1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Nâng cao hiểu biết và nhận thức cho học sinh THPT về chiến tranh bảo vệ biên giới phía bắc năm 1079 để giảng dạy và giáo dục cho học sinh trường THPT ngọc lặc năm học 2015 2016

23 282 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 384,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lí do chọn đề tàiXuất phát từ thực tiễn của lịch sử dân tộc, yêu cầu thực tế của môn học,quyền được hiểu và biết của thế hệ trẻ liên quan đến tình hình đang có phần bất ổn về địa, chính

Trang 1

8 1 a - Nguyên nhân và bối cảnh xảy ra chiến tranh giữa VN và TQ 2 - 6

2.a - Mục đích và mục tiêu của Trung Quốc 7

3.a - Giai đoạn 1: Mặt trận Lạng Sơn – Cao Bằng 8 - 10

15 II 3 - Giải pháp và tổ chức thực hiện 16 - 17

16 II 4 - Hiệu quả và tác dụng của đề tài 17 - 18

Trang 2

I MỞ ĐẦUI.1 Lí do chọn đề tài

Xuất phát từ thực tiễn của lịch sử dân tộc, yêu cầu thực tế của môn học,quyền được hiểu và biết của thế hệ trẻ liên quan đến tình hình đang có phần bất ổn

về địa, chính trị đang và diễn biến phức tạp trên thế giới nói chung và trong khuvực cũng như các quốc gia với nhau nói riêng trong đó có Việt Nam chúng ta vànước láng giềng Trung Quốc qua các cuộc chiến tranh xâm lược mà chiều dài lịch

sử đã ghi nhận về kết quả thành bại, trong đó có Chiến tranh bảo vệ biên giới phía bắc năm 1979 hay Cuộc chiến chống bè lũ bành trướng phương bắc Phía Trung Quốc gọi là Chiến tranh đánh trả tự vệ trước Việt Nam (对越自卫还击

战 Đối Việt tự vệ hoàn kích chiến) Và đã là lịch sử thì phải nhìn nhận nó với sự

thật đầy đủ Sẽ không thể không nhắc đến ngày 17.2.1979, ngày mà cuộc chiếntranh biên giới phía Bắc đã nổ ra; ngày mà hàng ngàn con em chúng ta đã hy sinh

để bảo vệ biên cương của Tổ quốc Nhắc để dân ta nhớ, biết ơn và tôn vinh nhữngchiến sĩ và đồng bào đã hy sinh xương máu để bảo vệ từng tấc đất biên cương tổquốc, như chúng ta đã và sẽ vẫn tôn vinh bao nhiêu anh hùng liệt sĩ trong cuộcchiến tranh giải phóng dân tộc Không những dân ta cần hiểu, mà nhân dân TrungQuốc cũng như nhân dân các nước trên thế giới cũng phải hiểu đúng: đâu là sựthật, đâu là lẽ phải và coi đó là bài học Không thể quên lãng nó

- Đã có nhiều câu hỏi được nhắc đến về lịch sử “ Chiến tranh bảo vệ Biêngiới phía Bắc năm 1979” của đông đảo nhân dân trong xã hội, đặc biệt là thế hệtrẻ, những chủ nhân tương lai của đất nước, các em có quyền được hiểu, biết về giátrị lịch sử, nhân văn, tính nhân đạo, đâu là cốt lõi của sự thật…nhưng chưa tài liệu,sách báo, mạng xã hội nào cập nhật một cách sòng phẳng, đầy đủ, ý nghĩa về cuộcchiến này

- Đó là cơ sở, là lý do tôi lựa chọn đề tài “ Nâng cao hiểu biết và nhận thức

cho học sinh THPT về “ Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 ” để

giáo dục cho học sinh Trường THPT Ngọc Lặc năm học 2015 – 2016 và các nămhọc tiếp theo

- Không chỉ đưa vào sách giáo khoa những sự thật lịch sử về Hoàng Sa, Trường Sa mà ngay cả cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc cũng cần được nhắc đến đầy đủ Con em chúng ta cần biết và có quyền biết lịch sử, biết những gì

mà ông cha đã làm, để tự hào và tiếp nối truyền thống Ta tôn trọng lịch sử, sòng phẳng với lịch sử không có nghĩa là chúng ta kích động hận thù Chúng ta biết sự thật, để hiểu đâu là lẽ phải và để rút ra bài học cho các mối quan hệ quốc tế trong

Trang 3

bối cảnh phức tạp ngày nay ( Tháng 6/ 2015 làm việc với đại diện Hội Khoa học

Lịch sử Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đồng tình với đề xuất của GS Phan Huy Lê rằng phải đưa mạnh dạn, đầy đủ hơn nữa những tài liệu về Hoàng

Sa, Trường Sa, cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc đã được kiểm chứng vào sách giáo khoa để giáo dục thế hệ trẻ )

I 3 Đối tượng nghiên cứu.

- Khách thể: Quá trình giảng dạy môn học Giáo dục Quốc phòng và An

ninh bậc THPT

+ Thực trạng tiếp thu kiến thức, quyền được biết về một phần lịch sử dân tộccủa học sinh Trường THPT Ngọc Lặc - Huyện Ngọc Lặc - Tỉnh Thanh Hóa trongnăm học 2015 – 2016

- Chủ thể: Giáo viên và học sinh Trường THPT Ngọc Lặc.

I 4 Phương pháp nghiên cứu.

