1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tieu luan quyen con nguoi nop

27 109 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 213 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sở dĩ Tuyên ngôn về Quyền con người có thể vượtqua được những thử thách khắc nghiệt của thời gian là vì Văn kiện này đã chứa đựngnhững giá trị tinh thần cao cả của các quốc gia, dân tộc,

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Cách đây hơn 60 năm, ngày 10-12-1948, tại Pa-ri (Pháp) Đại hội đồng Liênhợp quốc đã thông qua “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người” Từ đó đến nay,mặc dù các quốc gia, dân tộc trên thế giới vẫn còn sự khác biệt, mâu thuẫn về hệ tưtưởng, lợi ích chính trị, song cùng với Hiến chương Liên hợp quốc, văn kiện này đã

mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ quốc tế Đó là nền tảng cho một cơ chế quốc tếnhằm giải quyết những vấn đề bất đồng giữa các quốc gia dựa trên các nguyên tắcbình đẳng, tôn trọng quyền dân tộc tự quyết và quyền con người đã hình thành Cho

dù hiện nay vẫn còn các thế lực lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền gây ra các cuộcchiến tranh xâm lược và xung đột vũ trang, can thiệp vào công việc nội bộ của nhiềuquốc gia, dân tộc, song không phải vì vậy mà những tư tưởng cao cả của Tuyên ngônthế giới về quyền con người mất đi các giá trị của nó

Quyền con người là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử nhân loại, là tàisản chung của các dân tộc Mỗi một bước tiến của lịch sử, quyền con người lại được

mở rộng và nâng cao thêm một bước Ngày nay, quyền con người được xem là thước

đo sự tiến bộ và trình độ văn minh của xã hội, không phân biệt chế độ chính trị, trình

độ phát triển và bản sắc văn hóa Sở dĩ Tuyên ngôn về Quyền con người có thể vượtqua được những thử thách khắc nghiệt của thời gian là vì Văn kiện này đã chứa đựngnhững giá trị tinh thần cao cả của các quốc gia, dân tộc, như là một trong nhữngthành tựu của nền văn minh nhân loại trong thế kỷ XX Ngược dòng thời gian trở lạithời điểm ra đời của Liên hợp quốc và ý tưởng soạn thảo Tuyên ngôn thế giới vềquyền con người, ta thấy, đây là một trong những thời điểm quý giá, hiếm hoi tronglịch sử nhân loại – khi mà các quốc gia dân tộc không phân biệt hệ tư tưởng, chế độ,

xã hội, bản sắc văn hoá, trình độ phát triển đã có được những nhận thức chung, sâusắc nhất về những giá trị cơ bản nhất cũng như các điều kiện cho sự tồn tại và phát

triển của nhân loại Đó là thời điểm mà nhân loại đã thức tỉnh sau khi chủ nghĩa phát

xít tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược và thống trị dã man, mang tính huỷ diệtnền văn minh nhân loại Đó là thời điểm, hệ thống xã hội xã hội chủ nghĩa – baogồm Liên Xô và các nước Đông Âu đã giành được những thắng lợi to lớn trong sựnghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là đã góp phần quan trọng đánh bại chủnghĩa phát xít Đó là thời điểm phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi và

Mỹ La-tinh ra đời Bối cảnh đó đã tác động mạnh mẽ, tạo thành xu hướng tiến bộtrong quá trình soạn thảo và thông qua bản Tuyên ngôn lịch sử này

Chính vì những lý do trên mà em đã chọn đề tài “Đánh giá thực trạng, dự báo xu hướng và đề xuất phương hướng, giải pháp tiếp tục bảo đảm và thực quyền con người Việt Nam hiện nay” cho bài tiểu luận này Do thời gian, tài liệu

và nhận thức về vấn đề này còn hạn chế, bài viết sẽ còn nhiều thiếu sót, rất mongđược sự nhận xét của Thầy, cô giáo Em xin chân thành cảm ơn!

NỘI DUNG

Trang 2

I ĐỊNH NGHĨA VỀ QUYỀN CON NGƯỜI.

1 Khái quát quyền con người.

Tuyên ngôn Nhân quyền của Liên hợp quốc (1948) không chỉ chọn lọc, kếthừa những tư tưởng tiến bộ của nhân loại mà còn đề cập tới những vấn đề mang tínhthách thức đối với các hệ thống xã hội vào thời điểm đó, chẳng hạn như quyền không

bị kỳ thị, phân biệt đối xử về chủng tộc, màu da, giới tính; quyền tự do tư tưởng, tínngưỡng tôn giáo; quyền tự do hội họp, lập hội; quyền được tham gia vào việc quản lý

đất nước…Con người đã được sinh ra với các nhân phẩm: Có thể chất, có thể trưởng

thành hay có thể chết, có lý trí, có nhiều cảm xúc, có khả năng sáng tạo, là thực thể

xã hội Đó là, những nhu cầu bức thiết của đại bộ phận dân chúng vẫn chưa được đápứng ngay cả ở những nước được coi là phát triển nhất Các quyền về kinh tế, xã hội,văn hoá như quyền làm việc, bao gồm quyền được bảo vệ, chống lại thất nghiệp;quyền được giáo dục…, được xem là những ưu thế của hệ thống xã hội chủ nghĩasau nhiều cuộc tranh luận, rút cuộc đã được đưa vào Tuyên ngôn

