1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TIỂU LUẬN THỰC TIỄN VIỆC vận DỤNG NGUYÊN tắc HIẾN PHÁP về QUYỀN CON NGƯỜI và QUYỀN CÔNG dân VIỆT NAM

72 262 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 762 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không phải ai cũng được hưởng các quyền công dân của một quốc gia nhấtđịnh, và không phải hệ thống quyền công dân của mọi quốc gia đều giống hệt nhau, cũngnhư đều hoàn toàn tương thích v

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do và ý nghĩa khi chọn đề tài 1

2 Bố cục của bài 2

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CÔNG DÂN 3

1 Khái niệm và tính chất trong Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân trên thế giới 3

1.1 Về quyền con người 3

1.1.1 Khái niệm chung trên thế giới 3

1.1.2 Tính chất cơ bản của quyền con người 3

1.2 Về quyền công dân 4

1.2.1 Khái niệm chung trên thế giới 4

1.2.2 Các đặc điểm về quyền công dân 4

2 Cơ sở lý luận về nguyên tắc hiến pháp về quyền con người, quyền công dân 5

2.1 Khái niệm nguyên tắc hiến pháp về quyền con người, quyền công dân 5

2.1.1 Khái niệm quyền con người và quyền công dân 5

2.1.2 Tính thống nhất giữa quyền con người và quyền công dân 6

2.1.3 Sự khác biệt giữa quyền con người và quyền công dân 7

2.1.4 Nguyên tắc hiến pháp về quyền con người, quyền công dân 7

2.2 Ý nghĩa nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân 8

3 Kinh nghiệm về việc lập hiến đối với Quyền con người, Quyền công dân của một số quốc gia Đông Nam Á 8

4 Kinh nghiệm về việc lập hiến đối với Quyền con người, Quyền công dân của một số quốc gia khác 10

4.1 Cách thức hiến định quyền con người, quyền công dân 10

4.2 Cấu trúc chế định quyền con người, quyền công dân 11

4.3 Một số quy định khác trong chế định quyền con người, quyền công dân của hiến pháp các nước trên thế giới 11

4.3.1 Quy định về nghĩa vụ 12

4.3.2 Quy định giới hạn của quyền và việc tạm đình chỉ thực hiện quyền 12

4.3.3 Quy định về hiệu lực áp dụng trực tiếp và những biện pháp khắc phục khi quyền bị vi phạm 13

4.3.4 Quy định về sự bình đẳng giữa các quyền 13

4.3.5 Cách thức xác lập quyền 14

Trang 3

5.1 Sự tiến bộ của Hiến pháp 2013 so với các hiến pháp trước đây 145.2 So sánh giữa Hiến pháp 1992 với Hiến pháp 2013 17

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN VIỆC VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC HIẾN PHÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN Ở VIỆT NAM 19

1 Các nguyên tắc về quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp 2013 Error! Bookmark not defined.

1.1 Nguyên tắc công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công

1.2 Nguyên tắc về tiêu chí giới hạn quyền con người, quyền công dân……….221.3 Nguyên tắc thống nhất giữa quyền công dân với nghĩa vụ công dân………… 251.4 Nguyên tắc mọi người bình đẳng trước pháp luật………26

2 Một số tình huống liên quan các nguyên tắc hiến pháp về quyền con người, quyền công dân………27

2.1 Tình huống về nguyên tắc công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền conngười, quyền công dân……… 272.2 Tình huống về nguyên tắc về tiêu chí giới hạn quyền con người, quyền côngdân……… 292.3 Tình huống về nguyên tắc thống nhất giữa quyền công dân với nghĩa vụ côngdân……… 322.4 Tình huống về nguyên tắc mọi người bình đẳng trước pháp luật……… 36

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC HIẾN PHÁP

VỀ QUYỀN CON NGƯỜI , QUYỀN CÔNG DÂN Ở VIỆT NAM 40 KẾT LUẬN

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do và ý nghĩa khi chọn đề tài

Hiện nay, trong toàn bộ vấn đề của loài người quyền con người và quyền công dân lànhững vấn đề có lịch sử lâu đời cả về phương diện thực tiễn cũng như lý luận Đó luôn làmối quan tâm của toàn nhân loại trong mọi thời kỳ phát triển của nó Mỗi bước phát triểncủa quyền con người, quyền công dân đều gắn liền và là thành quả của cuộc đấu tranhgiai cấp, đấu tranh cách mạng, phản ánh quá trình nhân loại tự giải phóng mình Tư tưởng

về quyền con người (nhân quyền) đã hình thành từ rất sớm trong lịch sử nhân loại nhưngkhông phải trong bất cứ hình thái kinh tế xã hội nào nó cũng tồn tại và thừa nhận mộtcách đầy đủ

Ở Việt Nam, tư tưởng về quyền con người, quyền công dân cũng xuất hiện từ rất sớm vàđược thể hiện rõ nhất từ sau khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 Dưới sự lãnh đạocủa Đảng cộng sản Việt Nam nhân dân Việt Nam đã đứng lên làm nên thành công cuộc cáchmạng tháng tám Cách mạng tháng tám năm 1945 đã mang lại quyền độc lập, tự do cho cảdân tộc, quyền công dân của một nước độc lập và những quyền con người cơ bản cho mọingười dân Việt Nam Bản tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn và đọc tạiQuảng trường Ba Đình ngày 2 tháng 9 năm 1945 đã trích những luận điểm bất hủ về quyềncon người và quyền độc lập dân tộc trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ Trên cơ sở đóquyền con người đã được ghi nhận trong các bản Hiến pháp của Việt Nam, Hiến pháp năm

1946, 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp năm 2013 Điều 14 Hiến pháp năm

2013 ghi nhận: “1 Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người

quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật 2 Quyền con người có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng an ninh quốc gia, trật

tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”.

Như vậy Các quốc gia trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng hiện nay luôn đặtvấn đề quyền con người, quyền công dân lên hàng đầu và được quan tâm đặc biệt trong mọigiai đoạn phát triển Đồng thời quyền con người, quyền công dân cũng là vấn đề hết sứcnhạy cảm vì tùy thuộc vào mỗi chế độ chính trị, truyền thống văn hóa, lịch sử phát triển…mỗi quốc gia có những quan niệm, quan điểm khác nhau về quyền con người, quyền côngdân Mỗi bước phát triển của quyền con người, quyền công dân là thành quả của cuộc đấutranh giai cấp, đấu tranh cách mạng , phản ánh quá trình nhân loại tự giải phóng mình

Ý nghĩa thực tiễn khi làm đề tài này là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đềquyền con người, quyền công dân ở Việt Nam hiện nay Đánh giá thực trạng và phân tíchnguyên nhân làm hạn chế việc đảm bảo phát triển quyền con người, quyền công dân của

Trang 5

Việt Nam hiện nay trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp góp phần đảm bảo cho sự pháttriển quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam hiện nay.

Từ những lý do trên nhóm em xin thực hiện đề tài “Quyền con người, quyền công

dân ở Việt Nam hiện nay” Trong khuôn khổ bài tiểu luận này nhóm em xin trình bày

những nét khái quát, những nội dung cơ bản của quyền con người, quyền công dân Nêulên thực trạng và đề ra các giải pháp để thực hiện quyền con người, quyền công dân ởViệt Nam hiện nay

2 Bố cục của bài

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung của đề tài bao gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quyền con người, quyền công dân

Chương 2: Thực tiễn việc vận dụng nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền

công dân ở Việt Nam

Chương 3: Giải pháp đảm bảo việc vận dụng nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người,

quyền công dân ở Việt Nam

Trang 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

VÀ QUYỀN CÔNG DÂN

1 Khái niệm và tính chất trong Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân trên thế giới

1.1 Về quyền con người

1.1.1 Khái niệm chung trên thế giới

Ai sinh ra trên thế giới đều được hưởng món quà của tạo hóa đó là quyền con người,đây không còn là khái niệm xa lạ trong lịch sử pháp luật của nhân loại Tư tưởng nàyđược thể hiện trong bản tuyên ngôn độc lập của nước Mĩ năm 1776 đã được chủ tịch HồChí Minh nhấn mạnh trong trong bản tuyên ngôn độc lập nước ta, được đọc vào ngày2/9/1945 trước toàn thế giới: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hóacho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyềnđược sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”

1.1.2 Tính chất cơ bản của quyền con

người a) Tính phổ biến (universal)

Thông qua bản Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người, tính phổ biến củaquyền con người được cộng đồng quốc tế thừa nhận thể hiện ở chỗ quyền con người lànhững gì bẩm sinh, vốn có của con người Quyền con người được áp dụng bình đẳng chomọi người, không có sự phân biệt đối xử bởi bất kỳ lý do nào về chủng tộc, màu da, giớitính, tôn giáo, thành phần xuất thân Quyền con người được xây dựng trên cơ sở tôntrọng nhân phẩm và giá trị của mỗi cá nhân Phẩm giá con người là giá trị phổ biến củaquyền con người, phản ánh bản chất của từng con người

b) Tính không thể chuyển nhượng (tước đoạt)

Bất kỳ một chủ thể nào bao gồm cả cơ quan công quyền hay công chức nhà nướccũng không có quyền tước đoạt một cách tùy tiện các quyền tự do ý chí, thể hiện nguyệnvọng đó của mỗi cá nhân trong xã hội Bên cạnh đó, bất cứ ai, không những không đượcquyền tước đoạt mà còn không được quyền hạn chế hoặc xâm phạm một cách tùy tiện cácquyền con người của mỗi cá nhân

c) Tính không thể phân chia (indivisiable)

Về nguyên tắc, các quyền con người này được xác định có tầm quan trọng như nhau,không có quyền nào được xem là quan trọng hơn hoặc cao hơn các quyền khác Các quyềnđều ngang nhau về mặt giá trị Tuy nhiên, tùy thuộc vào những hoàn cảnh khác nhau vànhững chủ thể khác nhau, dựa trên những yêu cầu thực tế, một số quyền nhất định có thểđược nhấn mạnh, được ưu tiên thực hiện hoặc được chú ý bảo vệ Những quyền được ưu

Trang 7

tiên hoặc được bảo vệ riêng này không đồng nhất với việc xác nhận giá trị cao hơn hoặcquan trọng hơn các quyền con người khác.

d) Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau

Quyền con người mang tính toàn diện, chúng không tồn tại một cách độc lập, táchrời với nhau mà tồn tại trong một tổng thể có mối liên hệ mật thiết, chúng phụ thuộc, ràngbuộc lẫn nhau và coi trọng như nhau, trong đó, việc đảm bảo toàn bộ hoặc một phần cácquyền này là điều kiện để đảm bảo toàn bộ hoặc một phần các quyền khác và ngược lại.Một xã hội phát triển, đảm bảo tốt các quyền và tự do chính trị, dân sự sẽ có những tácđộng tích cực trực tiếp và gián tiếp đảm bảo các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội Và ngượclại, các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội được đảm bảo thì các quyền chính trị, dân sự sẽđược thực thi tốt

1.2 Về quyền công dân

1.2.1 Khái niệm chung trên thế giới

Quyền công dân (citizen’s rights) là một khái niệm xuất hiện cùng cách mạng tư sản.Cách mạng tư sản đã đưa con người từ địa vị những thần dân trở thành những công dân(với tư cách là những thành viên bình đẳng trong một nhà nước) và pháp điển hóa cácquyền tự nhiên của con người dưới hình thức các quyền công dân Như vậy, về bản chất,các quyền công dân chính là những quyền con người được các nhà nước thừa nhận và ápdụng cho công dân của mình

Tuy nhiên, quyền công dân không phải là hình thức cuối cùng và toàn diện củaquyền con người Với ý nghĩa là một khái niệm gắn liền với nhà nước, thể hiện mối quan

hệ giữa công dân với nhà nước, được xác định thông qua một chế định pháp luật đặc biệt

là chế định quốc tịch, quyền công dân là tập hợp những quyền tự nhiên được pháp luậtcủa một nước ghi nhận và bảo đảm, nhưng chủ yếu dành cho những người có quốc tịchcủa nước đó Không phải ai cũng được hưởng các quyền công dân của một quốc gia nhấtđịnh, và không phải hệ thống quyền công dân của mọi quốc gia đều giống hệt nhau, cũngnhư đều hoàn toàn tương thích với hệ thống các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người.Quyền công dân cũng được mọi công dân của mỗi nước quan tâm và được nhà nướcbảo vệ, mà cụ thể ở Việt Nam là quyền và nghĩa vụ của công dân được thể hiện trong bốnbản Hiến pháp và ngày càng rõ nét

1.2.2 Các đặc điểm về quyền công dân

a) Chủ thể

Quyền công dân Có thể là “các cá nhân đặt trong mối quan hệ với nhà nước, dựa trêntổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mỗi cá nhân được nhà nước đó quy định tạo nênđịa vị pháp lý của công dân”, do vậy quyền công dân chỉ mang tính chất quốc gia Đối

