1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Đề tài công ty bảo hiểm 1

47 715 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 156,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Đối với rủi ro thuần túy, cách chuyển nhượng rủi ro phổ biến nhất là mua các hợp đồng bảo hiểm, khi mua bảo hiểm người mua phải trả một khoản phí, công ty bảo hiểm có trách nhiệm bồi t

Trang 1

BÀI TIỂU LUẬN

Trang 2

Danh sách thành viên

Họ và tên

Nguyễn Thị Hồng Ân

Lê Thị Thùy Dung

Nguyễn Lý Anh Duyên

Vũ Thị Tuyết Hoa

Lê Thị Thanh Hiền

Hoàng Thị Hồng

Nguyễn Thị Phương Mai

Nguyễn Thị Yến Nhi

Mã số sinh viên

030430140248 030630142159 030731150059 030429130176 030631151216 030631151874 030630141750 030730140155

Trang 3

NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA GIẢNG VIÊN

Hồ Chí Minh, 23 tháng 12 năm 2016

Giảng viên

Trang 4

BẢNG PHÂN CHIA CÔNG VIỆC VÀ ĐÁNH GIÁ HOÀN THÀNH CÔNG VIỆC

CÔNG CÔNG VIỆC

ĐÁNHGIÁHOÀNTHÀNH

1 Nguyễn Thị Hồng

Các nguyên tắc củabảo hiểm

Hoànthành

2 Lê Thị Thùy Dung 030630142159 Các loại hình bảo

hiểm (Phần 4+5)

Hoànthành

3 Nguyễn Lý Anh

Rủi ro - nguồn gốccủa bảo hiểm + kháiniệm bảo hiểm

Hoànthành

4 Vũ Thị Tuyết Hoa 030429130176

Tổng hợp ppt, word

+ Hình thức pháp lýcủa công ty bảo hiểm+ các hoạt động cơbản của công ty bảohiểm ( phần 1)

Hoànthành

5 Lê Thị Thanh Hiền 030631151216 Bảo hiểm tiền gửi

Việt Nam

Hoànthành

6 Hoàng Thị Hồng 030631151874

Các hoạt động cơbản của công ty bảohiểm (phần 2 + 3)

Hoànthành

7 Nguyễn Thị Phương

Các hoạt động cơbản của công ty bảohiểm (phần 4 + 5)

Hoànthành

8 Nguyễn Thị Yến

Các loại hình bảohiểm (Phần 1 + 2 +3)

Hoànthành

1.

Trang 5

CHƯƠNG 8: CÔNG TY BẢO HIỂM

I/ TỔNG QUAN VỀ RỦI RO VÀ NGUỒN GỐC BẢO HIỂM

- Một khái niệm khác: “Rủi ro là sự kết hợp giữa khả năng xảy ra một sự kiện hay biến

cố xấu và hậu quả của biến cố đó” Mức độ rủi ro được đánh giá dựa trên tần số xuất hiện (the frequency) và mức độ tổn thất (Severity of loss)

- Khả năng xảy ra một sự kiện hay biến cố xấu: Cần lưu ý rằng đây chỉ là khả năng có thể xảy ra và có thể không xảy ra Ví dụ, khi một người đi trên đường một biến cố xấu

có thể xảy ra nởi tai nạn giao thông, trong một khoảng thời gian nhất định điều này có thể xảy ra và có thể không xảy ra

- Hậu quả của sự kiện đó: hậu quả của sự kiện là gây ra những tổn thất và thiệt hại có thể về tài sản, tính mạng, sức khỏe hay tinh thần…Ví dụ, nếu xảy ra tai nạn giao thôngthì sẽ gây ra những tổn thất: xe bị hư hỏng, tốn chi phí viện phí, điều trị, mất hoặc giảm khả năng lao động dẫn đến mất hoặc giảm nguồn thu nhập, chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu đi sai đường (tổn thất về tài chính), có thể tử vong hoặc tàn tật (tổn thất về sức khỏe và tính mạng), sự đau đớn, sợ hãi, sự lo lắng và mất mác của những người thân,…(tổn thất về tinh thần)

- Tuy nhiên đã có quan điểm mở rộng hơn trong cách định nghĩa về rủi ro: “Rủi ro tồn tại khi có sự không chắc chắn về tương lai” hay “Rủi ro là kết hợp giữa khả năng xảy

ra một sự kiện hay biến cố và kết quả của biến cố đó” Sự không chắc chắn của tương lai có thể bảo gồm cả trường hợp xấu hơn và trường hợp tốt hơn, kết quả của 1 sự kiện

có thể tạo ra cơ hội và lợi ích (upside), hay nguy cơ và tổn thất (downside) Trong lĩnh

Trang 6

vực tài chính và đầu tư, rủi ro là sự biến động của mức sinh lời hay giá tài sản, sự khácbiệt của mức sinh lời thực tế với mức sinh lời trung bình hay kỳ vọng

- Như vậy, sự rủi ro đơn giản là sự không chắc chắn của các sự kiện trong tương lai màkhông phải lúc nào cũng là hâu quả xấu Các tổ chức và cá nhân có thể đối mặt với 2

loại rủi ro: Rủi ro thuần túy và rủi ro đầu cơ.

