Vì vậy, quan hệ giữa lịch sử ngôn ngữ và lịch sử tộc người, dân tộc là mối quan hệ tương hỗ, có thể đi từ lịch sử ngôn ngữ đến lịch sử dân tộc và ngược lại; có thể đi từ lịch sử dân tộc
Trang 11 Khái niệm chủng tộc; nguyên nhân hình thành các chủng tộc trên thế giới
a Khái niệm chủng tộc:
Chủng tộc là những nhóm người được phân biệt bởi những đặc điểm di truyền về hình thái-sinh lí, mà nguồn gốc và quá trình hình thành của những đặc điểm đó liên quan đến một vùng địa vực nhất định
b Nguyên nhân hình thành các chủng tộc trên thế giới:
• Do sự thích nghi với môi trường sống và điều kiện tự nhiên
- Trong thời kì hình thành chủng tộc, sự thích nghi với môi trường sống
và điều kiện tự nhiên là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất tạo thành các đặc trưng chủng tộc
- Từ một loài Homosapien duy nhất loài người phát triển ra khắp địa cầu với các điều kiện địa lí, khí hậu khác nhau Do sức sản xuất xã hội rất thấp, thiết chế xã hội chưa hoàn chỉnh nên con người chưa đủ sức chống lại thiên nhiên nghiệt ngã Để tồn tại con người phải tìm cách thích nghi với tự nhiên Ví dụ:
+ Con người sống ở vùng xích đạo ánh nắng chói chang thì lượng Melanin trong cơ thể rất nhiều và ở dạng hạt làm cho da thường có màu sậm
+ Tóc người châu Phi thường xoăn tít làm thành chiếc mũ tự nhiên để bảo vệ bộ não
+ Cư dân vùng sa mạc mắt thường có mí lót để nhằm bảo vệ mắt trước các trận gió cát ở sa mạc, v.v…
- Tuy nhiên, hoàn cảnh tự nhiên chỉ đóng vai trò quyết định việc hình thành chủng tộc trong giai đoạn đầu của chế độ công xã nguyên thủy, khi mà lực lượng sản xuất hết sức thấp kém, con người chủ yếu phụ thộc vào tự nhiên Khi kinh tế xã hộ phát triển thì điều kiện tự nhiên mất dần vai trò và không còn là nguyên nhân chính tạo thành chủng tộc nữa
• Sự di cư tự do hay phiêu dạt
- Di cư tự do, hay phiêu dạt là hiện tượng các nhóm người, quần thể người tách ra từ các tập đoàn người ban đầu, sống biệt lập về địa lí và xã hội
- Do sống biệt lập nên trong nội bộ các nhóm, quần thể tách ra đó có sự trao đổi nội hôn Vì vậy, đến một lúc nào đó những đặc trưng ban đầu của nhóm biến đổi hẳn đi, làm xuất hiện những đặc trưng mới và được di truyền lại Từ đó, dẫn đến sự hình thành các loại hình nhân chủng mới
- Ví dụ: ở người da đỏ châu Mỹ vốn chỉ tách ra từ những người bà con châu Á thuộc chủng tộc Mônggôlôit vào cuối hậu kì đồ đá cũ sang thời kì đồ đá giữa 15.000 năm trước đây Nhưng do điều kiện cư trú biệt lập, dần dần ở những
Trang 2quần thể người này xuất hiện những đặc trưng hình thái mới tạo thành một tiểu chủng riêng thuộc chủng tộc Mônggôlôit
• Sự hỗn chủng, hỗn huyết
- Hỗn chủng là quá trình trao đổi hôn nhân giữa các nhóm, các tập đoàn người, là sự lai giống giữa các quần thể dẫn đến sự ra đời các loại hình nhân chủng mới
