1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)

138 676 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 2,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGÔ THỊ THÚY

VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC H’MÔNG TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGÔ THỊ THÚY

VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC H’MÔNG TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ

Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Trung Thành

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chưa công bố tại bất cứ nơi nào Mọi số liệu sử dụng trong luận văn này là những thông tin xác thực

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan của mình

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Ngô Thị Thúy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: Đảng ủy, Ban giám hiệu Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Phòng Đào tạo đã tạo điều kiện tốt cho tôi trong suốt thời gian học tập tại đây

Tôi xin trân trọng cảm ơn Huyện ủy, UBND huyện, Chi cục Thống kê, Phòng Lao động Thương binh & Xã hội, Phòng Nông nghiệp huyện Đồng Hỷ , đặc biệt là lãnh đạo các xã Văn Lăng, Tân Long và Quang Sơn của huyện Đồng Hỷ trong thời gian qua đã quan tâm, tạo điều kiện, cung cấp số liệu giúp tôi hoàn thành luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: PGS.TS Lê Trung Thành, người thầy hướng dẫn đã giúp tôi giúp cho đề tài của tôi có ý nghĩa thực tiễn và khả thi

Cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp những người đã luôn ở bên tôi động viên, chia sẻ và giúp đỡ tôi

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Ngô Thị Thúy

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ x

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của luận văn 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Những đóng góp của luận văn 4

5 Bố cục của luận văn 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH 5

1.1 Hộ gia đình và kinh tế hộ gia đình 5

1.1.1 Phát triển và phát triển kinh tế 5

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm hộ gia đình, hộ nông dân và kinh tế hộ gia đình, hộ nông dân 5

1.2.1 Khái niệm giới tính và giới 8

1.2.2 Đặc điểm, nguồn gốc và sự khác biệt về giới và giới tính 9

1.2.3 Nhu cầu, lợi ích giới và bình đẳng giới 11

1.2.4 Vai trò của giới 11

1.3 Dân tộc và dân tộc thiểu số 12

1.3.1 Khái niệm, đặc trưng về dân tộc 12

1.3.2 Thành phần 13

1.3.3 Về địa bàn cư trú 13

Trang 6

1.4 Kinh tế hộ gia đình - Vai trò của người phụ nữ dân tộc thiểu số trong quản lý và phát triển kinh tế hộ gia đình vùng dân tộc miền núi

tại Việt Nam 14

1.4.1 Vài nét khái quát về phát triển kinh tế hộ gia đình ở nước ta 14

1.4.2 Vị trí của lao động nữ trong gia đình và xã hội 16

1.4.3 Vai trò người phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ gia đình 18

1.5 Nội dung vai trò của phụ nữ dân tộc trong phát triển kinh tế hộ gia đình 21

1.5.1 Vai trò của phụ nữ trong quản lý và điều hành sản xuất 21

1.5.2 Vai trò của phụ nữ trong sản xuất tạo ra thu nhập cho gia đình 22

1.5.3 Vai trò của phụ nữ trong tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực phát triển 23

1.5.4 Vai trò của phụ nữ trong việc ra quyết định 24

1.5.5 Vai trò trong tham gia công tác xã hội 24

1.5.6 Vai trò của phụ nữ trong gia đình 24

1.6 Các hoạt động nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại Việt Nam 27

1.6.1 Xây dựng các phong trào phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo 28

1.6.2 Tăng cường các biện pháp giúp đỡ phụ nữ đói nghèo 28

1.6.3 Tập trung huấn luyện cán bộ Hội về kiến thức và kỹ năng cần thiết để hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế 29

1.6.4 Khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn 29

1.6.5 Đẩy mạnh các hoạt động chuyển giao khoa học kỹ thuật cho phụ nữ 30

1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại Việt Nam 30

Trang 7

1.8 Bài học kinh nghiệm rút ra trong việc nâng cao vai trò của phụ nữ

dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại tỉnh Thái Nguyên 33

1.8.1 Một số điển hình về vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam 33

1.8.2 Bài học kinh nghiệm rút ra trong việc nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại tỉnh Thái Nguyên 38

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40

2.1 Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết 40

2.2 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu 40

2.3 Phương pháp nghiên cứu: 40

2.3.1 Chọn điểm nghiên cứu 40

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 42

2.3.3 Phương pháp tổng hợp 46

2.3.4 Phương pháp phân tích 46

2.4 Hệ thống hóa các chỉ tiêu nghiên cứu 47

2.4.1 Nhóm các chỉ tiêu chung 47

2.4.2 Nhóm các chỉ tiêu về kinh tế 47

2.4.3 Nhóm các chỉ tiêu về xã hội 48

2.4.4 Nhóm chỉ tiêu về vai trò ra quyết định của người phụ nữ trong gia đình 48

Chương 3 THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC H’MÔNG TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN 49

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 49

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 49

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 54

3.1.2.3 Cơ cấu hộ, cơ cấu nguồn thu nhập chính của các hộ ở khu vực nông thôn có sự chuyển biến tích cực 57

Trang 8

3.1.3 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 60 3.1.4 Phát triển kinh tế của huyện 61 3.1.5 Khái quát về thực trạng vai trò của phụ nữ huyện Đồng Hỷ 62 3.1.6 Khái quát về thực trạng đồng bào dân tộc H’mông tại huyện Đồng Hỷ 65 3.2 Thực trạng vai trò của người phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình ở các hộ nghiên cứu 68 3.2.1 Các hoạt động nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình 68 3.2.2 Thực trạng vai trò của phụ nữ người H’mông trong phát triển kinh

tế hộ của đối tượng nghiên cứu 71 3.3 Đánh giá chung vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình theo giai đoạn phát triển tại địa bàn nghiên cứu 104

Chương 4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC H’MÔNG TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN 106

4.1 Quan điểm, định hướng, mục tiêu nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Đồng

Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 106 4.2 Giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 109 4.2.1 Nhóm giải pháp chung cơ chế chính sách nhằm tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế gia đình phát triển ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số 109 4.2.2 Nhóm giải pháp về chính sách xã hội nhằm hỗ trợ phụ nữ dân tộc H’mông nâng cao năng lực quản lý kinh tế hộ gia đình 111

KẾT LUẬN 117 TÀI LIỆU THAM KHẢO 118

Trang 9

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT

GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

HĐSXKD Hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Công viê ̣c phu ̣ nữ DTTS đảm nhâ ̣n trong gia đình 25 Bảng 2.1: Kết quả lựa chọn nhóm hộ điều tra 44 Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2014-2016 52 Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động huyện Đồng Hỷ giai đoạn

2014-2016 55 Bảng 3.3: Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của huyện Đồng Hỷ

giai đoạn 2014-2016 56 Bảng 3.4: Số hộ nông thôn huyện Đồng Hỷ chia theo loại hộ và chia

theo xã 59 Bảng 3.5 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính của

huyện từ năm 2014-2016 61 Bảng 3.6: Số lượng gia súc, gia cầm của Huyện từ năm 2014 đến 2016 62 Bảng 3.7 Thống kê số lao động nữ trong các nhóm tuổi giai đoạn

2014-2016 62 Bảng 3.8: Số lượng phụ nữ tham gia các cấp ủy đảng, chính quyền

năm 2016 64 Bảng 3.9 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 72 Bảng 3.10: Đất đai sản xuất và tài sản của hộ 76 Bảng 3.11: So sánh sự khác biệt về diện tích đất sản xuất giữa các vùng

nghiên cứu 77 Bảng 3.12 Vai trò của giới trong việc phân công lao động và điều hành

hoạt động sản xuất của hộ 79 Bảng 3.13: Vai trò của phụ nữ trong hoạt động trồng ngô 79 Bảng 3.14: Vai trò của phụ nữ trong hoạt động trồng ngô 80 Bảng 3.15: Sự khác biệt về số ngày công thực hiện các công việc trồng

ngô ở các xã nghiên cứu 82

Trang 11

Bảng 3.16: Vai trò của phụ nữ trong hoạt động trồng lúa 84

Bảng 3.17: Đóng góp của phụ nữ trong hoạt động trồng lúa 85

Bảng 3.18: Sự khác biệt về số ngày công thực hiện các công việc trồng lúa ở các xã nghiên cứu 87

Bảng 3.19: Phân công lao động trong hoạt động lâm nghiệp 89

Bảng 3.20: Vai trò của phụ nữ trong quản lý vốn 91

Bảng 3.21: Tham gia các lớp tập huấn 93

Bảng 3.22: Vai trò của phụ nữ H’mông trong việc ra quyết định của hộ 94

Bảng 3.23: Phân công các hoạt động gia đình 96

Bảng 3.24: Phân công lao động trong hoạt động cộng đồng 98

Bảng 3.25: Phân bổ thời gian trong ngày của phụ nữ 99

Bảng 3.26: Sự khác biệt về sử dụng quỹ thời gian của phụ nữ H’mông tại các vùng nghiên cứu 101

Trang 12

DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ

Hình 3.1: Trình độ văn hoá của lao động nữ tại huyện Đồng Hỷ năm 2016 64 Hình 3.2: Nhà ở của đối tượng nghiên cứu 75 Hình 3.3: Về vai trò lao động của phụ nữ dân tộc H’mông trong gia đình 78

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận văn

Trong quá trình phát triển của Việt Nam, vấn đề giải phóng phụ nữ, bảo đảm bình đẳng, bình quyền giữa phụ nữ và nam giới, luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm

Đại hội đại biểu phụ nữ Toàn quốc lần thứ XI, nhiệm kỳ 2012-2017 đã

đề ra 5 nhiệm vụ, trong đó nhiệm vụ “Vận động, hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh

tế, giảm nghèo bền vững, bảo vệ môi trường” có liên quan mật thiết tới việc nâng cao vai trò phụ nữ trong kinh tế hộ gia đình Tại đại hội đại biểu phụ nữ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2016-2021 đã đề ra khâu đột phá của nhiệm kỳ “Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, tăng giàu, giảm nghèo gắn với Chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” [Hội Liên hiệp Phụ

nữ tỉnh Thái Nguyên (2017)]

