1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

HUONG DAN TINH HUONG TRONG DAU THAU

123 580 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hỏi:Việc đánh giá kinh nghiệm của nhà thầu tham dự thầu gói thầu xây lắp theo Thông tư số 032015TTBKHĐT ngày 0652015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư có gì khác biệt so với quy định trước đó và cách đánh giá hợp đồng tương tự đối với nhà thầu tham dự thầu với tư cách độc lập có gì khác so với nhà thầu liên danh? Đề nghị cho ví dụ cụ thể. Trả lời:Khoản 1 Điều 15 của Nghị định số 632014NĐCP (NĐ63) quy định: Việc đánh giá hồ sơ dự thầu (HSDT) phải căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá HSDT và các yêu cầu khác trong hồ sơ mời thầu (HSMT), căn cứ vào HSDT đã nộp, các tài liệu giải thích, làm rõ HSDT của nhà thầu để bảo đảm lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực và kinh nghiệm, có giải pháp khả thi để thực hiện gói thầu.

Trang 1

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN BAN QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN NÔNG NGHIỆP

HƯỚNG DẪN TÌNH HUỐNG

TRONG ĐẤU THẦU

Sưu tầm và biên soạn: ĐHK

Trang 2

1 Đánh giá về thời gian có hiệu lực của bảo lãnh dự thầu

Chủ đầu tư A tổ chức đấu thầu rộng rãi trong nước cho gói thầu xây lắp X Thờiđiểm đóng thầu là 9h30 ngày 1/9/2015, thời điểm mở thầu là 10h00 ngày 1/9/2015 Hồ sơmời thầu (HSMT) yêu cầu, thời gian có hiệu lực của hồ sơ dự thầu (HSDT) tối thiểu là 90ngày kể từ ngày có thời điểm đóng thầu; nhà thầu tham dự thầu phải nộp kèm theo bảo lãnh

dự thầu (BLDT) có hiệu lực tối thiểu là 120 ngày kể từ ngày có thời điểm đóng thầu

Có 3 nhà thầu tham dự thầu; nội dung về thời gian có hiệu lực của BLDT lần lượtnhư sau:

- Nhà thầu thứ nhất: BLDT có hiệu lực từ 9h30 ngày 1/9/2015 đến hết 24h00 ngày29/12/2015;

- Nhà thầu thứ hai: BLDT có hiệu lực từ 8h00 ngày 1/9/2015 đến 10h00 ngày29/12/2015;

- Nhà thầu thứ ba: BLDT có hiệu lực trong vòng 120 ngày, kể từ ngày 1/9/2015.Trong quá trình đánh giá về thời gian có hiệu lực của BLDT, Tổ chuyên gia có hainhóm ý kiến đánh giá khác nhau Cụ thể như sau:

- BLDT của nhà thầu thứ ba ghi thời gian bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/9/2015 nênkhông rõ là bắt đầu từ khi nào (0h, 9h30, 10h00, 14h00…), do đó không thể xác định đượcchính xác thời gian có hiệu lực của BLDT nên BLDT của nhà thầu được coi là không đápứng yêu cầu

Nhóm ý kiến thứ hai cho rằng: BLDT của cả 3 nhà thầu đều đáp ứng yêu cầu của

HSMT về thời gian có hiệu lực

Trả lời:

Để việc đánh giá HSDT bảo đảm mục tiêu của công tác đấu thầu là cạnh tranh, côngbằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế, chúng ta hãy cùng phân tích ý kiến đánh giá nêu trêncủa Tổ chuyên gia trên cơ sở phù hợp với thực tế và tuân thủ quy định của pháp luật về đấuthầu

Như chúng ta đã biết, khi tham dự một cuộc đấu thầu rộng rãi, nhà thầu phải thựchiện biện pháp bảo đảm dự thầu để bảo đảm trách nhiệm dự thầu của mình trong thời gianxác định theo yêu cầu của HSMT

Trường hợp nhà thầu thực hiện bảo đảm dự thầu theo hình thức nộp Thư bảo lãnhcủa ngân hàng (Bên bảo lãnh) thì thư bảo lãnh này là một loại “Giấy tờ có giá” Theo đó,trong thời gian có hiệu lực của BLDT, nếu nhà thầu vi phạm quy định của pháp luật về đấuthầu dẫn đến không được hoàn trả BLDT thì Bên bảo lãnh phải có trách nhiệm chuyểnngay cho Bên mời thầu (Bên thụ hưởng) một khoản tiền hay các khoản tiền không vượt quátổng số tiền ghi trong Thư BLDT với điều kiện Bên bảo lãnh nhận được thông báo của Bênthụ hưởng trước thời điểm hết hạn hiệu lực của BLDT

Theo quy định tại Điều 64 của Luật Đấu thầu thì một trong các điều kiện để ký kếthợp đồng là HSDT của nhà thầu được lựa chọn còn hiệu lực Thực tế, hành vi vi phạm quy

Trang 3

định của pháp luật về đấu thầu của nhà thầu dẫn đến không được hoàn trả BLDT thườngdiễn ra trước thời điểm ký kết hợp đồng Do đó, việc Bên thụ hưởng yêu cầu Bên bảo lãnhchuyển cho Bên thụ hưởng số tiền ghi trong Thư BLDT thông thường sẽ diễn ra trước thờiđiểm ký kết hợp đồng, tức là trước thời điểm HSDT hết hiệu lực.

Bên cạnh đó, đối với ý kiến của chuyên gia cho rằng BLDT của nhà thầu thứ hai ởtình huống nêu trên phải ghi thời điểm kết thúc hiệu lực là 24h00 ngày 29/12/2015 mớiđược coi là đáp ứng yêu cầu của HSMT cũng chưa phù hợp với thực tế Bởi xét về mặt lýthuyết thì đối với trường hợp BLDT ghi thời điểm kết thúc hiệu lực là 24h00 ngày29/12/2015 có nghĩa là tại thời điểm 20h00 ngày 29/12/2015, BLDT này vẫn còn hiệu lực.Tuy nhiên, nếu tại thời điểm 20h00 ngày 29/12/2015, nếu Bên thụ hưởng có thông báo gửiđến Bên bảo lãnh để yêu cầu chuyển tiền thì cũng không được vì lúc này ngân hàng đã hếtgiờ làm việc Xét cho cùng, BLDT được coi là hợp lệ khi trong thời gian có hiệu lực củabảo lãnh, Bên mời thầu phải thu được số tiền ghi trong BLDT nếu nhà thầu vi phạm

Đối chiếu với BLDT của nhà thầu thứ nhất, tại thời điểm 20h00 ngày 29/12/2015 thìBLDT mà ngân hàng cấp cho nhà thầu này vẫn còn hiệu lực nhưng Bên mời thầu lại khôngthể thu được số tiền ghi trong thư bảo lãnh nếu phát hiện nhà thầu vi phạm

(Nguồn Báo đấu thầu)

2 Đánh giá kinh nghiệm thực hiện hợp đồng xây lắp

Hỏi:Việc đánh giá kinh nghiệm của nhà thầu tham dự thầu gói thầu xây lắp theo

Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT ngày 06/5/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư có gì khácbiệt so với quy định trước đó và cách đánh giá hợp đồng tương tự đối với nhà thầu tham dựthầu với tư cách độc lập có gì khác so với nhà thầu liên danh? Đề nghị cho ví dụ cụ thể

Trả lời:Khoản 1 Điều 15 của Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (NĐ63) quy định: Việc

đánh giá hồ sơ dự thầu (HSDT) phải căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá HSDT và các yêu cầukhác trong hồ sơ mời thầu (HSMT), căn cứ vào HSDT đã nộp, các tài liệu giải thích, làm rõHSDT của nhà thầu để bảo đảm lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực và kinh nghiệm, cógiải pháp khả thi để thực hiện gói thầu

Tại Điều 18 của NĐ63 quy định về đánh giá HSDT đối với gói thầu áp dụng phươngthức một giai đoạn một túi hồ sơ, trong đó có quy định về các bước đánh giá HSDT: (1)Kiểm tra tính hợp lệ của HSDT; (2) Đánh giá tính hợp lệ của HSDT; (3) Đánh giá về nănglực và kinh nghiệm; (4) Đánh giá về kỹ thuật và giá; (5) Xếp hạng nhà thầu

Theo trình tự các bước đánh giá HSDT, về nguyên tắc, nhà thầu được đánh giá đápứng tại Bước (3) thì mới được chuyển sang đánh giá tại Bước (4) Do đó, để tránh trườnghợp nhà thầu sơ xuất khi chuẩn bị HSDT dẫn đến bị loại một cách đáng tiếc, tại Điều 16của NĐ63 cũng đã quy định mở hơn so với Nghị định số 85/2009/NĐ-CP theo hướng: (i)sau khi đóng thầu, nếu nhà thầu phát hiện HSDT thiếu các tài liệu chứng minh năng lực vàkinh nghiệm thì được phép gửi bổ sung tài liệu đến bên mời thầu để làm rõ về năng lực vàkinh nghiệm của mình; (ii) sau khi mở thầu, trường hợp HSDT của nhà thầu thiếu tài liệuchứng minh năng lực, kinh nghiệm thì bên mời thầu yêu cầu nhà thầu làm rõ, bổ sung tàiliệu để chứng minh năng lực và kinh nghiệm Tuy nhiên, việc làm rõ HSDT đều phải đảmbảo nguyên tắc không làm thay đổi bản chất của nhà thầu tham dự thầu

Đề cập đến tiêu chuẩn cụ thể cũng như hướng dẫn về cách đánh giá kinh nghiệm củanhà thầu độc lập/liên danh tham dự thầu gói thầu xây lắp, Mẫu hồ sơ mời thầu xây lắp banhành kèm theo Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT đã hướng dẫn tương đối rõ (Điểm 4

Trang 4

trong Mẫu HSMT xây lắp ban hành kèm theo TT03 không yêu cầu nhà thầu phải có ‘‘kinhnghiệm chung về thi công xây dựng”, mà chỉ yêu cầu nhà thầu phải đáp ứng tiêu chí ‘‘kinhnghiệm cụ thể trong quản lý và thực hiện hợp đồng xây lắp”.

Cụ thể, HSMT phải nêu rõ số lượng tối thiểu các hợp đồng tương tự mà nhà thầu đãhoàn thành toàn bộ hoặc hoàn thành phần lớn với tư cách là nhà thầu chính (độc lập hoặcthành viên liên danh) hoặc nhà thầu phụ trong vòng một số năm nhất định để được đánh giáđạt về kinh nghiệm thực hiện gói thầu đang xét Trong đó, khái niệm về hợp đồng tương tựđược hướng dẫn theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà thầu mới thành lập nhưng

có năng lực, kinh nghiệm tốt Theo đó, tại ghi chú số 10 của Khoản 2.1 nêu trên hướng dẫnrõ: Hợp đồng tương tự là hợp đồng đã thực hiện toàn bộ, trong đó công việc xây lắp có cáctính chất tương tự với gói thầu đang xét, bao gồm: tương tự về bản chất và độ phức tạp;tương tự về quy mô công việc “Tương tự về quy mô công việc” được hiểu là “có giá trịcông việc xây lắp bằng hoặc lớn hơn 70% giá trị công việc xây lắp của gói thầu đang xét”.Đối với các công việc đặc thù hoặc ở các địa phương mà năng lực của nhà thầu trên địa bàncòn hạn chế, có thể yêu cầu giá trị phần công việc xây lắp của hợp đồng trong khoảng 50%

- 70% giá trị phần công việc xây lắp của gói thầu đang xét, đồng thời vẫn phải yêu cầu nhàthầu bảo đảm có hợp đồng thi công tương tự về bản chất và độ phức tạp đối với hạng mụcchính của gói thầu

Trong thực tế thời gian qua, bản thân tổ chuyên gia, bên mời thầu và nhiều nhà thầulúng túng trong cách tính hợp đồng xây lắp có quy mô tương tự theo hướng dẫn tại MẫuHSMT xây lắp mới Hiểu một cách đơn giản thì nhà thầu được đánh giá là đáp ứng về kinhnghiệm thực hiện hợp đồng tương tự về quy mô khi thỏa mãn 1 trong 3 trường hợp sau,trong đó ví dụ số lượng hợp đồng tương tự theo yêu cầu của HSMT là N, mỗi hợp đồng cógiá trị tối thiểu là V:

(1) Số lượng hợp đồng = N, mỗi hợp đồng có giá trị tối thiểu = V, như vậy tổng giátrị các hợp đồng tương tự là X = NxV;

(2) Số lượng hợp đồng ít hơn N, mỗi hợp đồng có giá trị tối thiểu = V và tổng giá trịtất cả hợp đồng tương tự >= X;

(3) Một hợp đồng có giá trị tối thiểu = V và tổng giá trị tất cả hợp đồng tương tự >=X

Như vậy, theo hướng dẫn trên, trường hợp (1) rất thông dụng, dễ hiểu, dễ tínhnhưng trong thực tế chưa tạo thuận lợi cho nhà thầu mới, đối với hai trường hợp còn lạiđược hiểu là nếu trong HSMT yêu cầu nhà thầu đã thực hiện từ hai hợp đồng tương tự trởlên thì nhà thầu phải đáp ứng tối thiểu một hợp đồng với quy mô, tính chất tương tự góithầu đang xét; quy mô của các hợp đồng tương tự tiếp theo được xác định bằng cách cộngcác hợp đồng có quy mô nhỏ hơn nhưng phải bảo đảm các hợp đồng đó có tính chất tương

tự với các hạng mục cơ bản của gói thầu đang xét

Ví dụ đối với một gói thầu xây lắp, trong HSMT yêu cầu nhà thầu phải hoàn thànhtối thiểu 3 hợp đồng xây lắp có tính chất kỹ thuật tương tự gói thầu đang xét, mỗi hợp đồng

có giá trị tối thiểu 7 tỷ đồng thì nhà thầu (có tư cách độc lập) được đánh giá là đáp ứng yêucầu về kinh nghiệm thực hiện hợp đồng tương tự nếu:

- Đã hoàn thành 1 hợp đồng có tính chất kỹ thuật tương tự với gói thầu đang xét, cógiá trị tối thiểu 21 tỷ đồng

Trang 5

- Đã hoàn thành nhiều hơn 1 hợp đồng có tính chất kỹ thuật tương tự với gói thầuđang xét, trong đó ít nhất 1 hợp đồng có giá trị tối thiểu là 7 tỷ đồng và tổng giá trị cáccông trình tương tự không thấp hơn 21 tỷ đồng.

Đối với nhà thầu liên danh, việc đánh giá năng lực, kinh nghiệm của thành viêntrong liên danh phải căn cứ vào phần công việc mà thành viên đó đảm nhận Với ví dụ nêutrên trong trường hợp nhà thầu với tư cách là liên danh gồm 2 thành viên, mỗi thành viênđảm nhận thực hiện 50% giá trị gói thầu thì từng thành viên liên danh được đánh giá là đápứng yêu cầu về kinh nghiệm thực hiện hợp đồng tượng tự nếu:

- Từng thành viên trong liên danh đã hoàn thành 1 hợp đồng có tính chất kỹ thuậttương tự với gói thầu đang xét, có giá trị tối thiểu là 10,5 tỷ đồng

- Từng thành viên trong liên danh thực hiện nhiều hơn 1 hợp đồng có tính chất kỹthuật tương tự với gói thầu, trong đó ít nhất có 1 hợp đồng có giá trị tối thiểu là 3,5 tỷ đồng

và tổng giá trị các công trình tương tự của mỗi thành viên không thấp hơn 10,5 tỷ đồng

Nếu bất kỳ thành viên nào trong liên danh không đáp ứng về năng lực, kinh nghiệmthì nhà thầu liên danh được đánh giá là không đáp ứng yêu cầu

(Nguồn Báo đấu thầu)

3 Điểm mới về Bảo đảm dự thầu:

Theo phản ánh của một số chủ đầu tư, bên mời thầu hay tổ chuyên gia, quy định vàhướng dẫn mới về hình thức nộp BĐDT gây ra những khó khăn và vướng mắc trong quátrình tổ chức lựa chọn nhà thầu Do đó, để các chủ đầu tư, bên mời thầu, tổ chuyên giacũng như nhà thầu hiểu rõ hơn về quy định mới này, cũng như cách áp dụng trong thực tếđối với từng gói thầu, bài viết sẽ so sánh quy định của pháp luật mới với quy định trongpháp luật đấu thầu trước đây, từ đó đưa ra các lưu ý trong việc áp dụng BĐDT cho phùhợp

Bảo đảm dự thầu là gì?

Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 (Điều 4 Khoản 1) quy định BĐDT là việc nhà thầuthực hiện một trong các biện pháp đặt cọc, ký quỹ hoặc nộp Thư bảo lãnh của tổ chức tíndụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập theo pháp luật Việt Nam để bảođảm trách nhiệm dự thầu của nhà thầu trong thời gian xác định theo yêu cầu của hồ sơ mờithầu (HSMT), hồ sơ yêu cầu (HSYC)

So với Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 và Nghị định số 85/2009/NĐ-CP (sau đâygọi tắt là pháp luật đấu thầu cũ), khái niệm về BĐDT về cơ bản được giữ nguyên, trong đóchủ yếu nhấn mạnh đến mục đích các nhà thầu cần phải nộp BĐDT là để bảo đảm tráchnhiệm tham dự thầu của mình

Hình thức bảo đảm dự thầu phù hợp?

Luật Đấu thầu mới và pháp luật đấu thầu cũ đều quy định nhà thầu thực hiện BĐDTtheo một trong các biện pháp đặt cọc, ký quỹ hoặc nộp Thư bảo lãnh của tổ chức tín dụnghoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập theo pháp luật Việt Nam Tuy nhiên,

để tạo điều kiện thuận lợi cho nhà thầu và bảo đảm phù hợp với xu thế ‘‘thanh toán khôngtiền mặt”, trong các Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT và Thông tư số 05/2015/TT-BKHĐT quy định chi tiết về lập HSMT cung cấp hàng hóa, xây lắp hướng dẫn nhà thầunộp BĐDT theo hình thức đặt cọc bằng séc hoặc nộp Thư bảo lãnh dự thầu, không yêu cầunhà thầu nộp bằng tiền mặt Đối với các gói thầu có giá trị nhỏ hơn, áp dụng chào hàngcạnh tranh thì Thông tư số 11/2015/TT-BKHĐT quy định chi tiết về lập HSYC chỉ định

Trang 6

thầu, chào hàng cạnh tranh vẫn cho phép có thể căn cứ quy mô, tính chất của gói thầu để thực hiện BĐDT bằng tiền mặt, séc hoặc bảo lãnh dự thầu.

Trước đây, để thực hiện theo quy định của pháp luật đấu thầu cũ thì hình thứcBĐDT chủ yếu mà các nhà thầu hay sử dụng là tiền mặt hoặc Thư bảo lãnh dự thầu Thựchiện theo quy định mới nêu trên, do không được nộp BĐDT bằng hình thức tiền mặt, nên

để thuận tiện và hạn chế thủ tục và thời gian chuẩn bị hồ sơ dự thầu, nhiều nhà thầu lựachọn thực hiện BĐDT bằng séc Tuy nhiên, một số chủ đầu tư phàn nàn và quan ngại vềviệc nhiều trường hợp trong quá trình đánh giá hoặc khi cần thu BĐDT của nhà thầu thìchủ đầu tư phát hiện séc không đủ khả năng thanh toán, tức là tài khoản của nhà thầukhông đủ số tiền như nêu trong tờ séc, dẫn đến chủ đầu tư không thu được đầy đủ giá trịbảo lãnh dự thầu như yêu cầu của HSMT

Về vấn đề này, pháp luật về đấu thầu không quy định cụ thể, tuy nhiên khi lậpHSMT, HSYC, chủ đầu tư cần nghiên cứu quy định của pháp luật có liên quan về cung ứng

và sử dụng séc để tuân thủ theo quy định của pháp luật mà vẫn đảm bảo quyền lợi củamình khi tổ chức đấu thầu

Luật các công cụ chuyển nhượng số 49/2005/QH11 và Quyết định số NHNN ngày 11/7/2006 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quy chế cung ứng

30/2006/QĐ-và sử dụng séc quy định, để đảm bảo khả năng thanh toán séc được áp dụng ‘‘séc bảo chi”

Đó là tờ séc được người bị ký phát xác nhận đảm bảo thanh toán khi tờ séc được xuất trình

để thanh toán trong thời hạn xuất trình, trong đó, người bị ký phát là tổ chức có trách nhiệmthanh toán số tiền ghi trên séc theo lệnh của người ký phát (người lập và ký phát hành séc -nhà thầu) như ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán Hay nói cách khác, sécbảo chi là loại séc thanh toán được tổ chức cung ứng séc đảm bảo khả năng chi trả vì sécchỉ được bảo chi khi người ký phát có đủ tiền trên tài khoản để đảm bảo khả năng thanhtoán cho tờ séc, hoặc nếu không đủ tiền trên tài khoản nhưng được người bị ký phát chấpthuận cho người ký phát thấu chi đến một hạn mức nhất định để bảo đảm khả năng thanhtoán cho số tiền ghi trên tờ séc Theo đó, trên tờ séc sẽ ghi rõ cụm từ ‘‘bảo chi”

Bên cạnh đó, trong mẫu HSMT hài hòa xây lắp và hàng hóa dưới hình thức đấu thầucạnh tranh trong nước đối với các dự án do WB/ADB tài trợ, được ban hành năm 2015,cũng quy định: ‘‘Nhà thầu phải cung cấp một BĐDT, là một phần của hồ sơ dự thầu, theohình thức bảo lãnh do ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng hoạt động hợp pháp tại Việt Namphát hành hoặc séc bảo chi”

Như vậy, để đảm bảo khả năng thanh toán cho chủ đầu tư trong trường hợp nhà thầukhông được nhận lại BĐDT, trong HSMT, HSYC có thể hướng dẫn rõ cho nhà thầu nếunộp BĐDT bằng séc thì nộp séc bảo chi theo quy định của pháp luật có liên quan

(Nguồn: http://muasamcong.vn)

4 Doanh nghiệp dự thầu phải có báo cáo tài chính đã kiểm toán?

Ông Nguyễn Ngọc Minh (Phú Thọ) hỏi, khi công ty ông tham dự thầu thì có phảinộp báo cáo tài chính đã được kiểm toán không hay chỉ cần phải nộp báo cáo tài chính,kiểm tra quyết toán thuế và xác nhận không nợ thuế của cơ quan thuế?