- Hiện tượng hỗn chủng, pha tạp dòng máu diễn ra mạnh mẽ từ thời đá mới, nhất là từ thời đại kim khí trở đi Những bước tiến vĩ đại của con người trong sản xuất và đời sống xã hội đã tạo điều kiện khách quan cho quá trình hỗn chủng Kinh tế xã hội càng phát triển, giao lưu xã hội ngày càng mở rộng thì sự hỗn chủng ngày càng lớn Do đó, hỗn chủng đóng vai trò quyết định đến việc hình thành các loại hình nhân chủng và sự thống nhất chủng tộc
- Hiện nay, trước xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa mạnh mẽ thì sự hỗn chủng lại càng có điều kiện phát triển cao hơn bao giờ hết → Không có dân tộc nào thuần nhất về nhân chủng: không có một chủng tộc nào là thuần chủng
2 Vai trò của ngôn ngữ trong nghiên cứu dân tộc học
- Ngôn ngữ là một trong những đặc trưng quan trọng để phân biệt tộc người, dân tộc này với dân tộc khác Bất kì một dân tộc nào, dù ít người hay đông người, dù còn lạc hậu hay văn minh, đều có tiếng nói riêng của mình
- Ngôn ngữ là một biểu hiện của văn hóa dân tộc Dân tộc học nghiên cứu ngôn ngữ để tìm ra những đặc điểm văn hóa tộc người, dân tộc Ngôn ngữ phản ánh điều kiện sinh thái mà cộng đồng cư trú, phong tục tập quán, cơ sở kinh tế, ý thức của dân tộc
- Lịch sử phát triển ngôn ngữ quan hệ chặt chẽ với lịch sử dân tộc Không
có một ngôn ngữ chung chung mà ngôn ngữ nào cũng gắn liền với quá trình phát sinh, phát triển của một tộc người nhất định Vì vậy, quan hệ giữa lịch sử ngôn ngữ và lịch sử tộc người, dân tộc là mối quan hệ tương hỗ, có thể đi từ lịch sử ngôn ngữ đến lịch sử dân tộc và ngược lại; có thể đi từ lịch sử dân tộc để làm sáng tỏ những hiện tượng, quá trình và các biến hóa của ngôn ngữ → Chỉ có thể hiểu một ngôn ngữ và quy luật phát triển của nó khi người ta nghiên cứu nó gắn liền với lịch sử của xã hội, của chính những cộng đồng tộc người đã sáng tạo ra và
sử dụng những ngôn ngữ ấy
- Nghiên cứu ngôn ngữ giúp xác định mối quan hệ bình đẳng dân tộc Mọi ngôn ngữ đều thích hợp trong việc biểu đạt tư tưởng và là công cụ có đầy đủ giá trị biểu đạt tư duy của con người Bản chất và chức năng ngôn ngữ ở mọi dân
Trang 3tộc là đều như nhau, dù dân tộc đó đang ở trình độ lạc hậu hay ở trình độ phát triển, văn minh → Không thể có ngôn ngữ của dân tộc thượng đẳng hay ngôn ngữ của dân tộc hạ đẳng
- Nghiên cứu so sánh ngôn ngữ cho thấy quan hệ về mặt nguồn gốc giữa các tộc người và dân tộc anh em (trong một ngữ hệ);
- Nghiên cứu các hiện tượng tiếp xúc ngôn ngữ là sử liệu quan trọng khi nghiên cứu mối quan hệ, sự tiếp xúc giữa các dân tộc trong quá trình phát triển
Tóm lại, lịch sử ngôn ngữ và lịch sử các tộc người dân tộc có mối quan hệ
nội sinh, ngôn ngữ là của một dân tộc nhất định, không có ngôn ngữ chung chung Nắm được lịch sử ngôn ngữ là chìa khóa để giải quyết nhiều vấn đề lịch sử các tộc người, dân tộc và nghiên cứu các vấn đề xã hội của các tộc người và dân tộc
Lưu ý: phải lấy ví dụ minh họa cho các ý trên.