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

+ Điều tra, khảo sát thực tế, thu thập tài liệu

+ Tổng hợp và phân tích tài liệu

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn,

+ Điều tra dư luận ( ý kiến tiếp thu, phản hồi của giáo viên và học sinh)+ Kiểm chứng bằng thực nghiệm

- Phương pháp toán học xắc suất thống kê

+ Đưa ra số liệu

+ Phân tích và tổng hợp số liệu

II NỘI DUNG

II 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ

1.a Nguyên nhân và bối cảnh xảy ra chiến tranh giữa Việt Nam và Trung Quốc?

* Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc - Liên Xô

Tuy được sự giúp đỡ rất lớn của Trung Quốc trong chiến tranh Đông Dương

và Chiến tranh Việt Nam, các rạn nứt trong quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dânchủ Cộng hoà và Trung Quốc đã bắt đầu thể hiện từ năm 1968 Hà Nội nhất địnhcùng lúc giữ mối quan hệ nồng ấm với cả Moskva lẫn Bắc Kinh trong khi mâuthuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc đã lên cao Bất đồng quan điểm giữa Hà Nội vàBắc Kinh về cách tiến hành cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam trở nên rõ rệt BắcKinh muốn Hà Nội chỉ tiếp tục chiến tranh du kích có giới hạn chống Hoa Kỳ,trong khi Hà Nội muốn tiến hành chiến tranh quy mô để thống nhất đất nước của

họ.Và hơn thế nữa, họ muốn trực tiếp đàm phán với Hoa Kỳ, không cần thông quamột nước nào làm trung gian Sau sự kiện Tết Mậu Thân, Hà Nội bắt đầu đàmphán với Hoa Kỳ, trong khi đó Bắc Kinh phản đối

+ Năm 1972, chuyến thăm của tổng thống Mỹ Nixon tới Bắc Kinh và thỏathuận giữa Mỹ và Trung Quốc được Việt Nam Dân chủ Cộng hoà xem là một sựphản bội.Từ năm 1973, Ban lãnh đạo Trung Quốc đã có chỉ thị: "Bề ngoài ta đối

xử tốt với họ (Việt Nam) như đối xử với đồng chí mình, nhưng trên tinh thần phải chuẩn bị họ sẽ trở thành kẻ thù của chúng ta" Năm 1975, trong chuyến thăm Bắc

Kinh, Lê Duẩn thẳng thừng từ chối đưa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vào liên

Trang 4

minh chống Liên Xô của Trung Quốc, phủ nhận quan niệm của họ rằng chủ nghĩabành trướng của Liên Xô là mối đe dọa đối với các nước cộng sản châu Á

+ Khi Việt Nam ngày càng có quan hệ chặt chẽ hơn với Liên Xô, TrungQuốc thấy mình bị đe dọa từ hai phía Đồng thời, Việt Nam cũng đang cố gắng xâydựng mối quan hệ đặc biệt chặt chẽ giữa 3 nước Đông Dương trong đó Việt Namgiữ vị thế đứng đầu Cùng với thực tế rằng nước Việt Nam thống nhất đã trở thànhmột sức mạnh quan trọng trong vùng, làm giảm ảnh hưởng của Trung Quốc.Những điều này làm cho Trung Quốc lo ngại về một "tiểu bá quyền" Việt Nam vàviệc bị Liên Xô bao vây từ phía bắc Một nước Campuchia chống Việt Nam đã trởthành một đồng minh quan trọng đối với Trung Quốc

+ Ngày 29/ 6/1978 Việt Nam gia nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế Tháng

7, Trung Quốc tuyên bố cắt hết viện trợ và rút hết chuyên gia đang làm việc tạiViệt Nam về nước Ngày 3/11/1978, Việt Nam ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tácgiữa Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Cộng hoà Xã hội chủnghĩa Xô Viết Ngày 22 tháng 12 năm 1978, Trung Quốc ngừng tuyến xe lửa liênvận tới Việt Nam Đầu tháng 1 năm 1979, đường bay Bắc Kinh - Hà Nội cũng bịcắt

+ Theo các nguồn tin chính thức của Mỹ vào tháng 8/1978, Việt Nam có4.000 cố vấn và chuyên gia Liên Xô và đến giữa năm 1979 con số đã tăng lên đến5.000-8.000 Tháng 9/1978, Liên Xô bắt đầu cung cấp vũ khí mới (máy bay, tênlửa phòng không, xe tăng và vũ khí, đạn dược, cơ sở vật chất phục vụ chiến tranh)cho Việt Nam bằng đường hàng không và đường biển

+ Tháng 5/1979 trên biên giới Liên Xô - Trung Quốc xảy ra một xung độtquân sự nghiêm trọng có sự tham gia của cả máy bay trực thăng chiến đấu Cũngtrong tháng 5/1979, các tàu chiến Liên Xô bắt đầu đi vào hải phận Cam Ranh Ítlâu sau, các máy bay của Hạm đội Thái Bình Dương bắt đầu hạ cánh xuống CamRanh

