm độ bền, nên dễ

vỡ gây ngập lụt Do cắt lũ, tốc độ dòng cực đại ở hạ lưu và cửa sông ven bờ giảm đi, dẫn đến phát triển nhanh các tích tụ chắn cửa như đang xảy ra ở cửa Đáy và bồi tụ nhanh nâng cao đáy lòng sông bị kẹp giữa hai hệ thống đê Vì vậy, tiềm năng ngập lụt và vỡ đê ngày càng tăng

Gần đây, nguồn lợi nghề cá vùng biển ven bờ có xu hướng giảm rõ rệt do nhiều lý do, trong đó phát triển mạnh đập chứa trên thượng nguồn có thể là một nguyên nhân quan trọng Theo tài liệu của Bộ thuỷ sản (1996), đập Hoà Bình làm mất bãi đẻ và chặn đường di cư sinh sản của nhiều loài cá kinh tế trong đó có cá mòi, cá cháy sống ở biển, làm mất 500 triệu cá bột, làm giảm 50% trữ lượng tôm, cua cá, nước lợ và biển nông Sản lượng cá cháy ở sông Hồng, cửa Ba Lạt, cửa Bạch Đằng trong 1962-1964 là 8-15 nghìn tấn/ năm, đến nay không còn khai thác Sản lượng cá mòi trên sông Hồng trong thời gian 1964- 1979 là 40-356 tấn/năm, đến nay cũng không còn khai thác Nguồn lợi mỏ tôm Cát Bà- cửa Ba Lạt giảm 50% so với trước đắp đập Hoà Bình Sau đắp đập cửa Hà trên sông Châu Trúc (Bình Định) cá chình, cá dày và tôm sú giảm rõ rệt ở khu vực đầm Thị Nại Đập cửa Lạch Bạng, Thanh Hoá, xây dựng năm 1977 lấy nước tưới cho 1500ha ruộng lúa, nhưng nước đập bị nhiễm mặn không dùng được Thêm vào đó, 1050ha phía bắc cửa thuộc huyện Tĩnh Gia bị úng ngập về mùa lũ; kênh nhà Lê nối Lạch Bạng với Lạch Ghép bị bồi lấp không sử dụng được; các đầm nuôi nước lợ khu vực cửa bị huỷ bỏ và nguồn lợi tôm cá ở khu vực Hòn Mê phía ngoài bị giảm hẳn Đến nay, đập Lạch Bạng đã bị loại bỏ Tình trạng tương tự có thể thấy ở các khu vực cửa sông ven bờ Trung Bộ, nơi phổ biến các đập trữ nước tưới và sinh hoạt, làm giảm nguồn nước ngọt và dinh dưỡng ra biển

Trước đây, trong nhận thức của nhiều người việc xây dựng các con đập lớn chỉ đồng nghĩa với tiến bộ và phát triển kinh tế, được xem như là biểu tượng của hiện đại hoá và khả năng chinh phục thiên nhiên Đến nay, bản chất và quy mô tác động của chúng trên lưu vực đến cộng đồng và tài nguyên, môi trường, kể cả vùng biển ven bờ đã trở thành chủ đề tranh luận gay gắt Người ta ngày càng phát hiện thêm và nhận thức rõ hơn những thiệt hại do đắp đập gây ra Tác động nghiêm trọng do đập trong tương lai và những nỗ lực cho nguồn nước và điện năng không cần đập đã được nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế xem xét nghiêm túc ở nước ta, nhu cầu sử dụng nước cho điện năng, công nghiệp, nông nghiệp

và sinh hoạt sẽ còn tăng mạnh và trong tương lai gần một số đập mới, trong đó có đập Sơn La sẽ được xây dựng So với nhiều nước, sự căng thẳng về tài nguyên nước ngọt của ta chưa phải là lớn Tuy nhiên, những bài học đắt giá của những nước đã trải qua cao trào xây đập rất đáng được tham khảo và tác động môi trường của đập trên lưu vực nói chung và ở vùng cửa sông, ven bờ biển nói riêng cần được đánh giá kỹ lưỡng để có những ứng xử thích hợp

2 Tài nguyên nước ngầm

"Nước ngầm là một dạng nước dưới đất, tích trữ trong các lớp đất đá trầm tích bở rời như cặn, sạn, cát bột kết, trong các khe nứt, hang caxtơ dưới bề mặt trái đất, có thể khai thác cho các hoạt động sống của con người"

Nước ngầm bị chi phối bởi các lực tác dụng sau đây: lực hấp thụ, Lực mao quản và trọng lực Nước sẽ ở trạng thái tĩnh nếu hợp lực trên bằng 0 Tuy nhiên trong thực tế, hầu như ko có trạng thái cân bằng này Tuỳ theo lực chi phối phân tử nước trong đất mà ta phân thành các loại nước: nước hút ẩm, nước mao quản, nước trọng lực và nước ngầm

Theo yêu cầu sử dụng, người ta chia nước ngầm thành các loại:

− Theo độ sâu: Nước ngầm sâu (h> 50m) và Nước ngầm nông (h< 50m)

− Theo điều kiện nguồn nước: Nước ngầm trong tầng chứa nước, Nước ngầm trong mạng lưới chứa nước

− Theo các đặc tính thuỷ lực: Nước ngầm có bề mặt tự do và Nước ngầm tĩnh

− Theo điều kiện đổi mới: Nước ngầm đổi mới nhanh, Nước ngầm đổi mới chậm và Nước ngầm đọng

− Theo vị trí tầng chứa nuớc: Nước ngầm tầng trên, Nước ngầm tầng dưới và Nước ngầm tầng có áp

− Theo độ sâu phân bố, có thể chia nước ngầm thành nước ngầm tầng mặt và nước ngầm tầng sâu Đặc điểm chung của nước ngầm là khả năng di chuyển nhanh trong các lớp đất xốp, tạo thành dòng chảy ngầm theo địa hình Nước ngầm tầng mặt thường không có lớp ngăn cách với địa hình bề mặt Do vậy, thành phần và mực nước biến đổi nhiều, phụ thuộc vào trạng thái của nước mặt Loại nước ngầm tầng mặt rất dễ bị ô nhiễm Nước ngầm tầng sâu thường nằm trong lớp đất đá xốp được ngăn cách

Trang 19

Khoảng cách giữa vùng thu nhận và vùng khai thác nước thường khá xa, từ vài chục đến vài trăm

km Các lỗ khoan nước ở vùng khai thác thường có áp lực Đây là loại nước ngầm có chất lượng tốt và lưu lượng ổn định Trong các khu vực phát triển đá cacbonat thường tồn tại loại nước ngầm caxtơ di chuyển theo các khe nứt caxtơ Trong các dải cồn cát vùng ven biển thường có các thấu kính nước ngọt nằm trên mực nước biển

Các nước tiên tiến trên TG đều rất chú trọng đến việc khai thác nước ngầm phục vụ cho yêu cầu

sử dụng sinh hoạt, tưới tiêu và dịch vụ: Bỉ và Đan Mạch sử dụng tới 90%; Đức, Thuỵ Điển, Nhật sử dụng từ 60 - 90% , Anh, Pháp, Phần Lan sử dụng từ 25 - 30% trữ lượng nước ngầm Nước ngầm là nguồn cung cấp nước sinh hoạt chủ yếu ở nhiều quốc gia và vùng dân cư trên thế giới Do vậy, ô nhiễm nước ngầm có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng môi trường sống của con người Các tác nhân gây ô nhiễm và suy thoái nước ngầm bao gồm:

• Các tác nhân tự nhiên như nhiễm mặn, nhiễm phèn, hàm lượng Fe, Mn và một số kim loại khác

• Các tác nhân nhân tạo như nồng độ kim loại nặng cao, hàm lượng NO

-3, NO

-2, NH4+, PO4 vượt tiêu chuẩn cho phép, ô nhiễm bởi vi sinh vật

• Suy thoái trữ lượng nước ngầm biểu hiện bởi giảm công suất khai thác, hạ thấp mực nước ngầm, lún đất