2 Quyền con người.

2.1 Quyền về chính trị, dân sự.

Tuyên ngôn là một trong ba cột trụ của Liên hợp quốc, là điểm cơ bản giữacác quốc gia dân tộc, là sự khẳng định đạo lý, là con đường phát triển chung của nềnvăn minh nhân loại Nói như vậy không có nghĩa Tuyên ngôn đã san bằng, đã hòatan những khác biệt về chính trị, tư tưởng và văn hoá giữa các quốc gia dân tộc, màchỉ nói lên rằng, Văn kiện này, do nhờ sự khéo léo trong biên soạn, sự mềm dẻotrong quá trình thông qua đã tạo ra khả năng dung nạp những sự khác biệt nào đó bởi

hệ tư tưởng và chế độ xã hội để đi đến những “mẫu số chung” mà đại diện các quốcgia đều có thể chấp nhận được Các quyền dân sự, chính trị cho phép cá nhân chốnglại sự sử dụng thái quá quyền lực quốc gia tại những quốc gia phương Tây mới hình

thành nhằm phục vụ cá nhân, như quyền sống và tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng, tự

do biểu đạt, tự do bầu cử, ứng cử, được xét xử công bằng Các văn kiện quốc tế tiêubiểu: Tuyên ngôn toàn thế giới về Quyền con người (1948) - UDHR, Công ước quốc

tê về quyền dân sinh, chính trị, (1966) - ICCPR

2.2 Quyền về kinh tế, xã hội, văn hóa

Tuyên ngôn không phải là một văn kiện có tính ràng buộc đối với các quốcgia, như các công ước, song Văn kiện này đã mang tính pháp lý cao hơn bất cứ mộttuyên ngôn, tuyên bố nào, bởi nó được thông qua bằng một nghị quyết của Đại hộiđồng (Nghị quyết 217 (III)) Tuyên ngôn, cho đến nay, vẫn được xem là một khuônkhổ pháp lý, một tập quán quốc tế, hoặc luật tục trên lĩnh vực quyền con người Cácquyền kinh tế, xã hội, văn hóa nhằm tạo lập các điều kiện và sự đối xử bình đẳng,

công bằng cho mọi công dân; chủ yếu là “các quyền con người tích cực” do chúng

cho phép cá nhân đòi hỏi chính phủ thực hiện những biện pháp tích cực đảm bảo an

sinh kinh tế, xã hội nhằm phục vụ cá nhân, như quyền có việc làm, nhà ở, chăm sóc y

tế, trợ giúp XH Các văn kiện Quốc tế tiêu biểu: UDHR, công ước Quốc tế về các quyền dân sinh, chính trị và kinh tế, văn hoá xã hội - ICCPR & ICESCR

Trang 3

Dựa trên Tuyên ngôn, nhiều công ước cơ bản và chuyên biệt đã được xâydựng và thông qua Giá trị quan trọng nhất của Tuyên ngôn là ở chỗ, Văn kiện nàytạo thành cơ sở chính trị, pháp lý cho cơ chế giám sát quốc tế về quyền con người,bao gồm các điều ước và hệ thống các cơ quan nhân quyền thuộc Liên hợp quốc.

3 Định nghĩa về quyền con người.

3.1 Định nghĩa của Quốc tế.

Văn phòng cao ủy LHQ: Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu

có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏmặc làm tổn hại đến nhân phẩm, đến những sự được phép và tự do cơ bản

Nhân quyền là những nguyên tắc bẩm sinh, vốn có của con người mà nếukhông được hưởng thì chúng ta sẽ không thể sống như một con người

3.2 Định nghĩa phù hợp với Việt Nam.

Quyền con người là những nguyên tắc vốn có và chỉ có ở con người, được thểchế hóa trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế, nhằm góp phầnthúc đẩy và bảo vệ quyền sống trong độc lập, tự do, hạnh phúc của con người và dântộc Việt Nam

4 Đánh giá của Việt Nam về Tuyên ngôn thế giới về quyền con người.

4.1 Quyền con người không chỉ là quyền của cá nhân mà còn là quyền của dân tộc.

Khẳng định những giá trị và ý nghĩa của Tuyên ngôn thế giới về quyền con

người Quyền con người không chỉ là quyền của cá nhân mà còn là quyền của dân tộc Nói cách khác, là một quyền tập thể của quyền con người Chức năng cơ bản của

quyền này là bảo đảm các điều kiện cho các quyền và tự do của cá nhân Đó là sự kếthừa có chọn lọc tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người Hồ Chí Minh đã mởrộng khái niệm quyền của cá nhân thành quyền của dân tộc, tạo thành các tiền đề vàđiều kiện cho tất cả các dân tộc được hưởng thụ các quyền con người, mà trước đây,

sự hưởng thụ những quyền này mới chỉ được tuyên bố ở “chính quốc”, ở các nước

tư bản phát triển Hồ Chí Minh cũng đã khái quát những giá trị đó thành tư tưởng lớncủa thời đại ngày nay, đó là "Không có gì quý hơn độc lập, tự do”

4.2 Những thành tựu về quyền con người của Việt Nam trên các mặt dân

sự, chính trị, kinh tế, xã hội.

Trong thời kỳ Đổi mới, khái niệm quyền con người được đưa vào Cương lĩnh(1991) của Đảng và Hiến pháp (1992) của Nhà nước Việt Nam Ngay sau khi trởthành thành viên của Liên hợp quốc, Nhà nước Việt Nam đã nhanh chóng ký kết vàphê chuẩn hầu hết các công ước quốc tế quan trọng về quyền con người, trong đó cóhai công ước bao quát đầy đủ các quyền và tự do cơ bản của con người, đó là, Côngước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị 1966 và Công ước quốc tế, về các quyềnkinh tế, xã hội và văn hoá Đồng thời đã luật hoá các công ước đó vào hệ thống phápluật quốc gia

Theo con số thống kê chưa đầy đủ, từ 1986 đến nay, Quốc hội nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua 58 luật, 43 pháp lệnh, trong đó có những bộ

Trang 4

luật lớn trực tiếp bảo đảm các quyền con người như: Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tốtụng hình sự; Bộ luật Dân sự; Bộ luật Lao động; Luật Chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻem Những năm gần đây, Quốc hội đã thông qua Luật Phòng, chống HIV/ AIDS,Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáp; Luật Phòng, chống tham nhũng, lãng phí; Luật Bìnhđẳng giới; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; và mới đây là Luật Cán bộ, côngchức Những quy định của pháp luật Việt Nam ngày nay đã bao quát khá đầy đủ vàtương thích với luật quốc tế về quyền con người, từ các quyền dân sự, chính trị đếncác quyền kinh tế, xã hội và văn hoá.