Hiện công ty của ông Minh là công ty cổ phần, chưa kiểm toán độc lập nên không cóbáo cáo tài chính đã được kiểm toán, nhưng có kiểm tra quyết toán thuế 3 năm 2012, 2013,

2014 và xác nhận của cơ quan thuế không nợ thuế

Về vấn đề này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có ý kiến như sau:

Trang 7

Thông tư số 05/2015/TT-BKHĐT ngày 16/6/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quyđịnh chi tiết lập hồ sơ mời thầu mua sắm hàng hoá tại Chương III, Mục 2.1 – Tiêu chuẩnđánh giá về năng lực và kinh nghiệm quy định, để đánh giá năng lực tài chính của nhà thầu,nhà thầu phải nộp báo cáo tài chính để cung cấp thông tin chứng minh tình hình tài chínhlành mạnh của nhà thầu theo Mẫu số 14 (hoặc Mẫu số 9).

Theo đó, hồ sơ dự thầu của nhà thầu phải đính kèm các báo cáo tài chính được kiểmtoán theo quy định và báo cáo tài chính được kiểm toán được hiểu là báo cáo tài chínhđược kiểm toán độc lập

Điều 37 Luật Kiểm toán độc lập và Điều 15 Nghị định số 17/2012/NĐ-CP củaChính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Kiểm toán độc lập có quy định về đơn

vị bắt buộc phải được kiểm toán Theo đó, đối với trường hợp những doanh nghiệp khôngthuộc đối tượng bắt buộc phải thực hiện kiểm toán theo quy định của Luật Kiểm toán độclập và Nghị định số 17/2012/NĐ-CP nêu trên thì không phải đính kèm báo cáo kiểm toántrong hồ sơ dự thầu

Tuy nhiên, trong hồ sơ dự thầu của nhà thầu vẫn phải nộp kèm theo bản chụp chứngthực một trong các tài liệu như: Biên bản kiểm tra quyết toán thuế, tờ khai tự quyết toánthuế (thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp) có xác nhận của cơ quan thuế vềthời điểm đã nộp tờ khai, tài liệu chứng minh việc nhà thầu đã kê khai quyết toán thuế điện

tử, văn bản xác nhận của cơ quan quản lý thuế (xác nhận số thuế nộp cả năm) về việc thựchiện nghĩa vụ nộp thuế

(Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

5 Đánh giá hồ sơ đề xuất có bắt buộc lập tổ chuyên gia?

Ông Nguyễn Xuân Sáng (Hà Nội): Xin hỏi, đối với gói thầu chào hàng cạnh tranh(xây lắp, hàng hóa) đã thành lập Ban quản lý dự án có năng lực đánh giá hồ sơ đề xuất thì

có nhất thiết phải thành lập Tổ chuyên gia đánh giá hồ sơ đề xuất không? Hiện, báo cáođánh giá hồ sơ đề xuất hình thức này áp dụng theo Mẫu số 1 Thông tư số 23/2015/TT-BKHĐT hay có văn bản nào khác không?

Bộ Kế hoạch và Đầu tư trả lời:

Khoản 2, Điều 76 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 quy định, một trong các tráchnhiệm của tổ chuyên gia là đánh giá hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển, hồ sơ dự thầu, hồ

sơ đề xuất theo đúng yêu cầu Theo đó, khi đánh giá hồ sơ đề xuất phải tiến hành thành lập

tổ chuyên gia Việc lập báo cáo đánh giá hồ sơ đề xuất được thực hiện theo hướng dẫn tạiThông tư số 23/2015/TT-BKHĐT ngày 21/12/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư

(Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

6 Xác định tính hợp lệ của hồ sơ dự thầu

Ông Hà Ngọc Thạch (Cần Thơ): Trong quá trình đấu thầu một công trình xây dựngxảy ra tình huống, trước thời điểm đóng thầu có 3 nhà thầu nộp hồ sơ, trong đó có 2 nhàthầu có thư bảo lãnh dự thầu của ngân hàng, nhà thầu còn lại thông báo có thư bảo lãnhtrong hồ sơ

Tuy nhiên, khi tiến hành mở thầu thì phát hiện nhà thầu này không có thư bảo lãnh.Vậy xin hỏi, hồ sơ của nhà thầu này có bị loại không hay vẫn được đánh giá? Nếu bị loạingay thì khi đó thì chỉ còn 2 nhà thầu hợp lệ thì có được phép đánh giá tiếp không hay tiếnhành đấu thầu lại?

Bộ Kế hoạch và Đầu tư trả lời:

Trang 8

Quy trình lựa chọn nhà thầu được thực hiện theo quy định tại Điều 11 và Điều 21Nghị định số 63/2014/NĐ-CP của Chính phủ Theo đó, sau khi mở thầu, bên mời thầu phảitiến hành đánh giá hồ sơ dự thầu của nhà thầu.

Trường hợp nhà thầu tham dự thầu không thực hiện biện pháp bảo đảm dự thầu theoyêu cầu của hồ sơ mời thầu thì hồ sơ dự thầu của nhà thầu sẽ bị đánh giá là không đáp ứngtính hợp lệ theo quy định tại Điểm d, Khoản 2, Điều 18 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP

Ông Vũ Trung Thành (Nam Định): Dự án A được phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhàthầu có 6 gói thầu trong đó có gói tư vấn kiểm toán Quyết định phê duyệt kế hoạch lựachọn nhà thầu đối với gói tư vấn kiểm toán có ghi thời gian thực hiện là “trong thời gianthực hiện dự án” Thời gian thực hiện dự án được phê duyệt là 24 tháng Có 4 nhà thầu (A,

B, C, D) tham gia đấu thầu gói thầu này Đơn dự thầu của nhà thầu A có ghi thời gian thựchiện là “trong thời gian thực hiện dự án tuy nhiên tổng cộng không quá 3 tháng” Ba nhàthầu còn lại trong đơn dự thầu ghi thời gian thực hiện lần lượt là 3 tháng, 90 ngày và 2,5tháng Tôi xin hỏi, thời gian ghi trong đơn dự thầu như nêu trên có hợp lý không?

Bộ Kế hoạch và Đầu tư trả lời:

Theo Điểm a, Khoản 1, Điều 38 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP của Chính phủ, việckiểm tra và đánh giá về tính hợp lệ của hồ sơ đề xuất về kỹ thuật thực hiện theo quy địnhtại Khoản 1 và Khoản 2, Điều 28 của Nghị định này, trừ nội dung kiểm tra và đánh giá tínhhợp lệ của bảo đảm dự thầu

Theo đó, trường hợp tiến độ thực hiện gói thầu ghi trong đơn dự thầu phù hợp với đềxuất kỹ thuật của nhà thầu và yêu cầu của hồ sơ mời thầu thì đơn dự thầu của nhà thầuđược đánh giá là đáp ứng yêu cầu về tiến độ theo quy định nêu trên./

(Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

7 Bổ sung chi phí dự phòng vào giá dự thầu thế nào?

Giá dự thầu của nhà thầu phải bao gồm tất cả chi phí cho các yếu tố rủi ro, chi phítrượt giá có thể xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng và được phân bổ vào trong đơngiá của nhà thầu, nhà thầu không được chào riêng phần chi phí dự phòng

Ông Nguyễn Hồ Thanh Hải (Quảng Nam) hỏi, hiện nay, việc xác định chi phí trongquá trình lựa chọn nhà thầu thực hiện theo Nghị định số 63/2014/NĐ-CP hay theo Quyếtđịnh số 957/QĐ-BXD?

Khi lập kế hoạch đấu thầu phần giá gói thầu (đối với hợp đồng trọn gói) bao gồm cảphần dự phòng trượt giá và dự phòng khối lượng phát sinh Khi nhà thầu bỏ thầu phần trượtgiá họ đã tính trực tiếp vào giá vật liệu, nhân công, ca máy; còn phần dự phòng khối lượngphát sinh nhà thầu chào theo tỷ lệ % trong bảng phân tích đơn giá Ông Hải muốn biết, nhưvậy có phù hợp không?

Theo Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT hồ sơ mời thầu phải quy định rõ nội dung vànguyên tắc sử dụng chi phí dự phòng để làm cơ sở cho nhà thầu chào thầu, ký kết và thựchiện hợp đồng, nhưng trong 2 mẫu hồ sơ mời thầu kèm theo Thông tư thì không có hướngdẫn về nội dung này Vậy nếu quy định bổ sung chi phí dự phòng thì bổ sung thế nào vànguyên tắc sử dụng như thế nào cho phù hợp?

Về vấn đề này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có ý kiến như sau:

Khi xây dựng giá gói thầu trong kế hoạch lựa chọn nhà thầu phải tuân thủ theo quyđịnh tại Điểm a, Khoản 2, Điều 35 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 Việc xác định các chiphí dự phòng phải căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành, chủ đầu tư căn cứ vàoquy mô, tính chất của gói thầu để xác định mức chi phí dự phòng cho các yếu tố rủi ro và

Trang 9

chi phí trượt giá cho phù hợp.Trường hợp đối với các gói thầu đã xác định chính xác sốlượng, khối lượng công việc và có thời gian thực hiện hợp đồng ngắn thì có thể áp dụngmức chi phí dự phòng thấp hoặc bằng không trên cơ sở bảo đảm phù hợp với quy định vềcách xác định chi phí dự phòng.

Khoản 3, Điều 5 Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT hướng dẫn, đối với hợp đồngtrọn gói, nhà thầu phải tính toán và phân bổ chi phí dự phòng vào trong giá dự thầu; khôngtách riêng phần chi phí dự phòng mà nhà thầu đã phân bổ trong giá dự thầu để xem xét,đánh giá trong quá trình đánh giá hồ sơ dự thầu về tài chính, thương mại Theo đó, khitham dự thầu nhà thầu phải nghiên cứu, tính toán toàn bộ các chi phí để đưa ra giá dự thầuphù hợp với lợi thế của mình, giá dự thầu của nhà thầu phải bao gồm tất cả các chi phí chocác yếu tố rủi ro và chi phí trượt giá có thể xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng vàđược phân bổ vào trong đơn giá của nhà thầu, nhà thầu không được chào riêng phần chi phí

dự phòng./

(Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

8 Có được nộp bảo đảm dự thầu bằng tiền mặt?

Nhà thầu đã nộp bảo đảm dự thầu theo hình thức đặt cọc bằng tiền mặt và bên mờithầu đã nhận giá trị bảo đảm dự thầu thì chủ đầu tư có thể xem xét, quyết định xử lý tìnhhuống theo hướng chấp thuận giá trị bảo đảm dự thầu của nhà thầu

Đơn vị ông Phan Chí Thiện (An Giang) đang thực hiện thẩm định gói thầu xây lắpquy mô nhỏ, hồ sơ mời thầu được lập theo Mẫu số 1 Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT.Nhà thầu A nộp bảo đảm dự thầu bằng tiền mặt và bên mời thầu xuất phiếu thu tiền mặtbảo đảm dự thầu cho nhà thầu A với số tiền 100.000.000 đồng

Ông Thiện hỏi, trường hợp bên mời thầu xuất phiếu thu tiền mặt bảo đảm dự thầucho nhà thầu A có đúng quy định không? Bảo đảm dự thầu này có hợp lệ không? Nếu đánhgiá bảo đảm dự thầu này không hợp lệ thì dựa theo quy định nào?

Về vấn đề này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có ý kiến như sau:

Theo hướng dẫn tại Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT ngày 6/5/2015 của Bộ Kếhoạch và Đầu tư, khi tham dự thầu, nhà thầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm dự thầutrước thời điểm đóng thầu theo hình thức thư bảo lãnh do ngân hàng hoặc tổ chức tín dụnghoạt động hợp pháp tại Việt Nam phát hành hoặc đặt cọc bằng Séc (đối với trường hợp đặtcọc) như quy định tại Mục 19.1 Chỉ dẫn nhà thầu Theo đó, việc nhà thầu nộp bảo đảm dựthầu bằng tiền mặt và được bên mời thầu chấp thuận là chưa phù hợp theo quy định nêutrên

Tuy nhiên, do nhà thầu đã nộp bảo đảm dự thầu theo hình thức đặt cọc bằng tiền mặt

và bên mời thầu đã nhận giá trị bảo đảm dự thầu thì chủ đầu tư có thể xem xét, quyết định

xử lý tình huống theo hướng chấp thuận giá trị bảo đảm dự thầu của nhà thầu để tăng sốlượng hồ sơ dự thầu, tăng tính cạnh tranh cho gói thầu Chủ đầu tư chịu trách nhiệm xử lýtình huống trong đấu thầu trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch, hiệu quảkinh tế và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình (Điều 86 Luật Đấu thầu

số 43/2013/QH13và khoản 15, Điều 117 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP)

(Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

9 Mua sắm thường xuyên áp dụng quy định nào?

Công ty ông Hà Công (tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) là doanh nghiệp Nhà nước, hoạt độngtheo mô hình Công ty mẹ - Công ty con Nhà nước đặt hàng cung ứng sản phẩm dịch vụ

Trang 10

hỏi, khi thực hiện việc mua sắm vật tư, tài sản duy trì, phục vụ cho hoạt động công ích đóthì việc mua sắm trang thiết bị, vật tư, tài sản có phải theo quy định của Luật Đấuthầu không? Các đơn vị hạch toán phụ thuộc của Công ty mẹ khi thực hiện mua sắm vật tưthường xuyên có cần phải được Công ty mẹ ủy quyền hay không?

Về vấn đề này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có ý kiến như sau:

Khoản 2, Điều 3 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 quy định trường hợp lựa chọn đấuthầu cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, vật tư, dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn đểbảo đảm tính liên tục cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và mua sắm nhằm duy trì hoạtđộng thường xuyên của doanh nghiệp Nhà nước; thực hiện gói thầu thuộc dự án đầu tưtheo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất của nhà đầu tư được lựa chọnthì doanh nghiệp phải ban hành quy định về lựa chọn nhà thầu để áp dụng thống nhất trongdoanh nghiệp trên cơ sở bảo đảm mục tiêu công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế

Theo đó, việc mua sắm trang thiết bị, vật tư, tài sản để bảo đảm tính liên tục chohoạt động sản xuất, kinh doanh và mua sắm nhằm duy trì hoạt động thường xuyên củadoanh nghiệp Nhà nước được thực hiện theo quy định nêu trên./

(Nguồn Cổng thông tin điện tử Chính phủ)

10 Quy định về đánh giá hồ sơ dự thầu của liên danh

Vừa qua Công ty Điện lực Quảng Ngãi tổ chức đấu thầu 3 gói thầu cung cấp vật tư

và thi công xây dựng đường dây điện và trạm biến áp Trong quá trình xét thầu, bên mờithầu thấy hồ sơ dự thầu (HSDT) của nhà thầu liên danh giữa hai Công ty A và B có tươngđối đầy đủ các thông tin, đặc biệt có giá dự thầu là thấp nhất và bảo đảm các yêu cầu kỹthuật

Tuy nhiên, trong thỏa thuận liên danh của thầu A (đứng đầu liên danh) và B khôngghi rõ nội dung công việc mà các thành viên phải thực hiện, chỉ nêu chung là cung cấp vật

tư và thi công công trình và đưa ra tỷ lệ phân chia là 60% và 40% giá dự thầu, không cótrách nhiệm, nghĩa vụ chung của nhà thầu liên danh và riêng của từng thành viên

Tổ chuyên gia đấu thầu đánh giá như sau:

- Trong Hồ sơ mời thầu quy định trong thỏa thuận liên danh phải ghi rõ nội dungcông việc mà các thành viên phải thực hiện và ước tính giá trị mà từng thành viên phải thựchiện nhưng nhà thầu đã không ghi nội dung này

- Đồng thời, thỏa thuận liên danh lại không thuộc danh sách tài liệu mà nhà thầuđược bổ sung sau khi mở thầu, trong quá trình đánh giá HSDT vì không thuộc nội dung về

tư cách hợp lệ, về năng lực và về kinh nghiệm của nhà thầu

- Về cán bộ chủ chốt, hồ sơ yêu cầu nhà thầu bố trí 1 chỉ huy trưởng công trình, 1cán bộ kỹ thuật, 1 trung cấp xây dựng và 20 công nhân thi công Thành viên A bố trí đủcán bộ chủ chốt và công nhân, nhưng thành viên B chỉ bố trí công nhân

- Về năng lực thiết bị xe máy, hồ sơ yêu cầu nhà thầu phải bố trí đầy đủ, có số lượng

và chủng loại cụ thể Thành viên A có bố trí đầy đủ còn thành viên B không bố trí thiết bị

xe máy thi công

Tổ chuyên gia đã đánh giá HSDT của liên danh nêu trên không hợp lệ và bị loại,không được đánh giá tiếp

Đại diện Công ty Điện lực Quảng Ngãi, ông Quách Phạm Cường đề nghị giải đáp,

Tổ chuyên gia không chấp nhận HSDT của nhà thầu liên danh A và B trong trường hợpnày có vi phạm Luật Đấu thầu không? Bên mời thầu có được phép cho nhà thầu làm rõthỏa thuận liên danh hay không?

Trang 11

Về vấn đề này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có ý kiến như sau:

Khoản 3, Điều 5 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 quy định, nhà thầu có tư cách hợp

lệ được tham dự thầu với tư cách độc lập hoặc liên danh; trường hợp liên danh phải có vănbản thỏa thuận giữa các thành viên, trong đó quy định rõ trách nhiệm của thành viên đứngđầu liên danh và trách nhiệm chung, trách nhiệm riêng của từng thành viên trong liên danh.Theo hướng dẫn tại Điểm h, Mục 1.2 Chương III của Mẫu hồ sơ mời thầu xây lắp ápdụng phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ (Mẫu số 01) ban hành kèm theo Thông tư số03/2015/TT-BKHĐT ngày 6/5/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hồ sơ dự thầu được đánhgiá hợp lệ khi có thỏa thuận liên danh được đại diện hợp pháp của từng thành viên liêndanh ký tên, đóng dấu (nếu có) và trong thỏa thuận liên danh phải nêu rõ nội dung côngviệc cụ thể và ước tính tỷ lệ % giá trị tương ứng mà từng thành viên trong liên danh sẽ thựchiện theo Mẫu số 03 Chương IV — Biểu mẫu dự thầu

Đối với câu hỏi của ông Quách Phạm Cường, nếu trong thỏa thuận liên danh cóphân công trách nhiệm cho từng thành viên liên danh thực hiện công việc theo tỷ lệ phầntrăm giá dự thầu (60% và 40%) mà không nêu cụ thể nội dung công việc thì trong quá trìnhđánh giá, bên mời thầu cần yêu cầu nhà thầu làm rõ để có cơ sở đánh giá

(Nguồn Cổng thông tin điện tử Chính phủ)

11 Phải có quyết định phê duyệt danh sách xếp hạng nhà thầu?

Bà Võ Minh Hội (Tây Ninh) hỏi: Sau khi bên mời thầu trình phê duyệt danh sáchxếp hạng nhà thầu thì có phải lập báo cáo thẩm định và quyết định phê duyệt danh sách xếphạng nhà thầu không? Hiện có văn bản nào hướng dẫn các biểu mẫu này không?