Ngày nay, tình trạng ô nhiễm và suy thoái nước ngầm đang phổ biến ở các khu vực đô thị và các thành phố lớn trên thế giới Để hạn chế tác động ô nhiễm và suy thoái nước ngầm cần phải tiến hành đồng bộ các công tác điều tra, thăm dò trữ lượng và chất lượng nguồn nước ngầm, xử lý nước thải và chống ô nhiễm các nguồn nước mặt, quan trắc thường xuyên trữ lượng và chất lượng nước ngầm

Diễn biến động thái nước dưới đất TP Hà Nội 6 tháng đầu năm 2008: Từ 1/8 /2008 địa giới Hà

Nội được mở rộng, bao trọn diện tích tỉnh Hà Tây và một số xã huyện Lương Sơn của Hoà Bình, huyện

Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc Tổng diện tích hiện tại là 3.344,47km2 Tổng số công trình quan trắc quốc gia trong địa bàn Hà Nội là 56 Do sự phát triển kinh tế, xã hội, nhu cầu dùng nước tăng, lượng nước khai thác n−íc ngÇm tăng dẫn đến sự hạ thấp ở một số nơi có lượng khai thác mạnh Điển hình là khu vực phía nam thành phố nơi có các nhà máy nước khai thác nước dưới đất Sự khai thác n−íc ngÇm mạnh ở vùng Hà Nội hình thành phễu hạ thấp mực nước biểu hiện khá rõ theo diện và theo chiều sâu Kết quả phân tích thành phần hoá học nước dưới đất cho thấy dưới đất trong cả hai tầng vùng Hà Nội, một số chỉ tiêu có giá trị cao hơn giới hạn cho phép, trong đó chủ yếu là hàm lượng amoni, asen và hàm lượng hữu

cơ Các yếu tố này đang có xu thế tăng theo thời gian cả về hàm lượng và diện tích phân bố Chúng tập trung chủ yếu tại những khu vực có các nguồn có khả năng gây ô nhiễm cao như các bãi rác thải, khu công nghiệp, ở những vùng mực nước hạ thấp sâu và nơi tập trung chứa lượng nước thải lớn như Thanh Xuân, Thanh Trì, Hoàng Mai, Từ Liêm, Gia Lâm và Long Biên, Đan Phượng, Hoài Đức, Thanh Oai, thành phố Hà Đông Riêng huyện Phú Xuyên, Thường Tín nước có độ khoáng hoá lớn hơn 1g/l

III SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC

1 Nhu cầu nước cho ăn uống và sinh hoạt

Đối tượng cấp nước cho sinh hoạt gồm các khu dân cư, khu thương mại, các văn phòng công sở nhà nước, công nhân trong các phân xưởng sản xuất, nhà tắm công cộng, bệnh viện, công viên và vườn hoa Vấn đề chất lượng: yêu cầu nước phải đảm bảo các tiêu chuẩn sinh học và hoá học, là loại nước không gây nguy hiểm cho con người (theo qui định của Bộ Y tế)

Bảng : Định mức cấp nước cho các đối tượng (theo tiêu chuẩn của Nga) Đối tượng Đơn vị tính Mức yêu cầu

(l/ngày)

Hệ số không đều (Kng)

Hệ số không đều giờ (Kh)

Trang 20

Vườn trẻ 1 trẻ 40 - 50 1,40

2 Nhu cầu nước cho công nghiệp

Theo Viên nghiên cứu bảo vệ nguồn nước của Liên Xô (cũ), để đánh giá chất lượng nước cho các ngành kinh tế nói chung và cho công nghiệp nói riêng, các chỉ tiêu sau đây được sử dụng:

It: chỉ tiêu chất lượng tỏng hợp nước, tuỳ thuộc ngành sử dụng

Ivs: chỉ tiêu vệ sinh chung

Io: Chỉ tiêu về ô nhiễm

Bảng : Giới thiêu chất lượng nước cho các ngành theo các chỉ tiêu trên

Sử dụng được, cần

xử lý clo

Sử dụng được, cần làm sạch VSV

Chỉ sử dụng khi

có xử lý đặc biệt

và thấy có lợi

Không sử dụng được

2 Cho công

nghiệp Sử dụng được SD được Sử dụng được Một số ít ngành Cần xử lý Lượng nước cấp cho công nghiệp thay đổi phụ thuộc vào loại nhà máy Nói cách khác, lượng nước này phụ thuộc vào nhu cầu nước đối với quy trình công nghệ sản xuất ra sản phẩm công nghiệp của từng ngành Ngoài ra, lượng nước cấp cũng thay đổi theo mùa (Bảng 6.6)

Bảng 6.6 : Định mức cấp nước cho công nghiệp:

1 kg vải sợi bông 0,02 - 0,05 2,5 - 5,0

5 Nhà máy chế biến dầu thô 1 tấn sản phẩm 30 - 40

6 Nhà máy ôtô, máy kéo Máy kéo/ Ôtô 1 chiếc 0,12 - 0,20

7 Nhà máy công cụ:

- pH: 4,5 < pH < 8,3 Nói chung giá trị thích hợp là từ 5 - 8,5

- Các ion đặc biệt: Caya trồng đặc biệt nhạy cảm với 1 số ion đặc biệt như: Na+, Ca+, Cl-, SO4

2 Các nguyên tố vi lượng: Pb, F, Zn, Mn, Cr, Selen, Cadimi

Trang 21

b Xác định nhu cầu tưới IR

Khi muốn xác đinh nhu cầu tưới của các đối tượng là cây trồng trong nông nghiệp, người ta thường phải xác định các thành phần hao nước trên đồng ruộng

Trong các thành phần hao nước thì lượng nước mất đi đáng kể nhất là lượng nước bốc hơi qua lá

và khoảng trống Giá trị này được kí hiệu là ET (m3/ha) hoặc mm cột nước Để xác định được ET, cần phải biết được lượng nước bốc hơi qua lá và lượng nước bốc hơi khoảng trống tiềm năng ETp

Tiếp đến là xác định nhu cầu tưới tại mặt ruộng IR (cho cây lúa nước và cây trồng cạn)

Sau đó, xác định số lần tưới và thời gian tưới mỗi lần

c Các phương pháp tưới:

Phương pháp tưới là biện pháp đưa nước vào ruộng để đảm bảo chế độ ẩm cho một loại cây trồng nào

đó đã được xác định Mỗi phương pháp tưới lại có 1 yêu cầu kỹ thuật riêng được gọi là kỹ thuật tưới Tuỳ theo cách đưa nước vào tầng đất chứa bộ rễ cây trồng mà phương pháp tưới được phân thành các loại:

♦ Tưới trọng lực (Nước đưa đến tầng đất chứa bộ rễ cây trồng nhờ trọng lực làm nước tự chảy, tưới ngập lúa, tưới rãnh, tưới tràn là những ví dụ của phương pháp này

o Tưới tràn: tạo thành 1 lớp nước mỏng trên mặt ruộng trong một khoảng thời gian để tạo nên độ

ẩm cho đất, thường được dùng trên vùng đất có độ dốc nhỏ (từ 0,1 - 2%); cho các cây làm thức

ăn gia súc trên đồng cỏ hay ngũ cốc Có nhiều ưu điểm: ít tốn kém cả công và của, nhưng độ

ẩm đất không đồng đều sau tưới và có thể phân bố lại các chất dinh dưỡng

o Tưới ngập: là pp tưới che phủ mặt đất bởi 1 lớp nước có độ sâu nhất định Độ sâu lớp nước này

thay đổi theo từng thời kỳ sinh trưởng của cây trồng Phương pháp tưới này có nhiều ưu điểm: Chi phí thấp, diệt được sâu bệnh, có thể dùng nước phù sa để nâng cao và làm bằng mặt ruộng Nhưng cũng có nhiều nhược điểm: làm đất chặt nên giảm khả năng thấm và độ thoáng khí; tốn nhiều nước; dễ gây rửa trôi các chất dinh dưỡng