Năm 1998, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra Chỉ thị về “Quy chế Dân chủ ở cơsở”, mà nội dung cơ bản là “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” Các quyềntham gia quản lý của nhân dân đã được thể chế hoá, cụ thể hóa trong các nghị địnhcủa Chính phủ Công tác bầu cử, ứng cử đã được đổi mới theo hướng mở rộng sự lựachọn cho các cử tri Tổ chức và sinh hoạt Quốc hội có những cải tiến theo hướng bảođảm cho cơ quan này hoạt động hiệu quả, có thực quyền, thật sự là cơ quan quyềnlực đại diện của nhân dân

Quyền làm việc và tự do kinh doanh được bảo đảm nhờ nền kinh tế thị trường

có sự quản lý của nhà nước Công tác chăm sóc sức khoẻ cộng đồng và chăm sóc sứckhoẻ ban đầu đã đạt được những thành tích rất “ấn tượng” Có tới 94,6% trẻ được sửdụng thuốc dự phòng; 6 bệnh: lao, sởi, ho gà bạch cầu, uốn ván, bại liệt ở trẻ em, đãđược loại trừ về cơ bản…Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam năm 2008

là 0,709 xếp thứ 114/177 quốc gia Theo chương trình phát triển của Liên hợp quốc(UNDP) chỉ số HDI của Việt Nam có hai điểm tích cực, đó là thứ hạng hàng nămtăng liên tục; và chỉ số HDI nhìn chung xếp cao hơn chỉ số phát triển kinh tế

II ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM.

1 Một vài nhận định tổng quan về thực trạng nhân quyền ở Việt nam.

Nhân quyền hay còn gọi là quyền con người, nói một cách vắn tắt là quyềnđược sống đúng như một con người Đó là quyền căn bản của mọi con người trongmọi dân tộc, mọi quốc gia Để đạt được chân lý tưởng chừng đơn giản đó, loài người

đã phải trả giá bằng cả máu và sinh mạng của hàng triệu người Biết bao triều đại,bao chế độ chính trị đã sụp đổ vì đi ngược lại mong muốn đó của loài người

Ngày 2- 9- 1945 Hồ Chí Minh, trong tuyên ngôn độc lập đã nhắc lại chân lýnày: “Tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra đều bình đẳng, dân tộc nào cũng cóquyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do….” Tư tưởng đó đã phản ánh rằngquyền được sống và mưu cầu hạnh phúc của con người là chân lý, là ước mơ củatoàn bộ nhân loại Chân lý này hoàn toàn không phụ thuộc vào quan điểm hay thểchế chính trị Quyền con người là tự nhiên, là bất khả xâm phạm, tồn tại độc lập vàkhông phụ thuộc vào việc có hay không thể chế nhà nước Kể từ sau tuyên ngôn nàycủa Hồ Chủ Tịch, những nhà lãnh đạo Việt nam đã “thay đổi” quan điểm, phủ nhậntính tự nhiên và tồn tại độc lập của quyền con người với thể chế chính trị Họ chorằng quyền con người phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế và chính trị Quyền conngười không những mang tính phổ quát được nhân loại thừa nhận mà có tính riêngbiệt, phụ thuộc vào đặc tính văn hóa của từng dân tộc Quan điểm này nhằm bảo vệcho sự tồn tại của một chế độ chính trị độc tài Họ đặt sự tồn tại của đảng cộng sản

Trang 5

trên các giá trị nhân quyền đã được cả nhân lọai thừa nhận Đây chính là nguyênnhân chủ yếu làm cho hệ thống pháp luật lủng củng và mập mờ, mang tính hình thức

và thiếu khả năng thực thi trong thực tiễn Hầu hết các các giá trị quyền con ngườinhà nước Việt nam đều thừa nhận bằng cách tham gia hoặc ký kết các điều ước quốc

tế Nhà nước ta cũng đã thể hiện sự thừa nhận các quyền con người trong các hiếnpháp Tuy nhiên, Hiến pháp còn chứa đựng nhiều mâu thuẫn giữa quyền con người

và chế độ chính trị Các văn bản luật dưới Hiến pháp luôn có khuynh hướng ưu tiêncho sự tồn tại của chế độ, làm mất khả năng thực thi các quyền con người trong thựctiển Sự cản trở này là nguyên nhân chủ yếu gây ra các xung đột giữa chính quyềnvới người dân Tạo ra các hiện tượng phản kháng xã hội

1.1 Đối với nhóm quyền về kinh tế xã hội.

Quyền lao động; quyền tự do kinh doanh; quyền sở hữu hơp pháp về tài sản;quyền được bảo vệ sức khỏe; quyền bảo vệ về hôn nhân gia đình; quyền mang tính

ưu tiên như quyền trẻ em; quyền phụ nữ

Quyền lao động, đó là sự tự do lựa chọn nghề nghiệp phù hơp với mình.Không thể nói nhà nước đã bảo đảm quyền này khi mà gần 70% dân số việt namsống bằng nông nghiệp, mà tư liệu sản xuất là đất đai bị nhà nước nắm giữ Hệ thốngcác cơ sở công đòan mang nặng tính hình thức, không dám đấu tranh cho quyền lợicủa người lao động

Quyền tự do kinh doanh là quyền tự do lựa chọn các nghành nghể kinh doanhkhông bị nhà nuớc cấm Trước năm 1999, nhà đầu tư muốn kinh doanh phải xin phépnhà nuớc Năm 2000, khi cho ra đời luật doanh nghiệp, nhà nước không buộc nhàđầu tư phải có đơn xin phép nữa mà chuyển sang đơn đăng ký kinh doanh Mặc dùthay đổi ngôn từ từ “ xin phép” sang “ đăng ký” nhưng bản chất xin – cho vẫn tồn tạithông qua hồ sơ và trình tự đăng ký kinh doanh Đó là bước đầu thành lập, khi vàokinh doanh nhà đầu tư phải vựơt qua hàng lọat giấy phép con khác, do các bộ, cácnghành quản lý tự đặt ra Năm 2000, thống kê chính thức của nhà nuớc cho thấy Việtnam có trên 300 lọai giấy phép kinh doanh khác nhau Khi đó chính Thủ tướng phải

ra lệnh bãi bỏ trên 100 lọai giấy phép, nhưng đến nay thì lại hình thành gần 400 lọaigiấy phép khác nữa Với một “ rừng” giấy phép như “ thiên la địa võng” như vậy làmsao nói Việt nam có quyền tự do kinh doanh Mặt khác khi nói đến tự do kinh doanhkhông thể không nói đến sự cạnh tranh lành mạnh, điều này không thể có với nềnkinh tế thị trường theo định hướng XHCN