3 Khái niệm; các tiêu chí xác định cộng đồng tộc người.
a Khái niệm cộng đồng tộc người:
Cộng đồng tộc người là một phạm trù lịch sử dùng để chỉ một tập đoàn người được hình thành trong những điều kiện lịch sử nhất định, gắn bó với nhau bởi các quan hệ xã hội trên các lĩnh vực nguồn gốc, ngôn ngữ, lãnh thổ, kinh tế, văn hoá, tâm lý theo những đặc trưng, những tiêu chí chung nhất định
b Các tiêu chí xác định cộng đồng tộc người:
• Quan hệ về ngôn ngữ
- Ngôn ngữ được coi là tiêu chí đặc trưng, quan trọng nhất, mang tính chất bền vững để xác định cộng đồng tộc người
- Ngôn ngữ bao giờ cũng gắn với một tộc người, một dân tộc nhất định Bất
cứ một tộc người nào hay một dân tộc nào cũng đều có một ngôn ngữ làm công
cụ, phương tiện giao tiếp chung Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên giúp ta nhận biết, phân biệt tộc người này, dân tộc với tộc người khác, dân tộc khác
• Quan hệ về địa vực cư trú (lãnh thổ)
- Một tộc người bao giờ cũng sinh sống trong một địa bàn nhất định Lãnh thổ là điều kiện tự nhiên và xã hội để tộc người xuất hiện
- Quan niệm về lãnh thổ thay đổi trong quá trình phát triển của lịch sử: + Thời nguyên thuỷ, lãnh thổ là phương tiện sinh tồn của thị tộc, bộ lạc (trong mối quan hệ huyết thống)
+ Khi xã hội có giai cấp, lãnh thổ là phạm vi quyền lực của giai cấp thống trị trong cộng đồng
+ Khi nhà nước ra đời, lãnh thổ gắn liền với biên giới quốc gia
Trang 4• Quan hệ về kinh tế
- Do sinh sống chung trong một địa bàn, nên mọi người trong nhóm đều có cách cư xử giống nhau trong sinh hoạt kinh tế và tạo ra một cơ sở kinh tế chung
Cơ sở kinh tế không chỉ là đặc trưng mà còn là nguyên nhân và điều kiện cho sự phát sinh và tồn tại của các loại hình tộc người (thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc)
- Cộng đồng về kinh tế thúc đẩy quá trình phát triển của các hình thức cộng đồng tộc người:
+ Khi loài người bước vào xã hội có giai cấp, quan hệ kinh tế tạo nên
sự khác biệt về chất giữa hình thức bộ tộc so với hình thức bộ lạc
+ Đến thời kỳ tư bản chủ nghĩa thì các mối quan hệ kinh tế mới phát triển, tạo ra thị trường thống nhất làm hình thành khối cộng dân tộc
• Quan hệ về các đặc trưng sinh hoạt văn hoá
Trong quá trình sinh sống, cách ứng xử của con người với tự nhiên và xã hội đã tạo ra những đặc trưng văn hoá riêng của từng dân tộc người và trở thành bản sắc riêng của từng tộc người Những đặc trưng văn hoá được truyền từ đời này sang đời khác tạo ra sự cố kết cộng đồng, cố kết tộc người
• Quan hệ về tâm lý tộc người
Do có chung nguồn gốc, ngôn ngữ, lãnh thổ cư trú, cơ sở kinh tế, sinh hoạt văn hóa nên các cộng đồng người thường có chung cộng đồng tâm lý tộc người Điều đó được thể hiện trong các phong tục, tập quán, truyền thống của mỗi tộc người
4 Những điều kiện lịch sử hình thành dân tộc Việt Nam
Ở Việt Nam, dân tộc ra đời sớm hơn do đặc trưng của xã hội phương Đông và
do những điều kiện lịch sử cụ thể
a Đặc điểm của “Xã hội phương Đông”
- Từ công xã nguyên thủy chuyển sang xã hội có giai cấp sơ kỳ không trải qua chế độ chiếm hữu nô lệ:
+ Khoảng năm 2000 TrCN các cộng đồng người trên lãnh thổ nước ta bắt đầu có sự phân hóa giai cấp → công xã nguyên thủy phát triển dần lên công
xã nông thôn gọi là các kẻ, chạ, chiềng
+ Trong công xã, quan hệ huyết thống, họ hàng vẫn được duy trì bên cạnh quan hệ làng giềng, xóm làng Quyền sở hữu ruộng đất thuộc về công xã Các gia đình trong công xã được nhận một phần ruộng đất theo hình thức định
kỳ hoặc lâu dài và nộp một phần sản phẩm cho nhà nước
+ Cơ cấu xã hội có ba tầng lớp: quý tộc, nô tỳ và nông dân công xã tự
