Trong quá trình giảng dạy, bản thân tôi nhận thức rất rõ tính ưu việt của phương pháp này trong hệ thống phương pháp dạy học nói chung.Người học không chỉ được chiếm lĩnh những kiến thức
Trang 1MỤC LỤC
Đề mục Trang 1
Phần 1 Mở đầu ….……….……… 2
I - Lí do chọn đề tài ……….2
II- Mục đích nghiên cứu ……… 2
III- Đối tượng nghiên cứu ……… 3
IV- Phương pháp nghiên cứu ……….3
Phần 2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm ……… 4
I Cơ sở lí luận ………4
1.Vài nét về tích hợp trong dạy học………4
2.Vấn đề tích hợp trong giờ dạy văn bản nghị luận………4
II.Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm ………5
III Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề……….5
1 Sử dụng phương pháp tích hợp trong việc dạy văn bản nghị luận ở trường THPT……… ……… 5
2 Vận dụng phương pháp dạy học tích hợp cho bài dạy cụ thể……….7
3 Rèn luyện kĩ năng thực hành làm văn nghị luận ……….10
3.1 Vận dụng kiến thức ……… 10
3.2 Rèn luyện kĩ năng thực hành ………14
IV Kết quả cúa SKKN……… 16
1 Kết quả giờ dạy……… 17
2 Kết quả bài kiểm tra……… 17
Phần 3 Kết luận, kiến nghị ……….19
1 Kết luận………19
2 Kiến nghị……… 19
Tài liệu tham khảo……… 20
Trang 2PHẦN 1 MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Dạy học tích hợp và khai thác văn bản dựa vào đặc trưng thể loại là phươngpháp đồng thời là yêu cầu mang tính nguyên tắc của bộ môn Ngữ Văn trong nhàtrường phổ thông Trong quá trình giảng dạy, bản thân tôi nhận thức rất rõ tính
ưu việt của phương pháp này trong hệ thống phương pháp dạy học nói chung.Người học không chỉ được chiếm lĩnh những kiến thức trong bài, mà còn mởmang hiểu biết thêm nhiều loại tri thức khác có liên quan và có kĩ năng đọc- hiểucác thể loại văn học các em được tiếp nhận từ đời sống, có khả năng ứng dụngthực hành chủ động và tích cực, góp phần đáp ứng được yêu cầu chung của mụcđích giáo dục trong thời đại hiện nay
Văn nghị luận một thể loại có vị trí quan trọng trong đời sống của nhânloại Văn nghị luận với những đặc trưng có tính phổ quát của thể loại như: tínhlập luận chặt chẽ, dẫn chứng xác thực, giọng văn hùng hồn; kết hợp hài hoà giữa
vẻ đẹp trí tuệ và vẻ đẹp tình cảm Làm văn nghị luận trong nhà trường chiếmthời lượng khá lớn, trong đó nhiều thầy cô vẫn phải loay hoay trong hướng đicòn rất mờ mịt này Hầu hết giáo viên dạy văn đều nhận ra rằng, dạy làm văn-
mà bộ phận chủ yếu là dạy làm văn nghị luận, là một trong số những vấn đề nangiải nhất Một bài toán khó đang đặt ra với giáo viên dạy văn: trong xu thế đổimới của thời đại, học sinh làm văn nghị luận có xu hướng được đòi hỏi cao hơn.Đây là con đường phát triển đúng đắn Học sinh làm văn nghị luận sẽ thể hiện vàphát huy được năng lực tư duy và nhận thức toàn diện, khắc phục dần điểm yếulâu nay của giáo dục là học gạo, học để thi, nặng lí thuyết suông, sách vở sáomòn
Là một giáo viên có tuổi nghề đã cao, yêu thích văn nghị luận và thời họcsinh cũng đã rất tâm huyết khi làm văn nghị luận Tôi đã nhận thức sâu sắc từthực tế: Học sinh trung học phổ thông, trên địa bàn tôi trực tiếp đứng lớp, hầu hếtkhi vào lớp 10 đều chưa biết làm văn nghị luận, sợ làm văn nghị luận Học vănnghị luận hay làm văn nghị luận đều là vấn đề nhức nhối của cả người dạy vàngười học Tôi đã trăn trở nhiều năm và đang tìm ra chìa khoá khi làm cầu nốigiữa tác phẩm nghị luận và kĩ năng làm bài nghị luận cho học sinh về tư tưởngđạo lí hay những vấn đề đời sống xã hội
Vì những lí do trên, đúc rút từ trải nghiệm sau nhiều năm giảng dạy, tôi
mạnh dạn nghiên cứu đề tài : Rèn luyện năng lực tư duy và kĩ năng làm văn nghị luận cho học sinh THPT từ dạy tích hợp tác phẩm nghị luận trong nhà trường.