+ Rủi ro đầu cơ (Speculative Risk): Là rủi ro khi tồn tại 3 khả năng có thể xảy ra:

thiệt hại, có lợi và không thay đổi Ví dụ, khi chúng ta mua 1 loại cổ phiếu , chúng ta

dự tính rằng cổ phiếu có thể tăng lên và chúng ta có thể kiếm dc lợi nhuận trên khoảngđầu tư của mình Cùng thời điểm đó, chúng ta đều có thể rằng giá cổ phiếu có thể giảmxuống hay đứng yên, làm cho chúng ta thua lỗ hoặc hòa vốn Các khái niệm và thuật ngữ chúng ta thường dùng trong kinh doanh và tài chính như: rủi ro kinh doanh, rủi ro tài chính, rủi tỷ giá hối đoái, rủi ro lãi suất, rủi ro hệ thống, rủi ro phi hệ thống, … đều

là rủi ro đầu cơ

+ Rủi ro thuần túy (Pure Risk): Là loại rủi ro khi chỉ tồn tại 2 khả năng bị thiệt

hại hay không bị thiệt hại, không có khả năng có lợi, khi biến cố xảy ra hoặc không xảy ra Ví dụ, khi một người tham gia giao thông trên đường, có 2 biến cố là xảy ra tai nạn và không xảy ra tai nạn Nếu xảy ra tai nạn người đó sẽ bị thiệt hại về tài chính, sức khỏe, tính mạng, tinh thần,… như đã phân tích ở trên Nếu tai nạn không xảy ra người đó sẽ không bị tổn thất, nhưng cũng không có lợi ích từ sự kiện này

- Nói cách khác rủi ro thuần túy là rủi ro có thể được bảo hiểm còn rủi ro đầu cơ khôngđược bảo hiểm Có một lý do giải thích điều này, nhưng lý do quan trọng nhất là “mục đích của bảo hiểm là đền bù những tổn thất về tài chính chứ không phải là tạo ra cơ hộikiếm lời”

2/ Các phương thức đối phó với rủi ro

- Quản trị rủi ro là việc một tổ chức hay cá nhân giảm thiểu các tác động tiêu cực của rủi ro bằng việc xác định và đo lường các rủi ro mà họ có thể gặp phải, từ đó có nhữngbiện pháp kiểm soát, giảm thiểu hay là loại bỏ rủi ro

- Để loại bỏ, giảm thiểu rủi ro và tổn thất tài chính ta có thể chọn các cách quản trị rủi

ro như sau: Tránh rủi ro (Avoiding Risk), kiểm soát rủi ro (Controlling Risk), chấp

Trang 7

nhận rủi ro (Accepting Risk), chuyển nhượng rủi ro (Transfering Risk) Trong đó chuyển nhượng rủi ro là việc một chủ thể có thể chuyển những tổn thất về tài chính xảy ra rủi cho một chủ thể khác, đổi lại phải chịu một khoản phí nhất định với các hìnhthức khác nhau

- Đối với rủi ro đầu cơ như rủi ro hay đổi giá hàng hóa, nguyên vật liệu, biến động tỉ giá,… người ta có thể chuyển giao các rủi ro này cho chủ thể khác thông qua các hợp đồng dài hạn hoặc thiệt lập vị thế phòng vệ (hedging) bằng các công cụ phái sinh như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền chọn

- Đối với rủi ro thuần túy, cách chuyển nhượng rủi ro phổ biến nhất là mua các hợp đồng bảo hiểm, khi mua bảo hiểm người mua phải trả một khoản phí, công ty bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường khi tổn thất xảy ra Như vậy người mua bảo hiểm đã thực hiện việc chuyển giao rủi ro sang cho công ty bảo hiểm

II KHÁI NIỆM BẢO HIỂM

tìm được một trong những phương thức hữu hiệu nhất là “Bảo hiểm”.

- Ngày nay bảo hiểm đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tết xã hội với nhiều loại hình và sản phẩm bảo hiểm đa dạng Các công ty bảo hiểm cũng luôn là một trongnhững loại hình định chế tài chính nắm giữ quy mô tài sản lớn nhất cùng với các ngân hàng thương mại và quỹ đầu tư

- Có nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm như:

+ Bảo hiểm là thỏa thuận trong đó một bên (người bảo hiểm) cam kết đền bù cho bên kia (người được bảo hiểm) trước những tổn thất do rủi ro hay hiểm họa mà đối tượng bảo hiểm có thể gặp phải, hoặc thanh toán một số tiền hoặc những vật và quyền lợi có giá trị khi xảy ra sự kiện nhất định - (Principles and Practice of Insurance – The

Trang 8

Canadian P&C Industry News and CIP Resource).

+ Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này, một người, một doanh nghiệp hay một tổchức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả người được bảo hiểm – (Tập đoàn bảo hiểm quốc tế Mỹ AIG)

+ Bảo hiểm là hoạt động theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiển bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm

2/ Các đặc điểm của rủi ro có thể được bảo hiểm

- Tổn thất phải xuất hiện một cách ngẫu nhiên (The Loss must be occur by chance)

Công ty bảo hiểm sẽ không chấp nhận bảo hiểm hoặc không chấp nhận bồi thường đối với các tổn thất do các sự kiện xảy ra trước thời điểm hợp đồng có hiệu lực, chắc chắn về khả năng và thời điểm xảy ra, hoặc do người được bảo hiểm gây ra

- Tổn thất phải được xác định rõ ràng ( The Loss must be definite)

Đối với hầu hết các loại hình bảo hiểm, những tổn thất được bảo hiểm phải được xác định bởi hai vấn đề: thời gian (Time) và số lượng (Amount)