Trang 5do - tầng lớp đông đảo nhất Nô tỳ có số lượng nhỏ và vai trò không đáng kể Thực chất, đó là chế độ nô lệ gia đình chủ yếu ở phương Đông ( gia nô)
→ Nước ta không trải qua chế độ chiếm hữu nô lệ điển hình
- Quyền lực tập trung cao độ ở nhà nước phong kiến trung ương:
+ Nhà nước phong kiến ra đời sớm và ra sức củng cố quyền lực, tổ chức thành một hệ thống chặt chẽ từ trung ương đến địa phương Triều đình (đại diện là vua) là chủ sở hữu tối cao về ruộng đất, bóc lột làng xã bằng tô thuế và lao dịch
+ Kinh tế điền trang, thái ấp có xuất hiện nhưng tỷ trọng nhỏ và chịu sự quản lý chặt chẽ của triều đình
→ Việc chính quyền phong kiến trung ương được củng cố vững chắc, thống
nhất điều hành đất nước làm tăng cường mối liên hệ dân tộc
b Yêu cầu của cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên phát triển nông nghiệp trồng lúa nước:
- Nông nghiệp trồng lúa nước sớm xuất hiện ở nước ta(cách đây gần 1 vạn năm) và phát triển rực rỡ
- Do điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt nên thiên tai xảy ra thường xuyên
Vì thế, nền nông nghiệp lúa nước đã đặt ra yêu cầu trị thủy và thủy lợi hết sức to lớn nhằm tưới tiêu cho cây trồng bảo vệ mùa màng
- Công cuộc đấu tranh chống thiên nhiên để sản xuất nông nghiệp đòi hỏi phải có sự đoàn kết hợp sức giữa các lãng xã, vùng, miền
- Sự liên kết thống nhất chỉ có được dưới sự điều hành và quản lý của một nhà nước trung ương Các nhà nước trong lịch sử Việt Nam, nhìn chung, đã làm tốt chức năng quan trọng đó → thúc đẩy mối thống nhất dân tộc
c Yêu cầu chống ngoại xâm bảo vệ độc lập dân tộc:
- Do có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, quân sự ở Đông Nam Á, nước
ta thường xuyên bị kẻ thù dòm ngó và xâm lược:
+ Nằm trên bán đảo Đông Dương, ven biển Thái Bình Dương, Việt Nam là điểm giao thoa của đường hàng hải và hàng không quốc tế quan trọng; còn là cửa ngõ mở lối ra biển thuận lợi cho các nước Lào, Đông bắc Thái Lan, Campuchia và khu vực Tây Nam Trung Quốc
+ Ở liền kề đế chế Trung Hoa, nước ta luôn là vật cản đường Nam tiến của chủ nghĩa bành chướng đại Hán xuống Đông Nam Á
→ Từ khi ra đời cho đến nay, nước ta gần như phải thường xuyên phải
đương đầu với những kẻ thù xâm lược hung bạo và hùng mạnh (cho VD)
- Yêu cầu chống ngoại xâm đã đặt ra yêu cầu khách quan và đoàn kết dân
Trang 6tộc, tạo điều kiện thuận lợi cho quan hệ dân tộc phát triển Những đòi hỏi khách quan đó đã tạo sự liên kết chặt chẽ giữa Nhà- Làng – Nước
d Kết cấu thành phần tộc người của cộng đồng cư dân Việt Nam:
- Do vị trí “mở” nên từ rất sớm Việt Nam đã là nơi tụ cư của nhiều thành phần tộc người Các thành phần dân cư đa dạng về ngôn ngữ, văn hóa, nhân chủng Các thành phần dân tộc đều có bản sắc văn hóa riêng nhưng do yêu cầu khách của đấu tranh chống ngoại xâm, chinh phục thiên nhiên nên đã sớm cố kết, đoàn kết tương trợ trong một cộng đồng quốc gia dân tộc thống nhất
- Do các biến động lịch sử - xã hội, điều kiện sống nên các dân tộc không có lãnh thổ riêng Các thành phần dân tộc cư trú xen kẽ trong cùng một đơn vị hành chính: tỉnh, huyện, xã thậm chí cả ở bản, hòa thuận, đoàn kết tương trợ
- Cuộc sống xen kẽ, cộng cư lâu đời làm cho sự giao tiếp ngôn ngữ, giao thoa văn minh mạnh mẽ, đồng thời thúc đẩy sự liên kết gắn bó giữa các dân tộc Trong mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt là cư dân chủ thể, đóng vai trò
là hạt nhân nòng cốt, đoàn kết tập hợp các thành phần dân tộc khác
5 Đặc điểm dân tộc Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc thống nhất, đoàn kết gắn bó với nhau lâu đời trong quá trình dựng nước và giữ nước; có truyền thống yêu nước nồng nàn, kiên cường, bất khuất, nhân ái.
