1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Quyền con người ở Việt Nam hiện nay Thực trạng và giải pháp đảm bảo cho sự phát triển

19 573 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 43,53 KB
File đính kèm Tieu luan ve Quyen con nguoi.rar (40 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦUQuyền con người là những giá trị cao quý, kết tinh từ nền văn hóa của tất cả các dân tộc trên thế giới. Đây là tiếng nói chung, mục tiêu chung và phương tiện chung của toàn nhân loại để bảo vệ và thúc đẩy nhân phẩm và hạnh phúc của mọi con người.Khi nói đến một thể chế chính trị tiến bộ, một quốc gia văn minh, thì không thể không nói đến thể chế chính trị, quốc gia đó có quan tâm đến việc bảo đảm những quyền cơ bản của con người hay không. Chế độ chính trị XHCN mà Việt Nam đang nỗ lực xây dựng, thực hiện là một chế độ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Vì vậy, từ khi lập quốc theo thể chế dân chủ XHCN đến nay, Việt Nam đã kiên trì theo đuổi mục tiêu không ngừng bảo đảm quyền con người cho mọi người dân. Từ khi thực hiện đổi mới, đất nước ta đã thu được nhiều thành tựu trong phát triển mọi mặt, từ chính trị tới kinh tế, xã hội, văn hóa. Đặc biệt, từ sau Đại hội VIII của Đảng (năm 1996), thực hiện chủ trương “tích cực, chủ động hội nhập quốc tế”, nước ta càng có những bước tiến nhanh trong việc cải thiện quyền con người. Với chủ trương đổi mới đúng đắn, nhất là trong phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, đất nước đã có bước tiến đáng kể trong cải thiện điều kiện, mức sống của người dân. Nhất là những bước tiến vượt bậc về phát triển kinh tế trong hơn 30 năm đổi mới (19862018). Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, quy mô nền kinh tế năm 1985 mới có 14 tỉ USD, thì đến năm 2018 ước đạt 244 tỉ USD, tăng gấp hơn 17,4 lần. Nền kinh tế Việt Nam hiện đứng thứ 44 thế giới theo GDP danh nghĩa và thứ 34 khi tính theo sức mua tương đương quốc tế. Với việc giảm mạnh tỷ lệ nghèo từ trên 60% (năm 1986) xuống còn khoảng 7% (cuối năm 2017), Việt Nam đã chuyển từ nhóm thu nhập thấp sang thu nhập trung bình. Thu nhập bình quân đầu người năm 1985 mới đạt 230 USD đến nay đã tăng lên gần 2.540 USD. Vấn đề an sinh xã hội, bảo đảm chăm sóc sức khỏe, giáo dục,... được cải thiện đáng kể.Nhận thức được tầm quan trọng đó, cũng như trước thực tiễn về quyền con người ở Việt Nam hiện nay, em chọn đề tài: “Quyền con người ở Việt Nam hiện nay Thực trạng và giải pháp đảm bảo cho sự phát triển” làm bài thu hoạch môn Lý luận và pháp luật về Quyền con người.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Quyền con người là những giá trị cao quý, kết tinh từ nền văn hóa của tất cả các dân tộc trên thế giới Đây là tiếng nói chung, mục tiêu chung và phương tiện chung của toàn nhân loại để bảo vệ và thúc đẩy nhân phẩm và hạnh phúc của mọi con người

Khi nói đến một thể chế chính trị tiến bộ, một quốc gia văn minh, thì không thể không nói đến thể chế chính trị, quốc gia đó có quan tâm đến việc bảo đảm những quyền cơ bản của con người hay không Chế độ chính trị XHCN mà Việt Nam đang nỗ lực xây dựng, thực hiện là một chế độ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Vì vậy, từ khi lập quốc theo thể chế dân chủ XHCN đến nay, Việt Nam

đã kiên trì theo đuổi mục tiêu không ngừng bảo đảm quyền con người cho mọi người dân

Từ khi thực hiện đổi mới, đất nước ta đã thu được nhiều thành tựu trong phát triển mọi mặt, từ chính trị tới kinh tế, xã hội, văn hóa Đặc biệt, từ sau Đại hội VIII của Đảng (năm 1996), thực hiện chủ trương “tích cực, chủ động hội nhập quốc tế”, nước ta càng có những bước tiến nhanh trong việc cải thiện quyền con người

