I. RỪNG VÀ VAI TRÒ CỦA RỪNG 1. Khái niệm về rừng và tài nguyên rừng Khái niệm rừng: Rừng là một HST điển hình và quan trọng nhất sinh quyển, là lá phổi xanh của thế giới, đó là sự thống nhất trong mối quan hệ biện chứng giữa sinh vật đất môi trường, trong đó thực vật, cụ thể hơn là các loài cây gỗ đóng vai trò chủ đạo. Rừng đã có quá trình lịch sử phát triển lâu dài. Tuỳ thuộc vào: (1) sự hình thành các thảm thực vật TN, (2) các vùng địa lý và (3) điều kiện khí hậu... mà ở các nơi hình thành nên các kiểu rừng khác nhau và trong đó chứa đựng các tài nguyên không giống nhau. Một số kiểu thảm thực vật rừng chính trên TG ở hình 3.1. o Rừng taiga o Rừng rụng lá ôn đới o Rừng mưa nhiệt đới
Trang 1CHƯƠNG 3 TÀI NGUYÊN RỪNG
I RỪNG VÀ VAI TRÒ CỦA RỪNG
1 Khái niệm về rừng và tài nguyên rừng
* Khái niệm rừng: Rừng là một HST điển hình và quan trọng nhất sinh quyển, là lá phổi xanh
của thế giới, đó là sự thống nhất trong mối quan hệ biện chứng giữa sinh vật - đất - môi trường, trong đó thực vật, cụ thể hơn là các loài cây gỗ đóng vai trò chủ đạo Rừng đã có quá trình lịch
sử phát triển lâu dài Tuỳ thuộc vào:
(1) sự hình thành các thảm thực vật TN, (2) các vùng địa lý và
(3) điều kiện khí hậu
mà ở các nơi hình thành nên các kiểu rừng khác nhau và trong đó chứa đựng các tài nguyên không giống nhau Một số kiểu thảm thực vật rừng chính trên TG ở hình 3.1
o Rừng taiga
o Rừng rụng lá ôn đới
o Rừng mưa nhiệt đới
Hình 3 1: Sự phân bố của các loại rừng theo vĩ độ và các đai khí hậu
* Khái niệm hệ sinh thái rừng: hệ sinh thái đặc trưng bằng thảm thực vật, tổng hoà của những
loài cây lớn, cây bụi, cỏ và các loài thực vật bậc thấp, cùng các loài động vật và vi sinh vật quan
hệ với nhau về mặt sinh học và có tác động qua lại với môi trường xung quanh R là một bộ phận hợp thành quan trọng của sinh quyển, một yếu tố của cảnh quan địa lí
* Khái niệm tài nguyên rừng: Tài nguyên rừng là tất cả các dạng vật chất và năng lượng mà con
người khai thác từ rừng để phục vụ cho sự phát triển của mình.Tài nguyên của rừng rất phong phú và đa dạng, bao gồm cả tài nguyên sinh vật, đất đai, khí hậu, cảnh quan Tài nguyên rừng có thể được chia thành các nhóm sau: (1) Tài nguyên gỗ; (2) Tài nguyên phi gỗ; (3) Tài nguyên đất; (4) Tài nguyên nước; (5) Tài nguyên đa dạng sinh học
Rừng sản xuất: Sản xuất kinh doanh gỗ, lâm sản phi gỗ, động vật rừng và BVMT sinh thái
Trang 2Hiện nay đất rừng Việt nam đã được qui hoạch là hơn 19 triệu ha, đến cuối năm 1995, độ che phủ của rừng mới chỉ đạt 49% số đất đã qui hoạch, như vậy chúng ta còn tới 51% diện tích đất rừng nhưng chưa có rừng Các loại rừng của nước ta và diện tích tương ứng của nó phân theo 2 nhóm: Đất có rừng, đất không có rừng được trình bày trong bảng 3.5
Bảng 3.5.Diện tích các loại rừng và đất rừng phân theo mục đích sử dụng của Việt Nam, 1995
Nguồn: Nguyễn Tường Vân, 1997
- Theo độ giàu nghèo ta phân biệt:
Rừng giàu: có trữ lượng gỗ trên 150 m3/ha
Rừng trung bình: có trữ lương gỗ từ 80 -150 m3/ha
Rừng nghèo: có trữ lượng gỗ dưới 80 m3/ha
- Theo các tính toán mới đây, năng suất trung bình của rừng trên toàn thế giới đạt đến 5 tấn chất khô/ ha/ năm Tuy nhiên con số này rất khác nhau tùy theo loại rừng và nơi phân bố của chúng: Rừng lá kim (tai ga) ở vùng ôn đới, nơi có thời gian sinh trưởng ngắn nên năng suất thấp hơn nhiều so với rừng ẩm nhiệt đới Rừng này chiếm một diện tích rộng lớn ở Bắc Mỹ, Châu Âu, Nga, Bắc Trung Quốc và các vùng núi cao nhiệt đới Cây chủ yếu của rừng là thông, linh sam, Rừng lá kim phát triển theo các dãy núi từ Bắc Mỹ xuống Mehico bao gồm nhiều thông đỏ, thông núi,
Rừng lá rộng ôn đới, phân bố thấp hơn, gần vùng nhiệt đới hơn và đã có một thời kỳ phủ kín vùng Đông Bắc Mỹ, khắp Châu Âu, một phần Nam Mỹ và một phần Trung Quốc, Nhật Bản, Úc Có lẽ "nền văn minh đạt được cực thịnh" ở Châu Âu, Bắc Mỹ và Viễn Đông đã làm cho rừng này bị thu hẹp nhanh và nay chẳng còn bao nhiêu Khoảng 3.000 năm trước công nguyên, do phát triển của văn minh công nghiệp, rừng lá rông bị triệt hạ tới 32 - 33%
để lấy đất canh tác trong khi đó thì rừng nhiệt đới lúc này chỉ bị mất 15 - 20%
