1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ tại công ty bảo hiểm pjico quảng ninh

110 261 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế cho thấy, ngoài việc bảo vệ con người, bảo hiểm còn có thể bảo vệ tài sản, phương tiện của con người,…tuy mức phí thấp nhưng bảo hiểm phi nhân thọ chưa thu hút được sự tham gia đ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH

TRỊNH MINH VINH

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ TẠI CÔNG TY

BẢO HIỂM PJICO QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

THÁI NGUYÊN - NĂM 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH

TRỊNH MINH VINH

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ TẠI CÔNG TY

BẢO HIỂM PJICO QUẢNG NINH

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐỖ THÙY NINH

THÁI NGUYÊN - NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn được thực hiện nghiêm túc, trung thực và mọi số liệu trong này được trích dẫn

có nguồn gốc rõ ràng

Tác giả

Trịnh Minh Vinh

Trang 4

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với TS.Đỗ Thùy Ninh, người đã

tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn Công ty Bảo hiểm Pjico Quảng Ninh, các đơn vị, các phòng ban và cán bộ nhân viên đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài

Tác giả

Trịnh Minh Vinh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Ý nghĩa khoa học của luận văn 3

5 Kết cấu của luận văn 3

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ VÀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ 4

1.1 Cơ sở lý luận về bảo hiểm phi nhân thọ và quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ 4

1.1.1 Khái niệm và đặc trưng của bảo hiểm phi nhân thọ 4

1.1.2 Các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ 8

1.1.3 Vai trò của bảo hiểm phi nhân thọ 12

1.1.4 Nội dung công tác quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ 13

1.1.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ tại doanh nghiệp bảo hiểm 18

1.2 Cơ sở thực tiễn về công tác quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ 19

1.2.1 Kinh nghiệm của một số công ty bảo hiểm phi nhân thọ tại thị trường Việt Nam 19

Trang 6

1.2.2 Bài học kinh nghiệm về công tác quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ

cho công ty bảo hiểm Pjico Quảng Ninh 24

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 26

2.2 Phương pháp nghiên cứu 26

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 26

2.2.2 Phương pháp tổng hợp và phân tích thông tin 28

2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 31

Chương 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM PJICO QUẢNG NINH 34

3.1 Giới thiệu khái quát về Công ty Bảo hiểm Pjico Quảng Ninh 34

3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển công ty 34

3.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của công ty 35

3.1.3 Cơ cấu và chức năng của bộ máy quản lý công ty 37

3.2 Thực trạng công tác thu và quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty Bảo hiểm Pjico Quảng Ninh 38

3.2.1 Thực trạng công tác quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm phi nhân thọ 38

3.2.2 Công tác quản lý phương thức và mức đóng 42

3.2.3 Công tác quản lý mức thu bảo hiểm phi nhân thọ tại công ty 45

3.2.4 Quy trình thu bảo hiểm phi nhân thọ tại công ty 46

3.2.5 Thực trạng công tác tổ chức thu bảo hiểm phi nhân thọ tại công ty 48

3.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ tại công ty Bảo hiểm Pjico Quảng Ninh 61

3.3.1 Thu nhập của người tham gia 61

3.3.2 Nhận thức của người tham gia 62

3.3.3 Mức đóng và phương thức đóng 64

Trang 7

3.3.4 Chất lượng nguồn nhân lực làm công tác thu bảo hiểm phi nhân thọ

của công ty 66

3.3.5 Quy trình quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ của công ty 67

3.3.6 Hình thức, nội dung của công tác tuyên truyền về bảo hiểm phi nhân thọ của công ty 68

3.3.7 Uy tín, hình ảnh của công ty 70

3.4 Những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong công tác quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ tại công ty 73

3.4.1 Những kết quả đạt được 73

3.4.2 Những hạn chế 74

3.4.3 Nguyên nhân của hạn chế 75

Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM PJICO QUẢNG NINH 77

4.1 Quan điểm, phương hướng và mục tiêu về công tác quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ tại công ty Bảo hiểm Pjico Quảng Ninh 77

4.1.1 Quan điểm, phương hướng 77

4.1.2 Mục tiêu 78

4.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ tại công ty Bảo hiểm Pjico Quảng Ninh 78

4.2.1 Phát triển nhiều sản phẩm mới 78

4.2.2.Phát triển kênh phân phối sản phẩm 79

4.2.3 Tăng cường công tác Marketing 86

4.2.4 Công tác tuyển dụng và đào tạo đội ngũ cán bộ, công nhân viên 88

4.2.5 Tăng cường công tác tuyên truyền quảng cáo 89

4.2.6 Giải pháp khác 90

4.3 Kiến nghị 92

4.3.1 Đối với Cơ quan quản lý nhà nước 92

Trang 8

4.3.2 Đối với ngành bảo hiểm Việt Nam 93

4.3.3 Đối với Tổng công ty Bảo hiểm Pjico 94

KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

PHỤ LỤC 98

Trang 9

KDBH : Kinh doanh bảo hiểm

KTV : Kiểm tra viên

UBND : Ủy ban nhân dân

VAT : Thuế giá trị gia tăng

WTO : Tổ chức kinh tế thế giới

XNK : Xuất nhập khẩu

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Danh mục sản phẩm phi nhân thọ và doanh thu phícủa Công ty

bảo hiểm Pjico Quảng Ninh qua các năm 2014-2016 39 Bảng 3.2: Các đối tượng tham gia bảo hiểm phi nhân thọ của Công ty bảo

hiểm Pjico Quảng Ninh qua các năm 2014 - 2016 41 Bảng 3.3: Tình hình thực hiện công tác lập kế hoạch thu bảo hiểm tại

Công ty Pjico Quảng Ninh 50 Bảng 3.4: Giá trị bồi thường cho khách hàng phân loạitheo danh mục sản

phẩm tại Công ty Pjico Quảng Ninh 51 Bảng 3.5: Nhận thức của khách hàng về BHPNT tại Công ty bảo hiểm

Pjico Quảng Ninh 63 Bảng 3.6: Đánh giá của khách hàng về mức đóng và phương thức đóngtại

Công ty bảo hiểm Pjico Quảng Ninh 65 Bảng 3.7: Trình độ nguồn nhân lực làm công tác thu bảo hiểm phi nhân

thọ của Công ty bảo hiểm Pjico Quảng Ninh 66 Bảng 3.8: Quy trình thu bảo hiểm phi nhân thọ của Công ty bảo hiểm

Pjico Quảng Ninh 67 Bảng 3.9: Hình thức tuyên truyền về bảo hiểm phi nhân thọ của Công ty

bảo hiểm Pjico Quảng Ninh 69 Bảng 3.10: Nội dung tuyên truyền về bảo hiểm phi nhân thọ của Công ty

bảo hiểm Pjico Quảng Ninh 70 Bảng 3.11: Tổng hợp ý kiến đánh giá uy tín hình ảnh công ty 71

Trang 11

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH

Biểu đồ 3.1: Danh mục sản phẩm phi nhân thọ và doanh thu phí của Công

ty bảo hiểm Pjico Quảng Ninh qua các năm 2014-2016 40 Biểu đồ 3.2: Các đối tượng tham gia bảo hiểm phi nhân thọ của Công ty

bảo hiểm Pjico Quảng Ninh qua các năm 2014-2016 42 Biểu đồ 3.3: Nhận thức của khách hàng về BHPNT tại Công ty bảo hiểm

Pjico Quảng Ninh 63 Biểu đồ 3.4: Trình độ nguồn nhân lực làm công tác thu bảo hiểmphi nhân

thọ của Công ty bảo hiểm Pjico Quảng Ninh 67 Biểu đồ 3.5: Quy trình thu bảo hiểm phi nhân thọ của Công ty bảo hiểm

Pjico Quảng Ninh 68 Bảng 3.6: Tổng hợp ý kiến đánh giá uy tín hình ảnh công ty 71 Biều đồ 3.7: Tổng điểm quy đổi của Top 10 công ty bảo hiểm phi nhân

thọ uy tín năm 2016 72 Hình 1.1: Quy trình thu phí bảo hiểm phi nhân thọ tại các doanh nghiệp

bảo hiểm 16 Hình 3.1: Sơ đồ tổ chức của Công ty PJICO Quảng Ninh 37 Hình 3.2: Sơ đồ quy trình khai thác bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty

Bảo hiểm Pijco Quảng Ninh 47 Hình 3.3: Sơ đồ quy trình khai thác bảo hiểm xe cơ giới trên phân cấp tại

Công ty Bảo hiểm Pijco Quảng Ninh 48 Hình 3.4: Quy trình quản lý công nợ phí bảo hiểm phi nhân thọ tại Công

ty bảo hiểm Pjico Quảng Ninh 52

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sự ra đời của bảo hiểm phi nhân thọ đã đáp ứng nhu cầu và sự đòi hỏi cấp thiết của nhiều đối tượng tham gia, cũng như nhiều đối tượng bảo hiểm, đồng thời có tác dụng lớn trong việc phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Mục đích của bảo hiểm phi nhân thọ là sự đảm bảo cho cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp an tâm về tài chính và tinh thần khi không may gặp rủi ro