Hiện nay, phụ nữ Việt Nam góp một phần rất lớn vào quá trình phát triển của đất nước, thể hiện ở số nữ chiếm tỉ lệ cao trong lực lượng lao động Lực lượng lao động nữ chiếm 52,8% trong lĩnh vực nông nghiệp và lâm nghiệp, có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước

Tuy nhiên, người phụ nữ nhất là phụ nữ nông thôn, phụ nữ người dân tộc còn chịu nhiều thiệt thòi, chưa được quan tâm đúng mức về sức khỏe, việc làm, địa vị xã hội, cả về tâm tư tình cảm; thiếu thông tin, thiếu điều kiện học tập để nâng cao trình độ…Trong gia đình, vai trò của họ mờ nhạt so với người chồng trong việc ra các quyết định

Dân tộc H’mông là một dân tộc ít người, chiếm 0,8% dân số toàn tỉnh

và đứng thứ 7 trong các dân tộc của tỉnh Thái Nguyên, nguồn thu nhập chính của họ là từ sản xuất nông lâm nghiệp Cũng như các dân tộc ít người khác phụ nữ dân tộc H’mông có cuộc sống rất vất vả, không có quyền quyết định các công việc trong gia đình, mặc dù họ là lao động chính

Đồng Hỷ là một huyện có 18 xã, thị trấn, có 21 dân tộc anh em sinh sống, trong đó dân tộc H’mông có khoảng trên 2400 người, cư trú tập trung ở

3 xã phía bắc của huyện là Quang Sơn, Tân Long và Văn Lăng [Công an tỉnh Thái Nguyên (2016)]

Trang 14

Đồng bào dân tộc H’mông cư trú chủ yếu tập trung ở các sườn núi cao,

có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, địa hình hiểm trở, giao thông

đi lại khó khăn, nhiều xóm chưa có điện lưới; nhiều công trình hạ tầng thiết yếu còn thiếu và ở mức thấp kém Tỷ lệ hộ nghèo ở vùng đồng bào dân tộc H’mông còn ở mức rất cao, có 3 xóm có tỷ lệ hộ nghèo 100% (xóm Lân Đăm,

xã Quang Sơn; xóm Mỏ Nước, xóm Bản Tèn xã Văn Lăng, huyện Đồng Hỷ)

Kỹ thuật canh tác ở vùng đồng bào dân tộc H’mông còn lạc hậu, trình độ dân trí thấp, tỷ lệ tăng dân số ở mức cao

Trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang ngày càng hội nhập sâu, rộng vào nên kinh tế thế giới, quá trình này rất cần nâng cao cảnh giác cách mạng cho lĩnh vực an ninh quốc phòng Vấn đề đói nghèo, dân tộc, tôn giáo, nhân quyền luôn được các thế lực phản động lợi dụng gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc Nghiên cứu để phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống của đồng bào H’mông là một hướng đi nhằm giải quyết những vấn đề chung của tỉnh, huyện, những vấn đề riêng của cộng đồng phù hợp với thực tiễn cơ sở

Qua nghiên cứu thực tế cuộc sống của đồng bào dân tộc H’mông tại huyện Đồng Hỷ, nhiều câu hỏi đặt ra cho bản thân, cho các cấp: Thực trạng vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình hiện nay ra sao? Những yếu tố nào tác động đến việc nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ? Giải pháp nào nhằm tháo gỡ những khó khăn trong quá trình nâng cao năng lực cho phụ nữ dân tộc?

Vì vậy, nghiên cứu về vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên được đặt ra như một yêu cầu cấp bách đối với tổ chức Hội phụ nữ

Xuất phát từ tính cấp thiết nêu trên và sự nhận thức sâu sắc về những vai trò to lớn của phụ nữ dân tộc, cũng như những cản trở sự tiến bộ của phụ

nữ dân tộc trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế tại huyện Đồng Hỷ

Vì vậy, tác giả chọn vấn đề “Vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát

triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”

để nghiên cứu

Trang 15

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình, góp phần tăng thu nhập và nâng cao đời sống của các hộ gia đình đồng bào dân tộc, xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế xã hội bền vững, qua đó thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp nông thôn theo xu hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên địa bàn huyện Đồng Hỷ nói riêng và tỉnh Thái Nguyên nói chung trong những năm tới

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề “giới” và vai trò

của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình

- Đánh giá thực trạng vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đóng góp của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình

- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu: Là vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trên

địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

b Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu vai trò của phụ nữ dân

tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình, các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của họ trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

- Về không gian: Luận văn được nghiên cứu trên địa bàn huyện Đồng

Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

- Về thời gian: Luận văn tiến hành nghiên cứu số liệu thứ cấp từ năm

2014 đến năm 2016, số liệu sơ cấp tháng 10 năm 2016

Trang 16

4 Những đóng góp của luận văn

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về vị trí, vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình Do vậy, kết quả nghiên cứu sẽ có những đóng góp nhất định vào việc hoàn thiện khung lý thuyết về phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình

- Kết quả nghiên cứu cho thấy: Người phụ nữ hoặc người phụ nữ cùng chồng có vai trò rất lớn vào các hoạt động: quản lý và điều hành sản xuất của hộ; hoạt động sản xuất tạo thu nhập bao gồm trồng ngô, trồng lúa, chăn nuôi

và lâm nghiệp;tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực của hô ̣; viê ̣c ra các quyết định của hộ; trong tham gia công tác xã hội; trong đời sống sinh hoạt hàng ngày như: Nô ̣i trơ ̣, chăm sóc sức khỏe gia đình, kèm dạy con, lấy củi đun, mua sắm tài sản hay máy móc, sửa chữa lớn nhà cửa

- Căn cứ vào kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình gồm: Nâng cao kiến thức cho phụ nữ; Các hoạt động huy động nguồn lực hỗ trợ phụ nữ phát triển; Tăng cường hoạt động của Hội phụ nữ các cấp; Nâng cao nhận thức về giới; Cần xây dựng chính sách thể hiện trách nhiệm xã hội trong việc tái sản xuất các thế hệ tương lai; Chính sách khuyến khích phụ

nữ dân tộc H’mông duy trì và giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các hình và bảng, danh mục tài liệu tham khảo; luận văn được bố cục theo 4 chương sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của phụ nữ trong phát

triển kinh tế hộ gia đình

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát

triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

Chương 4: Giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông

trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại huyện Đồng Hỷ

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ

TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH 1.1 Hộ gia đình và kinh tế hộ gia đình

1.1.1 Phát triển và phát triển kinh tế

Phát triển: là quá trình thay đổi toàn diện nền kinh tế, bao gồm sự

tăng thêm về quy mô sản lượng, cải thiện về cơ cấu, hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống [Giáo trình kinh tế chính trị Mac - Lênin dùng cho khối ngành kinh tế - quản trị kinh doanh trong các trường cao đẳng, đại học (2006)]

Phát triển kinh tế: có thể hiểu là quá trình lớn lên về mọi mặt của nền

kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy

mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội [Ngô Thắng Lợi (2013)]

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm hộ gia đình, hộ nông dân và kinh tế hộ gia đình,

hộ nông dân

* Hộ gia đình: hay còn gọi đơn giản hộ là một đơn vị xã hội bao gồm một hay một nhóm người ở chung (cùng chung hộ khẩu) và ăn chung (nhân khẩu) Đối với những hộ có từ hai người trở lên, các thành viên trong hộ có thể có hay không có quỹ thu chi chung hoặc thu nhập chung Hộ gia đình không đồng nhất với khái niệm gia đình, những người trong hộ gia đình có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc hôn nhân hoặc cả hai [Đỗ Văn Viện - Đỗ Văn Tiến (2005)]

Hộ gia đình: có ba tiêu thức chính thường được nói đến khi định nghĩa khái niệm hộ gia đình:

- Có quan hệ huyết thống và hôn nhân

- Cùng cư trú

- Có cơ sở kinh tế chung [Đỗ Văn Viện - Đỗ Văn Tiến (2005)]

Theo một số từ điển chuyên ngành kinh tế, từ điển ngôn ngữ thì hộ được hiểu là: tất cả những người cùng sống trong một mái nhà, bao gồm những người có cùng huyết tộc và những người làm công [Đỗ Văn Viện - Đỗ Văn Tiến (2005)]

Trang 18

Về phương diện thống kê, các nhà nghiên cứu Liên hợp quốc cho rằng

hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ [Đỗ Văn Viện - Đỗ Văn Tiến (2005)]

Đại đa số các hộ ở Việt Nam đều gồm những người có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống Vì vậy khái niệm hộ thường được hiểu đồng nghĩa với gia đình, nhiều khi được gộp thành khái niệm chung là hộ gia đình

* Hộ nông dân

Theo Frank Ellis cho rằng: “Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông

nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và

có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao” [Đỗ Văn Viện - Đỗ

Văn Tiến (2005)]

Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993): “Nông hộ là tế bào

kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”

[Lê Đình Thắng (1993)]

Nhà khoa học Traianốp đưa ra định nghĩa: “Hộ nông dân là đơn vị sản

xuất rất ổn định” và ông coi “hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng

và phát triển nông nghiệp” [Trần Đức Viên (2001)]

Tác giả Mats Lundahl và Tommy Bengtsson bổ sung thêm vào quan

điểm của Traianốp: “Hộ nông dân là đơn vị sản xuất cơ bản” [Trần Đức

Viên (2001)]

Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993): “Nông hộ là tế bào

kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”

[Lê Đình Thắng (1993)]

Đào Thế Tuấn (1997) chỉ ra: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”

Đối với nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc (năm 2001) thì: “Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia

Trang 19

trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật, ) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp”

Xuất phát từ những khái niệm trên, có thể chỉ ra một số đặc điểm chung như sau:

- Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, miền núi, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp Hộ có nguồn thu nhập chủ yếu bằng nghề nông Ngoài ra, hộ nông dân còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp, chẳng hạn tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ ở các mức độ khác nhau

- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng Hộ nông dân phải phụ thuộc vào các hệ thống kinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân Các hộ nông dân càng phụ thuộc nhiều hơn vào các hệ thống kinh tế rộng lớn không chỉ trong phạm vi một vùng, một nước khi trình độ phát triển lên mức cao của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thị trường, xã hội càng mở rộng và đi vào chiều sâu

* Kinh tế hộ nông dân

Khái niệm: Theo Frank Ellis (1988) thì kinh tế hộ nông dân là: “Các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về

cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường, hoạt động với một trình độ không hoàn chỉnh cao” [Đỗ Văn Viện - Đỗ Văn Tiến (2005)]

* Đặc điểm: Kinh tế hộ nông dân được phân biệt với các hình thức kinh

tế khác trong nền kinh tế thị trường bởi các đặc điểm sau:

- Đất đai: Đây là đặc điểm phân biệt giữa hộ nông dân với những người lao động khác Như vậy, nghiên cứu hộ nông dân là nghiên cứu những người sản xuất có tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai

- Tiền vốn: Do họ tự tạo ra chủ yếu là từ sức lao động của họ Mục đích sản xuất chủ yếu là phục vụ yêu cầu cần tiêu dùng trực tiếp của hộ, không phải là lợi nhuận, hộ không quan tâm đến giá trị thặng dư Có lúc hộ nông dân phải duy trì mức tiêu dùng tối thiểu, để đầu tư sản xuất với chi phí rất cao

để đảm bảo cuộc sống của gia đình

Trang 20

- Lao động: Lao động sản xuất chủ yếu là do các thành viên trong hộ tự đảm nhiệm Sức lao động của các thành viên trong hộ không được xem là lao động dưới hình thức hàng hoá, hộ không có khái niệm tiền công, tiền lương

Sự hiểu biết về kinh tế hộ nông dân được thông qua các đặc trưng của hộ nông dân nói chung Tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia, mỗi vùng

mà nông hộ có những đặc trưng cụ thể Tóm lại, kinh tế hộ nông dân luôn gắn liền với đất đai và sử dụng lao động gia đình là chủ yếu Mục đích chủ yếu nhất của sản xuất trong nông hộ là đáp ứng cho tiêu dùng trực tiếp của hộ, sau đó mới là sản xuất hàng hoá

1.2 Giới tính và giới

1.2.1 Khái niệm giới tính và giới

Giới tính: Là khái niệm dùng để sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới

trên cả khía cạnh sinh học và xã hội[Đỗ Văn Viện - Đỗ Văn Tiến (2005)] Các đặc trưng của giới tính bị quy định và hoạt động theo các cơ chế tự nhiên, di truyền Nữ giới vốn có chức năng sinh lý học như tạo ra trứng, mang thai, sinh con và cho con bú bằng bầu sữa mẹ Nam giới có chức năng tạo ra tinh trùng Về mặt sinh lý học, nữ giới khác với nam giới [Tổ chức Lao động quốc tế (2002)]

Giới: Là khái niệm dùng để chỉ các đặc trưng sinh học của nữ giới và

nam giới trong tự nhiên [Đỗ Văn Viện - Đỗ Văn Tiến (2005)], chỉ sự khác

biệt về xã hội và quan hệ (về quyền lực) giữa trẻ em trai và trẻ em gái, giữa phụ nữ và nam giới, được hình thành và khác nhau ngay trong một nền văn hoá, giữa các nền văn hoá và thay đổi theo thời gian Sự khác biệt này được nhận thấy một cách rõ ràng trong vai trò, trách nhiệm, nhu cầu, khó khăn, thuận lợi của các giới tính [Tổ chức Lao động quốc tế (2002)]

Khái niệm về “Giới” được xuất hiện ban đầu là các nước nói tiếng Anh, vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX Ở Việt Nam, khái niệm này mới xuất hiện vào khoảng thập kỷ 80

“Giới” là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ “Giới”

đề cập đến việc phân công lao động, các kiểu phân chia: nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh xã hội cụ thể

Trang 21

“Giới” là yếu tố luôn biến đổi cũng như tương quan về địa vị trong xã hội của nữ giới và nam giới, không phải là hiện tượng bất biến mà liên tục thay đổi Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể “Giới”

là sản phẩm của xã hội, có tính xã hội, dùng để phân biệt sự khác nhau trong quan hệ nam và nữ Đây là cơ sở để nghiên cứu sự cân bằng về giới và đảm bảo công bằng trong xã hội

1.2.2 Đặc điểm, nguồn gốc và sự khác biệt về giới và giới tính

1.2.2.1 Những đặc điểm cơ bản về giới tính

- Bẩm sinh: Về phương diện sinh lý thì nam giới và nữ giới khác nhau

ngay từ trong bào thai Đó là những đặc điểm xác định bởi tự nhiên, không theo

và không phụ thuộc vào mong muốn của con người Nó ổn định về tương quan giữa hai giới trong quá trình sinh sản Chức năng sinh sản của nữ giới hay nam giới là không thể thay thế, thay đổi hay chuyển dịch cho nhau

- Tính đồng nhất: Nam giới hay nữ giới đều có cấu tạo về mặt sinh lý giống

nhau, tham gia và mang các yếu tố đóng góp vào quá trình thụ thai như nhau

- Tính không đổi: Về phương diện sinh lý chức năng sinh sản của nữ

giới hay nam giới là không thể thay đổi hay chuyển dịch cho nhau được Sự khác biệt về giới tính là bất biến cả về thời gian cũng như không gian

- Tính do dạy và học mà có: Đứa trẻ phải học để làm con trai hoặc

con gái Bắt đầu từ khi sinh ra đứa trẻ được dạy dỗ tuỳ theo là con trai hay con gái Đó là sự khác biệt về quần áo, đồ chơi, màu sắc, cách nói năng, thái

độ và có thể cả về thức ăn và tình cảm của cha, mẹ, anh chị

- Tính đa dạng: Giới thể hiện những đặc trưng của những quan hệ xã hội

giữa nữ giới và nam giới cho nên rất đa dạng Địa vị của người nữ giới trong xã hội Việt Nam khác xa so với địa vị của người nữ giới ở các nước Hồi giáo Địa

vị của phụ nữ nông thôn cũng không hoàn toàn giống nữ giới thành thị

- Tính luôn biến đổi: Quan hệ giới luôn luôn biến đổi cùng với sự biến

đổi của các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hoá, phong tục tập quán…

- Tính có thể thay đổi được: Các quan niệm, hành vi, chuẩn mực xã

hội là hoàn toàn có thể thay đổi được Quan niệm “bếp núc” là thiên chức của

nữ giới đang được xem xét lại khi rất nhiều đầu bếp giỏi, các thợ may tinh

Trang 22

xảo là nam giới Trong nhiều gia đình hạt nhân khi cả vợ và chồng đều tham gia tích cực vào quá trình sản xuất tạo thu nhập thì nam giới cũng đang tích

cực tham gia vào công việc nội trợ như: nấu ăn, chăm sóc con cái…

1.2.2.2 Nguồn gốc và những khác biệt về giới

Nam giới và nữ giới là hai nửa hoàn chỉnh của loài người, bảo đảm cho việc tái sản xuất con người và xã hội Sự khác biệt về giới quy định thiên chức của họ trong gia đình và xã hội

Bắt đầu từ khi sinh ra đứa trẻ được đối xử tuỳ theo nó là trai hay gái

Đó là sự khác nhau về đồ chơi, quần áo, tình cảm của bố, mẹ Đứa trẻ được dạy dỗ và điều chỉnh hành vi của chúng theo giới tính của mình

Phụ nữ được xem là phái yếu Thiên chức của phụ nữ là làm vợ, làm

mẹ, nên họ gắn bó với con cái, gia đình hơn nam giới và cũng từ đấy mối quan tâm của họ cũng có phần khác hơn nam giới

Nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình Đặc trưng về giới này cho phép họ dồn hết tâm trí vào lao động sản xuất, vào công việc xã hội

và ít bị ràng buộc hơn bởi con cái, gia đình Điều này làm tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội Để thay đổi quan hệ giới

và các đặc trưng của giới cần phải vượt qua những quan niệm cũ, tức là cần phải bắt đầu từ việc thay đổi nhận thức, hành vi của mọi người trong xã hội về giới và quan hệ giới

Hơn nữa, nam - nữ lại có xuất phát điểm không giống nhau để tiếp cận với cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn, tính chất và mức độ khác nhau

để tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắm bắt các thông tin xã hội Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, từ điều kiện và cơ hội

đi học tập, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, tiếp cận và làm việc, từ vị trí trong gia đình, ngoài xã hội khác nhau, từ tác động của định kiến xã hội, các

hệ tư tưởng, phong tục tập quán đối với mỗi giới cũng khác nhau

Sự khác biệt về giới và giới tính là nguyên nhân cơ bản gây nên bất bình đẳng trong xã hội Trong nhiều năm gần đây, hầu hết các nước trên thế giới đã dần đánh giá đúng mức vai trò của phụ nữ trong gia đình và trong xã hội, kết quả là thực hiện các mục tiêu “bình đẳng nam nữ” để giải phóng sức

Trang 23

lao động và xây dựng củng cố thêm nền văn minh nhân loại Tuy nhiên mức

độ bình đẳng đó tùy thuộc vào từng quốc gia và giảm dần theo chiều tăng của

sự phát triển đối với mỗi nước trên thế giới

1.2.3 Nhu cầu, lợi ích giới và bình đẳng giới

Nhu cầu giới (còn gọi là nhu cầu thực tế): là những nhu cầu xuất phát từ

công việc và hoạt động hiện tại của phụ nữ và nam giới Nếu những nhu cầu này được đáp ứng thì sẽ giúp cho họ làm tốt vai trò sẵn có của mình [Trần Thị Vân Anh (2003)]