Rừng mưa nhiệt đới là rừng có độ đa dạng sinh học cao nhất, giàu có nhất, kéo dài thành một vành đai quanh xích đạo, nơi có lượng mưa cao, nhiệt độ cao và đồng đều quanh năm Dải rừng mưa nhiệt đới rộng lớn nhất và phát triển liên tục thuộc lưu vực sông Amazon (Nam Mỹ), lưu vực sông Côngô (Tây Phi) và vùng Ấn Độ, Malaysia Dải rừng Ấn Độ - Malaysia giàu có nhất, chỉ một khu vực hẹp thôi mà có thể đếm được từ 2500 đến 10.000 loài thực vật mà đặc trưng của chúng là rừng nhiều tầng Trong rừng cây có lá quanh năm, chằng chịt dây leo, tối âm u, ẩm và nóng
1 Vai trò của rừng
Rừng là hệ sinh thái có độ đa dạng sinh học cao nhất ở trên cạn, nhất là rừng ẩm nhiệt đới Ngoài ý nghĩa về tài nguyên động thực vật, rừng còn là một yếu tố địa lý không thể thiếu được trong tự nhiên, có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc tạo cảnh quan và tác động mạnh mẽ đến các yếu tố khí hậu, đất đai Chính vì vậy, rừng không chỉ có chức năng trong phát triển kinh
tế - xã hội mà còn có ý nghĩa đặc biệt trong bảo vệ môi trường Diện tích đất có rừng của một quốc gia tối ưu phải đạt 45% tổng diện tích Tùy theo nhận thức và các lợi ích khác nhau mà vai trò của rừng được đánh giá khác nhau
Hiện nay rừng được đánh giá theo các vai trò chính như sau:
Là hệ sinh thái đa dạng và giàu có nhất trên cạn, đặc biệt là rừng ẩm nhiệt đới Năng suất trung bình của rừng trên thế giới đạt 5 tấn chất khô/ha/năm, đáp ứng 2 - 3% nhu cầu lương thực phẩm cho con người
Trang 3Rừng có vai trò to lớn về môi trường và phát triển, là nguồn cung cấp nguyên vật liệu cần thiết cho con người
Rừng cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, dược liệu, du lịch, giải trí
Rừng là "lá phổi xanh" hấp thụ CO2, tái sinh oxy, điều hòa khí hậu cho khu vực Rừng tạo nên khoảng 16 tấn oxy/ ha/ năm (rừng thông 30 tấn, rừng trồng 3 - 10 tấn) Mỗi người một năm cần 4.000kg O2 tương ứng với lượng oxy do 1.000 - 3.000 m2 cây xanh tạo ra trong năm
Rừng giúp giảm nhẹ Hiệu ứng nhà kính và biến đổi khí hậu trên toàn cầu Nhiệt độ không khí rừng thường thấp hơn nhiệt độ đất trống khoảng 3 - 5oC Rừng bảo vệ và ngăn chặn gió bão, giảm thiểu lũ lụt, gió bão, hạn hán,
Về tác dụng cân bằng sinh thái, rừng có vai trò vô cùng quan trọng:
Trước hết, rừng có ảnh hưởng đến nhiệt độ, độ ẩm không khí, thành phần khí quyển và có ý nghĩa điều hoà khí hậu Rừng là vật cản trên đường di chuyển của gió và có ảnh hưởng đến tốc độ cũng như thay đổi hướng gió Rừng không chỉ chắn gió mà còn làm sạch không khí và
có ảnh hưởng đến vòng tuần hoàn trong tự nhiên Trên thực tế, rừng đươc coi là nhà máy lọc bụi khổng lồ Trung bình 1 năm, một ha rừng thông có khả năng hút 36,4 tấn bụi từ không khí Bên cạnh đó, rừng cũng góp phần làm giảm tiếng ồn Rừng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng làm cân bằng lượng O2 và CO2 trong khí quyển Rừng còn tạo ra một hoàn cảnh tiểu khí hậu có tác dụng tốt đến sức khoẻ con người Rừng làm giảm nhiệt độ và tăng độ ẩm không khí
Rừng có vai trò bảo vệ nguồn nước bảo vệ đất chống xói mòn Thảm thực vật có chức năng quan trọng trong việc ngăn cản một phần nước mưa rơi xuống đất và có vai trò phân phối lại lượng nước này Các nghiên cứu cho thấy nước mưa được thực vật rừng giữ lại là 25% tổng lượng mưa Tán rừng có khả năng giảm sức công phá của nước mưa đối với lớp đất bề mặt Rừng còn làm tăng khả năng thấm và giữ nước của đất, hạn chế dòng chảy trên mặt Tầng thảm mục rừng có khả năng giữ lại lượng nước bằng 100 - 900% trọng lượng của nó Chính vì vậy, đã làm giảm đáng kể lượng đất bị xói mòn Nhiều nghiên cứu cho thấy ở vùng nhiệt đới như ở nước ta, nơi có rừng lượng đất xói mòn hằng năm chỉ vào khoảng 1,5 tấn/ha trong khi
đó ở nơi không có rừng có thể lên tới 100 - 150 tấn/ha và dòng chảy mặt tăng 3 - 4 lần Hệ số dòng chảy mặt trên đất có độ che phủ 35% lớn hơn đất có độ che phủ 75% hai lần Lượng đất xói mòn của rừng bằng 10% lượng đất xói mòn từ vùng đất không có rừng
Thảm mục rừng là kho chứa các chất dinh dưỡng khoáng, mùn và ảnh hưởng lớn đến độ phì nhiêu của đất Các sản phẩm rơi rụng của thực vật trên mặt đất là cơ sở ban đầu hình thành tầng thảm mục rừng và mùn đất Đây cũng là nơi cư trú và cung cấp chất dinh dưỡng cho vi sinh vật, nhiều loại côn trùng và động vật đất, tạo môi trường thuận lợi cho động vật và vi sinh vật đất phát triển và có ảnh hưởng đến các quá trình xảy ra trong đất Hệ rễ cây có ảnh hưởng lớn đến tính chất lý hoá của đất, từ đó tạo cho đất rừng khác với đất sản xuất nông nghiệp Rễ cây ăn sâu trong đất làm cho nó trở nên tơi xốp, tăng khả năng thấm nước và giữ đất, chống lại quá trình xói mòn