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Đối với giáo viên:
Trang 3Có thể vận dụng một trong những phương pháp hữu hiệu, giúp giảng dạyphần văn nghị luận, chủ động vận dụng các kĩ năng thực hành làm văn nghị luận
có kết quả tốt
- Đối với học sinh:
Tăng cường thêm kiến thức và rèn luyện các kĩ năng cơ bản để đọc- hiểuvăn bản nghị luận trong nhà trường, củng cố ở các em khả năng đào sâu suynghĩ, nâng cao mở rộng kiến thức Đồng thời, rèn luyện kĩ năng làm văn nghịluận về tư tưởng đạo lí và nghị luận đời sống xã hội theo hướng tích cực và sángtạo
III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Học sinh THPT Thọ Xuân 4
- Chọn lớp 11A2, 11A3 trường THPT Thọ Xuân 4 làm đối chứng
- Các tác phẩm nghị luận tiêu biểu trong chương trình Ngữ Văn ở trườngTHPT
- Các bài làm văn nghị luận của học sinh THPT Thọ Xuân 4, đặc biệt lớp11A2, 11A3 năm học 2015- 2016
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Về lí thuyết: Nghiên cứu tài liệu
- Thiết kế bài học ngữ văn THPT - do Phan Trọng Luận chủ biên
- Phân tích và bình giảng Ngữ văn lớp 11, 12- do Nguyễn Đăng Mạnh chủbiên
- Các bài nghiên cứu cho các lớp bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình
và sách giáo khoa môn Ngữ Văn – do Phan Trọng Luận, Trần Đình Sử chủ biên
Trang 4
PHẦN 2 NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÍ LUẬN
I.1 Vài nét về vấn đề tích hợp trong dạy học
Trong tác phẩm Khoa học sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các năng lực trong nhà trường, giáo sư Xaver Rogiers đã khẳng định: Do nhu
cầu xã hội, chúng ta cần phải hướng tới tích hợp trong dạy học
* Quan điểm dạy học tích hợp:
Có nhiều quan điểm dạy học tích hợp, nhưng cơ bản vẫn theo các hướng sau:
- Quan điểm liên môn, trong đó chúng ta phối hợp đóng góp của nhiều mônhọc để nghiên cứu và giải quyết một tình huống
- Quan điểm xuyên môn, trong đó chúng ta tìm cách phát triển ở học sinhnhững kĩ năng xuyên môn Nghĩa là tích hợp ở một đơn vị kiến thức và kĩ năngmới, với những kiến thức và kĩ năng trước đó; những kiến thức và kĩ năng củacác lớp trên, bậc học trên bao hàm kiến thức và kĩ năng lớp dưới, bậc học dưới;
có thể áp dụng ở mọi lúc mọi nơi
* Những quan điểm trên được các nhà giáo dục Việt Nam gọi là tích hợp theo chiều ngang và theo chiều dọc.
- Tích hợp theo chiều dọc(quan điểm xuyên môn) phối hợp nhiều kiến thức,của nhiều lĩnh vực: khoa học, đời sống, theo nguyên tắc đồng tâm
- Tích hợp theo chiều ngang(quan điểm liên môn):thực chất là phối hợp sựđóng góp của nhiều môn với nguyên tắc đồng quy
Ở đề tài này, khi vận dụng tích hợp trong dạy tác phẩm nghị luận, tôi chú ý vào
cả hai hình thức tích hợp theo chiều ngang và dọc
I.2 Vấn đề tích hợp trong giờ dạy văn bản nghị luận trong nhà trường.
