Phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo, mê tín dị đoan; tác hại của mê tín dị đoan.Sự tương đồng, liên quan: - Tín ngưỡng, tôn giáo và mê tín dị đoan đều dựa trên một nền tảng chung là niềm tin
Trang 11 Phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo, mê tín dị đoan; tác hại của mê tín dị đoan.
Sự tương đồng, liên quan:
- Tín ngưỡng, tôn giáo và mê tín dị đoan đều dựa trên một nền tảng chung là niềm tin vào các thế lực siêu nhiên, sức mạnh huyền bí nào đó; đều nhận thức tự nhiên và xã hội thông qua lăng kính hư ảo, hoang đường
- Tín ngưỡng, tôn giáo và mê tín dị đoan có mối liên hệ, có sự đan xen, pha trộn trong quá trình tồn tại, phát triển:
+ Tín ngưỡng là nguồn gốc ban đầu của tôn giáo Tôn giáo bao giờ cũng dựa trên một tín ngưỡng nhất định
+ Mê tín, dị đoan có nguồn gốc từ các tín ngưỡng, tôn giáo cổ Các tín ngưỡng, tôn giáo thường sử dụng yếu tố mê tín, dị đoan để lôi cuốn tín đồ
Sự khác biệt:
- Giữa tín ngưỡng và tôn giáo:
+ Về sự phát triển quan niệm liên quan đến thế giới thần bí: quan niệm về thế giới thần bí ở tín ngưỡng có phần đơn giản, sơ khai hơn Thế giới thần bí trong tôn giáo được mô tả bởi các biểu tượng như: trời, phật, chúa, thần, thánh… có tổ chức, hệ thống
+ Về thời điểm hình thành: tín ngưỡng hình thành ngay từ xã hội nguyên thủy còn tôn giáo chỉ xuất hiện khi loài người đã phân chia giai cấp, xã hội đủ điều kiện vật chất để có lớp người thoát li sản xuất, làm nghề tôn giáo
+ Về cơ cấu tổ chức: tín ngưỡng hình thành tự phát không có tính tổ chức chặt chẽ Tôn giáo có hệ thống giáo luật, giáo lí, giáo lễ, trụ sở, hệ thống chức sắc, nhà tu hành, trường đào tạo nhà tu hành, tín đồ
- Giữa tín ngưỡng, tôn giáo và mê tín dị đoan:
+ Niềm tin vào thế giới thần bí trong tín ngưỡng, tôn giáo chủ yếu là nhu cầu tinh thần của con người còn niềm tin trong mê tín, dị đoan là mê muội, cuồng tín, nhảm nhí, tiêu cực
+ Người hành nghề mê tín dị đoan hướng tới lợi ích vật chất chứ không phải
vì niềm tin như các nhà tu hành trong các tôn giáo
Trong thực tế, tín ngưỡng, tôn giáo và mê tín dị đoan tồn tại đan xen Tín ngưỡng, tôn giáo nếu nhấn mạnh quá mức yếu tố sức mạnh siêu nhiên thành siêu phàm, huyền bí thì thường dẫn đến mê tín dị đoan
Tác hại của mê tín dị đoan:
- Mê tí dị đoan làm thay đổi thế giới quan của con người dẫn đến nhận thức lệch lạc
về tự nhiên, xã hội
- Mê tí dị đoan làm cho con người cảm thấy bế tắc, mất lòng tin ở sức mạnh làm chủ của cộng đồng và của bản thân
- Mê tí dị đoan uy hiếp sinh mạng; chia rẽ tình duyên, tình bạn, tình ruột thịt; tổn hại đến tài sản, của cải; làm suy yếu ý chí phấn đấu làm chủ bản thân; ảnh hưởng đến an ninh chính trị trật tự xã hội, của tập thể, của gia đình và của mỗi người