Với chủ trương đổi mới đúng đắn, nhất là trong phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, đất nước đã có bước tiến đáng kể trong cải thiện điều kiện, mức sống của người dân Nhất là những bước tiến vượt bậc về phát triển kinh tế trong hơn 30 năm đổi mới (1986-2018) Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, quy mô nền kinh tế năm 1985 mới có 14 tỉ USD, thì đến năm 2018 ước đạt 244 tỉ USD, tăng gấp hơn 17,4 lần Nền kinh tế Việt Nam hiện đứng thứ 44 thế giới theo GDP danh nghĩa và thứ 34 khi tính theo sức mua tương đương quốc tế Với việc giảm mạnh tỷ lệ nghèo từ trên 60% (năm 1986) xuống còn khoảng 7% (cuối năm 2017), Việt Nam đã chuyển từ nhóm thu nhập thấp sang thu nhập trung bình Thu nhập

Trang 2

bình quân đầu người năm 1985 mới đạt 230 USD đến nay đã tăng lên gần 2.540 USD Vấn đề an sinh xã hội, bảo đảm chăm sóc sức khỏe, giáo dục, được cải thiện đáng kể

Nhận thức được tầm quan trọng đó, cũng như trước thực tiễn về quyền con

người ở Việt Nam hiện nay, em chọn đề tài: “Quyền con người ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp đảm bảo cho sự phát triển” làm bài thu hoạch môn

Lý luận và pháp luật về Quyền con người

Trang 3

NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận về Quyền con người

1.1 Khái niệm, nguồn gốc và tính chất của quyền con người

1.1.1 Khái niệm quyền con người

Quyền con người (human rights) là một phạm trù đa diện, do đó có nhiều

định nghĩa khác nhau Theo một tài liệu của Liên hợp quốc, từ trước đến nay có đến gần 50 định nghĩa về quyền con người đã được công bố, mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính nhất định, nhưng không định nghĩa nào bao hàm được tất cả các thuộc tính của quyền con người

Tính phù hợp của các định nghĩa hiện có về quyền con người phụ thuộc vào

sự nhìn nhận chủ quan của mỗi cá nhân, tuy nhiên, ở cấp độ quốc tế, có một định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người (Office of High Commissioner for Human Rights - OHCHR) thường được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu Theo định nghĩa này, quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, (entitlements) và tự do cơ bản (fundamentalfreedoms) của con người.

Bên cạnh định nghĩa kể trên, một định nghĩa khác cũng thường được trích dẫn, theo đó, quỳên con người là những sự được phép (entitlements) mà tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội ; đêu có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chi vì họ là con người.

Định nghĩa này mang dấu ấn của học thuyết về các quyền tự nhiên

Ở Việt Nam, đã có những định nghĩa về quyền con người do một số cơ quan nghiên cứu và chuyên gia từng nêu ra Những định nghĩa này cũng không hoàn

Trang 4

toàn giống nhau, nhưng xét chung, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.

Như vậy, nhìn ở góc độ nào và ở cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác định như là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ

1.1.2 Nguồn gốc của quyền con người

Có hai trường phái cơ bản đưa ra hai quan điểm trái ngược nhau về nguồn gốc của quyền con người Những người theo học thuyết về quyền tự nhiên (natural rightsll2) cho rằng quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng chỉ đơn giản bởi họ là thành viên của gia đình nhân loại Các quyền con người, do đó, không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức, cộng đồng hay nhà nước nào

Ngược lại, học thuyết về các quyền pháp lý (legal rights) cho rằng, các

quyền con người không phải là những gì bẩm sinh, vốn có một cách tự nhiên mà phải do các nhà nước xác định và pháp điển hóa thành các quy phạm pháp luật hoặc xuất phát từ truyền thống văn hóa

Cho đến nay, cuộc tranh luận về nguồn gốc của quyền con người vẫn còn tiếp tục Tuy nhiên, việc phân định tính chất đúng, sai, hợp lý và không hợp lý của hai học thuyết kể trên là không đơn giản do chúng liên quan đến một phạm vi rộng lớn các vấn đề triết học, chính trị, xã hội, đạo đức, pháp lý Mặc dù vậy, dường như quan điểm cực đoan phủ nhận hoàn toàn bất cứ học thuyết nào trong hai học thuyết

kể trên đều không phù hợp, bởi lẽ trong khi về hình thức, hầu hết các văn kiện pháp luật của các quốc gia đều thể hiện các quyền con người là các quỳên pháp lý, thì trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 và một số văn kiện

Trang 5

pháp luật ở một số quốc gia, quyền con người được khẳng định một cách rõ ràng là các quyền tự nhiên, vốn có và không thể tước bỏ được của mọi cá nhân Cụ thể, ở

góc độ quốc tế, Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người nêu rằng: thừa nhận phẩm giá vốn có và các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại Ở góc độ quốc gia, Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1776) nêu rằng: mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hóa ban cho họ những quỳên không ai có thể xâm phạm được, trong đó có quỳên sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc Những tuyên bố này về sau được

tái khẳng định trong bản Tuyên ngôn Dân quyền và Quyền con người 1789 của nước Pháp và bản Tuyên ngôn Độc lập 1945 của Việt Nam