- Từ thủa Hùng Vương dựng nước, Việt Nam đã là một quốc gia đa dân tộc Nước Văn Lang ra đời trên cơ sở liên minh 15 bộ lạc ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ thuộc lưu vực sông Hồng, sông Mã, sông Cả Nước Âu Lạc sau đó là sự hợp nhất hai khối cư dân gần gũi và nhân chủng và văn hóa là Lạc Việt và Âu Việt
- Trong quá trình lịch sử, nước ta thường xuyên tiếp nhận thêm các bộ phận dân cư từ nơi khác đến, chủ yếu từ phía Bắc xuống và từ phía tây sang Hiện nay, Việt Nam có 54 thành phần dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam (không kể người Việt Nam định cư ở nước ngoài)
- Về nhân chủng các dân tộc nước ta thuộc hai loại hình nhân chủng là Anhđônêđiêng và Nam Á của tiểu chủng Nam Mônggôlôit Loại hình Nam Á chiếm số lượng chủ yếu như : Việt, Mường, Tày, Thái, Hmông, v…v… Loại hình Anhđônêđiêng có số lượng ít, tập trung vào mấy dân tộc thiểu số ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên như Êđê,Raglai….Đặc điểm nhân chủng chỉ ra tính thống nhất và gần gũi huyết thống của các dân tộc nước ta
- Trong suốt tiến trình lịch sử dân tộc, người Việt luôn là cư dân chủ thể
Trang 7Họ đóng vai trò nòng cốt và trung tâm đoàn kết các thành phần dân tộc khác trong quá trình dựng nước và giữ nước Tiếng Việt phát triển thành tiếng phổ thông chung cho cả cộng đồng Người Việt có trình độ phát triển kinh tế-xã hội cao, là nền tảng cho việc hình thành và phát triển dân tộc Việt Nam
Các dân tộc cư trú đan xen, không có lãnh thổ riêng, không đồng đều về
số lượng dân cư.
- Theo các số liệu thống kê hiện nay nước ta có 54 dân tộc (hay còn gọi là thành phần dân tộc, tộc người) Qua thống kê cho thấy người Việt(Kinh) là dân tộc đa số chiếm 87% dân số cả nước 53 dân tộc thiểu số chiếm 13%
- Sự phân bố dân cư ở Việt Nam cũng không đồng đều và có sự chênh lệch lớn giữa các vùng, các miền, giữa các thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi Đồng bằng Bắc Bộ là nơi tập trung dân số đông nhất, trung bình
500-600 người/km2 Cá biệt, ở huyện Xuân Trường (Nam Định) mật độ lên tới hơn
1000 người/km2 Trong khi đó 53 dân tộc thiểu số chiếm 13% số lượng dân cư lại phân bố trên 2/3 lãnh thổ đất nước, chủ yếu ở miền núi, biên giới, hải đảo Mật độ dân số miền núi rất thấp, ở Tây Bắc mật độ chỉ có 13 người/km2
- Do có những biến động lớn của lịch sử xã hội và quá trình dân tộc người nên các thành phần dân tộc Việt Nam cư trú đan xen cài răng lược, không có lãnh thổ riêng Đó là kết quả của các cuộc thiên di do chiến tranh loạn lạc, do mật độ dân số hoặc lý do kinh tế
Đặc điểm cư trú phân tán, đan xen các thành phần dân tộc đã thúc đẩy sự đoàn kết gắn bó, hòa hợp giữa các dân tộc, tăng cường sự giao lưu kinh tế - văn hóa giữa các thành phần dân cư
Các dân tộc đều có ngôn ngữ và bản sắc văn hóa riêng cùng tạo dựng nên một nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong sự đa dạng, phong phú và đậm đà bản sắc dân tộc.