Quyền sở hữu tài sản hợp pháp là quyền sơ đẳng nhất bảo đảm cho điều kiệnsinh tồn của con người Đất đai, nhà cửa là một trong những điều kiện đó, ngòai ra

nó còn là tài sản có giá trị lớn, là hàng hóa luân chuyển, và đặc biệt là tư liệu sảnxuất chủ yếu của đa số người dân Việt nam Nhà nước cho đến nay vẫn chưa chongười dân có quyền sở hữu về đất đai Giao quyền sử dụng đất đai như một sự banphát, nhà nước có thể thu hồi bất cứ lúc nào Đây là nguyên nhân chủ yếu của hànglọat vụ xung đột giữa nhà nước và người dân Ngòai ra còn rất nhiều lọai tài sảnkhác, nhà nước bắt người dân phải đăng ký để quản lý Các định chế về quản lý hànhchính vô hình chung tước đọat và hạn chế quyền tự định đọat tài sản hợp pháp củangười dân

Trang 6

Quyền được bảo vệ sức khỏe, ứng với quyền này là nghĩa vụ chăm sóc sứckhỏe cộng đồng của nhà nước Trước tiên phải thấy rằng hệ thống bệnh viện từ trungương đến địa phương đã xuống cấp trầm trọng Các bệnh xá ở vùng cao, vùng xa hếtsức sơ sài và lạc hậu, cá biệt có nhiều nơi không có bệnh xá Hệ thống pháp luật vềbảo hiểm y tế còn nhiều bất cập, hay thay đổi gây nhiều bất lợi cho người dân, đặtbiệt người dân nghèo gần như không thể tiếp cận được với các dịch vụ y tế công.

Quyền bảo vệ hôn nhân và gia đình Nói đến quyền này không thể không nóiđến trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn Đặt biệt là kết hôn với người nuớc ngòai Với

19 lọai giấy tờ khác nhau, hồ sơ đăng ký kết hôn với người nước ngòai trở thành ‘ácmộng” với những cặp trai gái yêu nhau và muốn thành vợ chồng Cá biệt có cặp phảichia tay nhau vì không thể nào hòan thành đủ 19 lọai giấy tờ đó Chưa hết, sau khihòan tất hồ sơ, phải trải qua một cuộc thẩm vấn Nhiều câu hỏi thẩm vấn hết sức vôduyên của cán bộ cộng chức làm đôi trai gái ngượng đỏ cả mặt, không dám trả lời

Mà không trả lời xem như không thể thành vợ thành chồng

1.2 Đối với nhóm quyền tự do cá nhân.

Quyền tự do đi lại và cư trú; quyền ra nước ngoài; quyền bất khả xâm phạm

về thân thể; quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm;quyền bất khả xâm phạm về chổ ở; quyền được an toàn và bí mật về thư tín; quyềnkhiếu nại tố cáo

Quyền tự do đi lại và cư trú Chế độ “hộ khẩu” vẫn còn ám ảnh từng ngườidân cho tới bây giờ Nó mặc nhiên tước bỏ quyền tự do đi lại và cư trú của 86 triệudân Việt nam Có thời kỳ chế độ “hộ khẩu” là đề tài tranh luận sôi nổi của công luận.Rồi Quốc hội cũng tham gia để bàn xem có nên bỏ chế độ hộ khẩu hay không Ngườidân thì muốn bỏ để bớt phiền toái và tự do hơn, Nhà nước thì sợ mất “hộ khẩu” thì sẻkhông “quản” người dân được Cuối cùng, Luật cư trú cũng ra đời, và công cụ quản

lý bằng hộ khẩu vẫn được giữ nguyên Mỗi khu phố đều có “nơi đăng ký tạm trú,tạm vắng”, “điểm đăng ký tạm trú tạm vắng” Nói là “đăng ký” nhưng bản chất của

sự xin cho vẫn còn đó

Quyền ra nước ngoài Nói là quyền nhưng nếu không được sự cho phép củaNhà nước thì sẽ bị khởi tố hình sự Thời gian gần đây dư luận phát hiện ra rất nhiềutrường hợp bị cấm ra nước ngoài Có nhiều người khi đến sân bay mới biết mìnhnằm trong danh sách “cấm xuất cảnh” của Bộ Công an Danh sách này được giữ bímật Lý do bị cấm rất đơn giản nhưng cũng rất trừu tượng: liên quan vấn đề an ninhquốc gia Đó là người có hộ chiếu, còn người chưa có hay hết hạn thì sẽ không đượccấp nếu bị liệt vào danh sách có liên quan đến an ninh quốc gia Với lý do an ninhquốc gia, rõ ràng danh sách bí mật này của Bộ công an sẽ càng lúc càng dài hơn, cóthể một lúc nào đó, toàn bộ dân Việt Nam đều bị cấm vì tất cả đều có thể liên quanđến an ninh quốc gia

Quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được bảo hộ về tính mạng, sứckhỏe, danh dự, nhân phẩm Bộ luật Hình sự đã dành hẳn một chương để bảo đảm cácquyền này Tuy nhiên, vấn đề làm cho dư luận rất bức xúc hiện nay đó là sự xâmphạm đến từ những người làm nhiệm vụ bảo vệ các quyền này Đặt biệt là lực lượngcông an Nhiều cái chết oan ức, từ người già đến trẻ em, đã ngã xuống dưới họng

Trang 7

súng của những người này Chưa kể nhiều thanh niên đang khỏe mạnh, bị áp giải đếnđồn công an, chỉ sau vài tiếng, đã lăn đùng ra chết một cách hết sức bí mật Tra tấn,bức cung, nhục hình cũng là một hiện tượng phổ biến Rất nhiều phiên tòa, bị can, bịcáo phản cung công khai tố cáo sự tra tấn của công an, nhưng tòa vẫn không xem xét

vì cho rằng thiếu chứng cứ

Danh dự, nhân phẩm là cái gì đó rẻ rúm, nếu như người đó có “liên quan đến

an ninh quốc gia” hoặc “bất đồng” với Nhà nuớc Từ trí thức giáo sư tiến sĩ cho đếncác bậc tu hành khả kính, nếu liên quan an ninh quốc gia đều bị truyền thông Nhànước “đập” cho tã tơi Sự nhục mạ và bôi bác tràn lan trên các mặt báo, có khiếu nạihay tố cáo cũng vô ích vì không ai giải quyết