1.1.3 Tính chất của quyền con người

- Tính phổ biến: Tính phổ biến của nhân quyền thể hiện ở chỗ quyền con

người là những gì bẩm sinh, vốn có của con người và được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại, không có sự phân biệt đối xử

vì bất cứ lý do gì, chẳng hạn như về chủng tộc, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân

- Tính không thể tước bỏ: Tính không thể tước bỏ của nhân quyền thể hiện ở chỗ các quyền con người không thể bị tước đoạt hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ quan và quan chức nhà nước

- Tính không thể phân chia: Tính không thể phân chia của nhân quyền bắt nguồn từ nhận thức rằng các quyền con người đều có tầm quan trọng như nhau, nên về nguyên tắc không có quyền nào được coi là có giá trị cao hơn quyền nào

Trang 6

- Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau: Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau

của nhân quyền thể hiện ở chỗ việc bảo đảm các quyền con người, toàn bộ hoặc một phần, nằm trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác Ngược lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác

1.2 Quyền con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Có thể khẳng định, ở nước ta Hồ Chí Minh là người đầu tiên đề cập tới khái niệm nhân quyền và là người đã đặt nền móng lý luận và thực tiễn bằng việc khẳng định quyền con người gắn liền với quyền dân tộc, với độc lập chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, đây là đặc điểm quan trọng và nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người Điều đó, được thể hiện trong 03 nội dung sau:

- Trong tư tưởng về nhân quyền ở nhiều nước phương Tây nêu ra, chủ yếu

và cốt lõi của nó là đòi quyền tự do cho mỗi cá nhân Điều này đã được thể hiện rõ trong Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam do Người trực tiếp soạn thảo và công bố ngày 02-9-1945 khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trong đó, Hồ Chí Minh khẳng định, một chân lý lớn của thời đại mới trong thế kỷ XX đó là: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” Đây là sự phát triển mới của Hồ Chí Minh và chính Người thừa nhận, suy rộng ra từ câu mở đầu bất hủ của Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ năm 1776: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền được tự do và quyền được mưu cầu hạnh phúc” Từ sự khẳng định: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng… có quyền được sống, quyền được tự do và quyền được mưu cầu hạnh

Trang 7

phúc” , để đi đến khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”

- Đó chính là quyền học tập, sáng tạo, quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền tự

do, quyền dân sự, quyền về chính trị, kinh tế - văn hóa xã hội, cũng như quyền của các nhóm người đặc biệt trong xã hội như: quyền các dân tộc thiểu số, quyền phụ

nữ, quyền của trẻ em, quyền của nhóm người có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn cần được xã hội quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ để họ hòa nhập với cộng đồng xã hội…

- Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Người triệt để thực hiện giữa nói và làm, trở thành một nguyên tắc trong hành động của Hồ Chí Minh Người là một tấm gương mẫu mực trong việc thực hiện triệt để nhất những tư tưởng đó còn hơn rất nhiều lần so với những điều Người nói và viết Sự thống nhất giữa tư tưởng và hành vi, giữa lý luận và thực tiễn, giữa động cơ và hiệu quả đã trở thành đặc trưng nổi bật của Hồ Chí Minh so các nhà tư tưởng, các lãnh tụ khác Người nói : “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao nước ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có căm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” Hồ Chí Minh khẳng định:

“Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân Trong suốt cuộc đời Hồ Chí Minh đã dồn hết tâm lực, trí tuệ để lãnh đạo nhân dân giành độc lập cho dân tộc, giành quyền làm chủ của con người, xây dựng, phát triển đất nước mang lại hạnh phúc và quyền làm người cho nhân dân, làm cho Việt Nam trở nên giàu mạnh, hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, tại cuộc họp đầu tiên của

Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, Hồ Chí Minh nêu rõ mục tiêu của nước ta là: “1 Làm cho dân có ăn 2 Làm cho dân có mặc 3 Làm cho dân có chỗ ở 4 Làm cho dân có học hành” Người luôn tâm niệm, Nhà nước được độc lập mà dân không được hưởng tự do, dân vẫn cứ chết đói, chết rét thì độc lập ấy chẳng có ý nghĩa gì

Trang 8

1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về Quyền con người Một là, nhân dân là chủ thể của quyền; bảo đảm quyền con người là mục

tiêu, động lực của sự nghiệp đổi mới theo định hướng XHCN Cương lĩnh xây

dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân” Điều 2, Hiến pháp năm 2013 quy định

