Tòa Thánh Tây Ninh Những đệ tử đầu tiên của Cao Đài như Ngô Văn Chiêu, Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, và Cao Hoài Sang đã xác nhận rằng họ đã nhận được sự "Thông Công" thông qua dàn cơ bút
Trang 1Cao Đài là một tôn giáo độc thần, tương đối mới, có tính dung hợp, được chính thức
thành lập ở Việt Nam, vào năm 1926 Đạo Cao Đài là tên ngắn gọn, tên đầy đủ là Đại
Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Danh từ "Cao Đài" theo nghĩa đen chỉ "một nơi cao" Theo nghĩa
bóng, được hiểu là nơi cao nhất ở đó Thượng Đế ngự trị; cũng là tên viết tắt dành cho Thượng Đế, người sáng lập ra toàn vũ trụ, có danh xưng đầy đủ là "Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát" Tín đồ Cao Đài tin rằng Thượng Đế là Đấng sáng lập ra các tôn giáo và cả vũ trụ này Họ tin rằng tất cả giáo lý, hệ thống biểu tượng và tổ chức đều được
"Đức Cao Đài" trực tiếp chỉ định Ngay cả việc xây dựng Toà Thánh Tây Ninh cũng chính là có sự dẫn dắt của "Đấng Thiêng Liêng"
Tòa Thánh Tây Ninh
Những đệ tử đầu tiên của Cao Đài như Ngô Văn Chiêu, Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc,
và Cao Hoài Sang đã xác nhận rằng họ đã nhận được sự "Thông Công" (thông qua dàn cơ bút) trực tiếp từ Thượng Đế, người đã ban cho họ những chỉ dẫn cụ thể để thành lập một tôn giáo mới, khởi đầu cho Kỳ Phổ Độ Thứ Ba
Các tín đồ thi hành những giáo điều của Đạo như không sát sinh, sống lương thiện, hòa đồng, làm lành lánh dữ, giúp đỡ xung quanh, cầu nguyện, thờ cúng tổ tiên, và thực hành tình yêu thương vạn loại qua việc ăn chay với mục tiêu tối thiểu là đem sự hạnh phúc đến cho mọi người, đưa mọi người về với Thượng Đế nơi Thiên Giới và mục tiêu tối thượng
là đưa vạn loại thoát khỏi vòng luân hồi Các ước lượng về số tín đồ Cao Đài có khác nhau, nhưng đa số các nguồn cho rằng con số đó là hai đến ba triệu (tư liệu vào khoảng năm 2000 - 2003) Khoảng 30.000 tín đồ nữa sống ở Hoa Kỳ, Châu Âu và Úc
Trang 2Mục lục:
1 Lịch sử hình thành và phát triển
2 Quan niệm về nguồn gốc của Thượng Đế và vũ trụ
3 Giáo lý cơ bản
4 Thể Pháp và Bí Pháp
5 Kinh sách
6 Biểu tượng
7 Thứ bậc thiêng liêng của linh hồn
8 Ba thời kỳ hiện thân và phổ độ
9 Hình thể
10 Tổ chức Hội Thánh
11 Những tính chất khác
12 Sự phân chia tổ chức giáo hội Cao Đài
13 Lễ nghi và lễ phẩm
14 Các vị thánh
15 Tham khảo & Chú thích
16 Liên kết ngoài
Bài hay đoạn này cần người am hiểu về chủ đề của nó biên tập lại.
Bạn có thể giúp hoặc nhờ một ai đó Xem trang thảo luận để biết thêm chi tiết.