* Quan hệ Việt Nam - Campuchia - Trung Quốc

+ Cùng lúc căng thẳng Việt Nam - Trung Quốc lên cao thì ở biên giới phíatây nam của Việt Nam, chính quyền Khmer Đỏ, với sự bảo trợ của Trung Quốc,cũng bắt đầu leo thang hoạt động quân sự xâm lấn miền Nam Việt Nam Các xungđột lẻ tẻ ở khu vực này đã nhanh chóng bùng nổ thành Chiến tranh biên giới ViệtNam - Campuchia với hệ quả là Việt Nam đưa quân vào Campuchia lật đổ chínhquyền diệt chủng Khmer Đỏ Đứng trước tình hình đó, Trung Quốc quyết định tấn

công xâm lược Việt Nam với lý do "dạy cho Việt Nam một bài học" (lời Đặng Tiểu

Bình) nhưng mục đích chính là phân chia lực lượng quân đội của Việt Nam đểgiúp chính quyền diệt chủng Khmer Đỏ

+ Quan hệ Việt Nam - Campuchia ngày càng đi xuống, thể hiện ngay từtháng 5 năm 1975 khi Khmer Đỏ cho quân đánh chiếm các đảo Phú Quốc và ThổChu cũng như đánh sâu vào lãnh thổ Việt Nam và bắt đi và tàn sát hàng nghìn dânthường Trong suốt thời gian đó và cả về sau, Trung Quốc luôn là nước viện trợđắc lực cho Khmer Đỏ về vũ khí, khí tài cũng như cố vấn quân sự Bên cạnh các

nỗ lực ngoại giao dàn xếp không thành nhằm xoa dịu căng thẳng với Trung Quốc

và Campuchia, Việt Nam tin rằng Trung Quốc đang sử dụng Campuchia để tấncông Việt Nam

Trang 5

+ Sau khi cắt toàn bộ viện trợ cho Việt Nam thì năm 1975, Trung Quốc choCampuchia vay không lấy lãi 1 tỷ USD và kí kết một hiệp ước quân sự bí mật vớichính quyền Khmer Đỏ vào tháng 2 năm 1976

+ Từ tháng 9 đến tháng 10 năm 1977, Polpot có chuyến thăm tới TrungQuốc, nhằm thắt chặt quan hệ đồng minh giữa hai nước

+ Ngày 20/11/1977, Tổng Bí thư Lê Duẩn thăm Trung Quốc đã bày tỏ quan

điểm không tham gia vào cuộc tranh cãi Trung - Xô thông qua việc "chân thành

cảm ơn Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác về sự nhiệt tình, giúp đỡ to lớn đối với Việt Nam" Tổng Bí thư cũng đề nghị những nhà lãnh đạo Trung Quốc yêu

cầu Campuchia Dân chủ chấp nhận một giải pháp cho cuộc xung đột trên tuyếnbiên giới Tây Nam, nhưng Trung Quốc không quan tâm

+ Tháng 12 năm 1977, Phó Thủ tướng Trung Quốc Uông Đông Hưng tớithăm Campuchia và đi thị sát những vùng gần biên giới Việt Nam Trong chuyến

thăm này, Phó Thủ tướng Uông Đông Hưng tuyên bố: "Không một lực lượng nào

có thể đứng cản trở quan hệ hữu nghị giữa Trung Quốc và Campuchia, hai nước

sẽ là đồng chí với nhau mãi mãi".

+ Cuối năm 1977, các văn kiện của Quân khu Quảng Châu luôn nhấn mạnh

tinh thần "phải chuẩn bị các mặt để đánh Việt Nam", tuyên truyền: "Việt Nam là tay

sai của Liên Xô, có tham vọng xâm lược Campuchia, Lào, chiếm Đông Nam Á, thực hiện bá quyền khu vực, phải đánh cho bọn xét lại Việt Nam, không đánh là không thể được và phải đánh lớn Việt Nam là tiểu bá ở châu Á, xâm lược Campuchia, xua đuổi người Hoa".

+ Tháng 1 năm 1978, Thủ tướng Phạm Văn Đồng yêu cầu các nước xã hộichủ nghĩa giúp đỡ giải quyết cuộc xung đột Việt Nam - Campuchia Một lần nữaTrung Quốc không đáp ứng Cũng trong tháng 1 năm 1978, Bà Đặng Dĩnh Siêu,

Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc sang thăm Phnompenh và kýmột hiệp định xúc tiến viện trợ quân sự cho Campuchia Dân chủ, bắt đầu chuyển

vũ khí đến Campuchia và tuyên bố: Trung Quốc sẽ không tha thứ cho một cuộc tấncông nào vào đồng minh của họ Trung Quốc cũng hủy bỏ hiệp ước về lãnh sự vớiViệt Nam Ngày 12/7/1978, lần đầu tiên, tờ Nhân dân Nhật báo của Đảng Cộng

sản Trung Quốc, công khai buộc tội Việt Nam "tìm cách sáp nhập Campuchia vào

một Liên bang Đông Dương dưới sự thống trị của Việt Nam"

+ Theo tính toán của nhà nghiên cứu D.R.SarDesai, từ năm 1975-1978,Trung Quốc cung cấp cho Campuchia súng đại bác, súng cối, súng bazoca, súngđại liên, súng trung liên, vũ khí các loại, xe cộ và xăng đầu đầy đủ để trang bị chođội quân 200.000 người, Trung Quốc cũng gửi khoảng 10.000 cố vấn và chuyêngia quân sự sang Campuchia để hỗ trợ và huấn luyện quân đội Polpot" Cuối năm

1978, căng thẳng giữa Việt Nam với cả Campuchia cũng như Trung Quốc đều lênmột đỉnh mới

+ Ngày 23 tháng 12 năm 1978, Quân đội Việt Nam tổng phản công trên biêngiới Tây Nam, đánh sang Campuchia lật đổ chính quyền Khmer Đỏ Trung Quốc

có được lý do để tuyên bố về cuộc chiến chống Việt Nam sắp tiến hành Sau khiPhnompenh thất thủ, ngày 27/1/1979 tờ Nhân dân Nhật báo có bài viết, trong đó cóđoạn: "Sự thất thủ của Phnompenh không có nghĩa là chiến tranh chấm dứt mà chỉ

Trang 6

là khởi đầu" và "vấn đề Campuchia đóng vai trò vật xúc tác để đẩy các quan hệ vớiViệt Nam vượt quá một điểm không thể nào quay trở lại được nữa".