“Nhà nước pháp quyền XHCN, của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”; nhân dân là chủ nhân của đất nước, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân

Hai là, quyền con người vừa có tính phổ biến vừa có tính đặc thù; được thể

hiện ở tính nhân loại gắn với tính giai cấp và tính dân tộc Quá trình hình thành,

phát triển quyền con người có tính phổ biến toàn nhân loại, chứ không phải là

“phát hiện” đặc thù của riêng phương Tây “Quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới và cũng là thành quả của cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên, qua đó, quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại”

Ba là, bảo đảm quyền con người theo phương châm thực hiện các giá trị

nhân quyền phổ quát trên cơ sở chủ quyền quốc gia Ở nước ta, các giá trị phổ quát

của quyền con người đã được thể chế hóa trong Hiến pháp Việc bảo đảm quyền con người theo phương châm trên giúp mỗi cá nhân được bảo đảm các quyền dân chủ, tự

do cơ bản Bảo đảm quyền và nghĩa vụ cá nhân không được tách rời bảo đảm quyền

và nghĩa vụ của cộng đồng Bảo đảm quyền con người phải trên cơ sở chủ quyền quốc gia, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nhân quyền quốc tế, như quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc, không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác, để loại trừ mọi mưu toan lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền” trên con đường phát triển đất nước

Trang 9

Bốn là, quyền con người không đồng nhất với quyền công dân, gồm cả

quyền tập thể và quyền cá nhân; quyền gắn liền với nghĩa vụ, giới hạn quyền do luật định, trên cơ sở xác định rõ chủ thể quyền và chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm quyền Hiến pháp năm 2013 quy định về hạn chế quyền nhằm bảo đảm thực hiện

quyền con người, quyền công dân một cách minh bạch, tránh sự cắt xén hay hạn chế các quyền này một cách tùy tiện Điều 6 Hiến pháp năm 2013 chế định: “1 Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; 2 Không được lợi dụng quyền con người, quyền công dân để xâm phạm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác”

Năm là, quyền con người gắn với các điều kiện phát triển kinh tế, xã hội và

văn hóa Đây là tư tưởng chỉ đạo quan trọng trong giải quyết các vấn đề về quyền

con người, nhằm tránh tình trạng chủ quan, duy ý chí trong xây dựng pháp luật, cũng như tình trạng lạc hậu của pháp luật so với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội

và văn hóa

Sáu là, bảo đảm sự bình đẳng giữa các quyền, có ưu tiên quyền của các

nhóm yếu thế, thiểu số và quyền phát triển Tất cả các quyền đều gắn bó, phụ thuộc

lẫn nhau và không thể phân chia; mọi chủ thể của quyền (cá nhân, nhóm xã hội, giới tính, dân tộc, chủng tộc) đều có quyền ngang nhau trong việc thụ hưởng, phát triển quyền

Bảy là, quyền con người được bảo đảm bằng chế độ dân chủ và Nhà nước

pháp quyền XHCN Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 xác định: “Nhà nước

tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc,

sự phát triển tự do của mỗi người Quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp và pháp luật quy định Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ công dân Nhân

Trang 10

dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện”

2 Thực trạng và giải pháp để đảm bảo cho sự phát triển về Quyền con người ở Việt Nam hiện nay

2.1 Những thành tựu nỗi bật trong việc bảo đảm thực hiện Quyền con người

Năm 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng chính thức tuyên bố đường lối đổi mới, với nội dung cơ bản là chuyển nền kinh tế từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN; dân chủ hóa đời sống xã hội trên cơ sở xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân; mở cửa tăng cường giao lưu hợp tác với bên ngoài trên tinh thần Việt Nam sẵn sàng làm bạn với các nước, phấn đấu vì hòa bình, hợp tác và phát triển

Với việc đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi chính sách, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của công cuộc phát triển, đường lối đổi mới

kể trên không chỉ tác động đến kinh tế, xã hội mà đồng thời chi phối mạnh mẽ nhận thức và thực tế bảo đảm quyền con người ở nước ta trong thời gian qua

Hiến pháp năm 1992 (Điều 50) lần đầu tiên đề cập đến thuật ngữ quyền con người và khẳng định: “ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” Cùng với khái niệm quyền con người, các khái niệm có liên quan khác như quyền bình đẳng của phụ

nữ, quyền trẻ em… cũng được chính thức đề cập trong các văn kiện của Đảng và các văn bản pháp luật, pháp quy của Nhà nước Điều đó cũng đã tạo nên sự chuyển

Ngày đăng: 09/04/2020, 10:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w