- Các dân tộc Việt Nam đều có tiếng nói riêng nhưng do cuộc sống xen kẽ đặt ra nhu cầu giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày nên có nhiều dân tộc sử dụng song ngữ hay đa ngữ Chẳng hạn, người Xinh Mun, Khơ Mú ở Tây Bắc ngoài tiếng mẹ đẻ còn tiếng Thái, Việt, Hmông
- Mỗi tộc người trên đất nước ta đều có bản sắc văn hóa độc đáo, thể hiện ở
cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Sự khác biệt ấy là do điều kiện lịch sử, kinh tế - xã hội và môi trường sinh sống khác nhau Trong hoạt động sản xuất ở mỗi vùng, mỗi dân tộc thường gắn liền và chịu ảnh hưởng của điền kiện tư nhiên Từ đó, có những tập quán riêng trong sản xuất và sinh hoạt, có cách ứng
Trang 8xử với tự nhiên và xã hội riêng Ví dụ:
+ Kiến trúc và thiết kế nhà cửa của các dân tộc có nhiều loại phù hợp với môi trường sống và tập quán sinh hoạt
+ Trang phục đặc trưng thể hiện ở mầu sắc, kiểu dáng, hoa văn… không chỉ để che mưa che nắng, bảo vệ thân thể, mà còn có giá trị thẩm mĩ cao
và ẩn chứa trong đó thế giới quan, nhân sinh quan
+ Các loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian và phong tục tập quán biểu hiện sắc thái đa dạng văn hóa tộc người thông qua lễ hội, tín ngưỡng, âm nhạc, văn học, ca múa, tục lệ, v.v …
+ Tính đa dạng văn hóa còn thể hiện qua các sắc thái văn hóa địa phương hay còn gọi là văn hóa vùng miền
- Nền văn hóa của dân tộc Việt Nam là nền văn hóa đậm đà bản sắc, có sức sống mãnh liệt, thường xuyên giao thoa với các nền văn hóa khác, phát triển cao hơn, văn hóa Việt Nam chẳng nhưng không bị đồng hóa mà còn sàng lọc, thâu nhận các yếu tố tinh hoa, hợp lý để phát triển, làm giàu cho chính mình
→ Trong quá trình dựng nước và giữ nước các dân tộc Việt Nam đã cùng
nhau sáng tạo nên một nền văn hóa chung thống nhất, đậm đà bản sắc dân tộc -nền văn hóa nông nghiệp vùng nhiệt đới gió mùa Các sắc thái riêng chỉ là biểu hiện phong phú của nền văn hóa chung thống nhất đó
Trải qua một quá trình phát triển lâu dài, nền văn hóa đó đã hun đúc nên diên mạo và tính cách con người Việt Nam: giàu lòng yêu nước dũng cảm, kiên cường vị tha, nhân ái, thông minh tháo vát Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta hiện nay đang xây dựng nền văn hóa dân tộc tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc theo tinh thần nghị quyết Trung ương lần thứ V khóa VIII
Các dân tộc có trình độ phát triển không đồng đều cả về kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học – kỹ thuật nhưng có sự quản lý chung thống nhất của nhà nước và có sự giao lưu thông thương giữa các dân tộc và các khu vực.
- Do các nguyên nhân lịch sử - xã hội (tập quán lối sống…) và hoàn cảnh
tự nhiên nơi cư trú nên các dân tộc nước ta có trinh độ phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều
- Về trình độ xã hội:
+ Trước cánh mạng thang tám năm 1945, về xã hội, các dân tộc cư trú
ở đồng bằng và trung du đã có sự phân hóa giai cấp sâu sắc Các thiết chế xã hội tộc người ở vào trình độ hiện đại như người Việt, Chăm, Khơme, Hoa
+ Các dân tộc ở miền núi có điều kiện thuận lợi về tự nhiên cho phát
Trang 9triển nông nghiệp đã có sự phân hóa giai cấp nhưng ở mức thấp hơn Các tộc người Mường, Tày, Thái, Hmông… ở vào giai đoạn phân hóa giai cấp sơ kỳ
+ Các dân tộc thiểu số ở miền núi nơi có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, hẻo lánh thì ở vào giai đoạn quá độ sang xã hội có giai cấp, phân hóa xã hội chưa rõ ràng Trong xã hội còn bảo lưu nhiều tàn dư nguyên thủy về tập tục hôn nhân gia đình và thiết chế tổ chức xã hội
- Về trình độ kinh tế:
+ Các tộc người ở miền núi chủ yếu canh tác các loại hình kinh tế nương rẫy như người Mông, Dao, các dân tộc thiểu số Tây Bắc, các tộc người ở Trường Sơn – Tây Nguyên Sản xuất nương rẫy trước đây gắn liền với tình trạng
du canh du cư, chặt phá rừng, năng suất lao động thấp Đời sống đồng bào không ổn định, khó khăn, đói rét, mù chữ, dịch bệnh hoành hành Ngày nay, nhờ