* Vấn đề biên giới và hải đảo

- Biên giới

+ Cuộc đàm phán đầu tiên về biên giới, lãnh thổ giữa Việt Nam - TrungQuốc được tiến hành từ ngày 15/8/1974 đến ngày 2/11/1974 ở cấp Thứ trưởngNgoại giao Từ giữa năm 1975, tình hình biên giới Việt Nam - Trung Quốc trở nêncăng thẳng do những hoạt động vũ trang từ phía Trung Quốc Những xung đột ởbiên giới Việt Nam - Trung Quốc tại khu vực Cao Bằng - Lạng Sơn vào cuối năm

1976 làm quan hệ Việt Nam - Trung Quốc ngày càng xấu đi Tháng 3 năm 1977,Việt Nam và Trung Quốc tiến hành đàm phán lần thứ hai về vấn đề biên giới CaoLạng - Quảng Tây

+ Từ năm 1978 đến đầu năm 1979, mức độ xâm phạm lãnh thổ, hoạt động

vũ trang mang tính khiêu khích tại biên giới Việt Nam của Trung Quốc ngày càngnghiêm trọng Theo thống kê của Việt Nam, công bố trong Bị vong lục của BộNgoại giao nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày 15/2/1979, số vụ xâmphạm vũ trang của Trung Quốc vào lãnh thổ Việt Nam năm 1978 là 583 vụ, trongtháng 1 và 2/ 1979 là 230 vụ Không những vậy, Trung Quốc còn cho trên 100 lượtmáy bay xâm phạm vùng trời và 481 lượt tàu thuyền hoạt động khiêu khích trênvùng biển Việt Nam mặc dù ta đã gửi công hàm yêu cầu phía Trung Quốc chấmdứt ngay tình trạng trên

- Hải đảo

+ Từ năm 1973, Liên Hiệp Quốc bắt đầu thảo luận về vấn đề chủ quyền củacác quốc gia đối với vùng đặc quyền kinh tế trên biển Chính phủ Việt Nam Dânchủ Cộng hòa quyết định tuyên bố chủ quyền với các quần đảo Hoàng Sa vàTrường Sa dựa theo hiệp ước Pháp-Thanh kí kết năm 1887 Về phía Trung Quốc,với cuộc khủng hoảng dầu lửa những năm 1970 nước này đã tìm kiếm các nguồnkhai thác dầu mỏ trên biển Đông sát với Việt Nam, một hành động mà theo ViệtNam là chiến lược bao vây đất nước họ

+ Ngày 10/9/1975, phía Trung Quốc gửi công hàm cho Việt Nam Dân chủCộng hòa khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Tây Sa vàNam Sa (Hoàng Sa và Trường Sa) Tháng 9 năm 1975, trong chuyến viếng thămTrung Quốc của Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam Tổng Bí thư ĐảngLao động Việt Nam Lê Duẩn nêu vấn đề Trung Quốc dùng vũ lực chiếm Hoàng Sa

và khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo này Trong cuộc gặp ngày24/9/1975, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình tuyên bố phía Trung Quốc

có đầy đủ chứng cứ để khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổTrung Quốc, nhưng cần theo nguyên tắc hiệp thương hữu nghị để giải quyết bấtđồng Đặng Tiểu Bình cũng bày tỏ hai bên có thể thương lượng để giải quyết vấn

Trang 7

+ Ngày 30/7/1977, Ngoại trưởng Trung Quốc Hoàng Hoa tuyên bố: "Khi

thời cơ đến chúng ta sẽ thu hồi toàn bộ quần đảo Nam Sa (quần đảo Trường Sa)

mà không cần phải thương lượng gì hết".

+ Ngày 15/3/1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Bị vong lục về vấn đềbiên giới Việt -Trung, trong đó lên án việc Trung Quốc đánh chiếm trái phép quầnđảo Hoàng Sa của Việt Nam

+ Ngày 28/9/1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Sách trắng, giới thiệu

19 tài liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa

* Vấn đề Hoa Kiều

+ Một lý do nữa khiến căng thẳng Việt Nam - Trung Quốc leo thang đó làvấn đề Hoa kiều tại Việt Nam Trước năm 1975, có khoảng 1,5 triệu người gốcHoa sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, 15% sống ở phía bắc vĩ tuyến 17 và 85%còn lại sinh sống ở miền Nam Việt Nam Người Hoa đặc biệt có ảnh hưởng ở miềnNam Việt Nam, nơi họ hoạt động mạnh trong lĩnh vực kinh doanh thương mại.Năm 1955, ở miền Bắc Việt Nam, theo thỏa thuận của Đảng Lao động Việt Nam

và Đảng Cộng sản Trung Quốc, "người Hoa cư trú ở miền Bắc Việt Nam phảiđược đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam" và dần dần chuyển thànhcông dân Việt Nam, được hưởng những quyền lợi như người Việt Nam và tựnguyện nhập quốc tịch Việt Nam Năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm đưa rachính sách buộc người Hoa phải nhập quốc tịch Việt Nam hoặc họ sẽ bị trục xuấtkhỏi lãnh thổ, ngược lại, Hà Nội và Bắc Kinh đồng ý trên nguyên tắc về việc chophép Hoa kiều tự chọn lựa quốc tịch của mình