Nhu cầu giới thực tế là những nhu cầu được hình thành từ những điều kiện cụ thể mà phụ nữ trải qua Chúng nảy sinh từ những vị trí của họ trong phân công lao động theo giới, cùng với lợi ích giới thực tế của họ là sự tồn tại của con người Khác với nhu cầu chiến lược, chúng được chính phụ nữ đưa ra

từ vị trí của họ chứ không phải qua can thiệp từ bên ngoài Vì vậy, nhu cầu giới thực tế thường là sự hưởng ứng đối với sự cần thiết được nhận thức ngay

do phụ nữ xác định trong hoàn cảnh cụ thể

Lợi ích giới (còn gọi là nhu cầu chiến lược): là những nhu cầu của phụ

nữ và nam giới xuất phát từ sự chênh lệch về địa vị xã hội của họ Những lợi ích này khi được đáp ứng sẽ thay đổi vị thế của phụ nữ và nam giới theo hướng bình đẳng [Trần Thị Vân Anh (2003)]

Bình đẳng giới: nam giới và nữ giới được coi trọng như nhau, cùng

được công nhận và có vị thế bình đẳng [Trần Thị Vân Anh (2003)]

Nam giới và phụ nữ được bình đẳng về:

- Các điều kiện để phát huy đầy đủ tiềm năng

- Các cơ hội để tham gia đóng góp, hưởng lợi trong quá trình phát triển

- Quyền tự do và chất lượng cuộc sống

1.2.4 Vai trò của giới

- Vai trò sản xuất: Là các hoạt động tạo ra của cải vật chất và tinh thần

để tạo ra thu nhập hoặc để tự nuôi sống Vai trò sản xuất bao gồm cả những công việc mà nam giới và nữ giới làm để lấy công hoặc tiền, hoặc bằng hiện vật Nó bao gồm cả sản xuất hàng hoá có giá trị trao đổi và sản xuất vừa có ý nghĩa tiêu dùng tại gia vừa có ý nghĩa sử dụng, nhưng cũng có ý nghĩa trao đổi

Trang 24

tiềm năng Khi tư tưởng phụ hệ cố gắng thúc đẩy hình mẫu phổ biến về đàn ông là người giữ vai trò chủ đạo trong sản xuất thì thực tế lại không sản sinh

ra hình mẫu đó

- Vai trò tái sản xuất: Vai trò tái sản xuất bao gồm trách nhiệm sinh

đẻ, nuôi con và các công việc nội trợ trong gia đình để duy trì và tái sản xuất sức lao động Vai trò này không chỉ bao gồm sự tái sản xuất sinh học mà còn

cả chăm lo và duy trì lực lượng lao động (LLLĐ) hiện tại và tương lai Khái

niệm “tái sản xuất sinh học” chỉ ngụ ý cứng nhắc vào việc sinh con, thì thuật ngữ “tái sản xuất sức lao động” lại mở rộng hơn Thuật ngữ này bao gồm việc

chăm sóc, xã hội hoá và nuôi dưỡng cá nhân trong suốt cuộc đời, để đảm bảo

sự kế tục của xã hội đến thế hệ sau [Trần Đức Viên (2001)]

- Vai trò cộng đồng:

+ Vai trò quản lý cộng đồng: Là các hoạt động ở cấp độ cộng đồng như

sự mở rộng vai trò tái sản xuất Đó là các công việc nhằm đảm bảo và duy trì các nguồn lực để sử dụng chung như nguồn nước, vệ sinh đường làng ngõ xóm, tham gia lễ hội của làng bản, tham dự các đám hiếu hỉ…Đây là những công việc

tự nguyện, không được trả tiền và thường làm vào thời gian rảnh rỗi

+ Vai trò chính trị cộng đồng: Gồm những hoạt động ở cấp cộng đồng

trong thể chế chính trị quốc gia Những hoạt động này thường do nam giới thực hiện, được trả công trực tiếp bằng tiền, hoặc gián tiếp làm tăng vị thế và quyền lực của họ [Trần Đức Viên (2001)]

1.3 Dân tộc và dân tộc thiểu số

1.3.1 Khái niệm, đặc trưng về dân tộc

Dân tộc thiểu số là một khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay Các học giả phương Tây quan niệm rằng, đây là một thuật ngữ chuyên ngành dân tộc học (minority ethnic) dùng để chỉ những dân tộc có dân số ít

Thuật ngữ dân tộc dùng để chỉ cộng đồng tộc người (ethnic, ethnie) Theo nghĩa này, dân tộc là một cộng đồng người hình thành và phát triển trong lịch sử, trên một lãnh thổ nhất định, có mối liên hệ tương đối bền vững

Trang 25

về kinh tế, ngôn ngữ, đặc điểm sinh hoạt văn hóa và ý thức tự giác dân tộc thông qua tự nhận tên gọi của dân tộc mình, như dân tộc Thái, dân tộc Chăm, dân tộc H’mông Trong mỗi dân tộc có thể bao gồm nhiều nhóm địa phương

có tên gọi khác nhau, nhưng có đặc điểm về ngôn ngữ, văn hóa gần gũi nhau,

như dân tộc H’mông có các nhóm địa phương: Mông Đơ (Mông Trắng),

Mông Lềnh (Mông Hoa), Mông Sí (Mông Đỏ), Mông Đú (Mông Đen), Mông Súa (Mông Mán), Mông Xanh.

Như vậy, khái niệm Dân tộc thiểu số dùng để chỉ những dân tộc có số dân ít, chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong một quốc gia đa dân tộc [Lô Quốc Toản (2010)]

Dân tộc Việt Nam là tất cả các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam có quốc tịch Việt Nam, không phân biệt nguồn gốc

1.3.2 Thành phần

Các dân tộc ở Việt Nam đã xuất hiện và hình thành trong hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước Việt Nam có 54 dân tộc: dân tộc đông nhất là dân tộc Kinh (Việt), chiếm 86,2% dân số Các dân tộc thiểu số đông dân nhất: Tày, Thái, Mường, Khmer, Hoa, Nùng, H’mông, Dao, Giarai, Êđê, Chăm, Sán Dìu Đa số các dân tộc này sống ở miền núi và vùng sâu vùng xa ở miền Bắc, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long Cuối cùng là các dân tộc Brâu, Ơ Đu và Rơ Măm chỉ có trên 300 người [Nhóm hành động chống đói giảm nghèo (2002)]

Trang 26

Việt-Lào, từ Lạng Sơn đến Nghệ An Người H’Mông cư trú tập trung tại các tỉnh: Hà Giang, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Lai Châu, Yên Bái, Cao, Nghệ An, Đắk Lắk, Đắk Nông, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Thanh Hóa và Thái Nguyên

Họ cư trú xen kẽ với nhau, không hình thành một vùng lãnh thổ riêng Đặc điểm cư trú đó có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ tổ quốc

1.4 Kinh tế hộ gia đình - Vai trò của người phụ nữ dân tộc thiểu số trong quản lý và phát triển kinh tế hộ gia đình vùng dân tộc miền núi tại Việt Nam

1.4.1 Vài nét khái quát về phát triển kinh tế hộ gia đình ở nước ta

Trước xu thế phát triển của đất nước trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vùng dân tộc miền núi đã và đang có những bước chuyển quan trọng trong các hoạt động kinh tế Trong đó nổi bật là sự phát triển của loại hình kinh tế

hộ gia đình đang ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế cả nước nói chung và phát triển kinh tế miền núi nói riêng

Trong nền kinh tế nhiều thành phần, kinh tế gia đình có vai trò đặc biệt quan trọng nhất là đối với những nước nông nghiệp như nước ta Thuật ngữ kinh tế “Kinh tế hộ gia đình” là một thuật ngữ kép, được hiểu theo nghĩa: Kinh tế của hộ, kinh tế của gia đình

Hộ là một nhóm người cùng huyết thống hoặc không cùng huyết thống nhưng sống chung một mái nhà, có chung một nguồn thu nhập và cùng nhau tiến hành sản xuất kinh doanh

Gia đình là một nhóm người có cùng huyết thống, sống chung một mái nhà, có chung nguồn thu nhập và cùng nhau tiến hành sản xuất kinh doanh

Theo sự xác định của Liên hiệp quốc thì hộ bao gồm những người sống chung dưới một mái nhà, cùng làm ăn chung, cùng chung một ngân sách, có chung nguồn thu nhập Như vậy, khái niệm “Kinh tế hộ” mang tính bao trùm hơn khái niệm “Kinh tế gia đình” Khi ta dùng thuật ngữ “kinh tế hộ gia đình”

Trang 27

là muốn đề cập đến kinh tế hộ và kinh tế gia đình, tuy đó là hai khái niệm không hoàn toàn giống nhau nhưng nếu dùng thuật ngữ kép này thì nội dung bao hàm hơn, dễ hiểu và dễ hình dung hơn

Đảng và Nhà nước đã xác định vai trò quan trọng của kinh tế hộ gia đình trong sự phát triển chung của đất nước mà theo đó là chủ trưởng, chính sách thúc đẩy thúc đẩy một cách đồng bộ như: Xây dựng một chiến lược phát triển toàn bộ kinh tế xã hội nông thôn; Xây dựng chiến lược phát triển cho từng vùng, miền Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng; Xây dựng chương trình quốc gia về lao động - việc làm; Ưu tiên các nguồn vốn cho phát triển kinh tế

- xã hội nông thôn nói chung và khu vực dân tộc miền núi nói riêng Đã tạo điều kiện cho kinh tế hộ gia đình ngày càng phát triển

Đi liền với quá trình đổi mới xã hội, sự vận hành của nền kinh tế thị trường ở nước ta đã và đang diễn ra sự phân tầng xã hội, thể hiện ở sự phân hóa giàu nghèo Theo kết quả điều tra, cả nước có hơn 2,338 triệu hộ nghèo (chiếm

tỷ lệ 9,88% so với tổng số hộ dân cư trên toàn quốc) và hơn 1,235 triệu hộ cận nghèo (chiếm tỷ lệ 5,22%) theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020 Như vậy, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều đã tăng tỷ lệ hộ nghèo từ dưới 5% năm 2015 lên gần 10% năm 2016 do chuẩn nghèo giai đoạn 2011-