- Tổn thất phải đáng kể (The Loss must be significant)

Những rủi ro có thể được bảo hiểm thông thường phải tương đối lớn và tạo ra những khó khăn tài chính đáng kể cho người tham gia bảo hiểm

- Tỉ lệ tổn thất phải có thể dự đoán được (The Loss Rate Must be predictable)

Để cung cấp một loại hình bảo hiểm nào đó, công ty bảo hiểm phải ước đoán được tỉ lệ tổn thất có thể xảy ra Với việc dự đoán tỉ lệ tổn thất sẽ giúp các công

ty bảo hiểm xác định được mức phí phù hợp áp dụng cho các hợp đồng bảo hiểm

- Rủi ro không vượt quá khả năng của nhà bảo hiểm (The Loss Must not be Catastrophic to the Insurer)

+ Những tổn thất tiềm năng không được xem là có thể được bảo hiểm nếu như

Trang 9

việc đền bù cho một tổn thất riêng lẻ có thể gây thiệt hại tài chính quá lớn cho

tổ chức bảo hiểm

+ Các hợp đồng bảo hiểm cũng thường có điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, trong đó quy định doanh nghiệp bảo hiểm có thể không phải bồi thường trong các trường hợp tổn thất do các thảm họa lớn như động đất, sóng thần, chiến tranh,…

3/ Bản chất của bảo hiểm

- Như vậy, bảo hiểm được đề cập ở đây dưới góc độ của một dịch vụ tài chính với một

số đặc điểm cơ bản như:

• Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ tài chính, chức năng chính của bảo hiểm không phải là ngăn chặn, giảm thiểu hay xỏa bỏ rủi ro mà là bồi thường thiệt hại về tài chính sau khi xảy ra rủi ro

• Bên bảo hiểm chỉ có trách nhiệm chi trả số tiền bảo hiểm sau khi xảy ra sựkiện bảo hiểm đã được quy định trong hợp đồng

• Bảo hiểm là một dịch vụ tài chính, không phải là hoạt động tương trợ, từ thiện Hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực và trách nhiệm của bên bảo hiểm chỉ phát sinh trên cơ sở bên mua bảo hiểm đã đóng phí đầy đủ

• Bảo hiểm hoạt động dựa trên quy luật số đông và các quy luật thống kê

• Người ta sẵn sàng chi trả một số tiền nhỏ tương đương chắc chắn

(Certainty Equivalent) là phí bảo hiểm hơn là phải gánh chịu một rủi ro, mặc dù là khả năng xảy ra thấp nhưng nếu xảy ra họ có thể bị thiệt hại mộtcách nghiêm trọng về tài chính

• Hoạt động bảo hiểm được điều chỉnh một cách chặt chẽ bởi luật pháp của quốc gia, các điều ước, quy tắc và thông lệ quốc tế

Theo Luật Dân Sự 2005, “Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bao hiểm, còn bên bảo hiểmphải trả một khoản tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”

Người bảo hiểm (The Insurer): là doanh nghiệp hoặc tổ chức bảo hiểm

chấp nhận rủi ro của người bảo hiểm

Trang 10

Bên mua bảo hiểm (Policyowner): là tổ chức cá nhân giao kết hợp đồng

với người bảo hiểm đóng phí bảo hiểm

Người được bảo hiểm (The insured): là tổ chức cá nhân có tính mạng,

sức khỏe, tài sản, trách nhiệm dân sự được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm Người được bảo hiểm có thể đồng thời là người thụ hưởng

Người thụ hưởng (Beneficiary): là tổ chức, cá nhân được bên mua bảo

hiểm chỉ định nhận số tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm

Đối tượng bảo hiểm (The object of the insurance): đối tượng bảo hiểm

bao gồm con người, tài sản, trách nhiệm dân sự được quy định tại hợp đồng bảo hiểm

Sự kiện bảo hiểm (Event insured): là sự kiển khách quan do các bên

thỏa thuận hoặc pháp luật quy định mà khi sự kiện đó xảy ra thì nhà bảo hiểm phải chi trả tiền cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm

Số tiền bảo hiểm (Policy benefit): là số tiền được ghi trong hợp đồng BH

mà công ty BH cam kết trả cho người hợp đồng/người thụ hưởng trong trường hợp xảy ra sự kiện bảo hiểm

Phí bảo hiểm (Premium): là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải đóng

cho doanh nghiệp bảo hiểm theo thời hạn và phương thức do các bên thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm

III CÁC NGUYÊN TẮC CỦA BẢO HIỂM

-Bảo hiểm có 6 nguyên tắc mà các nhà kinh doanh bảo hiểm và khách hàng cần phải tuân theo khi thực hiện hợp đồng bảo hiểm Những nguyên tắc này giúp hoạt động kinh doanh bảo hiểm diễn ra đúng với mục đích của nó, tránh những hành vi phi pháp

từ cả 2 bên kí kết hợp đồng

1 Nguyên tắc đảm bảo quy luật số đông.

-Bảo hiểm hoạt động trên cơ sở quy tụ những người có cùng rủi ro thành một cộng đồng nhằm phân tán hậu quả tài chính của những vụ tổn thất , do đó đây là nguyên tắc

cơ bản nhất của bảo hiểm

Trang 11

-Bảo hiểm y tế là bắt buộc Mọi người đều đóng mức lệ phí ngang nhau để tham gia nhưng có người đi khám bệnh ít thậm chí không đi khám trong cả năm, lại có người rấthay đi Số tiền từ những người ít và không đi sẽ bù sang phần phí khám chữa bệnh củangười hay đi khám.