- Mê tín dị đoan có thể dẫn đến phạm pháp
Trang 22 Quan niệm của Phật giáo về con người
Đạo Phật có tình thương bao la với con người, hướng tới sự bình đẳng giữa chúng sinh; đức Phật không bị thần thánh hóa, không xa lạ; tín đồ tìm thấy ở người
sự khoan dung, không có sự trừng phạt đối với những người không tin tưởng, không theo Phật
- Đức Phật coi chúng sinh là những đức Phật sẽ thành, vạn vật đều có “Phật tính” đã mang lại cho tín đồ lòng tin về con đường hướng tới niết bàn Song, điểm quan trọng này lại trở nên mâu thuẫn, vì con đường cứu vớt nhân loại bằng “tu nhân tích đức” không thể giải quyết những vấn đề nảy sinh trong xã hội có đối lập gay gắt
về lợi ích
- Trong đạo Phật, vai trò con người với xã hội và với thế giới khách quan bị phủ nhận vì chúng sinh chỉ là một thế giới các cảm giác; cách giải thích “hữu hình” là sự không ổn định, không có cái nào từ cái khác sinh ra… đã làm cho tín đồ xa rời chức phận xã hội, dễ nảy sinh tâm trạng bi quan, yếu thế trước cuộc sống “Cái tôi hư ảo” của đạo Phật không đem lại niềm tin trần thế, mà mang lại tâm lý “thoát tục”, tín đồ thường lấy của Phật làm nơi nương náu, chạy trốn thực tại Triết lý về tính chất tạm
bợ của cuộc sống nhân sinh làm tín đồ xa lánh cuộc đời, thu mình “mũ ni che tai” trước bất công
Xét theo giáo lý, lịch sử phát triển và vai trò của đạo Phật trong các quốc gia châu Á cũng như trên thế giới, có thể nói rằng đạo Phật là tôn giáo giàu tình yêu thương và yêu chuộng hòa bình Với lý thưởng nhân văn, bác ái và do ít có tham vọng giữ vị trí “thần quyền” trong xã hội nên đạo Phật dễ gắn bó với quần chúng, có thái độ tích cực cho sự đấu tranh cho sự bình đẳng, sự giải phóng con người và rất tự giác trong giáo hóa quần chúng Chùa chiền của đạo Phật tỏa rộng trong các quốc gia theo đạo Phật trở thành trung tâm văn hóa, là nơi dân chúng địa phương ngoài việc hành lễ còn có thể học hỏi kinh nghiệm canh tác, được các nhà sư giúp chữa bệnh, dạy học chữ, thậm chí là nơi gửi gắm tâm sự riêng tư của tín đồ Điều đó chứng minh bên mặt bản chất tôn giáo, đạo Phật là tôn giáo giàu tình người, gần quần chúng lao động và trên một số mặt nào đó, có ý nghĩa tích cực nhất định
3 Nội dung giáo lí đạo Hồi
a Tin vào kinh Koran
- Bộ kinh Koran được chia làm 30 phần, 114 chương, là nơi chứa đựng giáo lí cơ bản của đạo Hồi
- Theo quan niệm đạo Hồi, kinh Koran là những lời giáo huấn của Thượng đế cho loài người mà mô Môhamet đã nhận được qua thiên thần Gabrien trong vòng 22 năm Thực chất đó là những lời giao giảng của Môhamet cho các tín đồ trong quá trình truyền giáo, sau này được sưu tầm và biên soạn lại thành văn bản và lưu truyền
Trang 3lại tới ngày nay.