Quyền được an toàn và bí mật về thư tín Các Bưu điện, các công ty truyền số

và dữ liệu vẫn do Nhà nước quản lý và kiểm soát Hiện tượng bị nghi ngờ và bị nghelén các thiết bị điện thoại không phải là cá biệt Các công ty truyền số và dữ liệu sẵnsàng cung cấp bí mật của khách hàng cho cơ quan công an Nhiều thông tin bí mật

mà công ty cung cấp đã trở thành chứng cứ tại tòa để buộc tội “khách hàng” củamình, nhất là các vụ án về an ninh quốc gia

Quyền khiếu nại và tố cáo Đây là quyền rất đặc biệt, nó cho phép người dân

tự hành động để bảo vệ các quyền khác Chưa có con đường tố tụng nào đau khổbằng con đường khiếu nại của người dân Việt nam Sự thờ ơ vô trách nhiệm của cán

bộ công chức là nguyên nhân chủ yếu gây ra sự đau khổ này Lẽ ra, ứng với quyềnkhiếu nại của người dân là nghĩa vụ phải giải quyết của Nhà nước nhưng đa số cán

bộ công chức đều tự cho mình cái quyền giải quyết khiếu nại hay không Hiện tượngkhiếu nại kéo dài từ năm này sang năm khác vẫn không đươc giải quyết là rất phổbiến ở tất cả các tỉnh thành trên cả nước Có nhiều gia đình khiếu nại từ đời cha chođến đời con với hàng ngàn lá đơn gửi từ trung ương đến địa phương Tất cả đều rơivào im lặng! Không thể không nhắc đến hiện tượng khiếu nại đông người hiện nay,

có nơi trở thành các cuộc biểu tình phản đối cách làm việc của cơ quan nhà nước.Nhiều người chẳng những không được giải quyết khiếu nại mà còn bị kết tội gây rốitrật tự công cộng, tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ v.v…

2 Quyền con người ở Việt Nam

Trong thế kỷ XX, với việc giành thắng lợi vĩ đại của hai cuộc kháng chiếnthần thánh chống đế quốc Pháp và Mỹ, dân tộc Việt Nam, đã có những đóng gópquan trọng vào việc mở rộng khái niệm quyền con người với tư cách là một giá trịchính trị - pháp lý quốc tế Quyền con người không chỉ là quyền của cá nhân mà còn

là quyền của dân tộc Nói cách khác, là một quyền tập thể của quyền con người.Chức năng cơ bản của quyền này là bảo đảm các điều kiện cho các quyền và tự docủa cá nhân Đó là sự kế thừa có chọn lọc tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền conngười Cách tiếp cận của Người kế thừa chọn lọc các giá trị nhân quyền tiến bộ từnhiều học thuyết, nhiều nền văn hoá, nhiều hệ tư tưởng, nhiều chế độ xã hội Người

mở rộng khái niệm quyền của cá nhân thành quyền của dân tộc, tạo thành các tiền đề

và điều kiện cho tất cả các dân tộc được hưởng thụ các quyền con người, mà trướcđây, sự hưởng thụ những quyền này mới chỉ được tuyên bố ở “chính quốc”, ở cácnước tư bản phát triển Hồ Chí Minh cũng đã khái quát những giá trị đó thành tư

Trang 8

tưởng lớn của thời đại ngày nay, đó là "Không có gì quý hơn độc lập, tự do Độc lậpcho dân tộc, tự do cho nhân dân.

Nhìn từ lăng kính quyền con người, cũng có thể nói, Cách mạng Tháng Tám

đã mở ra thời đại quyền dân tộc tự quyết gắn liền với quyền công dân và quyền conngười được xác lập trên đất nước ta Lập luận về đạo lý của cuộc cách mạng này,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp đã lợi dụng lá

cờ tự do, bình đẳng, bác ái để cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta Hành động củachúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa Từ mùa thu năm 1940, nhân dân taphải chịu hai tầng xiềng xích “Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn Kết quả làcuối năm ngoái sang đầunăm nay … hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói”, đó chính

là lý do vì sao nhân dân ta phải đứng lên làm cách mạng giải phóng dân tộc Lập luậncủa Chủ tịch Hồ Chí Minh là hoàn toàn trùng hợp với triết lý của Tuyên ngôn thế

giới về quyền con người Trong lời nói đầu Văn kiện này viết “quyền con người phải

được bảo vệ bằng nhà nước pháp quyền, nếu con người không bị bắt buộc phải nổidậy chống lại sự độc tài và áp bức như một phương sách cuối cùng”

Khác với nhiều cuộc cách mạng khác, Cách mạng Tháng Tám không chỉ đemlại các quyền và tự do cho một bộ phận dân cư, mà còn đem lại quyền con người chotất cả mọi người, không phân biệt họ thuộc giai tầng, đẳng cấp nào, là người laođộng hay người trí thức Cách mạng không chỉ trực tiếp mang lại các quyền và lợiích chính trị, kinh tế cho nhân dân lao động, mà còn đem lại tự do, nhân phẩm vànhững giá trị văn hoá tinh thần cho các dân tộc Việt Nam

Trong hai cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập dân tộc kéo dài hơn 30 năm (1945đến 1975), quy luật của chiến tranh buộc nhân dân Việt Nam phải hy sinh một phầnnào đó trên lĩnh vực quyền con người để tập trung sức lực vào mục tiêu đánh bạiquân xâm lược, bảo vệ độc lập dân tộc Tuy vậy, không có bất kỳ một thời kỳ nàoĐảng, Nhà nước Việt Nam, đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh, không chăm lo tới sựnghiệp xây dựng chế độ mới, nhà nước do nhân dân làm chủ Hiếm có một quốc gianào, ngay sau khi giành được độc lập, đã lập tức tiến hành tổng tuyển cử, bầu Quốchội, xây dựng và thông qua Hiến pháp, trong đó các quyền và tự do cơ bản của côngdân – bộ phận quan trọng nhất của quyền con người được trân trọng ghi nhận Đồngthời, tính mạng, tài sản của kiều dân nước ngoài cũng được bảo vệ