Trang 8

với những chủ thể không phải là công dân nước sở tại hoặc không mang quốc tịch củamột nhà nước nào thì họ vẫn có được những quyền hạn chế của công dân hoặc phải thựcthi những nghĩa vụ cũng hạn chế của công dân đối với xã hội, nhà nước nơi họ sinh sống,

cư trú

b) Bản chất

Bao gồm cả Nhân quyền được Quốc gia thừa nhận Tuy nhiên có những quyền đặctrưng riêng biệt khác mà phải là công dân thì mới được hưởng tại Quốc gia đó Người đượchưởng quyền này phải thực hiện các nghĩa vụ tương ứng theo quy định Pháp lý trước đó

c) Tính chất

Quyền công dân mang tính quốc gia: Để trở thành công dân của một nước, các cánhân bao giờ cũng phải có quốc tịch của nước đó Tư cách công dân mang đến cho cánhân một địa vị pháp lý đặc biệt trong quan hệ với nước mà họ mang quốc tịch Dựa trênnhững điều kiện cụ thể của mình mà nhà nước quy định cho công dân những quyền vàphải thực hiện những nghĩa vụ nhất định

d) Căn cứ phát sinh

Căn cứ phát sinh của quyền công dân là dựa trên cơ sở quốc tịch.Tuy nhiên cách xácđịnh quốc tịch của mỗi quốc gia có sự khác nhau Có quốc gia xác định quốc tịch theohuyết thống có quốc gia lại xác định theo nới sinh.Như vậy để trở thành công dân củamột nước cần phải đáp ứng được đầy đủ các điều kiện do pháp luật nước đó quy định Quyền công dân xuất phát từ quyền con người – giá trị trị được thừa nhận chung củanhân loại nhưng được nâng lên thành quyền của công dân và được quy định trong hiếnpháp của quốc gia được thừa nhận chung của nhân loại nhưng được nâng lên thành quyềncủa công dân và được quy định trong hiến pháp của quốc gia

2 Cơ sở lý luận về nguyên tắc hiến pháp về quyền con người, quyền công dân

2.1 Khái niệm nguyên tắc hiến pháp về quyền con người, quyền công dân

2.1.1 Khái niệm quyền con người và quyền công dân

a Quyền con người và quyền công dân

Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân

và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc hoặc làm tổn hại đến nhânphẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người

Trang 9

Công dân là thuật ngữ pháp lý dùng để chỉ một người thuộc về một Nhà Nước nhấtđịnh mà người đó mang quốc tịch , biểu hiện mối quan hệ pháp lý đặc biệt giữa người đóvới Nhà Nước

Quyền công dân là khả năng của công dân được thực hiện những hành vi nhất định

mà pháp luật không cấm theo ý chí , nhận thức và sự lựa chọn của mình Hệ quả là đốivới quyền , công dân có lý do ý chí và Nhà Nước có trách nhiệm tạo điều kiện cho việcthụ hưởng quyền

Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân: là những quyền và nghĩa vụ được quy địnhtrong Hiến pháp- đạo luật cơ bản của nhà nước , xác định địa vị pháp lý cơ bản của côngdân trong mối quan hệ đối với Nhà Nước Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân làmột chế định của Luật Hiến pháp1

b, Đặc điểm

- Về nguồn gốc : trên cơ sở tôn trọng quyền con người được cộng đồng quốc tế và các quốc gia dân chủ hiện tại trên thế giới thừa nhận

- Về hình thức pháp lý: quy định trong Hiến pháp-đạo luật cơ bản của Nhà Nước, văn

bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất trong mỗi quốc gia Hiến pháp là cơ sở đầutiên và chủ yếu để xác định địa vị pháp lý của công dân

-Về hệ quả : là cơ sở để quy định các quyền và nghĩa vụ cụ thể khác Trên cơ sở Hiến

pháp , các văn bản quy phạm pháp luật khác sẽ theo đó đề quy định các quyền , nghĩa vụ cơbản thành nội dung cụ thể : cách thức thực hiện, bảo vệ cũng như trách nhiệm pháp lý

- Về ý nghĩa : không những thể hiện chất lượng sống của các cá nhân , cộng đồng xã

hội mà còn thể hiện tính nhân đạo và tiến bộ của Nhà Nước Trong đó mối quan hệ giữaNhà Nước với công dân phải được xây dựng trên nguyên tắc bình đẳng

2.1.2 Tính thống nhất giữa quyền con người và quyền công dân

Theo nghĩa rộng, cả thuật ngữ “quyền con người” và quyền công dân đều là nhữngphạm trù triết học dùng để biểu thị mối quan hệ của cá nhân con người với cộng đồngnhân loại (quyền con người) và với quốc gia nơi mà người đó có quốc tịch (quyền côngdân) Quyền con người và quyền công dân đều xoay quanh một chủ thể chung (củaquyền), đó là con người, và một chủ thể chung khác (có nghĩa vụ) là các cộng đồng nhânloại mà thể chế chính trị - pháp lý trung tâm của nó là nhà nước Thêm vào đó, quyền conngười và quyền công dân về bản chất đều là những gì mà một cá nhân con người đượcphép làm và được thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ bởi các chủ thể khác Chính vì thế màquyền con người và quyền công dân là hai phạm trù rất gần gũi và trong nhiều bối cảnhhầu như không có sự phân biệt

1 Đề cương môn học Hiến Pháp Việt Nam , NXB Hồng Đức , năm 2013

Trang 10

2.1.3 Sự khác biệt giữa quyền con người và quyền công dân

- Một là tư tưởng về quyền con người được hình thành cùng với sự xuất hiện của những nền văn minh cổ đại Còn khái niệm quyền công dân chỉ xuất hiện cùng với cách

mạng tư sản Vì cách mạng tư sản đưa con người từ địa vị thần dân trở thành công dân.Như vậy khái niêm quyền công dân xuất hiện sau khái niệm quyền con người

- Hai là xét về tổng quan, quyền công dân có nội hàm hẹp hơn so với quyền con người, do quyền công dân chỉ là những quyền con người được các nhà nước thừa nhận và

áp dụng riêng cho công dân nước mình

Ở nhiều góc độ khác nhau – xem so sánh có thể chứng minh quyền con người là kháiniệm rộng hơn quyền công dân Ví dụ: Về tính chất, quyền con người không bị bó hẹptrong mối quan hệ giữa cá nhân với nhà nước như quyền công dân, mà thể hiện mối quan

hệ giữa cá nhân với toàn thể cộng đồng nhân loại Về phạm vi áp dụng, do không bị giớihạn bởi chế định quốc tịch nên chủ thể của quyền con người là tất cả các thành viên củagia đình nhân loại bất kể vị thế, hoành cảnh, quốc tich…Nói cách khác, quyền con ngườiđược áp dụng một cách bình đẳng với tất cả mọi người thuộc mọi dân tộc đang sinh sốngtrên phạm vi toàn cầu, không phụ thuộc vào biên giới quốc gia, tư cách cá nhân hay môitrường sống của chủ thể quyền

2.1.4 Nguyên tắc hiến pháp về quyền con người, quyền công dân

Để làm rõ khái niệm nguyên tắc hiến pháp về quyền con người, quyền công dân, trước hết ta cần làm rõ khái niệm “nguyên tắc” Thuật ngữ “nguyên tắc” có nguồn gốc

từ tiếng Latinh – “principium”, có nghĩa là luận điểm cơ bản, luận điểm gốc của học

thuyết Theo Từ điển Tiếng Việt, nguyên tắc được hiểu là “điều cơ bản định ra, nhất thiết

phải tuân theo trong một loạt việc làm”1

Theo Từ điển Thuật ngữ lý luận nhà nước và pháp luật, tác giả Thái Vĩnh Hằng cho rằng: “Nguyên tắc pháp luật là những tư tưởng chỉ đạo, những định hướng cơ bản trong việc

xây dựng và thực hiện pháp luật Nguyên tắc pháp luật có thể chia thành nguyên tắc chung (nguyên tắc của toàn bộ hệ thống pháp luật), nguyên tắc của một nhóm các ngành luật và nguyên tắc của chế định pháp luật” 2.Theo Từ điển Luật học, các tác giả phân chia nguyên

tắc pháp luật thành hai loại: Nguyên tắc chung mang tính chất chính trị - xã hội của pháp luật

và nguyên tắc pháp lí đặc thù “Nguyên tắc chung của pháp luật luôn phản ánh một cách

trực tiếp chế độ xã hội hiện hữu và được đặt ra nhằm xác định rõ những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo để giải đáp một vấn đề lớn là hệ thống pháp luật hiện hữu củng cố và bảo vệ chế độ nào Nguyên tắc pháp lý đặc thù thể hiện rõ bản chất và những đặc trưng của pháp luật nhằm giải đáp một vấn đề có tính đặc thù là hệ thống pháp luật sẽ củng cố

1 Viện Ngôn ngữ học: Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, Hà Nội – Đà Nẵng,

1996, tr.672.

2 Thái Vĩnh Thắng: Từ điển Thuật ngữ lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,

2008, tr.181-183.

Trang 11

và bảo vệ chế độ đó như thế nào”1 Như vậy, các nguyên tắc pháp luật có thể được phânloại dựa trên nhiều tiêu chí, đồng thời; chúng được xem là nền tảng và thể hiện bản chấtcủa hệ thống pháp luật hoặc một bộ phận pháp luật nhất định.

Từ những dẫn giải trên, có thể hiểu như sau: Nguyên tắc pháp hiến pháp về quyền

con người, quyền công dân là những tư tưởng chính trị - pháp lý chủ đạo, đặt nền tảng cho việc xây dựng và thực hiện chế định quyền con người, quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp 2

2.2 Ý nghĩa nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân

Về phương diện pháp lý, các nguyên tắc hiến pháp về quyền con người, quyền công

dân (quy phạm nguyên tắc) đặt nền tảng cho việc hình thành các quy phạm cụ thể kháccủa chế định quyền con người, quyền công dân (quy phạm hành vi xác định quyền vànghĩa vụ cụ thể trong quan hệ Nhà nước – cá nhân)3 Về phương diện thực tiễn, cácnguyên tắc này góp phần tạo nên những bảo đảm về chính trị - pháp lý cần thiết đối vớigiá trị quyền con người, quyền công dân Hơn nữa, việc thực hiện pháp luật “không chỉliên quan đến các quy phạm pháp luật cụ thể hay các quyết định pháp luật cá biệt mà cònliên quan đến thực hiện các nguyên tắc pháp luật, tinh thần pháp luật”4 Nền tảng màchúng tạo ra không chỉ giúp cho hành xử của nhà nước (thông qua việc thực thi quyền lậppháp, hành pháp và tự pháp) lẫn cá nhân được thể hiện một cách lành mạnh mà còn thúcđẩy mạnh mẽ việc tạo dựng nền văn hóa nhân quyền trong một xã hội pháp quyền

3 Kinh nghiệm về việc lập hiến đối với Quyền con người, Quyền công dân của một

số quốc gia Đông Nam Á

Xét về mặt nội dung, hầu hết các bản hiến pháp của các quốc gia Đông Nam Á ghinhận nguyên tắc (đồng thời là quyền) bình đẳng trước pháp luật, tuy nhiên về mặt nộihàm và mức độ thể hiện ở từng bản Hiến pháp là không giống nhau

- Về mặt chủ thể quyền: Hiến pháp Indonesia, Malaysia5, Singapore và Philippines

trao quyền cho mọi cá nhân, không phân biệt tư cách công dân Hiến pháp Malaysia và

Singapore6 còn nhấn mạnh những ngoại lệ đối với việc cá nhân bị phân biệt đối xử phải

1 Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp: Từ điển Luật học, Nxb Từ điển bách khoa – Tư pháp, Hà Nội,

2006, tr.568.

2 Lưu Đức Quang: Nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân, Nxb Chính trị Quốc gia Sự

thật, tr.13.

3 Viện Đại học Mở Hà Nội: Giáo trình Luật hiến pháp Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2004, tr.19.

4 Hoàng Thị Kim Quế: “Thực hiện pháp luật của cá nhân, công dân trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Luật học, số 2, 2015, tr.44-49.

5 Khoản 8 Điều 1 Hiến pháp Malaysia năm 1963 quy định: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bỏ vệ như nhau”.

1 Khoản 2 Điều 12 Hiến pháp Singapore năm 1963 quy định: “Trừ trường hợp Hiến pháp này có quy định rõ ràng, sẽ không có sự phân biệt đối với công dân Singapore chỉ vì lý do tôn giáo, chủng tộc, nguồn gốc

Trang 12

dựa trên căn cứ hiến định Hiến pháp Thái Lan, Lào1, Campuchia, Myanmar, chỉ trao quyền cho công dân của mình.