Về vấn đề này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có ý kiến như sau:

Điểm e, Khoản 1, Điều 106 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP quy định, không tiến hành thẩmđịnh danh sách xếp hạng nhà thầu trước khi phê duyệt, danh sách xếp hạng nhà thầu đượcphê duyệt trên cơ sở đề nghị của bên mời thầu

Đối với trường hợp của bà, việc phê duyệt danh sách xếp hạng nhà thầu được thực hiệntheo quy định nêu trên Đơn vị được giao trình quyết định phê duyệt danh sách xếp hạngnhà thầu để chủ đầu tư phê duyệt Trường hợp chỉ\ có 1 nhà thầu vượt qua bước đánh giá

về tài chính thì không cần phê duyệt danh sách xếp hạng nhà thầu

Ngoài ra, hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về mẫu quyết định phê duyệt danhsách xếp hạng nhà thầu

(Cổng thông tin điện tử Chính phủ)

12 Xác định năng lực của nhà thầu liên danh thế nào?

Ông Huỳnh Đức Đạt (tỉnh Bạc Liêu) phản ánh, hồ sơ mời thầu (HSMT) đã pháthành có nội dung: "Đối với nhà thầu liên danh thì năng lực, kinh nghiệm được xác địnhbằng tổng năng lực, kinh nghiệm của các thành viên liên danh song phải bảo đảm từngthành viên liên danh đáp ứng năng lực, kinh nghiệm đối với phần việc mà thành viên đóđảm nhận trong liên danh; nếu bất kỳ thành viên nào trong liên danh không đáp ứng vềnăng lực, kinh nghiệm thì nhà thầu liên danh được đánh giá là không đáp ứng yêu cầu"

Căn cứ yêu cầu nêu trên, nhà thầu có đề xuất trong hồ sơ dự thầu (HSDT) là trongthỏa thuận liên danh nhà thầu đứng đầu liên danh đảm nhận 50% công việc Tuy nhiên,HSDT chỉ đề xuất 4 công nhân vận hành máy và 1 Chỉ huy trưởng, 1 cán bộ kỹ thuật phụtrách thi công, 1 cán bộ kỹ thuật phụ trách thi công hệ thống điện Một thành viên liên danhđảm nhận 50% công việc thì HSDT có đề xuất 81 công nhân phục vụ thi công, 1 cán bộ kỹ

Trang 12

trực tiếp Ông Đạt hỏi, trong trường hợp nêu trên, nhà thầu đứng đầu liên danh có đáp ứng yêu cầu theo HSMT không????

Về tính hợp lệ của bảo lãnh dự thầu trong trường hợp nhà thầu liên danh, theo Thông

tư số 03/2015/TT-BKHĐT hướng dẫn: "Nếu bất kỳ thành viên nào trong liên danh vi phạmquy định của pháp luật dẫn đến không được hoàn trả bảo đảm dự thầu theo quy định tạiMục 19.5 – Chỉ dẫn nhà thầu của hồ sơ mời thầu thì bảo đảm dự thầu của tất cả thành viêntrong liên danh sẽ không được hoàn trả" (áp dụng trong trường hợp nhà thầu liên danh).Ông Đạt đề nghị giải đáp, nhà thầu có Thư bảo lãnh của Ngân hàng thiếu nội dung trên thì

có hợp lệ không?

Về vấn đề này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có ý kiến như sau:

Theo hướng dẫn tại Mục 2 Chương III của Mẫu số 01 Mẫu HSMT xây lắp áp dụngphương thức một giai đoạn một túi hồ sơ ban hành kèm theo Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT ngày 6/5/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đối với nhà thầu liên danh thì nănglực, kinh nghiệm được xác định bằng tổng năng lực, kinh nghiệm của các thành viên liêndanh song phải bảo đảm từng thành viên liên danh đáp ứng năng lực, kinh nghiệm đối vớiphần việc mà thành viên đó đảm nhận trong liên danh; nếu bất kỳ thành viên nào trong liêndanh không đáp ứng về năng lực, kinh nghiệm thì nhà thầu liên danh được đánh giá làkhông đáp ứng yêu cầu

Đối với nhà thầu liên danh, việc đánh giá năng lực về tài chính và kinh nghiệm thựchiện hợp đồng tương tự căn cứ theo phần công việc từng thành viên đảm nhận trong liêndanh; còn đối với năng lực về kỹ thuật thì đánh giá cho cả nhà thầu liên danh mà không căn

cứ theo tỷ lệ công việc phân chia trong liên danh

Tuy nhiên, nếu nhà thầu liên danh đáp ứng yêu cầu về năng lực kỹ thuật theo quyđịnh nêu trong HSMT (nhân sự, máy móc…) và nhà thầu đứng đầu liên danh chứng minhđược khả năng huy động nhân sự từ thành viên liên danh khác thì được coi là đạt đối vớinội dung này

(Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

13 Các trường hợp bảo đảm dự thầu không hợp lệ

Theo hướng dẫn tại Mục 19.3 Chương I Mẫu số 1 mẫu HSMT xây lắp áp dụngphương thức một giai đoạn một túi hồ sơ ban hành kèm theo Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT ngày 6/5/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, bảo đảm dự thầu được coi là khônghợp lệ khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: Có giá trị thấp hơn, thời gian hiệu lựcngắn hơn so với yêu cầu quy định tại Mục 19.2 CDNT, không đúng tên bên mời thầu (đơn

vị thụ hưởng), không phải là bản gốc và không có chữ ký hợp lệ hoặc có kèm theo điềukiện gây bất lợi cho bên mời thầu

Theo đó, việc bảo lãnh dự thầu của nhà thầu liên danh thiếu nội dung: “Nếu bất kỳ thành viên nào trong liên danh vi phạm quy định của pháp luật dẫn đến không được hoàn trả bảo đảm dự thầu theo quy định tại Mục 19.5 – Chỉ dẫn nhà thầu của HSMT thì bảo đảm dự thầu của tất cả thành viên trong liên danh sẽ không được hoàn trả” không thuộc

các trường hợp để đánh giá bảo đảm dự thầu không hợp lệ theo hướng dẫn nêu trên

Tuy nhiên, sai sót này có thể làm ảnh hưởng đến lợi ích của chủ đầu tư trong việcthu bảo lãnh dự thầu khi một thành viên trong liên danh vi phạm quy định của pháp luật vềđấu thầu Do đó, trong trường hợp này, bên mời thầu cần yêu cầu nhà thầu bổ sung cam kếtcủa ngân hàng phát hành thư bảo lãnh nêu trên về việc sẽ tịch thu được bảo lãnh dự thầukhi bất kỳ thành viên nào trong liên danh vi phạm quy định của pháp luật về đấu thầu

Trang 13

(Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

14 Được xác minh năng lực nhà thầu trước khi ký hợp đồng

Qua Cổng TTĐT Chính phủ, ông Đỗ Hữu Tài (TP Hồ Chí Minh) đề nghị đượchướng dẫn xử lý tình huống đấu thầu như sau:

Công ty A tổ chức đấu thầu gói thầu mua sắm một số vật tư thiết bị điện nằm trong

kế hoạch sửa chữa lớn năm 2015 Hồ sơ mời thầu (HSMT) có quy định, thời điểm pháthành HSMT là ngày 15/8/2015; thời điểm đóng thầu là 9h00 ngày 15/9/2015; hiệu lực của

hồ sơ dự thầu là 30 ngày kể từ ngày đóng thầu Ba nhà thầu B, C, D tham gia đấu thầu góithầu nêu trên và giá chào thầu của nhà thầu B là thấp nhất

Ngày 10/10/2015, căn cứ kết quả đánh giá hồ sơ dự thầu và biên bản thương thảohợp đồng, Công ty A ra quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu B trúng thầu vàmời nhà thầu này vào hoàn thiện hợp đồng Tuy nhiên, trong quá trình hoàn thiện hợpđồng, Công ty A nhận được một số tài liệu cho thấy điều kiện tài chính thực tế của nhà thầu

B không còn đáp ứng yêu cầu về năng lực tài chính để thực hiện gói thầu theo HSMT

Ông Tài hỏi, trong trường hợp này, công ty A có thể mời nhà thầu tiếp theo vàothương thảo không?

Về vấn đề này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có ý kiến như sau:

Khoản 2, Điều 64 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 quy định, tại thời điểm ký kết,nhà thầu được lựa chọn phải bảo đảm đáp ứng yêu cầu về năng lực kỹ thuật, tài chính đểthực hiện gói thầu

Trường hợp cần thiết, chủ đầu tư đối với dự án, bên mời thầu đối với mua sắmthường xuyên, đơn vị mua sắm tập trung hoặc đơn vị có nhu cầu mua sắm đối với mua sắmtập trung tiến hành xác minh thông tin về năng lực của nhà thầu, nếu vẫn đáp ứng yêu cầuthực hiện gói thầu thì mới tiến hành ký kết hợp đồng

Theo đó, trường hợp tại thời điểm ký kết hợp đồng, chủ đầu tư có đủ căn cứ chứngminh nhà thầu trúng thầu không còn đủ năng lực tài chính đáp ứng yêu cầu HSMT để thựchiện gói thầu thì bên mời thầu, chủ đầu tư xem xét hủy kết quả lựa chọn nhà thầu với nhàthầu này và mời nhà thầu xếp hạng tiếp theo đáp ứng yêu cầu của HSMT vào thương thảohợp đồng./

( Cổng thông tin điện tử Chính phủ)

15 Gói thầu dưới 5 tỷ đồng chỉ áp dụng cho doanh nghiệp nhỏ?

Ông Nguyễn Văn Thanh (tỉnh Nam Định) phản ánh, theo quy định hiện hành, góithầu xây lắp dưới 5 tỷ đồng chỉ cho phép nhà thầu là doanh nghiệp cấp nhỏ và siêu nhỏtham gia đấu thầu Hiện Việt Nam đang khuyến khích các doanh nghiệp sát nhập để tăngquy mô, nhưng khi đó doanh nghiệp lại không được tham gia đấu thầu các gói thầu dưới 5

tỷ đồng Ông Thanh đề nghị cơ quan chức năng giải đáp, như vậy các chính sách có mâuthuẫn nhau không?

Địa phương của ông Thanh có rất nhiều nhà thầu quy mô vừa Một số gói thầu xâylắp giá trị dưới 5 tỷ đồng, nhưng các doanh nghiệp nhỏ không thể đáp ứng yêu cầu về kinhnghiệm và năng lực thực hiện Ông Thanh hỏi, vậy trong trường hợp này, các doanh nghiệpquy mô vừa có được tham gia đấu thầu không?

Bộ Kế hoạch và Đầu tư trả lời vấn đề ông Thanh hỏi như sau:

Khoản 3, Điều 6 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP quy định đối với gói thầu xây lắp cógiá gói thầu không quá 5 tỷ đồng chỉ cho phép nhà thầu là doanh nghiệp cấp nhỏ và siêu

Trang 14

Trường hợp không có nhà thầu là doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ đáp ứng yêu cầu củagói thầu thì bên mời thầu cần báo cáo chủ đầu tư để xem xét, quyết định xử lý tình huốngtheo hướng cho phép các nhà thầu không phải doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ tham dự thầu.

Việc xử lý tình huống trong đấu thầu là trách nhiệm của chủ đầu tư trên cơ sở bảođảm công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế (Điều 86, Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13)

Liên quan đến tính phù hợp của chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ,khi các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ đã sáp nhập, tăng quy mô để nâng cao sức cạnh tranhthì cần chuyển ưu đãi (trong việc tham gia đấu thầu gói thầu xây lắp có giá không quá 5 tỷđồng) sang các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này

(Nguồn Cổng thông tin điện tử Chính phủ)

16 Việc chứng minh nguồn lực tài chính đối với nhà thầu liên danh

Ông Phan Chí Thiện, công tác tại một đơn vị thẩm định kết quả lựa chọn nhà thầu ở

TP Long Xuyên, tỉnh An Giang, đề nghị cơ quan giải đáp một số nội dung liên quan đếnquy định về tham dự thầu đối với nhà thầu liên danh

Nhà thầu A dự thầu với tư cách nhà thầu liên danh gồm Công ty B (thành viên đứngđầu liên danh) và Công ty C (thành viên liên danh) Theo quy định trong hồ sơ mời thầu,nhà thầu phải chứng minh về nguồn lực tài chính dành cho gói thầu là 2,5 tỷ đồng (x) tỷ lệ

% tương ứng với phần công việc đảm nhận trong liên danh (từng thành viên trong liên danhphải thỏa mãn yêu cầu này) Tuy nhiên, chỉ có thành viên đứng đầu liên danh chứng minhnguồn lực tài chính là 5 tỷ đồng, thành viên liên danh không chứng minh nguồn lực tàichính dành cho gói thầu

Ông Thiện hỏi, trong quá trình đánh giá hồ sơ dự thầu, bên mời thầu có được yêucầu nhà thầu bổ sung tài liệu chứng minh nguồn lực tài chính của thành viên liên danh Ckhông?

Đối với trường hợp Nhà thầu D, dự thầu với tư cách nhà thầu liên danh gồm Công ty

E (thành viên đứng đầu liên danh) và Công ty F (thành viên liên danh)

Đại diện hợp pháp của Công ty F có văn bản ủy quyền cho Phó Giám đốc thực hiệnmột số công việc như ký đơn dự thầu khi tham gia đấu thầu Nhưng trong thỏa thuận liêndanh thì Công ty F lại ủy quyền cho thành viên đứng đầu liên danh là Công ty E ký đơn dựthầu

Ông Thiện hỏi, việc Công ty E ký đơn dự thầu có trái quy định không?

Về vấn đề này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có ý kiến như sau:

Hồ sơ mời thầu yêu cầu nhà thầu liên danh phải chứng minh nguồn lực tài chínhtương ứng với tỷ lệ % công việc mà thành viên trong liên danh đảm nhận, nếu thành viênliên danh C không có tài liệu chứng minh nguồn lực tài chính trong hồ sơ dự thầu thì bênmời thầu phải yêu cầu nhà thầu bổ sung làm rõ theo quy định tại Điều 16 Nghị định số63/2014/NĐ-CP

Trường hợp Giám đốc Công ty F ủy quyền cho Phó Giám đốc Công ty F ký các tàiliệu khi tham dự thầu và Công ty F liên danh với Công ty E để tạo thành nhà thầu liêndanh, hai bên thống nhất trong thỏa thuận liên danh Công ty E ký đơn dự thầu thì trongtrường hợp này, việc ủy quyền nội bộ của Công ty F và thỏa thuận ký đơn dự thầu trongthỏa thuận liên danh không trái với các quy định của pháp luật về đấu thầu

(Nguồn Cổng thông tin điện tử Chính phủ)

17 Tiêu chí đánh giá năng lực tài chính nhà thầu

Trang 15

Theo phản ánh của ông Đỗ Đức Mạnh, công tác tại Sở Giao dịch Chứng khoán HàNội, Tổ chuyên gia của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội đang thực hiện đánh giá Hồ sơ

dự thầu của nhà thầu tham gia gói thầu dịch vụ phi tư vấn

Theo hướng dẫn của tiêu chí đánh giá 3.1 Mục 2.1 Chương III của Mẫu số 01 banhành kèm theo Thông tư số 05/2015/TT-BKHĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì: “Nhàthầu nộp báo cáo tài chính từ năm 2012, 2013, 2014 để cung cấp thông tin chứng minh tìnhhình tài chính lành mạnh của nhà thầu Giá trị tài sản ròng của nhà thầu trong năm 2014phải dương”

Tuy nhiên, tại Báo cáo tài chính có ý kiến ngoại trừ của Kiểm toán viên như sau:

“Do được bổ nhiệm làm kiểm toán viên của Công ty sau ngày 31/12/2014 nên chúng tôikhông thể tham gia quan sát công tác kiểm kê tiền mặt tồn quỹ vào thời điểm kết thúc nămtài chính 2014, chúng tôi cũng không thực hiện được các thủ tục kiểm toán thay thế để đưa

ra ý kiến về tính hiện hữu và giá trị của số dư tiền mặt tồn quỹ tại ngày 31/12/2014 và cácảnh hưởng của nó tới báo cáo tài chính của Công ty cho năm tài chính kết thúc cùng ngày”

Ông Mạnh hỏi, Báo cáo tài chính của nhà thầu có đáp ứng tiêu chí “lành mạnh”được ghi trong mẫu Hồ sơ mời thầu nêu trên của Thông tư không?

Về vấn đề này, Cục Quản lý đấu thầu - Bộ Kế hoạch và Đầu tư có ý kiến như sau:

Theo hướng dẫn tại khoản 2.1 Mục 2 Chương III Mẫu hồ sơ mời thầu mua sắm hànghoá (Mẫu số 01) ban hành kèm theo Thông tư số 05/2015/TT-BKHĐT ngày 16/6/2015 của

Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì một trong những tiêu chí đánh giá về năng lực tài chính là kếtquả hoạt động tài chính của nhà thầu

Đối với trường hợp nêu trong văn bản hỏi của ông Đỗ Đức Mạnh, khi tham dự thầu,nhà thầu có trách nhiệm nộp báo cáo tài chính kèm theo một trong các tài liệu như báo cáotài chính, biên bản kiểm tra quyết toán thuế, tờ khai tự quyết toán thuế có xác nhận của cơquan thuế về thời điểm đã nộp tờ khai, văn bản xác nhận của cơ quan quản lý thuế đểchứng minh giá trị tài sản ròng của nhà thầu trong năm gần nhất phải dương theo hướngdẫn nêu trên

Theo đó, trường hợp thực tế giá trị tài sản ròng của nhà thầu tại thời điểm ngày31/12/2014 là dương thì nhà thầu được đánh giá là đáp ứng tiêu chí đánh giá này Liênquan đến tính hợp lệ và nội dung của báo cáo tài chính, đề nghị đơn vị ông Mạnh liên hệvới Bộ Tài chính đế được hướng dẫn cụ thể

(Cổng thông tin điện tử Chính phủ)

18 Được tham dự thầu với tư cách độc lập hoặc liên danh

Ông Trần Văn Phát (Hà Nội) hỏi: Đơn vị tôi tham gia đấu thầu gói thầu xây dựngnhà trong đó có hạng mục phòng, chống mối, hồ sơ mời thầu có cho phép sử dụng nhà thầuphụ Đơn vị tôi không có chức năng thi công phòng, chống mối thìcóđượcsử dụng cơ quan

có chức năng phòng, chống mối để làm nhà thầu phụ không hay phải liên danh? Trườnghợp nào được phép sử dụng nhà thầu phụ?

Về vấn đề này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có ý kiến như sau:

Khoản 3, Điều 5 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 quy định nhà thầu có tư cách hợp

lệ theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được tham dự thầu với tư cách độc lậphoặc liên danh

Đối với trường hợp của ông Phát, nếu đơn vị của ông không có chức năng thi công phòngchống mối thì có thể liên danh với nhà thầu có chức năng này để tham dự thầu hoặc sử

Trang 16

Trường hợp sử dụng nhà thầu phụ thì việc đánh giá năng lực, kinh nghiệm được thựchiện đối với nhà thầu chính, trừ trường hợp đối với nhà thầu phụ đặc biệt.

( Cổng thông tin điện tử Chính phủ)

19 Bộ Kế hoạch và Đầu tư gỡ vướng một số tình huống trong đấu thầu

Bà Đinh Thị Hoài Thanh là thành viên tham gia công tác đấu thầu của Sở Y tế TP

Hồ Chí Minh Qua Cổng TTĐT Chính phủ, bà Thanh đề nghị được cơ quan chức nănghướng dẫn xử lý một số tình huống phát sinh trong công tác đấu thầu

Hồ sơ mời thầu (HSMT) quy định giá trị bảo lãnh dự thầu lớn hơn hoặc bằng 1%tổng giá trị sản phẩm dự thầu Tổng giá trị sản phẩm dự thầu của nhà thầu là 3.456.432.500đồng.Bảo lãnh dự thầu của nhà thầu trong hồ sơ dự thầu là 34.564.000 đồng

Bà Thanh hỏi, giá trị bảo lãnh dự thầu của nhà thầu như nêu trên có được đánh giá làđạt hay không?

HSMT gói thầu mua sắm thuốc, vật tư quy định nhà thầu có thể tham gia dự thầuvào một hoặc nhiều hoặc tất cả các mặt hàng thuộc gói thầu Khi gia hạn hiệu lực hồ sơ dựthầu (HSDT), nhà thầu thực hiện gia hạn hiệu lực bảo lãnh dự thầu cũ và gia hạn hiệu lựcHSDT nhưng trong đó đề nghị không gia hạn một số mặt hàng đã tham gia

Vậy, việc không gia hạn một số mặt hàng có bị xem là làm thay đổi nội dung trongHSDT không? Đánh giá việc gia hạn không hợp lệ tức là nhà thầu không được xem xét cácmặt hàng nhà thầu đồng ý gia hạn, như vậy đúng hay sai? Trong thời gian có hiệu lực củaHSDT, nhà thầu đề nghị rút một số mặt hàng tham dự thầu thì có được chấp nhận không?