- Là hướng khai thác dựa vào những thông tin ngoài văn bản, liên văn bản.Như: tiểu sử tác giả, ngữ cảnh sản sinh ra văn bản, để soi chiếu vào nội dunggóp phần giải mã các lớp ý nghĩa tiềm ẩn của tác phẩm
- Giáo viên hướng dẫn học sinh tiếp cận vấn đề trong tính liên thông, sẽ tạođược phản xạ tâm lí tích cực đến người học, giúp các em có lối tư duy ánh chiếuvấn đề đặt ra trong tác phẩm với hơi thở, nhịp sống đương đại Học sinh tự tìm
thấy ý nghĩa hiện đại muôn thuở của những vấn đề mà nhà văn hướng tới
- Dạy học tích hợp và khai thác văn bản dựa vào đặc trưng thể loại là phươngpháp đồng thời là yêu cầu mang tính nguyên tắc của bộ môn Ngữ văn trong nhàtrường phổ thông Thể hiện rõ ở thái độ, niềm say mê học tập của học sinh trongtừng bài học Từ đó người học không chỉ được chiếm lĩnh những kiến thức trongbài, mà còn mở mang hiểu biết thêm nhiều loại tri thức khác có liên quan và có
kĩ năng đọc- hiểu các thể loại văn học các em được tiếp nhận từ đời sống
II THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Thực trạng của việc dạy học văn bản nghị luận và chất lượng làm bài nghị luận của học sinh ở trường THPT hiện nay
Trang 5Giảng dạy tác phẩm nghị luận nói chung được giáo viên nhận định chung làkhó Trên thực tế, nhiều đồng nghiệp coi nhẹ những tác phẩm này, dạy với hìnhthức chiếu lệ, qua loa Cái khó ở đây là vận dụng phương pháp dạy học nào chophù hợp với từng văn bản; khô là bởi nó không mượt mà như các tác phẩm thơhay những áng văn xuôi giàu chất trữ tình; khổ vì tìm ra những độc đáo, đặc sắctrong bút pháp và nghệ thuật lập luận của tác phẩm chính luận đó mới có thể làm
tổ trong lòng người tiếp nhận
Thực trạng kết quả làm văn nghị luận nhìn chung cũng không mấy khảquan
Qua điều tra, khảo sát về phía học sinh, qua dự giờ, trao đổi trực tiếp vớiđồng nghiệp ở trường THPT Thọ Xuân 4, tôi rút ra một số nhận xét về thực trạngcủa vấn đề nghiên cứu cụ thể như sau:
II.1 Về phía người thầy
Chủ yếu có hai hướng chính:
Một là: dạy truyền thụ theo phương pháp truyền thống và dạy sơ sài qua loa vì
học sinh không thích học nên cũng chẳng cần phải đầu tư
Hai là: có ý thức đào sâu, hiểu sâu và cảm sâu, nhưng hoàn toàn tách rời giữa
việc tiếp nhận, cảm thụ tác phẩm phần đọc – hiểu với kĩ năng thực hành làm văn,thậm chí coi đó là hai công việc không liên quan
Rèn luyện kĩ năng làm văn cho học sinh trong nhà trường là nhiệm vụ kếttinh đầy đủ học với hành, điều kiện để bộc lộ rõ nhất nhân cách học sinh nhưngchưa được người thầy quan tâm đầu tư đúng mức
Nhiều giáo viên dạy văn chưa thực sự ý thứcđược mối quan hệ giữa vănnghị luận với đời sống, chưa thực sự coi đời sống chính là cái gốc rễ duy nhấtsinh ra mọi thứ cho văn nghị luận Và do đó, văn nghị luận trong nhà trường hiệnnay chưa thoát khỏi cái lốt khuôn sáo, công thức lối mòn, cử nghiệp
II.2 Về phía người học
- Học sinh chưa hiểu bản chất, mục đích và đặc trưng của văn nghị luận, vaitrò chủ thể của người làm văn nghị luận