- Về mặt nội hàm: nếu các hiến pháp chỉ nêu khái quát thì Hiến pháp Thái Lan năm

2007 quy định khá chi tiết tại Điều 30 Theo đó, mọi người dân Thái Lan đều bình đẳngtrước pháp luật và được pháp luật bảo vệ như nhau Hiến pháp nghiêm cấm phân biệt đối

xử một cách không chính đáng đối với cá nhân dựa trên sự khác biệt về nguồn gốc, chủngtộc, ngôn ngữ, giới tính, tuổi tác, khuyết tật, điều kiện thể chất hay sức khỏe, tình trạnghôn nhân, điều kiện kinh tế, xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, giáo dục hay quan điểm chínhtrị Nhà nước có thể quyết định các biện pháp ưu tiên một đối tượng nào đó để xóa bỏ cáccản trở hoặc để thúc đẩy khả năng thực hiện quyền cơ bản của họ theo một cách thứcgiống với những người khác mà không bị coi là sự phân biệt đối xử không chính đáng(Hiến pháp Thái Lan năm 2007 đã được thay thế bởi Hiến pháp Thái Lan tạm thời năm

2014 và chính thức được thay thế bởi Hiến pháp năm 2017)

-Đối với nguyên tắc giới hạn quyền: Hiến pháp Indonesia năm 1945 (sửa đổi, bổ sung

năm 1999, 2000, 2001, 2002) quy định chung tại khoản 2 Điều 28J: “Khi thực hiện cácquyền và tự do của mình, mỗi người đều có nghĩa vụ chấp nhận những hạn chế do luật địnhvới mục đích duy nhất là để bảo đảm việc công nhận và tôn trọng quyền và tự do của ngườikhác và để đáp ứng những yêu cầu hợp lý của xã hội dân chủ trên cơ sở có tính đến giá trịđạo đức, tôn giáo, an ninh và trật tự công cộng”; đồng thời tuyên bố các quyền tuyệt đối baogồm: Quyền sống, quyền không bị tra tấn, quyền tự do về tư tưởng và nhận thức, quyền tự dotôn giáo, quyền không bị bắt làm nô lệ, quyền được đối xử như một cá nhân trước pháp luật

và quyền không bị truy tố trên cơ sở của luật có hiệu lực hồi tố (khoản 1 Điều 28I) Hiếnpháp Thái Lan năm 2007 vừa đặt ra nguyên tắc chung của việc hạn chế các quyền và tự dohiến định trong các đạo luật và văn bản dưới luật (Điều 29 quy định: “Sự hạn chế các quyền

và tự do được công nhận bởi Hiến pháp không thể được áp đặt đối với một cá nhân trừ khi nóđược thực hiện bởi các điều khoản của đạo luật được ban hành riêng biệt và để phục vụ mụcđích được quy định bởi Hiến pháp này và chỉ được thực hiện trong phạm vi cần thiết và vớiđiều kiện rằng sự hạn chế đó không được ảnh hưởng tới những nội dung cơ bản của quyềnhay tự do đó Các đạo luật này phải được áp dụng chung và không được nhắm tới áp dụngcho bất cứ trường hợp hay cá nhân cụ thể nào; với điều kiện là điều khoản của hiến pháp chophép việc ban hành đó phải được viện dẫn trong đạo luật

hoặc nơi sinh trong bất kỳ đạo luật nào, khi bổ nhiệm bất kỳ chức vụ nào, khi tuyển dụng làm việc trong cơ quan công quyền hoặc khi thực thi bất kỳ đạo luật nào liên quan đến việc thủ đắc, chiếm hữu hoặc định đoạt tài sản hay thành lập hoặc thực hiện bất kỳ việc kinh doanh, thương mại, nghề nghiệp, năng khiếu hay việc làm nào đó”.

2 Điều 35 Hiến pháp Lào năm 1991 quy định: “Công dân Lào không phân biệt nam nữ, địa vị xã hội, trình

độ văn hóa, tín ngưỡng và dân tộc đều bình đẳng trước pháp luật” (Hiến pháp Lào hiện nay là Hiến pháp năm 2015).

Trang 13

Quy định trên cũng được áp dụng đối với văn bản dưới luật được ban hành theo các quy định trong luật”.

- Bên cạnh đó, đối với một số quyền khác như quyền tự do đưa tin và thể hiện quanđiểm của nhà báo, Hiến pháp cũng nêu rõ: Việc giới hạn chỉ mang tính hiến định mà không

thuộc phạm vi luật định (Điều 46 quy định: “Những nhân viên chính thức hay người làm

thuê của các tòa báo, đài phát thanh, đài truyền hình tư nhân hoặc doanh nghiệp truyền thông đại chúng khác được hưởng các quyền tự do đưa tin và thể hiện quan điểm của họ theo những giới hạn hiến định mà không cần sự giao quyền của bất kỳ cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước hoặc chủ sở hữu các doanh nghiệp này miễn là điều đó không đi ngược lại đạo đức nghề nghiệp và họ có quyền thành lập các tổ chức bảo vệ quyền, tự do, sự công bằng và hình thành các thiết chế tự quản trong nội bộ cơ quan”).

- Ngoài ra, hiến pháp các nước còn đề cập một số nguyên tắc khác như: Nguyên tắchiệu lực trực tiếp của hiến pháp đối với việc thực thi các quyền và tự do được thể hiệnthông qua các quyền khởi kiện của cá nhân trước Tòa án nhằm buộc Nhà nước tuân thủcác quyền cơ bản tại Điều 28 Hiến pháp Thái Lan năm 2007 (Hiến pháp Thái Lan năm

2007 đã được thay thế bởi Hiến pháp Thái Lan tạm thời năm 2014 và chính thức đượcthay thế bởi Hiến pháp năm 2017); nguyên tắc mỗi người đều có nghĩa vụ tôn trọng cácquyền con người căn bản của những người khác tại khoản 1 Điều 28J Hiến phápIndonesia năm 1945 (sửa đổi, bổ sung năm 1999, 2000, 2001, 2002)

4 Kinh nghiệm về việc lập hiến đối với Quyền con người, Quyền công dân của một

số quốc gia khác

Đa số Hiến pháp đều có một chương riêng, phần riêng hoặc những điều khoản nhất địnhquy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Ví dụ, Mục 2 củaHiến pháp Bỉ, Mục 2 của Hiến pháp Hungari, Phần I của Hiến pháp Bồ Đào Nha, Phần

I của Hiến pháp Italia, Mục 2 của Hiến pháp Thụy Sĩ, Phần III của Hiến pháp Croatia,

….Thông thường, trong cấu trúc Hiến pháp, các quy định về quyền con người, quyền,nghĩa vụ cơ bản của công dân được đặt trước các quy định cụ thể về chính quyền để biểuđạt ý tưởng mục tiêu của chính quyền là bảo vệ con người, bảo vệ công dân

4.1 Cách thức hiến định quyền con người, quyền công dân

Quyền con người, quyền công dân được ghi nhận trong hiến pháp của các quốc gia theo ba cách cơ bản:

- Cách thứ nhất: Gồm các điều khoản trong một chương riêng, hoặc rải rác trong một

số chương của hiến pháp Đây là cách hiến định quyền phổ biến nhất hiện nay, được hầuhết các quốc gia trên thế giới áp dụng

Trang 14

- Cách thứ hai: Quy định trong một văn bản riêng và được thừa nhận như là một cấu

phần của hiến pháp Ví dụ, Tuyên ngôn quyền con người năm 1689 và Bộ luật về quyềnnăm 2008 được coi là hai văn bản nguồn của Hiến pháp nước Anh; Hoặc theo Lời mởđầu của Hiến pháp năm 1958 (hiện hành) của nước Pháp, bản Tuyên ngôn về quyền conngười và quyền công dân năm 1789 được thừa nhận như là một cấu phần của Hiến pháp.Điều này có nghĩa là các quy định chủ chốt về quyền của bản Tuyên ngôn có giá trị nhưcác quy tắc hiến định

- Cách thứ ba: Không quy định trực tiếp trong nội dung hoặc không thành một văn bản riêng, mà được xác định như là những điều bổ sung của hiến pháp Đây là trường hợp

của Hoa Kỳ Hiến pháp Hoa Kỳ ban đầu không có quy định trực tiếp nào về quyền conngười, nhưng sau đó được bổ sung 10 tu chính án quy định về các quyền cơ bản mà saunày được gọi là Bộ luật về quyền con người của Hoa Kỳ

4.2 Cấu trúc chế định quyền con người, quyền công dân

Nghiên cứu các bản hiến pháp của các nước trên thế giới, có thể thấy một điểmchung là các quyền dân sự, chính trị thường được đề cập trước, sau đó đến các quyềnkinh tế, xã hội văn hóa, cuối cùng là các nghĩa vụ của công dân và một số quy định khác

có liên quan Các hiến pháp mới được thông qua hoặc sửa đổi trong khoảng hai thập kỷgần đây (gọi là các hiến pháp theo mô hình hiện đại), ví dụ như: Hiến pháp Liên BangNga, Hàn Quốc, Ba Lan, Inđônêxia, Thái Lan, Ấn Độ, Nam Phi, v.v., có xu hướng diễnđạt và cấu trúc chế định về quyền con người, quyền công dân phỏng theo nội dung củacác điều ước quốc tế về quyền con người để thuận tiện cho việc nội luật hóa và bảo đảmthực thi các điều ước đó Cụ thể, cấu trúc của các bản hiến pháp theo mô hình hiện đạithông thường có trình tự như sau:

- Những nguyên tắc chung về quyền con người, quyền công dân

- Các điều kiện và cơ chế bảo đảm thực hiện các quyền hiến định

4.3 Một số quy định khác trong chế định quyền con người, quyền công dân của hiến pháp các nước trên thế giới

Chế định quyền con người, quyền công dân trong hiến pháp của các quốc gia không chỉquy định các quyền mà còn bao gồm các nghĩa vụ của cá nhân Ngoài ra, một số hiến phápcòn quy định về những vấn đề khác như: Nhân phẩm, giới hạn của quyền và việc tạm

Trang 15

đình chỉ quyền; hiệu lực áp dụng trực tiếp và những biện pháp khắc phục khi quyền bị viphạm; thiết chế quốc gia bảo vệ và thúc đẩy quyền con người.

4.3.1 Quy định về nghĩa vụ

Nhìn chung, nghĩa vụ công dân được đề cập trong hiến pháp các nước trên thế giớidưới hai dạng chính: nghĩa vụ tuân thủ pháp luật và nghĩa vụ lao động Bên cạnh đó, cóhiến pháp còn quy định một số nghĩa vụ khác như nghĩa vụ bảo vệ tổ quốc, nghĩa vụ quân

sự, nghĩa vụ bầu cử, nghĩa vụ học tập, nghĩa vụ thực hiện các quy định về vệ sinh phòngbệnh và vệ sinh công cộng, nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản của Nhà nước và lợi íchcông cộng, nghĩa vụ đóng thuế và lao động công ích, thậm chí là nghĩa vụ bảo vệ sự hàihòa của xã hội, bảo vệ môi trường, đóng các loại thuế an sinh xã hội.Như vậy, mặc dùhiến pháp các nước trên thế giới chủ yếu đề cập quyền con người, quyền công dân, songcũng đồng thời đề cập các nghĩa vụ của con người và của công dân

Mặc dù xét tổng quát quy định về nghĩa vụ của con người trong hiến pháp của cácnước trên thế giới cụ thể hơn so với quy định về vấn đề này trong luật quốc tế về quyềncon người, tuy nhiên, nếu so sánh với các quy định về quyền, quy định về nghĩa vụ trongcác hiến pháp ít hơn rất nhiều cả về số lượng và mức độ chi tiết so với quy định về vấn đềnày trong luật quốc tế về quyền con người

4.3.2 Quy định giới hạn của quyền và việc tạm đình chỉ thực hiện quyền

Như đã đề cập ở trên, luật quốc tế về quyền con người thừa nhận có những giới hạntrong việc hưởng thụ các quyền con người của các cá nhân nhằm bảo vệ lợi ích chung củacộng đồng và các quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân khác Cũng với mục đích đó, luậtquốc tế về quyền con người quy định trong những hoàn cảnh khẩn cấp thì cho phép Nhànước có thể tạm đình chỉ thực hiện một số quyền con người với những điều kiện nhất địnhkèm theo Vấn đề giới hạn và tạm đình chỉ quyền cũng được quy định trong nhiều bản hiếnpháp, đặc biệt là những hiến pháp theo mô hình hiện đại, cụ thể như Hiến pháp Liên bangNga (các điều 17, 55, 56), Hiến pháp Ba Lan (Điều 81), Hiến pháp Hàn Quốc (Điều 37),Hiến pháp Trung Quốc (Điều 51), v.v Ví dụ: Hiến pháp Trung Quốc (Điều 51) quy định:

“Công dân nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa khi thực hiện quyền tự do và quyền lợi củamình không được xâm hại đến tự do và quyền lợi hợp pháp của Nhà nước, xã hội, tập thể vàcông dân khác” Theo Hiến pháp Liên bang Nga (Điều 17) thì: “Việc thực hiện các quyền và

tự do của con người và công dân không được xâm phạm đến quyền và tự do của người khác.Điều 55 Hiến pháp Liên bang Nga quy định: “Các quyền và tự do của con người và công dân

có thể bị giới hạn bởi pháp luật liên bang chỉ trong mức độ cần thiết đủ để bảo vệ nền tảngchế độ Hiến pháp, đạo đức, sức khỏe, các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, bảođảm quốc phòng và an ninh quốc gia”; Theo Điều 57: “Trong bối cảnh tình trạng khẩn cấp,

để bảo đảm an toàn cho công dân và bảo vệ chế độ Hiến pháp, theo đạo luật Hiến pháp Liênbang, có thể thiết lập những giới hạn nhất định đối với các quyền và tự do với điều kiện phảichỉ rõ phạm vi và thời hạn của những giới hạn đó Tình trạng