2 Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm.

-Tức là bảo toàn quyền của người mua bảo hiểm đối với đối tượng được bảo hiểm Một số quyền được bảo hiểm được quy định trong luật kinh doanh bảo hiểm như: quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản, quyền nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm

Liên hệ: Một người đã mua bảo hiểm cho xe ô tô của mình , trong trường hợp xảy ra tai nạn, công ty bảo hiểm đứng ra giải quyết bồi thường thì chiếc xe đó vẫn thuộc quyền sở hữu của người mua bảo hiểm

3 Nguyên tắc trung thực tuyệt đối

-Tương tự như hoạt động tín dụng, tin tưởng là nguyên tắc hàng đầu khi tiến hành kinhdoanh bảo hiểm, mà niềm tin thì được xây dựng từ sự trung thực tuyệt đối từ 2 bên kí kết hợp đồng

4 Nguyên tắc bồi thường

-Hầu hết tất cả loại hình bảo hiểm –trừ bảo hiểm nhân thọ đều hoạt động trên nguyên tắc bồi thường Theo nguyên tắc này, công ty bảo hiểm sẽ bảo đảm đền bù thiệt hại tài chính cho bên khách hàng ngay sau khi xảy ra rủi ro

-Các hình thức bồi thường: thanh toán bằng tiền, sửa chữa, thay thế bằng tài sản khác, khôi phục

- Hai mục đích chính của nguyên tắc bồi thường

Trang 12

+ Ngăn chặn việc người tham gia bảo hiểm được lợi từ tổn thất Do khi rủi ro xảy ra, công ty bảo hiểm sẽ căn cứ vào điều khoản hợp đồng mà tiến hành đền bù, điều này khiến người được bảo hiểm không có cơ hội trục lợi từ tổn thất, bởi mọi điều khoản đãđược ghi trong hợp đồng.

+ Ngăn ngừa rủi ro đạo đức Do công ty bảo hiểm đền bù theo những điều khoản quy định về những trường hợp được đền bù nên bất cứ hành vi nào cố tình để có được tiền bảo hiểm sẽ không được chấp nhận.Điều này làm người mua bảo hiểm không quá liều lĩnh, vô trách nhiệm đối với đối tượng được bảo hiểm

5.Nguyên tắc thế quyền

-Khi rủi ro xảy ra, người tham gia bảo hiểm có thể nhận được bồi thường từ những đốitượng khác( người trực tiếp gây nên thiệt hại…) ngoài công ty bảo hiểm, với sự ủy quyền của khách hàng, công ty bảo hiểm sẽ thay mặt họ đứng ra tiếp nhận bồi thường

từ những đối tượng trên

-Mục đích chính của phương pháp này là tránh việc kiếm lời không hợp lý từ việc tham gia bảo hiểm Công ty bảo hiểm đứng ra thay mặt khách hàng tiếp nhận bồi thường sẽ triệt tiêu được hành vi người mua bảo hiểm đòi người gây nên tai nạn bồi thường nhiều hơn số tiền cần thiết

6 Nguyên tắc miễn thường/khấu trừ

Mức miễn thường là số tiền mà tổn thất trong khoản đó không được bồi thường Nói một cách khác, mức miễn thường chính là sự chia sẻ trách nhiệm giữa công ty bảo hiểm và người được bảo hiểm

Mức miễn thường càng cao thì phí bảo hiểm càng thấp và ngược lại

-Miễn thường có 2 loại:

+Miễn thường có khấu trừ:

Ví dụ:Khách hàng mua bảo hiểm ô tô với mức miễn thường có khấu trừ 500.000 đồng.Khi có tổn thất xảy ra cho xe và chi phí khắc phục tổn thất là 500.000 đồng trở xuống thì khách hàng phải tự thanh toán chi phí

Trang 13

Khi có tổn thất xảy ra với chi phí khắc phục tổn thất trên 500.000 đồng (ví dụ

10.000.000 đồng), khách hàng sẽ phải tự thanh toán 500.000 đồng, công ty bảo hiểm phải thanh toán chi phí còn lại (9.500.000 đồng)

+Miễn thường không khấu trừ:

Nếu khách hàng mua bảo hiểm ô tô với mức miễn thường không khấu trừ 500.000 đồng Khi có tổn thất xảy ra cho xe và chi phí khắc phục 500.000 trở xuống thì khách hàng phải tự thanh toán chi phí

Khi có tổn thất xảy ra với chi phí khắc phục lớn hơn 500.000 đồng (ví dụ 10.000.000 đồng), khách hàng sẽ không phải trả bất kỳ chi phí nào, công ty bảo hiểm sẽ chi trả toàn bộ chi phí khắc phục tổn thất (5.000.000 đồng)

-Mục đích của miễn thường:

+ Giảm phí bảo hiểm cho người tham gia so với các loại hình bảo hiểm khác vì nguyêntắc này quy định mức miễn thường càng cao thì phí bảo hiểm càng thấp

+Ngăn chặn nguy cơ đạo đức từ phía người tham gia Do phải tự chi trả phần miễn thường khi rủi ro xảy ,nên người tham gia sẽ không ỷ lại nhiều quá nhiều vào bảo hiểm mà trở nên bất cẩn đối với đối tượng được bảo hiểm