+ Tháng 4 năm 1978, Việt Nam tiến hành cải tạo công thương nghiệp ởmiền Nam Trung Quốc coi việc Việt Nam trong quá trình tiến hành cải tạo côngthương nghiệp, tịch thu tài sản của giới công thương người Hoa ở miền Nam ViệtNam là một sự thách thức chính sách bảo vệ Hoa kiều của Trung Quốc Phản ứnglại chính sách cải tạo công thương của nhà nước Việt Nam, một phong trào đòi lấyquốc tịch Trung Quốc trong người Hoa ở Việt Nam nổi lên Trung Quốc đưa rachính sách "đoàn kết với giai cấp tư sản Hoa kiều", kêu gọi chống lại chính sách

"bài Hoa" của Việt Nam; đồng thời, loan truyền trong cộng đồng người Việt gốcHoa về một cuộc chiến tranh không thể tránh khỏi giữa Việt Nam - Trung Quốckhiến cộng đồng người Hoa hoảng hốt

+ Do ảnh hưởng của những yếu tố trên, trong năm 1978 cộng đồng ngườiHoa ở Việt Nam ồ ạt kéo về Trung Quốc Từ năm 1977 đã có 70.000 Hoa kiều từViệt Nam quay về Trung Quốc Cho đến thời điểm xảy ra cuộc chiến đã có chừng160.000 Hoa kiều hồi hương từ Việt Nam bằng đường biển hoặc đường bộ quaCửa khẩu Hữu Nghị.Trung Quốc lập ra các trạm đón tiếp dọc theo biên giới hainước Sau đó, tháng 5 năm 1978, Trung Quốc đưa tàu sang đón người Hoa vềTrung Quốc Ngày 12 tháng 7 năm 1978, Trung Quốc đóng cửa biên giới ViệtNam – Trung Quốc, làm cho hàng vạn người Hoa muốn đi Trung Quốc bị kẹt lạitại biên giới Do có quá nhiều người Hoa xin nhập cảnh vào Trung Quốc, nước nàyđưa ra điều kiện là người Hoa muốn về Trung Quốc phải chính thức xin giấy phéphồi hương do Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội cấp, cần có hộ chiếu xuất cảnhcủa chính quyền Việt Nam

2 Ý đồ thâm hiểm của Trung Quốc

Trang 8

2 a Mục đích và mục tiêu của Trung Quốc

+ Tháng 11 năm 1978, Đặng Tiểu Bình công du Thái Lan, Malaysia vàSingapore Trong chuyến đi này, Đặng Tiểu Bình nói với lãnh đạo các nước nàyrằng Trung Quốc sẽ dùng vũ lực nếu Việt Nam tấn công Campuchia

+ Ngày 7 tháng 12 năm 1978, Ủy ban Quân sự Trung ương Cộng hòa Nhândân Trung Hoa họp và ra quyết định mở một cuộc chiến hạn chế ở biên giới ViệtNam - Trung Quốc Cuộc chiến này sẽ được tiến hành một cách hạn chế, trongphạm vi 50 cây số từ biên giới và kéo dài hai tuần và ra chỉ thị cho các Quân khuQuảng Châu và Côn Minh chuẩn bị đầy đủ lực lượng trước ngày 10 tháng 1 năm

1979 để thực hiện chiến dịch tấn công Việt Nam

+ Nhiều nhà sử học phương Tây cho rằng cuộc chiến có những mục đíchkhông rõ ràng, trong đó dễ thấy nhất là mục đích trừng phạt Việt Nam vì đã lật đổchế độ Khmer Đỏ tại Campuchia - một đồng minh của Trung Quốc và là một trongnhững chế độ tàn bạo nhất của thế kỉ 20 Một số nhà sử học cho rằng Đặng TiểuBình gây ra chiến tranh để giữ cho quân đội bận rộn trong khi ông củng cố quyềnlực và loại bỏ các đối thủ cánh tả từ thời Mao Trạch Đông

+ Đối với Việt Nam, cuộc chiến là một phần trong kế hoạch bành trướng vềphía nam của Trung Quốc Trước khi có xung đột, Việt Nam đã đề phòng những

kế hoạch tiến xuống Đông Dương (bao gồm biển Đông) Trung Quốc đã viện trợ

vũ khí, thuốc men và các nhu yếu phẩm khác cho Campuchia và xây dựng nhiều

cơ sở hạ tầng, đồng thời xúi giục Khmer Đỏ tấn công Việt Nam Sau khi khống chếCampuchia rồi sẽ dùng bàn đạp để phối hợp với quân Trung Quốc ở phía bắc làmthế gọng kìm bao vây, nếu cần sẽ tấn công để buộc Việt Nam khuất phục