- Kinh Koran được coi là thiêng liêng, được coi là “cuốn sách vĩ đại nhất, thông thái nhất”, là cuốn sách “vạn năng” của người Hồi giáo mà trong đó có đầy đủ mọi “chân lý, tri thức” của loài người
- Kinh Koran phản ánh thế giới quan và quan niệm rất thô sơ của người Ai Cập
cổ qua bức tranh tưởng tượng về 7 tầng trời đất, 7 tầng thiên đường địa ngục; cách thức sáng tạo nên thế giới và muôn loài của Thánh A-la
- Kinh Koran cũng đề cập đến những quan niệm về ngày phán xử cuối cùng và
sự thưởng phạt ở thế giới bên kia
- Kinh Koran không đơn thuần là kinh thánh mà còn kiêm cả tính chất pháp luật,
vì trong đó có các quan niệm về lễ nghĩa, cử chỉ, công việc vệ sinh, hôn nhân, cách
cư xử với trẻ con, loài vật… đến các quan hệ buôn bán, quan hệ chính trị, quan hệ tài chính, tài khoản, hợp đồng, chiến tranh và hòa bình, tội ác và hình phạt, đến việc thực hiện di chúc, thừa kế…
- Kinh Koran đề cao vai trò A-la, bảo vệ trung thành cho sự bất bình đẳng, sự áp bức, khẳng định đó là ý muốn của A-la Nó yêu cầu tín đồ phải thực sự phục tùng mới chứng tỏ được là người ngộ đạo và mới được đền đáp ở thiên đường
- Kinh Koran miêu tả Thiên đường là nơi con người được mặc đẹp, ăn ngon, được hưởng mọi lạc thú mà cõi trần họ không được hưởng Kinh Cô-ran đề cao vai trò người đàn ông và hạ thấp vai trò người đàn bà Nó cổ vũ chế độ đa thê và cho phép đàn ông được lấy tối đa 4 vợ…
- Nguyên tắc sắp xếp các chương của kinh Koran khá kỳ lạ, chương dài xếp trước, chương ngắn xếp sau; thông thường chương ngắn có tuổi lịch sử cao hơn, nên kinh Cô-ran như bị đảo ngược về trình tự thời gian Tuy tính chất thiếu khoa học, thiếu thống nhất trong hành văn, nội dung vay mượn, trí tưởng tượng nghèo nàn… nhưng kinh Cô-ran vẫn mang tính chất thiêng liêng đối với tín đồ đạo Hồi, và vẫn là cuốn kinh duy nhất và kinh thiêng nhất của đạo Hồi
b Tin vào thánh Ala và sứ giả Mô ha mét
- Tôn chỉ đầu tiên của đạo Hồi là phục tùng, làm theo Thánh A-la vì “Thánh A-la muốn thế” Đạo Hồi cho rằng A-la là vị thần duy nhất có khả năng tạo ra 7 tầng trời,
7 tầng đất, 7 tâng thiên đường và 7 tầng địa ngục A-la không chỉ sáng tạo ra vũ trụ, thế gian, sáng tạo nên con người và muôn loài mà còn định ra cách thức sắp xếp trật
tự xã hội, đặt ra các nguyên tắc đạo đức, phép tắc và lễ nghi cho con người A-la muốn cho ai lên thiên đường thì người đó mới được lên thiên đường, muốn cho ai xuống địa ngục thì người đó phải xuống địa ngục
- M được coi là “sứ giả của thánh Ala, là tiên tri của tín đồ, là sứ giả cuối cùng
Trang 4của thượng đế, đáng mến nhất, anh minh nhất, vĩ đại nhất, có sức mạnh cao cả cứu loài người ra khỏi tội lỗi”
- Đạo Hồi cho rằng con người có hai phần, phần xác và phần hồn Thể xác chỉ là
vỏ bọc tạm thời, còn linh hồn là bất tử Cuộc sống trần gian chỉ là ngưỡng cửa để bước vào cuộc sống vĩnh cửu của thế giới bên kia Ngày phục sinh sẽ là ngày gặp gỡ của mọi thế hệ trước thánh Ala Ngày đó mọi người có quyển sách ghi rõ công, tội khi còn sống Thánh Ala sẽ phán xét từng người:
+ Ai có công sẽ được lên thiên đàng (là một cái vườn tuyệt đẹp, ở đó có âm thanh, ánh sáng rực rỡ, những dòng suối trong mát, những dòng sữa, dòng mật, những bộ quần áo bằng tơ lụa mượt mà Nam tín đồ được dành cho một có gái mắt den da trắng mịn màng, tình cảm dịu dàng
+ Những ai có tội nhưng ngoan đạo sẽ được M đứng ra che chở, cầu xin thượng đế tha tội Những ai có tội, không theo đạo bị hành hạ nơi địa ngục đen tối bằng các phương tiện tra tấn dã man
4 Giáo lí của Kitô giáo
Giáo lý của đạo Kitô chứa đựng trong kinh thánh Kinh thành gồm hai phần: Cựu ước gồm 46 cuốn, Tân ước có 27 cuốn
- Theo giáo lý, thì thiên chúa có trước đời, trước cả không gian và thời gian
- Thiên chúa có 3 ngôi: cha - con - thánh thần, tuy là ba ngôi nhưng đồng đẳng, đồng vinh, đồng quyền
Mỗi ngôi có một chức năng khác nhau Ngôi 1 cha tạo dựng, Ngôi 2 con -cứu chuộc, Ngôi ba- thánh thần - thánh hoá
- Thiên chúa là đấng sáng tạo nên trời đất trong vòng 6 ngày:
+ Ngày thứ nhất tạo nên sự sáng tối, đặt tên là ngày và đêm
+ Ngày thứ hai tạo ra không gian gọi là trời
+ Ngày thứ ba tạo ra cây cỏ, đất, nước
+ Ngày thứ 4 tạo ra tinh tú, mặt trời, mặt trăng
+ Ngày thứ 5 tạo ra muôn vật, chim thú
+ Ngày thứ 6 tạo ra con người
+ Ngày thứ 7 thiên chúa nghỉ
- Thiên chúa là thiêng liêng, sáng láng, là chúa tể trời đất và muôn loài, có quyền phép vạn năng, vận hành trật tự trong vũ trụ
- Con người do thiên chúa tạo nên có nhiệm vụ thờ phụng thiên chúa và tiếp tục
sự nghiệp kiến tạo trái đất của chúa
- Trong các công trình sáng tạo của thiên chúa, con người là sản phẩm hoàn hảo,
Trang 5tuyệt mỹ Con người có trí khôn, có đạo đức nên làm chủ thế giới A Đam ( tiếng Hy lạp là người đầu tiên) được thiên chúa tạo nên bằng đất, bụi nặn ra và được thổi sinh khí vào trở thành người sống Eva (mẹ của sự sống), tạo nên từ xương sườn của Adam
- Con người có quan hệ trực tiếp với thiên chúa và được thiên chúa yêu thương Sau này khi con người sa ngã, tội lỗi, mối quan hệ trực tiếp không còn nữa mà gián tiếp thông qua đấng cứu chuộc là chúa giêsu
- Con người có 2 phần: thể xác mang tính phàm tục và linh hồn mang tính thiêng liêng Linh hồn do thiên chúa truyền vào, khi chết còn tồn tại vĩnh cửu, thể xác thì trở
về với cát bụi
- Khi chết con người không được vào thiên đàng ngay mà phải chịu sự phán xét của chúa Nếu có tội lỗi bị đẩy xuống hoả ngục cho quỷ dữ hành hạ và thiêu đốt
- Con cháu A đông đúc, phạm nhiều tội lỗi, được thiên chúa nhiều lần răn dạy qua các tiên tri nhưng không có kết quả, nên bị chừng phạt bởi nạn đại hồng thuỷ Chỉ có ông Nô – ê là sống đạo đức được thiên chua báo trước cho đóng một chuyến thuyền lớn chở gia đình, vợ con, muông thú mỗi loài một cặp để lưu giống
- Về sau loài người khởi từ ông Nô – ê vẫn tiếp tục phạm tội, lại còn toan xây tháp Baben (nghĩa là lộn xộn) để đi vào cõi trời chung sống với thiên chúa Vì thế loài người mới bị thiên chúa trừng phạt bằng cách cho bất đồng ngôn ngữ để không xây được tháp
- Không nỡ huỷ điệt loài người một lẫn nữa, thiên chúa bèn cho ngôi 2 là là Đức chúa con xuống trần để cứu chuộc tội lỗi cho loài người Đức chua con tên là Giêsu,