Rừng là nguồn gen vô tận của con người, là nơi cư trú của hàng triệu loài động vật và vi sinh vật, rừng được xem là ngân hàng gen khổng lồ, lưu trữ các loại gen quí Mất rừng sẽ làm mất nhiều loại tài nguyên thiên nhiên, dẫn đến sự tuyệt chủng của nhiều loài sinh vật Phá rừng làm mất nơi cư trú và ảnh hưởng đến ổ sinh thái của các sinh vật, dẫn đến làm tăng sự cạnh tranh giữa các cá thể trong loài cũng như giữa các loài với nhau Rừng là một hệ sinh thái đã được thiết lập ở trạng thái cân bằng, trong đó mỗi loài đều có vai trò không thể thiếu để duy trì hoạt động của toàn bộ hệ sinh thái Do vậy khi 1 loài bị suy giảm hoặc bị biến mất sẽ ảnh hưởng đến sự tồn tại của các loài khác, và cuối cùng gây hại đến hệ sinh thái toàn cầu
Trang 4II SỰ PHÂN BỐ RỪNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1 Sự phân bố và các kiểu rừng chính trên thế giới
Trong những kiểu rừng được hình thành thì khí hậu, đất đai và độ ẩm sẽ xác định thành phần cấu trúc và tiềm năng phát triển của thảm thực vật rừng Sự phân bố của thảm thực vật rừng là sự đồng nhất tương đối về địa lý và sinh thái, được hiểu như là một đơn vị địa lý thực vật độc lập, chúng kết hợp với nhau theo vĩ độ địa lý và địa hình tạo thành những đai rừng lớn trên trái đất Sự phân bố các đai rừng là một quá trình tự nhiên, cơ bản không chịu tác động của con người Mặc dù các động thực vật rừng là rất đa dạng, các quần xã rừng cũng có rất nhiều, nhưng vẫn có thể liên kết chúng với nhau để tạo thành một số kiểu rừng đặc trưng có tổ thành và cấu trúc nhất định, có đặc trưng sinh trưởng, phát triển và năng suất nhất định
Mỗi một HST rừng đều chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố như lượng mưa, độ ẩm, không khí, độ cao, vị trí địa lý, gió, đất đai, hướng dốc, độ dốc, Sự phân bố, thành phần loài, cấu trúc, quá trình hình thành và phát triển của rừng sẽ chịu sự tác động của các yếu tố đó Tuy nhiên việc phân loại rừng mà dựa trên nhiều chỉ tiêu tổng hợp là không thể thực hiện được, vì thế mà các nhà khoa học đã sử dụng nhiều phương pháp phân loại chỉ dựa vào một nhóm yếu tố, như: Phương pháp phân loại khí hậu, phương pháp phân loại địa lý tự nhiên, phương pháp phân loại thảm thực vật, phương pháp phân loại hệ sinh thái
Theo PP phân lại theo khí hậu của Becgơ thì rừng được chia thành 12 vùng cơ bản:
3 Khí hậu Rừng lá rộng ôn đới 9 Khí hậu sa mạc nhiệt đới
4 Khí hậu Thảo nguyên 10 Khí hậu Savan nhiệt đới
5 Khí hậu Địa Trung Hải 11 Khí hậu rừng mưa nhiệt đới
6 Khí hậu gió mùa ôn đới 12 Khí hậu núi cao đóng băng
Hình 3.2: Các hệ sinh thái và các kiểu rừng phổ biến trên thế giới
Theo PP phân loại thảm thực vật của Whittaker, 1975 thì rừng thế giới được chia thành 21 kiểu quần hệ:
1 Rừng mưa nhiệt đới
2 Rừng phân mùa nhiệt đới
3 Rừng ôn đới
11 Rừng cây bụi ôn đới
12 Thảo nguyên nhiệt đới
13 Thảo nguyên ôn đới
Trang 510 Rừng thưa ôn đới
14 Rừng cây bụi trên núi cao
15 Thảo nguyên trên núi cao
16 Tundra - Đài nguyên
Rừng trên thế giới từng chiếm diện tích 60 triệu km2 (6 tỷ ha) ở trên các lục địa Sau đó, rừng đã bị thu hẹp xuống còn 44,05 triệu km2 vào năm 1958 và hiện nay còn khoảng 38,8 triệu km2, chiếm khoảng 30% bề mặt trái đất (Bảng 3.1.) Trong số 38,8 triệu km2 rừng thế giới có 36,92 triệu km2 rừng tự nhiên (95%) và 1,87 triệu km2 (5%) rừng trồng
Bảng 3.1 Diện tích của các loại rừng chính trên thế giới
Nguồn: Global Biodiversity 2000
Diện tích rừng bình quân thế giới trên đầu người là 0,6 ha/người Tuy nhiên có sự sai khác lớn giữa các quốc gia Châu Á có có diện tích rừng trên đầu người thấp nhất, trong khi đó Châu Đại dương và Nam Mỹ có một diện tích rừng đáng kể trên đầu người Chỉ có 22 quốc gia
có trên 3 ha rừng trên đầu người và cũng chỉ có 5% dân số thế giới sống trong các quốc gia đó hầu hết là ở Braxil và Liên Xô cũ Trái lại 3/4 dân số thế giới sống trong các quốc gia có diện tích rừng trên đầu người nhỏ hơn 0,5 ha, phần lớn ở các quốc gia có dân số đông như ở Châu Á
và Châu Âu (Nguồn FRA 2000)
Phần lớn đất rừng rất thích hợp cho canh tác nông nghiệp Do vậy rừng bị thu hẹp chủ yếu để lấy đất làm nông nghiệp, trồng trọt và chăn nuôi Trong thời gian khoảng 5.000 năm con người thu hẹp diện tích của rừng từ 50% trên bề trái đất xuống còn 17% Người ta cũng dự báo rằng nếu cứ bị triệt hạ theo đà này thì trong vòng 160 năm nữa, trên trái đất sẽ không còn rừng
và trở nên trần trụi, trong đó Thái Lan là 25 năm, Philippines 20 năm và Nepal trong vòng 15 năm!