- Học sinh làm văn nghị luận hầu như là bắt chước, chưa xác định đối tượng nghị luận, bài làm chưa có luận điểm, không biết sử dụng dẫn chứng và đưa lí lẽ,chưa tự tin để thể hiện quan điểm, lập trường của bản thân
III CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ III.1 Vận dụng phương pháp tích hợp trong dạy học văn và ý nghĩa của nó
trong việc dạy những văn bản nghị luận THPT
Để nâng cao ý thức dạy tích hợp một tác phẩm nghị luận trong nhà trường,tôi hướng tới hai nhiệm vụ trọng tâm: Hiểu tác phẩm nghị luận ở giá trị thời đại
và giá trị bền vững trên cả hai phương diện: nội dung và nghệ thuật nghị luận
Tôi luôn ý thức: học sinh phải được tiếp nhận tác phẩm với vai trò của mộtbạn đọc vừa chủ động, vừa tự nhiên, vừa sâu sắc lâu bền với ý nghĩa lôi cuốn
Trang 6mạnh mẽ của tác phẩm được soi từ nhiều chiều Khi làm được điều này tôi đã tạođược ảnh hưởng tích cực về việc rèn luyện học sinh làm văn nghị luận từ những
gì mà người học tiếp nhận được cách triển khai vấn đề của các tác giả qua mỗitác phẩm nghị luận Từ đó, tôi đã dần dần hình thành một thái độ tích cực, chủđộng và hoàn toàn tự tin cho khi làm một bài văn nghị luận theo yêu cầu đề ra
Theo kinh nghiệm của bản thân đã nhiều năm giảng dạy, đặc biệt là dạy ởvùng khó, tôi nhận ra một thực tế: Nếu giảng dạy tác phẩm văn chương, muốn có
sự cộng hưởng rung cảm của người học, cần phải có năng lực đặc biệt Nhưngdạy tác phẩm nghị luận lại có khả năng tác động trực tiếp tích cực đến nhiều đốitượng, kể cả học sinh trung bình và dưới trung bình Như vậy, người thầy nângcao năng lực làm văn nghị luận trong nhà trường nếu biết đầu tư sẽ có kết quả tốthơn làm văn cảm thụ tác phẩm văn chương Đây cũng là con đường để để pháttriển tư duy tổng hợp, tích hợp từ nhiều kiến thức từ đời sống xã hội, cần thiếtcho mọi ngành nghề, cho mọi thời đại
Ở nhiệm vụ này, tôi phải xác định đây là công việc liên tục, thường xuyên.Không những xoá nhoà ranh giới của việc học tác phẩm nghị luận và kĩ nănglàm văn của học sinh lâu nay đã cố hữu, mà còn tận dụng một cách dạy thựchành hiệu quả từ những minh chứng cụ thể nhất, sống động nhất, hùng hồn nhất
ở mọi kĩ năng làm văn từ tác phẩm nghị luận tiêu biểu
Tôi đã nắm vững yêu cầu của phương pháp dạy học hiện đại, kĩ năng làmvăn nói chung và làm văn nghị luận nói riêng, để xác định bài làm văn của họcsinh không còn đơn thuần là một sự trả bài mang tính chất ép buộc, miễncưỡng những gì đã được học Qua công việc làm văn, tôi đã tạo cho học sinhđược tập dượt một công việc hết sức cần cho đời sống, là tập nói năng cho ngườikhác, vì người khác, chứ không phải vì mình và chỉ cho mình
Trong quá trình lên lớp về phần văn nghị luận, tôi đã chỉ ra cho học sinhmột thức tế khi làm văn nghị luận đời sống, tư tưởng đạo lí: sức lôi cuốn đầu tiên
mà người thầy phải định hướng phải làm sao dẫn dắt người nghe, người đọc tìm