2015 tiếp cận dựa trên việc đo lường thu nhập nhưng chuẩn nghèo mới trong giai đoạn 2016-2020 nâng tiêu chí về thu nhập và đo lường thêm các mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản như: y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin.Trong đó 90% số người nghèo sinh sống ở các vùng nông thôn nhất

là ở vùng nông thôn miền núi [Nguyễn Duy Quý (2010)]

Bên cạnh những vùng, những hộ gia đình nghèo, quá đói nghèo là một

bộ phận dân cư có mức thu nhập cao đang trở thành những người giàu có Hai

bộ phân dân cư này đều hòa nhập chung và chịu sự điều phối của cơ chế thị trường Ở nông thôn, nhất là ở nông thôn miền núi, đa số các hộ giàu lên không phải do bóc lột người nghèo mà là do biết cách làm ăn, có năng lực sản xuất kinh doanh và phát huy được nguồn lực trong cơ chế mới Đối với những

hộ gia đình đã đủ ăn, có vốn, có khả năng phát triển chỉ cần tạo điều kiện về

Trang 28

cơ chế chính sách là họ có thể vươn lên được nhưng đối với những hộ nghèo,

có lẽ ngoài sức lao động ra, họ thiếu đủ thứ, cơ bản nhất vẫn là: Thiếu vốn, thiếu kiến thức và thiếu các thông tin về thị trường Nếu không được hỗ trợ về

3 yếu tố cơ bản trên thì tài sản sức lao động của các hộ gia đình nghèo sẽ không phát huy được

1.4.2 Vị trí của lao động nữ trong gia đình và xã hội

Trên toàn thế giới, phụ nữ đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả năng sản xuất và tái sản xuất Họ chiếm trên 50% trong tổng số lao động; số giờ lao động của họ chiếm 2/3 tổng giờ lao động của xã hội và sản xuất ra 1/2 trong tổng sản lượng nông nghiệp Cùng với việc đảm nhiệm nhiều công việc khác nhau, lao động nữ chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong các ngành công nghiệp, dịch vụ với trình độ không ngừng được nâng cao [Viện nghiên cứu chính sách lương thực Quốc tế (2001)]

Theo kết quả của những công trình nghiên cứu trước cho biết: Phụ nữ

là người tạo ra phần lớn lương thực tiêu dùng cho gia đình 1/4 số hộ gia đình trên thế giới do nữ làm chủ hộ và nhiều hộ gia đình khác phải phụ thuộc vào thu nhập của lao động nữ [Đỗ Thị Bình - Trần Thị Vân Anh (2003)]

Tuy vậy, sự bất bình đẳng vẫn còn tồn tại ở rất nhiều nước trên thế giới đặc biệt là ở các vùng nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, phụ nữ bị hạn chế về mọi mặt, đời sống, điều kiện sống và làm việc tồi tàn, địa vị trong

xã hội thấp Trong số hơn 1,3 tỷ người trên thế giới ở trong tình trạng nghèo khổ thì có đến 70% là nữ Có ít nhất 1/2 triệu phụ nữ tử vong do các biến chứng về mang thai, sinh đẻ…

Phụ nữ hiện chiếm trên 50% dân số cả nước và chiếm trên 47% lực lương lao động xã hội; tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế chiếm 83%, gần tương đương với nam giới là 85 % Tỷ lệ nữ cán bộ, công chức chiếm 30%, viên chức 61% Lực lương lao động nữ hiện diện ở hầu hết các lãnh vực, ngành nghề, trong đó có một số ngành nữ chiếm tỷ lệ cao như chế biến nông sản, giáo dục, y tế, may mặc, và ngày càng nhiều lao động nữ trong các lãnh vực kỹ thuật công nghệ (34%) So sánh ngành nghề giữa nông thôn và thành

Trang 29

thị Ở thành thị, phụ nữ làm công nhân viên chức, các nghề tự do, hoặc lao động chân tay, tuy nhiên, lương bổng lại không bằng nam giới Ở khu vực nông thôn, phụ nữ vừa làm việc đồng áng hoặc buôn bán Tình trạng lao động

nữ chưa qua đào tạo rất phổ biến (chiếm 90%) Nhìn chung, ở nông thôn cũng như thành thị phụ nữ đang phải làm những ngành nghề dành cho nữ như dệt may, nông - lâm nghiệp… đều là những ngành lao động phổ thông, nặng nhọc, năng suất thấp, dễ bị tổn thương với mức thu nhập thấp; điều kiện làm việc thì khắc nghiệt mà tính rủi ro do mất việc rất cao Mặc dù tham gia vào thị trường lao động với tỷ lệ cao nhưng theo thống kê cho thấy thì thu nhập của lao động nữ luôn chỉ bằng 3/4 lao động nam Khi kinh tế biến động cần sa thải nhân công thì lao động nữ cũng là “ưu tiên hàng đầu” Lý do là vì ít đào tạo, trình độ thấp nên cơ hội việc làm có lương cao rất hạn chế Tỷ lệ lao động

nữ chưa qua đào tạo là 80,9%, khu vực nông thôn gần 90%, chỉ có 3,65% lao động nữ ở nông thôn có chứng chỉ nghề Một đặc điểm văn hóa khác biệt của phụ nữ Việt Nam so với các nước Châu Á hay phương Tây là tuy kiếm ít tiền hơn nhưng lại là người cai quản tài chính của gia đình [Nguyễn Thị Thanh Hòa (2011)]

Ở Việt Nam hiện nay, tỷ lệ phụ nữ tham gia các cấp uỷ đảng từ trung ương tới địa phương đều chưa đạt 15% (trừ cấp cơ sở đạt 15,08%) Cấp trung ương, tỷ lệ uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X là 8,13% (giảm 0,53% so với khoá IX), uỷ viên dự khuyết đạt 14,28%; tính đến thời điểm hiện tại, có 2/10 Bí thư Trung ương Đảng là nữ (chiếm 20%) - đạt tỷ lệ cao nhất từ trước tới nay; cấp trưởng của các ban Đảng và Uỷ ban Kiểm tra Trung ương là nữ có 1/6 (chiếm 16,7%); cấp phó có 3/23 là nữ (chiếm 13,04%) Nhìn chung, số phụ nữ giữ các cương vị lãnh đạo chủ chốt cấp trung ương có

xu hướng ngày càng giảm, tuổi đời cao, báo động về sự hẫng hụt đội ngũ cán

bộ nữ lãnh đạo, quản lý Ở các cấp địa phương, tỷ lệ uỷ viên ban chấp hành đảng bộ nhiệm kỳ 2005-2010: cấp tỉnh là 11,75% (tăng 0,43% so với nhiệm

kỳ trước), nữ bí thư có 5/63 (chiếm 7,93%), tỷ lệ nữ phó bí thư là 7,04%; cấp trưởng các ban Đảng tỉnh, thành ủy là phụ nữ chiếm tỷ lệ thấp; cấp huyện, tỷ

Trang 30

lệ nữ tham gia ban chấp hành là 14,74% (tăng 1,85% so với nhiệm kỳ trước)

và ở cấp xã là 15,08% (tăng 3,2% so với nhiệm kỳ trước) Đánh giá tổng quát

về tỷ lệ nữ tham gia cấp uỷ là: cấp trung ương giảm, các cấp địa phương tăng không đáng kể Điều đặc biệt là ở những nơi khó khăn như miền núi thì tỷ lệ cán bộ nữ cao hơn đồng bằng [Nguyễn Thị Thanh Hòa (2016)]

Trong cơ quan dân cử, tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XIV là 133 người (đạt 26,80%), mặc dù tỷ lệ ĐBQH là nữ không đạt được ít nhất 30% như mục tiêu, nhưng cũng đã tăng 11 người (2,4%) so với khóa XIII (có 122 đại biểu nữ, chiếm 24,4%) Cũng theo báo cáo của Hội đồng Bầu cử Quốc gia, tỷ lệ nữ đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2016 -2021 các cấp đều tăng so với nhiệm kỳ trước (2011 – 2016) Cụ thể, tỷ lệ nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh đạt 26,46% (tăng 1,29%); cấp huyện đạt 27,51% (tăng 2,89%); cấp xã đạt 26,70% (tăng 4,99%) [Hội đồng bầu cử quốc gia (2016)]

Mặc dù tỷ lệ phụ nữ trong hệ thống chính trị hiện nay còn hạn chế song nhìn chung, sự gia tăng số lượng cán bộ nữ tham gia quản lý nhà nước và các hoạt động chính trị trong những năm qua chứng tỏ năng lực của cán bộ nữ ngày càng được nâng cao Nhìn lại chặng đường đã qua, phụ nữ Việt Nam đã không ngừng nỗ lực phấn đấu vươn lên; mặt khác, sự quan tâm, tạo điều kiện của Đảng và Nhà nước đã tạo môi trường thuận lợi để chị em có cơ hội phát triển toàn diện và tham gia trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội Những đóng góp tích cực và cụ thể của phụ nữ vào thành quả của công cuộc đổi mới đã dần làm thay đổi những định kiến về vai trò của phụ nữ trong xã hội, khiến xã hội phải thừa nhận phụ nữ có khả năng tham gia lĩnh vực chính trị không thua kém nam giới và nhìn nhận, đánh giá đúng hơn về vai trò, vị trí của phụ nữ trong các hoạt động kinh tế - chính trị - xã hội của đất nước

1.4.3 Vai trò người phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ gia đình

Khi nói đến cơ cấu tổ chức sản xuất của kinh tế hộ gia đình là nói tới một mô hình sản xuất gọn nhẹ với sự tham gia của các thành viên trong gia đình, dòng họ Các thành viên trong hộ gia đình có chung nguồn thu nhập, cùng chung lợi ích và có trách nhiệm ràng buộc với nhau Vì vậy mà họ có