+Hạn chế những vụ nhỏ lẻ cho công ty bảo hiểm Khi tiến hành bồi thường cho một vụbảo hiểm cả 2 bên đều phải tốn những chi phí nhất định Do đó những vụ nhỏ lẻ với mức khiếu nại thấp sẽ được chi trả bằng mức miễn thường do người mua bảo hiểm chọn

IV: CÁC LOẠI HÌNH BẢO HIỂM

1.Căn cứ vào các chủ thể cung cấp bảo hiểm

a.Bảo hiểm xã hội (BHXH)

Khái niệm

Bảo hiểm xã hội là biện pháp bảo đảm, thay đổi hoặc bù đắp một phần thunhập của người lao động do gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng laođộng, mất việc làm thông qua một quỹ tiền tệ được tập trung từ sự đóng góp của người

Trang 14

lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an sinh xã hội Bảo hiểm xã hội

là trụ cột chính trong hệ thống an sinh xã hội ở mỗi nước

Đối tượng được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội được quy định trong luật BHXH 2014

Hình thức huy động

Theo chế độ tài chính hiện hành, quỹ BHXH được hình thành bằng các tính theo tỷ lệ20%trên tổng quỹ lương cấp bậc và các khoản phụ cấp thường xuyên của người laođộng thực tế trong kỳ hạch toán Người sử dụng lao động phải nộp 15% trên tổng quỹlương và tính vào chi phí sản xuất kinh doanh, còn 5% trên tổng quỹ lương thì dongười lao động trực tiếp đóng góp ( trừ vào thu nhập của họ ) Những khoản trợ cấpthực tế cho người lao động tại doanh nghiệp trong các trường hợp họ bị ốm đau, tainạn lao động, nũ công nhân viên nghỉ đẻ hoặc thai sản được tính toán trên cơ sởmức lương ngày của họ, thời gian nghỉ( có chứng từ hợp lệ) và tỷ lệ trợ cấp BHXH.Khi người lao động được nghỉ hưởng BHXH, kế toán phải lập phiếu nghỉ hưởngBHXH cho từng người và lập bảng thanh toán BHXH để làm cơ sở thanh toán với quỹBHXH

Các nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm xã hội:

- Mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH và có chia

sẻ giữa những người tham gia BHXH

- Mức đóng BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở tiền lương,tiền công của người LĐ Mức đóng BHXH tự nguyện được tính trên cơ sở mức thunhập do người LĐ lựa chọn nhưng mức thu nhập này không thấp hơn mức lương tốithiểu chung

- Người LĐ vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc vừa có thời gian đóng BHXH tựnguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóngBHXH

Trang 15

- Quỹ BHXH được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, được sử dụngđúng mục đích, được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần của BHXH bắt buộc,BHXH tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp.

- Việc thực hiện BHXH phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủquyền lợi của người tham gia BHXH

• Ý nghĩa

Thứ nhất, BHXH là đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần khi bị mất thu nhập chongười lao động (NLĐ) ổn định cuộc sống đối với những trường hợp do ốm đau, thaisản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp (TNLĐ- BNN), tuổi già và khi chết Đây làchính sách mang tính nhân văn, nhân đạo và tính xã hội rất cao

Thứ hai, chính sách BHXH của Việt Nam quy định như hiện nay mặc dù chưa được hoàn hảo như một số nước phát triển, nhưng chính sách này được xây dựng khá toàndiện cũng đã hướng đến mục tiêu chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của NLĐ; hỗ trợ mộtphần khó khăn khi NLĐ mất việc làm; đảm bảo cuộc sống ổn định khi tuổi già, cơ bảnđáp ứng được cuộc sống tối thiểu của họ

b.Bảo hiểm thương mại

Khái niệm

Bảo hiểm Thương mại hay hoạt động kinh doanh bảo hiểm được thực hiện bởi các tổchức kinh doanh bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm thương mại Bảo hiểm thương mạichỉ những hoạt động mà ở đó các doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro thì ngườiđược bảo hiểm đóng một khoản tiển gọi là phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm bồithường hay trả tiền bảo hiểm khi xảy ra các rủi ro đã thỏa thuận trước trên hợp đồng

Ý nghĩa

Trong cuộc sống hàng ngày, lúc này hay lúc khác, dù không hề mong muốn và dù khoahọc kỹ thuật có tiến bộ đến đâu, thì vẫn có thể phải gánh chịu những rủi ro tổn thất bấtngờ Tác động của rủi ro làm cho con người không thu hái được kết quả như đã dự

Trang 16

định trước và tạo ra sự ngưng trệ quá trình sản xuất, sinh hoạt của xã hội Đó chính làtiền đề khách quan cho sự ra đời của các loại quỹ dự trữ bảo hiểm nói chung và hoạtđộng bảo hiểm thương mại nói riêng Tồn tại song song với các quỹ dự trữ khác, Bảohiểm thương mại đóng vai trò như một công cụ an toàn thực hiện chức năng bảo vệcon người, bảo vệ tài sản cho kinh tế và xã hội Cụ thể là:

1 Đối với người dân, bảo hiểm đảm bảo cho họ về mặt tài chính nhằm khắcphục hậu quả khi bất ngờ gặp rủi ro tai nạn hay bệnh tật như chi phí điều trị,viện phí, thu nhập mất giảm…Bảo hiểm còn cung cấp những chương trình tiếtkiệm và là người đại diện đầu tư mang lại lợi tức cho khách hàng