Nhà thầu trúng thầu, ký hợp đồng với nhiều mặt hàng tuy nhiên nhà thầu khôngcung cấp một số mặt hàng, như vậy nhà thầu phải chịu phạt vi phạm tương ứng với giá trịbảo lãnh dự thầu của mặt hàng không cung cấp hay giá trị toàn bộ bảo lãnh?

Trong HSDT, nhà thầu A nộp Báo cáo tài chính, trong đó lợi nhuận năm 2012 làdưới 0; Biên bản kiểm tra quyết toán thuế giữa cơ quan thuế và nhà thầu năm 2012, trong

đó cơ quan thuế xác định nhà thầu có lợi nhuận trên 0

Nhà thầu B nộp Báo cáo tài chính, trong đó lợi nhuận năm 2012 là trên 0 và Báo cáokiểm toán do cơ quan kiểm toán phát hành năm 2012 nêu: Nhà thầu chưa ghi nhận mộtkhoản chi phí, nếu ghi nhận khoản chi phí này vào báo cáo theo quy định thì nhà thầu cólợi nhuận năm 2012 là dưới 0

Bà Thanh đề nghị giải đáp, trong các trường hợp này, phải đánh giá tiêu chí lợinhuận của nhà thầu như thế nào? Có nguyên tắc lấy nguồn dữ liệu nào làm chuẩn để đánhgiá không?

Bà Thanh cũng muốn biết, HSMT gói thầu mua sắm hàng hóa quy định thời gianthực hiện hợp đồng 12 tháng nhưng HSDT của nhà thầu nêu thời gian thực hiện hợp đồng 9tháng, như vậy nhà thầu có được đánh giá đạt hay không?

Những vấn đề bà Thanh hỏi, Bộ Kế hoạch và Đầu tư trả lời như sau:

Mức bảo đảm dự thầu căn cứ từng gói thầu

Theo Điểm a, Khoản 3, Điều 11 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13, giá trị bảo đảm dựthầu được quy định theo một mức xác định từ 1% đến 3% giá gói thầu căn cứ quy mô vàtính chất của từng gói thầu cụ thể

Điểm d, Khoản 2, Điều 18 và Điểm a, Khoản 5, Điều 117 Nghị định số

63/2014/NĐ-CP quy định, HSDT được đánh giá là hợp lệ khi có bảo đảm dự thầu với giá trị và thời hạnhiệu lực đáp ứng yêu cầu của HSMT

Trang 17

Trường hợp gói thầu được chia thành nhiều phần thì trong HSMT, hồ sơ yêu cầu cầnnêu rõ điều kiện chào thầu, biện pháp và giá trị bảo đảm dự thầu cho từng phần hoặc nhiềuphần và phương pháp đánh giá đối với từng phần hoặc nhiều phần để các nhà thầu tính toánphương án chào thầu theo khả năng của mình.

Đối với trường hợp của bà Thanh, việc HSMT quy định giá trị bảo đảm dự thầu lớnhơn hoặc bằng 1% tổng giá trị sản phẩm dự thầu mà không phải là giá gói thầu là chưa phùhợp theo quy định nêu trên

Trường hợp tổ chuyên gia, bên mời thầu vẫn tiến hành đánh giá HSDT dựa trênHSMT trước đó thì trong trường hợp nhà thầu có bảo đảm dự thầu là 34.564.000 đồng (làmtròn số) so với yêu cầu là 1% tổng giá trị sản phẩm là 34.564.325 đồng (chênh lệch 325đồng) vẫn được coi là đáp ứng yêu cầu của HSMT

Trường hợp gia hạn hiệu lực của HSDT, đối với gói thầu chia thành nhiều lô, nhiềuphần, nếu quá trình lựa chọn nhà thầu bị kéo dài dẫn đến hết hiệu lực của HSDT thì bênmời thầu phải yêu cầu nhà thầu gia hạn thời gian có hiệu lực của HSDT

Nhà thầu có quyền gia hạn hoặc không gian hạn thời gian có hiệu lực đối với các lô,phần (hàng hóa) mà nhà thầu đã tham dự Những lô, phần mà nhà thầu không gia hạn thìkhông đáp ứng

Trường hợp nhà thầu trúng thầu, ký hợp đồng nhưng không thực hiện hợp đồng thìviệc xử phạt nhà thầu, bồi thường hợp đồng phải tuân thủ theo các điều khoản trong hợpđồng đã ký

Không quy định đánh giá năng lực tài chính trên chỉ tiêu lợi nhuận

Trường hợp trong các tài liệu do nhà thầu cung cấp có số liệu khác nhau về năng lựctài chính thì bên mời thầu cần yêu cầu nhà thầu làm rõ về nội dung này

Trường hợp xác định được nhà thầu trình bày sai một cách cố ý hoặc làm sai lệchthông tin, hồ sơ, tài liệu của một bên trong đấu thầu nhằm thu được lợi ích tài chính hoặclợi ích khác hoặc nhằm trốn tránh bất kỳ một nghĩa vụ nào thì đây được coi là vi phạmhành vi bị cấm trong đấu thầu quy định tại Khoản 4, Điều 89 Luật Đấu thầu số43/2013/QH13

Ngoài ra, pháp luật về đấu thầu không quy định đánh giá năng lực tài chính trên chỉtiêu lợi nhuận mà chỉ đánh giá theo giá trị ròng và nguồn lực tài chính Liên quan đến quyđịnh về tài chính đề nghị bà Thanh tham khảo ý kiến của Bộ Tài chính để được hướng dẫn

cụ thể

Trường hợp HSDT được đánh giá là hợp lệ về tiến độ thực hiện

Theo hướng dẫn tại Điểm c Mục 1.2 Chương III của Mẫu số 01 Mẫu HSMT muasắm hàng hóa áp dụng phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ ban hành kèm theo Thông

tư số 05/2015/TT-BKHĐT ngày 16/6/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, HSDT được đánhgiá là hợp lệ khi có thời gian thực hiện gói thầu nêu trong đơn dự thầu phải phù hợp với đềxuất về kỹ thuật đồng thời đáp ứng thời gian theo yêu cầu của HSMT

Theo đó, trường hợp HSMT yêu cầu thời gian thực hiện gói thầu là 12 tháng nhưngnhà thầu đề xuất là 9 tháng, phù hợp với đề xuất về kỹ thuật và đảm bảo yêu cầu về chấtlượng thì HSDT được đánh giá là hợp lệ về nội dung tiến độ thực hiện gói thầu

(Cổng thông tin điện tử Chính phủ)

20 Việc lựa chọn nhà thầu đối với dự án BT

Công ty của ông Khắc Thông (su.khac.thong@ ) là nhà đầu tư 1 dự án xây dựng –

Trang 18

Thông hỏi, công ty cần áp dụng Luật Đấu thầu, Nghị định số 63/2014/NĐ-CP để lựa chọn nhà thầu hay trực tiếp chỉ định thầu?

Về vấn đề này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có ý kiến như sau:

Khoản 2, Điều 3 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 quy định, trường hợp lựa chọnnhà thầu thực hiện gói thầu thuộc dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư

có sử dụng đất của nhà đầu tư được lựa chọn thì doanh nghiệp phải ban hành quy định vềlựa chọn nhà thầu để áp dụng thống nhất trong doanh nghiệp trên cơ sở bảo đảm mục tiêucông bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế

Theo đó, trường hợp công ty của ông Thông được lựa chọn là nhà đầu tư cho dự án

BT thì việc lựa chọn nhà thầu để thực hiện các gói thầu thuộc dự án tuân thủ theo quy địnhnêu trên

Việc ban hành quy định về lựa chọn nhà thầu không bắt buộc áp dụng theo Luật Đấuthầu số 43/2013/QH13 và Nghị định số 63/2014/NĐ-CP của Chính phủ

(Cổng thông tin điện tử Chính phủ)

21 Trong thời gian đánh giá thầu có được thay đổi nhân sự?

Công ty TNHH Kiến trúc và Xây dựng Thái Cường (TP Cần Thơ) đề nghị cơ chứcnăng hướng dẫn một số tình huống trong đấu thầu như sau:

Trường hợp sau khi mở thầu:

Trong thời gian hồ sơ dự thầu còn hiệu lực và chưa có kết quả xét thầu, nội bộ nhàthầu có sự thay đổi về nhân sự (thêm, bớt nhân viên) Trong đó, một số nhân sự nhà thầu đã

kê khai trong hồ sơ dự thầu bị cắt hợp đồng lao động Tuy nhiên nếu trúng thầu, nhà thầuvẫn bảo đảm nguồn nhân sự thay thế có đủ năng lực và kinh nghiệm để thực hiện gói thầu.Vậy, việc nội bộ nhà thầu có sự thay đổi nhân sự như trên có ảnh hưởng đến kết quả xétthầu không?

Trường hợp sau khi đóng thầu:

Nhà thầu phát hiện bảng kê khai năng lực kinh nghiệm có sai sót Cụ thể: Trongbảng kê khai hợp đồng tương tự đã thực hiện, nhà thầu có sự nhầm lẫn kê khai công trìnhcấp III là công trình cấp IV

Sau khi đóng thầu, nhà thầu đã gửi tài liệu đến bên mời thầu để làm rõ về năng lựckinh nghiệm Tài liệu kèm theo bao gồm: Văn bản làm rõ hồ sơ dự thầu; Quyết định phêduyệt Báo cáo kinh tế - kỹ thuật công trình có xác định rõ quy mô và cấp công trình là côngtrình dân dụng cấp III; Văn bản xác nhận của Chủ đầu tư; Bảng khối lượng công việc kèmtheo hợp đồng

Việc làm rõ này không làm thay đổi bản chất của nhà thầu tham gia dự thầu, khôngthay đổi giá dự thầu theo khoản 2, khoản 3 Điều 16 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP củaChính phủ Vậy, việc nhà thầu gửi tài liệu đến bên mời thầu để làm rõ năng lực kinhnghiệm sau thời điểm đóng thầu như trên có phù hợp quy định và có được chấp nhận haykhông?

Về vấn đề này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có ý kiến như sau:

Về thay đổi nhân sự chủ chốt

Trường hợp trong thời gian đánh giá thầu, do bất khả kháng nên một hoặc một số vịtrí nhân sự chủ chốt do nhà thầu đã đề xuất không thể tham gia thực hiện gói thầu thì nhàthầu phải có văn bản thông báo đến bên mời thầu về việc thay đổi nhân sự này Bên cạnh

đó, nhà thầu phải cung cấp được tài liệu chứng minh việc thay đổi nhân sự do bất khảkháng xảy ra sau thời điểm đóng thầu

Trang 19

Việc thay thế nhân sự được thực hiện trong bước thương thảo hợp đồng nếu nhà thầuđược đánh giá xếp hạng thứ nhất nhưng phải bảo đảm nhân sự thay thế có trình độ, kinhnghiệm và năng lực tương đương hoặc cao hơn đối với nhân sự đã đề xuất và nhà thầukhông được thay đổi giá dự thầu.

Về việc làm rõ năng lực, kinh nghiệm của nhà thầu

Khoản 1 và khoản 2, Điều 16 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy địnhsau khi mở thầu, nhà thầu có trách nhiệm làm rõ hồ sơ dự thầu theo yêu cầu của bên mờithầu

Trường hợp hồ sơ dự thầu của nhà thầu thiếu tài liệu chứng minh tư cách hợp lệ,năng lực và kinh nghiệm thì bên mời thầu yêu cầu nhà thầu làm rõ, bổ sung tài liệu đểchứng minh tư cách hợp lệ, năng lực và kinh nghiệm

Trường hợp sau khi đóng thầu, nếu nhà thầu phát hiện hồ sơ dự thầu thiếu các tàiliệu chứng minh tư cách hợp lệ, năng lực và kinh nghiệm thì nhà thầu được phép gửi tàiliệu đến bên mời thầu để làm rõ về tư cách hợp lệ, năng lực và kinh nghiệm của mình Bênmời thầu có trách nhiệm tiếp nhận những tài liệu làm rõ của nhà thầu để xem xét, đánh giá;các tài liệu bổ sung, làm rõ về tư cách hợp lệ, năng lực và kinh nghiệm được coi như mộtphần của hồ sơ dự thầu

Theo đó, đối với trường hợp do nhầm lẫn khi kê khai cấp của công trình tương tự đãthực hiện (từ cấp III thành cấp IV) thì nhà thầu được phép gửi tài liệu để tự làm rõ theo quyđịnh nêu trên

(Cổng thông tin điện tử Chính phủ)

22 Chi nhánh của doanh nghiệp có được tham gia dự thầu?

Công ty ông Nguyễn Tiên Phong (thành phố Hà Nội) là doanh nghiệp xây lắp quy

mô vừa (vốn 45 tỷ đồng), do vậy, theo khoản 3, Điều 6 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày26/6/2014 của Chính phủ thì các gói thầu xây lắp dưới 5 tỷ đồng công ty ông không đượctham gia

Ông Phong muốn được biết, chi nhánh của công ty hoạt động theo ủy quyền củacông ty thì có được phép tham gia các gói thầu xây lắp dưới 5 tỷ đồng không? Nếu đượcphép thì cần bổ sung các giấy tờ gì?

Về vấn đề này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có ý kiến như sau:

Khoản 3 và khoản 4 Điều 92 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 quy định chi nhánh

là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chứcnăng của pháp nhân, kể cả chức năng đại diện theo uỷ quyền; chi nhánh không phải là phápnhân Người đứng đầu chi nhánh thực hiện nhiệm vụ theo uỷ quyền của pháp nhân trongphạm vi và thời hạn được uỷ quyền

Theo đó, chi nhánh của doanh nghiệp không có tài sản độc lập và không tự chịutrách nhiệm bằng tài sản đó, ngoài ra chi nhánh không thể nhân danh mình tham gia cácquan hệ pháp luật một cách độc lập thì không được coi là hạch toán tài chính độc lập, do đóchi nhánh không đủ tư cách để tham dự thầu Trường hợp chi nhánh được công ty ủy quyềntham dự thầu thì chi nhánh được tham dự thầu với tư cách của công ty

Vì vậy, nếu công ty không phải là doanh nghiệp cấp nhỏ hoặc siêu nhỏ theo quyđịnh của pháp luật về doanh nghiệp thì không được tham dự thầu gói thầu này

(Cổng thông tin điện tử Chính phủ)

23 Không có quy định về gói thầu dịch vụ tư vấn quy mô nhỏ

Trang 20

Ông Vũ Ngọc Nam hỏi: Tại điểm c, khoản 1, Điều 62 Luật Đấu thầu 43/2013/QH13quy định, đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn đơn giản; gói thầumua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có quy mô nhỏ phải áp dụng hợp đồng trọn gói Vậy,

có thể hiểu đây là gói thầu tư vấn quy mô nhỏ không, hay toàn bộ gói thầu tư vấn?

Trường hợp đối với gói thầu tư vấn khảo sát, thiết kế xây dựng, chi phí khảo sát tínhtheo đơn giá, chi phí thiết kế tính theo tỷ lệ % Vậy khi để hợp đồng trọn gói thì chi phíthiết kế phải xác định như thế nào? (Vì chi phí thiết kế tính bằng hệ số % x chi phí xây lắp,

mà chi phí xây lắp tại thời điểm ký hợp đồng tư vấn thiết kế chưa chính xác)

Về vấn đề này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư trả lời như sau:

Theo điểm c, khoản 1, Điều 62 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 quy định đối vớigói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn đơn giản; gói thầu mua sắm hàng hóa,xây lắp, hỗn hợp có quy mô nhỏ phải áp dụng hợp đồng trọn gói

Theo đó, hợp đồng trọn gói được áp dụng với gói thầu dịch vụ tư vấn đơn giản màkhông áp dụng đối với gói thầu dịch vụ tư vấn quy mô nhỏ vì pháp luật không có quy định

về gói thầu dịch vụ tư vấn quy mô nhỏ

Việc tính toán giá gói thầu phải tính toán đầy đủ toàn bộ chi phí để thực hiện góithầu, kể cả chi phí dự phòng, phí, lệ phí và thuế theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 35của Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 Bên mời thầu phải căn cứ vào các quy định hiệnhành để tính toán số lượng chuyên gia cần thiết cho gói thầu, thời gian làm việc theo tháng,tuần, ngày, giờ và các khoản thù lao và ngoài thù lao cho chuyên gia làm cơ sở để xác địnhgiá gói thầu

(Cổng thông tin điện tử Chính phủ)

24 Đề xuất giảm giá có thể ghi trực tiếp vào đơn dự thầu

Ông Nguyễn Thanh Hiếu (TP Cần Thơ) phản ánh, trong bảng giá dự thầu của dịch

vụ, nhà thầu để giá 2,5 tỷ đồng cho tất cả các danh mục Tuy nhiên, trong đơn dự thầu, nhàthầu lại để giá 2 tỷ đồng và có thư để giảm 500 triệu đồng Ông Hiếu hỏi, trường hợp này

xử lý như thế nào và theo quy định tại văn bản nào?

Về vấn đề này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có ý kiến như sau:

Theo hướng dẫn tại Mục 14 CDNT Mẫu hồ sơ mời thầu mua sắm hàng hóa ban hànhkèm theo Thông tư số 05/2015/TT-BKHĐT ngày 16/6/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư,trường hợp nhà thầu có đề xuất giảm giá thì có thể ghi trực tiếp vào đơn dự thầu hoặc đềxuất riêng trong thư giảm giá

Trường hợp giảm giá, nhà thầu phải nêu rõ nội dung và cách thức giảm giá vào cáchạng mục cụ thể nêu trong cột “Danh mục hàng hoá”, “Mô tả dịch vụ”

Trường hợp không nêu rõ cách thức giảm giá thì được hiểu là giảm đều theo tỷ lệcho tất cả hạng mục nêu trong cột “Danh mục hàng hoá”, “Mô tả dịch vụ”

Như vậy, trường hợp trong đơn dự thầu nêu rõ giá dự thầu là 2 tỷ đồng sau giảm giáthì được coi là phù hợp với biểu giá tổng hợp và thư giảm giá

Trường hợp trong đơn dự thầu chỉ nêu giá dự thầu là 2 tỷ đồng khác giá trong biểutổng hợp (2,5 tỷ đồng) thì tổ chuyên gia, bên mời thầu cần phải xem xét bản giá chào để có

cơ sở xác định chính xác giá chào của nhà thầu Trên cơ sở đó tiến hành sửa lỗi, hiệu chỉnhsai lệch và trừ đi giá trị giảm giá Việc tính giảm giá được thực hiện theo quy định nêu trên.(Cổng thông tin điện tử Chính phủ)

25 Không được đưa điều kiện hạn chế sự tham gia của nhà thầu

Trang 21

Khoản 2, Điều 12 Nghị định số 63/2014/NĐ-C P của Chính phủ quy định trong hồ sơmời thầu không được nêu bất cứ điều kiện nào nhằm hạn chế sự tham gia của nhà thầuhoặc nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà thầu gây ra sự cạnh tranh không bình đẳng.Theo phản ánh của ông Phan Văn Phúc (tỉnh Cà Mau), công tác tại Ban Quản lý dự

án thành phố Cà Mau,để tránh tình trạng nhà thầu tham gia dự thầu công chứng các tài liệu,bằng cấp cóliên quan để tham gia dự thầu, nhưng thực tế không có nhân sự như mongmuốn khi trúng thầu, bên mời thầu đặt ra tiêu chí để chứng minh chỉ huy trưởng công trìnhcủa nhà thầu phải có “Sổ bảo hiểm xã hội công tác tại nhà thầu hoặc có xác nhận của cơquan bảo hiểm xã hội đã đóng bảo hiểm tại nhà thầu tham dự tính đến thời điểm hiện tại”

Ông Phúc hỏi, với tiêu chí nêu trên thì có vi phạm điều cấm trong Luật Đấuthầu nhằm hạn chế nhà thầu tham dự không?