Trang 22

o Tưới rãnh: phương pháp này sử dụng một mạng lưới rãnh dày đặc trên đồng ruộng, nước trong

rãnh thấm qua mặt bên để vào ruộng (nên còn gọi là tưới thấm) Là phương pháp tưới phổ biến nhất hiện nay trên TG, khoảng hơn 50% tổng diện tích đất NN được tưới rãnh Thích hợp cho các loại cây trồng rộng hàng, như ngô, khoai, bông, cây ăn quả Áp dụng trên đất có độ dốc từ 0,002 - 0,01%, tránh những vùng có nước ngầm sát mặt đất

♦ Tưới áp lực: Phải nhờ vào các hệ thống thiết bị máy móc tạo ra áp lực đưa nước vào mặt ruộng, tưới phun mưa và tưới nhỏ giọt là những ví dụ điển hình của phương pháp này

o Tưới phun mưa: là phương pháp sử dụng một hệ thống thiết bị để phân phối nước tưới

dưới dạng mưa rơi trên mặt đất Có rất nhiều ưu điểm: áp dụng trên mọi địa hình, mọi loại đất, có thể sử dụng nguồn nước chua mặn hoặc nước thải khu dân cư, liều lượng tưới chính xác, độ ẩm phân bố đều Nhưng cũng có nhiều nhược điểm: Chi phí ban đầu cao, góp phần làm chặt đất hoặc tạo vỏ cứng trên mặt đất

Tưới nhỏ giọt: Là phương pháp tưới dùng 1 hệ thống đường ống để dẫn nước, nước được đưa trực tiếp

đến rễ cây nhờ thiết bị nhỏ giọt PP này cũng có nhiều ưu điểm như: hiệu quả sử dụng nước cao; Giảm tiêu thu điện năng; có thể áp dụng trên mọi loại địa hình; hạn chế cỏ dại, sâu bệnh; giảm chi phí lao động PP này làm tăng năng suất, đặc biệt là rau tăng đến 100% Nhưng nó cũng có nhiều nhược điểm: đầu tư ban đầu khá lớn; phải có hệ thống lọc tránh tắc ống dẫn và thiết bị nhỏ giọt; tăng khả năng tích muối trong đất

Trong thực tế, việc chọn phương pháp tưới sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố:

♦ Đặc tính ưa nước của cây trồng: ví dụ cây ưa nước như lúa thì phải chọn phương pháp tưới ngập

♦ Điều kiện địa hình khu tưới: địa hình bằng phẳng phù hợp với pp tưới tràn, tưới rãnh

♦ Điều kiện kinh tế, khả năng đầu tư của địa phương và người sử dụng, các phương pháp tưới cổ điển yêu cầu đầu tư thấp, các phương pháp tưới hiện đại như tưới phun mưa, tưới nhỏ giọt, đòi hỏi đầu tư lớn, chi phí cao

IV MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC

1 Ô nhiễm nước và các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước

a Ô nhiễm nước là gì ?

Hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa:

"Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã"

• Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: Do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt đưa vào môi trường nước chất thải bẩn, các sinh vật và vi sinh vật có hại kể cả xác chết của chúng

• Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: Quá trình thải các chất độc hại chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vào môi trường nước

Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân ra các loại ô nhiễm nước: ô nhiễm vô cơ, hữu cơ,

ô nhiễm hoá chất, ô nhiễm sinh học, ô nhiễm bởi các tác nhân vật lý

♦ Ô nhiễm nước mặt: Nước mặt bao gồm nước mưa, nước hồ ao, đồng ruộng và nước các sông, suối,

kênh mương Nguồn nước các sông và kênh tải nước thải, các hồ khu vực đô thị, KCN và đồng ruộng lúa nước là những nơi thường có mức độ ô nhiễm cao Các dạng ô nhiễm nước thường gặp là phú dưỡng, ô nhiễm do kim loại nặng và hoá chất độc hại, ô nhiễm vi sinh và ô nhiễm bởi thuốc bảo

vệ thực vật

o Phú dưỡng : Biểu hiện của phú dưỡng là nồng độ chất dinh dưỡng N, P cao, tỷ lệ P/N cao do sự tích luỹ tương đối P so với N, sự yếm khí và môi trường khử của lớp nước đáy thuỷ vực, sự phát triển mạnh mẽ của tảo và nở hoa tảo, sự kém đa dạng của các sinh vật nước, đặc biệt là cá, nước có màu xanh đen hoặc

o đen, có muìo khai thối do thoát khí H2S, Nguyên nhân của sự phú dưỡng là sự thâm nhập một lượng lớn N,P từ nước thải sinh hoạt của các khu dân cư, sự đóng kín và thiếu đầu ra của

MT hồ

o Ô nhiễm kim loại nặng và các hoá chất độc hại : Thể hiện bởi nồng độ cao của các kim loại nặng trong nước Nguyên nhân chủ yếu là do nước thải công nghiệp và nước thải độc hại

Trang 23

♦ Ô nhiễm và suy thoái nước ngầm: Nước ngầm là một dạng nước dưới đất, tích trữ trong các lớp đất

đá trầm tích bở rời như cát, sạn, cát bột kết, trong các khe nứt, hang karst dưới bề mặt Trái đất

o Theo độ sâu phân bố, chia nước ngầm thành 2 loại: nước ngầm tầng mặt và nước ngầm tầng sâu

o Các tác nhân gây ô nhiễm và suy thoái nước ngầm bao gồm: các tác nhân tự nhiên và các tác nhân nhân tạo

o Suy thoái trữ lượng nước ngầm biểu hiện bởi giảm công suất khai thác, hạ thấp mực ngầm, lún đất

♦ Ô nhiễm biển: Các biểu hiện của ô nhiễm biển:

o Gia tăng nồng độ của các chất ô nhiễm trong nước biển

o Gia tăng nồng độ các chất ô nhiễm tích tụ trong trầm tích biển vùng ven bờ

o Suy thoái các hệ sinh thái biển như HST san hô, HST rừng ngập mặn, cỏ biển

o Suy giảm trữ lượng các loài sinh vật biển và giảm tính đa dạng sinh học biển

o Xuất hiện các hiện tượng như thuỷ triều đỏ, tích tụ chất ô nhiễm trong các thực phẩm từ biển

o Theo Công ước Luật biển năm 1982, có 5 nguồn có thể gây ô nhiễm biển:

- Các hoạt động trên đất liền

- Việc thăm dò và khai thác tài nguyên trên thềm lục địa và đáy đại dương

- Việc thải các chất độc hại ra biển

- Vận chuyển hàng hoá trên biển, - Ô nhiễm không khí

Nguồn nước có thể sử dụng được cho các mục đích khác nhau của con người, chúng ta phải xác định các tính chất vật lý, tính chất hóa học của nước để đánh giá chất lượng nguồn nước Các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng nguồn nước dựa vào các yếu tố sau:

4 Mùi vị: Các chất khí, khoáng và một số hóa chất hòa tan trong nước làm cho nước có mùi Các mùi

vị thường gặp: mùi đất, mùi tanh, mùi thúi, mùi hóa học đặc trưng như Clo, amoniac, vị chát, mặn, chua…

5 Cặn: Gồm có cặn lơ lửng và cặn hòa tan (vô cơ và hữu cơ), cặn không gây độc hại đến sức khỏe nhưng ảnh hưởng đến quá trình xử lý nước

6 Tính phóng xạ: Nước ngầm thường nhiễm các chất phóng xạ tự nhiên, thường nước này vô hại đôi khi có thể dùng để chữa bệnh Nhưng nếu chỉ tiêu này bị nhiễm bởi các chất phóng xạ từ nước thải, không khí, từ các chất độc hại vượt quá giới hạn cho phép thì rất nguy hiểm