2 b Tương quan lực lượng tham chiến

+ Để tấn công Việt Nam, Trung Quốc sử dụng 9 quân đoàn chủ lực và một

số sư đoàn bộ binh độc lập (tổng cộng 32 sư đoàn), 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn

và nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không Lực lượng được huy động khoảngtrên 30 vạn binh sĩ, 550 xe tăng, 480 khẩu pháo, 1.260 súng cối và dàn hỏa tiễn,chưa kể hơn 200 tàu chiến của hạm đội Nam Hải và 1.700 máy bay sẵn sàng phíasau Tướng Hứa Thế Hữu, tư lệnh Đại Quân khu Quảng Châu chỉ huy hướng tiếncông vào đông bắc Việt Nam với trọng điểm là Lạng Sơn và Cao Bằng TướngDương Đắc Chí, tư lệnh Đại Quân khu Côn Minh đảm nhiệm hướng tây bắc vớitrọng điểm là Hoàng Liên Sơn (nay là Lào Cai) Đây là đợt huy động quân sự lớnnhất của Trung Quốc kể từ Chiến tranh Triều Tiên Ngoài lực lượng quân chínhquy, Trung Quốc còn huy động hàng chục vạn dân công và lực lượng dân binh ởcác tỉnh biên giới để tải đồ tiếp tế, phục vụ, tải thương, hỗ trợ quân chính quy phục

vụ cho chiến dịch, chỉ riêng tại Quảng Tây đã có đến 215.000 dân công được huyđộng Về phân phối lực lượng của Trung Quốc: hướng Lạng Sơn có quân đoàn 43,

54, 55; hướng Cao Bằng có quân đoàn 41, 42, 50; hướng Hoàng Liên Sơn có quânđoàn 13, 14; hướng Lai Châu có quân đoàn 11; hướng Quảng Ninh, Hà Tuyên (nay

là Hà Giang) mỗi nơi cũng có từ 1-2 sư đoàn

+ Về phía Việt Nam, do phần lớn các quân đoàn chính quy (3 trong số 4quân đoàn) đang chiến đấu ở Campuchia nên phòng thủ ở biên giới với TrungQuốc chỉ có một số sư đoàn chủ lực quân khu (chủ yếu là tân binh) của Quân khu I

và II cùng các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh, huyện, công an vũ trang (biên phòng)

Trang 9

và dân quân tự vệ Lực lượng tinh nhuệ nhất của phía Việt Nam đóng ở biên giớiViệt-Trung là Sư đoàn 3 (đóng tại Lạng Sơn) và sư đoàn 316A (đóng tại Sa Pa),ngoài ra còn có các sư đoàn 346 ở Cao Bằng, 325B ở Quảng Ninh, 345 ở Lào Cai,

326 ở Phong Thổ, Lai Châu Sư đoàn 346 đóng tại Cao Bằng nhiều năm chủ yếulàm nhiệm vụ kinh tế, thời gian huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trở lại chưa nhiều.Lực lượng biên giới có khoảng 70.000 quân, sau được hai sư đoàn (327 và 337) từtuyến sau lên Lạng Sơn tiếp viện Lực lượng độc lập gồm các trung đoàn 141, 147,

148, 197, trung đoàn pháo binh 68, các trung đoàn quân địa phương 95, 121, 192,

254 và 741 Quân đoàn 1 vẫn đóng quanh Hà Nội đề phòng Trung Quốc đổi ý tiếnsâu vào trung châu Ngày 27 tháng 2, Quân đoàn 2 là chủ lực của Bộ quốc phòngđược lệnh cơ động về để bảo vệ miền Bắc, đến ngày 5 tháng 3 bắt đầu triển khaitrên hướng Lạng Sơn, nhưng chưa kịp tham chiến thì Trung Quốc tuyên bố rútquân

+ Để đối phó lại việc Trung Quốc tập trung bộ binh và vũ khí hạng nặng tạibiên giới, cũng như việc các cuộc đột kích vũ trang ngày càng gia tăng, Việt Namtiến hành chuẩn bị các vị trí phòng ngự, chuẩn bị tinh thần dân chúng sẵn sàng mộtkhi chiến tranh xảy ra Lực lượng Việt Nam đương đầu với cuộc tấn công củaTrung Quốc chủ yếu là dân quân và bộ đội địa phương Từ vài tháng trước khichiến tranh nổ ra, Hà Nội đã tiến hành huấn luyện và trang bị vũ khí hạng nhẹ chodân quân tại các tỉnh biên giới Chỉ có một số đơn vị quân chính quy tham giachiến trận, nhất là các đơn vị phòng thủ Lạng Sơn, nhưng ngay cả tại đây, lựclượng chủ yếu vẫn là dân quân và quân địa phương Hà Nội giữ lại 5 sư đoàn chủlực ở tuyến sau đề phòng Trung Quốc tiến sâu về đồng bằng, và đồng thời cũng đểgiới hạn việc cuộc chiến leo thang

2 c Mặt trận ngoại giao của Trung Quốc

Ngày 5/11/1978, Đặng Tiểu Bình đi thăm các nước ASEAN Trong chuyến

đi này Đặng nói rằng, việc Việt Nam ký Hiệp ước Việt - Xô ngày 3/11/1978 là mối

đe dọa đối với các nước ASEAN, Đặng Tiểu Bình kêu gọi thành lập Mặt trậnchống Liên Xô và Việt Nam, bao gồm Trung Quốc, khối nước ASEAN để cânbằng lại quyền lợi của các nước Đông Nam Á và nói rõ quyết tâm của Trung Quốckhông để khu vực Đông Nam Á rơi vào tay Việt Nam Trong chuyến đi này, ĐặngTiểu Bình công khai ý định dùng biện pháp quân sự đối phó với Việt Nam Sau đó,tháng 1 năm 1979, Đặng Tiểu Bình thăm Mỹ rồi tới thăm Nhật Về mặt ngoại giao,sau khi bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ từ tháng 12 năm 1978, trong chuyếnthăm Washington từ 28 đến 30 tháng 1, Đặng Tiểu Bình nhận được sự ủng hộ cần

thiết của đồng minh mới Hoa Kỳ trong kế hoạch tấn công Việt Nam "Đối với Việt

Nam, Trung Quốc phải chịu trách nhiệm đối phó" và nhấn mạnh: "Các ngài nhớ

kỹ một điều là những lời phát biểu của tôi trong chuyến thăm nước Mỹ sẽ hoàn toàn được chứng thực bằng những hành động"