ra chân lí khi cùng tìm hiểu, cùng suy nghĩ, cân nhắc phải trái, đúng sai, chứkhông phải ép đối tượng phải công nhận một cách đơn giản, xuôi chiều, khôngqua sự sàng lọc nghiêm khắc của tư duy và tình yêu lẽ phải Đây là cơ sở quantrọng để tôi phải định hướng, xác định rõ đối tượng, mục đích cũng như lựachọn cho mình một giọng điệu nghị luận vừa dân chủ, vừa trách nhiệm, tránh lốiviết gò bó, sáo mòn
Như vậy, đối với bài làm văn của học sinh theo yêu cầu của dạy học hiệnđại, tôi đã cố gắng phát huy tối đa tính ưu việt của phương pháp làm văn truyềnthống, như tìm hiểu đề, tìm ý, xây dựng hệ thống luận điểm; mạch ý nên đi từmức độ thấp đến mức độ cao hơn, từ cái dễ nhận thấy đến cái khó nhận thấyhơn… để các ý không chỉ được tổ chức khoa học, rõ ràng, mạch lạc, mà còn cókhả năng duy trì được hứng thú theo dõi của đối tượng Không những xoá nhoà
Trang 7ranh giới của việc học tác phẩm nghị luận và kĩ năng làm văn của học sinh lâunay đã cố hữu, mà còn tận dụng một cách dạy thực hành hiệu quả từ những minhchứng cụ thể nhất, sống động nhất, hùng hồn nhất ở mọi kĩ năng làm văn từ tácphẩm nghị luận tiêu biểu
III.2 Vận dụng phương pháp cụ thể: Rèn luyện năng lực tư duy cho hoc sinh từ việc dạy tích hợp tác phẩm nghị luận.
Dạy tích hợp văn bản “ Chiếu cầu hiền ” ( Ngô Thì Nhậm )- Ngữ văn 11
Trước khi đi vào đọc- hiểu văn bản này, tôi đã tiến hành xây dựng hệ thốngcâu hỏi cho học sinh chuẩn bị bài ở nhà:
Qua sách báo, em hãy tìm hiểu những nội dung có liên quan đến cuộc đời
vua Quang Trung; tác giả Ngô Thì Nhậm Danh phận, vị thế của mỗi người Bối cảnh lịch sử, xã hội có tác động như thế nào tới nội dung và cách thức lập luận của các văn bản trên?
a Tiểu dẫn
- Giáo viên nêu câu hỏi tìm hiểu: Phần tiểu dẫn đã cung cấp những nội dung
thông tin gì về tác giả Ngô Thì Nhậm?
Những nội dung đó giúp em được điều gì khi tìm hiểu văn bản?
- Qua sự chuẩn bị ở nhà, kết hợp với phần tiểu dẫn, học sinh có thể dễ dàng
có được những kiến giải ban đầu:
+ Ngô Thì Nhậm xuất thân trong một gia đình có nhiều đời đỗ đạt và làmquan to ở triều đình Lê - Trịnh Bản thân ông là một cựu thần của nhà Lê, nhưngnay đã ra cộng tác đắc lực cho triều Tây Sơn Trong khi một số trí thức Bắc Hàquay lưng hoặc chống lại tân triều, bất hợp tác với vua Quang Trung chỉ vì cốchấp và tư tưởng trung quân lỗi thời, thì việc Ngô Thì Nhậm bước qua lời
nguyền lịch sử “ trung thần bất sự nhị quân ” của Nho giáo đã thể hiện một tầm
nhìn quảng đại, một thái độ linh hoạt, mềm dẻo trong ứng xử của nhà văn
+ Từ một văn thần của triều đình nhà Lê, nay được hoàng đế Quang Trung hếtmực tin dùng và giao trọng trách lớn, điều đó có sức thuyết phục rất lớn đối vớinhững ai còn hoài nghi tấm lòng thành của vị vua Tây Sơn Những ai còn mang
tư tưởng bảo thủ, cố chấp sẽ dễ tìm thấy lối thoát cho tâm lí mặc cảm vốn có
trong con người nhà Nho Lựa chọn Ngô Thì Nhậm chắp bút soạn Chiếu cầu hiền, Nguyễn Huệ quả có tầm nhìn xa trông rộng!
b Phương pháp tích hợp vận dụng trong quá trình giáo viên hướng dần học sinh đọc-hiểu văn bản
Hỏi: Xác định đối tượng nghị luận?