Trang 24

3 Độ kiềm: do 3 ion chính HCO3-, OH-, CO32-làm cho nước có độ kiềm Nước có độ kiềm cao làm cho người sử dụng nước cảm thấy khó chịu trong người Độ kiềm ảnh hưởng đến quá trình keo tụ, khử sắt, làm mềm nước, kiểm tra độ ăn mòn, khả năng đệm của nước thải, của bùn

4 Độ cứng: Độ cứng của nước biểu thị hàm lượng các ion Ca2+ và Mg2+ Độ cứng không gây độc hại đến sức khỏe con người, nhưng dùng nước có độ cứng cao sẽ tiêu hao nhiều xà bông khi giặt đồ, tăng độ ăn mòn đối với các thiết bị trao đổi nhiệt, nồi hơi tạo nên cặn bám, khe nứt gây nổ nồi hơi

5 Clorua (Cl-): Clorua trong nước biểu thị độ mặn Clorua không gây độc hại đến sức khỏe con người nhưng dùng lâu sẽ gây nên bệnh thận

6 Sunfat (SO42-): Sunfat tiêu biểu cho nguồn nước bị nhiễm phèn hoặc nước có nguồn gốc khoáng chất hoặc hữu cơ Sunfat gây độc hại đến sức khỏe con người vì sunfat có tính nhuận tràng Nước có Sunfat cao sẽ có vị chát, uống vào sẽ gây bệnh tiêu chảy

7 Sắt (Fe2+, Fe3+): Sắt tồn tại trong nước dạng sắt 3 (dạng keo hữu cơ, huyền phù), dạng sắt 2 (hòa tan) Sắt cao tuy không gây độc hại đến sức khỏe con người nhưng nước sẽ có mùi tanh khó chịu và nổi váng bề mặt, làm vàng quần áo khi giặt, hư hỏng các sản phẩm ngành dệt, giấy, phim ảnh, đồ hộp, đóng cặn trong đường ống và các thiết bị khác làm tắc nghẽn các ống dẫn nước

8 Mangan (Mg2+): Mangan có trong nước với hàm lượng thấp hơn sắt nhưng cũng gây nhiều trở ngại giống như sắt

9 Ôxy hòa tan (DO): Ôxy hòa tan trong nước phụ thuộc vào các yếu tố: nhiệt độ, áp suất và đặc tính của nguồn nước (thành phần hóa học, vi sinh, thủy sinh) Xác định lượng ôxy hòa tan là phương tiện

để kiểm soát ô nhiễm và kiểm tra hiệu quả xử lý

10 Nhu cầu ôxy hóa học (COD): Là lượng ôxy cần thiết để ôxy hóa hết các hợp chất hữu cơ có trong nước Nước nhiễm bẩn sẽ có độ ôxy hóa cao phải tốn nhiều hóa chất cho công tác khử trùng

11 Nhu cầu Ôxy sinh hóa (BOD): Là lượng ôxy cần thiết để vi khuẩn sử dụng phân hủy chất hữu cơ dưới điều kiện hiếu khí Chỉ tiêu này để đánh giá khả năng tự làm sạch của nguồn nước BOD càng cao chứng tỏ mức độ ô nhiễm càng nặng

12 Florua (F-): Trong thiên nhiên, các hợp chất của florua khá bền vững, ít bị phân hủy bởi quá trình làm sạch Nếu thường xuyên dùng nước có florua lớn hơn 1,3mg/l hoặc nhỏ hơn 0,7mg/l đều dễ mắc bệnh hư hại men răng

13 Dihydro sunfua (H2S): Khí này là sản phẩm của quá trình phân hủy các chất hữu cơ, rác thải Khí này làm nước có mùi trứng thối khó chịu, với nồng độ cao, nó có tính ăn mòn vật liệu

14 Các hợp chất của axít Silicic (Si): trong nước nếu có các hợp chất axit silicic sẽ rất nguy hiểm do cặn silicát lắng đọng trên thành nồi, thành ống làm giảm khả năng truyền nhiệt và gây tắc ống

15 Phốt phát (PO42-): Có phốt phát vô cơ và phốt phát hũu cơ Trong môi trường tự nhiên, phốt phát hữu cơ hầu hết là những chất mang độc tính mạnh dưới dạng thuốc diệt côn trùng, các vũ khí hóa học Phốt phát làm hóa chất bón cây, chất kích thích tăng trưởng, chất tạo bọt trong bột giặt, chất làm mềm nước, kích thích tăng trưởng nhiều loại vi sinh vật, phiêu sinh vật, tảo… phốt phát gây nhiều tác động trong việc bảo vệ môi trừơng

16 Nitơ (N) và các hợp chất chứa Nitơ (NH4+, NO2-, NO3-): Sự phân hủy của rác thải, các chất hữu cơ

có trong nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp tạo thành các sản phẩm amoniac, nitrít, nitrát

Sự hiện diện của các hợp chất này là chất chỉ thị để nhận biết trạng thái nhiễm bẩn của nguồn nước

17 Kim loại nặng: có mặt lợi và mặt hại:

- Mặt lợi: với hàm lượng hữu ích, giúp duy trì và điều hòa những hoạt động của cơ thể

- Mặt hại: với hàm lượng cao gây khó chịu hoặc dẫn đến ngộ độc

18 Các thành phần độc hại khác: Là thành phần các chất mà chỉ tồn tại trong nước với một hàm lượng rất nhỏ cũng đủ gây độc hại đến tính mạng con người, thậm chí gây tử vong, đó là các chất: Asen (As), Berili (Be), Cadimi (Cd), Xyanua (CN), Crôm (Cr), Thủy ngân (Hg), Niken (Ni), Chì (Pb), Antimoan (Sb), Selen (Se), Vanadi (V) Một vài gam thủy ngân hoặc Cadimi có thể gây chết người, với hàm lượng nhỏ hơn chúng tích lũy trong các bộ phận của cơ thể cho tới lúc đủ hàm lượng gây ngộ độc Chì tích lũy trong xương, Cadimi tích lũy trong thận và gan, thủy ngân tích lũy trong các tế bào não

19 Chất béo và dầu mỡ: Chất béo và dầu mỡ dễ phân tán và khuyết tán rộng Chất béo đưa vào nguồn nước từ các nguồn nước thải, các lò sát sinh, công nghiệp sản xuất dầu ăn, lọc dầu, chế biến thực phẩm… Chất béo ngăn sự hòa tan ôxy vào nước, giết các vi sinh vật cần thiết cho việc tự làm sạch nguồn nước

Trang 25

20 Thuốc diệt cỏ và trừ sâu: Thuốc diệt cỏ và trừ sâu ngoài việc gây ô nhiễm vùng canh tác còn có khả năng lan rộng theo dòng chảy, gây ra các tổn thương trên hệ thần kinh nếu tiếp xúc lâu ngày, chúng cũng có thể tích tụ trong cơ thể gây ra những biến đổi gen hoặc các bệnh nguy hiểm

21 Tổng số vi trùng: Chỉ tiêu này để đánh giá mật độ vi trùng trong nước, các vi khuẩn này hoặc sống trong nước, hoặc từ đất rửa trôi vào nước hoặc từ các chất bài tiết Chỉ tiêu này không đánh giá về mặt độc hại đối với sức khỏe mà chỉ đánh giá chất lượng nguồn nước

22 Coliform: Coliform sống ký sinh trong đường tiêu hóa của người và động vật, chỉ tiêu này dùng để xem xét sự nhiễm bẩn của nước bởi các chất thải

23 E Coli: Chỉ tiêu này đánh giá sự nhiễm phân của nguồn nước nhiều hay ít (nhiễm phân người hoặc động vật), gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đôi khi thành dịch bệnh lan truyền

b Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước

a Độ cứng, độ dẫn điện của nước:

♦ Độ cứng của nước gây ra bởi sự có mặt của các muối Ca và Mg trong nước Độ cứng của nước được gọi là tạm thời khi có mặt muối cacbonat hoặc bicacbonat Ca, Mg Loại nước này khi đun sôi

sẽ tạo ra các kết tủa CaCO3 hoặc MgCO3 Độ cứng vĩnh cửu của nước do các loại muối sunfat hoặc clorua Ca, Mg tạo ra Độ cứng vĩnh cửu của nước thường rất khó xử lý và tạo ra nhiều hậu quả kinh tế cho việc sử dụng chúng

♦ Độ cứng của nước được xác định bằng phương pháp chuẩn độ hoặc tính toán theo hàm lượng Ca,

Mg trong nước: Độ cứng (mg CaCO 3 /lit) = 2,497 Ca (mg/l) + 4,118 Mg (mg/l)

♦ Độ dẫn điện của nước liên quan đến sự có mặt của các ion trong nước Các ion này thường là muối của kim loại như NaCl, KCl, SO2-4, NO-3, PO-4 v.v Tác động ô nhiễm của nước có độ dẫn điện cao thường liên quan đến tính độc hại của các ion tan trong nước Để xác định độ dẫn điện, người

ta thường dùng các máy đo điện trở hoặc cường độ dòng điện

b Độ pH của nước:

Nước tinh khiết ở điều kiện bình thường sẽ bị phân ly theo phương trình phản ứng:

H 2 O -> H + + OH

-Giá trị pH của nước được xác định bằng logarit cơ số 10 nồng độ ion H+ theo công thức: pH = - lg (H + )

Đối với nước cất pH = 7, khi nước chứa nhiều ion H+ thì pH < 7 và ngược lại, khi nước nhiều OH(kiềm) thì pH > 7 Như vậy, pH là độ axit hay độ chua của nước Độ pH có ảnh hưởng tới điều kiện sống bình thường của các sinh vật nước Cá thường không sống được trong môi trường nước có độ pH < 4 hoặc pH > 10 Sự thay đổi pH của nước thường liên quan tới sự có mặt của các hoá chất axit hoặc kiềm,

-sự phân huỷ chất hữu cơ, -sự hoà tan của một số anion SO-24, NO-3, v.v

Độ pH của nước có thể xác định bằng phương pháp điện hoá, chuẩn độ hoặc các loại thuốc thử khác nhau

c Các chỉ số DO, BOD, COD của nước:

DO là lượng oxy hoà tan trong nước cần thiết cho sự hô hấp của các sinh vật nước (cá, lưỡng thê, thuỷ

sinh, côn trùng v.v ) thường được tạo ra do sự hoà tan từ khí quyển hoặc do quang hợp của tảo Nồng

độ oxy tự do trong nước nằm trong khoảng 8 - 10 ppm, và dao động mạnh phụ thuộc vào nhiệt độ, sự phân huỷ hoá chất, sự quang hợp của tảo và sv Khi nồng độ DO thấp, các loài sinh vật nước giảm hoạt động hoặc bị chết Do vậy, DO là một chỉ số quan trọng để đánh giá sự ô nhiễm nước của các thuỷ vực

BOD (Biochemical oxygen Demand - nhu cầu oxy sinh hoá) là lượng oxy cần thiết để vi sinh vật oxy

hoá các chất hữu cơ theo phản ứng:

Chất hữu cơ + O 2 -> CO 2 + H 2 O + tế bào mới + sản phẩm trung gian

Trong môi trường nước, khi quá trình oxy hoá sinh học xảy ra thì các vi sinh vật sử dụng oxy hoà tan, vì vậy xác định tổng lượng oxy hoà tan cần thiết cho quá trình phân huỷ sinh học là phép đo quan trọng đánh giá ảnh hưởng của một dòng thải đối với nguồn nước BOD có ý nghĩa biểu thị lượng các chất thải hữu cơ trong nước có thể bị phân huỷ bằng các vi sinh vật

COD (Chemical Oxygen Demand - nhu cầu oxy hóa học) là lượng oxy cần thiết để oxy hoá các hợp chất

hoá học trong nước bao gồm cả vô cơ và hữu cơ Như vậy, COD là lượng oxy cần để oxy hoá toàn bộ các chất hoá học trong nước, trong khi đó BOD là lượng oxy cần thiết để oxy hoá một phần các hợp chất hữu cơ dễ phân huỷ bởi vi sinh vật

Trang 26

Toàn bộ lượng oxy sử dụng cho các phản ứng trên được lấy từ oxy hoà tan trong nước (DO) Do vậy nhu cầu oxy hoá học và oxy sinh học cao sẽ làm giảm nồng độ DO của nước, có hại cho sinh vật nước

và hệ sinh thái nước nói chung Nước thải hữu cơ, nước thải sinh hoạt và nước thải hoá chất là các tác nhân tạo ra các giá trị BOD và COD cao của môi trường nước

d Các kim loại nặng trong nước:

Kim loại nặng có Hg, Cd, Pb, As, Sb, Cr, Cu, Zn, Mn, v.v thường không tham gia hoặc ít tham gia vào quá trình sinh hoá của các thể sinh vật và thường tích luỹ trong cơ thể chúng Vì vậy, chúng là các nguyên tố độc hại với sinh vật Hiện tượng nước bị ô nhiễm kim loại nặng thường gặp trong các lưu vực nước gần các khu công nghiệp, các thành phố lớn và khu vực khai thác khoáng sản Ô nhiễm kim loại nặng biểu hiện ở nồng độ cao của các kim loại nặng trong nước Trong một số trường hợp, xuất hiện hiện tượng chết hàng loạt cá và thuỷ sinh vật

Nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm kim loại nặng là quá trình đổ vào môi trường nước nước thải công nghiệp và nước thải độc hại không xử lý hoặc xử lý không đạt yêu cầu Ô nhiễm nước bởi kim loại nặng

có tác động tiêu cực tới môi trường sống của sinh vật và con người Kim loại nặng tích luỹ theo chuỗi thức ăn thâm nhập và cơ thể người Nước mặt bị ô nhiễm sẽ lan truyền các chất ô nhiễm vào nước ngầm, vào đất và các thành phần môi trường liên quan khác Để hạn chế ô nhiễm nước, cần phải tăng cường biện pháp xử lý nước thải công nghiệp, quản lý tốt vật nuôi trong môi trường có nguy cơ bị ô nhiễm như nuôi cá, trồng rau bằng nguồn nước thải

e Nước bị ô nhiễm vi sinh vật:

Sinh vật có mặt trong môi trường nước ở nhiều dạng khác nhau Bên cạnh các sinh vật có ích có nhiều nhóm sinh vật gây bệnh hoặc truyền bệnh cho người và sinh vật Trong số này, đáng chú ý là các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn và ký sinh trùng gây bệnh như các loại ký sinh trùng bệnh tả, lỵ, thương hàn, sốt rét, siêu vi khuẩn viêm gan B, siêu vi khuẩn viêm não Nhật bản, giun đỏ, trứng giun v.v

Nguồn gây ô nhiễm sinh học cho môi trường nước chủ yếu là phân rác, nước thải sinh hoạt, xác chết sinh vật, nước thải các bệnh viện v.v Để đánh giá chất lượng nước dưới góc độ ô nhiễm tác nhân sinh học, người ta thường dùng chỉ số coliform Đây là chỉ số phản ánh số lượng trong nước vi khuẩn coliform, thường không gây bệnh cho người và sinh vật, nhưng biểu hiện sự ô nhiễm nước bởi các tác nhân sinh học Để xác định chỉ số coliform người ta nuôi cấy mẫu trong các dung dịch đặc biệt và đếm

số lượng chúng sau một thời gian nhất định Ô nhiễm nước được xác định theo các giá trị tiêu chuẩn môi trường Hiện tượng trên thường gặp ở các nước đang phát triển và chậm phát triển trên thế giới Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới năm 1992, nước bị ô nhiễm gây ra bệnh tiêu chảy làm chết 3 triệu người

và 900 triệu người mắc bệnh mỗi năm Đã có năm số người bị mắc bệnh trên thế giới rất lớn như bệnh giun đũa 900 triệu người, bệnh sán máng 600 triệu người Để hạn chế tác động tiêu cực của ô nhiễm vi sinh vật nguồn nước mặt, cần nghiên cứu các biện pháp xử lý nước thải, cải thiện tình trạng vệ sinh môi trường sống của dân cư, tổ chức tốt hoạt động y tế và dịch vụ cộng