Đạo Cao Đài
Lịch sử
• Mười hai tông đồ
• Mười hai tông phái
Giáo lý
• Giáo lý Cao Đài
• Cao Đài Tiên Ông
• Cơ Bút
• Thiên Nhãn
• Thể Pháp và Bí Pháp
• Bát đẳng Chơn Hồn
Kinh sách
• Thánh Ngôn Hiệp Tuyển
• Pháp Chánh Truyền
• Tân Luật
• Đạo Luật
Trang 3• Thiên Đạo
• Thế Đạo
Tông phái
• Tam Kỳ Phổ Độ
• Chiếu Minh Đàn
• Cao Đài Hội Giáo
• Cao Đài Tịch Cốc
• Minh Chơn Lý
• Minh Chơn Đạo
• Cao Đài Tây Tông
• Cao Đài Tiên Thiên
• Ban Chỉnh Đạo
• Bạch Y Liên Đoàn
• Trung Hòa Phái
• Liên Hòa Tổng Hội
1 Lịch sử hình thành và phát triển
1 1 Cơ Bút
Bài chi tiết: Cơ bút
Đạo Cao Đài được khai sinh bởi Đức Chí Tôn thông qua Cơ Bút và giảng truyền Chân Đạo cũng qua Cơ Bút Cơ Bút là một nền tảng căn bản của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Qua Cơ Bút, luật pháp Đạo được ban hành Tòa Thánh, Thánh Thất, Thánh Tịnh được thành hình; những kinh điển, nghi thức cúng kiến được phân lập, và những áng thi văn dạy Đạo được lưu truyền qua nhiều thế hệ, từ Đông sang Tây từ Âu sang Á cũng đều qua
Cơ Bút
1 2 Nhân vật trọng yếu
Ba nhân vật trọng yếu đã góp phần cho sự ra đời của đạo Cao Đài là:
• Ngô Văn Chiêu (có tài liệu ghi là Ngô Minh Chiêu - là tên Pháp Danh) sinh năm
1878 tại Bình Tây, Chợ Lớn
• Lê Văn Trung sinh năm 1876 tại Chợ Lớn, là người lãnh nhiệm vụ lãnh đạo Cao Đài thay ông Ngô Minh Chiêu
• Phạm Công Tắc sinh năm 1890 tại Tân An trở thành lãnh đạo hữu hình tối cao của đạo Cao Đài sau khi ông Lê Văn Trung mất năm 1934 Đạo Cao Đài chính thức ra đời vào đêm Giáng sinh năm 1925 Theo sử ký của đạo Cao Đài thì đêm đó Cao Đài Tiên Ông xuất hiện trong một buổi cầu tiên bình thường như các buổi cầu tiên khác Ông nói rõ tánh danh là "Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát" và chọn
Trang 412 tông đồ đầu tiên để lập ra đạo Cao Đài Tên 12 người đó được ghi trong một bài thơ như sau:
Chiêu kỳ trung độ dẫn hoài sanh
Bản đạo khai sang quý giảng thành
Hậu đức tắc cư thiên địa cảnh
Hườn minh mân đáo thủ đài danh.
Họ tên đầy đủ của 12 tông đồ đầu tiên của đạo Cao Đài là:
1 Ngô Văn Chiêu
2 Vương Quang Kỳ
3 Lê Văn Trung
4 Nguyễn Văn Hoài
5 Đoàn Văn Bản
6 Cao Hoài Sang
7 Nguyễn Văn Quý
8 Lê Văn Giảng
9 Nguyễn Trung Hậu
10.Trương Hữu Đức
11.Phạm Công Tắc
12.Cao Quỳnh Cư
Và 3 đồng tử phò cơ là Hườn, Minh, Mân
Đạo Cao Đài phát triển rất nhanh lên đến hàng chục vạn người Tuy nhiên, phải mất gần
1 năm sau, khi Tờ Khai Tịch Đạo với 247 chữ ký của người Đạo (vốn có địa vị ngoài đời) gửi lên thống đốc Nam Kỳ lúc bấy giờ là Le Fol thì đạo Cao Đài mới bắt đầu hoạt động như là một tôn giáo Ngay sau khi gởi văn bản nói trên cho thống đốc Le Fol, những người môn đệ đầu tiên của Đạo Cao Đài đã tổ chức lễ ra mắt rất long trọng tại chùa Gò Kén còn có tên là Từ Lâm Tự, Tây Ninh với sự hiện diện của quan chức chính quyền của
cả người Pháp lẫn người Việt Đó là ngày Rằm tháng 10 năm Bính Dần (1926)
Triết lý đạo Cao Đài xem các tôn giáo đều có chung một nguồn gốc từ Đức Cha Trời và đều nhằm mục đích hướng thiện con người Khi loài người đều có chung quan niệm này thì sẽ tạo nên "thế giới đại đồng " và hòa bình sẽ đến với toàn nhân loại Lý tưởng này được thể hiện qua bài Thánh thi sau:
Chẳng quản đồng tông mới một nhà,
Cùng nhau một Đạo tức một Cha
Nghĩa nhân đành gởi thân trăm tuổi
Dạy lẫn cho nhau đặng chữ Hòa.
Hoặc:
Trang 5Từ đây nòi giống chẳng chia ba,
Thầy hiệp các con lại một nhà.