3 Giai đoạn chiến tranh

3 a Giai đoạn 1: Mặt trận Lạng Sơn và Mặt trận Cao Bằng

+ 5 giờ sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, lực lượng bộ binh Trung Quốc với khoảng120.000 quân bắt đầu tiến vào Việt Nam trên toàn tuyến biên giới, mở đầu là pháo,tiếp theo là xe tăng và bộ binh Cánh phía đông có sở chỉ huy tiền phương đặt tạiNam Ninh và mục tiêu chính là Lạng Sơn Có hai hướng tiến song song, hướng thứ

Trang 10

nhất do quân đoàn 42A dẫn đầu từ Long Châu đánh vào Đồng Đăng nhằm làm bànđạp đánh Lạng Sơn, hướng thứ hai do quân đoàn 41A dẫn đầu từ Tĩnh Tây vàLong Châu tiến vào Cao Bằng và Đông Khê Ngoài ra còn có quân đoàn 55A tiến

từ Phòng Thành vào Móng Cái Cánh phía tây có sở chỉ huy tiền phương đặt tạiMông Tự, có 3 hướng tiến công chính Hướng thứ nhất do các quân đoàn 13A và11A dẫn đầu đánh từ vào thị xã Lào Cai Hướng thứ hai từ Văn Sơn đánh vào HàGiang Hướng thứ 3 do sư đoàn 42D của quân đoàn 14A dẫn đầu đánh từ KimBình vào Lai Châu.Tổng cộng quân Trung Quốc xâm nhập Việt Nam trên 26 điểm,các khu vực dân cư Việt Nam chịu thiệt hại nặng nhất từ đợt tấn công đầu tiên này

là Lào Cai, Mường Khương, Cao Bằng, Lạng Sơn và Móng Cái

+ Không quân và hải quân không được sử dụng trong toàn bộ cuộc chiến.Tất cả các hướng tấn công đều có xe tăng, pháo binh hỗ trợ Quân Trung Quốc vừachiếm ưu thế về lực lượng, vừa chủ động về thời gian tiến công, lại còn có "lựclượng thứ năm" gồm người Việt gốc Hoa trên đất Việt Nam Từ đêm 16 tháng 2,các tổ thám báo Trung Quốc đã mang theo bộc phá luồn sâu vào nội địa Việt Nammóc nối với "lực lượng thứ năm" này lập thành các toán vũ trang phục sẵn các ngã

ba đường, bờ suối, các cây cầu để ngăn chặn lực lượng tiếp viện của Việt Nam từphía sau lên Trước giờ nổ súng, các lực lượng này cũng bí mật cắt các đường dâyđiện thoại để cô lập sở chỉ huy sư đoàn với các chốt, trận địa pháo

+ Tiến nhanh lúc khởi đầu, nhưng quân Trung Quốc nhanh chóng phải giảmtốc độ do gặp nhiều trở ngại về địa hình và hệ thống hậu cần quá lạc hậu phải dùnglừa, ngựa và người thồ hàng.Hệ thống phòng thủ của Việt Nam dọc theo biên giớirất mạnh, với các hầm hào hang động tại các điểm cao dọc biên giới do lực lượngquân sự tinh nhuệ có trang bị và huấn luyện tốt trấn giữ Kết quả là Trung Quốcphải chịu thương vong lớn Trong ngày đầu của cuộc chiến, chiến thuật dùng biểnlửa và biển người của Trung Quốc đã có kết quả tốt, họ tiến được vào sâu tronglãnh thổ Việt Nam hơn 10 dặm và chiếm được một số thị trấn Chiến sự ác liệt nhấtdiễn ra tại các vùng Bát Xát, Mường Khương ở Tây bắc và Đồng Đăng, cửa khẩuHữu Nghị, Thông Nông ở đông bắc Quân Trung Quốc cũng đã vượt sông Hồng vàđánh mạnh về phía Lào Cai

- Trong hai ngày 18 và 19 tháng 2, chiến sự lan rộng hơn Quân đội ViệtNam kháng cự rất mạnh và với tinh thần chiến đấu cao Quân Trung Quốc hầu nhưkhông thể sử dụng lực lượng ở mức sư đoàn mà phải dùng đội hình nhỏ và thay đổichiến thuật Họ tiến chậm chạp, giành giật từng đường hầm, từng điểm cao, và cuốicùng cũng chiếm được Mường Khương, Trùng Khánh, và Đồng Đăng Tại MóngCái, hai bên giành giật dai dẳng Cả hai bên đều phải chịu thương vong cao, có ítnhất 4.000 lính Trung Quốc chết trong hai ngày đầu này Sau hai ngày chiến tranh,quân Trung Quốc đã chiếm được 11 làng mạc và thị trấn, đồng thời bao vây ĐồngĐăng, thị trấn có vị trí then chốt trên đường biên giới Trung-Việt