Bảng 5.1: Tải lượng tác nhân ô nhiễm do con người đưa vào môi trường

Trang 27

f Nước bị ô nhiễm bởi thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hoá học:

Ô nhiễm nguồn nước bởi thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hoá học là hiện tượng phổ biến trong các vùng nông nghiệp thâm canh trên thế giới Trong quá trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hoá học, một lượng đáng kể thuốc và phân không được cây trồng tiếp nhận Chúng sẽ lan truyền và và tích lũy trong đất, nước và các sản phẩm nông nghiệp dưới dạng dư lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật Tác động tiêu cực khác của sự ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật và phân bón là làm suy thoái chất lượng môi trường khu vực canh tác nông nghiệp như phú dưỡng đất, nước, ô nhiễm đất, nước, giảm tính

đa dạng sinh học của khu vực nông thôn, suy giảm các loài thiên địch, tăng khả năng chống chịu của sâu bệnh đối với thuốc bảo vệ thực vật

Trang 28

2 Nguồn gây ô nhiễm nước

Ngày nay, nhu cầu phát triển kinh tế nhanh với mục tiêu lợi nhuận cao, con người đã lờ đi các tác động ảnh hưởng đến các nhân tố tự nhiên và môi trường một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Đặc biệt đối với các nước đang phát triển và các nước nghèo đã làm cho môi trường nước bị ô nhiễm ngày càng trầm trọng hơn Sự gia tăng dân số quá nhanh là nguyên nhân chính gây áp lực lên nguồn nước Vì nhu cầu nước cho phát triển nông nghiệp để gia tăng lương thực thực phẩm, phát triển công nghiệp để gia tăng hàng hóa và gia tăng thêm nhiều hình thức dịch vụ…

a Tác động từ các hoạt động sinh hoạt:

- Các dòng nước mặt (sông, kênh rạch…) đặc biệt là ở vùng đô thị đều bị ô nhiễm trầm trọng bởi rác thải, nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư xả vào kênh rạch chưa qua xử lý Tình trạng lấn chiếm lòng,

bờ sông kênh rạch để sinh sống, xả rác và nước thải trực tiếp trên bề mặt gây ô nhiễm nước mặt, cản trở lưu thông của dòng chảy, tắc nghẽn cống rãnh tạo nước tù Môi trường yếm khí gia tăng phân hủy các hợp chất hữu cơ, không những gây mùi hôi thối, ô nhiễm nguồn nước và môi trường mà còn gây khó khăn trong việc lấy nguồn nước mặt để xử lý thành nguồn nước sạch cấp cho nhu cầu xã hội

- Nhu cầu nước sử dụng cho ăn uống, sinh hoạt và các hoạt động khác của con người gia tăng, dẫn đến tình trạng khai thác nước dưới đất tràn lan gây cạn kiệt nguồn nước và ảnh hưởng đến môi trường như sụp lún, nhiễm mặn…

Trang 29

- Nhiều giếng khoan thi công không đúng kỹ thuật (Kết cấu giếng không tốt, giếng gần khu vực nhà vệ sinh, hệ thống xử lý nước thải…), giếng khoan hư không được trám lấp là nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước

- Nhiều sự cố gây thất thoát nước do đường ống dẫn nước cũ gẫy bể lâu ngày, rò rỉ nước từ van hư củ Lười hoặc quên tắt van cũng là nguyên nhân gây lãng phí nước

- Giữa nước mặn và nước nhạt có một ranh giới, khi họat động khai thác nước dưới đất quá mức đường ranh giới này sẽ tiến dần đến công trình khai thác, mực nước mặn xâm nhập dần, đẩy lùi mực nước ngọt vào sâu và làm nhiễm mặn các công trình khai thác trong khu vực Mặt khác do nước biển tràn vào hoặc

do con người dẫn nước biển vào sâu trong ruộng để làm muối, dẫn đến xâm nhập mặn vào tầng chứa nước

- Để gia tăng môi trường sống, con người phá rừng lấp đất, sang ruộng cất nhà làm đường dẫn đến mất khả năng giữ nước của đất, lượng nước bề mặt không được thấm bổ cập vào nước ngầm mà chảy vào sông rạch ra biển Ngoài ra còn gây ngập lụt, trược lỡ đất

Trang 30

b Tác động từ các hoạt động phát triển nông nghiệp

Việc chăn nuôi gia súc gia cầm ở hộ gia đình vùng nông thôn còn chưa có ý thức tiết kiệm nguồn nước trong việc vệ sinh, vệ sinh chuồng trại, chưa có hệ thống xử lý chất thải nước thải, phần lớn cho vào ao

hồ, bể tự hoại để thấm vào đất dễ gây ô nhiệm môi trường đặt biệt là nguồn nước ngầm

Trang 31

- Hệ thống tưới tiêu và hình thức tưới tiêu không hợp lý là nguyên nhân gây thất thoát lưu lượng nước lớn trong ngành trồng trọt

c Tác động từ các hoạt động phát triển công nghiệp và dịch vụ:

- Việc gia tăng nhiều nhà máy, xí nghiệp từ quy mô nhỏ hộ gia đình đến quy mô lớn dẫn đến nhu cầu về nguồn nước tăng, không những nước phục vụ cho sản xuất mà còn phục vụ sinh hoạt cho một số lượng lớn công nhân từ nhiều vùng khác nhau tập trung về Đặc biệt ở các khu vực chưa có hệ thống cấp nước, mật độ khai thác nước dưới đất sẽ gia tăng nhanh, từ đó dẫn đến tình trạng cạn kiệt nguồn nước và sụp lún đất

Hình: Mực nước ngầm hạ nhanh chóng do khai thác quá mức

- Các chất thải công nghiệp như khối, bụi…tạo nên mưa axít không những làm thay đổi chất lượng nước ngọt, mà còn ảnh hưởng xấu đến đất và môi trường sinh thái

- Việc xả nước thải sản xuất từ các nhà máy, khu chế xuất khu công nghiệp chưa được xử lý vào sông rạch, ao hồ gây ô nhiễm nước mặt, nước dưới đất Thậm chí có nơi còn cho nước thải chảy tràn trên mặt đất để tự thấm xuống đất hoặc đào các hố dưới đất để xả nước thải làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến các tầng nước dưới đất

Hình : Nước từ các khu công nghiệp và dịch vụ xả thải không xử lý và để tự ngấm ra môi trường

- Các dòng nước mặt trên sông, kênh rạch còn bị ô nhiễm do xăng dầu của các tàu bè đi lại, hoặc các sự

cố vận chuyển khác trên sông, biển

- Ảnh hưởng do chưa có ý thức về sử dụng và bảo vệ nguồn nước như sử dụng bừa bãi hoang phí, không đúng mục đích sử dụng

Trang 32

Hình : Việc súc rửa các thùng phi xăng dầu, hoá chất trên các dòng sông, kênh, rạch