Về vấn đề này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có ý kiến như sau:

Khoản 2, Điều 12 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định trong hồ sơmời thầu không được nêu bất cứ điều kiện nào nhằm hạn chế sự tham gia của nhà thầuhoặc nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà thầu gây ra sự cạnh tranh không bình đẳng.Theo hướng dẫn tại khoản 2.2, Mục 2 Chương III Mẫu hồ sơ mời thầu xây lắp banhành kèm theo Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT ngày 6/5/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu

tư thì một trong những nội dung đánh giá về năng lực kỹ thuật của nhà thầu là nhân sự chủchốt

Đối với trường hợp nêu trong thư hỏi của ông, nếu hồ sơ mời thầu yêu cầu nhà thầu

có xác nhận đóng bảo hiểm xã hội đối với các vị trí nhân sự chủ chốt có thể làm hạn chế sựtham gia của nhà thầu Trong trường hợp này, nếu các vị trí nhân sự chủ chốt do nhà thầu

đề xuất đáp ứng yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm thì được coi là đáp ứng yêu cầu về nộidung nhân sự chủ chốt

Trường hợp cần thiết, bên mời thầu có thể yêu cầu nhà thầu nộp tài liệu làm rõ,chứng minh khả năng huy động nhân sự chủ chốt của mình như hợp đồng lao động, sổ bảohiểm xã hội để chứng minh nhân sự đề xuất đang thuộc quản lý của nhà thầu

(Cổng thông tin điện tử Chính phủ)

26 Thông tin nào trong hồ sơ dự thầu được phép điều chỉnh?

Công ty ông Hoàng Văn Vinh (tỉnh Đồng Nai) tham dự gói thầu xây lắp Hồ sơ mờ ithầu yêu cầu nhà thầu phải có 15 công nhân có chứ ng nhân nghề và tối thiêủ 10 ngườ i đóng

bảo hiểm tại doanh nghiệp Hồ sơ dư ̣ thầu cung cấp đầy đủ theo yêu cầu, tuy nhiên do sai sót nên bảng kê bị thiếu một người

Bên mờ i thầu đánh giá hồ sơ dư ̣ thầu của công ty ông Vinh không đat với lý do,

bảng kê chỉ có 14 ngườ i, không đáp ứ ng đươc hồ sơ mờ i thầu và theo quy điṇ h tai Điêù

15Nghi ̣điṇ h số 6 3 /20 14 / NĐ- C P , nguyên tắc đánh giá hồ sơ dư ̣ thầu là căn cứ vào yêu cầu của hồ sơ mời thầu và hồ sơ dư ̣ thầu của nhà thầu đã nôp̣

Ông Vinh hỏi, lý do loai hồ sơ dư ̣ thầu của công ty ông có phù hơp vớ i quy điṇh

không? Công ty ông có đươc quyêǹ sử a lai nhưng̃sai sót không cơ bản của hồ sơ dư ̣ thầu không?

Trang 22

Đối với trường hợp của ông Vinh nêu, hồ sơ mờ i thầu yêu cầu nhà thầu phải có 15công nhân có chứng nhận đào tạo nghề và tham gia bảo hiểm tối thiểu là 10 người Hồ sơ

dư ̣ thầu đã cung cấp đầy đủ chứng nhận đào tạo nghề và hợp đồng lao động của 15công nhân, tuy nhiên có sai sót ở bảng kê khi kê 14 người thay vì 15 người

Trang 23

Do sự không nhất quán giữa bảng kê và hợp đồng lao động, chứng nhận đào tạonghề mà nhà thầu đã cung cấp, bên mời thầu có thể yêu cầu nhà thầu làm rõ về sự khôngnhất quán này.

Trường hợp nhà thầu làm rõ là có 15 người tương ứng với số hợp đồng đã cung cấptrong hồ sơ dư ̣ thầu thì sẽ được đánh giá đáp ứng nội dung này

(Cổng thông tin điện tử Chính phủ)

27 Tiêu chuẩn đánh giá về năng lực tài chính của nhà thầu

Bà Nguyễn Thị Thu Huyền (thành phố Hà Nội) phản ánh, tại Thông tư

số 03/2015/TT-BKHĐT ngày 6/5/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định chi tiết lập hồ

sơ mời thầu xây lắp, phần yêu cầu các tiêu chí tài chính và năng lực kinh nghiệm có hướngdẫn:

“Doanh thu bình quân hàng năm từ hoạt động xây dựng tối thiểu là (6)VND, trong vòng (7) năm trở lại đây

(6) Cách tính toán thông thường về mức yêu cầu doanh thu bình quân hàng năm:a) Yêu cầu tối thiểu về mức doanh thu bình quân hàng năm = (Giá gói thầu/thời gianthực hiện hợp đồng theo năm) x k

Thông thường yêu cầu hệ số “k” trong công thức này là từ 1,5 đến 2;”

Theo quy định thì chỉ dùng từ "thông thường" Bà Huyền muốn hỏi, nếu trong hồ sơmời thầu quy định hệ số k=1 hoặc hệ số k=2,5 hoặc hệ số k=3 thì có đúng quy định không?

Về vấn đề này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có ý kiến như sau:

Theo hướng dẫn tại ghi chú số (6) Mục 2.1 Chương III Mẫu hồ sơ mời thầu xây lắpban hành kèm theo Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT, cách tính toán thông thường về mứcyêu cầu doanh thu bình quân hàng năm đối với trường hợp thời gian thực hiện hợp đồngdưới 1 năm thì cách tính doanh thu như sau:

Yêu cầu tối thiểu về mức doanh thu trung bình hàng năm = Giá gói thầu x k

Thông thường yêu cầu hệ số “k” trong công thức này là 1,5

Theo đó, đối với trường hợp gói thầu có thời gian thực hiện hợp đồng dưới 1 năm thìnên để hệ số k = 1,5 Trường hợp hồ sơ mời thầu quy định hệ số k là 2,5 hoặc 3 hoặc caohơn sẽ dẫn tới việc yêu cầu tối thiểu về mức doanh thu trung bình hàng năm quá cao, làmhạn chế nhà thầu tham dự thầu, giảm tính cạnh tranh của gói thầu

( Cổng thông tin điện tử Chính phủ)

28 Không có quy định về gói thầu dịch vụ tư vấn quy mô nhỏ

Ông Vũ Ngọc Nam hỏi: Tại điểm c, khoản 1, Điều 62 Luật Đấu thầu 43/2013/QH13quy định, đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn đơn giản; gói thầumua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có quy mô nhỏ phải áp dụng hợp đồng trọn gói Vậy,

có thể hiểu đây là gói thầu tư vấn quy mô nhỏ không, hay toàn bộ gói thầu tư vấn?

Trường hợp đối với gói thầu tư vấn khảo sát, thiết kế xây dựng, chi phí khảo sát tínhtheo đơn giá, chi phí thiết kế tính theo tỷ lệ % Vậy khi để hợp đồng trọn gói thì chi phíthiết kế phải xác định như thế nào? (Vì chi phí thiết kế tính bằng hệ số % x chi phí xây lắp,

mà chi phí xây lắp tại thời điểm ký hợp đồng tư vấn thiết kế chưa chính xác)

Về vấn đề này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư trả lời như sau:

Theo điểm c, khoản 1, Điều 62 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 quy định đối vớigói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn đơn giản; gói thầu mua sắm hàng hóa,xây lắp, hỗn hợp có quy mô nhỏ phải áp dụng hợp đồng trọn gói

Trang 24

Theo đó, hợp đồng trọn gói được áp dụng với gói thầu dịch vụ tư vấn đơn giản màkhông áp dụng đối với gói thầu dịch vụ tư vấn quy mô nhỏ vì pháp luật không có quy định

về gói thầu dịch vụ tư vấn quy mô nhỏ

Việc tính toán giá gói thầu phải tính toán đầy đủ toàn bộ chi phí để thực hiện góithầu, kể cả chi phí dự phòng, phí, lệ phí và thuế theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 35của Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 Bên mời thầu phải căn cứ vào các quy định hiệnhành để tính toán số lượng chuyên gia cần thiết cho gói thầu, thời gian làm việc theo tháng,tuần, ngày, giờ và các khoản thù lao và ngoài thù lao cho chuyên gia làm cơ sở để xác địnhgiá gói thầu

(Cổng thông tin điện tử Chính phủ)

29 Phương án thay thế khi thương thảo hợp đồng

Hỏi: Khi thương thảo hợp đồng, nhà thầu đề xuất phương án thay thế cho 1 trong 2

thiết bị mà vẫn đảm bảo các yêu cầu về mặt kỹ thuật, giá, các yếu tố khác và chủ đầu tưthấy có hiệu quả hơn trong đầu tư thì có được chấp thuận không?

Trả lời: Câu hỏi của Bạn liên quan tới nội dung thương thảo, hoàn thiện hợp đồng

với nhà thầu trúng thầu để tiến tới ký hợp đồng

Tại Điều 42 Luật Đấu thầu quy định, việc thương thảo, hoàn thiện hợp đồng để kýkết hợp đồng với nhà thầu trúng thầu phải dựa trên cơ sở sau đây:

- Kết quả đấu thầu được duyệt;

- Mẫu hợp đồng đã điền đủ các thông tin cụ thể của gói thầu;

- Các yêu cầu nêu trong hồ sơ mời thầu (HSMT);

- Các nội dung nêu trong hồ sơ dự thầu (HSDT) và giải thích làm rõ HSDT của nhàthầu trúng thầu (nếu có);

- Các nội dung cần được thương thảo, hoàn thiện hợp đồng giữa bên mời thầu và nhàthầu trúng thầu

Trong mẫu HSMT (ví dụ mẫu HSMT mua sắm hàng hóa ban hành kèm theo Thông

tư 05/2010/BKH của Bộ Kế hoạch và Đầu tư) quy định nội dung thương thảo, hoàn thiệnhợp đồng bao gồm các vấn đề còn tồn tại, chưa hoàn chỉnh, chi tiết hóa các nội dung cònchưa cụ thể, đặc biệt việc áp giá đối với những sai lệch trong HSDT Việc thương thảo,hoàn thiện hợp đồng cũng bao gồm cả việc xem xét các sáng kiến, giải pháp kỹ thuật,phương án thay thế hoặc bổ sung do nhà thầu đề xuất (nếu có)

Trở lại tình huống của Bạn thì nhà thầu đề xuất thay thế 1 trong 2 thiết bị và đượcđánh giá là vẫn đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, còn giá và các yếu tố khác vẫn giữ nguyên nhưtrong HSDT Với sự thay thế này mang lại hiệu quả nhiều hơn trong đầu tư thì đây là 1 nộidung thuộc quá trình thương thảo, hoàn thiện hợp đồng như nêu trên

Việc xem xét có chấp nhận đề xuất của nhà thầu hay không là tùy bên mời thầu, phụthuộc vào nội dung và tầm quan trọng của thiết bị thay thế Trường hợp thiết bị có vai tròquan trọng, bên mời thầu thấy không đủ thẩm quyền thì cần báo cáo chủ đầu tư xem xét,quyết định Trường hợp liên quan tới dự án đầu tư, nếu thấy cần thiết thì chủ đầu tư trìnhngười có thẩm quyền xem xét, quyết định

Nói chung, việc đề xuất phương án thay thế của nhà thầu cần được xem xét, cânnhắc kỹ lưỡng Có đề xuất thay thế mang lại lợi ích thực sự cho chủ đầu tư nhưng cótrường hợp ngược lại Một khi HSMT của dự án đã được "mổ xẻ" kỹ lưỡng trước khi duyệtthì có lẽ không nên đề cập tới nội dung này Một thiết bị mới, tiên tiến nếu không đượcxem xét tổng thể thì chưa chắc đã mang lại hiệu quả thực sự cho một trường hợp cụ thể;

Trang 25

bởi lẽ đặc thù, điều kiện sử dụng, khả năng vận hành, sửa chữa… ở mỗi nơi là khác nhau.Một thiết bị rất có hiệu quả ở nơi này chưa chắc có hiệu quả ở nơi khác Chính vì vậy, theoquy định, trước khi ra quyết định đầu tư (quyết định bỏ tiền) thì cần phải nghiên cứu kỹlưỡng thông qua các tài liệu như báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc dự án đầu tư và tiếp đóphải có báo cáo thẩm định về các tài liệu này để làm cơ sở cho người có thẩm quyền đưa raquyết định đầu tư.

( Báo đấu thầu)

30 “Sai sót” trong hồ sơ mời thầu

Hỏi: Chúng tôi đang đánh giá hồ sơ dự thầu (HSDT) cho một gói thầu xây lắp công

trình dân dụng Trong Kế hoạch đấu thầu đã được duyệt có quy định thời gian hoàn thànhcông trình là 300 ngày, tuy nhiên trong hồ sơ mời thầu (HSMT) do chủ đầu tư duyệt vàphát hành lại ghi như sau: Tại phần dữ liệu mời thầu ghi yêu cầu thời gian hoàn thành côngtrình là 360 ngày, nhưng trong phần dữ liệu hợp đồng lại ghi yêu cầu thời gian hoàn thànhcông trình là 300 ngày Đây là một sai sót mà không được phát hiện sớm Trong các HSDTđược đánh giá thì có nhà thầu đề xuất thời gian hoàn thành công trình là 300 ngày, nhưngcũng có nhà thầu đề xuất thời gian hoàn thành công trình là 360 ngày

Xin hỏi phải đánh giá các hồ sơ này như thế nào về tiêu chí thời gian hoàn thànhcông trình hay xử lý như thế nào đối với tình huống này?

Trả lời:

Chúng ta đều biết rằng HSMT là căn cứ pháp lý cho nhà thầu chuẩn bị HSDT vàcũng là căn cứ pháp lý cho việc đánh giá HSDT để lựa chọn nhà thầu trúng thầu (Khoản 24Điều 4 Luật Đấu thầu) Nghĩa là cái gì đã nêu, đã công khai trong HSMT thì trong quátrình đánh giá HSDT không được thay đổi (không bổ sung, không bỏ bớt) Để trả lời tìnhhuống của Bạn, xin đưa ra hai trường hợp sau cùng với điều kiện thời gian hoàn thành côngtrình trong Kế hoạch đấu thầu là 300 ngày:

Trường hợp 1 Trong HSMT yêu cầu thời gian hoàn thành công trình là 360 ngày.

Các nhà thầu chào 360 ngày cho thời gian thi công là đáp ứng yêu cầu của HSMT Còn nhàthầu chào thời gian này là 300 ngày thì càng đáp ứng yêu cầu của HSMT Trường hợp nếutrong tiêu chuẩn đánh giá có áp dụng “giá đánh giá” để đánh giá về lợi thế tiến độ nhanh thìnhà thầu chào thời gian 300 ngày sẽ được tính tới lợi thế này khi xác định giá đánh giá.Còn trong trường hợp không xét tới lợi thế do tiến độ sớm thì cả hai nhà thầu (một chào

300 ngày và một chào 360 ngày) được đánh giá ngang nhau, đều được đánh giá là đáp ứngyêu cầu của HSMT về thời gian hoàn thành công trình

Tuy nhiên, nếu nhà thầu chào 360 ngày được trúng thầu thì trong quá trình thươngthảo, hoàn thiện hợp đồng đối với nhà thầu này, chủ đầu tư có thể yêu cầu nhà thầu rútngắn thời gian thi công xuống 300 ngày để phù hợp với Kế hoạch đấu thầu được duyệtnhằm đảm bảo tiến độ chung của Dự án Nhà thầu có thể thống nhất và giữ nguyên giá dựthầu, nhưng cũng có thể yêu cầu tăng thêm chi phí Nếu việc thống nhất thực hiện hợpđồng với 300 ngày mà giá hợp đồng không làm vượt giá gói thầu (dự toán) thì mọi việc sẽ

ổn Còn không là phải xử lý tình huống với những phân tích, đề nghị, thẩm định và quy kếttrách nhiệm đối với các đối tượng liên quan

Trường hợp 2 Trong HSMT đưa ra thời gian hoàn thành công trình không nhất

quán giữa các phần như trong tình huống của Bạn nêu ra Cụ thể, tại Phần dữ liệu mời thầu(nên sử dụng là trong Bảng dữ liệu đấu thầu) đưa ra yêu cầu thời gian hoàn thành công

Trang 26

thi công là 300 ngày Các nhà thầu khi tham dự thầu cũng không có ý kiến về sự mâu thuẫnnày tới Bên mời thầu và chào với thời gian thi công khác nhau Có nhà thầu chào thời gianthi công là 300 ngày (theo yêu cầu nêu ở Phần dữ liệu hợp đồng), có nhà thầu chào thờigian thi công là 360 ngày (theo yêu cầu nêu ở Bảng dữ liệu) Tình huống này sẽ làm tăngtính phức tạp trong việc xử lý.

Như phần đầu đã nêu, HSMT là căn cứ pháp lý để dựa vào đó đánh giá HSDT Dovậy, với HSMT không nhất quán (giữa yêu cầu 360 ngày và 300 ngày) thì dù nhà thầu chàovới 300 ngày hay 360 ngày đều được coi là đáp ứng yêu cầu của HSMT (bởi lẽ không cóquy định về sự ưu tiên nếu có sự khác biệt giữa Bảng dữ liệu đấu thầu và dữ liệu hợpđồng) Tuy nhiên, vấn đề khó ở đây là căn cứ để xếp hạng nhà thầu Với các HSDT đượcđánh giá là đáp ứng yêu cầu về mặt kỹ thuật dù có thời gian thi công là 300 ngày hoặc 360ngày sẽ được đánh giá về mặt tài chính/thương mại theo tiêu chuẩn đánh giá (nêu trongHSMT) để xếp hạng nhà thầu

Xử lý như nêu trên dẫn đến:

a) Nhà thầu đưa ra thời gian thi công 300 ngày sẽ “thiệt” hơn nhà thầu chào 360ngày Nhưng nhà thầu phải chấp nhận do đã bỏ qua một quyền lợi nhằm bảo vệ cho sựcông bằng giữa các nhà thầu là được quyền nêu thắc mắc để yêu cầu làm rõ HSMT nhằmtạo ra mặt bằng chung cho mọi nhà thầu

b) Có thể nhà thầu đề xuất 360 ngày lại hội đủ điều kiện để được trúng thầu Khi đó,kết quả đấu thầu là mâu thuẫn với nội dung này trong Kế hoạch đấu thầu, làm chậm tiến độcông trình Trong quá trình thương thảo, hoàn thiện hợp đồng nếu Bên mời thầu yêu cầugiảm tiến độ xây dựng từ 360 ngày xuống 300 ngày chắc chắn sẽ phải tăng chi phí cho nhàthầu trúng thầu, thậm chí chi phí để thực hiện trong 300 ngày của nhà thầu trúng thầu còncao hơn chi phí do nhà thầu khác chào với thời gian 360 ngày không trúng thầu Điều nàydẫn đến thiệt hại cho chủ đầu tư, cho Nhà nước, gây ra nhiều hệ lụy phải xử lý

Tình huống của Bạn là thuộc trường hợp 2 và việc đánh giá phải căn cứ HSMT đãphát hành với yêu cầu về tiến độ xây dựng là không nhất quán Cũng có thể hy vọng rằng,

dù đánh giá theo trường hợp 2, Bạn vẫn chọn được nhà thầu trúng thầu với thời gian thicông là 300 ngày phù hợp với Kế hoạch đấu thầu được duyệt Đây là may mắn đối với Bênmời thầu vì việc sai sót trong HSMT không dẫn đến hậu quả phải xử lý Trường hợp ngượclại thì việc xử lý căn cứ vào sự việc cụ thể Nếu nhà thầu trúng thầu lại rơi vào nhà thầu cóthời gian thi công là 360 ngày thì để đạt được hợp đồng với thời gian thi công 300 ngàynhư nêu trong Kế hoạch đấu thầu có thể sẽ phải tốn thêm một khoản chi phí cho nhà thầutrúng thầu Nghĩa là giá hợp đồng với thời gian thi công 300 ngày Hậu quả này là doHSMT có sai sót về thời gian thi công và do lỗi tắc trách của những người liên quan tớiviệc xây dựng, thẩm định, phê duyệt HSMT gây ra Do đó, căn cứ quy định tại Điều 75Luật Đấu thầu, những người gây ra thiệt hại phải có trách nhiệm đền bù cho Nhà nước.Tình huống trở nên phức tạp và việc xử lý khó đạt được sự trọn vẹn trong cách giải quyết,gây ra nhiều tranh cãi không cần thiết

Tóm lại, những sơ suất, thiếu sót dù vô tình trong HSMT đều dẫn đến hậu quả khônlường không chỉ cho chủ đầu tư, bên mời thầu mà cho cả nhà thầu Bài học về chất lượngHSMT luôn là bài học đắt giá Chủ đề về HSMT luôn là một chủ đề rộng, khó lường hếtcác tình huống có thể xảy ra Cách tốt nhất là nâng cao chất lượng của công tác lập, thẩmđịnh, phê duyệt HSMT, bao gồm cả việc thường xuyên tập huấn nâng cao nghiệp vụ và đúcrút kinh nghiệm sau mỗi cuộc đấu thầu đối với những vấn đề liên quan tới công tác đấu

Trang 27

thầu Đồng thời, cũng đòi hỏi nhà thầu chịu khó nghiên cứu để phát hiện những bất cập trong HSMT nhằm đảm bảo quyền lợi của chính họ.