Vào giai đoạn đầu của nền văn minh nông nghiệp thì rừng lá rụng bị triệt hạ và nay là rừng nhiệt đới Nhịp điệu triệt hạ rừng khó đoán chính xác nhưng bằng phương pháp không ảnh hoặc ảnh vệ tinh có thể tính rằng, hằng năm trên thế giới mất đi trung bình 16,1 triệu ha rừng, trong đó rừng nhiệt đới bị suy giảm với tốc độ lớn nhất 15,2 triệu ha (FAO 2001)
Hiện nay rừng nhiệt đới chỉ còn khoảng 50% diện tích so với trước đây Rừng hàng năm
bị triệt hạ mạnh nhất ở Mỹ Latinh, Trung Mỹ, rừng và đất rừng giảm tới 38%, từ 115 ha xuống còn 71 triệu ha Rừng ở Châu Phi giảm 23%, từ 901 triệu ha xuống còn 690 triệu ha trong khoảng thời gian từ 1950 đến 1983 Nạn ô nhiễm môi trường đã tạo nên những trận mưa acid
Trang 6làm hủy diệt nhiều khu rừng, đặc biệt ở các nước Châu Âu, hiệu ứng nhà kính làm cho trái đất nóng lên và nước biển dâng cao nhất định sẽ để lại ảnh hưởng đến sự phân bố rừng trên trái đất Theo FRA 2000 (Forest Resources Assessment 2000) có khoảng 178 triệu ha rừng trồng chiếm 5% diện tích rừng thế giới Châu Á chiếm tỷ lệ lớn nhất với 62% rừng trồng thế giới Mười quốc gia chiếm tỷ lệ lớn nhất về rừng trồng thế giới là Trung Quốc, Ấn Độ, Liên Bang Nga, Mỹ, Nhật Bản, Indonesia, Brazil, Thái Lan, Ukraina và Cộng Hoà Iran (chiếm khoảng 80%) Các quốc gia còn lại chiếm khoảng 20%
2 Sự phân bố và các kiểu rừng chính ở Việt Nam
Theo bảng phân loại của Cục điều tra và quy hoạch rừng thuộc tổng cục lâm nghiệp Việt nam xây dựng năm 1960 thì rừng trên toàn lãnh thổ Việt nam được chia làm 4 loại hình:
Loại I: Đất đai hoang trọc, những trảng cỏ và cây bụi, loại này cần phải trồng rừng
Loại II: Gồm những rừng non mới mọc, cần phải tra dặm thêm cây hoặc tỉa thưa
Loại III: Gồm tất cả các loại hình rừng bị khai thác mạnh nên trở thành nghèo kiệt tuy còn
có thể khai thác lấy gỗ, trụ mỏ, củi, nhưng cần phải xúc tiến tái sinh, tu bổ, cải tạo
Loại IV: Gồm những rừng già nguyên sinh còn nhiều nguyên liệu, chưa bị phá hoại, cần
khai thác hợp lý
Phân loại này không phân biệt được kiểu rừng nguyên sinh với các kiểu phụ thứ sinh và các giai đoạn diễn thế Năm 1970, Trần Ngũ Phương đưa ra bảng phân loại rừng ở miền bắc Việt nam, chia thành 3 đai lớn theo độ cao:
Đai rừng nhiệt đới mưa mùa
Đai rừng á nhiệt đới mưa mùa
Đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao
Năm 1975, trên cơ sở các điều kiện lập địa trên toàn lãnh thổ Việt nam, tại hội nghị thực vật học quốc tế lần thứ XII (Leningrat, 1975), Thái văn Trừng đã đưa ra bảng phân loại thảm thực vật rừng Việt nam trên quan điểm sinh thái, dựa vào 4 tiêu chuẩn cơ bản sau đây:
Dạng sống ưu thế: thảm thực vật được chia thành Rừng, Rú và Trảng cỏ, truông
Độ tàn che của tầng ưu thế sinh thái: Phân biệt TTV rừng -> rừng kín và rừng thưa
Hình thái sinh thái của lá: Phân biệt thành 3 nhóm: Lá rộng, lá kim và hỗn giao
Trạng thái mùa của tán lá: Phân biệt rừng thường xanh và Rừng nửa rụng lá
Phân loại thảm thực vật rừng ở Việt Nam trên quan điểm sinh thái học của Thái Văn Trừng đến nay được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng ở Việt nam phù hợp nhất trên quan điểm sinh thái:
1 Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới: phân bố dưới 700m hoặc 1000m
2 Kiểu rừng kín rụng lá hơi ẩm nhiệt đới
3 Kiểu rừng kín lá cứng hơi khô nhiệt đới
4 Kiểu rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới
5 Kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô nhiệt đới
6 Kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô á nhiệt đới núi thấp
7 Kiểu trảng cây to, cây bụi, cây cỏ cao khô nhiệt đới
8 Kiểu truông bụi gai hạn nhiệt đới
9 Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp
10 Kiểu rừng kín hỗn hợp cây lá rộng,lá kim ẩm á nhiệt đới núi thấp
11 Kiểu rừng kín cây lá kim ẩm ôn đới ẩm núi vừa
12 Kiểu quần hệ khô lạnh vùng cao
13 Kiểu quần hệ lạnh vùng cao
Xác định kiểu rừng có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với việc khai thác và quản lý hợp lý và bền vững tài nguyên rừng Kiểu rừng cho phép nhận biết về bản chất tự nhiên, về những thành phần cơ bản của rừng, điều kiện sinh thái và xu thế phát triển của rừng, năng suất tương đối của rừng Từ đó, chúng ta đưa ra các kế hoạch và biện pháp khai thác, quản lý, tái sinh phục hồi rừng và bảo vệ, bảo tồn rừng cho phù hợp
Trang 7Hình 3.3 Phẫu diện của các kiểu rừng Việt Nam:
1 Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới
5 Rừng thưa lá rộng hơi khô nhiệt đới;
6 Rừng thưa lá kim hơi khô nhiệt đới;
7 Trảng cỏ (cây bụi, cây to) khô nhiệt đới;
9 Rừng kín thường xanh mưa ẩm cận nhiệt đới núi thấp;
10 Rừng kín hỗn hợp lá rộng-lá kim ẩm cận nhiệt đới núi tầng trên;
11 Rừng kín lá kim ẩm ôn đới vừa;
12 Rừng thưa lá kim cận nhiệt đới và ôn đới hơi khô;
13 Quần hệ khô vùng núi;
Trang 8III CÁC LOẠI TÀI NGUYÊN RỪNG
1 Tài nguyên gỗ
* Các nhóm gỗ và giá trị:
Con người nguyên thủy cũng sinh ra và kiếm sống đầu tiên trong các cánh rừng già và từ
đó dần mở rộng khu vực tìm kiếm thức ăn qua các đồi núi để lan tràn xuống dọc theo các con sông vùng đồng bằng phì nhiêu Trong sự phát triển lâu dài của toàn bộ hành tinh, vào thời đại
Trung sinh (Mesozoic) cách đây trên 100 triệu năm, sinh giới đã có một bước tiến hóa quyết
định, đó là sự ra đời của động vật có vú và thực vật hạt kín, hai nguồn tài nguyên lớn nhất cho
con người được sinh ra sau này (con người chỉ xuất hiện vào cuối Đại tân sinh (Cenozoic) Con
người ngay từ lúc bước ra khỏi cầm thú, đã thu lượm các sản phẩm tài nguyên trên các cây gỗ lớn trung bình Ban đầu, con người thu lượm những sản phẩm của cây như lá, vỏ cây, hoa, trái, ngọn, để làm thức ăn, thuốc chữa bệnh, áo quần sau đó là củi để đun, gỗ để xây cất nhà cửa, làm công cụ sản xuất Cho tới thời đại văn minh ngày nay, khi con nguời đã tìm và phát minh
ra nhiều loại vật liệu mới bền chắc và đẹp nhưng gỗ vẫn đóng một vai trò không nhỏ trong xây dựng và sản xuất đồ đạc
Cây gỗ đặc biệt cây gỗ trong ngành thực vật hạt kín cũng trải qua quá trình tiến hóa, thích nghi với môi trường sống luôn biến động để đa dạng hóa, mang nhiều đặc tính quí phục vụ lợi ích của cuộc sống con người Mối quan hệ giữa con người với cây cỏ, mà nguyên thủy từ các loài cây gỗ đã được thiết lập và ngày càng có nhiều ràng buộc phức tạp
Cây thân gỗ là loài có thân mọc thẳng (nhóm thực vật tự dưỡng độc lập về mặt cơ giới) luôn có tư cách là những sinh vật “lập quần” để kiến tạo ra các quần xã thực vật đa dạng về tổ thành và cấu trúc Từ các loài cây gỗ tiên phong trên các diện tích đất nhất định sẽ tạo dựng lên một môi trường thích hợp lôi kéo các loài cây “tùy tùng” và cây “ngẫu nhiên” đến cùng sống,
xây dựng nên những sinh cảnh rừng (biotope) sau một thời gian dài chọn lọc tự nhiên Những
cánh rừng nhiều tầng đó là nơi ngụ cư lý tưởng cho các loài động vật, từ đó hình thành ra các
sinh cảnh biome
Từ trước đến nay thì gỗ được con người đánh giá là nguồn tài nguyên cơ bản của HST rừng, nó cung cấp nguyên liệu cho các ngành xây dựng, công nghiệp giấy, sản xuất các đồ gỗ, các loại dụng cụ gia đình Các cây gỗ còn một giá trị khác quan trong hơn nữa đó là bảo vệ đất, chống xói mòn, điều hoà khí hậu và lưu lượng nước của các dòng chảy lục địa
Nhìn chung tài nguyên gỗ trong các loại hình rừng đều có xu hướng giảm sút và tiến tới
sa mạc hóa nhiều vùng đất rộng lớn Riêng khu vực châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) hiện
nay chỉ còn 2 nước có tỷ lệ rừng lớn nhất là đảo Salomon (93%) và Papua Tân Ghi nê (85%), còn lại 10 trong 29 nước, tỷ lệ rừng chỉ còn trong phạm vi 50% và 4 nước có tỷ lệ rừng thấp
nhất (ít hơn 5%) (Afganistan, Pakistan, Maldiva và Vanuatu) Tổng diện tích rừng của khu vực
này chỉ còn có 658 triệu hecta, phân bố không đồng đều ở các nước Tất cả đều đang ở trong trạng thái bị phá hoại nghiêm trọng, dẫn đến sự mất dần tính đa dạng và giảm sút trữ lượng gỗ
Trang 9Hỡnh 3.4: Tốc độ tớch luỹ sinh khối của rừng theo thời gian
Sự tớch luỹ sinh khối: Trung bỡnh mỗi hecta rừng hàng năm tạo nờn sinh khối khoảng
300 - 500 kg tuỳ loại Tuy nhiờn tốc độ tớch luỹ sinh khối thay đổi rất nhiều theo từng loại rừng
và theo từng giai đoạn phỏt triển của một khu rừng (Hỡnh 3.4) Trong cỏc giai đoạn diễn thế đầu, cỏc khu rừng đều tăng lờn về số loài, số cõy và ngày càng khộp tỏn rậm rạp hơn; trong giai đoạn này cả khu rừng tớch cực tớch luỹ sinh khối và tốc độ tớch luỹ sinh khối tăng rất nhanh Trong cỏc giai đoạn diễn thế giữa, cỏc khu rừng tăng độ đa dạng, số loài nhiều lờn, nhưng số cỏ thể trong mỗi loài lại ớt đi, sinh khối vẫn được tớch luỹ, đặc biệt là nhờ vào sự tăng kớch thước của cỏc cõy
gỗ lớn, nhưng tốc độ tớch luỹ sinh khối giảm dần Tốc độ của sự tớch luỹ sinh khối sẽ giảm dần cho đến khi quần xó đạt tới trạng thỏi đỉnh cực
Trong quỏ trỡnh sử dụng gỗ, cỏc nhà kinh doanh luụn quan tõm đến cỏc đặc tớnh cơ vật lý và cỏc đặc điểm về thẩm mỹ, trong đú đặc biệt chỳ trọng đến chỉ tiờu “Tỷ trọng” Tỷ trọng càng lớn thỡ gỗ càng tốt, tỷ trong là trọng lượng của gỗ(tấn)/ m3 khi được đo ở trạng thỏi gỗ cũn
học-độ ẩm 15%, và được chia thành cỏc bậc sau:
* Tài nguyờn cõy gỗ Việt Nam
Tài nguyờn cõy gỗ tập trung vào hai ngành thực vật tiến húa nhất: Ngành thực vật hạt
trần (cũn gọi là Ngành Thụng: Pinophyta) và Ngành thực vật hạt kớn (cũn gọi là Ngành Ngọc Lan: Magnoliophyta) hiện nay chiếm hầu hết cỏc diện tớch đất rừng tự nhiờn và gõy trồng Cỏc
loài cõy gỗ trong ngành thực vật hạt trần được cỏc nhà kinh doanh, làm nghề rừng gọi là "Nhúm
gỗ mềm” hay nhúm “cõy lỏ kim”, cũn cõy gỗ trong ngành thực vật hạt kớn được gọi là “nhúm gỗ
cứng” hay nhúm “cõy lỏ rộng”