Trang 16

khẩn cấp có thể được ban bố trên toàn bộ lãnh thổ Liên bang Nga hoặc một phần lãnh thổnhất định khi xuất hiện bối cảnh và theo trình tự được quy định trong đạo luật Hiến phápLiên bang Không được hạn chế các quyền và tự do được quy định tại các điều 20, 21, 23(khoản 1), 24, 28, 34 (khoản 1), 46 và 54 của Hiến pháp Liên bang Nga”,v.v

4.3.3 Quy định về hiệu lực áp dụng trực tiếp và những biện pháp khắc phục khi quyền bị vi phạm

Để khắc phục tình trạng các quyền hiến định không được thực thi vì phải chờ được cụthể hóa bằng luật, hiến pháp một số nước có quy định các quyền hiến định phải được áp dụngtrực tiếp Cụ thể, theo Hiến pháp Liên bang Nga (Điều 18): “Các quyền và tự do của conngười và công dân có hiệu lực trực tiếp Các quyền và tự do xác định ý nghĩa, nội dung vàviệc áp dụng các đạo luật, hoạt động của cơ quan lập pháp và hành pháp, chính quyền tựquản địa phương, và được bảo đảm bởi Tòa án” Một số hiến pháp quy định cả những biệnpháp khắc phục khi quyền con người, quyền công dân bị vi phạm Khiếu nại về vi phạmquyền con người có thể được giải quyết bởi các tòa án thường (Hiến pháp Nam Phi, Canađa,Hoa Kỳ, Pháp, Ấn Độ,v.v.), hoặc thông qua các cơ quan tài phán hiến pháp như tòa án hiếnpháp hoặc hội đồng hiến pháp (Hiến pháp Nam Phi, Hiến pháp Pháp ), hay cơ quan quốcgia về quyền con người (Hiến pháp Agrentina,v.v.).Một số hiến pháp quy định những viphạm quyền con người có thể được giải quyết bởi các cơ chế tài phán quốc tế theo các điềuước mà quốc gia đã tham gia, nếu như đương sự đã vận dụng hết các cơ chế giải quyết trongnước (ví dụ, Hiến pháp Nam Phi, Agrentina, Ấn Độ v.v )

4.3.4 Quy định về sự bình đẳng giữa các quyền

Thực tế cho thấy, không hiến pháp của quốc gia nào có thể hiến định được tất cả cácquyền con người, quyền công dân, trong khi theo nhận thức chung của cộng đồng quốc

tế, không có quyền nào được coi trọng hơn quyền nào Điều này dẫn tới yêu cầu phòngngừa sự coi nhẹ các quyềncon người, quyền công dân không phải là những quyền hiếnđịnh.Hiến pháp của một số nước trên thế giới, ví dụ như Hiến pháp Hoa Kỳ (Tu chính án

số 9), Hiến pháp Liên Bang Nga (Điều 55), Hiến pháp Hàn Quốc (Điều 37), v.v., đã giảiquyết vấn đề trên bằng cách quy định rõ việc hiến định các quyền và tự do trong hiếnpháp không có nghĩa là phủ nhận hay hạ thấp các quyền và tự do khác Ví dụ, Hiến phápHoa Kỳ (Tu chính án số 9) nêu rõ: "Việc liệt kê một số quyền trong Hiến pháp không cónghĩa là phủ nhận hay hạ thấp các quyền khác của người dân” Hiến pháp Liên bang Nga(Điều 55) quy định: “1 Việc liệt kê các quyền và tự do cơ bản trong Hiến pháp Liên bangNga không có nghĩa là phủ nhận hoặc xem nhẹ các quyền và tự do khác của con người vàcông dân đã được thừa nhận rộng rãi 2 Ở Liên bang Nga không được ban hành nhữngđạo luật tước bỏ hoặc xem nhẹ các quyền và tự do của con người và công dân” TheoHiến pháp Hàn Quốc (Điều 37b) thì: “Các quyền và tự do của công dân không thể bị bỏqua với lý do chúng không được liệt kê trong Hiến pháp”

Trang 17

4.3.5 Cách thức xác lập

Có hai cách thức chủ

quyền

yếu xác lập (quy định) về quyền trong hiến pháp trên thế giới

- Cách thứ nhất: Hiến định về quyền trên tinh thần quán triệt nguyên tắc các quyền

con người là tự nhiên, bẩm sinh và vốn có của mọi cá nhân Theo cách thức này, các quyđịnh về quyền thể hiện rất rõ vị thế chủ thể quyền của người dân Ví dụ, khi hiến định các

tự do cơ bản, Hiến pháp Hoa Kỳ (Tu chính án số 1) quy định: “Quốc hội không được banhành một đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng, hạn chế

tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền của dân chúng được hội họp ôn hoà và kiến nghịlên Chính phủ các điều thỉnh cầu, để bày tỏ những nỗi bất bình của họ" Hoặc trongChương II Hiến pháp năm 1946 của Việt Nam, các quy định được diễn đạt như: “Tất cảcông dân Việt Nam đều ngang quyền ” (Điều thứ 6); “Tất cả công dân Việt Nam đềubình đẳng trước pháp luật ” (Điều thứ 7); “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọiphương diện” (Điều thứ 9); hoặc “Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ vàgiam cầm người công dân Việt Nam” (Điều thứ 11)

- Cách thứ hai: Ngược lại với cách thứ nhất, ví dụ: Hiến pháp Việt Nam năm 1992,

được sửa đổi, bổ sung năm 20011, Hiến pháp Trung Quốc năm 19822 , Hiến pháp Cubanăm 19923 ,…v.v

5 Sự phát triển của Hiến Pháp Việt Nam từ năm 1946 đến 2013

5.1 Sự tiến bộ của Hiến pháp 2013 so với các hiến pháp trước đây

Trong Hiến pháp 2013 quyền con người, quyền công dân được quy định từ Điều 14 đến Điều 49 đã có nhiều điểm mới tiến bộ và hoàn thiện hơn so với Hiến pháp năm

1992 Chủ thể và nội dung quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

khẳng định rõ hơn, cụ thể như sau:

Về quyền con người Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện được tầm quan trọng của quyền con người, đưa chương 5 quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến

1 Ví dụ: Điều 50: “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp

và luật”; Điều 51: “ Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định”.

2 Xem Chương II Hiến pháp Trung Quốc năm 1982 Ví dụ, Điều 33 quy định: “ Tất cả quyền lợi của công dân được Hiến pháp và pháp luật quy định ” Điều 35: “Công dân nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa có quyền tự do ngôn luận, xuất bản, lập hội, tham gia tổ chức đoàn thể, đi lại, biểu tình”; Điều 36: “Công dân nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo”

3 Ví dụ: Hiến pháp Cuba năm 1992, Điều 53 quy định: “Công dân có quyền tự do biểu đạt và tự do báo chí theo mục tiêu của xã hội xã hội chủ nghĩa ”.

Trang 18

pháp năm 1992 lên Chương 2 trong Hiến pháp năm 2013 Đồng thời tên chương cũng có

sự thay đổi, cụ thể:

ỞHiến pháp năm 1946 là chương “Nghĩa vụ và quyền lợi công dân”, từ Hiến pháp

1959 đến Hiến pháp năm 1992 là chương “Quyền và nghĩa vụ cơ bản công dân” đến

Hiến pháp năm 2013 sửa đổi chương này có tên gọi “Quyền con người, quyền nghĩa vụ

cơ bản công dân” Qua đó khẳng định rằng, quyền con người là quyền tự nhiên, Nhànước phải thừa nhận, tôn trọng và cam kết bảo đảm, bảo vệ quyền con người đúng nhưnhững công ước mà Viện Nam là thành viên

Trong Hiến pháp năm 2013 đã có sự thay đổi cụm từ “mọi công dân” thành “mọi

người” Điều đó cho thấy ở Việt Nam đã có bước tiến bộ hơn về sự phân biệt con người

và công dân tránh việc dẫn đến thiếu hiểu biết sâu sắc về quyền con người như là quyền

của “công dân toàn cầu” trong khi đó quyền công dân chỉ là quyền xác định trong một

quốc gia

Theo đó tại Điều 6 Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định “1 Mọi người đều bình

đẳng trước pháp luật 2 Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội” Đây là những quyền cơ bản của con người thể hiện tính dân chủ trong

đời sống chính trị, xã hội, không có sự phân biệt giữa người giàu và người nghèo, giữa các dân tộc hay tôn giáo, giới tính, thành phần xã hội… Tất cả mọi người đều bình đẳng

trước pháp luật thực hiện các quyền của mình mà không vi phạm pháp luật đồng thờikhông ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội

Hiến pháp năm 2013 bổ sung thêm quy định tại Điều 19 “Mọi người có quyền sống,

tính mạng con người được pháp luật bảo hộ, không ai bị tước đoạt tính mạng trái pháp

luật” Điều 20 Hiến pháp năm 2013 quy định “1 Mọi người đều có quyền bất khả xâm

phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự nhân phẩm; khong bị tra tấn, bạo lực truy bức, nhục hình hay hình thức đối xử nào khác xâm phạm nhân thân, thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự nhân phẩm 2 Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt giam giữ người do luật định” Đây là những đảm

bảo sự tồn tại và phát triển cơ thể con người Khoản 3 Điều 20 Hiến pháp 2013 quy định

“Mọi người có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác theo quy định của luật Việc thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất kỳ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải có sự đồng ý của người được thử nghiệm” Điều này cho thấy sự

khác biệt so với Hiến pháp 1992, thể hiện quyền của cá nhân đối với bộ phận trên cơ thể,

cơ thể của mình

Điều 21 Hiến pháp năm 2013 quy định “1 Mọi người có quyền bất khả xâm phạm

về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật

Trang 19

bảo đảm an toàn 2 Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác”.

Đây là một trong những điểm mới của quyền con người trong Hiến pháp năm 2013, chothấy quyền con người được mở rộng hơn, đầy đủ hơn trước

Hiến pháp đã quy định quyền tự do cá nhân của mỗi người Điều 22 Hiến pháp năm

2013 quy định “2 Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở Không ai được tự ý

vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý” Điều 24 Hiến pháp 2013

quy định “1 Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một

tôn giáo nào Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật 2 Nhà nước tôn trọng và bảo

hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 3 Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.

Ngoài ra, Hiến pháp năm 2013 còn dành một số điều chế định sự bảo hộ hay bảo vệ

quyền và lợi ích hợp pháp về tài sản, sử dụng đất, lao động và việc làm (Điều 51, 54, 57).

Việc sắp xếp quyền con người phù hợp với việc sắp xếp các nhóm quyền của luật nhânquyền quốc tế là quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội

Hiến pháp năm 2013 quy định rõ hơn hoặc tách thành điều riêng hầu hết các quyền

đã được ghi nhận trong Hiến pháp 1992, bao gồm: Bình đẳng trước pháp luật (Điều 16) ;

không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử, phân biệt nào

khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm (Khoản 1 Điêu 20) ; bảo vệ đời tư (Điều 21) ; Tiếp cận thông tin (Điều 25) ; tham gia quản lý nhà nước và xã hội (Điều 28) ; Bình đẳng giới (Điều 26) …Nếu Điều 63 Hiến pháp năm 1992 chỉ quy

định nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ

thì Hiến pháp năm 2013 quy định “Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới” (Điều 26) , tức

là đã thay đổi quan niệm và cách tiếp cận về bình đẳng giới, từ chỗ chỉ bình đẳng với nữgiới sang bình đẳng với cả nam và nữ giới Mở rộng hơn chủ thể và nội dung của bìnhđẳng giới

Không chỉ củng cố các quyền đã được hiến định trong Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp

năm 2013 còn chế định một số quyền mới như Quyền sống (Điều 19) ; các quyền về nghiên

cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt

động đó (Điều 40) ; quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41) ; quyền xác định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều 42) ; quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 43) ; quyền không thể bị trục xuất, giao nôp cho nhà nước khác (Điều 17).

Quyền công dân được ghi nhận trong Hiến pháp là cơ sở chủ yếu để xác định địa vị

pháp lý của công dân Khoản 1, 3, 4, Điều 15 Hiến pháp năm 2013 quy định “1 Quyền

công dân không tách rời nghĩa vụ công dân 3 Công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa

Trang 20

vụ đối với nhà nước và xã hội 4 Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác” Điều

này cho thấy nhà nước luôn bảo vệ quyền và lợi ích của công dân đồng thời công dân phảithực hiện nghĩa vụ của mình đối với nhà nước Bên cạnh đó nhà nước cố gắng mở rộng, hoàn

thiện quyền công dân thể hiện trên các quyền chính trị, văn hóa, xã hội, tự do dân chủ và tự

do cá nhân (Điều 23, 25, 27, 28, 30, 34,35, 42, 44, 46 Hiến pháp năm 2013).