- Do đối tượng hướng tới của văn bản chủ yếu là giới trí thức Bắc Hà, nên trongquá trình lập luận, ông phải trổ hết tài năng của một nhà chính luận trong cuộchùng biện
Hỏi: Lựa chọn giọng điệu nghị luận như thế nào? Chỉ ra cơ sở của việc lựa chọn này?
Trang 8Ngô Thì Nhậm đang nói bằng tư tưởng của hoàng đế Quang Trung- ngườiđang đứng trên bục cao của chiến thắng, song trong mắt không ít trí thức Bắc Hàlại là kẻ thù của cựu triều! Do đó trong văn bản, giọng văn một mặt vừa phải thểhiện quyền uy của một vị hoàng đế, mặt khác phải thật mềm mỏng, chân thànhmới hầu mong mục đích cầu hiền mang lại kết quả như mong muốn.
Hỏi: Nêu dẫn chứng cụ thể? Hiệu quả của cách đưa dẫn chứng?
+ Gọi tên đúng những đối tượng bất hợp tác hoặc hợp tác một cách giữ kẽ,cầm chừng; hoặc phí đời bằng cách tìm đến cái chết để thể hiện thứ đạo lí ngu
trung, bằng những hình ảnh “ gõ mõ canh cửa”, “ ra biển vào sông”, “chết đuối
trên cạn”, là một lối diễn đạt hết sức tinh tế
-> Giọng văn vừa có cảm thông, vừa có khiển trách; vừa khuyên bảo, vừangăn ngừa hết sức hợp lí
- Cùng với hệ thống tri thức ngoài văn bản, như: bối cảnh thời đại, vị thế củamỗi bên đối thoại và đặc điểm tâm lí cũng như lối giao tiếp có tính lễ nghi đặcbiệt của thời đại, đã chi phối cách viết của bài chiếu Vấn đề viết cho ai? Viết để
làm gì? đã chi phối một cách sâu sắc đến nội dung (viết cái gì?) và hình thức biểu hiện (viết như thế nào?) ở hệ thống luận điểm là rất rõ.
Hỏi: Xác định hệ thống luận điểm của bài chiếu và mối quan hệ chặt chẽ giữa các luận điểm?
+ Ở phần mở đầu: tập trung luận về người tài và chức năng của họ
-> Người hiền tài được tác giả ví như “ngôi sao sáng trên trời cao”, chức năng được xác định là “làm sứ giả cho thiên tử” Đó là do đã được tác giả ý thức
rõ về sự tôn vinh và trân trọng rất mực đối với hiền tài
Hỏi: Tác giả đã dùng hình ảnh nào để xây dựng mạch lập luận và lí lẽ của mình?
Ngô Thì Nhậm nói đến nhiều ngôi sao, là để dẫn chúng ta đến với một ngôi sao chính: Bắc Thần (Bắc Đẩu) Bắc Thần trước hết là ngôi sao có vị trí đặc biệt
trên bầu trời- không ai là không biết Quan trọng hơn, Bắc Thần còn là hình ảnhtượng trưng cho hoàng đế trong hình dung của đức Khổng Tử Mọi ngôi sao trênbầu trời đều hướng về Bắc Đẩu, vậy thì sao-hiền tài không chầu về sao BắcThần-thiên tử thì còn chầu về đâu nữa? Từ một sự so sánh tưởng như ngẫu hứng,mang nặng tình cảm, tác giả đi đến một kết luận nghiêm túc và hết sức lô gích -> Chính lời của Khổng Tử được dẫn ra ngay từ đầu đã tạo nên tính chính
danh cho Chiếu cầu hiền Đối với các nhà nho xưa lời Khổng Tử là chân lí, nào
ai dám không nghe theo!