3 Các bệnh có liên quan đến chất lượng nước

Hiện nay tỷ lệ người nhiễm giun sán, giun đũa, giun móc ở Việt Nam được xem là cao nhất thế giới Những khảo sát gần đây cho thấy gần 100% trẻ em từ 4 - 14 tuổi ở nông thôn nhiễm giun đũa, từ 50 - 80% nhiễm giun móc Các bệnh viêm da dị ứng, sán lá gan, lá lợn vẫn đang hoành hành… "Vấn nạn" ô nhiễm nguồn nước và môi trường càng trở nên cấp bách hơn, khi các loại bệnh xảy ra, đặc biệt là ỉa chảy, lỵ ngày càng có xu hướng gia tăng Trong 6 tháng đầu năm 2003, dịch bệnh viêm não cấp của trẻ nhỏ dưới 15 tuổi lây truyền qua đường tiêu hoá đã gây ra 323 ca mắc bệnh trong đó có 33 ca tử vong

Bảng : Một số bệnh lây lan qua đườngnước

Hiện ở Việt Nam chưa phát hiện loại bệnh nào có liên quan đến asen, nhưng theo nhiều nghiên cứu của thế giới, người uống nước ô nhiễm asen lâu ngày sẽ có triệu chứng đầu tiên như có các đốm sẫm màu trên thân thể hay đầu các chi, đôi khi gây niêm mạc trên lưỡi hoặc sừng hoá trên bàn tay, bàn chân Asen

có thể gây ung thư gan, phổi, bàng quang và thận, gây bệnh tim mạch, cao huyết áp Trầm trọng hơn trong những năm gần đây xuất hiện các “Làng ung thư” do ô nhiễm môi trường đặc biệt là sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm như ở Hà Tây, Thạch Sơn, Nghệ An, Quảng Trị… do tiếp súc và sử dụng nguồn nước và môi trường ô nhiễm trầm trọng trong thời gian dài Qua số liệu điều tra các hộ gia đình tại một

số quận huyện ngoại thành trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh như Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh…, Các gia đình đều sử dụng nước giếng khoan hoặc giếng đào nhưng phần lớn không có hệ thống xử lý nước, nước bơm lên là dùng ăn uống trực tiếp, đây chính là nguyên nhân dể mắc phải các chứng bệnh nêu trên

TP.HCM: Chất lượng nước tiếp tục đi xuống

Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt từ 2004 đến tháng 6/2008 cho thấy, chất lượng nước tại các trạm quan trắc thuộc khu vực cấp nước ở TP.HCM đều không đạt chuẩn nguồn nước loại A

Kết quả quan trắc chất lượng nước kênh rạch nội thành cho thấy COD, BOD5, Coliform vẫn còn ô nhiễm ở mức độ cao, vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) nhiều lần Báo cáo cũng cho biết thêm, qua nhiều năm giám sát các điểm nóng ô nhiễm kênh rạch ở ngoại thành cho thấy, chỉ tiêu COD hầu hết vượt TCCP và đang có xu hướng tăng qua các năm Chất lượng nước dưới đất tại khu vực TP.HCM cũng đang trong tình trạng báo động, cụ thể, hàm lượng Coliform và kim loại nặng tại các trạm quan trắc đều không đạt tiêu chuẩn về chất lượng nước ngầm Đặc biệt, mức độ ô nhiễm vẫn tập trung ở các trạm ngoại thành với xu hướng ngày một tăng Ngoài ra, báo cáo cũng chỉ rõ, hiện trạng ô nhiễm công nghiệp đang ở mức báo động tại các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Trong các khu chế xuất,

Trang 33

khu công nghiệp vẫn còn tình trạng các doanh nghiệp chưa đấu nối nước thải vào hệ thống thu gom của khu chế xuất, khu công nghiệp hoặc nước thải sản xuất, nước thải sinh hoạt rò rỉ vào hệ thống thoát nước mưa Nhiều doanh nghiệp không trang bị hoặc trang bị không đầy đủ các phương tiện xử lý ô nhiễm, hoặc có trang bị nhưng không vận hành hoặc không đạt tiêu chuẩn

Đối với công tác quản lý môi trường tại TP.HCM, PGS.TS Nguyễn Văn Phước, Viện trưởng Viện Tài nguyên và Môi trường đã trình bày rõ việc cần phải nâng cao hơn nữa nhận thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường Cần di dời ngay các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm và giải quyết triệt để các vấn đề về

ô nhiễm nước, rác thải tại các khu công nghiệp cũng như nước thải y tế và bảo vệ nguồn nước dưới đất Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Đình Tuân, Chi cục Bảo vệ môi trường TP.HCM mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và môi trường dựa trên nền tảng lý thuyết đường cong U ngược Điều này có nghĩa là

ô nhiễm tăng dần trong giai đoạn đầu của tăng trưởng kinh tế là điều không tránh khỏi nhưng ô nhiễm rồi sẽ giảm dần xuống Do khi thu nhập tăng lên, người dân có ý thức hơn về giá trị môi trường, luật pháp, chính sách môi trường, các công nghệ sạch, công nghệ tiên tiến được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi sẽ tạo điều kiện cải thiện chất lượng môi trường một cách có hiệu quả

Nhiều bệnh viện vẫn thải nước dơ

Dù tình trạng ô nhiễm, nguy hại từ nguồn nước thải ở các bệnh viện trên địa bàn TPHCM đã được báo động từ năm 2006, nhưng đến nay nhiều bệnh viện, cơ sở y tế vẫn chưa xây dựng hệ thống xử

lý nước thải (XLNT)

Xử lý cũng như không

Theo báo cáo của Sở Y tế TP với UBND TPHCM, hiện nay trên toàn TP có 21 bệnh viện công thuộc Trung ương và các sở, ngành, 28 bệnh viện tư, 33 bệnh viện, cơ sở y tế trực thuộc Sở Y tế TP, 24 bệnh viện và 24 trung tâm y tế dự phòng trực thuộc quận - huyện Thế nhưng, trong số bệnh viện công thuộc Trung ương chỉ có 10 bệnh viện có hệ thống XLNT đạt tiêu chuẩn, 3 bệnh viện có hệ thống XLNT nhưng không đạt tiêu chuẩn, 8 bệnh viện còn lại đều không có hệ thống XLNT Trong số 28 bệnh viện

tư dù chỉ có một bệnh viện không có hệ thống XLNT, nhưng 11 bệnh viện có hệ thống XLNT lại không đạt tiêu chuẩn Đối với bệnh viện, cơ sở trực thuộc Sở Y tế TP dù có phát sinh nguồn thải buộc phải có hệ thống xử lý nhưng hiện chỉ có 10 bệnh viện có hệ thống XLNT đạt tiêu chuẩn, 20 bệnh viện

có hệ thống XLNT nhưng xử lý không đạt tiêu chuẩn, 3 bệnh viện còn lại không có hệ thống xử lý nước Trong 24 bệnh viện thuộc quận - huyện, có 12 bệnh viện có hệ thống XLNT đạt tiêu chuẩn, 8 bệnh viện có hệ thống xử lý nhưng xử lý không đạt tiêu chuẩn và 4 bệnh viện không có hệ thống xử lý Không tính đến các phòng khám, trạm y tế, hiện nay 24 trung tâm y tế dự phòng ở 24 quận - huyện đều chưa có hệ thống XLNT Sở Y tế TP cho rằng nguyên nhân là do các đơn vị này vừa mới được tách ra

từ trung tâm y tế quận - huyện nên chưa được đầu tư xây dựng hệ thống XLNT Được biết trong năm

2007, thanh tra Sở Tài nguyên-Môi trường TP đã kiểm tra 109 bệnh viện, trung tâm y tế và đã xử phạt

14 trường hợp vi phạm về XLNT

Tiền chờ dự án, dự án chờ tiền

Trong các cuộc họp về vấn đề ô nhiễm môi trường trên địa bàn TPHCM gần đây, ông Nguyễn Minh Hoàng, Trưởng Ban Kinh tế-Ngân sách HĐND TPHCM, cho biết đã ghi vốn 60 tỉ đồng để cho các bệnh viện thực hiện các dự án XLNT, tuy nhiên, 2-3 năm nay vẫn chưa có đơn vị nào lấy tiền để thực hiện Ngày 27-8, trao đổi với phóng viên Báo NLĐ về tiến độ thực hiện các dự án xây dựng hệ thống XLNT y tế ở các bệnh viện, ông Nguyễn Văn Phước, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên-Môi trường TP, cho biết từ tháng 11-2007, sở đã có văn bản thẩm định về công nghệ XLNT cho các bệnh viện, còn tiến