Như vậy nhìn vào các quyền con người, quyền công dân được ghi nhận trong Hiến phápchúng ta có thể thấy về mặt pháp luật quyền con người, quyền công dân đã được Việt Namghi nhận, mở rộng hơn trước thể hiện tính chất dân chủ, nhân đạo và tiến bộ Mối quan hệgiữa Nhà nước và cá nhân ngày càng được mở rộng, thể hiện rõ hơn tính chất của nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân Qua đó cần nhìn nhận những điềukiện để đảm bảo thực hiện quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam

5.2 So sánh giữa Hiến pháp 1992 với Hiến pháp 2013

Với tiêu chí trên hiện nay trên thế giới các quốc gia đang tiến hành hoàn thiện hệthống pháp luật để đảm bảo thực hiện tốt hơn quyền con người, quyền công dân ViệtNam cũng là một nước không phải ngoại lệ và đang ngày càng phát triển, từng bước hoànthiện pháp luật qua các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013 để đảm bảoquyền con người, quyền công dân trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Đặc biệtHiến pháp 2013 đã kế thừa và phát huy những giá trị về quyền con người, quyền côngdân trong các bản hiến pháp trước đó đồng thời bổ sung một số điều khoản để quyền conngười, quyền công dân được mở rộng hơn phù hợp với quy định của quốc tế và truyềnthống văn hóa Việt Nam Hiến pháp cũng đề ra các cơ chế, biện pháp để đảm bảo thựchiện quyền con người, quyền công dân Điều này được thể hiện qua các khía cạnh sau:

Thứ nhất: Công dân và mọi người được hưởng các quyền con người một cách mặc

nhiên và Nhà nước có nghĩa vụ công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm (thực hiện) cácquyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp và pháp luật

Điều 51 Hiến pháp năm 1992 quy định “ Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến

pháp và luật quy định” Việc quy định như thế đã gây hiểu nhầm là Hiến pháp và pháp

luật (hay Nhà nước) là những chủ thể sản sinh ra các quyền con người Cách hiểu như

trên không phù hợp với nhận thức về quyền con người trên thế giới Theo quan điểm củacộng đồng quốc tế, mọi thành viên của nhân loại khi sinh ra đã mặc nhiên có tư cách chủthể của các quyền con người Các nhà nước chỉ có thể thừa nhận (bằng Hiến pháp vàpháp luật) các quyền đó như là những giá trị vốn có của mọi cá nhân mà nhà nước cónghĩa vụ công nhận, tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy

Kế thừa tinh hoa của Hiến pháp năm 1946 và tư tưởng tinh hoa nhân loại, Hiến pháp

năm 2013 tại khoản 1 Điều 14 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,

Trang 21

các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”.

Việc đảm bảo quyền con người, quyền công dân gắn bó mật thiết với việc bảo đảmchế độ chính trị Đây không chỉ là đơn thuần về kỷ thuật lập hiến mà còn phản ánh sựthay đổi trong nhận thức lý luận về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Bằng cách đó

đã đi đến khẳng định: Nhà nước được lập ra là để bảo vệ và thúc đẩy các quyền conngười, quyền công dân; việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân gắn bó mật thiếtvới việc bảo đảm chế độ chính trị

Thứ hai: thể chế tư pháp để bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định về cấm truy bức, nhục hình xúc phạm danh dự,

nhân phẩm của công dân (Điều 17) Đến Hiến pháp năm 2013 ở Điều 20 lần đầu tiên

trong lịch sử Hiến pháp nước ta, đã chế định về cấm tra tấn nói riêng và cấm bất kỳ hìnhthức bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất cứ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thânthể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của mọi người Quy định cụ thể này rõ ràng

và rộng hơn so với quy định cũ cả về hành vi bị cấm và chủ thể được bảo vệ

Hiến pháp năm 1992 tại Điều 72 quy định quyền tố tụng công dân chỉ bao gồm: suy

đoán vô tội; bồi thường thiệt hại vật chất và phục hồi danh dự cho người bị oan sai trong tốtụng; xử lý nghiêm minh người làm trái pháp luật trong khi thi hành tố tụng gây thiệt hại cho

người khác Hiến pháp năm 2013 bổ sung: Xét xử kịp thời, công bằng, công khai; không bị

kết án hai lầ vì một tội phạm; quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa

(Điều 31) Quy định mới này đã mở rộng chủ thể và phạm vi quyền đòi bồi thường thiệt hại;

đồng thời buộc các cơ quan tiến hành tố tụng phải công bằng và khách quan trong việc tìm rachứng cứ, coi trọng cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội

Nếu Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định công dân “có quyền được thông tin” (Điều

69) thì Hiến pháp năm 2013 ở Điều 25 thay chữ “được” bằng cụm từ “tiếp cận” Nhờ

quyền tiếp cận thông tin, mọi công dân có thể tiếp cận thông tin cả về các quyền thựcđịnh cũng như về hoạt động tư pháp để thụ hưởng đầy đủ và bảo vệ các quyền của mìnhtheo Hiến pháp và pháp luật

Thứ ba: Xác định đầy đủ nghĩa vụ của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân

Trong khi Điều 50

năm 2013 ghi nhận cả

đảm (thực hiện) quyền

Hiến pháp 1992 mới chỉ ghi nhận nghĩa vụ tôn trọng thì Hiến pháp bốn nghĩa vụ của Nhà nước về công nhận, tôn trọng, bảo vệ

và bảo con người (Điều 3 và Điều 14).

Hiến pháp năm 2013 tái khẳng định quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân và

bổ sung “Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý Nhà nước và xã hội; công

khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân” (Điều

Trang 22

28) Việc bổ sung này đã ràng buộc nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước trong bảo đảm

quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của người dân; qua đó, bảo đảm để quyền nàycủa người dân được thực hiện trong thực tế

Thứ tư : Chế định những công cụ hữu hiệu và quy định việc thiết lập cơ chế bảo vệ

Hiến pháp trong đó có các quyền con người đã được hiến định

Hiến pháp năm 2013 chế định những công cụ hữu hiệu cho việc bảo đảm quyền con

người, quyền công dân đó là Hội đồng Bầu cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước và sửa đổi,

bổ sung chức năng nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp Khoản 2 Điều 119 khẳng định

“Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định” Đây là quy định có tính nguyên tắc nhằm thiết

lập cơ chế bảo vệ Hiến pháp trong đó có các quyền con người đã được hiến định một

cách hiệu quả và ở mức cao nhất

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN VIỆC VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC HIẾN PHÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN

Ở VIỆT NAM

Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân xác định mối quan hệ pháp lýgiữa cá nhân, công dân với nhà nước, là nội dung cốt lõi của Hiến pháp hiện đại Tuy nhiên,việc xây dựng và hiện thực hóa quyền con người, quyền công dân phải tuân theo những tưtưởng chỉ đạo mang tính định hướng, nền tảng nhất định được gọi là những nguyên tắc củachế định này Theo Hiến pháp năm 2013, quyền con người, quyền công dân

Trang 23

được xác định dựa trên các nguyên tắc hiến định sau đây: (1) Nguyên tắc công nhận, tôn

trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; (2) Nguyên tắc về tiêu chí giới hạn quyền con người, quyền công dân; (3) Nguyên tắc thống nhất giữa quyền công dân với nghĩa vụ công dân; (4) Nguyên tắc mọi người bình đẳng trước pháp luật.

1 Các nguyên tắc về quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013 1.1 Nguyên tắc công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân

Điều 50 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội và văn hóa được tôn trọng thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” Đây là điều

mới của Hiến pháp năm 1992 mà các Hiến pháp trước của Việt Nam chưa thể hiện, mặc

dù trong mọi thời kỳ Nhà nước ta đều coi tôn trọng quyền con người là nguyên tắc quantrọng trong hoạt động của mình Sự biểu hiện chính thức rõ ràng và long trọng nội dungnày trong một điều khoản riêng của Hiến pháp mang ý nghĩa chính trị - pháp lý sâu sắc

Đó là sự phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, thể hiện sự tôn trọng cácđiều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết và phần nào thể hiện đượccách nhìn của chúng ta đối với các vấn đề của cộng đồng quốc tế, phù hợp với xu thế xóa

bỏ đặc tính khép kín của pháp luật trong nước

Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “1 Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật 2 Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”.

Quy định này đã khắc phục được hạn chế về cách quy định của Điều 50 Hiến phápnăm 1992 khi đồng nhất quyền con người với quyền công dân cũng như xác đĩnh rõ hệthống trách nhiệm của Nhà nước đối với giá trị quyền con người bao gồm: công nhận, tôntrọng, bảo vệ và bảo đảm Đồng thời, để làm rõ sự khác biệt giữa quyền con người với

quyền công dân, Hiến pháp 2013 đã sử dụng từ “mọi người”, “không ai” khi thể hiện quyền con người và dùng từ “công dân” khi ghi nhận quyền công dân.

Quyền con người và quyền công dân là hai khái niệm có mối quan hệ hữu cơ, gắn bómật thiết với nhau song không đồng nhất Không có quyền công dân ngoài quyền con người,không có quyền con người mà không bao hàm quyền công dân Quyền công dân được xâydựng trên cơ sở tôn trọng quyền con người và quyền con người (của cá nhân là công dân) chỉ

có thể được đảm bảo bằng những quy định về quyền công dân trong pháp luật của mỗi quốcgia Bất cứ quốc gia văn minh nào cũng đều phải dành nỗ lực tối đa trong việc tôn trọng, bảo

vệ và bảo đảm nhân quyền cho cá nhân, không phân biệt tư cách công

Trang 24

dân của người đó Giá trị chung của quyền con người không có nghĩa là quyền con ngườikhông mang những bản sắc cụ thể riêng theo pháp luật của từng quốc gia tùy thuộc vàocác điều kiện phát triển về kinh tế, chính trị, xã hội, dân tộc, văn hóa, truyền thống… cụthể của từng nước Và cũng chính sự khác biệt về điều kiện kinh tế - xã hội mỗi nước màchỉ số phát triển con người ở các quốc gia là khác nhau Việc thực hiện nguyên tắc nàyđòi hỏi nhà nước ký kết, tham gia, nội luật hóa và thực hiện một cách có thiện chí các

Điều ước quốc tế về quyền con người, mà điển hình là Bộ luật quốc tế về Quyền con

người (bao gồm Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế năm 1948, Công ước quốc tế về các

quyền dân sự, chính trị năm 1966; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa, xãhội năm 1966 và những văn kiện khác)

Nhằm đảm bảo thực thi nguyên tắc này trong hoạt động lập pháp, Quốc hội nóiriêng, các cơ quan nhà nước khác nói chung cần lưu ý một quy định mới tại khoản 2 Điều

14 như sau: “2 Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định

của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”.

Nhà nước là chủ thể ban hành pháp luật, kể cả pháp luật điều chỉnh quan hệ nhà nước– cá nhân Vì thế, về nguyên tắc, pháp luật của nhà nước phải đủ khách quan để một mặtbảo đảm lợi ích của công dân, một mặt duy trình bình thường việc thực hiên các chứcnăng của Nhà nước Tuy nhiên, trong xã hội chưa thực sự phát triển cao thì thông thườnglợi ích Nhà nước lại hay được quan tâm nhiều hơn so với việc công dân thực hiện quyền.Trong số các cơ quan nhà nước có quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật điềuchỉnh quan hệ nhà nước – công dân, Quốc hội chính là cơ quan dân cử tiêu biểu nhất (bởiQuốc hội là cơ quan duy nhất do nhân dân cả nước lựa chọn thông qua chế độ phổ thôngđầu phiếu; Quốc hội có thành phần hết sức đa dạng với sự góp mặt của đại diện dân cưtheo vùng miền, tầng lớp xã hội, giai cấp, dân tộc, tôn giáo, giới tính.…; Quốc hội nóichung, đại biểu Quốc hội nói riêng có sự gắn bó mật thiết với nhân dân, cử tri trong hoạtđộng chịu trách nhiệm cao nhất trước quốc dân đồng bào) Do đó, Quốc hội được xem là

cơ quan có khả năng nhất trong việc thể chế hóa ý nguyện của nhân dân một cách trungthực nhất, toàn diện nhất; đặc biệt trong việc xây dựng mối quan hệ cơ bản giữa Nhànước với công dân hay địa vị pháp lý cơ bản của công dân thể hiện bằng hệ thống quyền

và nghĩa vụ của công dân

1.2 Nguyên tắc về tiêu chí giới hạn quyền con người, quyền công dân

Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quyền con người, quyền công dân

chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng,

an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”.

a) Lý luận về việc giới hạn quyền con người, quyền công dân:

Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên quy định nguyên tắc về tiêu chí giới hạn (hay hạn

chế) quyền con người, quyền công dân Trong một xã hội có tính dân chủ, sự giới hạn

Trang 25

quyền cá nhân là một hiện tượng bình thường và phổ biến Tuyên ngôn quốc tế nhânquyền năm 1948 đã quy định nguyên tắc giới hạn quyền con người tại Điều 29: “Trongkhi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật phápđặt ra ngõ hầu những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng,những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hộidân chủ cũng được thỏa mãn”.