Thị trường bảo hiểm nói chung và thị trường bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng đã vượt qua những khó khăn nhất định, nỗ lực hoàn thành mục tiêu đề ra, góp phần quan trọng vào việc hoàn thành các mục tiêu Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2011-2015.Tuy nhiên, lãnh đạo cơ quan quản lý về bảo hiểm cũng thừa nhận, quản trị tài chính của một số doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ vẫn phi tập trung, phân cấp cho các chi nhánh dẫn đến hiệu quả quản lý tài sản, chi phí kinh doanh thấp Qua đó dẫn đến việc tuân thủ pháp luật còn chưa cao; hoạt động kinh doanh vẫn còn chạy theo mục tiêu doanh thu trước mắt làm cho nguồn thu bảo hiểm phi nhân thọ giảm đảng kể

Thực tế cho thấy, ngoài việc bảo vệ con người, bảo hiểm còn có thể bảo

vệ tài sản, phương tiện của con người,…tuy mức phí thấp nhưng bảo hiểm phi nhân thọ chưa thu hút được sự tham gia đông đảo của người dân nguyên nhân một phần còn do đối tượng tham gia chưa thực sự quan tâm và chưa thấy được sự quan trọng của nó đối với tài sản của mình, dẫn đến các doanh nghiệp bảo hiểm có số thu từ bảo hiểm phi nhân thọ ở mức thấp, quá trình doanh nghiệp bảo hiểm khai thác phí bị đe dọa bởi khả năng tài chính chưa đủ lớn mạnh, quản lý doanh nghiệp bảo hiểm chưa tốt, nhiều hành vi trục lợi diễn ra ngày càng tinh vi hơn làm cho công tác thu gặp nhiều khó khăn Bên cạnh đóm trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã có nhiều doanh nghiệp bảo hiểm như BIC, MIC, AGRIBIC, PVI,…triển khai nhiều sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ cạnh tranh với công ty về khách hàng, thị phần, mức phí, năng lực tư vấn

Trang 13

bán hàng,…Từ thực tế nêu trên, để hiểu rõ hơn về quá trình kiểm soát công tác thu và quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ, đòi hỏi doanh nghiệp bảo hiểm cần có sự chuyển biến nhằm định hướng thị trường phát triển an toàn, bền vững, phù hợp với thông lệ quốc tế Xuất phát từ lý do đó, tác giả đã chọn đề

tài: “Hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty bảo hiểm Pjico Quảng Ninh” làm luận văn thạc sĩ, đề tài có ý nghĩa lý luận

và thực tiễn to lớn nhằm góp phần thúc đẩy đối tượng tham gia đông đảo hơn, góp phần tăng thu ngân sách cho tỉnh Quảng Ninh và nâng cao năng lực tài chính cho công ty trong điều kiện kinh doanh cạnh tranh đầy khốc liệt

2 Mục tiêu của đề tài

2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu, đánh giá thực trạng để tìm ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty Bảo hiểm Pjico Quảng Ninh, góp phần nâng cao năng lực tài chính của công ty và tăng nguồn

thu ngân sách cho tỉnh Quảng Ninh

2.2 Mục tiêu cụ thể

Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ;

Phân tích thực trạng công tác quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ tại

Công ty Bảo hiểm Pjico Quảng Ninh trong giai đoạn 2014 - 2016;

Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu

bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty Bảo hiểm Pjico Quảng Ninh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là công tác quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty Bảo hiểm Pjico Quảng Ninh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu số liệu thứ cấp từ năm 2014-2016,

số liệu sơ cấp được điều tra năm 2016 và khuyến nghị một số giải pháp đến năm 2020

Trang 14

- Về không gian: Luận văn nghiên cứu tại công ty Bảo hiểm Pjico

Quảng Ninh

- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu công tác thu và quản lý

thu bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty Bảo hiểm Pjico Quảng Ninh, chỉ ra những kết quả đạt được và những hạn chế tồn tại và nguyên nhân, cũng như những nhân tố ảnh hưởng đến công tác thu và quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ tại công ty

4 Ý nghĩa khoa học của luận văn

Kết quả nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty bảo hiểm Pjico Quảng Ninh” giúp cho lãnh đạo công

ty có cơ sở trong việc hoạch định các chính sách có liên quan đến công tác thu

và quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ Góp phần đẩy mạnh công tác thu và quản

lý thu, làm rõ nguyên nhân vì sao tỷ lệ tham gia còn thấp khi mà bảo hiểm phi nhân thọ có ý nghĩa rất lớn trong cuộc sống của đối tượng tham gia

Kết quả nghiên cứu của luận văn là cơ sở để các nhà hoạch định chính sách tham khảo đề ra các chính sách về bảo hiểm phi nhân thọ phù hợp với điều kiện thực tế của từng đối tượng khách hàng, với xu thế cạnh tranh của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu 4 chương, bao gồm:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo hiểm phi nhân thọ và

quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ

Chương 2:Phương pháp nghiên cứu

Chương 3:Thực trạng công tác quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ tại

Công ty Bảo hiểm Pjico Quảng Ninh

Chương 4: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu bảo

hiểm phi nhân thọ tại Công ty Bảo hiểm Pjico Quảng Ninh

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ

VÀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ 1.1 Cơ sở lý luận về bảo hiểm phi nhân thọ và quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ

1.1.1 Khái niệm và đặc trưng của bảo hiểm phi nhân thọ

1.1.1.1 Khái niệm

a Bảo hiểm

“Bảo hiểm là một sự thỏa thuận hợp pháp thông qua đó một cá nhân hay tổ chức (Người tham gia bảo hiểm) chấp nhận đóng góp một khoản tiền nhất định (Phí bảo hiểm) cho tổ chức khác (Người bảo hiểm) để đổi lấy những cam kết về những khoản bồi thường hoặc chi trả khi có sự kiện quy định trong hợp đồng xảy ra.”[6]

Thỏa thuận hợp pháp về chủ thể tham gia ký kết hợp đồng và hợp pháp

về các nội dung ký kết trong hợp đồng Ví dụ các điều kiện bảo hiểm, mức phí phù hợp với quy định của pháp luật.Các bên tham gia ký kết hợp đồng phải có đầy đủ tư cách pháp lý

Người tham gia bảo hiểm và người bảo hiểm đại diện cho cả cá nhân hoặc tổ chức (hội, nhóm, công ty…có đăng ký chính thức).Ở Việt Nam, chỉ

có các công ty có đăng ký và được cấp phép thì mới được kinh doanh bảo hiểm.Bởi vậy, người bảo hiểm ở đây chỉ bao gồm các công ty bảo hiểm

b Bảo hiểm phi nhân thọ

Bảo hiểm phi nhân thọ là một trong hai loại hình bảo hiểm thương mại Bảo hiểm nhân thọ là loại hình bảo hiểm qua đó công ty bảo hiểm cam kết sẽ trả một số tiền thỏa thuận khi có sự kiện quy định xảy ra liên quan đến sinh

mạng và sức khỏe của con người Thì “Bảo hiểm phi nhân thọ là các nghiệp

vụ bảo hiểm thương mại khác không phải là bảo hiểm nhân thọ, là loại hình

Trang 16

bảo hiểm qua đó công ty bảo hiểm cam kết sẽ chi trả bồi thường khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra liên quan đến tổn thất về vật chất và tai nạn con người, trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm”.[6]

1.1.1.2 Đặc trưng của bảo hiểm phi nhân thọ

a Đặc điểm chung

Bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng và bảo hiểm nói chung có đặc trưng là ngành dịch vụ đặc biệt Bởi vì:

- Sản phẩm của bảo hiểm là sản phẩm vô hình:

Sản phẩm bảo hiểm, về bản chất là một dịch vụ, một lời hứa, một lời cam kết mà công ty bảo hiểm đưa ra với khách hàng.Khách hàng đóng phí để đổi lấy những cam kết bồi thường hoặc chi trả trong tương lai

Khác với sản phẩm vật chất mà người mua có thể cảm nhận được qua các giác quan, người mua sản phẩm bảo hiểm không thể chỉ ra mầu sắc, hình dáng, kích thước hay mùi vị của sản phẩm Họ cũng không thể cảm nhận được bằng các giác quan như cầm nắm, sờ mó, ngủi hoặc nếm thử…

Để khắc phục những khó khăn đó, cũng là để củng cố lòng tin của khách hàng, các doanh nghiệp bảo hiểm tìm cách tăng tính hữu hình của sản phẩm: chú ý những lợi ích có liên quan đến dịch vụ: sử dụng những người nổi tiếng, có uy tín tuyên truyền dịch vụ; phát triển hệ thống đại lý chuyên nghiệp; xây dựng uy tín của công ty bảo hiểm; tăng cường vai trò quan trọng của hoạt động marketing Như vậy, lòng tin và chất lượng dịch vụ khách hàng chính là chìa khóa để bán sản phẩm bảo hiểm

- Bảo hiểm có chu trình kinh doanh ngược:

Khác với chu trình sản xuất hàng hóa thông thường, khi giá cả được quyết định sau khi đã biết được chi phí sản xuất ra hàng hóa đó Như vậy, các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa hữu hình phải bỏ vốn ra trước, mua các máy móc, nguyên vật liêu, thuê nhân công thì mới sản xuất ra sản phẩm và thực hiện quy trình đưa sản phẩm đến người tiêu dùng, khi sản phẩm đó bán được