do trinh nữ Maria sinh hạ Để cứu chuộc tội lỗi cho loài người, Giêsu chịu đóng đinh trên cây thập tự Chết được ba ngày, Giêsu sống lại, ở trần thế với các môn đệ 40 ngày nữa, sau đó lên trời
- Trước khi lên trời Chúa lập ra 7 phép bi tích để nhờ đó, loài người có thể thông công được với thiên chúa để thiên chúa cứu vớt Sau khi chúa Giêsu lên trời được 10 ngày, thiên chúa cử ngôi 3 là đức thánh thần hiện xuống ban sức mạnh và lòng can đảm cho các môn đệ chúa Giêsu để họ đi truyền đạo
- Giáo lý Ki-tô trước hết khắng định tín điều: Đức mẹ Maria đồng trinh sinh ra Giê-su là con của Chúa trời, đồng thời cũng là chúa trời
- Thánh thần hiện ra nói chuyện với các thánh tông đồ sau khi Giê-su chết 40 ngày cũng là con của Chúa trời và cũng là Chúa trời “Tam vị nhất thể” (ba ngôi là một) là vang bóng của đa thần giáo trong đạo Ki-tô
- Tín đồ Ki-tô phải tin rằng Chúa giáng sinh để cứu thế, người chết đi rồi sống lại là những điều không ngẫu nhiên, chúng đã được các nhà tiên tri Do-thái cho biết
Trang 6từ lâu
- Cái chết của Giê-su không là sự chấm hết, Giê-su chịu đau đớn trên cây thánh giá để giúp con người phương cách cứu mình ra khỏi tội lỗi Tín điều này hướng niềm tin về “ ngày phán xử cuối cùng” Theo giáo lý Ki-tô thì tất cả mọi người trên trái đất sau khi chết sẽ có ngày sống lại và chịu sự “phán xử cuối cùng” Nếu ai đã được rửa tội, ăn bánh thánh, uống rượu thánh tượng trưng cho thịt và máu của Chúa trời thì bằng cách nào đó sẽ được kết nạp vào đạo của Chúa trời
- Tín điều về sự phục sinh của Giê-su đưa lại cho tín đồ niềm tin về kiếp sống tạm bợ nơi trần gian và cuộc sống vĩnh hằng nơi thiên đường
5 Giáo lí đạo Cao Đài
Cao Đài là một tôn giáo mang tính “hợp nhất”, “hỗn hợp” nhiều tôn giáo nên giáo lí cũng thể hiện rõ rệt điều đó Một số quan niệm chính:
- Vũ trụ: Thượng đế sinh ra muôn vật, tự xưng là Thầy Khi chưa có trời đất, khí
hư vô sanh có một Thầy là Thái cực Thầy phân Thái cực ra Lưỡng nghi rồi Tứ tượng; Tứ tượng biến ra Bát quái; Bát quái biến hóa vô cùng mà lập Càn khôn; Càn khôn sanh vạn vật Trong vũ trụ có nhiều thế giới Thượng đế đã cứu hộ chúng sanh
hai lần; lần này là lần thứ ba Thượng đế ra tay với cái tên là Cao Đài tiên ông Đại bồ tát ma ha tát Thượng đế chỉ bảo cho loài người qua “cơ bút”.
- Nhơn sanh: Con người gồm ba yếu tố cấu thành: linh hồn, nhục thể, phách thể
(hay nhị xác thân); phách thể kết hợp hồn và xác, nó truyền ý trí của linh hồn ra ngoài nhục thể và thông đạt tri thức của ngũ quan vào linh hồn Khi nhục thể hư hoại nó trở
về hiệp với linh hồn mà đi sửa soạn kiếp khác Dân tộc Pháp và An Nam là hai dân tộc được chúc phúc Thượng đế muốn cho hai dân tộc đó luôn luôn đoàn kết và chung sống trong một cộng đồng về quyền lợi và sinh hoạt
- Luân hồi: Cả kiếp luân hồi Thầy đổi từ vật ra thảo mộc, từ thảo mộc ra côn
trùng, từ côn trùng ra cầm thú Loài người phải chuyển kiếp từ ngàn ngàn muôn muôn lần mới đến địa vị nhân phẩm
- Nhân quả: là luật trời báo ứng Tạo nhân nào thì rước quả ấy.