- Trận chiến tại Đồng Đăng bắt đầu ngay từ ngày 17 và là trận ác liệt nhất.Đây là trận địa phòng thủ của Trung đoàn 12 Tây Sơn, Sư đoàn 3 Sao Vàng, Quânđội Nhân dân Việt Nam Tấn công vào Đồng Đăng là 2 sư đoàn bộ binh, 1 trungđoàn xe tăng, và chi viện của 6 trung đoàn pháo binh Trung Quốc Cụm điểm tựaThâm Mô, Pháo Đài, 339 tạo thế chân kiềng bảo vệ phía tây nam thị xã ĐồngĐăng, do lực lượng của hai Tiểu đoàn 4 và 6, Trung đoàn 12 trấn giữ, bị Trung

Trang 11

Quốc bao vây và tấn công dồn dập ngay từ đầu với lực lượng cấp sư đoàn Lựclượng phòng thủ không được chi viện nhưng đã chiến đấu đến những người cuốicùng, trụ được cho đến ngày 22

- Ngày 19/2/1979 một đoàn cố vấn quân sự cao cấp của Liên Xô do đạitướng G.Obaturovym đứng đầu tới Hà Nội hỗ trợ cho các tướng lĩnh chỉ huy củaViệt Nam Nhóm chuyên gia của Trung tướng M.Vorobevy có trách nhiệm cố vấncho bộ tư lệnh lực lượng Phòng không – Không quân còn Đại tướngG.Obaturovym làm cố vấn cho Tổng tham mưu trưởng lực lượng vũ trang ViệtNam Lê Trọng Tấn và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đại tướng Văn Tiến Dũng.Moskva yêu cầu Trung Quốc rút quân

3 b Mặt trận Lào Cai

- Đến 21 tháng 2, Trung Quốc tăng cường thêm 2 sư đoàn và tiếp tục tấncông mạnh hơn nữa Ngày 22, các thị xã Lào Cai và Cao Bằng bị chiếm QuânTrung Quốc chiếm thêm một số vùng tại Hà Tuyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, vàQuảng Ninh Chiến sự lan rộng tới các khu đô thị ven biển ở Móng Cái Về phíaViệt Nam, cùng lúc với việc triển khai phòng ngự quyết liệt, khoảng từ 3 đến 5 sưđoàn (gồm 30.000 quân) cũng được giữ lại để thành lập một tuyến phòng ngự cánhcung từ Yên Bái tới Quảng Yên với nhiệm vụ bảo vệ Hà Nội và Hải Phòng

- Ngày 26 tháng 2, thêm nhiều quân Trung Quốc tập kết quanh khu vựcLạng Sơn chuẩn bị cho trận chiến đánh chiếm thị xã này Sau khi thị sát chiếntrường, Bộ tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam đề xuất điều động mộtquân đoàn từ Campuchia cùng một tiểu đoàn pháo phản lực BM-21 vừa được Liên

Xô viện trợ về Lạng Sơn Đồng thời tổ chức và huy động lại các đơn vị và cácphân đội, biên chế lại một sư đoàn vừa rút lui từ chiến trường, tiến hành các hoạtđộng tác chiến vào sâu trong hậu phương địch

- Phi đoàn máy bay vận tải An-12 của Liên Xô đã tiến hành không vận Quânđoàn 2, Quân đội Nhân dân Việt Nam từ Campuchia về Lạng Sơn

- Ngày 25 tháng 2, tại Mai Sao, Quân đoàn 14 thuộc Quân khu 1, Quân độiNhân dân Việt Nam cùng Bộ chỉ huy thống nhất Lạng Sơn được thành lập, lựclượng bao gồm các Sư đoàn 3, 327, 338, 337 (đang từ Quân khu 4 ra) và sau này

có thêm Sư đoàn 347 cùng các đơn vị trực thuộc khác

- Trong giai đoạn đầu đến ngày 28 tháng 2 năm 1979, quân Trung Quốcchiếm được các thị xã Lào Cai, Cao Bằng, và một số thị trấn Các cơ sở vật chất,kinh tế ở những nơi này bị phá hủy triệt để Tuy nhiên, do vấp phải sự phòng ngự

có hiệu quả của Việt Nam cũng như có chiến thuật lạc hậu so với phía Việt Namnên quân Trung Quốc tiến rất chậm và bị thiệt hại nặng Quân Việt Nam còn phảnkích đánh cả vào hai thị trấn biên giới Ninh Minh (Quảng Tây) và Malipo (VânNam) của Trung Quốc, nhưng chỉ có ý nghĩa quấy rối

3 c Giai đoạn 2

Bài chi tiết: Trận Lạng Sơn

Giai đoạn 2 bắt đầu từ ngày 27 tháng 2 Chiến sự tập trung tại Lạng Sơn tuygiao tranh tại Lào Cai, Cao Bằng, và Móng Cái vẫn tiếp diễn Trận đánh chiếm thị

xã Lạng Sơn bắt đầu lúc 6 giờ sáng cùng ngày Trung Quốc điều tới đây thêm 2 sưđoàn từ Đồng Đăng và Lộc Bình (phía đông nam Lạng Sơn), tiếp tục đưa thêmquân mới từ Trung Quốc thâm nhập Việt Nam để tăng viện.Tại Lạng Sơn, các Sư

Ngày đăng: 18/10/2017, 10:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w