Trang 17

doanh nghiệp mới thu tiền về, trong khoản tiền này bao gồm cả vốn doanh nghiệp bỏ ra và lãi doanh nghiệp nhận được Còn doanh nghiệp bảo hiểm không phải bỏ vốn trước, họ nhận phí bảo hiểm trước của người tham gia bảo hiểm đóng góp và thực hiện nghĩa vụ sau với bên được bảo hiểm khi xảy ra sự

cố bảo hiểm Do vậy, không thể tính được chính xác hiệu quả của một sản phẩm bảo hiểm vào thời điểm bán sản phẩm

Thông thường, hợp đồng bảo hiểm được coi là có hiệu lực ngay sau khi

có sự chấp nhận của Người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm đầy đủ theo hợp đồng Phí bảo hiểm mà khách hàng đóng khi ký hợp đồng chính là giá bán một hợp đồng bảo hiểm

Ví dụ, công ty bảo hiểm B bán bảo hiểm tai nạn con người Người tham gia bảo hiểm đóng phí để mua dịch vụ bảo hiểm vào ngày đầu năm Công ty bảo hiểm B có ngay doanh thu từ đầu năm Các hợp đồng bảo hiểm này sẽ kết thức vào ngày cuối năm, khi đó trách nhiệm của các công ty bảo hiểm B trước các tổn thất - theo như thỏa thuận trong hợp đồng - sẽ chấm dứt Đến ngày cuối năm, công ty bảo hiểm B mới có thể tính được chi phí triển khai dịch vụ bảo hiểm này.Tương tự như vậy là chi phí hoạt động của công ty.Chu trình kinh doanh của bảo hiểm có đặc điểm là công ty bảo hiểm định giá bán dịch

vụ của mình trước khi tính toán được chi phí mình bỏ ra

Đặc điểm này ảnh hưởng rất lớn đến quyết định đưa loại sản phẩm nào

ra thị trường Nếu một sản phẩm đưa ra được đông đảo người mua chấp nhận, công ty bảo hiểm sẽ thu về một khoản tổng phí bảo hiểm rất lớn Khi rủi ro xảy ra cho một số khách hàng nào đó, công ty bảo hiểm có đủ khả năng chi trả mà không bị bội chi Ngược lại, nếu chỉ có một số ít khách hàng chấp nhận, tổng phí thu được nhỏ bé Công ty bảo hiểm sẽ dễ rơi vào tình trạng thu không đủ chi nếu như nhóm khách hàng đó có tỷ lệ rủi ro quá cao trong khoảng thời gian các hợp đồng bảo hiểm còn có hiệu lực

Mặt khác, chu trình kinh doanh ngược còn có tác dụng chi phối trách nhiệm đề phòng hạn chế tổn thất của người được bảo hiểm khi họ đã được

Trang 18

một hợp đồng bảo hiểm bảo vệ Bởi lẽ nếu tổn thất xảy ra ít, giá bán của các hợp đồng bảo hiểm năm sau đó sẽ được giảm đi (hay nói cách khác, khách hàng sẽ được giảm phí), ngược lại, nếu tỷ lệ tổn thất lớn, khách hàng sẽ phải trả phí cao hơn vào những năm sau

- Tâm lý người mua hàng không muốn tiêu dùng dịch vụ này:

Người mua bảo hiểm không mong muốn có sự kiện rủi ro xảy ra để được nhận quyền lợi bảo hiểm dù rằng quyền lợi đó có thể nhiều hơn gấp bội lần so với số phí phải đóng

Quá trình mua sản phẩm bảo hiểm chịu sự chi phối của các yếu tố tâm

lý Do chi phối bởi những tập tục, quan niệm có thể mang nặng yếu tố tâm linh, nên nói chung người mua không muốn nói đến rủi ro, không muốn thấy

cụ thể những hậu quả của rủi ro có thể được bảo hiểm, điểm hình nhất trong bảo hiểm tử vong hay thương tật

Nhưng ngược lại, người mua coi việc mua một sản phẩm bảo hiểm như một chiếc bùa hộ mệnh, giúp họ yên tâm hơn về mặt tinh thần đồng thời có sự đảm bảo về mặt vật chất khi điều không may xảy ra Người bán cũng dễ bị ý nghĩ chiều lòng, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng mà thiếu sự cân nhắc cần thiết cho việc lực chọn và đánh giá những rủi ro có thế đảm nhận

Trong khi tiến hành giao dịch chào bán dịch vụ, cán bộ bảo hiểm phải chú ý tới đặc điểm này để thuyết phục khách hàng khi họ nói không quan tâm đến rủi ro và không mong muốn rủi ro xảy ra đối với họ Bởi lẽ, tất cả đều không mong muốn những tai nạn, tổn thất xảy ra Mặt khác, bảo hiểm là tấm

lá chắn cho những điều không mong muốn này Thông qua thực tế tình hình thiên tai, tai nạn, cũng như giải quyết bồi thường tổn thất tại địa phương, để minh chứng về lợi ích của bảo hiểm và sự cần thiết tham gia bảo hiểm.[6]

b Đặc điểm riêng

Ngoài những đặc điểm chung của bảo hiểm đã đề cập ở trên, bảo hiểm phi nhân thọ còn có những đặc điểm riêng cơ bản sau:

Trang 19

Thứ nhất: Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ là một hợp đồng có thời hạn bảo hiểm thường là một năm hoặc ngắn hơn (như bảo hiểm cho một chuyến hoạt động từ A đến B hoặc một chuyến du lịch ngắn ngày…);

Thứ hai: Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ chỉ bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm khi có rủi ro được bảo hiểm xảy ra trong thời gian hợp đồng còn hiệu lực;

Thứ ba: Phí bảo hiểm phi nhân thọ được tính cho thời hạn bảo hiểm, thông thường phí tính cho từng năm bảo hiểm hoặc từng chuyến Phí bảo hiểm cho những năm tiếp theo sẽ có sự thay đổi Phí bảo hiểm phi nhân thọ còn phụ thuộc mức độ rủi ro Ví dụ với điều khoản bảo hiểm nếu Người tham gia bảo hiểm giới hạn phạm vi bảo hiểm một vài rủi ro không tham gia thì phí bảo hiểm được xem xét giảm đi, ngược lại nếu mở rộng bảo hiểm thêm một

số rủi ro phụ khác thì phí bảo hiểm sẽ tăng lên Hoặc cùng một thời gian đi du lịch là 2 ngày nhưng nếu tới khu du lịch có mức độ rủi ro lớn hơn, như vùng núi rừng nguy hiểm thì phí bảo hiểm cao hơn;

Thứ tư: Trừ các nghiệp vụ bảo hiểm con người phi nhân thọ, còn các nghiệp vụ khác như tài sản, trách nhiệm dân sự giữa Người bảo hiểm, Người được bảo hiểm và Người thứ ba có liên quan tới rủi ro bảo hiểm đều có mối quan hệ về quyền lợi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại.[8]

1.1.2 Các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ

1.1.2.1 Bảo hiểm tài sản

Bảo hiểm tài sản là thể loại bao gồm những nghiệp vụ có đối tượng là tài sản có thể tính được giá trị bằng tiền

Có nhiều loại tài sản: những tài sản hữu hình, tồn tại dưới hình thể vật chất (như nhà cửa, phương tiện vận chuyển, hàng hóa…) và tài sản vô hình (như phát minh, sáng chế, bản quyền, giọng hát…)

Bảo hiểm thiệt hại do hậu quả tài sản được bảo hiểm bị tổn thất Thực

tế, khi tài sản bảo hiểm bị tổn thất thì hậu quả để lại không chỉ thiệt hại đối với chính tài sản đó mà còn làm ngưng trệ, dẫn tới thiệt hại kinh doanh sản xuất và thiệt hại tài chính do phải giải quyết hậu quả tổn thất Các nghiệp vụ của loại hình bảo hiểm tài sản:

Trang 20

- Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển;

- Bảo hiểm thân tàu thủy;

- Bảo hiểm xây dựng lắp đặt;

- Bảo hiểm hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí;

- Bảo hiểm cháy;

- Bảo hiểm tiền gửi tiền cất trữ trong kho và trong quá trình vận chuyển;

- Bảo hiểm vật chất các phương tiện;

- Bảo hiểm trong nông nghiệp.[6]

1.1.2.2 Bảo hiểm trách nhiệm dân sự

Theo nghĩa rộng có thể hiểu, trách nhiệm dân sự là trách nhiệm phát sinh do vi phạm nghĩa vụ dân sự

* Nghĩa vụ trách nhiệm dân sự thường có 2 loại:

- Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng: Đây là trách nhiệm nghĩa vụ mà các bên đã cam kết thỏa thuận trong một hợp đồng

Ví dụ: Hợp đồng vận chuyển hàng hóa từ cảng A đến cảng B Hợp đồng vận chuyển hành khách (vé là hợp đồng) Hợp đồng thuê thuyền viên làm việc trên tàu

- Trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng: Đây là trách nhiệm phát sinh do pháp luật quy định mà người gây ra thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường

Ví dụ: lái xe ô tô đâm vào nhà dân, đâm phải người đang đi trên hè phố Do đóng cọc móng nhà làm rung nứt đổ nhà bên cạnh

* Trách nhiệm dân sự là một loại trách nhiệm pháp lý, do đó nó mang đặc tính chung của trách nhiệm pháp lý