( Báo đấu thầu)

31 Đánh giá HSDT khi có “sơ suất” trong HSMT

Hỏi:

Trong cuộc đấu thầu mua sắm hàng hóa, qua kết quả đánh giá chỉ duy nhất có mộtnhà thầu vượt qua bước đánh giá sơ bộ và đáp ứng bước đánh giá kỹ thuật theo hồ sơ mờithầu (HSMT) Tuy nhiên, khi làm rõ với nhà thầu thì thấy hồ sơ dự thầu (HSDT) khôngđáp ứng được một số tiêu chí của gói thầu Do gói thầu có quy mô nhỏ nên việc đánh giáHSDT sử dụng tiêu chí đánh giá đạt/không đạt Như vậy, nhà thầu này sẽ không đạt và dẫnđến phải hủy đấu thầu Tình huống này rất khó cho cả chủ đầu tư và nhà thầu Trong côngvăn làm rõ, nhà thầu có đề ra phương án bổ sung thay thế thiết bị khác để đáp ứng yêu cầucủa HSMT còn giữ nguyên các nội dung khác trong HSDT đã nộp gồm cả giá Ở tìnhhuống này, bên mời thầu nên xử lý như thế nào?

Trả lời:

Tình huống của Bạn liên quan tới HSMT và việc đánh giá HSDT

Theo quy định, HSMT là căn cứ pháp lý để nhà thầu dựa vào đó chuẩn bị HSDT,còn bên mời thầu dựa vào HSMT để đánh giá và xếp hạng HSDT (Khoản 24 Điều 4 LuậtĐấu thầu) Do tầm quan trọng như vậy nên quy trình chuẩn bị phát hành HSMT gồm 3bước: lập, thẩm định và phê duyệt Những cá nhân tham gia vào từng khâu quy trình trênphải có kiến thức chuyên môn, có chứng chỉ về đấu thầu để hiểu cái gì được làm và cái gìkhông được làm theo quy định HSMT được coi là đầu bài thi trong cuộc thi đấu thầu, nên

sự trình bày trong HSMT yêu cầu là phải rõ ràng, chính xác, khoa học, khách quan để mọingười cùng hiểu như nhau nhằm đảm bảo sự minh bạch, công bằng Tại Điều 18 Luật Đấuthầu còn quy định, trong HSMT không được nêu bất cứ điều kiện nào nhằm hạn chế hoặctạo lợi thế cho một hoặc một số nhà thầu để đảm bảo tính cạnh tranh, công bằng giữa cácnhà thầu

Trở lại tình huống của Bạn thì một số thông số kỹ thuật nêu trong HSMT lại đượcmỗi người hiểu một cách khác nhau ở từng thời gian khác nhau, cụ thể:

- Khi lập, thẩm định và duyệt HSMT, mọi người tham gia đều thấy đủ rõ nên mớithống nhất thông qua để phát hành HSMT

- Nhà thầu khi chuẩn bị HSDT đã bám sát các yêu cầu về thông số kỹ thuật nêutrong HSMT và tin tưởng rằng HSDT của mình là đáp ứng các yêu cầu

- Tổ chuyên gia căn cứ vào HSMT và tiêu chuẩn đánh giá trong HSMT đã tiến hànhđánh giá và kết luận chỉ có một nhà thầu vượt qua đánh giá sơ bộ (gọi là nhà thầu A) vàđáp ứng yêu cầu về mặt kỹ thuật của HSMT

- Khi làm rõ thì hóa ra nhà thầu lại không đáp ứng 1 số tiêu chí về kỹ thuật (có lẽphải được hiểu là “yêu cầu đích thực” của gói thầu nhưng đã không được thể hiện rõ trongHSMT)

Qua phân tích nêu trên thì rõ ràng yêu cầu về thông số kỹ thuật nêu trong HSMT làkhông đủ rõ, hoặc quá chung chung dẫn đến hiểu khác nhau (tạm gọi đây là những “sơsuất” trong HSMT) Chỉ khi ngồi với nhau (làm rõ HSDT) thì mới phát hiện có vấn đề Cóthể người lập HSMT nghĩ rằng cách thể hiện trong HSMT như vậy là đủ rõ, đủ chi tiết.Tiếp đó, việc thẩm định HSMT là một “mắt sàng” để giúp HSMT đạt được như yêu cầu,

Trang 28

công tác này Còn nhà thầu cũng đơn giản, không thấy nêu đề nghị làm rõ HSMT hoặc kiếnnghị để hiểu rõ hơn, chính xác hơn một số yêu cầu trong HSMT (mà có thể qua cách thểhiện trong HSMT dẫn đến sự hiểu theo nhiều cách khác nhau) Tổ chuyên gia đấu thầuđánh giá có lẽ cũng đại khái, chủ quan nên kết luận nhà thầu A đạt yêu cầu về mặt kỹ thuật.Cuối cùng, trong bước làm rõ HSDT với nhà thầu (Bạn chưa nói rõ tại sao phải yêu cầunhà thầu làm rõ HSDT nếu như nhà thầu đã được đánh giá là đáp ứng về mặt kỹ thuật) mớiphát hiện rằng HSDT không đáp ứng “yêu cầu đích thực” của gói thầu mà yêu cầu này đãkhông được phản ánh đầy đủ, không đủ rõ trong HSMT.

Trong tình huống này có lẽ không đủ cơ sở để kết luận nhà thầu không đáp ứng yêucầu về mặt kỹ thuật (căn cứ tiêu chuẩn đánh giá nêu trong HSMT) bởi lẽ nhà thầu đã đượcđánh giá là đáp ứng yêu cầu về mặt kỹ thuật của HSMT Với tình huống này, nếu bên mờithầu kết luận nhà thầu A không đáp ứng yêu cầu về mặt kỹ thuật thì có thể nhà thầu A sẽkiện ra Tòa án (theo Điều 73 Luật Đấu thầu) và chắc với HSMT như vậy thì Tòa án cũngđưa ra kết luận như Tổ chuyên gia đấu thầu đã đánh giá

Do vậy, trong tình huống của Bạn chưa cần thiết áp dụng hình thức hủy thầu (bởi lẽ

sẽ gây ra nhiều hệ lụy) mà nên chọn cách xử lý “hài hòa” như sau: Chủ đầu tư vẫn nênquyết định nhà thầu này trúng thầu nếu nhà thầu được đánh giá là đáp ứng các yêu cầu vềmặt tài chính dựa trên những gì đã có trong HSDT Tuy nhiên, khi thương thảo, hoàn thiệnhợp đồng thì bên mời thầu yêu cầu nhà thầu điều chỉnh một số tiêu chí để đảm bảo đáp ứngđầy đủ các “yêu cầu đích thực” của gói thầu Qua thông tin của Bạn thì nhà thầu A cũng đãcam kết sẵn sàng đáp ứng “yêu cầu đích thực” và vẫn giữ nguyên giá dự thầu đã chào nếuđược yêu cầu

Tuy chỉ là gói thầu quy mô nhỏ nhưng bài học về chất lượng HSMT bao gồm từkhâu lập, thẩm định, phê duyệt luôn là bài học đắt giá Nhớ rằng viết HSMT để mọi nguờiliên quan từ người đánh giá HSDT, thẩm định kết quả, phê duyệt kết quả tới nhà thầu cùnghiểu như nhau là một việc làm công phu Sơ suất do sự bất cẩn trong HSMT đôi khi khôngthể có giải pháp khắc phục, ngoại trừ phải đền bù các thiệt hại Hy vọng những “sơ suất”trong HSMT tương tự như trường hợp của Bạn sẽ trở thành như một ví dụ

(Báo đấu thầu)

32 Đơn giá khác thường

Hỏi: Trong hồ sơ mời thầu (HSMT) có nêu công tác vận chuyển bê tông nhựa 17

km với khối lượng 1.700 tấn Nhà thầu A và nhà thầu B có hồ sơ dự thầu (HSDT) đượcđánh giá là đạt yêu cầu về mặt kỹ thuật HSDT của nhà thầu A nêu đơn giá cho công táctrên là 604.000 đồng/100 tấn HSDT của nhà thầu B nêu đơn giá là 17.500.000 đồng/100tấn Khi đánh giá HSDT, bên mời thầu (BMT) dự kiến mời nhà thầu A đến làm rõ nhưngcũng có ý kiến cho rằng, nếu nhà thầu đã nêu trong HSDT tức là đã cam kết thì không cầnhiệu chỉnh sai lệch (theo suy đoán nhà thầu A chỉ mới tính cự ly vận chuyển bê tông nhựacho 1 km, không phải cho 17 km) Vậy khi làm rõ HSDT thì nhà thầu A nên giải thích nhưthế nào để chấp nhận được? Trường hợp nhà thầu A giải thích không rõ thì tiến hành hiệuchỉnh sai lệch như thế nào?

Trả lời: Tình huống của Bạn xảy ra trong quá trình đánh giá các HSDT đã vượt

qua đánh giá về mặt kỹ thuật (đối với gói mua sắm hàng hóa hoặc xây lắp) Trong quá trìnhđánh giá, BMT được quyền yêu cầu nhà thầu làm rõ HSDT (theo Điều 36 Luật Đấu thầu)nhưng phải bảo đảm không làm thay đổi nội dung cơ bản của HSDT và giá dự thầu Việctiến hành sửa lỗi và hiệu chỉnh sai lệch đối với các nhà thầu vượt qua đánh giá về mặt kỹ

Trang 29

thuật được quy định tại Điều 30 Nghị định 85/2009/NĐ-CP và được nhắc lại trong MẫuHSMT Theo đó, đối với các đơn giá bất thường (trong HSDT) mà gây bất lợi cho chủ đầu

tư thì việc xử lý tuân theo Khoản 5 Điều 70 Nghị định 85/2009/NĐ-CP Nếu sự giải thích,làm rõ của nhà thầu (đối với đơn giá khác thường mà gây bất lợi cho chủ đầu tư) không đủ

rõ, không có tính thuyết phục thì đây là sự sai lệch và được thực hiện hiệu chỉnh sai lệchtheo quy định như đối với nội dung chào thừa hoặc thiếu của HSDT so với yêu cầu củaHSMT

Theo tình huống của Bạn nêu ra thì trong HSDT của nhà thầu có 1 nội dung chàokhông bình thường (gọi là đơn giá khác thường) Cụ thể, nhà thầu chào cho công việc vậnchuyển 1.700 tấn bê tông nhựa với độ dài 17 km nêu trong HSMT thì:

- Nhà thầu A chào 604.000 đồng/100 tấn

- Nhà thầu B chào 17.500.000 đồng/100 tấn

Hai nhà thầu A và B đã nộp HSDT với Đơn dự thầu cam kết đáp ứng các yêu cầucủa HSMT tức là các nhà thầu đã chịu trách nhiệm thực hiện vận chuyển 1.700 tấn bê tôngnhựa với độ dài là 17 km

Câu hỏi đặt ra là trong 2 nhà thầu trên thì nhà thầu nào có đơn giá khác thường gâybất lợi cho chủ đầu tư để xử lý theo khoản 5 Điều 70 Nghị định 85/2009/NĐ-CP Trườnghợp cũng có một số HSDT khác chào đơn giá khoảng 600.000 đồng/100 tấn (xấp xỉ đơngiá của nhà thầu A chào) thì nếu nhà thầu B đủ điều kiện trúng thầu với đơn giá 17.000.000đồng/100 tấn sẽ gây thiệt hại cho chủ đầu tư, khi đó cần áp dụng xử lý theo khoản 5 Điều

70 Nghị định 85/2009/NĐ-CP như nêu trên

Trường hợp ngược lại, đa phần HSDT chào đơn giá khoảng 17.000.000 đồng/100tấn nhưng riêng nhà thầu A chào thấp hơn nhiều (604.000 đồng/100 tấn) và nhà thầu này

đủ điều kiện để trúng thầu thì chủ đầu tư chỉ được lợi chứ không bất lợi Do đó, không cần

xử lý theo khoản 5 Điều 70 Nghị định 85/2009/NĐ-CP

Nhưng nếu toàn bộ công việc của gói thầu chỉ là vận chuyển bê tông nhựa thì vớiđơn giá khác thường (thấy bất thường) của nhà thầu A có thể dẫn đến không đảm bảo tínhkhả thi, gây bất lợi cho chủ đầu tư thì BMT có thể yêu cầu nhà thầu giải thích, làm rõ vềđơn giá bất thường này để tìm giải pháp khắc phục Còn nếu nội dung vận chuyển bê tôngnhựa chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong giá dự thầu thì việc trúng thầu của nhà thầu Akhông gây bất lợi cho chủ đầu tư nên không cần thiết mời nhà thầu giải thích làm rõ HSDT

Đây có thể là sơ suất nhưng cũng có thể là lợi thế của nhà thầu, nhưng nhà thầuphải tự chịu trách nhiệm với HSDT đã nộp Việc xử lý theo cách mời nhà thầu giải thích,làm rõ HSDT nhằm mục đích đảm bảo tính khả thi, tránh gây bất lợi cho chủ đầu tư nhưngđôi khi lại là tạo cơ hội cho nhà thầu điều chỉnh sai sót, tạo ra sự thiếu công bằng Do vậy,tại khoản 5 Điều 70 Nghị định 85/2009/NĐ-CP mới quy định chỉ xử lý đối với trường hợptrong HSDT có đơn giá khác thường mà gây bất lợi cho chủ đầu tư (chứ không phải chomọi trường hợp) Để đưa ra lời giải cụ thể Bạn cần tự bổ sung thông tin để xử lý tình huốngphù hợp, đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật về đấu thầu

(Báo đấu thầu)

33 Thư giảm giá đối với phần chào thừa

Hỏi: Gói thầu xây lắp có hình thức hợp đồng theo đơn giá, trong hồ sơ mời thầu(HSMT) quy định: trường hợp nhà thầu phát hiện tiên lượng chưa chính xác so với thiết kế,nhà thầu có thể thông báo cho bên mời thầu và lập một bảng chào giá riêng cho phần khối

Trang 30

khác này vào giá dự thầu Khi tham dự thầu, nhà thầu phát hiện tiên lượng chào thừa giữaHSMT và thiết kế nên nhà thầu giảm giá phần khối lượng chào thừa này trong thư giảm giákèm theo HSDT.

Tình huống đặt ra khi xác định giá đánh giá thì phần chào thừa trong thư giảm giá cóđược hiệu chỉnh không? Nếu được hiệu chỉnh thì giá trị đó có được tính là lỗi hiệu chỉnhkhông?

Trả lời: Luật Đấu thầu (Điều 28 Khoản 1 và Khoản 2) quy định việc đánh giá hồ sơ

dự thầu (HSDT) phải căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá HSDT và các yêu cầu khác trongHSMT, căn cứ vào HSDT đã nộp và các tài liệu giải thích làm rõ HSDT của nhà thầu đểbảo đảm lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực, kinh nghiệm, có giải pháp khả thi để thựchiện gói thầu

Theo quy định tại Mẫu HSMT xây lắp (Chương I Mục 14 Khoản 1 và Khoản 2) banhành kèm theo Thông tư 01/2010/TT-BKH ngày 6/01/2010 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thìgiá dự thầu là giá do nhà thầu nêu trong đơn dự thầu thuộc HSDT sau khi trừ phần giảm giá(nếu có); trường hợp nhà thầu phát hiện tiên lượng chưa chính xác so với thiết kế, nhà thầu

có thể thông báo cho bên mời thầu và lập một bảng chào giá riêng cho phần khối lượng saikhác này để chủ đầu tư xem xét Nhà thầu không được tính toán phần khối lượng sai khácnày vào giá dự thầu

Đối với tình huống nêu trên, vì phát hiện tiên lượng chào thừa giữa HSMT và thiết

kế nên nhà thầu giảm giá phần khối lượng chào thừa này trong Thư giảm giá thuộc HSDT.Tuy nhiên, theo quy định tại HSMT và theo các quy định nêu trên thì nhà thầu không đượctính toán phần chào thừa này vào giá dự thầu, do đó mặc dù nhà thầu có đề xuất giảm giátrong Thư giảm giá nhưng khi xác định giá dự thầu của nhà thầu, bên mời thầu cần căn cứvào giá do nhà thầu ghi trong đơn dự thầu mà không tính đến phần chào thừa trong Thưgiảm giá

Ngoài ra, tại Mục 30 Chương I Mẫu HSMT xây lắp quy định, hiệu chỉnh sai lệch làviệc điều chỉnh những nội dung thiếu hoặc thừa trong HSDT so với yêu cầu của HSMT, do

đó, việc nhà thầu giảm giá phần khối lượng chào thừa trong Thư giảm giá không ảnhhưởng đến khối lượng công việc theo thiết kế thì không được coi là hiệu chỉnh sai lệch

( Báo đấu thầu)

34 Tình huống trong đấu thầu một giai đoạn hai túi hồ sơ: Nhà thầu không nộp HSĐX kỹ thuật và HSĐX tài chính riêng biệt

Bên mời thầu X tổ chức đấu thầu rộng rãi một gói thầu xây lắp theo phương thứcmột giai đoạn hai túi hồ sơ Tuy nhiên, tại Lễ mở hồ sơ đề xuất (HSĐX) kỹ thuật, bên mờithầu phát hiện nhà thầu A đóng chung HSĐX kỹ thuật với HSĐX tài chính mà không táchthành hai túi hồ sơ riêng biệt theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu Các thành viên tham dự Lễ

mở HSĐX kỹ thuật có nhiều ý kiến khác nhau, cụ thể như sau:

Một nhà thầu chuyên nghiệp cần phải hiểu, tôn trọng và tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc của cuộc thầu, trong đó có yêu cầu về việc nộp riêng biệt HSĐX kỹ thuật và HSĐX tài chính khi đấu thầu một giai đoạn hai túi hồ sơ

1 Hồ sơ dự thầu của nhà thầu A bị coi là không hợp lệ do không bao gồm HSĐX kỹthuật và HSĐX tài chính riêng biệt theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu

2 Hồ sơ dự thầu của nhà thầu A vẫn hợp lệ, nhưng cần xử lý như sau:

a Chỉ đọc phần đề xuất kỹ thuật để tiến hành đánh giá về mặt kỹ thuật theo các yêucầu của hồ sơ mời thầu Trường hợp nhà thầu vượt qua bước đánh giá về kỹ thuật, phần đề

Trang 31

xuất tài chính sẽ được xem xét như đối với HSĐX tài chính của các nhà thầu khác vượt quabước đánh giá về kỹ thuật Trong trường hợp này, phần đề xuất về tài chính không cầnniêm phong vì đã bị đóng cứng cùng với phần đề xuất về kỹ thuật.

b Bên mời thầu cần yêu cầu nhà thầu A tự tách riêng phần đề xuất tài chính củamình để niêm phong tương tự HSĐX tài chính của các nhà thầu khác, đồng thời phần hồ sơnày sẽ được mở tại Lễ mở HSĐX tài chính nếu nhà thầu vượt qua bước đánh giá về kỹthuật Tuy nhiên, cách giải quyết này đôi khi không thể thực hiện được vì các phát sinh: cótrường hợp tách riêng được nhưng có trường hợp không tách riêng được phần đề xuất tàichính ra khỏi phần đề xuất kỹ thuật, có trường hợp nhà thầu cố tình không đồng ý táchriêng các phần đề xuất kỹ thuật và tài chính

Hỏi: Khi gặp trường hợp nhà thầu không nộp HSĐX kỹ thuật và HSĐX tài chính

riêng biệt theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu, bên mời thầu cần xử lý như thế nào?