2 Đối với các doanh nghiệp, tham gia bảo hiểm giúp các doanh nghiệp với việc

bỏ ra một khoản phí bảo hiểm ổn định và nhỏ có thể hoán chuyển rủi ro những yếu tố không ổn định và tổn thất không lường trước được sang cho nhàbảo hiểm Nhờ vậy, các doanh nghiệp an tâm sản xuất và khi có những tổnthất xảy ra, bồi thường bảo hiểm sẽ giúp họ nhanh chóng khôi phục quá trìnhkinh doanh

-3 Đối với ngân hàng thương mại, bảo hiểm đảm bảo cho khả năng hoàn trả vốnvay của doanh nghiệp – người đi vay trong những trường hợp gặp rủi ro tổnthất Mặt khác, các loại hình bảo hiểm nhân thọ còn giúp các ngân hàng antâm mở rông các loại hình tín dụng tiêu dùng cho người dân

4 Hoạt động bảo hiểm tích cực để góp phần cải thiện môi trường đầu tư, giảmthiểu rủi ro trong đầu tư tạo ra môi trường thuận lợi cho việc hợp tác kinh tế,

kỹ thuật, thương mại và thu hút vốn đầu tư nước ngoài Mặt khác hoạt độngbảo hiểm còn mang về cho kinh tế quốc dân một khoản ngoại tệ đáng kể

5 Bảo hiểm chẳng những có tác dụng bồi thường tổn thất sau khi có rủi ro phátsinh mà còn góp phần rất lớn cho việc đề phòng rủi ro và hạn chế tổn thất.Nhà bảo hiểm thường sử dụng những chuyên gia giỏi, tổ chức các dự ánnghiên cứu, tư vấn – tài trợ cho cơ quan quản lý nhà nước áp dụng các biệnpháp phòng ngừa rủi ro và hạn chế tổn thất hoặc tư vấn cho khách hàng tăngcường quản trị rủi ro ở đơn vị mình

Nguyên tắc hoạt động cơ bản của Bảo hiểm thương mại

Trang 17

Hoạt động bảo hiểm nói chung, hoạt động bảo hiểm thương mại nói riêng tạo ra đượcmột "sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít" trên cơ sở quy tụ nhiều người

có cùng rủi ro thành cộng đồng nhằm phân tán hậu quả tài chính của những vụ tổnthất Số người tham gia càng đông, tổn thất càng phân tán mỏng, rủi ro càng giảmthiểu ở mức độ thấp nhất thể hiện ở mức phí bảo hiểm phải đóng là nhỏ nhất đủ để mỗingười đó không ảnh hưởng gì quan trọng đến hoạt động sinh hoạt sản xuất của mình.Hoạt động theo quy luật số đông, đó là nguyên tắc cơ bản nhất của bảo hiểm Bên cạnh

đó, đám đông tham gia vào cộng đồng càng lớn thể hiện nhu cầu bảo hiểm càng tăngtheo đà phát triển của nền kinh tế - xã hội, những người được bảo hiểm không thể vàcũng không cần biết nhau, họ chỉ biết người quản lý cộng đồng (doanh nghiệp bảohiểm) là người nhận phí bảo hiểm và cam kết sẽ bồi thường cho họ khi có rủi ro tổnthất xảy ra

c.Điểm chung giữa BHXH và Bảo hiểm thương mại

Thứ nhất, về phương thức hoạt động:

Bảo hiểm xã hội hay bảo hiểm thương mại đều là những biện pháp chia sẻ rủi ro củamột người hay của số ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi rocùng loại, bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào mộtquỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồng khôngmay bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra

Thứ hai, về nguyên tắc hoạt động:

Hai loại bảo hiểm này được thực hiện trên cùng một nguyên tắc là có tham gia đónggóp bảo hiểm thì mới được hưởng quyền lợi, không đóng góp thì không được đòi hỏiquyền lợi

Thứ ba, mục đích hoạt động:

Hoạt động của hai loại bảo hiểm này đều nhằm để bù đắp tài chính cho các đối tượngtham gia bảo hiểm khi họ gặp phải những rủi ro gây ra thiệt hại trong khuôn khổ bảohiểm đang tham gia

Trang 18

2.Căn cứ vào đối tượng được bảo hiểm

a.Bảo hiểm con người(Personal insurance)

Khái niệm

Bảo hiểm con người là loại bảo hiểm có mục đích chi trả những khoản tiền đã thỏa thu

ận trước cho người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng bảo hiểm, trong trường hợp xảy ra những sự kiện tácđộng đến chính bản thân người được bảo hiểm Những rủi ro này là tai nạn, bệnh tật, ốm đau, tử vong, tuổi già và những bấp bênh khác về tuổi thọ c

on người Khi những sự kiện này xảy ra tác độngđến người được bảo hiểm, người bảo hiểm không tham gia một cách trực tiếp vào việc khắc phục hậu quả của chúng Sự can thiệp của người bảo hiểm chính là việc thanh toán một số tiền, mộtkhoản trợ cấp được

ấn định trên hợp đồng bảo hiểm Khoản trợ cấp này có thể được thanh toán cho người được bảo hiểm hoặc là người người khác - người thụ hưởng, tùy vào từng loại hình bảohiểm và mục đích ký kết hợp đồng bảo hiểm của người tham gia