Nam Bắc cùng rồi ra ngoại quốc,
Chủ quyền chơn đạo một mình ta.
1 3 Phân hóa nội bộ
Thực ra, mâu thuẫn đã xuất hiện từ những ngày đầu tiên, khi ông Ngô Minh Chiêu từ chối ngôi Giáo Tông, tách ra và lập nên phái Chiếu Minh để theo đường tu tịnh luyện, nội
bộ Cao Đài bắt đầu bị chia cắt Từ đó, những chức sắc cao cấp, vốn có những quan điểm bất đồng trong việc hành Đạo cũng bắt đầu tách ra riêng để "thể hiện bản lĩnh của mình"
Trong vấn đề phân hóa, có 1 yếu tố nữa dẫn đến việc này đó là chính quyền Pháp vì sợ sự phát triển mạnh mẽ, quá nhanh của Đạo Cao Đài có thể sẽ gây bất lợi cho việc đô hộ Việt Nam Vì thế mà chính quyền Pháp đã dùng đến những thủ đoạn là dụ dỗ, đe dọa về sự an toàn của các con em lưu học sinh tại Pháp có thân nhân là chức sắc cao cấp trong tổ chức hành chánh Đạo Vì thế mà các chức sắc cao cấp có thỉnh cầu Thánh Ý của ơn trên về việc lập thêm chi phái để che mắt người Pháp về sự chia rẽ của Đạo Cao Đài, để tạo nên
sự an toàn cho các lưu học sinh và cho người Pháp cảm thấy rằng Đạo Cao Đài không có
gì ghê gớm, cũng dễ dàng bị bọn họ chia cắt
1 4 Đàn áp
Trong Đệ nhị Thế chiến với sự xâm nhập của Đế quốc Nhật Bản, nhiều đảng phái người Việt được sự hậu thuẫn của Nhật Bản khiến chính quyền thuộc địa Pháp ra tay trước để củng cố quyền lực Tháng Tám năm 1940 Toàn quyền Đông Dương Decoux ra lệnh bắt
Hộ pháp Phạm Công Tắc và sáu chức sắc Cao Đài đem đày sang Mã Đảo Thánh thất Cao Đài ở Tây Ninh phải đóng cửa.[1] Trong khi đó tín đồ Cao Đài Trần Quang Vinh gia nhập Việt Nam Phục quốc Đồng minh Hội hợp tác với Nhật[2] thì được bầu làm phó hội trưởng
2 Quan niệm về nguồn gốc của Thượng Đế và vũ trụ
Trang 6Nghi lễ Cao Đài
Theo đạo Cao Đài, trước khi Thượng Đế tồn tại, đã có Đạo Đó là Đạo, Đạo vĩnh cữu, không hình dáng, không có tên gọi, không thay đổi; như được đề cập tới trong Đạo Đức Kinh Đến một thời điểm nhất định, hiện tượng Big Bang đã xảy ra, chính từ đây Thượng
Đế đã xuất hiện Vũ trụ lúc này còn là 1 mớ hỗn độn, và để tạo nên sự cân bằng, hài hòa,
đa dạng, Thượng Đế đã tạo ra Âm Dương Thượng Đế cai quản Dương và phân thân tạo
ra "Diêu Trì Kim Mẫu" để cai quản Âm Nhờ có Âm Dương, vũ trụ đã được định hình
"Thánh Mẫu" là mẹ của hằng hà sa số sinh linh, sự vật trong vũ trụ Do đó, tín đồ Cao Đài không chỉ thờ phụng Thượng Đế, (còn được gọi là "Thầy") mà còn thờ "Diêu Trì Kim Mẫu" (còn được gọi với nhiều danh hiệu khác nhau như Cửu Thiên Huyền Nữ, Tây Vương Mẫu, Thiên Hậu, Đức Mẹ Muôn Loài, )
Theo Đạo Cao Đài, có 36 tầng trời và Tứ Đại Bộ Châu nơi đây thuộc về vô hình, 3000 thế giới và 72 hành tinh thuộc về hữu hình, có sự sống bậc cao, trong đó hành tinh số 1 là phát triển nhất và hành tinh thứ 72 kém phát triển nhất Trái Đất là hành tinh số 68
3 Giáo lý cơ bản
Bài chi tiết: Giáo lý Cao Đài
4 Thể Pháp và Bí Pháp
1 redirect Tiêu bản:Chính
Trang 7Từ lâu Thể Pháp và Bí Pháp trong Đạo Cao Đài vẫn được hiểu là những nghi thức tế tự
hoặc cách hành đạo của các tín đồ Cao Đài Thể Pháp dành cho những tín đồ bình thường
(hiểu theo nghĩa từ exotericism); trái lại Bí Pháp được xem là những phương pháp tu tập
bí mật, chỉ dành riêng cho những tín đồ đặc biệt hay chức sắc cao cấp (hiểu theo nghĩa từ
esotericism) Thực sự ra hai từ này được dùng theo kiểu viết câu đối trong văn học cổ
Việt Nam nên không thể tách rời ra rồi phân tích để hiểu theo kiểu ngữ pháp Tây Phương
5 Kinh sách
Đạo Cao Đài có các kinh sách chủ yếu sau:
1 Thánh Ngôn Hiệp Tuyển (quyển 1 và quyển 2)
2 Pháp: Pháp Chánh Truyền (được xem như hiến pháp của tôn giáo Cao Đài)
3 Luật: Tân Luật, Đạo Luật
4 Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo
Những chi phái khác nhau có thể có thêm những bài kinh khác
6 Biểu tượng
Bài hoặc đoạn này cần được wiki hóa theo các quy cách định dạng và văn phong Wikipedia.