Trang 31

chung một ý chí lao động sản xuất, tuy nhiên từng thành viên có các vị thế khác nhau trong gia đình Vị thế đó phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố chủ quan và khách quan kể cả phong tục tập quán của từng dân tộc

Do đặc điểm lịch sử của đất nước, phụ nữ Việt Nam luôn giữ một vai trò trụ cột trong sản xuất nông nghiệp Họ là lực lượng rất quan trọng để tạo

ra của cải vật chất và xây dựng văn hóa nông thôn Với lực lượng đông đảo: 78% phụ nữ ở nông thôn, chiếm 52% lực lượng lao động xã hội và 23% làm chủ hộ gia đình, người phụ nữ đã và đang khẳng định vai trò quan trọng của mình trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Trong quá trình hoạt động của kinh tế hộ gia đình vùng dân tộc miền núi, người phụ nữ dân tộc thiểu số là một lực lượng, một nguồn lực lao động quan trọng thể hiện vị thế của mình trong gia đình theo thiên chức và trách nhiệm, theo sự phân công mang tính chất giới trong gia đình [Ủy ban dân tộc

và miền núi (2000)]

Hoạt động kinh tế gia đình trong tình hình mới đã tác động đến vai trò của các giới, đến vai trò của người chồng và người vợ trong các công việc cụ thể của hoạt động kinh tế hộ gia đình Nếu trong bối cảnh của nền kinh tế tự cung tự cấp trước đây việc phân công lao động còn mang tính tự nhiên chủ nghĩa thì hiện nay trước yêu cầu của sự phát triển kinh tế và hoàn cảnh kinh

tế, đặc thù kinh tế của từng địa phương cũng như tương quan trình độ của nam và nữ mà có sự phân công khác nhau trong các hoạt động trực tiếp hay gián tiếp đến kinh tế hộ gia đình

Hoạt động kinh tế hộ gia đình của nông dân, miền núi trong bối cảnh hiện nay là một phức hợp các công việc trong việc tổ chức điều hành sản xuất, phân công lao động, đầu tư và sử dụng đồng vốn một cách có hiệu quả nhất, đòi hỏi sự tư duy, tính toán của cả vợ và chồng chứ không phải là công việc thuần nông giản đơn như trước đây hoạt động kinh tế hộ gia đình theo kinh nghiệm, theo bản năng

Người phụ nữ đảm nhận mọi công việc nặng nhọc trong gia đình nhưng qua khảo sát, quyền quyết định của họ trong việc điều hành các công việc lớn

Trang 32

trong gia đình lại ở mức độ thấp Điều đó thể hiện sự mâu thuẫn giữa cường

độ lao động của phụ nữ (thường gấp 1,5 - 2 lần so với nam giới) với quyền quyết định điều hành các hoạt động kinh tế gia đình

Như vậy: Nếu xét dưới góc độ kinh tế, năng lực quản lý kinh tế hộ gia đình của phụ nữ là hiệu quả của quá trình tổ chức, điều hành và quản

lý sản xuất có sự tham gia của chị em với tư cách là thành viên - là người chủ của hộ gia đình

Năng lực quản lý kinh tế hộ gia đình của phụ nữ nếu xét dưới góc độ chính trị - xã hội là sự thể hiện quyền bình đẳng giữa giới nam và giới nữ trong định hướng đầu tư, trong tổ chức, phân công lao động gia đình và trong việc sử dụng, hưởng thụ các sản phẩm sản xuất ra

Tuy nhiên các khái niệm này đều chỉ mang tính tương đối vì năng lực quản lý liên quan nhiều vấn đề như: Dân tộc, gia đình, văn hóa, giáo dục, xã hội, điều kiện lao động, điều kiện sức khỏe

Người phụ nữ dân tộc thiểu số tham gia phát triển kinh tế hộ gia đình không những với tư cách là thành viên của gia đình, có trách nhiệm phải đóng góp công sức tạo ra của cải nuôi sống gia đình và bản thân mà còn với tư cách

là người vợ, người mẹ, người chủ gia đình Người phụ nữ vừa đóng vai trò quan trọng trong sự định hướng sản xuất vừa là người trực tiếp thực hiện quy trình lao động sản xuất đó Hơn nữa, việc tái tạo ra sức lao động, duy trì nòi giống lại là thiên chức bẩm sinh của người phụ nữ

Có thể nói trong phát triển kinh tế hộ gia đình, người phụ nữ giữ một vai trò đặc biệt không thể thiếu đối với các quy trình lao động sản xuất Lao động nữ có những thế mạnh mà lao động nam không thể có được: Đó là sự cần mẫn, nhẫn nại, khéo léo và dẻo dai trong cuộc sống Sức chịu đựng của lao động nữ trong những điều kiện lao động khó khăn tỏ ra hơn hẳn nam giới Hơn nữa tính căn cơ, tiết kiệm và tính thực tế đã được thực tiễn chứng minh

là điểm nổi bật của lao động nữ Nhưng việc phát huy vai trò đặc biệt đó để nhân lên thành sức mạnh giúp người phụ nữ vượt qua được các mặc cảm tự

ty, hủ tục lạc hậu, vượt qua những vất vả, khó khăn mà họ phải gánh chịu để

Trang 33

làm chủ bản thân, làm chủ gia đình, chủ động trong định hướng đầu tư sản xuất, trong chỉ tiêu, trong giáo dục con cái và trong quản lý gia đình lại là một vấn đề hoàn toàn khác, phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan mà nếu để tự chị em thì họ không thể thực hiện được

Trong cuộc sống thực tế, tư tưởng “trọng nam khinh nữ” đã dần dần được xóa bỏ ở mọi lĩnh vực từ gia đình đến xã hội, làm thay đổi các cơ sở kinh tế, thay đổi các quan niệm về đạo đức, phong tục tập quán và đặc biệt là làm thay đổi hẳn thân phận và địa vị của người phụ nữ Hiện nay phụ nữ nước

ta nói chung và phụ nữ dân tộc thiểu số nói riêng đều đã được tham gia vào hầu hết các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, dịch vụ và được nâng cao địa vị trong gia đình Tuy nhiên, ở nhiều khu vực nông thôn miền núi, ở nhiều vùng, nhiều nơi, nhiều gia đình, vai trò của chị em trong quản lý kinh tế hộ gia đình còn rất mờ nhạt, khiến chị em luôn mặc cảm tự ty, cam chịu trong cảnh nghèo đói, phụ thuộc vào người chồng, người đàn ông trong gia đình

Như vậy, dù được thừa nhận hay không được thừa nhận, thực tế trong cuộc sống hàng ngày và những gì phụ nữ dân tộc thiểu số làm đã khẳng định vai trò của họ trong gia đình, trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, trong bước tiến của nhân loại Phụ nữ dân tộc thiểu số cũng phải thực hiện nhiều vai trò, cho nên họ cần được nam giới chia sẻ, thông cảm cả về hành động lẫn tinh thần, xã hội cũng cần có những chương trình trợ giúp để họ thực hiện tốt hơn vai trò của mình

1.5 Nội dung vai trò của phụ nữ dân tộc trong phát triển kinh tế hộ gia đình

1.5.1 Vai trò của phụ nữ trong quản lý và điều hành sản xuất

Phụ nữ có vai trò hết sức quan trọng đối với mọi hoạt động trong hộ gia đình Trong hoạt động kinh tế hộ gia đình thì việc quản lý và việc điều hành sản xuất của hộ đóng vai trò quan trọng, quyết định việc phân công lao động trong gia đình, phân công bán cho ai? Người xác định giá bán và bán ở đâu? Bán như thế nào? Trong hoạt động này người phụ nữ có vai trò quan trọng

Trang 34

trong việc quản lý kinh tế của hộ và điều hành việc sản xuất của gia đình Mặc dù người phụ nữ có vai trò quan trọng trong công việc gia đình và tham gia quản lý sản xuất nhưng do phong tục tập quán, quan niệm và do nhận thức của người dân nên việc ra quyết định cuối cùng trong gia đình chủ yếu là người chồng Vấn đề này phổ biến trong các hộ gia đình nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số

1.5.2 Vai trò của phụ nữ trong sản xuất tạo ra thu nhập cho gia đình

Có nhiều nghiên cứu về vai trò phụ nữ trong sản xuất ở nhiều cấp độ và góc độ khác nhau, những nghiên cứu đó đều nhận định: Là lực lượng lao động quá bán ở nông thôn, phụ nữ đóng vai trò đáng kể trong đời sống hoạt động kinh tế hộ cũng như hoạt động áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất Họ là người tham gia trực tiếp vào các hoạt động nông nghiệp, từ khâu cày, bừa, trồng, cấy, chăm sóc đến thu hoạch Ngoài ra, họ còn tham gia vào việc lựa chọn phương án làm ăn của hộ gia đình: Chọn cây gì, giống nào, phân bón gì, nuôi con nào, tiêu thụ ở đâu…

Phụ nữ là người tham gia chính vào các khâu sản xuất nông nghiệp Khâu làm đất nữ làm 56%, nam làm 9,8%; Khâu chọn giống, nữ làm 68,6%, nam làm 8,6%; khâu chăm sóc, cấy trồng, nữ làm 69,2%, nam làm 5,1%; phun thuốc sâu nữ làm 63,6%, nam làm 13,6% Trong thu hoạch bán sản phẩm chủ yếu là do nữ đảm nhiệm (48,3% ở Cẩm An, 71,4% ở Hoà Phú và 49,1% ở Khánh Hoà lĩnh vực này do người vợ làm) [Chương trình nghiên cứu Việt Nam - Hà Lan (2006)]

Những nghiên cứu khác còn cho thấy, ở mỗi vùng, mỗi miền và điều kiện cụ thể từng nơi mà vai trò của phụ nữ trong sản xuất cũng thể hiện một cách khác nhau trong các khâu công việc