Như vậy, chỉ những thiệt hại về con người mới là đối tượng của hợp đồng bảo hiểm co

n người Tuy nhiên có những rủi ro khi xảy ra không gây thiệt hại cho con người cũng vẫn là đối tượng của bảohiểm con người Chẳng hạn trong trường hợp người ký hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, đến một lứa tuổi nhất định sẽ nhận số tiền bảo hiểm

Phân loại

Theo đối tượng bảo hiểm:

+Bảo hiểm nhân thọ

+Bảo hiểm y tế

+Bảo hiểm tai nạn cá nhân

b.Bảo hiểm tài sản

Khái niệm

Trang 19

Bảo hiểm tài sản: là loại bảo hiểm lấy tài sản làm đối tượng bảo hiểm Khi xảy ra rủi

ro tổn thất về tài sản như mất mát, hủy hoại về vật chất, người bảo hiểm có tráchnhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm căn cứ vào giá trị thiệt hại thực tế và mức

độ đảm bảo thuận tiện hợp đồng

đối tượng và phạm vi bảo hiểm

Đối tượng bảo hiểm:

Tài sản bao gồm: tài sản cố định, vật kiến trúc (nhà cửa, kho tàng, văn phòng…), hànghóa lưu kho, nguyên vật liệu, tư liệu sản xuất… của các doanh nghiệp, xí nghiệp sảnxuất, trung tâm thương mại, khách sạn, dịch vụ…

Phạm vi bảo hiểm:

Toàn bộ tổn thất vật chất xảy ra bất ngờ đối với tài sản đã được bảo hiểm, do bất kỳnguyên nhân nào không bị loại trừ trong Quy tắc bảo hiểm và vào bất kỳ thời điểm nàotrong thời hạn bảo hiểm

c.Bảo hiểm trách nhiệm dân sự

Khái niệm

Trách nhiệm dân sự nói chung được hiểu là sự quy định của pháp luật dân sự về hậuquả pháp lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng buộc người có hành vi viphạm quy tắc xử sự phải gánh chịu những hậu quả pháp lý nhất định nhằm bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp cho bên có quyền dân sự bị xâm phạm” Song trách nhiệmdân sự là đối tượng của hợp đồng bảo hiểm dân sự chỉ là trách nhiệm bồi thường thiệthại

Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự là hợp đồng về bảo hiểm trách nhiệm dân sựhay chính là sự thoả thuận bằng văn bản giữa bên bảo hiểm (doanh nghiệp bảo hiểm)với bên tham gia bảo hiểm (tổ chức, cá nhân), theo đó doanh nghiệp bảo hiểm cam kết

sẽ thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người thứ ba thay cho bên đượcbảo hiểm nếu sự kiện bảo hiểm xảy ra trong thời hạn có hiệu lực của hợp đồng, cònbên tham gia bảo hiểm có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm Cụ thể là doanh nghiệp bảohiểm cam kết bồi thường phần trách nhiệm dân sự của người tham gia bảo hiểm theo

Trang 20

thỏa thuận trong hợp đồng khi có sự kiện bảo hiểm phát sinh, còn bên tham gia bảohiểm phải nộp một khoản phí cho doanh nghiệp bảo hiểm.

Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.

Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự hiểu theo nghĩa chung nhất làtrách nhiệm bồi thường thiệt hại của người tham gia bảo hiểm Điều bắt buộc đối vớimột người trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại là việc người đó phải bằng tài sảncủa mình gánh chịu việc bù đắp những thiệt hại về vật chất và tổn thất tinh thần dohành vi của mình gây ra cho người khác Một người chỉ phải chịu trách nhiệm bồithường thiệt hại khi có đủ bốn yếu tố: Có hành vi gây thiệt hại, có thiệt hại xảy ra, Cómối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, có lỗi của ngườigây thiệt hại

3 Căn cứ vào nghĩa vụ của người được bảo hiểm

a.Bảo hiểm bắt buộc

vệ lợi ích công cộng và an toàn xã hội

Phân loại

Theo luật KDBH quy định Bảo hiểm bắt buộc bao gồm:

+Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới,

+ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người vận chuyển hàng không đối với hành khách; + Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp luật;

+Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm;

Trang 21

+Bảo hiểm cháy, nổ.

b.Bảo hiểm tự nguyện

Khái niệm

Theo quy định tại Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội: Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loạihình bảo hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng

và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại bảo hiểm do người dân tự nguyện đóng góp để đượchưởng các chế độ của bảo hiểm xã hội Còn bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại bảo hiểm

do các cơ quan, tổ chức đứng ra đóng cho nhân viên lao động Vì thế, chị em nào làmviệc tự do, không thuộc quyền quản lý của bất cứ công ty, cơ quan nào, muốn đượchưởng các chế độ của bảo hiểm thì cần đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện

Đối tượng tham gia

Là công dân Việt Nam, không thuộc diện áp dụng của pháp luật về BHXH bắt buộc,

- Người từ đủ 15 tuổi đến đủ 60 tuổi đối với nam và đủ 55 đối với nữ

- Người đã đủ 60 tuổi đối với nam, đủ 55 tuổi đối với nữ, đã có 15 năm đóng BHXHtrở lên có nhu cần đóng BHXH tự nguyện cho đến khi đủ 20 năm đóng BHXH đểhưởng chế độ hưu trí và tuất