+ Thứ nhất, được coi là biện pháp cưỡng chế bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ trách nhiệm đã thỏa thuận (trong hợp đồng)

+ Thứ hai, có nghĩa vụ thực hiện trách nhiệm theo quy định của luật pháp vì đã có những hành vi vi phạm pháp luật

Thông thường thực hiện nghĩa vụ trách nhiệm này bằng 2 hình thức tự nguyện tham gia thương lượng thỏa thuận và hình thức cưỡng chế của luật pháp tòa án

Trang 21

* Các nghiệp vụ của bảo hiểm trách nhiệm:

- Bảo hiểm trách nhiệm của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba

- Bảo hiểm trách nhiệm pháp lý của người vận chuyển trong ngành hàng không dân dụng

- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ doanh nghiệp

- Bảo hiểm trách nhiệm công cộng và trách nhiệm sản phẩm

- Bảo hiểm trách nhiệm khác (tùy loại bảo hiểm).[6]

1.1.2.3 Bảo hiểm con người phi nhân thọ

Người được bảo hiểm thường được quy định trong một khoảng tuổi nào

đó, các công ty bảo hiểm không chấp nhận bảo hiểm cho những người có độ tuổi quá thấp hoặc quá cao.Bởi vì ở độ tuổi quá thấp hoặc quá cao tình trạng rủi

ro diễn biến phức tạp, xác suất rủi ro cao, việc kiểm soát và quản lý rủi ro rất khó thực hiện Chẳng hạn ở nước ta, các công ty bảo hiểm không chấp nhận bảo hiểm cho những em bé dưới 12 tháng tuổi và những người trên 65 tuổi Nhưng ở nước Anh lại quy định khác, những đứa trẻ dưới 3 tuổi và những người trên 65 tuổi không được các công ty bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm

So với bảo hiểm nhân thọ, thời hạn bảo hiểm con người phi nhân thọ ngắn hơn và thường là 1 năm như: bảo hiểm tai nạn 24/24, bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật…Thậm chí có nghiệp vụ bảo hiểm thời hạn chỉ trong vài ngày, vài giờ đồng hồ như: bảo hiểm tai nạn hành khách Do đó, phí bảo hiểm thường nộp một lần khi ký kết hợp đồng bảo hiểm

Trang 22

Các nghiệp vụ bảo hiểm con người phi nhân thọ thường được triển khai kết hợp với các nghiệp vụ bảo hiểm khác trong cùng một hợp đồng bảo hiểm Chẳng hạn: bảo hiểm tai nạn được lồng ghép trong bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp… Việc triển khai kết hợp này làm cho chi phí khai thác, chi phí quản lý… của công ty bảo hiểm giảm đi từ đó có điều kiện giảm phí bảo hiểm

Ở hầu hết các nước trên thế giới, trong giai đoạn đầu của sự phát triển ngành bảo hiểm, bảo hiểm con người phi nhân thọ được triển khai sớm hơn bảo hiểm nhân thọ, họ vừa triển khai vừa rút kinh nghiệm, đến khi điều kiện kinh tế đã chín muồi mới tổ chức triển khai bảo hiểm nhân thọ Chính vì vậy, bảo hiểm con người phi nhân thọ được coi là loại hình bảo hiểm bổ sung hữu hiệu nhất cho các loại hình bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế Ở Việt Nam, hầu hết các nghiệp vụ bảo hiểm con người phi nhân thọ đều ra đời trong những năm cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90, mãi đến năm 1996 mới tổ chức triển khai bảo hiểm nhân thọ

* Các nghiệp vụ bảo hiểm con người phi nhân thọ

Bảo hiểm con người phi nhân thọ được triển khai rất đa dạng và linh hoạt tùy theo tình hình cụ thể ở từng nước và ngay trong phạm vi một nước, cũng có sự khác nhau giữa các thời kỳ, giữa các công ty bảo hiểm về một số nội dung cơ bản như: phạm vi bảo hiểm, phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm, thủ tục trả tiền bảo hiểm… Điều này cũng thật dễ hiểu vì bảo hiểm thương mại là hoạt động mang tính kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận.Tuy nhiên trong quá trình ký kết hợp đồng hoặc triển khai một sản phẩm mới đều phải tuân thủ khung pháp lý của mỗi nước

- Bảo hiểm tai nạn con người 24/24;

- Bảo hiểm tai nạn hành khách;

- Bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật;

- Bảo hiểm học sinh.[6]

Trang 23

1.1.3 Vai trò của bảo hiểm phi nhân thọ

Thứ nhất, bảo hiểm phi nhân thọ góp phần ổn định tài chính và đảm bảo cho các khoản đầu tư Bởi lẽ khi rủi ro hay sự kiện bảo hiểm xảy ra đối

với các đối tượng bảo hiểm nếu bị tổn thất các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ trợ cấp hoặc bồi thường kịp thời để người tham gia nhanh chóng khắc phục hậu quả, ổn định cuộc sống và sản xuất làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển bình thường.Trong nền kinh tế hiện đại, bảo hiểm đã trực tiếp tham gia đảm bảo cho các khoản đầu tư Hầu hết các dự án đầu tư hiện nay đều đòi hỏi phải có bảo hiểm Nếu không có bảo hiểm thì các chủ đầu tư, đặc biệt là các ngân hàng liên quan sẽ không mạo hiểm đầu tư vốn cho dự án Bởi vậy có thể xem hoạt động bảo hiểm như một loại kích thích đầu tư

Thứ hai, bảo hiểm phi nhân thọ là một kênh huy động vốn hữu hiệu để đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội, thể hiện ở chỗ các doanh nghiệp bảo

hiểm thu phí bảo hiểm trước khi rủi ro và sự kiện bảo hiểm xảy ra với đối tượng bảo hiểm Điều đó cho phép doanh nghiệp có một số tiền rất lớn đòi hỏi

họ phải quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả để đảm bảo quyền lợi của người tham gia bảo hiểm Ngoài ra thời điểm xảy ra rủi ro và thời điểm thu phí bảo hiểm luôn có một khoảng cách Bởi vậy các doanh nghiệp bảo hiểm phải thiết lập các quỹ dự phòng và phải đem đầu tư để thu lãi

Thứ ba, góp phần ổn định và tăng thu ngân sách nhà nước Với các loại

quỹ bảo hiểm ngày càng tăng do người tham gia đóng góp, các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ chi trả hoặc bồi thường khi rủi ro hoặc sự kiện bảo hiểm xảy ra Vì vậy, ngân sách nhà nước không phải chi tiền để trợ cấp cho các thành viên, doanh nghiệp khi gặp rủi ro Mặt khác, hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm còn đóng góp vào ngân sách thông qua các loại thuế doanh nghiệp phải nộp

Thứ tư, góp phần ngăn ngừa, đề phòng và hạn chế tổn thất giúp cho con người có cuộc sống an toàn hơn, xã hội trật tự hơn Trong quá trình tham gia bảo

hiểm các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ cùng với người tham gia bảo hiểm phối hợp

Trang 24

để thực hiện các biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất thông qua các hoạt động như: tuyên truyền phòng tránh tai nạn, tư vấn hỗ trợ giảm thiểu thiệt hại, yêu cầu đảm bảo các quy tắc về an toàn lao động, phòng chống cháy nổ… những hoạt động này góp phần ổn định cuộc sống, sản xuất, đảm bảo an sinh xã hội

Thứ năm, các hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng và hoạt động bảo hiểm nói chung phát triển sẽ tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động

Đối với các doanh nghiệp bảo hiểm: Hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ giúp doanh nghiệp thu được các nguồn thu, thông qua đó bù đắp được các chi phí, hình thành được nguồn quỹ phục vụ cho hoạt động đầu tư, cũng như góp phần tăng thêm lợi nhuận và khả năng tài chính cho các doanh nghiệp

Đối với người tham gia bảo hiểm: Bảo hiểm phi nhân thọ còn là chỗ dựa tinh thần cho người dân Chỉ với mức phí bảo hiểm không lớn nhưng các

cá nhân sẽ nhận được khoản tiền bồi thường khi không may rủi ro xảy ra Người tham gia bảo hiểm cũng yên tâm đầu tư vốn vào quá trình sản xuất kinh doanh, tham gia vào nhiều hoạt động của đời sống xã hội Nếu không có rủi ro xảy ra thì phần phí bảo hiểm đã đóng góp sẽ được san sẻ cho các cá nhân không may mắn Đây cũng chính là ý nghĩa nhân văn mà nhiều cá nhân tích cực tham gia bảo hiểm phi nhân thọ.[8]

1.1.4 Nội dung công tác quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ

1.1.1.4 Công tác thu bảo hiểm phi nhân thọ

Công tác thu bảo hiểm phi nhân thọ được xác định từ thị trường BHPNT bao gồm các chủ thể: người mua (người tham gia bảo hiểm) và người bán (các doanh nghiệp hay tổ chức bảo hiểm) Ngoài ra, do đặc điểm của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, tham gia thị trường BHPNT còn có các nhà tái bảo hiểm, với tư cách là những người “bảo hiểm” cho các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm gốc Là một ngành nghề kinh doanh có điều kiện, thị trường

BH nói chung, thị trường BHPNT nói riêng còn chịu sự quản lý, giám sát chặt chẽ của Nhà nước thông qua Cơ quan giám sát nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm

Trang 25

* Người mua bảo hiểm

Người mua bảo hiểm là những khách hàng trên thị trường bảo hiểm, Họ

có nhu cầu về bảo hiểm, ký hợp đồng bảo hiểm với người bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm Trong lĩnh vực bảo hiểm, người mua còn gọi là người tham gia bảo hiểm

Trong BHPNT, có những tiêu thức khác nhau để phân loại người mua bảo hiểm Trong đó, việc phân loại thành người mua bảo hiểm là khách hàng

cá nhân và người mua bảo hiểm là khách hàng tổ chức thường được sử dụng

- Khách hàng cá nhân: Là những cá nhân hoặc hộ gia đình mua bảo hiểm vì mục đích bảo vệ cho tính mạng, sức khỏe hay tài sản hay phần trách nhiệm pháp lý của chính họ hoặc gia đình họ hoặc các thành viên trong gia đình Nhóm khách hàng cá nhân thường mua các sản phẩm BHPNT như: bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm nhà ở đa rủi ro, bảo hiểm cây trồng vật nuôi, bảo hiểm tai nạn cá nhân, bảo hiểm trợ cấp nằm viện và phẫu thuật…

- Khách hàng tổ chức: Là những tổ chức trong xã hội bao gồm các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các tổ chức hành chính sự nghiệp…mua bảo hiểm vì mục đích bảo vệ cho tài sản thuộc quyền sở hữu hay quản lý hợp pháp của tổ chức; cho phần trách nhiệm pháp lý có thể phát sinh đối với tổ chức trong quá trình hoạt động hay kinh doanh; hay cho những thiệt hại về tính mạng hay sức khỏe đối với người lao động mà họ thuê mướn Khách hàng là tổ chức thường mua các sản phẩm BHPNT như: bảo hiểm xe

cơ giới, bảo hiểm xây dựng lắp đặt, bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu (BHHHXNK), bảo hiểm trách nhiệm của chủ sử dụng lao động đối với người lao động, bảo hiểm cháy và gián đoạn kinh doanh…

* Người bán bảo hiểm

Trên thị trường bảo hiểm, người cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho các tổ chức và cá nhân trong xã hội là các doanh nghiệp hay tổ chức bảo hiểm Họ còn được gọi bởi các tên khác như nhà bảo hiểm hay người bảo hiểm hay bên bảo hiểm Sau đây, luận án gọi chung là doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH)

Trang 26

DNBH là tổ chức hoặc cá nhân có đầy đủ tư cách pháp nhân được Nhà nước cho phép tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm, được thu phí để lập ra quĩ bảo hiểm và chịu trách nhiệm bồi thường hay chi trả cho bên được bảo hiểm khi rủi ro, sự kiện bảo hiểm xảy ra

DNBH bao gồm: DNBH gốc và doanh nghiệp tái bảo hiểm

- DNBH gốc là doanh nghiệp chuyên cung cấp dịch vụ bảo hiểm trực tiếp cho các cá nhân và tổ chức trong xã hội có nhu cầu về bảo hiểm (còn gọi là kinh doanh bảo hiểm gốc) Bên cạnh đó, DNBH gốc còn thực hiện hoạt động nhượng tái bảo hiểm đối với các HðBH gốc ký kết được Ngoài ra, các DNBH gốc cũng

có thể thực hiện một số hoạt động nhận tái bảo hiểm từ các DNBH

- Doanh nghiệp tái bảo hiểm là doanh nghiệp chuyên làm về hoạt động tái bảo hiểm bao gồm nhận và nhượng tái bảo hiểm (còn gọi là kinh doanh tái bảo hiểm) Doanh nghiệp tái bảo hiểm không tham gia kinh doanh bảo hiểm gốc

1.1.4.2 Công tác quản lý mức thu và quy trình quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ

- Quản lý mức thu BHPNT

Doanh nghiệp bảo hiểm thu phí bảo hiểm phi nhân thọ bằng cách nộp tiền mặt hoặc chuyển khoản từ người mua (cá nhân, tổ chức) và trung gian (đại lý bảo hiểm)

Để xác định trách nhiệm tối đa của người bảo hiểm trong việc chi trả tiền bảo hiểm và có cơ sở định phí cho các HĐBH con người phi nhân thọ, người bảo hiểm phải xác định được số tiền bảo hiểm của hợp đồng Số tiền bảo hiểm được lựa chọn dựa trên sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và DNBH, nhưng đó không phải là sự biểu hiện bằng tiền của đối tượng bảo hiểm Số tiền bảo hiểm của hợp đồng thường chia thành nhiều mức khác nhau dựa trên các yếu tố như mức thu nhập bình quân của dân cư; mức chi phí y tế trung bình; tình hình cạnh tranh trên thị trường của các sản phẩm bảo hiểm cùng loại nghiệp vụ,

Số tiền bảo hiểm và thời hạn bảo hiểm được xác định theo yêu cầu của bên mua bảo hiểm Số tiền bảo hiểm được chia làm nhiều mức (chẵn tới hàng

Trang 27

triệu đồng) để bên mua bảo hiểm có thể lựa chọn Thời hạn bảo hiểm thông thường là 1năm

- Quy trình thu BHPNT:

Hình 1.1: Quy trình thu phí bảo hiểm phi nhân thọ tại

các doanh nghiệp bảo hiểm

+ Thu trực tiếp từ người mua

Người mua lựa chọn mức bảo hiểm theo nhu cầu, đóng phí trực tiếp cho bộ phận thu của doanh nghiệp bảo hiểm, nhận biên lai của doanh nghiệp bảo hiểm và nhận giấy chứng nhận về bảo hiểm phi nhân thọ

+ Thu phí từ các trung gian bảo hiểm:

Người mua sẽ chọn mức bảo hiểm theo nhu cầu, đóng phí cho các trung gian bảo hiểm, người mua nhận biên lai từ trung gian bảo hiểm và nhận giấy chứng nhận về bảo hiểm phi nhân thọ Các loại trung gian bảo hiểm trong doanh nghiệp là:

 Hệ thống đại lý chuyên nghiệp: Đây là hệ thống phân phối truyền thống, trong đó đại lý là các tổ chức, các cá nhân được doanh nghiệp bảo hiểm uỷ quyền nhằm thực hiện việc giới thiệu, chào bán sản phẩm Trong các loại hệ thống phân phối, hệ thống này được coi là khá tốn kém chi phí cho doanh nghiệp bảo hiểm, do doanh nghiệp phải chi phí đào tạo đại lý, trả hoa hồng cao

Trung gian bảo hiểm

hiểm

Trang 28

 Các mạng lưới phân phối kết hợp (hệ thống phân phối bán hàng tại điểm): Đây là hệ thống phân phối dựa trên kênh phân phối của các lĩnh vực kinh doanh khác như ngân hàng, bưu điện, cơ quan thuế, hệ thống các cửa hàng bán lẻ… Do tận dụng được con người, cơ sở vật chất, nguồn khách hàng của các lĩnh vực này nên đây là kênh phân phối khá tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp bảo hiểm

 Các văn phòng bán bảo hiểm: Đây là hệ thống phân phối trong đó nhân viên của doanh nghiệp bảo hiểm được trả lương sẽ trực tiếp thực hiện việc bán sản phẩm tại trụ sở chính của doanh nghiệp hay tại các phòng bảo hiểm khu vực, các chi nhánh…

 Môi giới: Môi giới bảo hiểm là tổ chức trung gian đại diện cho khách hàng tìm kiếm các doanh nghiệp bảo hiểm phù hợp Môi giới được hưởng hoa hồng do doanh nghiệp bảo hiểm chi trả Phân phối qua môi giới làm tăng uy tín cho doanh nghiệp nhưng có nhược điểm là doanh nghiệp bảo hiểm sẽ không được tiếp xúc trực tiếp với khách hàng nếu không có sự đồng ý của môi giới

Như vậy, quản lý mức phí và quy trình thu phí tốt sẽ giúp doanh nghiệp đảm bảo nguồn thu cho doanh nghiệp, năng lực tài chính được gia tăng và giảm thiểu rủi ro trục lợi phí bảo hiểm của các tổ chức trung gian

1.1.4.3 Công tác tổ chức quản lý thu phí bảo hiểm phi nhân thọ

Phân cấp quản lý thu phí bảo hiểm phi nhân thọ: Tại các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, sự phân cấp quản lý thu phí bảo hiểm thực hiện theo mệnh lệnh của Tổng giám đốc/giám đốc đến các chi nhánh của công ty, sau

đó giám đốc chi nhánh các tỉnh sẽ căn cứ vào kế hoạch phát triển kinh doanh

và phát động cho các bộ phận, phòng ban, phòng ban của chi nhánh sẽ lên kế hoạch tiếp cận thị trường để thu phí của người mua bảo hiểm phi nhân thọ theo khu vực thị trường

Lập và xét duyệt kế hoạch thu bảo hiểm phi nhân thọ: Doanh nghiệp bảo hiểm sẽ báo cáo kết quả kinh doanh hàng năm và đưa ra kế hoạch kinh

Trang 29

doanh của năm tiếp theo, trong đó báo cáo nêu rõ mục tiêu kinh doanh về doanh thu phí, phí mới, lợi nhuận, thị phần, năng lực đầu tư tài chính, sự cam kết của doanh nghiệp trong năm kinh doanh tiếp theo