Ở nông thôn miền núi tỉnh Thái Nguyên, lực lượng lao động nữ chiếm từ 45% đến 74,6% tổng số lao động Trong số lao động nữ có khoảng 21% là chủ

hộ và 51,2% được quyền tham gia quản lý gia đình Điều đó chứng tỏ một số

Trang 35

chị em phụ nữ dân tộc ít người vùng này có khả năng quản lý kinh tế hộ tự cung tự túc Phụ nữ không chỉ chiếm tỷ trọng cao trong lực lượng lao động mà còn được phân công thực hiện nhiều công việc trong trong hoạt động kinh tế hộ gia đình (Họ làm 70% công việc gia đình, 70% công việc đồng áng) Do đó năng suất và chất lượng lao động của họ có tính chất quyết định đối với hiệu quả sản xuất, là nguồn lực cho phát triển kinh tế hộ gia đình [Lê Thi (1999)]

1.5.3 Vai trò của phụ nữ trong tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực phát triển

* Tiếp cận vốn

Phụ nữ hiện nay có thuận lợi hơn trước đây trong việc vay vốn tín dụng

vì có nhiều nguồn từ các tổ chức chính thống, phi chính thống Là người tham gia trực tiếp vào các hoạt động sản xuất kinh doanh (HĐSXKD) và cũng tham gia vào các quyết định phát triển kinh tế của gia đình, do vậy phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong việc sử dụng vốn và tiết kiệm Thông qua sự uỷ thác của ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH), hội phụ nữ (HPN) các địa phương

đã thực hiện việc cho vay vốn tới các hội viên kết hợp với việc kiểm soát sử dụng vốn và trả lãi

* Tiếp cận với khoa học kỹ thuật

Sự tiếp cận khoa học kỹ thuật thông qua hệ thống khuyến nông Nhà nước và khuyến nông tự nguyện hoặc các chương trình, dự án đối với phụ nữ nông thôn là cần thiết nhưng gặp một số khó khăn Ngoài công việc sản xuất kinh doanh, phụ nữ còn phải làm công việc gia đình và tham gia vào các hoạt động khác Quỹ thời gian không cho phép họ tham gia các khoá tập huấn dài ngày hoặc ở xa vì thiếu phương tiện đi lại

Thường thì những kiến thức họ nhận được từ các khoá tập huấn có thể áp dụng ngay vì họ trực tiếp tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh hay nuôi dạy con cái trong khi nam giới đến các khoá tập huấn thường không chú ý nghe hay tham gia bởi họ nghĩ là họ biết hết Sau đó họ lại không truyền đạt những gì họ học được cho vợ, con Những người phụ nữ có trình độ học vấn cao,

có khả năng tiếp thu và áp dụng tiến bộ kỹ thuật tốt hơn Tuy nhiên trình độ của phụ nữ nông thôn thấp khiến việc tiếp cận khoa học kỹ thuật của họ bị hạn chế

Trang 36

* Tiếp cận thông tin

Vì quá bận bịu với công việc nên việc tiếp cận với các nguồn thông tin của phụ nữ nông thôn còn khó khăn, chủ yếu thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, hội họp, ở chợ, những dịp gặp nhau hoặc vào thời gian cùng làm chung Điều kiện kinh tế của gia đình và trình độ học vấn của phụ

nữ quyết định đến cơ hội tiếp cận thông tin, xử lý, chọn lọc thông tin của họ

1.5.4 Vai trò của phụ nữ trong việc ra quyết định

Phụ nữ thường cùng chồng bàn bạc để ra quyết định về phát triển kinh

tế, mua sắm, chi tiêu trong gia đình, quyết định từ việc sinh con và học hành, nghề nghiệp của con cái Tuy nhiên thường người chồng đóng vai trò quyết định cao hơn người vợ, đặc biệt là quyết định trong các vấn đề xã hội, vì ý kiến của phụ nữ ít quan trọng hơn nam giới [Nguyễn Linh Khiếu (2001)]

1.5.5 Vai trò trong tham gia công tác xã hội

Những năm gần đây phụ nữ dân tộc tích cực tham gia các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể địa phương Trên thực tế chúng ta có thể thấy được phụ

nữ dân tộc tham gia vào các hoạt động xã hội ít hơn nam giới do phong tục tập quán “Trọng nam khinh nữ” của đồng bào dân tộc Phụ nữ có nhiều quan điểm khác với nam giới trong các vấn đề khác nhau Thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ dân tộc thiểu số vào các vị lãnh trí đạo và quá trình hoạch định chính sách sẽ giúp thể hiện nhiều quan điểm và cách nhìn nhận vấn đề khác nhau khi ra quyết định, khi đó các quyết định và chính sách cũng mang tính toàn diện hơn và phù hợp hơn, đặc biệt là với những chính sách có ảnh hưởng tới phụ nữ dân tộc thiểu số

1.5.6 Vai trò của phụ nữ trong gia đình

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, phụ nữ là người làm chính trong các công việc tái sản xuất của các hộ gia đình (như: Công việc nội trợ, chăm sóc con cái, dạy dỗ và hướng dẫn con cái học tập, chăm sóc người già, người ốm trong gia đình Phụ nữ thường phải thức khuya, dậy sớm chuẩn bị công việc nội trợ từ 6-8 giờ trong ngày

Trong một nghiên cứu về “Nâng cao vai trò của phu ̣ nữ dân tô ̣c thiểu số vào phát triển kinh tế, văn hóa, xã hô ̣i và gia đình ở cac xã ĐBKK của

Trang 37

tỉnh Lâm Đồ ng, đã tiến hành khảo sát 420 người dân tô ̣c thiểu số (cả nam

và nữ), trong đô ̣ tuổi từ 15 đến 60, thuô ̣c các dân tô ̣c K’ho, Chu Ru, Ma ̣,

Tày, Nùng đang cư trú ta ̣i 06 thôn ĐBKK của tỉnh Lâm Đồ ng là thôn Ma

Bó , xã Đa ̣ Quyn; thôn Tà Sơn, xã Tà Năng (huyê ̣n Đức Tro ̣ng); thôn 2 và thôn 3, xã Lô ̣c Tân (huyê ̣n Bảo Lâm); thôn 1, xã Đưng K’nớh và thôn Păng Tiêng, xã Lát (huyê ̣n La ̣c Dương) Có đến 263 người đươ ̣c hỏi (chiếm 62%) cho rằ ng phụ nữ DTTS có vai trò rất quan tro ̣ng trong tham gia vào phát triển kinh tế, xã hô ̣i ở gia đình và cô ̣ng đồ ng Biểu hiê ̣n ở mô ̣t số những hoa ̣t đô ̣ng như tham gia lao đô ̣ng sản xuất, nuôi da ̣y chăm sóc con

cái, làm những công viê ̣c trong gia đình

Bảng 1.1: Công viê ̣c phu ̣ nữ DTTS đảm nhâ ̣n trong gia đình

(Nguồn: Nguyễn Thị Bích Thu năm 2016)

Kết quả khảo sát cho thấy, phụ nữ DTTS ở các đi ̣a bàn khảo sát chi ̣u trách nhiệm chính trong nuôi dạy con cái và làm những công viê ̣c trong gia đình không được tính công, trả lương; đồng thời cũng tham gia nhiều vào các hoạt đô ̣ng lao đô ̣ng sản xuất của gia đình Những hoa ̣t động cô ̣ng đồng khác như tham gia hội họp, sinh hoa ̣t cô ̣ng đồng, giao tiếp ngoài cô ̣ng đồng hầu phụ nữ DTTS rất ít tham gia [Nguyễn Thị Bích Thu (2016)]

Nam giới hầu như không làm nội trợ tuy nhiên sự phân công lao động giữa vợ và chồng còn phụ thuộc vào công việc và thành phần nghề nghiệp của gia đình Trong đó gia đình trí thức có tỷ lệ nữ thực hiện công việc nội trợ thấp nhất là 42%, gia đình công nhân 60%, gia đình nông dân 87% Còn tỷ lệ nam tương ứng là 5%, 2,7% và 2,9% Có thể giải thích rằng gia đình có trình

Trang 38

độ học vấn thì cơ hội bình đẳng trong phân công lao động giữa vợ và chồng lớn hơn Tuy nhiên, quan niệm phong kiến coi công việc nội trợ là của người phụ nữ còn khá nặng nề trong nhóm gia đình, ngay cả trong những trường hợp cả vợ và chồng cùng tham gia vào công việc này thì gánh nặng công việc vẫn đặt lên vai người phụ nữ Phỏng vấn các cặp vợ chồng thấy ngay cả trong gia đình bình đẳng thì người vợ vẫn đóng vai trò thực hiện, còn người chồng thì giúp hoặc chỉ đạo [Chương trình nghiên cứu Việt Nam - Hà Lan (2006)]

Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Nhâm Tuyết (năm 2008), phụ nữ nông thôn phải làm việc 8-16h/ngày gồm cả công việc nội trợ gia đình và chăm sóc con cái, họ không có thời gian đọc báo, nghe đài, xem văn nghệ trong khi nam giới chỉ làm 7h/ngày Phụ nữ thành thị có điều kiện hơn do có những dịch vụ và trang thiết bị gia đình tốt hơn nhưng thời gian dành cho công việc gia đình vẫn gấp 1,5 lần so với nam giới [Nguyễn Thị Lân (2006)]

* Các chỉ tiêu đánh giá vai trò của phụ nữ dân tộc trong phát triển kinh

tế hộ gia đình

a Dựa vào mức độ tham gia của phụ nữ trong các HĐSXKD: mức độ

tham gia của phụ nữ trong hoạt động sản xuất kinh doanh càng nhiều thì vai trò của họ trong phát triển kinh tế hộ gia đình và xóa đói giảm nghèo càng cao

b Dựa vào thu nhập do phụ nữ tạo ra so với nam giới: nếu chỉ dựa vào

mức độ tham gia của phụ nữ vào các HĐSXKD thì cũng chưa đủ để đánh giá vai trò của họ trong phát triển kinh tế hộ gia đình bởi tính chất công việc khác nhau tạo ra mức thu nhập khác nhau Do đó cần dựa vào chỉ tiêu thu nhập bình quân của phụ nữ so với nam giới Phần trăm thu nhập do phụ nữ tạo ra càng lớn thì vai trò của họ càng được khẳng định trong gia đình họ Họ không chỉ chăm sóc con cái, chăm lo nhà cửa mà còn mang lại thu nhập cho gia đình Ngày nay người phụ nữ có quyền tham gia vào các quyết định của gia đình, các công việc kinh doanh buôn bán Mặt khác phần trăm phụ nữ tham gia các hoạt động sản xuất và gia đình thể hiện vai trò của họ trong việc nâng cao mức sống gia đình và của toàn xã hội