Từ Cách mạng Tháng Tám 1945 đến thập niên 90 của thế kỷ XX, tuy thuậtngữ quyền con người không được sử dụng trong các văn kiện nhà nước, song nộihàm của khái niệm này đã tồn tại trong khái niệm Quyền Công dân được quy địnhtrong Hiến pháp và luật Có thể nói, sau sự hy sinh của nhân dân Liên Xô trong chiếntranh thế giới thứ II, chưa có một dân tộc nào đã đổ nhiều xương máu để giữ gìn độclập dân tộc như nhân dân Việt Nam “Chỉ có sức mạnh vật chất mới có thể đánh bạiđược sức mạnh vật chất”, như C Mác nói, song sức mạnh tinh thần của nhân dâncũng có thể chuyển hóa thành sức mạnh vật chất Sức mạnh tinh thần của nhân dân ta

đó là sự tích hợp truyền thống dân tộc, chủ nghĩa Mác - Lê nin, sức mạnh của thờiđại trong tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng ta, trong đó baohàm các giá trị nhân quyền, nhân văn của nhân loại Cốt lõi của những giá trị đãđược Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát trong tư tưởng lớn “Không có gì quý hơn độclập tự do”

Trang 9

Hội nghị Trung ương ba, khoá X đã chủ trương xem xét, sửa đổi các danh mục

bí mật nhà nước nhằm mở rộng công khai, nghiên cứu ban hành luật về bảo đảmquyền được thông tin của công dân… Chủ trương này được xem là giải pháp quantrọng chống tham nhũng Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được bảo đảm, dựa trênquan điểm “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân, đang và sẽtồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Quyền tự do ngônluận, báo chí được tôn trọng Luật Báo chí quy định: “Nhà nước tạo điều kiện thuậnlợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí …”, báochí “không bị kiểm duyệt”

Việc thực hiện quyền của các dân tộc thiểu số mặc dù còn có những hạn chế

do điều kiện địa lý và hoàn cảnh lịch sử để lại, nay đã có những tiến bộ đáng kể, đặcbiệt là xây dựng, cải thiện kết cấu hạ tầng về kỹ thuật và xã hội Chính sách “cửtuyển” và xây dựng “trường dân tộc nội trú” cho con em đồng bào các dân tộc đượcxem là một chính sách “bất bình đẳng tích cực”, nhằm rút ngắn khoảng cách về pháttriển giữa đồng bào các dân tộc thiểu số với đồng bào Kinh

Thành tựu nổi bật và quan trọng về quyền con người trong thời kỳ đổi mới làviệc bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá Quyền làm việc và tự do kinhdoanh được bảo đảm nhờ nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước Thunhập bình quân đầu người đã tăng lên nhanh từ dưới 200 USD (vào cuối những năm

70 thế kỷ XX) lên 640 USD vào năm 2006, và năm (2008) đạt 1000 USD, theo dựbáo năm 2010 có thể đạt 1450 USD, nếu tính theo sức mua thì khoảng trên1400USD Hệ thống giáo dục và y tế, sau một thời gian xuống cấp, nay đã được khôiphục và phát triển Hiện nay 100% các tỉnh, thành phố đạt tiêu chuẩn phổ cập tiểuhọc Những lệch lạc, khuyết tật trong lĩnh vực giáo dục đã và đang được điều chỉnh,sửa chữa

Công tác chăm sóc sức khoẻ cộng đồng và chăm sóc sức khoẻ ban đầu đã đạtđược những thành tích rất “ấn tượng” Có tới 94,6% các cháu nhỏ được sử dụngthuốc dự phòng; 6 bệnh: lao, sởi, ho gà bạch cầu, uốn ván, bại liệt ở trẻ em, đã đượcloại trừ về cơ bản…

Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam năm 2005 là 0,709 xếp thứ109/177 quốc gia Theo chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) chỉ sốHDI của Việt Nam có hai điểm tích cực, đó là thứ hạng hàng năm tăng liên tục; vàchỉ số HDI nhìn chung xếp cao hơn chỉ số phát triển kinh tế

Những thành tựu to lớn mà Việt Nam đã đạt được trên lĩnh vực bảo đảmquyền con người là một thực tế không thể phủ nhận, tuy nhiên, Việt Nam cũng đangđứng trước nhiều thách thức, cần có các giải pháp khả thi để ngăn chặn, khắc phục

Đó là tình trạng quan liêu, tham nhũng, vi phạm quyền làm chủ của người dân chưa

bị đẩy lùi Quyền bình đẳng và mục tiêu công bằng trên lĩnh vực kinh tế đang xuấthiện những vấn đề mới Đó là sự phân hoá giàu – nghèo, đặc biệt là một bộ phậnkhông nhỏ nông dân bị lấy ruộng đất để triển khai các dự án, đang rơi vào tình trạngkhông có việc làm Tỷ lệ trẻ em bỏ học, suy dinh dưỡng vẫn ở mức cao Quyền được

sử dụng hàng hoá, thực phẩm an toàn đang thiếu cơ chế giám sát của các cơ quannhà nước Giá cả hàng hoá, dịch vụ mang tính xã hội như điện, nước, xăng dầu, giao

Trang 10

thông vận tảiẦ, đang có nguy cơ tuột khỏi quyền quản lý của Nhà nước và quyềnlàm chủ của nhân dân Đó còn là, vấn đề bản quyền tác giả và tình trạng lệch lạctrong sáng tác cũng như hưởng thụ văn hoá, nghệ thuật.