4.Căn cứ vào kỹ thuật nghiệp vụ bảo hiểm

a.Bảo hiểm trả theo nguyên tắc khoán

Nguyên tắc khoán là nguyên tắc thường được áp dụng để giải quyết quyền lợi bảohiểm trong các hợp đồng bảo hiểm con người nói chung và bảo hiểm nhân thọ nóiriêng Theo nguyên tắc khoán, khi xảy ra các sự kiện bảo hiểm, công ty bảo hiểm căn

cứ vào số tiền bảo hiểm của hợp đồng đã ký kết và các quy định đã thoả thuận tronghợp đồng để trả tiền cho người thụ hưởng Khoản tiền này không nhằm mục đích bồithường thiệt hại mà chỉ mang tính chất thực hiện cam kết của hợp đồng theo mứckhoán đã quy định

Trang 22

b.Bảo hiểm trả theo nguyên tắc bồi thường

Trong kinh doanh bảo hiểm, khái niệm bồi thường được hiểu là một sự hoàn trả tươngxứng Theo nguyên tắc này, khi tổn thất xảy ra, người được bảo hiểm phải được đưa vềtrạng thái tài chính ban đầu như khi tổn thất chưa xảy ra Người được bảo hiểm khôngthể được trả tiển bảo hiểm nhiều hơn quyền lợi bảo hiểm mà họ có Điều đó cho thấy,người được bảo hiểm không được kiếm lời qua con đường bảo hiểm, nhiều nhất, ngườiđược bảo hiểm cũng chỉ được bồi thường đầy đủ, chứ không thể nhiều hơn mức đầy

và quy tắc bồi thường bảo hiểm, đồng thời không vượt quá các chi phí thực tế màngười được bảo hiểm phải gánh chịu Trả tiền theo nguyên tắc khoán, số tiền trả đãđược định mức trước trong HĐBH, không phụ thuộc vào chi phí thực tế mà phụ thuộcvào số tiền bảo hiểm đã ký kết cùng với những quy định đã thỏa thuận trong HĐBH.Khoản tiền bảo hiểm trả theo nguyên tắc khoán có thể thấp hơn,hoặc cao hơn, hoặccũng có thể ngang bằng thiệt hại của người được bảo hiểm và để nhận được số tiềnkhoán trước này, người tham gia bảo hiểm phải trả một khoản phí bảo hiểm tương ứng

Ví dụ: Ông X được bảo hiểm bởi HĐBH tai nạn con người với số tiền bảo hiểm 20

triệu đồng Trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng, ông X bị tai nạn xe máy dẫn đến gẫytay, phải vào viện điều trị hết 2 triệu đồng (bao gồm tiền thuốc, tiền viện phí và các chiphí có liên quan) Theo Bảng tỷ lệ trả tiền bảo hiểm thương tật, đối với vết thương củaông X, tỷ lệ trả tiền bảo hiểm là 12% số tiền bảo hiểm

Nếu áp dụng nguyên tắc bồi thường, trong trường hợp này DNBH sẽ trả ông X các chiphí để điều trị vết thương do tai nạn là 2 triệu đồng

Nếu áp dụng nguyên tắc khoán, DNBH không căn cứ vào thiệt hại 2 triệu đồng để giải

Trang 23

ở đây là 12% số tiền bảo hiểm và như vậy số tiền người bảo hiểm trả cho ông X là:12% x 20 trđ = 2,4 triệu đồng.

5.Căn cứ vào nguồn gốc rủi ro được bảo hiểm

a.Bảo hiểm nhân thọ

Khái niệm

là loại hình bảo hiểm mang ý nghĩa kinh tế - xã hội sâu sắc và giá trị nhân văn cao cả.Theo đó, người tham gia bảo hiểm sẽ đóng những khoản phí định kì trong một thờigian thoả thuận trước (5 năm,10 năm hay 15 năm) vào một quỹ lớn do công ty bảohiểm quản lí và công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả một khoản tiền như đã thoả thuậntrong hợp đồng bảo hiểm khi kết thúc thời hạn bảo hiểm hoặc khi có sự kiện rủi ro xảy

ra với người được bảo hiểm

Đơn giản, bảo hiểm nhân thọ được hiểu như một sự đảm bảo, bảo vệ tài chính, mộthình thức tiết kiệm và mang tính chất tương hỗ Do đó đây là kênh duy nhất kết hợpđược các yếu tố: bảo vệ tài chính , tiết kiệm có kỷ luật, đầu tư an toàn, quỹ giáo dụccho con cái

Phân loại

Bảo hiểm trọn đời

là loại bảo hiểm mà thời gian bảo hiểm không xác định và số tiền bảo hiểm được chitrả cho người thụ hưởng khi người được bảo hiểm chết Hiện nay loại hình bảo hiểmnày còn đảm bảo chi trả cho người được bảo hiểm ngay khi họ sống đến 99 tuổi nhưbảo hiểm Prudential, bảo hiểm manulife có 4 sản phẩm mới ra, ACE Life Việt Nam

có Bảo hiểm trọn đời

Bảo hiểm trọn đời có nhiều loại bảo hiểm như: Bảo hiểm nhân thọ trọn đời đóng phíliên tục; đóng phí một lần; quy định số lần đóng phí; hay Bảo hiểm nhân thọ trọn đờiphi lợi nhuận; có tham gia chia lợi nhận;

Đặc điểm:

Ngày đăng: 03/10/2017, 20:38

w