độ cụ thể của từng dự án do Sở Y tế nắm

Theo báo cáo của Sở Y tế, các đơn vị trực thuộc sở cần thực hiện, đầu tư xây dựng, sửa chữa, nâng cấp

hệ thống XLNT đã hoàn tất công tác lập dự án vào tháng 11-2007 Tuy nhiên, qua tìm hiểu, chúng tôi được biết hiện nay (5/2008) chỉ có 2 bệnh viện (Bệnh viện Điều dưỡng Phục hồi chức năng, Bệnh viện Điều trị bệnh nghề nghiệp và Viện Y Dược học Dân tộc) đã thực hiện kế hoạch đấu thầu đang chờ phê duyệt kết quả đấu thầu; 3 bệnh viện phải điều chỉnh dự án do phải điều chỉnh công nghệ Các bệnh viện lớn như Nhi Đồng 2, Đa khoa Củ Chi và Viện Tim đang thực hiện phê duyệt kế hoạch đấu thầu Ngoài

ra, có đến 15 bệnh viện phải điều chỉnh dự án do biến động về giá nguyên liệu, nhiên liệu Trong khi

đó, vấn đề về công nghệ và quy mô xây dựng hệ thống XLNT cho các phòng khám, trạm y tế vẫn chưa được thống nhất Do đó, chưa biết đến khi nào tất cả bệnh viện, cơ sở y tế ở TPHCM mới có hệ thống XLNT đạt tiêu chuẩn

Trang 34

Kêu gọi xã hội hóa

Sở Y tế TPHCM vừa đề xuất các sở, ngành liên quan sớm có ý kiến triển khai lộ trình thực hiện công tác xã hội hóa các dự án xây dựng hệ thống XLNT theo 2 hình thức: Bệnh viện đầu tư xây dựng hoặc nâng cấp cải tạo hệ thống XLNT, sau đó đấu thầu, hợp đồng với các doanh nghiệp để vận hành và bảo trì Hoặc tổ chức đấu thầu hợp đồng với các doanh nghiệp đầu tư xây dựng hệ thống XLNT, đồng thời vận hành và bảo trì luôn

4 Bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên nước

Nước là tài nguyên đặc biệt, quan trọng thứ hai sau tài nguyên con người, là thành phần thiết yếu của sự sống, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của muôn loài Tuy nhiên, không phải mọi người đều đã hiểu và quan tâm đúng mức đến sự thật hiển nhiên đó Khan hiếm nước đang ngày càng gia tăng, mâu thuẫn về nước ngày càng căng thẳng Thế giới đang đặt ra mục tiêu trong thiên niên kỷ tới là tăng tỷ lệ cấp nước sạch cho người dân Chủ đề "Đối phó với khan hiếm nước" của ngày nước thế giới năm 2007 cũng cảnh tỉnh mọi người về nguy cơ khan hiếm nước và nhấn mạnh việc phối hợp, hợp tác nhằm quản

lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng bền vững, hiệu quả và công bằng nguồn nước

Tài nguyên nước ở nước ta đang chịu những áp lực ngày càng lớn do phát triển kinh tế, xã hội, gia tăng dân số, làm phát sinh những mâu thuẫn trong khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước Việc khai thác quá mức các tài nguyên liên quan đến nước như khai thác đất và rừng đã tác động rất xấu đến tài nguyên nước, làm thay đổi chế độ dòng chảy tự nhiên, giảm nguồn cung cấp nước ngầm, làm lũ lụt gia tăng, cạn kiệt trầm trọng hơn, xói mòn lưu vực, bồi lắng, xói lở lòng dẫn diễn ra phổ biến và phức tạp hơn Sự khai thác, sử dụng thiếu ý thức và thiếu sự kiểm soát đã làm nước mặt và nước dưới đất suy giảm, cạn kiệt dẫn tới khan hiếm nước ở nhiều nơi Sự thiếu hiểu biết và thiếu những biện pháp cần thiết

để phòng chống ô nhiễm càng làm nước tuy có mà suy thoái về chất Khan hiếm nước vì thế càng nghiêm trọng hơn Rõ ràng, việc hiểu biết về những bản chất tự nhiên và tiềm năng nguồn nước cùng với việc thực thi các biện pháp thích hợp để quản lý, bảo vệ, khai thác và sử dụng tổng hợp, đa mục tiêu, hiệu quả và tiết kiệm nguồn nước của quốc gia là vấn đề trở nên cấp bách hơn bao giờ hết

B TÀI NGUYÊN NƯỚC VIỆT NAM

I ĐẶC ĐIỂM TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG NƯỚC LỤC ĐỊA VIỆT NAM

1 Thuận lợi cơ bản: Tài nguyên nước tương đối phong phú

Về nước mặt do mưa, trung bình hàng năm lãnh thổ Việt Nam nhận được 1.944mm nước mưa,

trong đó bốc hơi trở lại không trung 1.000mm, còn lại 941mm hình thành một lượng nước mặt khoảng

310 tỷ m3 Tính bình quân, mỗi người dân Việt, có thể hứng được một lượng nước bằng 3.870 m3 mỗi năm; hoặc 10,6 m3 tức 10.600 lít nước mỗi ngày Trong lúc tại các nước công nghiệp phát triển nhất, tổng nhu cầu về nước trong một ngày bình quân theo đầu người, bao gồm cả nước sinh hoạt, nước cung cấp cho nông nghiệp và công nghiệp cũng chỉ vào khoảng 7.400 lít/người.ngày; bao gồm 340 lít cho sinh hoạt, 2.540 lít cho nông nghiệp và 4.520 lít cho công nghiệp Ở nước ta, tại các đô thị lớn, lượng nước sinh hoạt cấp cho mỗi người/ngày hiện nay chỉ mới vào khoảng 100 - 150 lít Mục tiêu của Chính phủ Việt Nam là cung cấp cho nhân dân nông thôn khoảng 70 lít/người.ngày vào năm 2010 và 140 lít/người.ngày vào năm 2020 Ở một số vùng đặc biệt khan hiếm nước vào mùa khô, như vùng Lục Khu thuộc tỉnh Cao Bằng, mục tiêu phấn đấu hiện nay là cung cấp cho mỗi người, mỗi ngày 15 lít nước Chỉ riêng nguồn nước ngọt từ mưa tiềm năng đã vượt khá xa yêu cầu về cấp nước

Ngoài nguồn nước mặt từ mưa, Việt Nam hiện còn có nguồn nước rất lớn do các con sông xuyên

biên giới đem từ lãnh thổ các nước ngoài vào như sông Hồng, sông Mã, sông Cả, sông Mê Công Lượng nước này ước tính bằng 520 tỷ m3, gấp 1,7 lần lượng nước ngọt hình thành trong nước Một số sông xuyên biên giới như sông Kỳ Cùng ở Lạng Sơn, Bằng Giang ở Cao Bằng, chuyển một lượng nước từ Việt Nam qua lãnh thổ Trung Quốc Tuy nhiên lượng này không đáng kể so với tổng lượng nước hình thành trên lãnh thổ Việt Nam Các phụ lưu của sông Mê Công, như Nậm Rốm, Sê Kông, Sê Băng Hiêng, Sê San, Srê Pok chuyển một lượng nước khá lớn từ lãnh thổ Việt Nam vào các nước láng giềng như Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, Lào, Campuchia, nhưng rồi từ các nước này lượng nước đó lại chảy trở lại vào Đồng bằng sông Cửu Long

Ngày đăng: 31/10/2017, 13:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w