Trước năm 1945, rừng nước ta cú trữ lượng gỗ khoảng 200 - 300m3/ ha, trong đú những loài gỗ quý như Đinh, Lim, Sến, Tỏu, Nghiến, Trai, Gụ là rất phổ biến Những cõy gỗ cú đường kớnh 40-50cm rất nhiều, chiếm đến khoảng 50% trữ lượng của rừng Bờn cạnh đú rừng tre, nứa, vầu cũng cú chất lượng cao, đường kớnh lớn đến 20cm Nhưng số lượng và chất lượng rừng đó giảm rất nhanh trong cỏc cuộc chiến tranh và thời gian đầu khụi phục kinh tế sau chiến tranh, theo thống kờ vào năm 1993, trữ lượng gỗ toàn quốc chỉ cũn khoảng 525 triệu m3,
Rối loạn Các giai đoạn diễn thế đầu Các giai đoạn diễn thế giữa Các giai đoạn rừng thành thục Các giai đoạn gần đỉnh cực
Tốc độ tích luỹ sinh khối (kg/ha/năm)
thời gian
Trang 10trung bình 76m3/ha, và tốc độ tăng trưởng trung bình chỉ 1 - 3m3/ ha/ năm ở rừng tự nhiên và 5
- 10m3/ ha/ năm ở rừng trồng
Theo thống kê của ban chỉ đạo kiểm kê rừng tự nhiên trung ương (tháng 3 năm 1993), diện tích rừng tự nhiên ViÖt Nam chỉ chiếm 43% tổng diện tích rừng, được phân chia ra như sau:
- Tây Nguyên chiếm: 39,35%
- Duyên hải miền Trung: 18,08%
- Khu Bốn cũ: 16,53%
- Khu Trung tâm: 7,9%
- Khu Đông Bắc: 6,01%
- Khu Tây Bắc: 5,57%
- Miền Đông Nam Bộ: 5,29%
- Đồng bằng sông Cửu Long: 0,90%
- Đồng bằng sông Hồng: 0,26% Cùng với diện tích rừng đã thống kê, trữ lượng gỗ toàn quốc là 657.383.700 m3, trong đó:
- Tây Nguyên chiếm: 44,01%
- Duyên hải miền Trung: 20,09%
- Khu Bốn cũ: 17,98%
- Khu Trung tâm: 8,49%
- Khu Đông Bắc: 3,29%
- Khu Tây Bắc: 2,79%
- Miền Đông Nam Bộ: 2,89%
- Đồng bằng sông Cửu Long: 0,36%
- Đồng bằng sông Hồng: 0,04%
Theo thống kê sơ bộ của các nhà khoa học Việt Nam, chỉ riêng nhóm thực vật bậc cao có mạch (trong đó hai Ngành Thông và Ngành Ngọc Lan chiếm đa số) thì có khoảng trên 12.000 loài Trong hệ thực vật này, nhóm cây thân gỗ có đến 2.500 loài, phân bố hoặc trong các họ thực
vật lớn như họ Cà phê (Rubiaceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) họ Đậu (Fabaceae) hoặc
trong các họ trong số loài ít nhưng số cá thể rất lớn, tạo nên các kiểu thảm thực vật tối ưu như
họ Dầu (Dipterocarpaceae) họ Long não (Lauraceae), họ Xoan (Meliaceae), họ Đước (Rhizopheraceae)
Trong ngành thực vật hạt trần, các họ như họ kim giao (Podocarpaceae), họ Thông (Pinaceae),
họ Hoàng đàn (Cupressaceae) đều có các loài cho gỗ quí, vân đẹp, hương thơm, rất bền (không
bị mối mọt, mục), lại dễ gia công chế biến Nhiều loài mọc thành các quần thụ thuần loại vùng núi cao, khí hậu thiên về á nhiệt đới
Ngành thực vật hạt kín, có nhiều họ được các nhà lâm học, các nhà kinh doanh, chế biến quan tâm Ví dụ như:
− Họ Ngọc Lan (Magnoliaceae) chỉ có 5 chi và trên 25 loài, đều cho gỗ mềm mại, vân gỗ
đẹp, có hương thơm, ít bị mối mọt Một số loài đã được gây trồng rộng rãi cho sản lượng gỗ
lớn, giá trị sử dụng cao, như: gỗ vàng tâm, gỗ mỡ, gỗ dổi xanh, dổi đá Đa số các loài cây
trong họ này đều phân bố ở vùng núi cao miền Bắc Việt Nam
− Họ Bồ Đề (Styracaceae) có 4 chi và trên 10 loài cho gỗ nhẹ, dễ chế biến, khá bền và được
sử dụng rộng rãi trong công nghiệp chế biến, các loài trong họ này đều mọc rộng rãi từ vùng trung du đến vùng núi cao của các tỉnh miền Bắc và miền Trung: Một số loài đã được
gây trồng thành rừng thuần loại cho năng suất cao do mọc nhanh
− Họ Vang (Caesal piniaceae): có hơn 100 loài ở nước ta, như Lim, Gụ mật,
− Họ đậu (Fabaceae): có hơn 500 loài ở nước ta, như gỗ Trắc, gỗ Cẩm lai,
− Họ Sim (Mytaceae): có nhiều loài cây trồng năng suất cao, như Tràm, Bạch đàn
− Họ Sồi giẻ (Fagaceae) chỉ có 5 chi và 100 loài hoàn toàn là cây gỗ lớn, gỗ khá nặng, cứng,
dùng rất phổ biến trong xây dựng, làm cầu phà, đóng tàu thuyền và các sản phẩm công nghiệp Đây là 1 họ đặc trưng cho khí hậu ẩm ướt, mát lạnh vùng núi cao miền Bắc và Nam
trung bộ
− Các họ như Họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Xoan (Meliaceae), họ Đậu (Fabaceae) cũng có
rất nhiều chi, loài toàn cây gỗ lớn, cho gỗ có vân đẹp, nặng, bền rất thông dụng trong đời sống nhân dân như đóng đồ, làm nhà, làm đồ mỹ nghệ Nhiều loài trong họ này quí hiếm cần bảo vệ và phát triển Các họ này đặc trưng cho rừng rậm ẩm thường xanh mưa mùa
nhiệt đới từ Bắc vào Nam
− Họ Dầu (Dipterocarpaceae) chỉ có 7 chi và 45 loài, cùng với họ Đước (Rhizophoraceae) có
5 chi và 9 loài, đều là những cây gỗ lớn, đặc trưng cho các loại hình rừng (từ ngập mặn đến
Trang 11rừng không vùng núi) các tỉnh phía Nam Việt Nam Các loài này đều có số cá thể lớn, làm thành các rừng đặc biệt cho các vùng khí hậu đất đai khắc nghiệt Đặc biệt họ Đước cùng
với các loài trong họ cỏ roi ngựa (Verbenaceae), họ Bần (Sonneratiaceae), họ Mắm (Avicenniaceae) tạo thành các kiểu rừng ngập mặn ven biển khá độc đáo của nước ta Các
họ có số chi loài lớn như họ Thầu dầu (Eupherbiaceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Long Não (Lauraceae) họ Cà phê (Rubiacea) cũng có số tỷ lệ cây gỗ lớn, cho gỗ từ mềm, nhẹ
đến gỗ quí cứng, nặng, không bị mối mọt, và dễ chế biến, gia công Chúng đặc trưng cho các kiểu rừng thứ sinh nhiệt đới vùng đồi núi thấp lên núi cao, đôi khi là cây tiên phong, ưa