- Thập nhị nhân duyên: có 12 nhân duyên cấu thành kiếp luân hồi: 1 Vô minh:
mê muội 2 Hành: hoạt động (vận động) 3 Thức: nhận xét 4 Danh, sắc: tên, hình
5 Lục nhập : sáu giác quan 6.Súc: kích thích 7 Thọ: nhận lãnh 8 Ái: yêu mến 9 Thủ: giữ lấy 10 Hữu: vật chất 11.Sanh: hạ sanh 12 Lão, tử: già, chết
Vô minh sinh hoạt động (vận động) lão, tử, lại sanh… Vô minh là đại nghiệp sanh kiếp luân hồi Nếu phá sạch vô minh tức là đã thành Phật thì hết nhân duyên, hết luân hồi, được siêu thoát về cõi niết bàn
Trang 7- Địa ngục: làm dữ khi chết phải đầu thai kiếp ngựa, trâu hoặc xuống địa ngục bị
quỷ dữ hành hạ rất khổ cực đời đời
- Nơi cực lạc: làm lành khi chết được đầu thai vào nơi sung sướng hoặc được lên
chốn cực lạc, sung sướng vô cùng đời đời kiếp kiếp
- Bát chánh đạo: muốn phá sạch vô minh thì phải đi theo con đường trung đạo.
Phật dạy là bát chánh đạo: Chánh kiến: thành thật tin đạo Chánh tư duy: thành thật suy xét lẽ đạo Chánh ngữ: ăn nói thành thật Chánh nghiệp: làm ăn chánh đáng Chánh mạng: sinh sống chánh đáng Chánh tịnh tiến: thành thật học hỏi, tiến tới Chánh niệm: thành thật tưởng nhớ Chánh định: thành thật thiền định
Chánh định là đệ nhất công phu khó nhọc, chia ra 4 cấp là: sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền Công phu đến tứ thiền là viên mãn tức là chân tu đắc đạo Lúc ấy
có thể xuất phách (nhị xác thân) vân du thiên ngoại, khi chết siêu thoát ra Càn khôn tức nhập niết bàn vậy
6 Hoàn cảnh ra đời đạo Hòa Hảo
Đạo Hòa Hảo là một tôn giáo lớn ở đồng bằng sông Cửu Long, ra đời năm 1939, tại làng Hòa Hảo, Chợ Mới, Long Xuyên Người sáng lập ra đạo Hòa Hảo là ông Huỳnh Phú Sổ (con ông Huỳnh Công Bộ, một địa chủ nhỏ ở Hòa Hảo)
Huỳnh Phú Sổ là người có tính trầm tư, học hết sơ đạo Pháp – Việt, có khiếu
làm văn vần Do ốm đau lâu ngày, Huỳnh Phú Sổ lên núi Cấm tìm thầy chữa bệnh và
tu theo phái Bửu Sơn Kỳ hương do Phật thầy Đoàn Minh Huyên làm giáo chủ.
Năm 1937, khỏi bệnh về quê, Huỳnh Phú Sổ nói với mọi người là đã gặp Tiên, gặp Phật chữa cho và lại dạy cho nhiều bài thuốc và giao sứ mệnh truyền bá đạo của Thầy, cứu nhân độ thế
Lúc đó Chợ Mới quê ông bị lụt, mất mùa, dân thiếu đói, đau ốm không có thuốc
Huỳnh Phú Sổ dùng thuốc nam chữa bệnh cho họ, đồng thời ông hay đọc thơ, giảng
“sấm” trạng Trình Trong những bài sấm giảng Huỳnh Phú Sổ có nói bóng gió đến đất nước, đến đời sống thái bình, hạnh phúc ngay tại thế gian này Một số bài văn vần của ông còn có tư tưởng chống bóc lột, bài xích quan lại tham tàn Những nội dung ấy đáp ứng lòng khao khát của quần chúng nông dân bị áp bức đã có truyền
thống yêu nước ở một vùng là căn cứ khởi nghĩa và cách mạng Bởi vậy, chỉ hai năm
sau (1939) Huỳnh Phú Sổ trở lên nổi tiếng, người đến nhập môn rất đông (trong đó
có cả một số cán bộ cách mạng “ngụy trang để hoạt động” nhưng cũng có những phần tử cơ hội, thân Nhật, thấy có thể lợi dụng nên cũng thâm nhập vào) Ngày 18 –
5 năm Kỷ Mão (tức ngày 4 – 7 – 1939) được chọn làm ngày khai đạo
Sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (1940) thực dân Pháp tăng cường đàn
áp, tình hình chính trị, xã hội, kinh tế càng thêm ngột ngạt, quần chúng theo đạo Hòa
Trang 8Hảo càng đông Cơ sở Hòa Hảo phát triển mạnh ở vùng Long Xuyên, Châu Đốc, Hà
Tiên và mở rộng ra khắp cả miền Tây Nam Bộ, số tín đồ lên tới hàng triệu người.