Xin hãy giúp bằng cách liên kết trong đến các mục từ thích hợp khác.
Vì Thượng Đế là những gì trọn lành nhất, toàn thiện, toàn mỹ nên Người cũng không có hình dạng nhất định Bởi Người chính là cả vũ trụ này, là chúng ta, là chim muông cầm thú, là cỏ cây sắt đá Cho nên Đạo Cao Đài thờ Thiên Nhãn là thờ Chí Tôn, nghĩa là thờ cái gốc của vạn loại
Trong thể pháp thì Thiên Nhãn là mắt bên trái biểu tượng cho phần dương
Thờ Thiên Nhãn thể hiện Chí Linh hiệp cùng Vạn Linh
Ý nghĩa Thiên Nhãn trong thiên thượng và thiên hạ
1 Thiên Thượng: Thiên Nhãn là Trời, là Ngôi Thái Cực trong dịch lý Trời là Đấng đầy đủ quyền hành chí linh mà tạo thành càn khôn thế giới
2 Cái không trung trên đầu ta là Trời Đứng cầm quyền trên ấy là Đấng tạo hoá là Ngọc Hoàng Thượng đế là chúa tể cả càn khôn thế giới
3 Thiên Hạ: Thiên nhãn là trí thức của loài người; là hình trạng lương tâm của toàn nhân loại Kiến thức là căn bổn của trí thức tinh thần Muốn kiến thì nhờ nhãn, muốn thức thì nhờ trí
4 Người tín đồ Cao Đài Thờ Thiên Nhãn tại tư gia thể hiện ý nghĩa:
Trang 81 Là phương nhắc nhỡ cho người đạo biết tùng thiên lý Thiên nhãn như con mắt của Trời soi xét mọi ý nghĩ và hành vi của con người Con người được nhắc nhỡ làm điều hay và bớt đi điều không tốt
2 Thể hiện sự bình đẳng: Mọi tín đồ đều có quyền thờ phụng và cúng đếu như nhau Gặp khi cơ Đạo trắc trở "Toà Thánh hay Thánh Thất của Đạo bị chiếm" người tín đồ vẫn có thể cúng kiến tại nhà mình với đầy đủ nghi lễ không phải chịu sự khống chế của một thế lực nào
Đức Chí Tôn dạy vì sao thờ Thiên Thãn vào năm 1926:
Chưa phải hồi các con biết tại sao vẽ Thánh-Tượng "Con Mắt" mà thờ Thầy, song Thầy nói sơ lược cho hiểu chút đỉnh
Nhãn thị chủ tâm
Lưỡng quang Chủ Tể
Quang thị Thần
Thần thị Thiên
Thiên giả, Ngã giả
Thần là khiếm khuyết của cơ mầu-nhiệm từ ngày Đạo bị bế Lập "Tam-kỳ Phổ-độ" này duy Thầy cho Thần hiệp Tinh-khí đặng đủ "Tam Bửu" là cơ mầu-nhiệm siêu phàm nhập Thánh
Các con nhớ nói vì cớ nào thờ con mắt thầy cho chư Đạo Hữu nghe