sáng mọc nhanh cho sản lượng gỗ lớn, rất quí cho sản xuất công nghiệp
Hình 3.5 Bản đồ Việt Nam làm từ 64 loại gỗ quí của Việt Nam và tượng Bồ Đề bằng gỗ Sao
Hiện nay với công nghệ chế biến và hiện đại, các loài cây gỗ từ nhỏ đến lớn, từ gỗ mềm, nhẹ, màu nhạt đến gỗ cứng, nặng, màu sắc đậm đều được xử lý ngâm tẩm gia công tốt, nên giá trị sử dụng ngày càng được nâng cao và cho nhiều sản phẩm quí và đẹp Tuy nhiên, theo các tiêu chuẩn tự nhiên về màu sắc, hương vị, tỷ trọng, sức chịu đựng mà các loại gỗ vẫn được phân ra làm 8 nhóm:
− Nhóm I: Nhóm gỗ quí nổi tiếng trên thị trường (trong nước và quốc tế), có vân đẹp, màu
sắc óng ánh, bền và có hương thơm như lát hoa (họ Xoan), cẩm lai (họ Đậu), gụ (Họ Vang), pơ mu (Họ Hoàng Đàn)
Trang 12− Nhóm II: Nhóm gỗ nặng, cứng bao gồm các loài có tỷ trọng lớn, sức chịu lực cao, như
Đinh (Họ Núc nác), Lim (Họ Vang), Nghiến (Họ Chè), Táu (họ Dầu), Sến (Họ Hồng xiêm), Gõ (Họ Vang)
− Nhóm III: Nhóm gỗ nhẹ và mềm hơn, nhưng sức bền cao, độ dÎo dai lớn, sức chịu lực
cao như Sao đen, Chò chỉ, Huỷnh
− Nhóm IV: Nhóm gỗ có màu tự nhiên, thớ mịn, tương đối bền, dễ gia công chế biến, như
Gội, Mỡ, Re (họ Long Não), Giổi (họ Ngọc Lan)
− Nhóm V: Nhóm gỗ trung bình, có tỷ trọng trung bình, dùng rộng rãi trong xây dựng,
đóng đồ đạc như Sồi, giẻ, Tràn, Thông
− Nhóm VI: Nhóm gỗ nhẹ, sức chịu đựng kém, dễ bị mối mọt, dễ chế biến như Rồng
vụ cho đời sống ngày càng cao của nhân dân, mặt khác phải bảo vệ, tôn tạo được nguồn tài nguyên cây gỗ đảm bảo cân bằng sinh thái, cải tạo nuôi trồng, giữ cho rừng luôn bền vững, cho năng suất cao
Các bảng phân loại tạm thời các nhóm gỗ đang được các nhà khoa học đóng góp để chúng có sự sắp xếp chuẩn hóa Tuy nhiên, cây gỗ về mặt tài nguyên không chỉ cung cấp gỗ cho nhu cầu xây dựng, đóng đồ, làm các công trình công nghiệp mà nhiều loài cây ngoài việc cho gỗ còn đóng góp cho người sử dụng nhiều sản phẩm quí chứa trong các cơ quan của cây, như lá, rễ, hoa, quả Ngoài gỗ, con người còn thu hái và sử dụng rất nhiều sản phẩm của rừng nữa như: tinh dầu, thuốc, màu nhuộm, Chúng ta thường gọi chúng là Lâm sản phi gỗ hay Lâm sản ngoài
gỗ
2 Tài nguyên lâm sản ngoài gỗ
Ở Việt Nam, trong một thời gian dài, lâm sản được qui vào hai loại: lâm sản chính- là
những sản phẩm gỗ và lâm sản phụ- bao gồm những sản phẩm ngoài gỗ Từ năm 1961, lâm sản
phụ được mang tên "đặc sản rừng" Ngày nay, thuật ngữ "Lâm sản ngoài gỗ" (LSNG) được
dùng thay cho lâm sản phụ Tuy nhiên, ở nớc ta cũng như nhiều quốc gia trên thế giới vẫn có những ý kiến khác nhau về định nghĩa LSNG
− “Lâm sản ngoài gỗ bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác
từ rừng, củi, than gỗ, cành ngọn, gốc cây, những dịch vụ trong rừng như săn bắn, giải trí, ỡng bệnh, dịch vụ du lịch sinh thái
dư-− LSNG hay Lâm sản phi gỗ (Non Timber Forest Products) là tất cả những sản phẩm sinh học khai thác được từ rừng mà không phải là gỗ để sử dụng cho các mục đích khác nhau của con nguời Chúng bao gồm những sản phẩm làm thức ăn, thuốc chữa bệnh, gia vị, dầu ăn, nhựa
mủ, gôm, tanin, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật, nhiên liệu-chất đốt (Wicken G E., 1991)
− Theo FAO, 1995, thì NTFPs lại được hiểu rộng hơn, nó bao gồm "Tất cả các sản phẩm có nguồn gốc sinh học trừ gỗ, cũng như các dịch vụ thu được từ rừng và các kiểu sử dụng đất tương tự" Như vậy đây là một đối tượng rất rộng, không chỉ bao gồm tất cả các loài động, thực vật ngoài gỗ mà còn bao gồm cả các dịch vụ mà rừng mang lại lợi ích cho chúng ta
Đa phần các loài Lâm sản phi gỗ hầu hết được phân bố ở tầng dưới của tầng cây gỗ Các tác động của con người đến tầng dưới ít ảnh hưởng đến sự ổn định của hệ sinh thái rừng nhiệt đới Đa phần các sinh vật trong nhóm cho NTFPs có chu kỳ đời sống cá thể phần lớn là ngắn, do
Trang 13vậy chúng có thể nhanh chóng được tái sinh và phục hồi lại mật độ của quần thể khi bị các tác động khai thác hợp lý Về mặt sinh thái học, vài trò của NTFPs và gỗ trong hệ sinh thái (HST) rừng là rất khác nhau, một số các loài cây gỗ lớn mọc tự nhiên, khi trưởng thành sẽ tạo nên tầng tán và hình thành tầng vượt tán, đây là tầng cây rất quan trọng, mang đặc tính của HST rừng, quyết định vai trò phòng hộ của rừng và sự hình thành nên các tầng dưới Chu kì sống của các loài này rất dài, hàng trăm năm hoặc hơn Nếu chúng ta khai thác kiệt tầng cây này thì tức là đã phá huỷ HST này, và phải mất đi một thời gian rất dài để rừng phục hồi lại, nhưng chắc chắn rằng không thể như xưa
Với các đặc điểm trên, sự khai thác sản phẩm gỗ thường dẫn đến sự phá huỷ rất lớn Sự quản lý hợp lý rừng ẩm nhiệt đới bởi các kỹ thuật khai thác và chế biến gỗ (chưa tính đến việc chặt trắng), bao gồm kiểm soát đốn gỗ, tu bổ lại rừng và đất rừng, tái trồng cây bản địa, khoanh nuôi bảo vệ để tái sinh rừng trong khoảng thời gian thích hợp sau khi đã làm cạn kiệt rừng vẫn