3 Tổng quan về quyền con người trong hệ thống pháp luật Việt Nam

Quyền con người là một giá trị hội tụ trong đó nhiều giá trị khác về văn hóa,lịch sử, kinh tế, chắnh trị, xã hội, pháp lýẦ Nó là thành quả của quá trình phát triển

về nhận thức và tri thức của con người, thuộc sở hữu của chung nhân loại Tuy nhiêntrong thực tế, quyền con người luôn gắn vớiquan niệm chủ quan, với các giá trị khácnhau, cho nên, một mặt, chúng ta phải thừa nhận những quan niệm mang tắnh dân tộc

về quyền con người; mặt khác, chúng ta phải đối mặt với tình trạng là đôi khi nhândanh quyền con người, các cá nhân, các nhóm người, vì lợi ắch riêng của mình, đãđưa ra những đòi hỏi vô lý, trái với lợi ắch chung của cả cộng đồng người Cũng do

đó mà, quyền con người thường trở thành vấn đề gây tranh cãi trên trường quốc tế,nhất là khi nó được lồng vào một động cơ chắnh trị (nhiều khi nó được coi như mộtthứ để Ộmặc cảỢ trong các đàm phán, thương lượng quốc tế) Như vậy, quyền conngười - tự thân nó là một giá trị chứa đựng rất nhiều yếu tố tắch cực, nhưng để nóthực sự là mẫu số chung quy đồng các giá trị khác nhau trong xã hội, thì cần phảitiếp cận nó trong sự cân bằng với nhiều mối tương quan

ỘỞ nước ta, vấn đề quyền con người được quan tâm từ rất sớm, trong Tuyênngôn Độc lập năm 1945 khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch HồChắ Minh đã khẳng định: Đó là quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầuhạnh phúcỢ ở nước ta, vấn đề quyền con người được quan tâm từ rất sớm, trongTuyên ngôn Độc lập năm 1945 khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch

Hồ Chắ Minh - trên cơ sở kế thừa bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ năm 1776

và bản Tuyên ngôn Nhân quyền của nước Pháp năm 1789 - đã khẳng định: đó làquyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc Trên cơ sở đó, trongđường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta ở các thời kỳ khác nhau, đặc biệttrong giai đoạn khi chuyển sang nền kinh tế thị trường và trong quá trình đàm phángia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), những vấn đề về nhân quyền đã có

sự thay đổi rất lớn về lượng và chất không chỉ trong quan niệm mà cả trong thực tiễn

áp dụng Hiện nay, ở nước ta hệ thống pháp luật điều chỉnh những vấn đề liên quanđến quyền con người thể hiện ở khá nhiều lĩnh vực Trước tiên phải kể đến Hiếnpháp 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) khẳng định: Ộở nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chắnh trị, dân sự, kinh tế, văn hóa

và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trongHiến pháp và luậtỢ (Điều 50); Ộ Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân; côngdân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội Ợ (Điều 51); ỘMọicông dân đều bình đẳng trước pháp luậtỢ (Điều 52) Trên cơ sở các quy định có tắnhchất nguyên tắc chung nói trên của Hiến pháp, quyền con người ở nước ta được phápluật ghi nhận tập trung ở một số lĩnh vực sau (1):

3.1 Các quyền trong lĩnh vực chắnh trị.

Điều 54 của Hiến pháp năm 1992 quy định: ỘCông dân, không phân biệt dântộc, nam nữ, thành phần xã hội, tắn ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp,

Trang 11

thời hạn cư trú, đủ nười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốttuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định củapháp luật” (Điều 54) Cụ thể hóa nội dung này của Hiến pháp, Quốc hội đã ban hànhcác luật: Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997, được sửa đổi, bổ sung một sốđiều vào năm 2002; Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 1994, được thaythế bằng Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003 Nhiều văn bản luật,pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội và ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định cụ thểcác quyền của công dân tham gia trực tiếp và gián tiếp vào công việc quản lý nhànước, như quyền được biết, được bàn, được làm và được kiểm tra, giám sát Riêngquyền thực hiện dân chủ trực tiếp ở cơ sở, ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hànhcác nghị quyết về quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (năm1998); quychế thực hiện dân chủ trong hoạt động của doanh nghiệp nhà nước (năm 1998); quychế thực hiện dân chủ trong hoạt động của các cơ quan (năm 1998); Pháp lệnh vềviệc thực hiện dân chủ ở xã, phường năm 2007.

3.2 Các quyền trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội.

Hiến pháp năm 1992 đã quy định công dân có các quyền và nghĩa vụ học tập;quyền và nghĩa vụ lao động; quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khỏe; quyền vềnhà ở; quyền sở hữu, tự do kinh doanh… Các quyền và nghĩa vụ này đều đã đượcQuốc hội và ủy ban Thường vụ Quốc hội cụ thể hóa trong các luật và pháp lệnh, như:Luật Giáo dục năm 1998, được thay thế bằng Luật năm 2005; Luật Bảo vệ, chăm sóc

và giáo dục trẻ em năm1991, được thay thế năm 2004; Luật Bảo vệ sức khỏe nhândân (năm 1989); Bộ luật Lao động năm 1994, được sửa đổi, bổ sung vào các năm

2002, 2006 và 2007; Luật Dạy nghề năm 2006; Luật người lao động Việt Nam đilàm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006; Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây

ra hội chứng suy giảm miễn dịch ở người (HIV/AIDS) năm 2006; Luật Phòng, chốngbệnh truyền nhiễm năm 2007; Luật Bình đẳng giới năm 2006; Luật Nhà ở năm 2005;Luật Xây dựng năm 2003; …

Trong các quyền nêu trên, quyền tự do kinh doanh là quyền mới được quyđịnh trong Hiến pháp, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế trong điều kiện mới, tạotiền đề quan trọng cho việc thực thi dân chủ và quyền con người Để cụ thể hóa vấn

đề này, Quốc hội cũng đã ban hành nhiều văn bản luật, như: Bộ luật Dân sự, Bộ luậtLao động, Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, Luật Khuyến khích đầu tưtrong nước, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, Luật Hàng hải…

3.3 Các quyền liên quan đến nhóm đối tượng đặc thù (phụ nữ, trẻ em, người tàn tật, người cao tuổi).

Đây là lĩnh vực xã hội rất quan tâm, đã được quy định trong nhiều văn bản quyphạm pháp luật, góp phần quan trọng vào những thành tựu về bảo đảm và thúc đẩycác quyền của nhóm đối tượng được coi là yếu thế, nhạy cảm trong xã hội Các quyđịnh cụ thể trong Luật Bình đẳng giới cùng với các quyền được chăm sóc và bảo vệsức khỏe bà mẹ, trẻ em; các chính sách về bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, bảohiểm y tế, chế độ thai sản, chế độ đối với lao động nữ (Luật Bảo hiểm xã hội; LuậtPhòng, chống bạo lực gia đình; Luật Bảo hiểm y tế; Luật Dạy nghề; Luật Thanhniên), … đã tạo điều kiện để phụ nữ từng bước thực hiện tốt vai trò người công dân,

Trang 12

người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người; đồng thời, cũng gópphần phòng chống các tệ nạn xã hội, các hành vi bạo lực, xâm hại và xúc phạm nhânphẩm phụ nữ, trẻ em.