+ Trọng điểm của phần thứ hai trong Chiếu cầu hiền là làm rõ tâm
nguyện của vua Quang Trung; mong có hiền tài ra giúp vua trị nước
Hỏi: Giọng điệu ở luận điểm này có gì đáng lưu ý?
Tác giả nói đến sự trốn tránh việc đời của kẻ sĩ thời rối ren Đoạn văn chứa
đựng nhiều tầng ý Một mặt là sự cảm thông, nhưng bề sâu là sự trách cứ Lời lẽ
Trang 9trình bày trong đoạn văn khá tế nhị: vì nó đụng chạm tới chuyện nhạy cảm: thái
độ bất hợp tác của các sĩ phu Bắc Hà Chuyện đó không thể không nhắc lại, songnhắc với thái độ như thế nào? Những gì biểu lộ trong đoạn văn cho thấy nhà vua
áo vải cờ đào này rất đại lượng, có tác dụng làm mờ đi bớt đi tính “khó chịu” của
các sự việc đã xảy ra
Hỏi : Chỉ ra tính thuyết phục, chạm vào tâm tư của đói tượng nghị luận là sĩ phu Bắc Hà?
Ngô Thì Nhậm đã thực hiện được một sự “hoà giải” khéo léo, trên cơ sở hiểu
lòng ông vua tri kỉ Và cũng từ đó mà tác gỉả khơi được mạch văn chảy tới
những lời bộc lộ thiết tha “ Nay trẫm đang ghé chiếu lắng nghe ngày đêm mong
mỏi, nhưng những người học rộng tài cao chưa thấy ai tìm đến Hay trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng? Hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự vương hầu chăng?”
-> Đi sâu vào tình thế lịch sử trước mắt và sự cấp thiết của việc cầu hiền, lờivăn từ mềm mỏng, tế nhị chuyển sang bộc trực, thẳng thắn Toát lên từ đây là nỗi
lo lắng của quân vương, đối với vận nước khi thấy bộn bề những việc cấp bách
cần phải xử lí, sắp đặt: “kỉ cương nơi triều chính còn nhiều khiếm khuyết, công
việc ngoài biên cương còn phải lo toan Dân còn mệt nhọc chưa lại sức” Chúng
ta dường như cảm nhận một con người cụ thể đang hành động, kiên quyết hànhđộng vì một hoài bão lớn, đang hết sức cần một lực lượng phò tá; qua nhịp điệu
của lời văn “một cái cột không thể đỡ nổi một căn nhà lớn, mưu lược một người
không thể dựng nghiệp trị bình.( ) trên dải đất văn hiến rộng lớn như thế này
há trong đó lại không có lấy một con người tài danh nào ra phò giúp cho chính quyền buổi đầu của trẫm hay sao? Sự cao giọng trong câu hỏi vừa trích, còn
phản ánh cái gì khác ngoài niềm tin tưởng nhiệt thành vào “trữ lượng” hiền tàicủa đất nước? Đúng là giọng của một con người đầy cá tính không chịu lùi bướctrước những trở ngại trên con đường gây dựng nghiệp lớn Ngô Thì Nhậm nóidùm ước nguyện của quân vương hay chính nỗi lòng mình? Có thể nói ở đây có
sự cộng hưởng khát vọng giữa hai con người và giữa hai con người ấy với cả dântộc trong thời đại bấy giờ!
+ Phần thứ ba: chính sách cầu hiền của vua Quang Trung
Hỏi: Nêu chính sách cầu hiền của vua Quang Trung?Nhận xét và đánh giá?