là điều không tưởng (H de Beer, J McDermott, 1996) Điều đặc biệt quan trọng trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên là phải luôn xem xét đến tính bền vững Khi bắt đầu chặt gỗ thì cũng là báo hiệu sự kết thúc của một cánh rừng, nó không chỉ bởi những điều kiện của tính bền vững,
mà còn là sự khai thông cho các hoạt động khác, như lấy đất để canh tác hay xây dựng
NTFPs thường được phân chia theo mục tiêu và giá trị sử dụng thành các nhóm như sau:
Hình 3.6 Các loài Lan trong rừng tự nhiên, là nguồn gen để tạo ra nhiều loài lan quí
Trước hết, một số loài cây thân gỗ có khả năng làm thuốc, như nhiều loài trong họ Trúc đào (Apocynaceae), họ Đậu (Febaceae), họ Viễn chí (Polygalaceae), họ Mùng quân
(Flacourtiaceae) họ Ngũ gia bì (Araliaceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Cam (Rutaceae),
họ Hoàng mộc (Berberidaceae) Các bài thuốc dân gian sử dụng vỏ rè, vỏ thân, cành lá,
hoa quả cây gỗ làm thuốc đã có một lịch sử sử dụng lâu đời, do đó sự thống kê cho hết các cây gỗ làm thuốc còn nhiều khó khăn Song song với làm thuốc, các cây thân gỗ có thể cho các sản phẩm làm chất dinh dưỡng cho con người như cho bột, cho đường, cho quả, cho
nước giải khát Các quả, hạt của các loài trong họ Sồi giẻ (Fagaceae), họ Cam (Rutaceae)
(kể cả thân cây) có khả năng cho lượng tinh bột lớn, thay thế cho cả các loại làm lương thực thân cỏ (lúa, ngô, kê, sắn, các loại khoai ), đôi khi còn cho hương vị hấp dẫn hơn Các loài cây cho bột này có thể chuyển hóa thành đường và từ đó lên men cho rượu
Cây cho quả ăn để bồi bổ sức khỏe, hoặc cho nước giải khát cũng có rất nhiều loài thân gỗ, đáng kể nhất là các loài trong chi cam (Citrus) của họ Cam (Rutaceae) họ Hồng Xiêm
(Sapotrceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Đào lộn hột (Anacardiaceae), họ Bứa (Clusiaceae), họ Chua me đất (Oxalidaceae), họ Sim (Mystaceae), Họ Dâu tằm
Trang 14(Moraceae), họ Na (Annonaceae), đặc biệt các loài cây thân gỗ cho lá, hoa, quả làm nước uống có chất kích thích như lá cây Chè (Họ Chè: Theaceae), lá cây Nhựa ruồi (Ilex), hạt cây Cà phê (họ Cà phê: Rubiaceae), hạt cây ca cao, cây côla (họ Trôm: Sterculiaceae), vỏ thân các loài trong chi Quế, Xá xị (họ Long não: Lauraceae) Ngoài các loài cây làm
thuốc, làm thực phẩm, các sản phẩm của cây gỗ còn cung cấp cho con người nhiều cách sử dụng khác nhau
Các ống dẫn nhựa luyện và các mô dự trữ trong cây cho ra rất nhiều sản phẩm độc đáo, đặc biệt các loại dầu thơm Đây là các chất hiện được con người khai thác từ lâu đời, bắt nguồn
từ các dân tộc phương Đông Từ nghìn năm trước, ông cha ta đã biết cách sử dụng các hương liệu này để phục vụ cuộc sống Các dầu thơm trong các họ của Ngành thực vật hạt trần, và thực vật hạt kín như Thông, Trắc Bách, Hoa Hồng, Cam, Chanh, Keo, Long não, Đàn hương, Nhục đậu khấu đều có giá trị lớn, không một loại hóa chất nào thay thế được
Hình 3.7 Tinh dầu thông đỏ (trị ung thư) và tinh dầu trầm (Bồi bổ sức khỏe) từ rừng Việt Nam
Ngoài dầu thơm, các loài cây thân gỗ còn cho nhiều loại dịch nước khác, như:
1 Nhựa mủ: dung dịch ở dạng nước trong hay đục như sữa có trong các cây gỗ thuộc
họ Thầu dầu (Eupherbiaceae) đặc biệt các loài của chi Cao su (Hevea), họ Chày (Sapotaceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Trúc đào (Apocynaceae)
2 Nhựa dầu, gôm: các cây gỗ trong rừng nước ta cung cấp rất nhiều dạng nhựa dầu,
gôm, keo, quí như gồm các loại keo (Acacia) trong họ Đậu (Fabaceae), các loài Trôm (Sterculia) trong họ Trôm (Sterculiaceae) và rải rác các loài khác trong các
họ Chùm ngây (Moringaceae), họ Thanh thất (Simaroubaceae), họ Đào lộn hột (Anacardiaceae), họ Hồng Xiêm (Sapotaceae), họ Bàng (Combretaceae) \Các
loài cây thân gỗ còn cung cấp các loại nhựa dầu trích ra từ thân, rễ cây để phục vụ
cho sản xuất công nghiệp Các loài trong chi Thông (Pinus), trong họ Thông (Pinaceae) đều cho nhựa dầu quí Ngoài ra còn có cái chi sao (Hopea), Dầu
(Dipterocarpus), Táu (Vatica) trong họ Dầu (Dipterocarpaceae), các chi Rhus,
Melanonhea trong họ Đào lộn hột (Anacardiaceae)
3 Dầu béo, sáp, mỡ là các sản phẩm do cây gỗ cung cấp vừa làm thực phẩm, vừa phục vụ cho sản xuất công nghiệp Các dầu béo này cho cây tổng hợp được trong các mô dự trữ, các dầu, mỡ này có trong các quả, hạt của nhiều loài cây, như quả
Dừa trong họ Cau dừa (Arecaceae), các hạt trong họ Đậu (Fabaceae), họ Đậu lộn hột (Anacardicaceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae)
Cuối cùng các phần khô của cây gỗ (vách tế bào đã chết) cũng cung cấp cho loài người các sản phẩm độc đáo Đó là các dạng sợi khác nhau khai thác từ vỏ, gõ hay các phần phụ của quả, hạt Các sợi này có thể bện làm dây hoặc kéo guồng thành sợi để dệt Vỏ gỗ nhiều loại
trong họ Thầu dầu (Eupherbicaceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Trôm (Sterculiaceae),