Trang 39

1.6 Các hoạt động nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại Việt Nam

Theo thống kê 2011, lao động nữ ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 58,02% lực lượng lao động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp; sản xuất hơn 60% sản phẩm nông nghiệp Như vậy, phụ nữ dân tộc là một trong hai chủ thể kinh tế quan trọngmang lại thu nhập cho các hộ gia đình, và đang

có vai trò, vị trí đặc biệt trong đời sống kinh tế - xã hội ở các vùng đồng bào dân tộc Hiện nay, biến đổi của lao động nữ dân tộc thiểu số đang diễn ra theo

ba xu hướng cơ bản: nâng cao chất lượng lao động nữ dân tộc thiểu số đáp ứng nhu cầu lao động của thời kỳ mới;từng bước chuyển dần từ lao động nông nghiệp sang lao động công nghiệp, thương mại và dịch vụ; và, chủ động, tích cực tham gia thị trường lao động quốc tế trong và ngoài nước

Thời gian qua, Chính phủ đã có nhiều chính sách nâng cao chất lượng, hiệu quả của lao động dân tộc thiểu số nói chung và lao động nữ dân tộc thiểu

số nói riêng

Đề án “Đào tạo nghề cho lao đô ̣ng nông thôn đến năm 2020” và Đề án

“Hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2010 - 2015” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhằm tạo điều kiện tốt hơn cho lao động nông thôn nói chung và lao động nữ nói riêng nâng cao kỹ năng nghề nghiệp và tiếp cận tốt hơn tới việc làm có thu nhập ổn định, giúp xóa đói, giảm nghèo và nâng cao vị thế Ngoài chính sách dạy nghề, Nghị quyết 26-NQ/TW cũng nhấn mạnh mục tiêu tạo chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, qua đó các chương trình chuyển giao khoa học kỹ thuật nông nghiệp đã được triển khai rộng khắp

Trong lĩnh vực tín dụng, hệ thống các Ngân hàng nhà nước (Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam…) đã và đang thực hiện nhiều chương trình tín dụng phát triển kinh tế khu vực nông thôn (Nghị định 41/2010/NĐ-CP, Nghị định 78/2002/NĐ-CP)

Trang 40

Về khía cạnh giới trong phát triển kinh tế, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2010 - 2020 đưa ra mục tiêu “Không ngừng nâng cao năng lực nhằm bảo đảm sự tham gia ra quyết định của phụ nữ trong các hoạt động phát triển kinh tế…”

Như vậy, có thể nói đã có khá đầy đủ chính sách; tuy nhiên, cần có các

cơ chế cụ thể hơn để giúp nữ lao động dân tộc thiểu số tiếp cận được với những công việc có hàm lượng tri thức, chất xám, công nghệ giúp mang lại thu nhập cao cho cá nhân và giá trị gia tăng cao cho xã hội, cụ thể:

1.6.1 Xây dựng các phong trào phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo

Tiếp tục duy trì và đẩy mạnh phong trào “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình” để thực hiện xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập; đồng thời phát động phong trào “Phụ nữ làm kinh tế giỏi” để động viên, khuyến khích phụ nữ vươn lên làm giàu chính đáng

Triển khai đồng bộ 2 phong trào nhằm phù hợp với đối tượng và điều kiện thực tế của địa phương, Đồng thời cần chỉ đạo, triển khai thực hiện 2 phong trào này trong mối liên quan mật thiết với nhau để phát huy hiệu quả của từng phong trào: “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình” để cùng nhau xóa đói giảm nghèo, xây dựng gia đình no ấm và cuộc sống đạt chất lượng tốt hơn “Phụ nữ làm kinh tế giỏi” ngoài nội dung cơ bản là khuyến khích bản thân phụ nữ tích cực, thi đua làm ăn giỏi, làm giàu chính đáng còn khuyến khích phụ nữ làm ăn giỏi, nữ doanh nghiệp thành đạt giúp đỡ, làm đầu tàu lôi kéo phụ nữ khác hoặc tạo việc làm cho phụ nữ nghèo, phụ nữ dân tộc thiểu số

1.6.2 Tăng cường các biện pháp giúp đỡ phụ nữ đói nghèo

Hàng năm thống kê, phân loại hộ đói, nghèo có phụ nữ dân tộc thiểu số làm chủ hộ để có kế hoạch giúp đỡ cụ thể Trong kế hoạch chỉ đạo xóa đói giảm nghèo cần xác định cụ thể địa chỉ giúp đỡ, mục tiêu cần đạt, biện pháp

hỗ trợ phù hợp với từng hộ

Ngày đăng: 22/09/2017, 14:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Vân Anh (2001), “Giới và phát triển nông thôn”, tài liệu tập huấn phiển triển bền vững nông thôn của chương trình VNRP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới và phát triển nông thôn”
Tác giả: Trần Thị Vân Anh
Năm: 2001
2. Đỗ Thị Bình - Trần Thị Vân Anh (2003), “Giới và công tác giảm nghèo”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới và công tác giảm nghèo”
Tác giả: Đỗ Thị Bình - Trần Thị Vân Anh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2003
4. Chương trình nghiên cứu Việt Nam - Hà Lan (2006), Kết quả nghiên cứu các đề án VNRP, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu các đề án VNRP
Tác giả: Chương trình nghiên cứu Việt Nam - Hà Lan
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2006
5. Phạm Văn Dũng (2006), Giáo trình kinh tế chính trị Mác- Lênin dùng cho khối ngành kinh tế - quản trị kinh doanh trong các trường cao đẳng, đại học, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế chính trị Mác- Lênin dùng cho khối ngành kinh tế - quản trị kinh doanh trong các trường cao đẳng, đại học
Tác giả: Phạm Văn Dũng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
6. Nguyễn Thị Thanh Hòa (2011), Thực hiện bình đẳng giới để phụ nữ Việt Nam tích cực tham gia xây dựng, phát triển đất nước, Quản lý nhà nước, số 189 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện bình đẳng giới để phụ nữ Việt Nam tích cực tham gia xây dựng, phát triển đất nước
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hòa
Năm: 2011
7. Nguyễn Thị Thanh Hòa (2016), Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ thống chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ thống chính trị
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hòa
Năm: 2016
8. Hội đồng bầu cử quốc gia (2016), Báo cáo tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021
Tác giả: Hội đồng bầu cử quốc gia
Năm: 2016
9. Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Thái Nguyên, Nghị quyết Đại hội Đại biểu phụ nữ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2017-2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội Đại biểu phụ nữ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XIII
10. Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, Nghị quyết Đại hội phụ nữ huyện Đồng Hỷ lần thứ XXIII, nhiệm kỳ 2017-2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội phụ nữ huyện Đồng Hỷ lần thứ XXIII
14. Nguyễn Thị Hiên - Lê Ngọc Hùng (2006), “Nâng cao năng lực phát triển bền vững bình đẳng giới và giảm nghèo”, Nxb Lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nâng cao năng lực phát triển bền vững bình đẳng giới và giảm nghèo”
Tác giả: Nguyễn Thị Hiên - Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2006
15. Nguyễn Linh Khiếu (2001), Gia đình và phụ nữ trong biến đổi văn hóa xã hội nông thôn”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình và phụ nữ trong biến đổi văn hóa xã hội nông thôn
Tác giả: Nguyễn Linh Khiếu
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2001
16. Nguyễn Thị Lân (2006), Vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong hoạt động xóa đói giảm nghèo, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong hoạt động xóa đói giảm nghèo
Tác giả: Nguyễn Thị Lân
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2006
17. Ngô Thắng Lợi (2013), Giáo trình kinh tế phát triển, NXB Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế phát triển
Tác giả: Ngô Thắng Lợi
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2013
19. Nguyễn Duy Quý (2010), Công cuộc đổi mới – những thành tựu và bài học kinh nghiệm, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công cuộc đổi mới – những thành tựu và bài học kinh nghiệm
Tác giả: Nguyễn Duy Quý
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2010
20. Lê Đình Thắng (1993), Phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hoá, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hoá
Tác giả: Lê Đình Thắng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1993
23. Lô Quốc Toản (2010), Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay
Tác giả: Lô Quốc Toản
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
24. Lê Thi (1999), Việc làm đời sống phụ nữ trong chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam, Nxb khoa học - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc làm đời sống phụ nữ trong chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: Lê Thi
Nhà XB: Nxb khoa học - xã hội
Năm: 1999
25. Trần Đức Viên (2001), Nông nghiệp trên đất dốc, thách thức và tiềm năng, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp trên đất dốc, thách thức và tiềm năng
Tác giả: Trần Đức Viên
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2001
26. Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Quyết định số 2037/QĐ-UBND ngày 16/9/2014 về việc phê duyệt Đề án “Phát triển kinh tế - xã hội, ổn định sản xuất và đời sống các xóm, bản đặc biệt khó khăn có nhiều đồng bào dân tộc Mông sinh sống tỉnh Thái nguyên đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế - xã hội, ổn định sản xuất và đời sống các xóm, bản đặc biệt khó khăn có nhiều đồng bào dân tộc Mông sinh sống tỉnh Thái nguyên đến năm 2020
29. Viện nghiên cứu chính sách lương thực Quốc tế (2001), Chương trình hỗ trợ ngành nông nghiệp, Trung tâm thông tin Nông nghiệp & phát triển nông thôn, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình hỗ trợ ngành nông nghiệp
Tác giả: Viện nghiên cứu chính sách lương thực Quốc tế
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w