Quản lý tiền thu bảo hiểm phi nhân thọ: tổng số phí mà doanh nghiệp thu từ phí khai thác mới và thu phí hàng năm được tổng hợp theo địa bàn từ chi nhánh của công ty đặt tại thị trường các tỉnh Số thu phí được trích lập một phần cho hoạt động bảo hiểm của chi nhánh, phần còn lại sẽ nộp về Tổng công ty, số tiền này được đầu tư một phần, một phần trích lập dự phòng sử dụng cho khách hàng có sự kiện bảo hiểm xảy ra

1.1.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ tại doanh nghiệp bảo hiểm

1.1.5.1 Thu nhập của người tham gia

Khi kinh tế - xã hội phát triển, đời sống của con người được cải thiện hơn Nhu cầu được bảo vệ bản thân, giảm thiểu rủi ro được người tham gia quan tâm, hiểu được quyền và nghĩa vụ tham gia của mình dẫn đến việc tham gia bảo hiểm sẽ chủ động hơn, nguồn thu sẽ lớn hơn Kinh tế phát triển cũng làm cho mức lương của người tham gia cao hơn, mức tích lũy tăng thêm nên người tham gia sẽ chú ý đến quyền lợi của mình và tham gia BHPNT với mức đóng cao hơn.[6]

1.1.5.2 Nhận thức của người tham gia

Nhận thức của người tham gia là nhân tố quyết định thiết yếu để công tác quản lý đối tượng tham gia BHPNT có đạt kết quả tốt hay không Chính sách ra đời chỉ là sự hướng dẫn chung nhất, nhưng để chính sách có khả năng thực thi trong thực tiễn cần phải có sự chấp hành tốt chính sách đó Ý thức tham gia BHPNT của các đối tượng thuộc diện tham gia bảo hiểm đã trở thành mối quan

tâm hàng đầu trong công tác quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm.[8]

1.1.5.3 Chất lượng nguồn nhân lực làm công tác thu bảo hiểm

Đội ngũ cán bộ thực hiện công tác thu bảo hiểm phải đảm bảo các yêu cầu

về chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức tốt, có tinh thần trách nhiệm cao, cống hiến

Trang 30

hết mình vì sự nghiệp an sinh xã hội mà Ngành và công ty đề ra Chỉ có như vậy, BHPNT mới có thể thực hiện và phát triển được ở thị trường Việt Nam

Quá trình tổ chức thực hiện chính sách BHPNT là nhiệm vụ trọng tâm của cơ quan BHXH, do đó mỗi cán bộ làm công tác thu BHPNT phải là người theo dõi, giám sát và chủ động tham mưu cho các cấp lãnh đạo để định hướng nội dung, xây dựng kế hoạch, các phương án triển khai tổ chức thực hiện nhằm tăng nguồn thu.[6]

1.1.5.4 Hình thức, nội dung của công tác tuyên truyền

Đây là nhân tố kích thích người tham gia bảo hiểm với số lượng ở mức

độ nào Các công ty sử dụng công cụ tuyên truyền như tờ rơi, truyền hình, truyền than, báo, tạp chí,…để có thể tiếp cận với đông đảo đối tượng tham gia bảo hiểm Nội dung chú trọng vào mức phí đóng, thời gian, đối tượng, loại sản phẩm dịch vụ, cam kết của công ty,…thu hút đối tượng tham gia Như vậy làm tăng nguồn thu cho công ty.[8]

1.1.5.5 Uy tín, hình ảnh của công ty

Đây là nhân tố rất quan trọng, nó thể hiện sự cam kết của công ty về việc thực hiện các nghĩa vụ và quyền lợi bảo hiểm cho người tham gia Những cam kết đó là: chất lượng dịch vụ, sự thấu hiểu và đồng cảm với khách hàng, mức độ đáp ứng yêu cầu của khách hàng,…Bên cạnh đó, xây dựng bầu không khí làm việc tại công ty cũng tạo ra sự thân thiện với người tham gia bảo hiểm.[6]

1.2 Cơ sở thực tiễn về công tác quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ

1.2.1 Kinh nghiệm của một số công ty bảo hiểm phi nhân thọ tại thị trường Việt Nam

1.2.1.1 Kinh nghiệm của PVI

Theo báo cáo số liệu mới nhất từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, Bộ Tài chính cho thấy hết năm 2015, thị phần thị trường bảo hiểm phi nhân thọ không có sự xáo trộn nhiều, 62,79% thị phần vẫn nằm trong Top 5 quen

Trang 31

thuộc của ngành bảo hiểm, 24 DN còn lại và 1 chi nhánh chỉ chiếm 37,21% thị phần

Kết thúc năm 2015, tổng doanh thu phí bảo hiểm gốc của thị trường phi nhân thọ ước đạt 32.038 tỷ đồng, tăng 17,18% so với cùng kỳ năm 2014 Dẫn đầu thị trường về doanh thu phí gốc là Bảo hiểm PVI với doanh thu đạt 6.675 tỷ đồng, tăng 16,66% so với cùng kỳ năm 2014, chiếm 20,84% thị phần Đây là năm thứ hai liên tiếp Bảo hiểm PVI giữ vững vị trí này Tiếp đến là Bảo Việt với doanh thu ước đạt 5.934 tỷ đồng, tăng 4,97% so với năm 2014, chiếm 18,52% thị phần Bảo Minh đứng thứ ba với doanh thu ước đạt 2.845 tỷ đồng, tăng 9,46% so với năm 2014, chiếm 8,88% thị phần PTI vươn lên vị trí đứng thứ tư với doanh thu ước đạt 2.432 tỷ đồng, tăng 41,5% so với năm 2014, chiếm 7,59% thị phần, PJICO đứng thứ năm với doanh thu ước đạt 2.231 tỷ đồng, tăng 5,07% so với năm 2014, chiếm 6,96% thị phần

Ngoài các doanh nghiệp bảo hiểm dẫn đầu thị trường nêu trên, một số DNBH có tỷ lệ tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm gốc trên 50% so với cùng kỳ năm 2014 như SGI (21,6 tỷ đồng, tăng 700,52%), VASS (1.286 tỷ đồng, tăng 177,98%), ACE (173 tỷ đồng, tăng 104,99%), Phú Hưng (52 tỷ đồng, tăng 80,02%), VBI (488 tỷ đồng, tăng 76,83%)

Thành công từ chất lượng dịch vụ

Hai năm liền dẫn đầu thị trường không chỉ do Bảo hiểm PVI có sản phẩm đa dạng, mạng lưới bán hàng rộng khắp mà quan trọng nhất chính là Bảo hiểm PVI đã mạnh dạn đầu tư vào dịch vụ chăm sóc Khách hàng với

triết lý kinh doanh “Lấy khách hàng làm thước đo giá trị” xuyên suốt hoạt

động của công ty

Hiện Bảo hiểm PVI là đơn vị duy nhất trên thị trường có đầy đủ các dịch vụ tiện ích nhất với 02 văn phòng chăm sóc Khách hàng phía Bắc và phía Nam với các chức năng: bảo Lãnh viện phí, Giám định trực tuyến, hotline 24/7 hoạt động hiệu quả đáp ứng được nhu cầu cao của Khách hàng

Trang 32

Bảo hiểm PVI cũng là đơn vị duy nhất trên thị trường có hệ thống Bảo lãnh viện phí hợp tác với gần 100 Bệnh viện công và tư lớn nhất Việt Nam Đây

là nơi có nhiều chuyên gia y tế, bác sĩ có kinh nghiệm, giúp khách hàng có thêm các địa chỉ tin cậy để khám chữa bệnh cho bản thân và gia đình mình

và sẽ được hưởng nhiều ưu đãi khi đến khám chữa bệnh tại các bệnh viện uy tín và chất lượng cao mà không phải trả tiền với thủ tục bảo lãnh và khám chữa bệnh nhanh chóng, thuận tiện, giá cả phù hợp

Trong nỗ lực đưa những dịch vụ tốt nhất tới khách hàng, vừa qua, Bảo hiểm PVI cũng đã kí kết Thoả thuận hợp tác với các bệnh viện Malaysia vừa giúp khách hàng có được thông tin về những dịch vụ y tế chất lượng với giá phải chăng, được hưởng dịch vụ y tế đạt chuẩn quốc tế, vừa thúc đẩy phát triển

cơ sở hạ tầng và nguồn lực bảo hiểm Việt Nam sang những thị trường mới

Hệ thống Giám định trực tuyến của Bảo hiểm PVI cũng là một trong những hệ thống hiện đại nhất hiện nay Ngay khi nhận được thông báo sự cố của Khách hàng, các Giám định viên Bảo hiểm PVI sẽ có mặt cùng phối hợp làm việc với cơ quan chức năng và gửi về trung tâm các báo cáo tại hiện trường đảm bảo sự chính xác cao nhất đồng thời rút ngắn đáng kể thời gian

xử lý thủ tục cho Khách hàng Ngoài ra Bảo hiểm PVI đang hợp tác với hơn

100 gara chất lượng cao trên toàn quốc, tại đây khách hàng có thể yên tâm với chất lượng sửa chữa xe của gara