sự quan tâm của Đảng nhà nước, đồng bào đã có cuộc sống định canh định cư tương đối ổn định, đời sống có nhiều tiến bộ vuợt bậc
+ Các dân tộc ở miền núi thung lũng như Tày, Thái, Sán Dìu, Mường… canh tác lúa nước là chính Trình độ canh tác của họ khá cao, ngoài trồng lúa nước, họ còn trồng nhiều cây công nghiệp khác như hồi, quế, mận, đào… và phát triển chăn nuôi Tộc người Thái đã có truyền thống canh tác lúa nước gắn liền với thủy lợi
+ Người Việt, Chăm, Khơme là cư dân nông nghiệp lúa nước đồng bằng Trình độ phát triển của họ rất cao, kinh nghiệm sản xuất phong phú, hệ thống thủy lợi phát triển
- Trong điều kiện thiên nhân khắc nghiệt, các thành phần dân tộc đã sớm cố kết, hợp lực trên quy mô lớn cùng nhau trị thủy làm thủy lợi, phát triển sản xuất
- Do tính đa dạng của địa hình nên mỗi vùng miền có những sản vật khác nhau, làm ra những sản phẩm khác nhau nên các địa phương làng xã không thể đóng cửa hoàn toàn Nhu cầu giao lưu làm cho kinh tế hàng hóa phát triển tương đối thuận lợi Mạng lưới chợ làng, bến bãi, luồng lạch, thành thị ra đời và phát triển rất sớm đã liên kết các vung miền các khu vưc trong cả nước Người miền núi cần muối, đồ kim khí chum vại, gạo….từ miền xuôi Người đồng bằng cần tre nứa, trâu bò, lâm sản, các vị thuốc, v.v … từ miền núi đưa xuống Tục lệ tương trợ gắn bó giữa các tộc người, tục kết chạ giữa các làng trong hoạt động sản xuất rất phát triển và trở thành truyền thông tốt đẹp của dân tộc
- Bên cạnh đó ý thức dân tộc sớm hình thành do yêu cầu chống ngoại xâm
và yêu cầu hợp quần trong chinh phuc thiên nhiên cũng thúc đẩy mối liên hệ
Trang 10giao lưu giữa các vùng miền giữa các thành phần dân tộc.
Ngày nay dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của nhà nước, nước ta đẩy mạnh nền kinh tế thị trương theo định hướng xã hội chủ nghĩa Mười năm đổi mới đã thu được nhiều thành tựu kinh tế to lớn Trình độ kinh tế
xã hội giữa các dân tộc, các vùng miền đã dần dần được thu hẹp Đời sống đông bào miền núi vùng cao đã được cải thiện Nhà nước có nhiều chính sách ưu tiên phát triển vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc Một thị trường kinh tế thống nhất chặt chẽ trong cả nước và từng bước hòa nhập vào thị trường chung của khu vực và thế giới Nền kinh tế Việt Nam đang tham gia tích cực vào trào lưu khu vực hóa, quốc tế hóa trên thế giới
6 Quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta; liên hệ vai trò quân đội
a Quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta
• Căn cứ xây dựng chính sách, quan điểm dân tộc của Đảng, Nhà nước:
- Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết vấn đề dân tộc;
- Yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong thời kỳ mới – thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa;
- Những bài học kinh nghiệm quý báu trong giải quyết vấn đề dân tộc ở nước ta và các nước xã hội chủ nghĩa trong mấy chục năm qua;
- Vị trí chiến lược của miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc ít người về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng – an ninh, đối ngoại
- Lợi ích, nguyện vọng của đồng bào, thực trạng tình hình kinh tế, văn hóa,
xã hội ở vùng đồng bào các dân tộc…
→ Đảng ta xác định: “Vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược lớn”.
• Mục tiêu chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta:
- Nhằm tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc; phát huy tinh thần cách mạng
và năng lực sáng tạo của các dân tộc (tộc người) trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa;
- Tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến
bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt nam
- Tư tưởng chỉ đạo cơ bản, xuyên suốt trong quan điểm, chính sách dân tộc
ở nước ta hiện nay được Đảng ta khẳng định là “Thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tương trợ” giữa các dân tộc.