Bên cạnh đó, nguyên tắc giới hạn quyền có ý nghĩa lớn trong việc đảm bảo thực hiệnchức năng quản lý xã hội của Nhà nước một cách hiệu quả và minh bạch, hài hòa hóa mốiquan hệ lợi ích giữa Nhà nước – cá nhân – cộng đồng; đồng thời, bảo đảm tính hiện thựccủa các quyền con người, quyền công dân trước nguy cơ các nhà chức trách lạm dụngquyền lực Nhà nước trong việc cắt xén chúng một cách tùy tiện Theo một tác giả,nguyên tắc này dựa trên ba triết lý sau: (1) Ghi nhận sự xung đột giữa quyền của ngườinày với quyền của người khác cũng như với lợi ích chung của toàn xã hội; (2) Được thựchiện thông qua các quy phạm pháp luật dưới Hiến pháp; (3) Đòi hỏi bảo đảm tính cáchcân xứng giữa quyền bị hạn chế với việc bảo vệ quyền của người khác và lợi ích chung1

b) Điều kiện hạn chế quyền con người, quyền công dân:

Theo khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, quyền con người, quyền công dân chỉ bịhạn chế khi đồng thời có các điều kiện sau:

Một là, chủ thể duy nhất có quyền hạn chế là Quốc hội – cơ quan dân cử tiêu biểu

nhất Quốc hội là cơ quan duy nhất do nhân dân cả nước lựa chọn thông qua chế độ phổ

thông đầu phiếu; Quốc hội có thành phần hết sức đa dạng với sự góp mặt của đại diệndân cư theo vùng miền, tầng lớp xã hội, giai cấp, dân tộc, tôn giáo, giới tính… Quốc hộinói chung, đại biểu Quốc hội nói riêng có sự gắn bó mật thiết nhất với nhân dân, cử tritrong hoạt động và chịu trách nhiệm cao nhất trước quốc dân đồng bào Do vậy, Quốc hộiđược xem là cơ quan có khả năng trong việc thể chế hóa ý nguyện của Nhân dân mộtcách trung thực, toàn diện nhất; đặc biệt là trong việc xác lập địa vị pháp lý của cá nhân.Như vậy, các cơ quan nhà nước khác không thể ban hành văn bản quy phạm dưới luật đểhạn chế quyền con người, quyền công dân

Hai là, hình thức pháp lý của việc hạn chế quyền là các đạo luật (luật hoặc bộ luật)

do Quốc hội ban hành Đây là loại văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý thứ

hai sau Hiến pháp Như vậy, chính Quốc hội cũng không thể ban hành nghị quyết để hạnchế quyền con người, quyền công dân2

1 Bùi Tiến Đạt: “Hiến pháp hóa nguyên tắc giới hạn quyền con người: Cần nhưng chưa đủ”, Tạp chí Nghiên

cứu lập pháp, số 06 (286), 2015, tr.3-11.

1 Điều 15 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định:

“1 Quốc hội ban hành luật để quy định: …b) Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân mà theo Hiến pháp phải do luật định, việc hạn chế quyền con người, quyền công dân; tội phạm và hình phạt…

Trang 26

Ba là, sự hạn chế phải thực sự cần thiết và tương xứng giữa mục đích với phương

tiện trong hoạt động quản lý xã hội của Nhà nước Nếu chi phí cơ hội ngang bằng hoặc

lớn hơn lợi ích đạt được khi hạn chế quyền cá nhân thì nhà chức trách cần ưu tiên việctôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền cá nhân1

Bốn là, lý do của việc hạn chế quyền nhằm bảo đảm quốc phòng, an ninh của quốc

gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng Đây là những giá trị đặcbiệt duy trì sự tồn tại và phát triển lành mạnh của bất cứ quốc gia nào

c) Phân biệt giữa giới hạn quyền với hạn chế việc thực hiện quyền:

Đồng bộ với nguyên tắc này và nhằm bảo đảm tính khả thi của quyền, Hiến pháp năm

2013 đã sử dụng cụm từ “trái luật”, “theo quy định của luật” hoặc “do luật định” khi quy

định về các quyền cụ thể; bao gồm: Quyền sống (Điều 19); Quyền không bị bắt, giam giữtrái luật; Quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác (Điều 20); Quyền bí mật thư tín,điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác (Điều 21); Quyền bấtkhả xâm phạm về chỗ ở (Điều 22); Quyền bầu cử và ứng cử (Điều 27); Quyền được suy đoán

vô tội, quyền được buộc tội (Điều 31); Nghĩa vụ nộp thuế (Điều 47) Tuy nhiên, Hiến phápnăm 2013 đã không chỉ rõ những quyền không thể bị hạn chế hay quyền tuyệt đối theo tinhthần của pháp luật nhân quyền quốc tế như quyền không bị bắt giữ làm nô lệ hay nô dịch;quyền không bị bỏ tù chỉ vì lý do không hoành thành nghĩa vụ theo hợp đồng; quyền không

bị áp dụng hồi tố trong tố tụng hình sự; quyền được công nhận là thể nhân trước pháp luật;quyền tự do tư tưởng Như vậy, nên hiểu điều khoản giới hạn chung này được áp dụng chomọi quyền hay cần được diễn giải cho phù hợp với từng trường hợp hạn chế quyền cụ thể

Luật nhân quyền quốc tế đưa ra hai khái niệm gồm: Giới hạn quyền (“limitation of rights”)

và hạn chế hay tạm đình chỉ việc thực hiện quyền (“derogation of rights”) Từ đó, việc hiến định nội dung này cũng trở thành xu hướng của các bản hiến pháp hiện đại, đặc biệt là kinh

nghiệm của Hiến pháp Nam Phi năm 1996:

Thứ nhất, hạn chế hay tạm đình chỉ việc thực hiện quyền là việc các quốc gia, trong

trường hợp khẩn cấp, đe dọa sự sống còn của đất nước, ra lệnh tạm đình chỉ việc thực hiệnmột số quyền trong một thời gian nhất định Các quốc gia có thể tạm đình chỉ việc thực hiệnquyền con người khi có các điều kiện sau: (1) Phải thực sự xuất phát từ tình huống khẩn cấp,cần thực hiện để bảo toàn sự sống còn của quốc gia; (2) Các biện pháp áp dụng

2 Quốc hội ban hành nghị quyết để quy định: a) Tỷ lệ phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; b) Thực hiện thí điểm một số chính sách mới thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội nhưng chưa có luật điều chỉnh hoặc khác với quy định của luật hiện hành; c) Tạm ngưng hoặc kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần luật, nghị quyết của Quốc hội đáp ứng các yêu cầu cấp bách về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; d) Quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia; đ) Đại xá; e) Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội”.

2 Xem: Nguyễn Minh Tuấn: “Giới hạn quyền cơ bản ở Công hòa Liên bang Đức và bài học kinh nghiệm”,

Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 14 (294), 2015, tr.55-64.

Trang 27

không dược trái với những nghĩa vụ pháp lý quốc tế khác của quốc gia và không đượcmang tính phân biệt đối xử với các cá nhân; (3) Phải thông báo ngay cho các quốc giathành viên khác về các biện pháp đã áp dụng và thời gian tiến hành Theo Công ước quốc

tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, những quyền không thể bị đình chỉ (không

thể bị hạn chế - “non – derogatable rights”) bao gồm: Quyền sống (Điều 6); Quyền

không bị tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục (Điều 7); Quyền không bị bắtgiữ làm nô lệ hay nô dịch (Điều 8); Quyền không bị bỏ tù chỉ vì lý do không hoàn thànhnghĩa vụ theo hợp đồng (Điều 11); Quyền không bị áp dụng hồi tố trong tố tụng hình sự(Điều 15); Quyền được công nhận là thể nhân trước pháp luật (Điều 16); Quyền tự do tưtưởng, tín ngưỡng và tôn gió (Điều 18) Như vậy, theo quy định của Công ước này, đốichiếu với Hiến pháp 2013 của nước ta, quyền không thể bị đình chỉ gồm: Quyền sống(Điều 19); Quyền không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối

xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm (Điều 20);Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 24)

Thứ hai, giới hạn quyền là quy định được ghi nhận trong một số điều ước quốc tế về

quyền con người cho phép các quốc gia thành viên áp đặt một số điều kiện với việc thựchiện một số quyền con người nhất định Các quốc gia có thể đặt ra những giới hạn quyềncon người với các điều kiện sau1: (1) Giới hạn phải được quy định trong pháp luật quốcgia; (2) Giới hạn không trái với bản chất của các quyền có liên quan; (3) Mục đích duynhất là để thúc đẩy lợi ích chung của cộng đồng Tương tự như việc tạm đình chỉ thựchiện quyền đã nêu ở trên, không phải tất cả mọi quyền con người đều có thể bị giới hạn.Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 và Công ước quốc tế về cácquyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 cho phép các quốc gia thành viên có thể đặt ranhững giới hạn trong việc áp dụng một số quyền gồm: Quyền thành lập, gia nhập côngđoàn và đình công; Quyền tự do đi lại, cư trú, xuất nhập cảnh; Quyền được xét xử côngkhai; Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo; Quyền tự do ngôn luận; Quyền hộihọp hòa bình và quyền tự do lập hội Những quyền không bị giới hạn được gọi là các

quyền tuyệt đối (“absolute rights”) 2

1.3 Nguyên tắc thống nhất giữa quyền công dân với nghĩa vụ công dân

Quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định ở Điều 15 của Hiến pháp năm 2013, vớinội dung như sau: “1 Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân 2 Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác 3 Công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội 4 Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”.

1. Lưu Đức Quang: Nguyên tắc hiến pháp về quyền con người, quyền công dân, Nxb Chính trị Quốc gia Sự

1. Xem: Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội: Hỏi đáp về quyền con người, Nxb Công an nhân dân, Hà

Nội, 2010, tr.63-70.

Trang 28

Điều này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở Điều 51 của Hiến pháp 1992 Và nội dungcủa Điều 51 trong Hiến pháp 1992 có nội dung như sau: “Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội Quyền và nghĩa vụ của công dân do

Hiến pháp và luật quy định” Như vậy, so với Hiến pháp năm 1992, thì Hiến pháp 2013 đã

bổ sung hai trường hợp “Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác” và “Việcthực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc,quyền và lợi ích hợp pháp của người khác” Điều này có ý nghĩa thực tiễn hết sức quantrọng, vì Hiến pháp khẳng định rõ rằng quyền con người, quyền công dân được nhà nước tôntrọng và bảo vệ Tuy nhiên, quyền con người, quyền công dân phải trong khuôn khổ để bảo

vệ quyền của người khác cũng như lợi ích của quốc gia, dân tộc

Và từ nội dung của Điều 15 trong Hiến pháp 2013 cho thấy: Một là, quyền công dân

không tách rời nghĩa vụ công dân Nghĩa là, công dân được pháp luật trao các quyền thì

phải thực hiện các nghĩa vụ tương ứng Hai là, mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền

của người khác Nghĩa là, quyền của mỗi người, công dân là quyền bất khả xâm phạm,mọi người phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền đó, nếu ai vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định

của pháp luật Ba là, công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã

hội Nghĩa là, công dân phải thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội, nếu khôngthực hiện sẽ gánh lấy những chế tài tương ứng Ví dụ như: Công dân trong độ tuổi pháp

luật quy định phải thực hiện nghĩa vụ quân sự Bốn là, việc thực hiện quyền con người,

quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợppháp của người khác Điều này cũng có nghĩa là, đề cao quyền con người, quyền côngdân nhưng việc thực hiện chúng không được xâm phạm tới lợi ích quan trọng hơn cũngnhư lợi ích của người khác

Bên cạnh việc đề cao quyền con người, quyền công dân, Hiến pháp 2013 đã chế địnhnhững công cụ hữu hiệu cho việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân Đó là Hộiđồng Bầu cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước và sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ của

các cơ quan tư pháp Cụ thể, tại Khoản 2, Điều 119 khẳng định: “Cơ chế bảo vệ Hiến pháp

do luật định” Đây là quy định có tính nguyên tắc nhằm thiết lập cơ chế bảo vệ Hiến pháp,

trong đó có các quyền con người, quyền công dân đã được hiến định một cách hiệu quả và

ở mức cao nhất

Nhận thức đúng về quyền con người và quyền công dân theo tinh thần của Hiến phápnăm 2013 là vấn đề có ý nghĩa quan trọng, nhất là trong bối cảnh các thế lực thù địch đang

lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” - tức là quyền con người, để thực hiện âm mưu

diễn biến hòa bình nhằm chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng, Nhànước và nhân dân ta hiện nay Cụ thể là thời gian qua, có một số người không hiểu, thậm chí

có người cố tình “không hiểu” cho rằng: quyền biểu tình, lập hội đã được quy định trong

Hiến pháp năm 2013, hoặc có người tự mắc vào âm mưu kích động của kẻ xấu

Trang 29

nên đã ngang nhiên tổ chức “biểu tình”, hay “lập hội” Họ tụ tập đông người, giương biểu ngữ và lợi dụng các trang mạng để khởi xướng, “ký tên” tham gia các “tổ chức”, như: “Phong trào con đường Việt Nam”; “Tuyên bố về thực thi quyền Dân sự, Chính

trị”; “Diễn đàn xã hội dân sự” , và gần đây là “Hội nhà báo độc lập”, Điều 25 của

Hiến pháp 2013 đã quy định rõ: “ Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình” Tuy nhiên, Hiến pháp năm 2013 cũng khẳngđịnh rõ: “Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Vì vậy, luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng đấu tranh để vạch trần các quanđiểm tư tưởng sai trái thù địch, bịa đặt, bóp méo sự thật là sự khẳng định lập trường củaĐảng và Nhà nước ta trước những biến động phức tạp trên thế giới và trong nước, từ đócủng cố nhận thức chính trị, giữ vững thế trận lòng dân, đưa sự nghiệp cách mạng tớithắng lợi hoàn toàn

1.4 Nguyên tắc mọi người bình đẳng trước pháp luật

Điều 16 Hiến pháp 2013 quy định : “1 Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật 2.

Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.”

Trong khoa học pháp lý bình đẳng là nguyên tắc tiến bộ của mối quan hệ con

người-xã hội-Nhà nước và giữa con người với nhau Điều này càng có cơ sở để nhấn mạnhtrong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ngày nay Nguyên tắc này được hiểu làmọi người trong những hoàn cảnh , điều kiện như nhau phải được đối xử ngang bằngnhau về quyền và nghĩa vụ mà không dựa trên sự phân biệt bất hợp pháp, bất hợp lý vềgiới tính , tôn giáo, địa vị xã hội , tình trạng tài sản hay các quan hệ cá nhân khác.Nguyên tắc này có một số biểu hiện chính như sau :

-Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ: Mọi người phải tuân theo , thực hiện pháp luật nghĩa làpháp luật mang tính bắt buộc chung cho tất cả mọi người , không có sự phân biệt đối xử

-Bình đẳng trong việc sử dụng quyền, tự do : Công nhận cho tất cả mọi người Không chấp nhận phân biệt vào địa vị xã hội hay đặc điểm cá nhân

-Bình đẳng giữa các dân tộc : điều 5 Hiến pháp 2013 quy định “1 Nước Cộng hòa xã

hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam 2 Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc 3 Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình 4 Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước.”

Trang 30

-Bình đẳng giữa các tôn giáo : Điều 24 Hiến pháp 2013 quy định “1 Mọi người có

quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật 2 Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 3 Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.”

-Bình đẳng giới : Điều 26 Hiến pháp 2013 quy định “1 Công dân nam, nữ bình

đẳng về mọi mặt Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới 2 Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội 3 Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới.”

2 Một số tình huống liên quan đến các nguyên tắc hiến pháp về quyền con người, quyền công dân

2.1 Tình huống về nguyên tắc công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân

Quyền con người là nội dung được bổ sung ngay trong Chương I của Hiến pháp năm

2013 Hơn thế nữa, tại rất nhiều chương điều khác, bảo đảm và bảo vệ quyền con người,quyền công dân cũng hiện diện trong nội dung chức năng và nhiệm vụ của các thiết chếNhà nước như QH (Điều 70, khoản 14); Chính phủ (Điều 96, khoản 6); Tòa án nhân dân(Điều 102, khoản 3); Viện kiểm sát nhân dân (Điều 107, khoản 3) Đây là những nộidung hoàn toàn mới so với Hiến pháp năm 1992 khi Hiến pháp 2013 trao những chứcnăng, nhiệm vụ cho các thiết chế, quyền lực nhà nước tương ứng

Làm rõ hơn chuẩn xác hơn và phong phú hơn nội dung một số quyền và tự do trướcđây đã được đề cập nhưng chưa rõ, chưa chính xác, chưa đầy đủ so với các chuẩn mựcpháp lý quốc tế và thực tiễn ở nước ta Theo đó, nguyên tắc công nhận, tôn trọng, bảo vệquyền con người, quyền công dân đã được thể hiện rõ và cũng như là lần đầu tiên ở nước

ta đã hiến định đầy đủ nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội đối với người bị buộc tội

hình sự

Con người và quyền con người là giá trị quan trọng và trở thành đối tượng ưu tiênbảo hộ của pháp luật trong Tố tụng hình sự Bảo đảm quan trọng cho việc bảo vệ quyềncon người, quyền công dân, lá chắn quan trọng và vững chắc nhất đối với quyền conngười, quyền công dân nhằm phòng ngừa và ngăn chặn những vi phạm từ phía các cơquan tố tụng là việc thừa nhận và ghi nhận nguyên tắc suy đoán vô tội1

1 http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=76&NewsId=322439

Trang 31

Yêu cầu đó đã được Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam quy định: Người bị buộc tội

được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản

án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (khoản 1, Điều 31).

Tuy nhiên, việc một số tờ báo và nhà báo thời gian qua không tuân thủ nguyên tắc

“suy đoán vô tội” trong hoạt động nghề nghiệp không những ảnh hưởng đến uy tín củagiới báo chí mà còn vi phạm quyền con người, làm nhiễu loạn thông tin và gây khó khăncho các cơ quan chức năng tìm ra sự thật

Việc đưa tin không trung thực, chính xác, khách quan, quy kết tội danh, luận tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án Những người làm báo luôn biết rằng: Chính xác,khách quan, trung thực là những nguyên tắc hàng đầu của báo chí Thế nhưng, để phục vụnhu cầu cập nhật thông tin hàng giờ, hàng phút của công chúng, nhiều tờ báo vào cuộcđua thông tin mới nhất, nóng nhất Thậm chí, một số nhà báo không trực tiếp đến hiệntrường lấy thông tin mà chỉ cóp nhặt trên mạng xã hội, tổng hợp từ những lời đồn đoán vàđưa tin, từ đó dẫn đến thông tin không chính xác, trung thực, thậm chí mâu thuẫn trongchính các bài viết của mình

Ví dụ, trong loạt bài về vụ cháu Vũ V A 33 ngày tuổi ở xã Hữu Bằng, huyện ThạchThất, Hà Nội bị sát hại, cùng một chi tiết của vụ án nhưng các báo mạng điện tử đưa tin lạikhác nhau Trong bài “Cận cảnh dòng chữ cạnh thi thể bé trai 35 ngày tuổi” của tác giảNguyên Vũ đăng ngày 13-6-2017 trên Báo Pháp luật Việt Nam điện tử viết: “Theo thông tinban đầu, cha mẹ cháu bé sáng sớm tỉnh dậy không thấy con đâu liền vội vàng đi tìm Khiphát hiện ra cháu bé thì cả nhà hốt hoảng cháu đã tử vong trong chậu nước tắm…” Nhưngtrong bài “Người mẹ sát hại con trai 33 ngày tuổi khai gì trước công an?” đăng ngày 14-6-

2017 thì cũng chính tác giả Nguyên Vũ “dựng” lại chi tiết câu chuyện: “Chị Trinh bị đauđầu, tỉnh dậy và bế cháu V A từ phòng ngủ ra gần cầu thang lối lên tầng 2 của gia đình, thấy

có chậu nước hàng ngày tắm cho cháu V A đầy nước, Trinh liền thả cháu vào chậu trong tưthế sấp mặt xuống đáy chậu rồi đi xuống nhà vệ sinh tầng 1, sau đó lên phòng ngủ ở tầng 2.Lên cầu thang tầng 2, thấy cục than hoa, Trinh liền viết dòng chữ “Tao sẽ giết cháu màyLăng” rồi lên giường đi ngủ cho đến khi ông Lăng - bố chồng Trinh gọi hai vợ chồng dậy khiphát hiện sự việc” Như vậy, cùng một thông tin về người phát hiện thi thể cháu Vũ V Anhưng tác giả Nguyên Vũ lại đưa ra những thông tin hoàn toàn khác nhau trong 2 bài viết củamình Một bài, tác giả cho rằng người phát hiện ra thi thể cháu Vũ V

.A là cha mẹ của cháu bé, còn một bài tác giả lại cho rằng người phát hiện thi thể củacháu Vũ V A là ông nội của cháu Điều này làm cho công chúng đặt dấu hỏi: Vậy đâu làthông tin chính xác cho chi tiết này của vụ án? Nhà báo có mặt ở hiện trường không, haychỉ thu nhặt thông tin qua dư luận?

Không chỉ đưa tin sai sự thật, thiếu chính xác, mà nhiều tờ báo còn tự ý suy diễn, kết tội

và áp đặt bản án cho nghi phạm khi chưa có kết luận của Tòa án Đọc những bài đưa tin vềcác vụ án (đặc biệt là những vụ án giết người) trên báo chí, công chúng không khó bắt

Trang 32

gặp những cụm từ như “hung thủ”, “hung thủ giết nguời”, “sát thủ”, “kẻ giết nguời”, “kẻthủ ác”… mà tác giả bài báo dùng chỉ nghi phạm, bị can, bị cáo của vụ án.

Ví dụ, bài: “Hung thủ sát hại tân sinh viên sa lưới” đăng trên VnExpress ngày

29-8-2016 Mặc dù nghi phạm Chu Văn Trường mới bị cơ quan Công an tạm giữ để điều tra

vụ án giết người, thế nhưng tác giả bài báo đã “kết án” nghi phạm thay Tòa án khi gọinghi phạm là “hung thủ” Hoặc bài: “Bắt nữ hung thủ giết nữ Phó Chủ nhiệm HTX ở BắcNinh” đăng trên báo An Ninh thủ đô ngày 22-9-2017, bên cạnh tít bài, trong nội dung tácgiả vô tư viết: “Đã bắt giữ được hung thủ gây án vào ngày 12-9 khiến nữ Phó Chủ nhiệmHTX ở thị trấn Lim, Tiên Du tử vong Đây là vụ án mạng đặc biệt nghiêm trọng Hungthủ gây án là nữ”1

2.2 Tình huống về nguyên tắc về tiêu chí giới hạn quyền con người, quyền công dân

a) Nội dung tình huống: Điều 57 Hiến Pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)

quy định: “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật” và Điều 33Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong nhữngngành nghề mà pháp luật không cấm”

Trong quá trình soạn thảo Luật doanh nghiệp năm 2014 và Luật đầu tư năm 2014 (sửađổi, bổ sung năm 2016), người viết nhận thấy có hai nội dung đã có sự thay đổi khi sosánh giữa Dự thảo luật (đồng thời là thực tiễn pháp lý) với Luật như sau:

Một là, số lượng ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh và ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiên:

Ngày 19-8-2014, Chính phủ đã tiến hành họp với các bộ, ngành thảo luận và cho ý kiếnvào báo cáo rà soát, xây dụng ba danh mục theo quy định của dự thảo Luật đầu tư (sửa đổi)

và dự thảo Luật doanh nghiệp (sửa đổi) Ba danh mục gồm có: Danh mục ngành, nghề cấmđầu tư, kinh doanh; danh mục ngành, nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện và danh mụcngành, nghề, địa bàn ưu đãi đầu tư Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết hiện có 386 ngành, nghềkinh doanh có điều kiện thuộc phạm vi quản lý nhà nước của 16 bộ, ngành được quy định tại

391 văn bản pháp luật (gồm 56 luật, tám pháp lệnh, 115 nghị định, 176 thông tư,

26 quyết định của bộ trưởng và hai văn bản của Bộ) Cũng theo Bộ KH&ĐT, trong 386

ngành, nghề kinh doanh có điều kiện thì có tới 895 điều kiện kinh doanh “cấp 1” (giấy phép

“cha”), 2.129 điều kiện “cấp 2” (giấy phép “con”) và 1.745 điều kiện “cấp 3” (giấy phép

“cháu”) Các điều kiện kinh doanh thể hiện đa dạng dưới nhiều hình thức Cụ thể, có

110 ngành, nghề yêu cầu phải có giấy phép kinh doanh với 171 loại giấy phép kinh doanh;

83 ngành, nghề yêu cầu có giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh với 62 loại giấy chứngnhận Ngoài ra còn có 44 loại ngành, nghề cần có chứng chỉ hành nghề với 53 loại chứng

1 tren-bao-chi-hien-nay-303615/

Trang 33

http://noichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/201802/mot-so-bieu-hien-vi-pham-nguyen-tac-suy-doan-vo-toi-chỉ hành nghề và 11 ngành, nghề yêu cầu xác nhận vốn pháp định cùng 345 ngành, nghềyêu cầu phải có chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền1.