- Nội dung của chính sách đó có mấy điểm nổi bật: Cho phép những người
có tài năng thuộc mọi tầng lớp trong xã hội được dâng sớ tâu bày kế sách; chophép các quan văn võ tiến cử người; sẵn sàng cất nhắc người xứng đáng, không
kể thứ bậc “tuỳ tài lục dụng” những kẻ được tiến cử Không trị tội người có lời
sơ xuất…
- Đúng là chính sách rộng mở, có nhiều điều khoản chi tiết và giàu tính “khả
thi”, rất phù hợp với buổi đầu dựng “nền đại định” của vua Quang Trung.
Trang 10-> Rõ ràng khi ra chiếu cầu hiền, mọi việc đã được đấng quân vương trù liệukhá kĩ Ông đã tự chứng tỏ được tầm nhìn xa trông rộng, cũng như khả năng tổchức sắp đặt chính sự của mình Nhà vua đã biết giải quyết những băn khoăn cóthể có nảy sinh trong thời đại của mình cho mọi thần dân, để họ yên tâm khitham gia bàn việc nước Trong một giọng điệu khoan hoà, điềm tĩnh rất dễ lọttai, giàu sức thuyết phục.
Như vậy, đối với tác phẩm Chiếu cầu hiền- một áng văn chính luận nổi
tiếng của văn học trung đại Việt Nam nói riêng và các tác phẩm nghị luận trongchương trình phổ thông nói chung, tôi đã khai thác trên tinh thần tích hợp Vềkiến thức, tập trung chủ yếu theo hai hướng: khai thác giá trị thời sự và giá trịbền vững về nội dung và nghệ thuật Luôn luôn có ý thức tổ chức, hướng dẫnhọc sinh tiếp nhận tác phẩm theo ý đồ của giáo viên Sau khi học xong tác phẩm.học sinh phải thu hoạch được những đơn vị kiến thức quan trọng sau:
- Sức thuyết phục của hệ thống luận điểm, học được cách xây dựng luận điểm
và cách sắp xếp luận điểm, học được cách sử dụng dẫn chứng và lí lẽ để làm sáng tỏ luận điểm.
- Nhận ra được giọng điệu nghị luận, thấy được nhiệt huyết, nhiệt tình nghị luận, có sự đồng cảm với tác giả từ sự chân thành, từ thái độ và quan điểm tích cực của người viết.
Đây là cơ sở và cũng là yêu cầu vừa để tạo sự hoà nhập đồng cảm, sự hứngthú, thích thú với những kĩ năng làm văn nghị luận tạo được màu sắc cá nhân củangười viết Khắc phục dần được cách viết biến văn nghị luận thành những bàiGiáo dục công dân nặng giáo huấn, hô hào lí thuyết suông
III.3 Rèn luyện kĩ năng thực hành làm văn nghị luận cho học sinh bằng phương pháp vận dụng lồng ghép sau khi dạy xong tác phẩm nghị luận III.3.1.Vận dụng kiến thức
Trong thực tiễn sống, khi người ta dùng lời nói đúng, lời lẽ phải để luận bàn
và thuyết phục người khác nghe theo những quan điểm, ý kiến của mình về mộtđiều, một vấn đề nào đó, là chúng ta đã thực hiện một quá trình nghị luận So vớinghị luận thông thường ở cuộc đời, làm văn nghị, viết văn nghị luận phải đòihỏi cao hơn vè nghệ thuật thuyết phục lòng người
Chính vì vậy, trong quá trình dạy làm văn cho học sinh, tôi luôn chỉ ra sự gần gũi, chứ không phải sự xa lạ giữa văn và thực tế đời sống Do đó, về nội dung, người thầy cần xác định rõ ràng hơn và nhấn mạnh hơn vấn đề đời sống thời sự được đặt ra cho người nghị luận Về phương pháp, nên bắt đầu từ chỗ họcsinh cảm nhận, trải nghiệm từ thực tế, cụ thể là từ những ví dụ rút từ hoạt động nghị luận trong đời sống, trong những tác phẩm nghị luận tiêu biểu đề hình thành
và tạo thành những kĩ năng không hề khô khan, cứng nhắc như lâu nay học sinh vẫn ngại, vẫn sợ