Các quyền cơ bản của trẻ em như: quyền được sống, được bảo vệ thân thể,nhân phẩm; quyền được chăm sóc sức khỏe; quyền được học tập, được phát triển;quyền được vui chơi, giải trí; quyền được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng… đều được cụthể hóa trong các quy định của pháp luật (Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em;Luật Giáo dục) Quốc hội đã phê chuẩn việc Việt Nam tham gia Công ước Quốc tế

về bảo vệ trẻ em; thông qua Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1998,được thay thế vào năm 2004 Nội dung này cũng được quy định tại nhiều văn bảnluật khác Trong điều kiện kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn, Đảng và Nhà nướcvẫn dành nhiều ưu đãi cho trẻ em bằng việc miễn phí khám, chữa bệnh cho trẻ emdưới 6 tuổi, chính sách phổ cập giáo dục phổ thông cơ sở… là những cố gắng lớn

Các quyền của đối tượng tàn tật, người cao tuổi cũng như các chính sách đốivới họ được quy định tại Pháp lệnh về người tàn tật năm 1998; Pháp lệnh Người caotuổi năm 2000, Bộ luật Lao động, Luật Dạy nghề

3.4 Các quyền về nhân thân.

Quy định khá cụ thể trong nhiều văn bản pháp luật, bao gồm: quyền tự do đilại, tự do cư trú (Bộ luật Dân sự; Pháp lệnh xuất nhập cảnh, cư trú của người nướcngoài ở Việt Nam; Luật Cư trú); quyền tự do ngôn luận (Luật Báo chí năm 1990, sửađổi năm 1999; Luật Xuất bản năm 2004, sửa đổi năm 2008); quyền tự do tín ngưỡng(Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo; Luật Đất đai; Bộ luật Hình sự); quyền bất khả xâmphạm về chỗ ở; quyền được bảo đảm bí mật về thư tín, điện thoại, điện tín (Bộ luậtHình sự; Pháp lệnh Bưu chính viễn thông); quyền khiếu nại, tố cáo (Luật Khiếu nại,

tố cáo năm 1998, được sửa đổi, bổ sung vào năm 2004 và năm 2005; đồng thời quyđịnh trong nhiều văn bản pháp luật khác như: Luật Đất đai, Bộ luật Tố tụng hình sự,

Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật về Luật sư, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt…); quyền bấtkhả xâm phạm về thân thể và quyền tự do cá nhân Để bảo đảm thực thi những quyđịnh của Hiến pháp về quyền bất khả xâm phạm về thân thể và quyền tự do cá nhân,Quốc hội đã ban hành nhiều văn bản pháp luật, gồm: Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tốtụng hình sự năm 2003; Pháp lệnh Thi hành án phạt tù năm 1999, được sửa đổi bổsung năm 2004; Luật Đặc xá năm 2007 Nghị quyết số 388/NQ-UBTVQH11 ngày17/3/2003 của ủy ban Thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan

do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra đã quy định, côngdân bị thiệt hại do bị oan trong hoạt động này có quyền được bồi thường về vật chất

và phục hồi danh dự Mới đây, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XII đã xem xét, cho

ý kiến về dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự theo hướng bỏbớt hình phạt tử hình đối với một số tội danh; xem xét dự án Luật Lý lịch tư pháp,Luật Bồi thường nhà nước… là các dự án luật liên quan nhiều đến các quyền tự dodân chủ, tự do cá nhân của công dân

Về quyền tự do tín ngưỡng, Điều 70 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Côngdân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Cáctôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn

Trang 13

giáo được pháp luật bảo hộ Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáohoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhànước” Để thực hiện các quy định này, trước đây chỉ có các văn bản của Chính phủ,nhưng gần đây ủy ban Thường vụ Quốc hội đã nâng lên thành một văn bản có giá trịpháp lý cao hơn, đó là Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo.

Ngoài ra, việc xây dựng và hoàn thiện các cơ chế bảo vệ và bảo đảm việc thựchiện các quyền nói trên cũng được coi trọng Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổsung một số điều vào năm 2001, Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ,Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Hoạt độnggiám sát của của Quốc hội, … đều đã thể hiện rõ ý tưởng này, có nhiều điều quy định

về tổ chức bộ máy nhà nước, cơ chế vận hành, trách nhiệm, quyền hạn… bảo đảmthực hiện các quyền cơ bản của công dân, làm cho nhà nước thực sự là của dân, dodân và vì dân

III XU HƯỚNG THỰC HIỆN QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM.

1 Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử

Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại conngười Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hoá lâu dài của giớihữu sinh Song, điều quan trọng hơn cả là: con người luôn luôn là chủ thể của lịch sử

- xã hội C.Mác đã khẳng định “Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người

là sản phẩm của những hoàn cảnh và giáo dục cái học thuyết ấy quên rằng chínhnhững con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần phảiđược giáo dục” Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, Ph.Ăngghen cũng chorằng : “ thú vật cũng có một lịch sử phát triển dần dần của chúng cho tới trạng tháihiện nay của chúng Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trong chừngmực mà chúng tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúngkhông hề biết và không phải do ý muốn của chúng Ngược lại, con người càng cách

xa con vật, hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mìnhlàm ra lịch sử của mình một cách có ý thức bấy nhiêu”

Như vậy, với tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn, tácđộng vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triểncủa lịch sử xã hội Thế giới loài vật dựa vào những điều kiện có sẵn của tự nhiên.Con người thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn của mình để làm phong phúthêm thế giới tự nhiên, tái tạo lại một tự nhiên thứ hai theo mục đích của mình.Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình Conngười là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử

2 Con người - động lực của mọi chính sách

Nhà nước Việt Nam coi con người là mục tiêu và động lực của mọi chính sáchphát triển kinh tế - xã hội và luôn nhất quán trong việc đảm bảo và thúc đẩy các

"Hiến pháp 1992, văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất, đảm bảo mọi công dân cóquyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, bình đẳng trước pháp luật;quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội; quyền tự do tín ngưỡng,tôn giáo; quyền tự do đi lại và cư trú trên đất nước Việt Nam; quyền khiếu nại và tố

Ngày đăng: 27/10/2017, 14:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w