Bên cạnh đó Bảo hiểm PVI vẫn tiếp tục mở rộng mạng lưới, đồng nhất chất lượng dịch vụ tại 29 đơn vị thành viên trên toàn quốc nhằm đảm bảo quyền lợi cao nhất cho Khách hàng Dự kiến năm 2016 Bảo hiểm PVI sẽ tăng cường “phủ sóng” đến những địa bàn tiềm năng trên Toàn quốc, mang thương hiệu Bảo hiểm Việt đến gần hơn với người Việt Nam

Vừa hoạt động kinh doanh hiệu quả vừa sở hữu năng lực tài chính bền vững, mạng lưới rộng khắp, dịch vụ tiện ích đầy đủ, luôn sẵn sàng giải quyết nhanh chóng sự cố cho khách hàng là minh chứng cho việc Bảo hiểm PVI không chỉ tự hào là DNBH Việt Nam duy nhất đạt xếp hạng năng lực tài

Trang 33

chính “an toàn” B++ từ A.M Best mà còn trở thành thương hiệu bán lẻ được nhiều khách hàng tin tưởng lựa chọn.[16]

1.2.1.2 Kinh nghiệm của MIC

Năm 2015, MIC vươn lên đứng thứ 6 trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, thị phần MIC tăng lên 4,48%, tổng doanh thu MIC đạt 1.579 tỷ đồng, tăng trưởng 42% so với năm 2014, lợi nhuận trước thuế đạt 50 tỷ đồng, tăng trưởng 32%, cổ tức 7%, tỷ lệ bồi thường của MIC là 30,4%, thấp hơn tỷ lệ bồi thường bình quân của thị trường bảo hiểm 41% MIC hiện là một trong số ít các doanh nghiệp bảo hiểm có lợi nhuận từ nghiệp vụ bảo hiểm gốc

MIC đã hoàn thiện chiến lược phát triển giai đoạn 2015-2020 và tầm nhìn đến năm 2025 với 3 trụ cột, 4 nền tảng MIC đã ký kết hợp đồng tư vấn xây dựng mô hình tổ chức mới và KPI với Công ty PwC theo tiêu chuẩn mực quốc tế, hiệu quả cao, chuyên môn hóa, hỗ trợ mở rộng và phát triển trong tương lai

Đặc biệt, MIC là doanh nghiệp bảo hiểm tiên phong tách hoạt động giám định bồi thường độc lập, hoạt động giám định bồi thường sẽ được triển khai xuyên suốt, thống nhất theo trục dọc, đảm bảo minh bạch, khách quan, đồng thời giúp MIC nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng

Năm 2015, MIC đã vinh dự nhận được nhiều giải thưởng, danh hiệu cao quý như Cờ thi đua xuất sắc của UBND TP Hà Nội và trong TOP 200 doanh nghiệp đạt giải thưởng Sao vàng đất việt do Hội doanh nhân trẻ Việt Nam trao tặng

Năm 2016, với phương châm “Hoàn thiện chiến lược và phát triển bền vững” và mục tiêu trở thành doanh nghiệp bảo hiểm thuận tiện hàng đầu, MIC phấn đấu tổng doanh thu đạt 2.000 tỷ đồng, lợi nhuận 70 tỷ đồng, cổ tức 7% và tăng vốn điều lệ lên 800 tỷ đồng thông qua phương án phát hành thêm cổ phiếu mới Hiện tại, vốn điều lệ của MIC đang là 500 tỷ đồng, trong

Trang 34

đó, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) sở hữu 49,77% vốn điều lệ và các cổ đông khác sở hữu 50,23% vốn điều lệ của MIC

Theo ông Uông Đông Hưng - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Quân đội, Chủ tịch HĐQT MIC việc tăng vốn điều lệ của MIC lên 800 tỷ đồng nhằm mục đích tăng năng lực tài chính để MIC tham gia vào tất cả các dịch

vụ bảo hiểm trên thị trường trong đó có dịch vụ bảo hiểm tài sản công là những tài sản bảo hiểm có giá trị lớn của Nhà nước (Theo Cục Quản lý Giám sát Bảo hiểm, tổng giá trị tài sản công ước tính đạt gần 1 triệu tỷ đồng (chưa kể cơ sở hạ tầng, tài sản của các đơn vị an ninh quốc phòng), trải rộng khắp toàn quốc thuộc tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội và hiện đang được gần 90 nghìn cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng)

Ngoài ra, MIC tiếp tục đẩy mạnh, mở rộng mạng lưới tại khu vực phía Nam, đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin nâng cao chất lượng dịch vụ bảo hiểm giúp khách hàng tham gia bảo hiểm mọi lúc, mọi nơi và kịp thời giám định, bồi thường nhanh chóng

Đại hội nhận được sự nhất trí 100% biểu quyết của các cổ đông thông qua Báo cáo kết quả hoạt động của HĐQT, Ban Kiểm soát, Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2015 và kế hoạch kinh doanh năm 2016, các tờ trình phân phối lợi nhuận, tờ trình tăng vốn điều lệ, thù lao Hội đồng Quản trị, Ban Kiểm soát và lựa chọn Công ty kiểm toán, tờ trình sửa đổi điều lệ và bầu thay thế thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát.Đại hội tín nhiệm bầu thay thế thành viên HĐQT, Ban KS nhiệm kỳ 2012 - 2017 như sau: Ông Nguyễn Đức Thuận - Thành viên HĐQT, bà Dương Thị Thanh Nga - Thành viên Ban Kiểm soát

Với sự quan tâm, giúp đỡ, ủng hộ của Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, của các cổ đông, sự chia sẻ, hợp tác của đối tác, khách hàng cũng như các doanh nghiệp quân đội, MIC tin tưởng hoàn thành xuất sắc kế hoạch kinh doanh năm 2016 cùng mục tiêu chiến lược nằm trong TOP 5 doanh nghiệp bảo hiểm năm 2015-2020 và TOP 3 DNBH năm 2025.[15]

Trang 35

1.2.2 Bài học kinh nghiệm về công tác quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ cho công ty bảo hiểm Pjico Quảng Ninh

Một là, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ nhân viên

chức tại công ty, bởi lẽ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ thường có đối tượng khách hàng là người có thu nhập khá trở lên, có vốn hiểu biết để nghiên cứu

và tìm hiểu rõ ràng lợi ích của bảo hiểm và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ này; và thời gian tham gia bảo hiểm dài nên để thuyết phục khách hàng tham gia là không hề dễ Do vậy, công ty phải đầu tư mọi nguồn lực để nâng cao chất lượng nhân viên trong quá trình làm việc, chăm sóc khách hàng

Hai là, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý và thu

bảo hiểm phi nhân thọ Do các cá nhân tham gia ngày một nhiều, việc quản lý đối tượng tham gia và các chế độ của BHPNT rất phức tạp nên cần sử dụng CNTT nhằm quản lý hiệu quả công tác thu BHNT về địa bàn, đối tượng khách hàng, mức thu, phương thức thu,

Ba là, nâng cao công tác tuyên truyền, phổ biến tầm quan trọng của

BHPNT cho toàn dân nhằm nâng cao nhận thức về tầm quan trọng và lợi ích của việc tham gia BHPNT

Bốn là, phát triển mạng lưới đại lý bảo hiểm phi nhân thọ bằng cách

tuyển chọn chặt chẽ các đại lý, huấn luyện các chương trình, nội dung tập huấn và những cam kết của công ty tới khách hàng mục tiêu

Năm là, ban lãnh đạo công ty phải xây dựng kế hoạch chiến lược kinh

doanh trong trung hạn và dài hạn, đề xuất phương thức quản lý công tác thu bảo hiểm phi nhân thọ gắn với mục tiêu hoạt động của công ty trong trung hạn và dài hạn

Sáu là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về sản phẩm BHPNT của công

ty tới khách hàng mục tiêu Đây là kênh truyền thông quan trọng giúp công ty

có cơ hội quảng bá hình ảnh sản phẩm, uy tín, thương hiệu của công ty tới thị trường Sử dụng nhiều công cụ tiếp cận khách hàng như tờ rơi, quảng cáo, website của công ty,…

Trang 36

Bẩy là, đa dạng hình thức thu phí BHPNT đối với khách hàng, có thể

sử dụng thu tiền mặt hoặc hình thức chuyển khoản Quản lý sử dụng nguồn phí doanh thu khai thác mới, tái bảo hiểm hàng năm và đầu tư tài chính từ nguồn doanh thu phí từ khách hàng để đầu tư sinh lời cho công ty

Trang 37

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Câu hỏi nghiên cứu

Để hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty bảo hiểm Pjico Quảng Ninh, câu hỏi nghiên cứu cần được giải quyết là:

- Thực trạng công tác quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty bảo hiểm Pjico Quảng Ninh trong thời gian qua như thế nào?

- Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty bảo hiểm Pjico Quảng Ninh ra sao?

- Những định hướng và giải pháp chủ yếu nào trong thời gian tới để hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty bảo hiểm Pjico Quảng Ninh?