Trước sự phát triển của Hòa Hảo, cả Nhật, Pháp và chính quyền Ngô Đình Diệm đều muốn lợi dụng, thao túng để phục vụ ý đồ chính trị của mình
7 Tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, chính sách tôn giáo của Nhà nước và trách nhiệm của quân đội đối với công tác tôn giáo
Tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay:
Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo Mỗi tôn giáo có đặc điểm, tín ngưỡng, giáo lí, vai trò đối với lịch sử dân tộc khác nhau Hiện nay tình hình tôn giáo ở nước ta có nhiều biến động phức tạp, trong đó các đặc điểm nổi bật là:
- Tất cả các tôn giáo đều đẩy mạnh hoạt động nhằm phát triển tổ chức, phát huy ảnh hưởng với các hình thức sinh hoạt sôi nổi, rộng rãi, phong phú Hoạt động tôn giáo diễn ra mạnh mẽ đôi khi lại giao thoa với sự sống dậy của các hủ tục mê tín dị đoan
- Yếu tố quốc tế của hoạt động tôn giáo gia tăng.Việc mở rộng quan hệ quốc tế trong hoạt động tôn giáo có khi vì mục đích phụng sự đạo, cũng có khi vì mục đích lồng ghép ý đồ chính trị
- Các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ ý định lợi dụng tôn giáo để ngăn trở con đường đi lên CNXH của nhân dân ta
- Hoạt động tôn giáo hiện nay có sự đan xen giữa tín ngưỡng với mê tín dị đoan, giữa nguyện vọng tinh thần chính đáng của quần chúng với các mưu đồ chính trị
Chính sách tôn giáo của Nhà nước ta:
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam (1991) ghi rõ: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, đồng thời chống việc lợi dụng tín ngưỡng để làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”
Hiến Pháp hiện nay khẳng định: “Công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật”
Theo đó chính sách của Nhà nước ta về tôn giáo cơ bản gồm các nội dung:
- Tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo; cấm mọi hoạt động lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá cách mạng, làm tổn hại lợi ích Tổ quốc và nhân dân
- Đoàn kết các tôn giáo, đoàn kết “Lương - Giáo”, chống mọi âm mưu chia rẽ đoàn kết dân tộc vì lí do tôn giáo
Trang 9- Hướng các tổ chức tôn giáo hoạt động theo quy định pháp luật; ủng hộ các xu hướng tiến bộ trong tôn giáo, gắn bó hoạt động tôn giáo với với dân tộc, sự nghiệp cách mạng
- Cảnh giác trước mọi âm mưu lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng
- Thực hiện quan hệ quốc tế về tôn giáo theo chính sách chung về quan hệ đối ngoại của Nhà nước
Trách nhiệm của quân đội trong thực hiện chính sách tôn giáo:
- Quân đội nhân dân Việt Nam xuất thân từ nhân dân với nhiều thành phần giai cấp, dân tộc, tôn giáo Vì vậy, công tác xây dựng quân đội về chính trị phải chăm lo cho tinh thần đoàn kết giữa cán bộ, chiến sĩ thuộc các thành phần dân tộc, tôn giáo
Để thực hiện tốt điều này cần quán triệt chính sách dân tộc, tôn giáo đến mọi bộ phận trong quân đội; chăm lo đời sống tinh thần cho quân nhân có đạo; giáo dục cán bộ, chiến sĩ nhận thức đúng đắn về vấn đề tôn giáo, không có thái độ kỳ thị, phân biệt
- Quân nhân không phải từ bỏ tôn giáo của mình nhưng phải xác định trách nhiệm của quân nhân có đạo trên hai phương diện: tín đồ và chiến sĩ Tín đồ phụng sự đạo và chiến sĩ phụng sự Tổ quốc
- Phối hợp với địa phương nơi đóng quân đấu tranh xóa bỏ hủ tục mê tín dị đoan, phát hiện và ngăn chặn các âm mưu lợi dụng tôn giáo để chia rẽ dân tộc, chống phá Nhà nước