Trả lời: Đối với phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ, Khoản 2 Điều 29 của Luật

Đấu thầu số 43/2013/QH13 quy định, nhà thầu nộp đồng thời HSĐX kỹ thuật và HSĐX tàichính riêng biệt theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu Theo quy định tại Điểm đ Khoản 4 Điều

26 của Nghị định số 63/2014/NĐ-CP, tại Lễ mở HSĐX kỹ thuật, HSĐX tài chính của tất cảcác nhà thầu phải được bên mời thầu niêm phong trong một túi riêng biệt và được đại diệncủa bên mời thầu, nhà thầu tham dự lễ mở thầu ký niêm phong Việc đánh giá tính hợp lệcủa HSĐX kỹ thuật được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 28 của Nghị định số63/2014/NĐ-CP

Đối với trường hợp của Bên mời thầu X, việc nhà thầu không nộp HSĐX kỹ thuật vàHSĐX tài chính riêng biệt đối với phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ là không phùhợp với quy định nêu tại Điều 29 của Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 Tuy nhiên, lỗi nàycũng không thuộc trường hợp để nhà thầu bị loại ngay, hoặc hồ sơ dự thầu bị đánh giá làkhông hợp lệ

Trong trường hợp này, việc xem xét, đánh giá hồ sơ dự thầu của nhà thầu này là tìnhhuống trong đấu thầu phát sinh ngoài quy định tại Điều 117 của Nghị định số 63/2014/NĐ-

CP Theo quy định tại Điều 86 của Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13, chủ đầu tư là ngườiquyết định xử lý tình huống trong đấu thầu, trong trường hợp phức tạp thì cần xin ý kiếncủa người có thẩm quyền và phải thực hiện trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng,minh bạch và hiệu quả kinh tế Với tình huống này, bên mời thầu có thể báo cáo chủ đầu tư

để có thể xem xét, xử lý theo một trong các hướng sau:

1 Nếu tách riêng được phần đề xuất về tài chính và phần đề xuất về kỹ thuật, thì bênmời thầu và nhà thầu cùng tiến hành tách và niêm phong phần đề xuất về tài chính tại Lễ

mở HSĐX kỹ thuật theo quy định nêu trên, đồng thời hồ sơ dự thầu của nhà thầu đượcđánh giá như đối với trường hợp nộp riêng HSĐX kỹ thuật và HSĐX tài chính Trongtrường hợp này, nếu nhà thầu không đồng ý với việc tách riêng và niêm phong phần đềxuất tài chính thì hồ sơ dự thầu của nhà thầu không được xem xét tiếp

2 Nếu không tách riêng được phần đề xuất về tài chính và phần đề xuất về kỹ thuật,thì bên mời thầu để nguyên hồ sơ dự thầu của nhà thầu và xem xét phần đề xuất kỹ thuật tạibước đánh giá HSĐX kỹ thuật, phần đề xuất tài chính sẽ được xem xét tại bước đánh giáHSĐX tài chính nếu nhà thầu vượt qua bước đánh giá HSĐX kỹ thuật Trong trường hợpnày, nhà thầu phải chịu mọi hậu quả hoặc sự bất lợi khi không nộp riêng biệt HSĐX kỹthuật và HSĐX tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu

Trang 32

Hiện nay, khi tham gia đấu thầu theo phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ, một

số nhà thầu gộp chung HSĐX kỹ thuật và HSĐX tài chính Dù vô tình hay cố ý, thì điềunày đều không phù hợp với quy định của pháp luật về đấu thầu

Có thể có một số nhà thầu cho rằng việc cố tình chỉ rõ giá chào thấp tại Lễ mởHSĐX kỹ thuật sẽ giúp nhà thầu tạo nên lợi thế tại bước đánh giá về kỹ thuật, tuy nhiên,khi tiêu chuẩn đánh giá đã được xây dựng rõ ràng trong hồ sơ mời thầu và việc đánh giáthực hiện theo đúng quy định của hồ sơ mời thầu, thì việc làm của nhà thầu A không nhữngkhông tạo nên lợi thế, mà còn đưa đến một số rủi ro cho chính mình Chẳng hạn như, hồ sơ

dự thầu có thể không được bên mời thầu xem xét tiếp; hoặc hồ sơ dự thầu vẫn được xemxét, nhưng nhà thầu phải chịu mọi hậu quả và sự bất lợi so với các nhà thầu khác niêmphong riêng biệt HSĐX kỹ thuật và HSĐX tài chính như: giá dự thầu và các nội dung quantrọng có liên quan đến bí mật thương mại không được bảo mật như các nhà thầu khác

Nói chung, khi tham gia vào một cuộc đấu thầu với hy vọng giành được hợp đồng,một nhà thầu chuyên nghiệp cần phải hiểu, tôn trọng và tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc củacuộc thầu đó, trong đó có yêu cầu về việc nộp riêng biệt HSĐX kỹ thuật và HSĐX tàichính khi đấu thầu hai túi hồ sơ

(Báo đấu thầu)

35 Trong đơn dự thầu không ghi thời gian thực hiện hợp

đồng Hỏi:

Xin hỏi một tình huống như sau: Trong quá trình xét thầu, bên mời thầu thấy hồ sơ

dự thầu (HSDT) của nhà thầu A có tương đối đầy đủ các thông tin, đặc biệt có giá dự thầu

là thấp nhất và đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật Tuy nhiên, trong đơn dự thầu của nhà thầu Aghi thiếu một dòng được nêu trong Mẫu đơn dự thầu là “Thời gian thực hiện hợp đồng làngày” (chính là thời gian thực hiện tất cả các công việc theo yêu cầu của gói thầu) Nhưvậy, nhà thầu A có vi phạm điều kiện tiên quyết hay không? Việc bên mời thầu chấp nhậnHSDT của nhà thầu A là hợp lệ thì có vi phạm Luật Đấu thầu hay không?

Trả lời:

Câu hỏi của Bạn liên quan tới việc đánh giá HSDT, đặc biệt liên quan tới các yêucầu quan trọng (điều kiện tiên quyết) để loại bỏ HSDT nêu trong hồ sơ mời thầu (HSMT).Tại Nghị định số 85/2009/NĐ-CP và trong mẫu HSMT do Bộ Kế hoạch và Đầu tư(KH&ĐT) ban hành kèm theo Thông tư đều đề cập tới các yêu cầu quan trọng chung chomọi gói thầu (nhóm 1) và mang tính đặc thù cho từng gói thầu (nhóm 2) Theo đó, đơn dựthầu hợp lệ là yêu cầu quan trọng thuộc nhóm 1 Nhưng vấn đề đặt ra là khi nào một đơn

dự thầu được coi là hợp lệ hoặc không hợp lệ, đây sẽ là cơ sở để trả lời câu hỏi vừa nêu ra

Để tiện trao đổi thì ta tham khảo các quy định khá chi tiết về bảo đảm dự thầu trongNghị định số 85/2009/NĐ-CP và trong mẫu HSMT Bảo đảm dự thầu cũng là một yêu cầuquan trọng thuộc nhóm 1 tương tự như đơn dự thầu Theo quy định, trường hợp bảo đảm

dự thầu của nhà thầu chỉ sai sót một chút thôi là không hợp lệ (ví dụ: ghi sai địa chỉ bênmời thầu, có giá trị thấp hơn, không đúng đồng tiền, thời gian có hiệu lực ngắn hơn, khôngđúng tên gói thầu…) Đây là một yêu cầu khắt khe nhưng là sự cần thiết do đấu thầu là mộtcuộc thi dựa trên quy định cứng của pháp luật Đáng tiếc, trong Nghị định số 85/2009/NĐ-

CP và trong mẫu HSMT không quy định chi tiết thế nào là đơn dự thầu không hợp lệ(tương tự như đối với bảo đảm dự thầu) Tuy nhiên, dựa trên các quy định đối với bảo đảm

dự thầu và Mẫu đơn dự thầu (Mẫu số 1) trong HSMT thấy ngay những nội dung dưới đây

là quan trọng đối với đơn dự thầu, cụ thể:

Trang 33

- Tên bên mời thầu.

- Tên nhà thầu

- Tên gói thầu

- Giá dự thầu (loại tiền, trị giá)

- Thời gian thực hiện hợp đồng

- Cam kết thực hiện bảo đảm thực hiện hợp đồng

- Thời gian có hiệu lực của HSDT (kể từ thời điểm đóng thầu)

- Chữ ký của đại diện hợp pháp của nhà thầu và đóng dấu, nếu có

Tám nội dung nêu trên cần được coi là ngang nhau Bởi chỉ cần không đáp ứng 1trong 8 nội dung thì đơn dự thầu làm gì còn đủ pháp lý để gắn trách nhiệm của nhà thầu đốivới HSDT trong quá trình đánh giá và ký kết hợp đồng sau này trong trường hợp nhà thầutrúng thầu

Với phân tích nêu trên và tham chiếu quy định chi tiết về sự không hợp lệ của bảnđảm dự thầu quy định trong Nghị định số 85/2009/NĐ-CP, có thể kết luận rằng đơn dựthầu sẽ được coi là không đáp ứng yêu cầu của HSMT khi rơi vào một trong các trườnghợp sau:

a) Không đáp ứng 1 trong 8 nội dung thuộc Mẫu đơn dự thầu trong HSMT

b) Trong Đơn bỏ sót 1 trong 8 nội dung theo Mẫu đơn dự thầu (Mẫu số 1)

Đơn dự thầu lại không thuộc danh sách tài liệu mà nhà thầu được bổ sung sau khi

mở thầu, trong quá trình đánh giá HSDT vì nó không thuộc nội dung về tư cách hợp lệ, vềnăng lực và về kinh nghiệm của nhà thầu (như quy định tại Điều 29 Nghị định số 85/2009/NĐ-CP) Do vậy, khi đơn dự thầu rơi vào trường hợp a hoặc b nêu trên thì HSDT sẽ làkhông hợp lệ và bị loại, không được đánh giá tiếp (do không đáp ứng yêu cầu quan trọngcủa HSMT) Việc xử lý nghiêm khắc như vậy là sự cần thiết để đảm bảo sự tuân thủ chặtchẽ theo quy định đối với các đối tượng tham gia hoạt động đấu thầu đối với bên mời thầu(khi đánh giá HSDT) cũng như đối với nhà thầu (người nộp HSDT)

Sự việc được hỏi chính là một sơ suất không đáng có của nhà thầu tạm gọi là “sơsuất chết người” không có cách nào cứu vãn Mà cũng không nên “cứu” nhà thầu trongtrường hợp này vì viết đơn dự thầu theo Mẫu còn sai, còn không đầy đủ theo yêu cầu thìlàm sao có thể yên tâm khi giao hợp đồng cho một nhà thầu như vậy để thực hiện

(Báo đấu thầu)

36 Thay đổi tư cách dự thầu

Hỏi: Khi tổ chức đấu thầu mua sắm hàng hóa, ở đơn vị chúng tôi phát sinh tình

huống nhà thầu A mua hồ sơ mời thầu (HSMT) vào ngày 4/4/2011 và đến ngày 5/4/2011nhà thầu A làm công văn xin thay đổi tư cách tham gia dự thầu với tên là nhà thầu B (nhàthầu A và nhà thầu B là hai công ty độc lập, không có ràng buộc với nhau), nhưng tới ngày8/4/2011 mới mang trực tiếp công văn này đến nộp cho Bên mời thầu

Vậy xin hỏi việc thay đổi tư cách pháp nhân như vậy có hợp lệ không? Ở đây chúngtôi hiểu đơn giản là nhà thầu A sau khi nghiên cứu HSMT thấy chưa đủ năng lực nhưng lạikhông muốn liên danh nên nhường lại HSMT cho nhà thầu B nhằm tiết kiệm chi phí

Bên cạnh đó, các văn bản trong hồ sơ dự thầu (HSDT) do nhà thầu B lập đều kýngày 5/4/2011 trong khi Bên mời thầu chấp nhận thay đổi tư cách tham dự thầu của nhàthầu A vào ngày 8/4/2011 (khi nhận được đơn đề nghị thay đổi của nhà thầu A) Vậy các

Trang 34

văn bản của nhà thầu B ghi ngày tháng như vậy có được coi là hợp lệ và có được chấp nhận?

Trả lời:

Việc thay đổi tư cách (tên) tham gia đấu thầu liên quan tới tình huống mà Bạn nêuđược quy định tại Điều 17 và Điều 28 Nghị định 85/2009/NĐ-CP Theo đó, có thể chia rahai trường hợp (đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế) để quy định cách xử lý phù hợp.Nội dung quy định trong Nghị định 85/2009/NĐ-CP về thay đổi tư cách tham gia đấu thầucũng được nhắc lại trong các Mẫu HSMT (ban hành kèm theo các Thông tư của Bộ Kếhoạch và Đầu tư)

Theo quy định nêu trên thì trong cuộc thầu (đấu thầu rộng rãi hoặc hạn chế) mà nhàthầu muốn thay đổi tư cách (tên) tham gia đấu thầu thì phải có văn bản gửi đến bên mờithầu và đảm bảo để bên mời thầu nhận được trước thời điểm đóng thầu (đối với đấu thầurộng rãi) hoặc để bên mời thầu nhận được trước thời điểm đóng thầu một số ngày theo quyđịnh trong HSMT (đối với đấu thầu hạn chế) Do không có giải thích chi tiết nên việc thayđổi tư cách (tên) tham gia đấu thầu có thể là như sau:

- Khi mua tên là A nay thay đổi là B

- Khi mua tên là A nay thay đổi là A + B

- Khi mua tên là A + B nay thay đổi là A hoặc B

Trong tình huống của Bạn thì Bên mời thầu có văn bản chấp thuận sự thay đổi tưcách dự thầu (ngày 8/4/2011), nghĩa là cuộc đấu thầu được thực hiện theo hình thức đấuthầu hạn chế bởi vì nếu là đấu thầu rộng rãi thì Bên mời thầu không cần trả lời Và cũng dovậy hiểu rằng vào ngày 8/4/2011 (chưa phải là ngày đóng thầu) Bên mời thầu đã chấp nhậncho nhà thầu B tham gia đấu thầu thay cho nhà thầu A Việc nhà thầu B lập HSDT ghingày 5/4/2011 có thể hiểu rằng nhà thầu chuẩn bị trước để khi được Bên mời thầu chấpnhận thì nộp Việc này là quyền của nhà thầu và không ảnh hưởng gì tới tính pháp lý củaHSDT Khi HSMT được phát hành thì nó là tài liệu, không còn là bí mật, do vậy nhà thầu

B dễ dàng có được nội dung HSMT để chuẩn bị trước nên việc ký đơn dự thầu vào ngày5/4/2011 thì không có gì là vi phạm và khó hiểu Sự việc thì đơn giản nhưng nếu nhà thầutinh ý, tế nhị một chút trong việc ghi thời gian thì hay hơn

Có thể trong trường hợp này nhà thầu A nhường lại HSMT cho nhà thầu B thì đâycũng là một hành vi chấp nhận được bởi vì nếu nhà thầu A không có đủ năng lực tham gia,

đã bỏ tiền mua HSMT mà không dùng đến thì lại là một sự lãng phí Giá bán HSMT đượcquy định trong Nghị định 85/2009/NĐ-CP cần được hiểu là chi phí để chụp (photo copy)HSMT nên nhà thầu phải gánh chịu chi phí này Trường hợp nhà thầu B không sử dụngHSMT mà nhà thầu A nhượng lại thì nhà thầu B phải tới Bên mời thầu để mua HSMT mà

về mặt tổng thể là tốn một khoản chi phí không cần thiết cho xã hội

Tóm lại, tình huống mà Bạn nêu là hoàn toàn chấp nhận được theo các quy định vềđấu thầu

(Báo đấu thầu)

37 Phạm vi trọn gói của hợp đồng.

Hợp đồng trọn gói là loại hợp đồng cơ bản theo quy định của pháp luật về đấu thầu.Đối với các gói thầu quy mô nhỏ nhưng quá trình thực hiện có nhiều thay đổi thì có đượcphép áp dụng loại hợp đồng khác hợp đồng trọn gói không? Khi áp dụng hợp đồng trọn góithì việc bổ sung thêm phạm vi cung cấp đã ký kết có vi phạm nguyên tắc của hợp đồng trọngói không?

Trang 35

Hỏi: Bên mời thầu là bệnh viện X tổ chức đấu thầu rộng rãi gói thầu mua thuốc theo

quy định của pháp luật về đấu thầu đã lựa chọn được nhà thầu trúng thầu A

Căn cứ nội dung kế hoạch lựa chọn nhà thầu, hồ sơ mời thầu, biên bản thương thảohợp đồng, loại hợp đồng áp dụng là trọn gói Bệnh viện X và nhà thầu A đã ký kết hợpđồng trọn gói gói thầu cung cấp thuốc với giá trị 9,5 tỷ đồng

Tuy nhiên, căn cứ diễn biến của tình hình dịch bệnh và số lượng bệnh nhân đếnkhám, điều trị, lượng thuốc mà bệnh viện X cần nhà thầu A cung cấp có sự thay đổi so vớihợp đồng đã ký kết

Trong trường hợp này, nếu bệnh viện X và nhà thầu A điều chỉnh phạm vi cung cấpcủa hợp đồng trọn gói đã ký kết thì có bị coi là vi phạm quy định của pháp luật đấu thầukhông? Trường hợp không được điều chỉnh thì bệnh viện X có được áp dụng loại hợp đồngtheo đơn giá đối với gói thầu mua thuốc quy mô nhỏ hay không?

Trả lời: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 62 Luật Đấu thầu 2013, hợp đồng trọn gói

là hợp đồng có giá cố định trong suốt thời gian thực hiện đối với toàn bộ nội dung côngviệc trong hợp đồng Việc thanh toán đối với hợp đồng trọn gói được thực hiện nhiều lầntrong quá trình thực hiện hoặc thanh toán một lần khi hoàn thành hợp đồng Tổng số tiền

mà nhà thầu được thanh toán cho đến khi hoàn thành các nghĩa vụ theo hợp đồng bằngđúng giá ghi trong hợp đồng Đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấnđơn giản; gói thầu mua sắng hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có quy mô nhỏ phải áp dụng hợpđồng trọn gói Trong đó, hạn mức gói thầu mua sắm hàng hóa quy mô nhỏ được định nghĩatại Điều 63 Nghị định 63/CP là không quá 10 tỷ đồng

Với quy định nêu trên thì bệnh viện X phải áp dụng hợp đồng trọn gói cho gói thầumua thuốc (gói thầu mua sắm hàng hóa) với giá trị không quá 10 tỷ đồng mà không được

áp dụng loại hợp đồng theo đơn giá cố định hoặc theo đơn giá điều chỉnh

Vấn đề thứ hai mà bệnh viện X quan tâm là việc điều chỉnh hợp đồng trọn gói đã kýkết Đối với nội dung đang đề cập, một số đơn vị chưa hiểu đúng về phạm vi trọn gói củahợp đồng này Theo đó, tính chất trọn gói phải được hiểu là áp dụng đối với toàn bộ hạngmục nêu trong hợp đồng đã ký kết Trong trường hợp này, thuật ngữ trọn gói là trọn gói đốivới khối lượng, phạm vi rất cụ thể ghi trong hợp đồng, phù hợp với phạm vi mời thầu và dựthầu Đối với hợp đồng giữa bệnh viện X và nhà thầu A, trọn gói không đồng nghĩa vớiviệc nhà thầu vẫn được thanh toán toàn bộ giá trị hợp đồng ngay cả khi số lượng thuốccung cấp trên thực tế ít hơn so với số lượng đã ghi trong hợp đồng; tương tự, điều này cũngkhông có nghĩa là nếu bệnh viện X cần lượng thuốc nhiều hơn số lượng đã thoả thuận tronghợp đồng thì nhà thầu A vẫn phải cung cấp số thuốc phát sinh đó mà vẫn chỉ được thanhtoán theo giá hợp đồng ban đầu Một ví dụ minh họa rất đơn giản là: Bệnh viện X dự tínhcần 1.000.000 viên thuốc B trong quý I và II năm 2016, nhưng do bệnh nhân đến khám vàđiều trị tăng đột biến nên trên thực tế cần đến 1.500.000 viên Trong trường hợp này, bệnhviện X không thể căn cứ tính chất trọn gói của hợp đồng để yêu cầu nhà thầu A cung cấpthêm 500.000 viên thuốc vì phạm vi trọn gói là chỉ trọn gói với 1.000.000 viên

Tóm lại, hợp đồng trọn gói là loại hợp đồng cơ bản theo quy định pháp luật đấu thầuhiện nay Tuy nhiên, phạm vi trọn gói được hiểu là trọn gói đối với khối lượng mời thầu,

dự thầu, ký kết hợp đồng Trường hợp thay đổi khối lượng công việc, phạm vi cung cấp đãnêu trong hợp đồng, chủ đầu tư và nhà thầu cần điều chỉnh theo quy định tại Khoản 3 Điều

93 Nghị định 63/CP Ngoài ra, đối với một số hợp đồng mua sắm hàng hóa, xây lắp quy mô

Trang 36

hàng hóa, khối lượng công việc có thể vẩn phải điều chỉnh như trường hợp của bệnh viện Xthì nên áp dụng điều kiện thanh toán theo tiến độ cung cấp cho phù hợp với tình hình sửdụng thực tế.

(Từ nguồn tin Báo Đấu thầu- Bộ Kế hoạch và Đầu tư số 31 ngày 22/02/2016)

38 Sai khác trong hồ sơ dự thầu

Hỏi: Tôi có một tình huống xảy ra khi đánh giá hồ sơ dự thầu (HSDT), mong được

giải đáp, cụ thể như sau: Trong hồ sơ mời thầu (HSMT) yêu cầu tiến độ thực hiện hợp đồngkhông quá 10 tháng bao gồm cả ngày nghỉ (Thứ 7, Chủ nhật) Trong đơn dự thầu, tiến độthực hiện hợp đồng của nhà thầu là 270 ngày Trong bảng tiến độ thi công chi tiết (lập bằng

MS Project): Cột tổng thời gian của nhà thầu cũng thể hiện là 270 ngày Tuy nhiên, trongHSDT lại ghi ngày khởi công là 4/9/2012 và ngày kết thúc thi công là 16/9/2013 Vậy xinđược hỏi:

1 Có thể yêu cầu nhà thầu làm rõ để nhà thầu có thể thay đổi ngày khởi công, ngàykết thúc phù hợp với bảng tiến độ được không?

2 Tổng thời gian thực hiện hợp đồng của nhà thầu phải lấy dựa trên số liệu là ngàykết thúc - ngày khởi công = 377 ngày Nếu vậy thì nhà thầu không đạt tiêu chuẩn về tiến độtheo tiêu chuẩn đánh giá chi tiết về mặt kỹ thuật Xin hỏi cách đánh giá như vậy có đúngkhông?

Trả lời: Tình huống vừa nêu ra cũng khá phổ biến ở nhiều gói thầu Chất lượng

HSDT luôn là vấn đề đau đầu cho những người chấm thầu Trong một vài trường hợp, căn

cứ vào HSMT, bên mời thầu phải loại bỏ nhà thầu vì những lý do không đáng có, nhưngloại rồi mà thấy tiếc vì đó là Nhà thầu tiềm năng Tuy nhiên, việc đánh giá HSDT để loại

bỏ HSDT không hợp lệ, không đáp ứng các yêu cầu của HSMT, để lựa chọn Nhà thầutrúng thầu vẫn phải thực hiện theo những quy định, thủ tục cứng nhắc của Luật, Nghị định

và trong HSMT, cụ thể:

1 Về đánh giá HSDT: Theo quy định trong Luật Đấu thầu, việc đánh giá HSDTphải căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá (TCĐG) và các yêu cầu khác của HSMT cũng như căn

cứ vào các giải thích, làm rõ HSDT của nhà thầu khi được yêu cầu

Việc giải thích, làm rõ HSDT của nhà thầu được quy định như sau:

- Tại Điều 36 Luật Đấu thầu quy định:

Việc làm rõ HSDT không được làm thay đổi nội dung cơ bản và không thay đổi giá

dự thầu, được thực hiện dưới hình thức trao đổi trực tiếp hoặc gián tiếp

- Tại Điều 29 Nghị định 85/NĐ-CP bổ sung quy định:

Trong quá trình đánh giá HSDT, nhà thầu được bổ sung tài liệu để chứng minh tưcách hợp lệ, năng lực và kinh nghiệm với điều kiện không làm thay đổi nội dung cơ bảncủa HSDT đã nộp, không thay đổi giá dự thầu

- Tại Điều 70 Nghị định 85/NĐ-CP đề cập tới việc xử lý tình huống trong đấu thầuquy định:

Khi trong HSDT có đơn giá khác thường gây bất lợi cho Chủ đầu tư thì bên mờithầu yêu cầu nhà thầu làm rõ bằng văn bản (Khoản 5)

Những nội dung đề cập nêu trên là cơ sở để tiến hành xem xét, xử lý tình huốngnày

2 Về cách xử lý tình huống: Theo thông tin đã cung cấp thì trong HSDT của nhàthầu tại bảng “Tiến độ thi công chi tiết” ghi thời gian thực hiện hợp đồng là 270 ngày, còn

Trang 37

trong phần nào đó của HSDT lại ghi từ 4/9/2012 (ngày khởi công) đến 16/9/2013 (ngày kết thúc) tính ra sẽ là 377 ngày.

Câu hỏi của bạn đặt ra là đánh giá như thế nào là đúng? Cần thiết yêu cầu nhà thầugiải thích, làm rõ HSDT không?

Bạn cần hiểu rằng khi yêu cầu nhà thầu giải thích, làm rõ HSDT là chỉ đối với nộidung mà bên mời thầu/tổ chuyên gia đấu thầu thấy tự mình không hiểu được nội dung trìnhbày trong HSDT hoặc nội dung nêu ra trong HSDT là quá chung chung không cụ thể, chưathật rõ mà không thể suy luận hoặc có thể hiểu sai Còn trường hợp ngược lại thì bên mờithầu/tổ chuyên gia đấu thầu có trách nhiệm đánh giá HSDT đã có theo quy định Trongđánh giá HSDT có hai nội dung liên quan tới tình huống của bạn là việc sửa lỗi và hiệuchỉnh sai lệch được quy định chi tiết tại Điều 30 của Nghị định 85/NĐ-CP (trong MẫuHSMT đều nhắc lại nội dung này) Theo đó, có quy định:

- “Trường hợp không nhất quán giữa bảng giá tổng hợp và bảng giá chi tiết thì lấybảng giá chi tiết làm cơ sở”

- “Trường hợp có sự khác biệt giữa nội dung “Đề xuất kỹ thuật” và nội dung “Đềxuất tài chính” thì nội dung thuộc Đề xuất kỹ thuật sẽ là cơ sở pháp lý cho việc sửa lỗi”

Qua quy định nêu trên thì nguyên tắc xử lý các khác biệt (không nhất quán) trongHSDT là lấy nội dung chi tiết, nội dung có tính cơ sở làm căn cứ pháp lý

Trở lại tình huống của bạn thấy rằng cơ sở hình thành tiến độ 270 ngày trong “Tiến

độ thi công chi tiết” có căn cứ hơn so với chỗ nào đó trong HSDT ghi là từ ngày này tớingày này Dễ dàng tìm ra cơ sở của con số 270 ngày để khẳng định tính chính xác của con

số này Khi đã rõ như vậy thì không cần thiết yêu cầu nhà thầu đến giải thích, làm rõ nữa

mà chỉ cần tiến hành sửa lỗi Vả lại, ngày khởi công mà nhà thầu đưa ra làm gì có căn cứ,

nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt phụ thuộc vào khi nào hợp đồng được ký, khi nàohợp đồng có hiệu lực và khi nào chủ đầu tư bàn giao mặt bằng để cho phép khởi công Dovậy, con số 377 ngày là không đủ tin cậy so với 270 ngày

Sự mâu thuẫn trong HSDT thuộc tình huống này chỉ cần tiến hành xử lý theo quyđịnh mà không cần yêu cầu nhà thầu giải thích, làm rõ Trừ khi đối với những số liệu làkhông thực tế, có mâu thuẫn khó hiểu thì mới mời nhà thầu vào giải thích, làm rõ để từ đóxác định con số nào có đủ căn cứ (270 ngày hay 377 ngày) Thông qua sự giải thích, làm rõHSDT sẽ có căn cứ để kết luận nhà thầu có vi phạm điều kiện tiên quyết (nếu tiến độ làmột trong những điều kiện tiên quyết của HSMT) hoặc được chấp nhận để đánh giá tiếp

Sau khi sửa lỗi căn cứ theo các quy định nêu trên, bên mời thầu còn phải thực hiệnquy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 30 của Nghị định 85/NĐ-CP và được quy định trongHSMT là: “Thông báo bằng văn bản cho nhà thầu Nhà thầu phải có văn bản thông báo chobên mời thầu về việc chấp nhận sửa lỗi nêu trên Nếu nhà thầu không chấp nhận việc sửalỗi thì HSDT của nhà thầu đó sẽ bị loại” Như vậy, nếu nhà thầu chấp nhận việc sửa lỗi nêutrên thì 270 ngày sẽ là căn cứ để bên mời thầu/tổ chuyên gia đấu thầu đánh giá HSDT củanhà thầu này

Tình huống này có một nội dung cần bàn luận thêm về thời gian thi công yêu cầutrong HSMT Trong HSMT của trường hợp này yêu cầu thời gian thi công 10 tháng nghĩa

là tương ứng bao nhiêu ngày? Trong một số trường hợp khi một ngày thi công là có giá trị

về mặt kinh tế, chậm hoặc sớm một ngày sẽ dẫn đến gây thiệt hại hoặc làm lợi cho chủ đầu

tư với giá trị lớn thì thời gian thi công quy định theo ngày hoặc tháng trở thành một vấn đề

Trang 38

bạn yêu cầu thời gian thi công 10 tháng tức là 30 ngày x 10 ngày = 300 ngày Nhưng trong

10 tháng có trường hợp có tháng chỉ có 28 hoặc 29 ngày Do vậy, thời gian thực hiện hợpđồng trong HSMT nên yêu cầu là số ngày hoặc số tuần (1 tuần có 7 ngày) như thông lệ sẽthuận tiện cho nhà thầu và cho cả chủ đầu tư

TS Nguyễn Việt Hùng (Nguồn Báo đấu thầu)

39 Về chuyển nhượng công việc trong thực hiện hợp đồng giữa các thành viên liên danh

Công ty A và Công ty B cùng tham gia đấu thầu gói thầu xây lắp C với tư cách lànhà thầu liên danh A-B Trong hồ sơ dự thầu (HSDT), thỏa thuận liên danh A-B có nêu:Công ty A đảm nhận giá trị tương đương 80% khối lượng công việc, Công ty B đảm nhậngiá trị tương đương 20% khối lượng công việc Đồng thời, thỏa thuận liên danh A-B cũngghi rõ: “nếu một trong hai công ty khi gặp khó khăn hoặc điều kiện bất lợi sẽ tự nguyệncùng hỗ trợ nhau để hoàn thành công trình đúng tiến độ, chất lượng trước chủ đầu tư”

Sau khi trúng thầu, Công ty B có điều kiện thuận lợi hơn: máy móc, thiết bị, côngnhân tại chỗ gần ngay địa bàn xây dựng công trình; tiền vốn, con người, thiết bị được đầu

tư mạnh hơn đủ điều kiện thực hiện toàn bộ gói thầu C (Công ty A ở xa nên chi phí đi lại,vận chuyển máy móc, thiết bị công nhân tốn kém) đã có giấy ủy quyền thi công toàn bộkhối lượng gói thầu C cho Công ty B (chỉ trợ giúp thêm cho Công ty B về cán bộ kỹ thuật)được chủ đầu tư chấp thuận và trên thực tế, Công ty B đã thực hiện toàn bộ gói thầu đảmbảo tiến độ, chất lượng, đã nghiệm thu bàn giao và đưa vào sử dụng

Hỏi: Việc làm nêu trên có vi phạm pháp luật về đấu thầu không?

Trả lời: Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời

thầu (thông qua hồ sơ mời thầu - HSMT) với sự tham gia của các nhà thầu Theo Điều 64Luật Đấu thầu thì nhà thầu có quyền tham gia đấu thầu với tư cách là nhà thầu độc lập hoặcnhà thầu liên danh Nhà thầu liên danh thường được áp dụng khi một trong các thành viênliên danh nếu tham gia với tư cách độc lập có thể không đáp ứng được yêu cầu của HSMThoặc bất lợi Do vậy, các bên liên danh với nhau tham gia đấu thầu nhằm đáp ứng được cácyêu cầu của HSMT

Tại điểm a, khoản 2 mục 12 Mẫu HSMT xây lắp ban hành kèm theo Thông tư số

01/2010/TT-BKH ngày 6/1/2010 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư có quy định: "Năng lực và kinh nghiệm của nhà thầu liên danh là tổng năng lực và kinh nghiệm của các thành viên trên cơ sở phạm vi công việc mà mỗi thành viên đảm nhận, trong đó từng thành viên phải chứng minh năng lực và kinh nghiệm của mình là đáp ứng yêu cầu của HSMT cho phần việc được phân công thực hiện trong liên danh”.

Việc đánh giá HSDT phải căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá HSDT và các yêu cầukhác nêu trong HSMT để đảm bảo lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực, kinh nghiệm, cógiải pháp khả thi để thực hiện gói thầu

Việc liên danh nhà thầu A-B trúng thầu chứng tỏ tổng năng lực, kinh nghiệm củanhà thầu này đáp ứng được yêu cầu của HSMT đối với gói thầu C (trong đó Công ty A đảmnhận 80% khối lượng công việc, Công ty B đảm nhận 20% khối lượng công việc thì phầnnăng lực, kinh nghiệm của Công ty A và Công ty B cũng đáp ứng được yêu cầu tương ứngvới tỷ lệ khối lượng công việc đã phân giao trong thỏa thuận liên danh)

Tại khoản 2 Điều 10 Luật Đấu thầu quy định: “Trường hợp liên danh phải có văn bản thỏa thuận giữa các thành viên, trong đó quy định rõ người đứng đầu của liên danh,

Trang 39

trách nhiệm chung và trách nhiệm riêng của từng thành viên đối với công việc thuộc gói thầu”.

Trở lại tình huống nêu trên của Bạn, liên danh A-B ngoài thỏa thuận liên danh trongHSDT còn có thỏa thuận riêng của mình, với nội dung Công ty A (đảm trách 80% côngviệc của gói thầu) “ủy quyền” cho Công ty B (đảm trách 20% công việc của gói thầu) thicông toàn bộ phần công việc của gói thầu Đây là việc làm vi phạm pháp luật về đấu thầu

và cần được lên án mạnh mẽ Trong pháp luật về đấu thầu hiện hành không có khái niệm

“ủy quyền thi công” Hành vi trên của nhà thầu liên danh A-B liên quan đến việc chuyểnnhượng công việc sau khi trúng thầu được quy định trong Luật Đấu thầu và Nghị định85/2009/NĐ-CP Cụ thể, theo khoản 14 Điều 12 Luật Đấu thầu thì việc nhà thầu “cho nhàthầu khác sử dụng tư cách của mình để tham gia đấu thầu hoặc chuyển nhượng cho nhàthầu khác thực hiện hợp đồng sau khi trúng thầu” là một trong những hành vi bị cấm trongđấu thầu

Tiếp đó, tại điểm b khoản 2 Điều 65 Nghị định 85/2009/NĐ-CP quy định, việc cấmtham gia hoạt động đấu thầu từ 1 năm đến 3 năm được áp dụng đối với các hành vi sau đây:(1) Nhà thầu cho nhà thầu khác sử dụng tên, chữ ký, con dấu của mình; nhà thầu sử dụngtên, chữ ký, con dấu của nhà thầu khác để tạo thành một liên danh tham gia đấu thầu, saukhi trúng thầu thì không thực hiện theo văn bản thỏa thuận liên danh; trừ trường hợp hợpđồng có quy định khác; (2) Nhà thầu chuyển nhượng cho nhà thầu khác trên 10% giá trịphải thực hiện (sau khi trừ phần công việc thuộc trách nhiệm của nhà thầu phụ) nêu tronghợp đồng đã ký

Như vậy, theo Thỏa thuận liên danh, Công ty A phải thực hiện 80% khối lượng côngviệc, thế nhưng Công ty A lại “ủy quyền” (chuyển nhượng) thi công cho Công ty B thựchiện toàn bộ công việc của mình (100% công việc) chứ không phải chuyển nhượng 10%giá trị phải thực hiện như quy định ở Nghị định 85/2009/NĐ-CP nêu trên

Để xử phạt hành vi chuyển nhượng hợp đồng, ngoài hình thức cấm tham gia hoạtđộng đấu thầu trong một thời gian theo quy định trong Nghị định 85/2009/NĐ-CP, tại điểm

d khoản 3 Điều 17 Nghị định 53/2007/NĐ-CP ngày 4/4/2007 của Chính phủ quy định xửphạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư thì nhà thầu có hành vi nêu trên

sẽ bị phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng Đồng thời, kết quả xử lý mọi viphạm pháp luật đấu thầu còn bị đăng tải trên tờ báo đấu thầu và trang thông tin điện tử vềđấu thầu theo quy định tại điểm d khoản 4 Điều 17 Nghị định 53/2007/NĐ-CP Theo Điều

75 Luật Đấu thầu thì hình thức cảnh cáo áp dụng đối với việc “nhà thầu đã ký hợp đồng nhưng cố tình không thực hiện một phần hay toàn bộ hợp đồng” Theo điểm d khoản 1

Điều 63 Nghị định 85/2009/NĐ-CP, một nhà thầu bị cấm tham gia hoạt động đấu thầu ởbất kỳ gói thầu nào thì sẽ bị cấm tham gia hoạt động đấu thầu trên phạm vi toàn quốc

Ngoài ra, trong sự việc nêu trên, không thể không nói đến vai trò trách nhiệm củachủ đầu tư Việc chủ đầu tư chấp thuận cho Công ty A “ủy quyền” (chuyển nhượng) choCông ty B thi công toàn bộ phần công việc của Công ty A cũng là hành vi vi phạm phápluật về đấu thầu Tại điểm b khoản 2 Điều 65 Nghị định 85/2009/NĐ-CP quy định, việccấm tham gia hoạt động đấu thầu từ 1 năm đến 3 năm áp dụng đối với hành vi “Chủ đầu tư,

tư vấn giám sát chấp thuận để nhà thầu chuyển nhượng công việc thuộc trách nhiệm thựchiện của nhà thầu, trừ phần công việc thuộc trách nhiệm của nhà thầu phụ đã kê khai tronghợp đồng”

Trang 40

Rõ ràng rằng, trong tình huống nêu trên có vẻ như các nhà thầu và kể cả chủ đầu tưđều chưa “thấm nhuần” các quy định về đấu thầu, cũng có thể do sự thiếu hiểu biết hoặc cốtình.

Hy vọng rằng, việc thanh tra, kiểm tra nói chung và thanh tra, kiểm tra các dự án đầu

tư xây dựng nói riêng cần được tăng cường để những hành vi vi phạm pháp luật về đấuthầu tương tự như trên sớm bị phát hiện và xử lý kịp thời để Luật Đấu thầu thực sự đi vàocuộc sống

TS Nguyễn Việt Hùng (Nguồn Báo đấu thầu)

40 Thời gian có hiệu lực của HSDT

Hỏi: Chúng tôi có một tình huống sau: Trong hồ sơ mời thầu (HSMT) quy định thờigian có hiệu lực của hồ sơ dự thầu (HSDT) tối thiểu là 60 ngày kể từ thời điểm đóng thầu.Thời điểm đóng thầu theo quy định trong HSMT là 10 giờ ngày 1/11/2011 Có một HSDTcủa nhà thầu ghi thời gian có hiệu lực của HSDT là 60 ngày kể từ lúc 10 giờ 30 ngày1/11/2011 (thời điểm mở thầu) đến 10 giờ ngày 1/1/2012 Như vậy, HSDT của nhà thầunày vẫn đảm bảo thời gian hiệu lực theo quy định của HSMT là 60 ngày do tháng 12 có 31ngày Trong trường hợp này có ý kiến của bộ phận thẩm định là HSDT này không bảo đảmyêu cầu về thời gian có hiệu lực không đáp ứng yêu cầu về thời điểm có hiệu lực củaHSDT nên yêu cầu cần loại hồ sơ Ý kiến của bộ phận thẩm định như vậy là đúng hay sai?Trong trường hợp này, phải xử lý thế nào cho chuẩn mực?

Trả lời: Theo Điều 4 Khoản 24 Luật Đấu thầu quy định HSMT là căn cứ pháp lý đểbên mời thầu đánh giá HSDT nhằm lựa chọn nhà thầu trúng thầu Ngoài quy định trongLuật Đấu thầu, Nghị định 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ (NĐ85), trongmẫu HSMT do Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) ban hành kèm theo thông tư nội dungthời gian có hiệu lực của HSDT được đề cập ở nhiều chỗ:

* Tại mẫu số 1: Về Đơn dự thầu:

Yêu cầu nhà thầu phải ghi rõ trong Đơn dự thầu là “Hiệu lực HSDT trong thờigian…ngày, kể từ…giờ, ngày…tháng…năm (ghi thời điểm đóng thầu)”

Như vậy, trong HSMT quy định thời gian có hiệu lực của HSDT là số ngày yêu cầutính từ thời điểm đóng thầu

* Trong Chương I Yêu cầu về thủ tục đấu thầu

Trong HSMT dành một mục để nói về thời gian có hiệu lực của HSDT Theo đó,quy định: Thời gian có hiệu lực của HSDT được tính từ thời điểm đóng thầu và phải đảmbảo như quy định trong Bảng dữ liệu đấu thầu (BDL) HSDT có thời gian hiệu lực ngắnhơn so với quy định trong BDL là không hợp lệ và bị loại

* Trong Chương II Bảng dữ liệu đấu thầu (BDL)

Tại Chương này thuộc HSMT ghi rõ:

“Thời gian có hiệu lực của HSDT là…ngày kể từ thời điểm đóng thầu”

Đồng thời cũng tại nội dung này, còn có ví dụ cụ thể minh họa cách tính số ngàytheo quy định trong NĐ85 (Điều 2) Theo đó, ngày đầu tiên được tính từ thời điểm đóngthầu tới giờ 24 của ngày đóng thầu, nghĩa là chưa đủ 24 giờ cho ngày đầu tiên

Qua các quy định và phân tích trên thấy rằng thời gian có hiệu lực của HSDT cầnđảm bảo hai yếu tố:

1 Thời điểm bắt đầu có hiệu lực

2 Quãng thời gian có hiệu lực (số ngày)

Ngày đăng: 18/10/2017, 16:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w