Sau đó, khoản 1 Điều 6 Luật đầu tư năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2016) quy đinhcác ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh gồm có: “a) Kinh doanh các chất ma túy theo quyđịnh tại Phụ lục 1 của Luật này; b) Kinh doanh các loại hóa chất, khoáng vật quy định tạiPhụ lục 2 của Luật này; c) Kinh doanh mẫu vật các loại thực vật, động vật hoang dã theoquy định tại Phụ lục 1 của Công ước về buôn bán quốc tế các loài thực vật, động vậthoang dã nguy cấp; mẫu vật các loại động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý hiếmnhóm I có nguồn gốc từ tự nhiên theo quy định tại Phụ lục 3 của Luật này; d) Kinh doanhmại dâm; đ) Mua, bán người, mô, bộ phận cơ thể người; e) Hoạt động kinh doanh liênquan đến sinh sản vô tính trên người” Phụ lục 4 của Luật này cũng xác định danh mục

267 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện

Ngày 22 tháng 11 năm 2016, Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 vàPhụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật đầu tư năm

2014 Theo đó, luật bổ sung một ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh là kinh doanh pháo

nổ Phụ lục 4 tiếp tục thu hẹp số lượng ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện chỉcòn 243 ngành, nghề

Hai là, phương thức và căn cứ hạn chế quyền tự do kinh doanh:

Điều 7 Dự thảo Luật doanh nghiệp năm 2014 trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 7Quốc hội Khóa XIII quy định về ngành, nghề và điều kiện kinh doanh như sau: “1 Doanhnghiệp có quyền tự do kinh doanh các ngành, nghề mà luật, pháp lệnh và nghị định khôngcấm 2 Cấm hoạt động kinh doanh gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự,

an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng và làm hủy hoại tài nguyên, phá hủymôi trường Chính phủ ban hành danh mục cụ thể ngành, nghề cấm kinh doanh được quyđịnh tại luật, pháp lệnh và nghị định 3 Điều kiện kinh doanh là yêu cầu mà doanh nghiệpphải có hoặc phải thực hiện khi kinh doanh ngành, nghề cụ thể, được thể hiện bằng giấy phépkinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, chứng nhận bảohiểm trách nhiệm nghề nghiệp, yêu cầu về vốn pháp định hoặc yêu cầu khác được quy địnhtại luật, pháp lệnh và nghị định Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục các ngành, nghềkinh doanh có điều kiện và các điều kiện kinh doanh Đối với ngành, nghề kinh doanh cóđiều kiện thì doanh nghiệp chỉ được kinh doanh ngành, nghề đó khi có đủ điều kiện kinhdoanh theo quy định và bảo đảm đủ điều kiện kinh doanh đó trong suốt quá trình hoạt độngkinh doanh 4 Chính phủ định kỳ hàng năm rà soát, đánh giá lại toàn bộ hoặc một phần danhmục ngành nghề cấm kinh doanh, danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện và điềukiện kinh doanh; kiến nghị bổ sung, sửa đổi danh mục ngành, nghề cấm kinh doanh; bãi bỏhoặc kiến nghị bãi bỏ các điều kiện không còn phù hợp; sửa đổi

1 https://plo.vn/thoi-su/chinh-tri/bo-ca-tram-giay-phep-con-490776.html

Trang 34

hoặc kiến nghị sửa đổi các điều kiện bất hợp lý; ban hành hoặc kiến nghị ban hành điềukiện kinh doanh mới theo yêu cầu quản lý nhà nước 5 Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồngnhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp không được quy định ngành, nghề cấm kinh doanh,ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh”1 Sau đó, khoản 1 Điều 7Luật doanh nghiệp năm 2014 khẳng định: “Doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanhtrong những ngành, nghề mà luật không cấm” Đồng thời, Luật đầu tư năm 2014 (sửa đổi,

bổ sung năm 2016) đã xác định giới hạn này

b) Vấn đề liên quan đến các nguyên tắc hiến pháp về quyền con người, quyền công dân:

Từ tình huống trên, nhóm em xin phép trích dẫn về bình luận của thầy Lưu Đức Quang – Giảng viên Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề này2:

Một là, về tình trạng “giấy phép con” tràn lan: Lý giải về tình trạng này, một tác giả cho

rằng, xuất phát từ yếu tố lợi ích cục bộ của cơ quan công quyền Điều kiện kinh doanh chính

là công cụ quản lý tuy lạc hậu nhưng lại có giá trị khẳng định quyền uy của họ Tác giả này

cũng đề xuất hai giải pháp về lập pháp: Một là, phải xác định rõ thẩm quyền ban hành điều kiện kinh doanh; Hai là, phải quy định ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện

kinh doanh của ngành nghề đó trong cùng một văn bản “Hiện nay ngành nghề kinh doanh cóđiều kiện nằm một nơi còn điều kiện kinh doanh lại cài cắm, nấp ở đâu đó Điều kiện kinhdoanh “bố” thì họ để ở nghị định, điều kiện kinh doanh “con, cháu, chắt” thì họ cho vàothông tư, quyết định thâm chí công văn của các bộ Trong khi điều kiện “con, cháu, chắt”mới là điều kiện trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp”3 Tác giảchia sẻ với giải pháp thứ hai và cho rằng giải pháp thứ nhất đã bị vô hiệu bởi chính Điều 7Luật doanh nghiệp năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2013): “Chính phủ quy định cụthể danh mục ngành, nghề kinh doanh bị cấm… Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân

và Ủy ban nhân dân các cấp không được quy định về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện vàđiều kiện kinh doanh” Thực chất, điều kiện kinh doanh dù ở cấp độ nào cũng chính là giớihạn đối với quyền tự do kinh doanh Có thể nói, nhà làm luật đã rút kinh nghiệm sâu sắc từbài học thực tiễn này khi không chỉ quy định các ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh tạiĐiều 6 Luật đầu tư năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2016) mà còn làm rõ hơn giới hạn nàybằng Phụ lục 1 – Danh mục các chất ma túy cấm đầu tư kinh doanh; Phụ lục 2 – Danh mụchóa chất, khoáng vật; Phụ lục 3 – Danh mục các loài hoang dã nguy cấp, quý, hiếm cấm khaithác, sử dụng vì mục đích đầu tư kinh doanh trong luật

1 http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=753&TabI ndex=2&TaiLieuID=1728

2 Lưu Đức Quang: Nguyên tắc hiến pháp về quyền con người, quyền công dân, Nxb Chính trị Quốc gia Sự

thật, tr.95-97.

1 Xem ý kiến của TS Nguyễn Đình Cung – Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương – Bộ

Kế hoạch và Đầu tư (cơ quan soạn thảo Luật doanh nghiệp năm 2014), cha-bo-nao-muon-nha-cuc-loi-490297.html

Trang 35

http://plo.vn/thoi-su/giay-phep-con-này Thật hiếm có một đạo luật nào kèm theo các phụ lục quy định chi tiết và tỉ mỉ nhưvậy trong lịch sử lập pháp Việt Nam.

Hai là, về mối quan hệ giữa nguyên tắc hiến pháp với điều khoản hiến định cụ thể:

Theo dõi quá trình soạn thảo luật, người viết nhận thấy nhà soạn thảo chưa bám nguyên

tắc hiến pháp (“quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của pháp luật” – khoản 2 Điều 14) khi thể chế hóa quyền hiến định (“quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” – Điều 33) Phải chăng, nhà

soạn thảo đã cho rằng đây là mối liên hệ giữa “luật chung” (quy phạm nguyên tắc) với

“luật riêng” (quy phạm hành vi) nên ưu tiên áp dụng “luật riêng” Xuất phát từ bản chất

của các nguyên tắc hiến pháp về quyền con người, quyền công dân, trong trường hợp này, cần dẫn chiếu và ưu tiên áp dụng nguyên tắc hiến pháp nếu nội hàm các điều khoản

hiến định khác (có thể được hiểu về mặt ngôn ngữ) có phạm vi rộng hơn, khái quát hơn

Bàn về ý nghĩa của các nguyên tắc pháp luật nói chung, nguyên tắc hiến pháp nói riêng

trong hoạt động lập pháp, Tiến sĩ Trần Thanh Hương trong luận án tiến sĩ của mình với

đề tài “Những bảo đảm pháp lý cho việc thực hiện quyền cơ bản của công dân trong lĩnhvực tư do cá nhân” đã cho rằng: Mức độ bảo đảm quyền công dân từ nguyên tắc phápluật phụ thuộc vào trường hợp cụ thể trong thực tế và truyền thống pháp luật mỗi quốcgia, song nhìn chung nếu các quy phạm pháp luật được xây dựng trên những nguyên tắcpháp luật tiến bộ thì đó là một sự bảo đảm quan trọng cho các quyền tự do của công dân

2.3 Tình huống về nguyên tắc thống nhất giữa quyền công dân với nghĩa vụ công dân

Trong Hiến pháp mới có nhiều điều, khoản hiến định về quyền công dân và nghĩa vụ công dân đối với việc thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân Về nội dung này, đáng chú ý là các Điều 15 và Điều 45 Tại khoản 1 Điều 15 cóviết: “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân” và Điều 45, khoản 1 viết: “Bảo

vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân”; Điều 45, khoản 2 viết: “Công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân” Đây là những vấn đề lớn, hàm chứa nhiều nội dung sâu sắc, tầm khái quát rất cao Trong bài viết này, chúng tôi xin đề cập sâu hơn vấn đề thứ nhất: Công dân phải thực hiện quyền và nghĩa vụ quân sự, góp phần bảo vệ Tổ quốc

Hiện nay, ở nước ta, mỗi năm, có hàng triệu thanh niên đủ tiêu chuẩn nhập ngũ, thựchiện nghĩa vụ quân sự, bảo vệ Tổ quốc, nhưng do yêu cầu tổ chức biên chế của quân đội, trong số hàng triệu thanh niên chỉ có một bộ phận nhập ngũ Vì vậy, đã xuất hiện câu hỏi:

Số thanh niên còn lại làm gì và làm thế nào để họ có những đóng góp tích cực cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc? Điều này chưa có lời giải đáp thỏa đáng Nó đã và đang được đông đảo người dân quan tâm, thảo luận, đưa ra nhiều đề xuất khác nhau, trong đó, có việc đề xuất cho thanh niên đóng tiền để không phải thực hiện nghĩa vụ quân sự

Trang 36

Về vấn đề này, có ý kiến cho rằng, việc đóng tiền có thể coi là một trong các hìnhthức "nghĩa vụ thay thế" bên cạnh nghĩa vụ công an nhân dân và nghĩa vụ dân quân tự vệ

có thời hạn Điều đó cũng có nghĩa là thanh niên đến tuổi nhập ngũ nhưng không muốnnhập ngũ thì chỉ cần đóng một khoản tiền nhất định để làm “nghĩa vụ thay thế" Nhiềungười cho rằng, Nhà nước nên làm như vậy để bảo đảm công bằng giữa các công dân.Với cách nhìn nhận ấy, không ít người đã khẳng định: Đóng tiền cũng là một hình thức

để thanh niên không làm nghĩa vụ quân sự, nhưng cũng góp phần thực hiện nghĩa vụ

Tham khảo nhiều nước trên thế giới, chúng tôi thấy rằng, ở nước ta, một bộ phậnnhân dân đã tán đồng với cách làm như một số nước đã từng làm vì thấy nó có hiệu quảnhất định, người dân nước họ hài lòng, chấp nhận Vì vậy, những người này đề nghị Nhànước ta cũng nên nghiên cứu, áp dụng hình thức ấy, coi đó là biện pháp khả thi để khắcphục những tiêu cực trong xét tuyển, gọi thanh niên nhập ngũ hiện nay Theo họ, trênthực tế, việc "trốn nghĩa vụ quân sự" đã xảy ra khá thường xuyên ở các địa phương thôngqua các hình thức “chạy chọt” để có giấy chứng nhận không đủ sức khỏe, hay nằm trongcác diện miễn trừ khác Nếu áp dụng hình thức đóng tiền, theo những người ủng hộphương thức này, có thể công khai hóa quá trình gọi nhập ngũ và tăng nguồn thu cho xâydựng quân đội, củng cố nền quốc phòng toàn dân; người không nhập ngũ cũng thấy “antâm,

Tuy nhiên, việc đề xuất đóng tiền như hình thức nghĩa vụ thay thế cũng gây phản ứng trái chiều, không đồng tình, ủng hộ từ nhiều người Bởi vì, làm như thế là phân biệt đối xử giữa người giàu với người nghèo; là làm cho quân đội ngày càng kém chất lượng Nếu áp dụng phương thức này thì nhiều gia đình khá giả không muốn con em mình gian khổ vì đi bộ đội, mà muốn con em của họ ở nhà, thi, học cao đẳng, đại học hoặc đi làm kiếm tiền và họ sẽ sẵn sàng chi một khoản tiền, đóng góp thay thế gọi là đã “hoàn thành nghĩa vụ công dân” Điều đó dẫn đến một hệ quả tất yếu là chỉ có những gia đình nghèo khó, không có tiền đóng thế thì con em họ buộc phải nhập ngũ, thực hiện nghĩa vụ quân

sự Rõ ràng, việc đóng tiền thay thế việc nhập ngũ, không phải làm nghĩa vụ quân sự đối với công dân có đủ điều kiện, sinh trưởng trong gia đình giàu có sẽ gây nên sự bất công

xã hội Một việc lớn, hệ trọng như việc xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc mà chỉ cần cótiền đóng thế là xong thì những chuyện khác, đồng tiền sẽ làm tha hóa con người đến mức nào, tính ưu việt của chế độ ta sẽ ra sao

Để khắc phục tình trạng này, trên thế giới, ở một số nước đã thực hiện nghĩa vụ thay thế cho nghĩa vụ quân sự, thông thường chính quyền khuyến khích các nghĩa vụ dân sự như: Lao động tại các cơ sở công ích, hay y tế, tham gia một số ngày công xây dựng các công trình quốc phòng, an ninh chứ không nộp tiền Đóng tiền thay thế việc thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự hay không đóng tiền là một vấn đề nhạy cảm, mang ý nghĩa đặc

Ngày đăng: 01/10/2019, 10:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w