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin

2.2.1.1 Thu thập thông tin thứ cấp

Để đảm bảo cho quá trình nghiên cứu, thông tin được sử dụng phải đảm bảo các yêu cầu: Đầy đủ, chính xác và khách quan

Thông tin thứ cấp là thông tin đã có sẵn và đã tổng hợp được thu thập

từ các tài liệu đã công bố như: Báo cáo nội bộ công ty bảo hiểm Pjico Quảng Ninh từ năm 2014-2016; Tài liệu, báo cáo, bản tin, thông tin, kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về công tác quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ; bái báo, công trình nghiên cứu liên quan đến công tác quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ; Số liệu về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, nguồn nhân lực công ty, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ của công ty, các sản phẩm chính,…được khai thác từ nguồn dữ liệu thứ cấp của công ty; đồng thời thu thập, tổng hợp kết quả đóng bảo hiểm phi nhân thọ của các đối tượng tham gia hàng năm tại Pjico Quảng Ninh từ năm 2014-2016

Trang 38

Các thông tin, số liệu liên quan được dùng cho việc phân tích, đánh giá công tác thu bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty bảo hiểm Pjico Quảng Ninh được thực hiện từ năm 2014-2016

2.2.1.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

a Đối tượng điều tra:

Đối tượng tham gia là:

Các cá nhân đã từng tham gia gia bảo hiểm phi nhân thọ tại công ty từ

2 năm trở lên, đang sinh sống trên địa bàn thành phố Hạ Long, bằng cách dùng hệ thống máy tính lọc dữ liệu số năm và địa chỉ của đối tượng tham gia

b Chọn mẫu nghiên cứu:

Tác giả điều tra chọn mẫu theo số lượng đối tượng đã tham và áp dụng công thức Slovin [Slovin,1984] và [12, tr19]:

n =

N 1+N.e2Trong đó:

n: Số mẫu N: Tổng thể e: sai số cho phép (chọn e=5%) Theo dữ liệu công ty sàng lọc vào quý I/2017 có tổng số N = 208 người tham gia đồng thời mua 3 loại hình BHPNT của công ty, tác giả chọn lựa khách hàng sử dụng đồng thời 3 sản phẩm của công ty vì hiện nay mức phí BHPNT hợp lý với người mua, hơn nữa nhu cầu sử dụng vì lợi ích mang lại của BHPNT đối với khách hàng đã nhận thức tốt, e = 0.05 Áp dụng công thức tính được n= 137 người, tương ứng với 137 phiếu thu về

c Mẫu phiếu điều tra

Để đánh giá về công tác thu bảo hiểm phi nhân thọ, đề tài sử dụng số liệu sơ cấp thông qua bảng câu hỏi Phiếu điều tra được thiết kế dựa trên cơ sở tham khảo ý kiến của Ban lãnh đạo và trưởng phòng trong công ty Bảo hiểm Pjico Quảng Ninh Nội dung của phiếu điều tra gồm 2 phần:

Trang 39

- Phần I: Thông tin chung

Phần này đánh giá thông tin chung về cá nhân người tham gia bảo hiểm phi nhân thọ như: tên, tuổi, địa chỉ, giới tính, trình độ văn hóa, số năm tham gia bảo hiểm,…

- Phần II: Nội dung khảo sát

Các câu hỏi điều tra cụ thể được chọn lọc từ vấn đề cần giải quyết

d Phương pháp phỏng vấn (Kèm phiếu điều tra):

Tiến hành phỏng vấn sâu tại Công ty Bảo hiểm Pjico Quảng Ninh với ban lãnh đạo như: Giám đốc, phó giám đốc, Trưởng phó phòng ban chức năng, cán bộ thu nhằm: (i) Đánh giá hoạt động thu bảo hiểm phi nhân thọ tại công ty trong những năm gần đây và (ii) Những thành tích đã đạt được, những tồn tại cần khắc phục và quan điểm của các chuyên gia về phương hướng phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ nhằm tăng thu cho công ty

Phỏng vấn cá nhân: theo đối tượng điều tra

2.2.2 Phương pháp tổng hợp và phân tích thông tin

2.2.2.1 Phương pháp tổng hợp thông tin

Thông tin sau khi thu thập sẽ được hệ thống hóa số liệu, kết hợp với kết quả điều tra, khảo sát người tham gia mua BBHPNT của công ty để để phân tích vấn đề nghiên cứu, từ đó rút ra kết luận

Từ các số liệu thu thập được, xây dựng hệ thống bảng biểu để phân tích, đánh giá tình hình quản lý công tác thu BHPNT của công ty

2.2.2.2 Phương pháp phân tích thông tin

a Phương pháp so sánh

Thông qua phương pháp này ta rút ra các kết luận về công tác thu và quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty Bảo hiểm Pjico Quảng Ninh trong thời gian qua và đề ra các định hướng cho thời gian tới

Trong luận văn tác giả sử dụng phương pháp:

- So sánh số tuyệt đối: là kết quả của phép trừ giữa số liệu của kỳ phân tích và kỳ gốc Phương pháp này dùng để so sánh sự biến đổi giữa số liệu của

Trang 40

kỳ tính toán với số liệu của kỳ gốc để tìm ra sự biến đổi nguyên nhân của sự biến động đó, từ đó rút ra các đánh giá và kết luận

- So sánh số tương đối: Tỷ trọng của chỉ tiêu phân tích, được đo bằng tỉ

lệ %, là tỷ lệ giữa số liệu thành phần và số liệu tổng hợp Phương pháp chỉ rõ mức độ chiếm giữ của các chỉ tiêu thành phần trong tổng số, mức độ quan trọng của chỉ tiêu tổng thể Kết hợp với các phương pháp khác để quan sát và phân tích được tầm quan trọng và sự biến đổi của chỉ tiêu, nhằm đưa ra các biện pháp quản lý, điều chỉnh kịp thời

b Phương pháp thống kê mô tả

Mô tả quá trình thực hiện công tác thu và quản lý thu bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty Bảo hiểm Pjico Quảng Ninh qua đó thấy được những ưu

- nhược điểm của quy trình, từ đó đề xuất giải pháp phù hợp

Phương pháp thống kê mô tả, được dùng để đánh giá quy mô các đối tượng tham gia bảo hiểm phi nhân thọ đã triển khai qua các năm, xem xét mức độ đạt được trong từng thời kỳ bằng kỹ thuật so sánh số tuyệt đối

và số tương đối

c Phương pháp phân tích dãy số thời gian

Nghiên cứu này sử dụng các dãy số thời kỳ với khoảng cách giữa các thời

kỳ trong dãy số là 1 năm và 2 năm Các chỉ tiêu phân tích biến động của nghèo

và nghèo đa chiều trên địa bàn nghiên cứu theo thời gian bao gồm:

*) Lượng tăng (hoặc giảm) tuyệt đối định gốc (Δ i )

Chỉ tiêu này phản ánh sự biến động về mức độ tuyệt đối của chỉ tiêu nghiên cứu trong khoảng thời gian dài

Công thức tính: Δi = yi-y1 , i=2,3…

Trong đó: y i : mức độ tuyệt đối ở thời gian i

y 1: mức độ tuyệt đối ở thời gian đầu

Ngày đăng: 30/06/2017, 08:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trương Đình Chiến (2010), Quản trị marekting, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị marekting
Tác giả: Trương Đình Chiến
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2010
4. David Bland (2009), Nguyên tắc và thực hành bảo hiểm, NXB Tài chính 5. Trần Minh Đạo (2012), Giáo trình marekting căn bản, NXB Đại họcKinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc và thực hành bảo hiểm", NXB Tài chính 5. Trần Minh Đạo (2012), "Giáo trình marekting căn bản
Tác giả: David Bland (2009), Nguyên tắc và thực hành bảo hiểm, NXB Tài chính 5. Trần Minh Đạo
Nhà XB: NXB Tài chính 5. Trần Minh Đạo (2012)
Năm: 2012
8. Học viện tài chính (2010), Giáo trình lý thuyết bảo hiểm, NXB Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý thuyết bảo hiểm
Tác giả: Học viện tài chính
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2010
9. Tô Ngọc Hưng (2011), Hệ thống giám sát tài chính Việt Nam, NXB Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống giám sát tài chính Việt Nam
Tác giả: Tô Ngọc Hưng
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2011
12. Võ Thị Thanh Lộc (2010), Giáo trình phương pháp nghiên cứu khoa học và viết đề cương nghiên cứu (ứng dụng trong lĩnh vực kinh tế-xã hội), Nxb Đại học Cần Thơ, thành phố Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp nghiên cứu khoa học và viết đề cương nghiên cứu (ứng dụng trong lĩnh vực kinh tế-xã hội)
Tác giả: Võ Thị Thanh Lộc
Nhà XB: Nxb Đại học Cần Thơ
Năm: 2010
13. Philip Kotler (2012), Nguyên lý Marketing, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên lý Marketing
Tác giả: Philip Kotler
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2012
14. Hồ Sỹ Sà (2000), Giáo trình bảo hiểm, NXB Thống kê , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bảo hiểm
Tác giả: Hồ Sỹ Sà
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2000
15. Nguyễn Việt Vương (2006), Giáo trình Kinh tế Bảo hiểm, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế Bảo hiểm
Tác giả: Nguyễn Việt Vương
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động
Năm: 2006
2. Thái Văn Cách, Nguyễn Thị Quyến (1995) (dịch), Marketng và việc áp dụng trong bảo hiểm Khác
3. Trịnh Xuân Dung (2012), Giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam Khác
10. Luật lao động (2012), số 10/2012/QH13, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 18/06/2012 Khác
11. Luật Bảo hiểm xã hội (2006), số 71/2006/QH11, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/06/2006 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm