Cùng với việc tham gia tích cực vào phát triển kinh tế gia đình mỗi phụ nữ còn tham gia nhiều hoạt động kinh tế xã hội góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội ổn định góp ph
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ THỊ MINH
NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH TẠI
HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ THỊ MINH
NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH TẠI
HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 60 62 01 16
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐINH NGỌC LAN
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Các số liệu trích dẫn trong quá trình nghiên cứu đã được trích dẫn và ghi rõ nguồn gốc
Tác giả
Lê Thị Minh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tôi đã được
sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể và cá nhân Nhân đây:
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Ban chủ nhiệm Khoa KT&PTNT cùng các thầy cô Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, tạo điều kiện về mọi mặt
để tôi thực hiện đề tài này Đặc biệt tôi xin cảm ơn PGS.TS Đinh Ngọc Lan,
đã hướng dẫn chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể gồm: Huyện uỷ Đại Từ, UBND huyện Đại Từ, Phòng LĐ-XH huyện Đại Từ, Phòng Thống kê huyện Đại Từ, Phòng Nông nghiệp huyện Đại Từ, Các tổ chức hội đoàn thể huyện Đại Từ, Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Đại Từ, UBND các xã Quân Chu, Minh Tiến, Cù Vân
Cuối cùng tôi xin trân thành cảm ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè, những người đã chia sẻ, động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành tốt luận văn của mình
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu của các tập thể và cá nhân đã dành cho tôi
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Lê Thị Minh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Cơ sở lý luận 4
1.2 Phát triển kinh tế nông thôn 9
1.2.1 Khái niệm về phát triển và phát triển kinh tế 9
1.2.2 Khái niệm về nông thôn 9
1.2.3 Khái niệm, đặc điểm hộ gia đình, kinh tế hộ nông dân 9
1.1.2 Cơ sở thực tiễn 12
1.3 Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn tỉnh Thái Nguyên 18
1.3.1 Nữ trong các nhóm tuổi và tham gia sinh hoạt Hội đoàn thể 18
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 23
2.2 Nội dung nghiên cứu 23
2.3 Phương pháp nghiên cứu 23
2.3.1 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu 23
Trang 62.3.2 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 24
2.3.3 Phương pháp thu thập số liệu 25
2.3.4 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 26
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
3.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội huyện Đại Từ 28
3.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 28
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 37
3.2 Thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Đại Từ 42
3.2.1 Khái quát về tình hình của phụ nữ trên địa bàn huyện Đại Từ 44
3.2.2 Tình hình chung của các hộ điều tra 48
3.2.3 Thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại các hộ nghiên cứu 53
3.2.4 Phân tích SWOT về nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn huyện Đại Từ trong phát triển kinh tế hộ 66
3.2.5 Những yếu tố làm hạn chế vai trò của lao động nữ trong phát triển kinh tế hộ nông dân 69
3.2.6 Những nguyên nhân 73
3.3 Giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Đại Từ 74
3.3.1 Những giải pháp chung 74
3.3.2 Các giải pháp cụ thể cho nông hộ 82
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 94
Trang 7VSTBPN : Vì sự tiến bộ phụ nữ
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Nữ trong các nhóm tuổi từ năm 2012 - 2014 tỉnh Thái Nguyên 18
Bảng 1.2: Phụ nữ trong độ tuổi tham gia sinh hoạt đoàn thể tỉnh Thái Nguyên năm 2014 19
Bảng 3.1: Diện tích của huyện theo cấp độ cao tuyệt đối và độ dốc 30
Bảng 3.2: Tổng diện tích tự nhiên của huyện phân theo từng xã 32
Bảng 3.3 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính của huyện Đại Từ năm 2014 37
Bảng 3.4: Số lượng gia súc, gia cầm trên địa bàn huyện Đại Từ giai đoạn 2012 - 2014 38
Bảng 3.5: Tình hình dân số và lao động của huyện Đại Từ năm 2014 42
Bảng 3.6 Thống kê số lao động nữ trong các nhóm tuổi giai đoạn 2012-2014 45
Bảng 3.7 Cơ cấu phụ nữ tham gia các hoạt động đoàn thể năm 2014 46
Bảng 3.8 Số lượng phụ nữ tham gia các cấp ủy đảng, chính quyền 47
Bảng 3.9: Đặc điểm chung của hộ nông dân điều tra 48
Bảng 3.10: Bình quân lao động và nhân khẩu của các hộ nông dân 50
Bảng 3.11 Tỷ lệ dân số theo tuổi phân theo giới tính các hộ nông dân 50
Bảng 3.12: Trình độ học vấn của các thành viên trong gia đình 51
Bảng 3.13: Tỷ lệ nữ làm chủ hộ và tham gia quản lý điều hành sản xuất 53
Bảng 3.14: Nguyên nhân chính dẫn đến người phụ nữ đảm nhiệm việc quản lý, điều hành sản xuất 54
Bảng 3.15 Sự phân công lao động trong hoạt động trồng trọt 56
Bảng 3.16 Sự phân công lao động trong hoạt động chăn nuôi 58
Bảng 3.17 Tiếp cận thông tin sản xuất của lao động nữ 59
Bảng 3.18 Quyền và sự phân công trong gia đình về kiểm soát kinh tế, tài sản hộ gia đình 60
Bảng 3.19 Vai trò của vợ và chồng trong các quyết sách lớn của hộ gia đình 62
Bảng 3.20 Sự phân công lao động trong sản xuất nông nghiệp 64
Bảng 3.21 Phân công trách nhiệm của vợ và chồng trong tiếp cận thông tin và quan hệ xã hội 65
Bảng 3.22: Phân tích SWOT về nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế hộ huyện Đại Từ 66
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Hình 3.1 Cơ cấu sử dụng đất huyện Đại Từ năm 2014 33 Hình 3.2: Trình độ văn hoá của lao động nữ tại huyện Đại Từ năm 2014 47
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ ngàn xưa phụ nữ Việt Nam giữ một vị trí quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Ngày nay, phụ nữ Việt Nam đang cùng tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Các chị vừa là người
vợ, vừa là người mẹ, người con trong gia đình, các chị đang gánh trên vai cả trọng trách đối với gia đình và xã hội
Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ X, nhiệm kỳ 2007 - 2012 đã
đề ra 6 nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ“ Giáo dục phẩm chất đạo đức, nâng cao năng lực, trình độ của phụ nữ, hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế và xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc“ có liên quan mật thiết đến việc nâng cao vai trò phụ nữ trong kinh tế hộ gia đình Tại đại hội đại biểu phụ nữ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XII, nhiệm kỳ 2011 - 2016 đã đề ra khâu đột phá của nhiệm kỳ“ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, tăng giàu, giảm nghèo, góp phần xây dựng nông thôn mới“
Đảng và Nhà nước ta ngày càng quan tâm phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội, tạo mọi điều kiện cho phụ nữ tham gia và phát huy vai trò của mình trên các lĩnh vực nhất là nông thôn Cùng với việc tham gia tích cực vào phát triển kinh tế gia đình mỗi phụ nữ còn tham gia nhiều hoạt động kinh tế
xã hội góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội ổn định góp phần vào thay đổi diện mạo của nông thôn Việt Nam
Đại Từ là một huyện miền núi nằm ở phía tây bắc tỉnh Thái Nguyên Huyện có tỷ lệ nữ chiếm một phần đông dân số Lực lượng này đã có những đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện nhà, họ đã nhận thức và phát huy vai trò của mình trong sản xuất nông nghiệp, các ngành kinh
tế phi nông nghiệp, các hoạt động xã hội và cộng đồng nông thôn Tuy nhiên,
Trang 11sự đóng góp của phụ nữ lại chưa được ghi nhận một cách xứng đáng với vai trò của họ trong nền kinh tế, trong các quan hệ đời sống và gia đình Vì vậy việc tìm hiểu về vai trò của phụ nữ ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên trong phát triển kinh tế hộ gia đình, những cản trở sự tiến bộ của phụ nữ trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế nông thôn, để từ đó đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm phát huy hơn nữa vai trò của lực lượng này
Xuất phát từ tính cấp thiết nêu trên và nhận thức sâu sắc về những tiềm năng to lớn của phụ nữ, những cản trợ sự tiến bộ của phụ nữ trong quá trình
đổi mới và phát triển kinh tế nông thôn, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“ Nghiên cứu vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia
đình trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên"
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá được thực trạng hoạt động của phụ nữ trong phát triển kinh tế
hộ nông thôn và đưa ra giải pháp và kiến nghị nhằm tạo cơ hội cho phụ nữ phát huy tiềm năng về mọi mặt để phát triển kinh tế, tăng thu nhập, cải thiện đời sống gia đình, góp phần sự phát triển kinh tế - xã hội huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
- Xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đóng góp của phụ
nữ trong phát triển kinh tế hộ nông thôn
- Đề xuất được các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của phụ
nữ trong phát triển kinh tế nông thôn miền núi trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Trang 123 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài giúp hệ thống lại một cách khoa học các kiến thức đã học, vận dụng linh hoạt vào thực tiễn cuộc sống Đồng thời giúp tìm hiểu nâng cao kiến thức chuyên môn
Đề tài là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực, cung cấp thêm các cơ sở khoa học giúp cho huyện Đại Từ xây dựng các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của giới trong các hoạt động phát triển kinh tế hộ gia đình
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1.1 Khái niệm giới tính và giới
Giới và giới tính thường bị nhầm lẫn với nhau Nhưng thực chất hai khái niệm này lại khác nhau ở hai phương diện đó là: sinh học và xã hội
Giới tính: chỉ sự khác biệt về sinh học giữa nam giới và phụ nữ mang
tính toàn cầu và không thay đổi[21]
Các đặc trưng của giới tính bị quy định và hoạt động theo các cơ chế tự nhiên, di truyền Nữ giới vốn có chức năng sinh lý học như tạo ra trứng, mang thai, sinh con và cho con bú bằng bầu sữa mẹ Nam giới có chức năng tạo ra tinh trùng Về mặt sinh lý học, nữ giới khác với nam giới
- Giới tính là bẩm sinh và đồng nhất, bị quy định và hoạt động theo các cơ chế tự nhiên, di truyền Chẳng hạn như: người có cặp NST giới tính XX thì thuộc về nữ giới, người có cặp NST giới tính XY thì thuộc về nam giới Ngay từ trong bào thai, hoóc môn, nhiễm sắc thể, bộ phận sinh dục…của nam giới và nữ giới khác nhau, được quy định bởi tự nhiên, không theo và không phụ thuộc vào mong muốn của con người Đồng thời, chức năng sinh sản của nữ giới hay nam giới là không thể thay thế, thay đổi hay chuyển dịch cho nhau [7]
Giới: chỉ sự khác biệt về xã hội và quan hệ (về quyền lực) giữa trẻ em
trai và trẻ em gái, giữa phụ nữ và nam giới, được hình thành và khác nhau ngay trong một nền văn hóa, giữa các nền văn hóa và thay đổi theo thời gian Sự khác biệt này được nhận thấy một cách rõ ràng trong vai trò, trách nhiệm, nhu cầu, khó khăn thuận lợi của các giới tính [21]
Đối với Việt Nam, Khoa học về Giới xuất hiện vào cuối những năm
1980 với nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về giới và các vấn đề của phụ nữ Thuật ngữ “Giới” bắt nguồn từ môn nhân khẩu học, nó đề cập đến
Trang 14phân công lao động, vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ
“Giới” là sự khác biệt giữa nam và nữ về góc độ xã hội, sự khác nhau
do xã hội quyết định, các mối quan hệ do xã hội xác lập Vai trò của giới được xác định bởi các đặc tính xã hội, văn hóa và kinh tế, được nhận thức bởi các thành viên trong xã hội đó Do vậy vai trò của giới có sự biến động và thay đổi qua không gian và thời gian [14]
Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam giới các đặc điểm giới khác nhau Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và
có thể thay đổi được
Giới có thể là khái niệm dùng để chỉ các đặc trưng xã hội của nam và
nữ Đây là tập hợp những hành vi ứng xử về mặt xã hội, những mong muốn
về những đặc điểm và năng lực mà xã hội coi là thuộc về nam giới hoặc phụ
nữ trong xã hội hay nền văn hóa cụ thể nào đó
“Giới” là một yếu tố luôn biến đổi cũng như tương quan về địa vị trong
xã hội của nữ giới và nam giới, không phải là hiện tượng bất biến mà liên tục thay đổi Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể “Giới”
là sản phẩm của xã hội, có tính xã hội, dùng để phân biệt sự khác nhau trong quan hệ nam và nữ Đây là cơ sở để nghiên cứu sự cân bằng về giới và đảm bảo công bằng cho xã hội [21]
Yếu tố “Giới” là sản phẩm của xã hội, có tính xã hội, dùng để phân biệt
sự khác nhau trong quan hệ nam và nữ, do vậy nó luôn biến đổi phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể
1.1.1.2 Đặc điểm, nguồn gốc và sự khác biệt về giới
* Đặc điểm giới:
- Không tự nhiên mà có
- Học được từ gia đình và xã hội
- Đa dạng (khác nhau giữa các vùng miền)
- Có thể thay đổi được
Trang 15* Nguồn gốc giới
- Trong gia đình, ngay từ khi sinh ra, đứa trẻ đã được đối xử tùy theo chúng là trai hay gái Những sự khác nhau đó có thể là: về đồ chơi, quần áo, tình cảm của ông bà, bố mẹ, anh chị Đứa trẻ được dạy dỗ và điều chỉnh hành
vi của chúng theo giới tính của mình
- Trong nhà trường, các thầy cô giáo cũng định hướng theo sự khác biệt
về giới cho học sinh Học sinh nam được hướng theo các ngành kỹ thuật, điện
tử, các ngành cần có thể lực tốt Học sinh nữ được hướng theo các ngành như may, thêu, trang điểm, các ngành cần sự khéo léo, tỷ mỉ
- Các thể chế xã hội như: chính sách, pháp luật… cũng có ý nghĩa làm tăng hoặc giảm sự khác biệt về giới (ví dụ ưu tiên nam trong các nghề lái xe, xây dựng, cảnh sát…)
Nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình Họ cứng rắn hơn
về tình cảm, mạnh bạo và năng động hơn trong công việc Đặc trưng này cho phép họ dồn hết tâm trí vào lao động sản xuất., vào công việc xã hội, ít bị ràng buộc bởi con cái và gia đình Chính điều này đã làm tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội
Hơn nữa, nam giới và nữ giới lại có xuất phát điểm không giống nhau
để tiếp cận cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn với tính chất và mức độ khác nhau để tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắm bắt các thông tin xã hội Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế, từ điều kiện và
cơ hội được học tập, tiếp cận việc làm và làm việc, từ vị trí trong gia đình, ngoài xã hội khác nhau, từ tác động của định kiến xã hội, các hệ tư tưởng, phong tục tập quán đối với mỗi giới cũng khác nhau
Trang 161.1.1.3 Nhu cầu, lợi ích giới và bình đẳng giới
* Nhu cầu giới (còn gọi là nhu cầu thực tế): Là những nhu cầu của phụ
nữ và nam giới cần được đáp ứng để thực hiện tốt các vai trò được xã hội công nhận [1]
* Nhu cầu giới chiến lược: Là những nhu cầu thường nảy sinh từ vị thế thấp hơn của mỗi giới trong xã hội Các nhu cầu này liên quan đến phân công lao động, đến quyền lực, sự kiểm soát và có thể bao hàm cả những vấn đề như quyền pháp lý, bạo lực trong gia đình, tiền công công bằng hoặc sự kiểm soát thân thể Việc đáp ứng các nhu cầu giới chiến lược sẽ làm thay đổi sự phân công lao động, thay đổi vai trò và vị trí của giới
* Lợi ích giới (còn gọi là nhu cầu chiến lược): là những nhu cầu của phụ nữ và nam giới xuất phát từ sự chênh lệch về địa vị xã hội của họ Những lợi ích này khi được đáp ứng sẽ thay đổi vị thế của phụ nữ và nam giới theo hướng bình đẳng [1]
Nam giới và phụ nữ được bình đẳng về:
- Các điều kiện để phát huy đầy đủ tiềm năng
- Các cơ hội để tham gia đóng góp, hưởng lợi trong quá trình phát triển
- Quyền tự do và chất lượng cuộc sống
Bên cạnh quy định về những quyền và nghĩa vụ chung, bình đẳng cho cả nam
và nữ, pháp luật còn xác định những đặc quyền chỉ áp dụng cho phụ nữ nhằm
bù đắp cho phụ nữ những thiệt thòi, đặt họ vào vị trí xuất phát ngang bằng với đàn ông trong các quan hệ xã hội, đảm bảo cho họ có thể tiếp nhận các cơ hội
Trang 17và thụ hưởng các quyền một cách bình đẳng như nam giới Đây là quan điểm bình đẳng giới thực chất [17]
Luật Bình đẳng giới (2007) tại Điều 5 chỉ rõ: Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.[16]
1.1.1.4 Vai trò của giới
Trong cuộc sống, cả nam và nữ đều tham gia vào mọi hoạt động của đời sống xã hội, tuy nhiên mức độ tham gia của nam và nữ trong các loại công việc là khác nhau do những quan niệm, các chuẩn mực xã hội quy định Những công việc mà họ đảm nhận được gọi là vai trò giới Các vai trò giới đa dạng (tùy thuộc vào vị trí và bối cảnh), thay đổi theo thời gian (tương ứng với
sự thay đổi của các điều kiện và hoàn cảnh) và thay đổi theo sự thay đổi trong quan niệm xã hội (tương ứng với việc chấp nhận hoặc không chấp nhận một hành vi ứng xử vai trò nào đó)
Vai trò giới: là tập hợp các hành vi ứng xử mà xã hội mong đợi ở nam
và nữ liên quan đến những đặc điểm giới tính và năng lực mà xã hội coi là thuộc về nam giới hoặc thuộc về phụ nữ (trẻ em trai hoặc trẻ em gái) trong một xã hội hoặc một nền văn hoá cụ thể nào đó Vai trò giới được quyết định bởi các yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội
- Vai trò sản xuất: được thể hiện trong lao động sản xuất dưới mọi hình thức để tạo ra của cải, vật chất, tinh thần cho gia đình và xã hội [15]
- Vai trò tái sản xuất sức lao động: bao gồm các hoạt động nhằm duy trì nòi giống, tái tạo sức lao động Vai trò này không chỉ đơn thuần là tái sản xuất sinh học, mà còn cả việc chăm lo, duy trì, phát triển lực lượng lao động cho hiện tại và tương lai như; nuôi dạy con cái, nuôi dưỡng các thành viên trong gia đình, làm công việc nội trợ … vai trò này hầu như của người phụ nữ [15]
- Vai trò cộng đồng: thể hiện ở các hoạt động tham gia thực hiện ở mức
độ nhằm duy trì và phát triển các nguồn lực cộng đồng, thực hiện các nhu cầu, mục tiêu chung của cộng đồng [15]
Trang 181.2 Phát triển kinh tế nông thôn
1.2.1 Khái niệm về phát triển và phát triển kinh tế
* Phát triển: là quá trình thay đổi toàn diện nền kinh tế, bao gồm sự
tăng thêm về quy mô sản lượng, cải thiện về cơ cấu, hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống [12]
* Phát triển kinh tế: có thể hiểu là quá trình lớn lên về mọi mặt của nền
kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội [6]
1.2.2 Khái niệm về nông thôn
Nông thôn là vùng lãnh thổ của một Nhà nước hay một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân cư chủ yếu làm nông nghiệp [6]
1.2.3 Khái niệm, đặc điểm hộ gia đình, kinh tế hộ nông dân
* Hộ gia đình: hay còn gọi đơn giản hộ là một đơn vị xã hội bao gồm một hay một nhóm người ở chung (cùng chung hộ khẩu) và ăn chung (nhân khẩu) Đối với những hộ có từ 2 người trở lên, các thành viên trong hộ có thể có hay không có quỹ thu chi chung hoặc thu nhập chung Hộ gia đình không đồng nhất với khái niệm gia đình, những người trong hộ gia đình có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc hôn nhân hoặc cả hai [24]
Có ba tiêu thức chính thường được nói đến khi định nghĩa khái niệm hộ gia đình:
- Có quan hệ huyết thống và hôn nhân
- Cùng cư trú
- Có cơ sở kinh tế chung [24]
Theo một số từ điển chuyên ngành kinh tế, từ điển ngôn ngữ thì hộ được hiểu là: tất cả những người cùng sống trong một mái nhà, bao gồm những người có cùng huyết tộc và những người làm công [24]
Về phương diện thống kê, các nhà nghiên cứu Liên hợp quốc cho rằng
hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, có ăn chung và có chung một ngân quỹ [24]
Trang 19Đại đa số các hộ ở Việt Nam đều gồm những người có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống Vì vậy, khái niệm hộ thường được hiểu đồng nghĩa với gia đình, nhiều khi được gộp chung thành khái niệm hộ gia đình
* Hộ nông dân:
Theo Frank Ellis cho rằng: "Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và
có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao" [18]
Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993): "Nông hộ là tế bào kinh
tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn" [18]
Nhà khoa học Traianốp đưa ra định nghĩa: "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn định" và ông coi "hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng
và phát triển nông nghiệp" [25]
Tác giả Mats Lundahl và Tommy Bengtsson bổ sung thêm vào quan
điểm của Traianốp: "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất cơ bản" [25]
Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993): "Nông hộ là tế bào kinh
tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn" [18]
Đào Thế Tuấn (1997) chỉ ra: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”
Đối với nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc (năm 2001) thì: "Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật, ) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp" [3]
Xuất phát từ những khái niệm trên, có thể chỉ ra một số đặc điểm chung như sau:
Trang 20- Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp Hộ có nguồn thu nhập chủ yếu bằng nghề nông Ngoài
ra, hộ nông dân còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp, chẳng hạn tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ ở các mức độ khác nhau
- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng Hộ nông dân phải phụ thuộc vào các hệ thống kinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân Các hộ nông dân càng phụ thuộc nhiều hơn vào các hệ thống kinh tế rộng lớn không chỉ trong phạm vi một vùng, một nước khi trình độ phát triển lên mức cao của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thị trường, xã hội càng mở rộng và đi vào chiều sâu
* Kinh tế hộ nông dân:
Hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và phát triển nông thôn, vì tất cả các hoạt động nông nghiệp, phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu được thực hiện qua các hoạt động của hộ nông dân
Theo Frank Ellis (1988): Các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống
từ đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường, hoạt động với một trình độ không hoàn chỉnh cao [24]
Kinh tế hộ nông dân được phân biệt với các hình thức kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường bởi các đặc điểm sau:
- Đất đai: nghiên cứu hộ nông dân là nghiên cứu những người sản xuất
có tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai
- Lao động: lao động sản xuất chủ yếu là do các thành viên trong hộ tự đảm nhận Sức lao động của các thành viên trong hộ không được xem là lao động dưới hình thái hàng hóa, họ không có khái niệm tiền công, tiền lương
- Tiền vốn: chủ yếu do họ tự tạo ra từ sức lao động của họ
Mục đích chủ yếu của sản xuất trong hộ nông dân là đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của hộ, sau đó phần dư thừa mới bán ra thị trường
Trang 211.1.2 Cơ sở thực tiễn
1.1.2.1 Thực trạng và vai trò của phụ nữ trên thế giới
Trên toàn thế giới, phụ nữ đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả năng sản xuất và tái tạo sản xuất Họ chiếm trên 50% trong tổng số lao động;
số giờ lao động của họ chiếm 2/3 tổng giời lao động của xã hội và sản xuất ra
½ trong tổng sản lượng nông nghiệp Cùng với việc đảm bảo nhiều công việc khác nhau, lao động nữ chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong các ngành công nghiệp, dịch vụ với trình độ không ngừng được nâng cao
Tại châu Phi, Châu Á và Thái Bình Dương, trung bình một tuần phụ nữ làm việc nhiều hơn nam giới 12-13 giờ và có ít thời gian để nghỉ ngơi hơn Hầu hết mọi nơi trên thế giới, phụ nữ được trả công thấp hơn nam giới cho cùng một loại công việc Thu nhập của phụ nữ bằng khoảng 50%-90% thu nhập của nam giới [4]
Na Uy là đất nước dân số ít (4,5 triệu người) nhưng chỉ số phát triển con người (HDI) và chỉ số phát triển giới (GDI) xếp thứ nhất thế giới Na Uy
có một hệ thống luật pháp đồng bộ hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền và lợi cho người phụ nữ Chính phủ Na Uy rất quan tâm đến vấn đề bình đẳng giới
và coi đó là một trong bốn vấn đề trọng tâm phát triển Là quốc gia đầu tiên trên thế giới cho phép phụ nữ được tham gia bầu cử vào năm 1913 và có quyền ứng cử Quốc hội từ năm 1930 Na Uy cũng có Luật bình đẳng giới ban hành từ năm 1979 với các điều khoản bảo đảm cho cả phụ nữ và nam giới được bình đẳng trong phát triển
Trong luật Bình đẳng giới, Na Uy quy định: Việc phân biệt đối xử trực tiếp hoặc gián tiếp với phụ nữ và nam giới đều không được phép
Với lĩnh vực lao động và việc làm, luật quy định: tuyển dụng không được hạn chế tuyển một giới Khi đề bạt, cách chức hoặc sa thải người lao động cũng không được phân biệt nam nữ Lao động nam và nữ trong cùng một doanh nghiệp phải được trả lương như nhau cho cùng một công việc như nhau hoặc công việc có giá trị như nhau
Trang 22Trong giáo dục, Luật bình đẳng giới đề ra phụ nữ và nam giới có quyền bình đẳng trong đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ
Tuy nhiên, Luật bình đẳng giới tiến bộ nhưng chỉ nhằm tăng cường quyền lực của phụ nữ ngoài xã hội chứ không bênh vực họ trong gia đình vì không áp dụng trong gia đình Trong lĩnh vực công việc nhà không được trả lương phụ nữ vẫn làm việc nhiều hơn nam giới; trong lĩnh vực quản lý nhà nước, nam giới vẫn chiếm 86% và trong chính quyền địa phương lãnh đạo nam vẫn trên 70% ; nạn bạo lực vẫn xảy ra; mại dâm được phép hoạt động nhưng vẫn nhiều tình trạng xâm hại tình dục … [10]
Tại Kenya, Zambia và Nigieria, gia đình nào có chủ hộ là nam giới thì khuyến nông thường xuyên ghé thăm hơn
Khoảng 40% phụ nữ Trinidad và Tobago chỉ biết đến các thông tin hay những lời khuyên trong sản xuất cũng như các thông tin khác thông qua người chồng của mình Còn ở một số nước như Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia thì những thông tin đó được lấy tự họ hàng, bạn bè và hàng xóm Rất ít thông tin được trực tiếp chuyển đến người phụ nữ
* Phụ nữ chiếm một tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động: Tỷ lệ nữ
tham gia hoạt động kinh tế theo các nhóm tuổi rất cao Một số tài liệu thống
kê sau đây sẽ chứng minh cho nhận định đó:
- Bangladesh: có 67,3% phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao động
so với 82,5% nam giới Tỷ lệ này của phụ nữ nông thôn cao gấp 2 lần phụ nữ thành thị (28,9%) Theo nhóm tuổi, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động nhiều nhất ở độ tuổi 30-49, tiếp đó là các nhóm tuổi 25-29, 50-54 Đáng chú ý rằng, gần 61% phụ nữ nông thôn ở độ tuổi 60-64 vẫn tham gia lực lượng lao động, cao gần gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi Đặc biệt phụ nữ nông thôn trên 65 tuổi vẫn có 36% tham gia lực lượng lao động [4]
- Trung Quốc: nhóm phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao động cao nhất từ 20-29 tuổi, tiếp đó là nhóm 30-39 tuổi, và giảm dần theo các nhóm
Trang 23tuổi cao hơn Giống như ở Bangladesh, ở nông thôn Trung Quốc phụ nữ ở độ tuổi 60-64 vẫn còn 32,53% tham gia lực lượng lao động, con số này cao gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi [4]
* Trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp:
Nhìn chung, trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nữ nông thôn ở các nước đang phát triển còn rất thấp Ở các nước đang phát triển cho đến nay
có tới 31,6% lao động nữ không được học hành, 5,2% mới chỉ học xong phổ thông và 0,4% mới tốt nghiệp cấp hai Vì ít có điều kiện học hành nên những người phụ nữ này không có điều kiện tiếp cận một cách bài bản với các kiến thức về công nghệ trồng trọt và chăn nuôi theo phương thức tiên tiến, những kiến thức họ có được chủ yếu là do tự học từ họ hàng, bạn bè hay từ kinh nghiệm của những người thân của mình Một hạn chế lớn là những loại kinh nghiệm được truyền đạt theo phương pháp này thường ít khi làm thay đổi được mô hình, cách thức sản xuất của họ [4]
* Bất bình đẳng giới mang tính phổ biến: Bất bình đẳng giới tồn tại ở
hầu hết các nước đang phát triển Điều đó trước hết bắt nguồn từ tình trạng phụ nữ có trình độ học vấn thấp Một nguyên nhân khác không kém phần quan trọng là những định kiến xã hội không coi trọng phụ nữ đã được hình thành ở hầu hết các nước đang phát triển Do vậy, ngay cả khi phụ nữ có bằng cấp cao và kỹ năng tốt thì những công việc họ làm vẫn không được ghi nhận một cách xứng đáng
Đấu tranh để đạt được sự bình đẳng thực sự giữa nam và nữ trong xã hội ta nói riêng và trên thế giới nói chung là vấn đề lâu dài và còn nhiều khó khăn, thử thách Đây là cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, cái tiến bộ và lạc hậu Đất nước ta đã trải qua hàng ngàn năm phong kiến, tư tưởng “Trọng nam khinh nữ” vẫn còn ăn sâu trong tiềm thức của một bộ phận dân chúng, nhất là ở những vùng, miền còn nặng nề về hủ tục lạc hậu… Ngay tại các bộ, ngành và những đơn vị hành chính, kinh tế lớn, vấn đề bình đẳng giới vẫn còn
Trang 24gặp những khó khăn nhất định Việc bồi dưỡng phát triển cán bộ nữ có lúc, có nơi còn bị hạn chế, một số đơn vị kinh tế thậm chí không muốn nhận lao động nữ… Như vậy, mặc dù đã đạt được những thành quả nhất định nhưng vấn đề bình đẳng về giới vẫn còn những bất cập mà chúng ta còn phải tiếp tục phấn đấu để đạt được mục tiêu bình đẳng thật sự
1.1.2.2 Thực trạng vai trò của phụ nữ nông thôn Việt Nam và một số chủ trương chính sách của nhà nước với sự phát triển của phụ nữ và bình đẳng giới
a Thực trạng của phụ nữ Việt Nam
Là một nước có nền công nghiệp chưa phát triển, Việt Nam hiện có khoảng 80% số người trong độ tuổi lao động sống ở nông thôn, trong đó phụ nữ chiếm khoảng 51,37% lao động khu vực nông thôn (Điều tra lao động việc làm Việt Nam,2010, Tổng cục thống kê) nhưng họ là nhóm người yếu thế và thiệt thòi nhất trong xã hội, không được như đội ngũ công nhân, trí thức, phụ nữ nông thôn bị hạn chế bởi trình độ nhận thức Nhưng họ lại là lực lượng chính tham gia vào hầu hết các khâu trong sản xuất nông nghiệp như: cấy lúa, nhổ mạ, chăm sóc lúa… phụ nữ có vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới
Hiện tượng tăng tương đối của lực lượng lao động nữ nông thôn trong những năm gần đây do một số nguyên nhân sau:
- Do sự gia tăng tự nhiên số người trong độ tuổi lao động, hiện nay nước ta hàng năm có khoảng 80 - 90 vạn người bước vào độ tuổi lao động, trong đó lao động nữ chiếm 55% [5]
- Do quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, sắp xếp lại cơ cấu tổ chức của các doanh nghiệp, đa số các lao động nữ ở các cơ quan, xí nghiệp bị giảm biên chế, không có việc làm phải quay về nông thôn làm việc
- Ngoài ra, trong cơ chế thị trường, do sức cạnh tranh yếu nên nhiều hợp tác xã thủ công trên địa bàn nông thôn cũng lâm vào tình trạng phá sản Kết quả là công dân chủ yếu là nữ công nhân thuộc các hợp tác xã thủ công này phải trở về nghề nông
Trang 25b Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong phát triển kinh tế hộ gia đình
Như đã tìm hiểu khái niệm về kinh tế hộ gia đình nông dân trong đó có phụ nữ tham gia vào lĩnh vực này, hay nói cách khác phụ nữ nông dân cũng thể hiện rõ vai trò của mình trong phát triển kinh tế hộ, nhất là khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa “Theo quan điểm truyền thống của các dân tộc phương Đông, phụ nữ nông dân, dù sống dưới chế độ chính trị nào đều có vai trò rất quan trọng đối với quá trình sản xuất, quản lý đời sống gia đình Ở nước ta phụ nữ nông dân là lực lượng lao động đông đảo nhất trong các lực lượng lao động, đảm nhiệm phàn lớn công việc sản xuất và đời sống ở nông thôn, có vị trí rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế hộ gia đình Nhưng do quan niệm phong kiến trọng nam khinh nữ, do tâm lý tự ti và do điều kiện khách quan rất hạn chế của nông thôn Việt Nam, lực lượng lao động đó ít được học hành và giáo dục cần thiết để đáp ứng những nhu cầu của quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn” [20] Mặc dù phụ nữ có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế hộ gian đình nhưng họ chưa được quan tâm đúng mức, nên chưa phát huy hết vai trò của mình trong quá trình phát triển kinh tế xã hội nói chung và kinh tế gia đình nói riêng
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phụ nữ được nhìn nhận là lực lượng lao động đông đảo nhất, đóng vai trò trụ cột của các hộ gia đình, trực tiếp lăn lộn với cây con - ruộng đồng - chuồng trại Trong vai trò mới chị em thực sự lúng túng, vừa phải triển khai ngay công việc sản xuất kinh doanh để đảm bảo đời sống gia đình và làm nghĩa vụ với nhà nước, lại phải vươn tới những tiến bộ mới để đạt hiệu quả cao
Khi môi trường và điều kiện cho phát triển kinh tế gia đình được mở rộng, khối lượng công việc nhiều hơn, tính chất công việc phức tạp và ngày càng đa dạng, vì vậy vai trò phụ nữ làm chủ hộ trong các gia đình nông dân cũng ngày càng gia tăng Họ là người quyết định sản xuất kinh doanh của hộ
có kết quả hay không Điều đó đòi hỏi người chủ hộ phải có tri thức, kinh
Trang 26nghiệm sản xuất, kinh doanh, biết tính toán sắp xếp kế hoạch làm ăn, tìm nguồn vốn và sử dụng vốn, biết bố trí phân công lao động trong gia đình, nhạy bén với thị trường, dự kiến được những biến động khách quan… từ đó
họ mớ có thể thực hiện tốt vai trò là người chỉ huy đối với kinh tế hộ gia đình
Phụ nữ nông dân ngày nay trong điều kiện mới có nhiều cơ hội và điều kiện để phát huy vai trò của mình trong gia đình cũng như ngoài xã hội
Thứ nhất, là cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã quan tâm đến phụ nữ trên nhiều lĩnh vực và tạo mọi điều kiện để phụ nữ phát huy vai trò của mình như đã nói ở trên, nhất là phụ nữ nông dân ở nông thôn, trước đây ít được học tập và nâng cao trình độ dân trí, chuyên môn thì nay đã được tạo điều kiện nâng cao trình độ về mọi mặt, khuyến khích học tập và thu hút nguồn nhân lực mới đầu tư phát triển kinh tế xã hội cho đất nước
Thứ hai, trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình nông dân nói chung
và phụ nữ nông dân nói riêng hiện nay phần lớn do phụ nữ làm chủ Bởi vì từ
xa xưa phụ nữ sớm đã có được vị trí, vai trò người quản lý, người cầm chìa khóa về chi tiêu tài chính cho gia đình, hay nói cách khác phụ nữ nông dân đều được người mẹ trong gia đình giáo dục từ bé đã quen với vai trò chăm lo cho cuộc sống gia đình, nội trợ Cho đến nay vai trò ấy vẫn tiếp tục phát huy tác dụng nhất là phụ nữ nông dân trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình Theo đánh giá của Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam: “ Mặc dù chịu ảnh hưởng thường xuyên của biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, nhưng chị em đã vượt qua khó khăn, thi đua sản xuất, mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mở rộng ngành nghề, góp phần quan trọng vào phát triển nông nghiệp, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, giữ vững vị trí là nước
có kim ngạch xuất khẩu nông sản cao, đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, ổn định đất nước [9]
- Trong lao động sản xuất: phụ nữ là người phần lớn làm ra lương thực, thực phẩm tiêu dùng cho gia đình
Trang 27- Đảm nhận chức năng làm mẹ, làm vợ, là người chăm sóc cho cuộc sống của gia đình
- Trong sinh hoạt cộng đồng: phụ nữ tham gia hầu hết các hoạt động tại địa phương
c Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn
Phụ nữ luôn là người đống vai trò then chốt trong gia đình về khả năng sản xuất và tái sản xuất Sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã đem lại cho xã hội nguồn nhân lực, trí lực dồi dào và ngày càng phát triển Vai trò của phụ nữ trong sự phát triển kinh tế nông thôn thể hiện như sau:
- Trong lao động sản xuất: phụ nữ là người làm ra phần lớn lương thực, thực phẩm tiêu dùng cho gia đình Đặc biệt các hộ nghèo sinh sống chủ yếu dựa vào kết quả làm việc của phụ nữ
- Ngoài việc tham gia vào lao động sản xuất đóng góp thu nhập cho gia đình, phụ nữ còn đảm nhận chức năng làm vợ, làm mẹ Họ phải làm hầu hết các công việc nội trợ chăm sóc con cái, các công việc này rất quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của gia đình và xã hội
1.3 Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn tỉnh Thái Nguyên
1.3.1 Nữ trong các nhóm tuổi và tham gia sinh hoạt Hội đoàn thể
Bảng 1.1 Nữ trong các nhóm tuổi từ năm 2012 - 2014 tỉnh Thái Nguyên
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2012, 2013, 2014
Qua bảng trên ta thấy, nữ trong độ tuổi lao động phần lớn tập trung trong nhóm tuổi từ 15 - 44 (chiếm 50,8% tổng nữ trong độ tuổi lao động) và giảm
Trang 28dần đến nhóm tuổi 46 - 55 tuổi Đây là nhóm tuổi là lao động chính trong các
hộ gia đình và cũng là nhóm tuổi đang ở độ tuổi sinh sản Lao động chính trong nhóm tuổi từ 15 - 24 chiếm tỷ trọng cao (gần 20%) Đây là lượng lao động trẻ nhưng thường thiếu kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh, thiếu kiến thức về xã hội, trong đó quan trọng là kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản nên đã ảnh hưởng không nhỏ tới thu nhập và chất lượng cuộc sống của các hộ gia đình
Bảng 1.2: Phụ nữ trong độ tuổi tham gia sinh hoạt đoàn thể
tỉnh Thái Nguyên năm 2014
Phụ nữ là hội viên các hội, đoàn thể
Tổng số Thanh
niên Phụ nữ
Nông dân
Cựu chiến binh
CNVC
TP.T/Nguyên 62710 61350 117.953 35212 51659 9056 1959 20067
TX S/Công 12399 14093 24.979 5163 12019 2898 181 4718 Đồng Hỷ 27430 28150 43.773 5807 23.196 7380 499 6891 Đại Từ 44794 37358 55.860 8990 29.870 13097 388 3515
Võ Nhai 16154 16325 23.349 4595 11775 4980 127 1872 Phổ Yên 35131 35240 52.053 6391 30613 10500 593 3956 Phú Lương 28173 23929 36.349 4735 18526 8795 214 4079 Phú Bình 34852 40025 49.992 5456 28826 11133 172 4405 Định Hóa 24147 23118 32.424 4892 18416 7434 238 1444 Cộng 285.790 279.588 436.732 81241 224.900 75273 4371 50947
Nguồn: Số liệu thống kê Ban Dân vận tỉnh ủy năm 2014
Nhằm thu hút phụ nữ trong độ tuổi tham gia sinh hoạt hội theo Đề án
số 01 về nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức đoàn thể của Tỉnh ủy, với phương châm “Nơi nào có tổ chức Hội, thì nơi đó có phụ nữ tham gia cùng sinh hoạt” chính vì vậy trong những năm qua các tổ chức đoàn thể và các Hội đã nỗ lực trong việc thu hút phụ nữ vào sinh hoạt, bằng việc đề ra
Trang 29những giải pháp cụ thể thiết thực nhằm thu hút phụ nữ tự nguyện tham gia, với nhiều hình thức khác nhau như cho vay vốn ưu đãi, vay phân bón trả chậm, hỗ trợ cây con giống, tập huấn kiến thức khoa học kỹ thuật, kiến thức quản lý kinh tế hộ gia đình… đã thu được kết quả đáng ghi nhận
Qua bảng 1.2 cho thấy số phụ nữ tham gia sinh hoạt các tổ chức đoàn thể và Hội ngày càng nhiều, tỷ lệ phụ nữ tham gia từ 2 tổ chức trở lên chiếm 56%; số phụ nữ tham gia sinh hoạt Hội phụ nữ chiếm tỷ lệ 51,5%, tiếp đến là Đoàn thanh niên chiếm 18,6%; Hội nông dân chiếm 17% Đây là những tổ chức hội đoàn thể có nhiều chương trình hỗ trợ phụ nữ trong phát triển kinh
tế, xây dựng gia đình “no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” nên ngày càng được đông đảo chị em phụ nữ quan tâm hưởng ứng các phong trào và tham gia sinh hoạt hội
1.1.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế
* Những quan điểm về giới, những phong tục tập quán ở Việt Nam và một số nước Á Đông
- Phụ nữ phải lo việc gia đình, con cái Dù làm bất kì công việc gì, thì việc nội trợ vẫn là trách nhiệm của họ, đây là một quan niệm ngự trị ở nước ta từ nhiều năm nay Sự tồn tại những hủ tục lạc hậu, trọng nam khinh nữ đã kìm hãm tài năng sáng tạo của phụ nữ, hạn chế sự cống hiến của họ cho xã hội và cho gia đình Việc mang thai, sinh đẻ, nuôi dưỡng con nhỏ và làm nội trợ gia đình đè nặng lên đôi vai người phụ nữ Đây là trở ngại lớn cho họ tập trung sức lực, thời gian, trí tuệ vào sản xuất và các hoạt động chính trị, xã hội Vì vậy nhiều chị em trở nên không mạnh bạo, không năng động sáng tạo bằng nam giới và gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp xã hội Phong tục tập quán là một nguyên nhân cơ bản cản trở phụ nữ tham gia vào quá trình phát triển kinh tế [4]
* Trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật của lao động nữ còn nhiều hạn chế
Ở nông thôn, đặc biệt là miền núi phương tiện thông tin nghe in kỹ nhìn
và sách báo đến với người dân còn rất nhiều hạn chế, do vậy việc lao động nữ
Trang 30tiếp cận và nắm bắt các thông tin kỹ thuật về chăn nuôi, trồng trọt còn gặp nhiều khó khăn Ngoài thời gian lao động sản xuất, người phụ nữ giường như
ít có thời gian nghỉ ngơi hoặc thụ hưởng văn hóa tinh thần, học hỏi nâng cao
về hiểu biết kiến thức xã hội mà họ phải giành phần lớn thời gian còn lại cho công việc gia đình Do vậy, phụ nữ bị hạn chế về kỹ thuật chuyên môn và sự hiểu biết xã hội
Phụ nữ ở độ tuổi lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật là 6% còn ở nam giới tỷ lệ này là 10% [19] Theo thông báo của Liên hợp quốc thì hiện nay trên thế giới còn hơn 840 triệu người bị mù chữ, trong đó nữ giới chiếm khoảng 2/3; trong số hơn 180 triệu trẻ em không được đi học thì có tới 70% là trẻ em gái Còn ở Việt Nam, theo thống kê cho thấy tỷ lệ lao động nữ không qua đào tạo là rất cao, chiếm tới gần 90% tổng số lao động không qua đào tạo trong cả nước; chỉ có 0,63% công nhân kỹ thuật có bằng là nữ, trong khi chỉ tiêu này của nam giới là 3,46% Tỷ lệ lao động nữ có trình độ đại học và trên đại học 0,016%, tỷ lệ này ở nam giới là 0,077% (gấp 5 lần so với nữ giới) [11] Điều đó cho thấy trình độ học vấn và chuyên môn nghề nghiệp của phụ
nữ là rất thấp và thấp hơn so với nam giới
Phụ nữ bị hạn chế về kỹ thuật, chuyên môn và sự hiểu biết nên gặp không ít khó khăn trong việc nắm bắt kiến thức pháp luật, tìm nguồn vốn, tìm kiếm thị trường, khó khăn trong việc tiếp cận và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống Do vậy, hiệu quả công việc và năng suất lao động của họ thấp
* Yếu tố về sức khỏe
Phụ nữ nông thôn vừa phải lao động nặng, vừa phải thực hiện thiên chức của mình là mang thai, sinh con và cho con bú bằng bầu sữa của mình, cùng với điều kiện sinh hoạt thấp kém đã làm cho sức khỏe của họ bị giảm sút Điều này không những ảnh hưởng đến khả năng lao động mà còn làm vai trò của phụ nữ trong gia đình cũng như trong phát triển kinh tế gia đình trở nên thấp hơn
Trang 31*Khả năng tiếp nhận thông tin
Do phụ nữ phải đảm nhận một khối lượng công việc lớn nên cơ hội để
họ giao tiếp rộng rãi, tham gia hoạt động cộng đồng để nắm thông tin rất hiếm Ở nhiều vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh người dân hạn chế tiếp xúc với báo chí và các hình thức truyền tải thông tin khác
*Các yếu tố chủ quan
Nguyên nhân chủ quan do chính phụ nữ gây ra, đó chính là quan niệm lệch lạc về giới, ngay cả phụ nữ cũng có cái nhìn không đúng về những vấn
đề đó Họ cũng cho rằng, những công việc nội trợ, chăm sóc gia đình, con cái
… là việc của phụ nữ Họ tỏ ra không hài lòng về người đàn ông thạo việc bếp núc, nội trợ Trong khi họ lên tiếng đòi quyền bình đẳng thì họ vô tình ràng buộc thêm trách nhiệm cho mình Vậy nên, toàn bộ công việc gia đình, sản xuất càng đè nặng lên đôi vai phụ nữ khiến họ mệt mỏi cả về thể xác lẫn tinh thần
Ta có thể khẳng định rằng, phụ nữ có vai trò đặc biệt quan trọng trong
sự phát triển của nhân loại Song, có nhiều nguyên nhân gây cản trở sự tiến bộ của họ trong cuộc sống Các yếu tố khách quan và chủ quan đã tác động không tốt khiến cho phụ nữ đặc biệt là phụ nữ nông thôn bị lâm vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói và bất bình đẳng Vì vậy, cần phải tiến tới quyền bình đẳng đối với nữ trên toàn thế giới Bình đẳng nam nữ nhằm giải phóng sức lao động xã hội, xây dựng và củng cố thêm nền văn minh nhân loại
Trang 32Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Là phụ nữ trong các hộ gia đình nông thôn trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
- Nghiên cứu thực trạng vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
- Phân tích những yếu tố tác động đến việc nâng cao vai trò phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ
- Xây dựng giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn trong quá trình nâng cao năng lực cho phụ nữ
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu
- Tiếp cận nghiên cứu xã hội học (giới): Nhằm nghiên cứu đặc tính của giới, sự khác nhau và các yếu tố ảnh hưởng đến giới
- Tiếp cận nghiên cứu liên ngành, đa ngành: Nhằm nghiên cứu vai trò của phụ nữ trong tất cả các lĩnh vực liên quan đến đời sống xã hội và hoạt
Trang 33động sản xuất Nghiên cứu các yếu tố tác động đến vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình
- Tiếp cận nghiên cứu vi mô: Nhằm đánh giá tình hình phát triển sản xuất, kinh tế của hộ gia đình,
- Tiếp cận nghiên cứu hệ thống: Nhằm nghiên cứu vai trò của phụ nữ trong các hệ thống sản xuất của hộ gia đình
2.3.2 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu phải đại diện về các điều kiện tự nhiên, KTXH, văn hóa, môi trường… để làm rõ được vai trò của phụ nữ nông thôn trong
phát triển kinh tế hộ gia đình
Theo vị trí địa lý, địa hình, địa mạo đất đai của huyện Đại Từ, dựa trên vùng sinh thái, đồng thời căn cứ vào sự phát triển kinh tế của các vùng, tôi tiến hành lựa chọn 3 cụm xã: cụm phía Bắc, cụm xã Trung tâm và cụm phía Nam để nghiên cứu Tiếp đó, căn cứ vào đặc điểm kinh tế xã hội, tình hình sản xuất, tỷ lệ nữ làm chủ hộ, tỷ lệ nữ tham gia quản lý sản xuất của hộ, tham gia lãnh đạo chính quyền đoàn thể của địa phương, tham gia hoạt động cộng đồng, tôi lựa chọn 3 xã đại diện cho từng cụm xã để điều tra, gồm:
- Chọn hộ nghiên cứu: Hộ nghiên cứu phải nằm trong các xã đã được chọn, đồng thời mang tính đại diện cho các hộ trong vùng Chọn ngẫu nhiên
150 hộ đại diện cho huyện Đại Từ
Từ danh sách các hộ gia đình, chọn ngẫu nhiên với số hộ tương ứng là: + Xã Quân Chu là xã nằm ở khu vực phía Nam huyện Đại Từ, có điều kiện phát triển kinh tế ở mức trung bình: 50 hộ
+ Xã Minh Tiến là xã nằm ở khu vực phía Tây huyện Đại Từ, có điều kiện phát triển kinh tế mức thấp: 50 hộ
+ Xã Cù Vân là xã nằm ở khu vực phía Đông huyện Đại Từ, tiếp giáp với thành phố Thái Nguyên và có điều kiện phát triển kinh tế ở mức khá: 50 hộ
Trang 34- Thu thập tình hình của hộ bằng phiếu điều tra xây dựng trước
- Sau khi xác định được số lượng mẫu cần điều tra và địa điểm điều tra, bước tiếp theo là xây dựng phiếu điều tra thông tin của các hộ điều tra
- Thu thập tình hình của hộ bằng phiếu điều tra xây dựng trước Qua phiếu điều tra này sẽ cho phép thu thập được các thông tin định tính và định lượng về vấn đề liên quan đến vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình
2.3.3 Phương pháp thu thập số liệu
2.3.3.1 Số liệu thứ cấp
* Nguồn số liệu thứ cấp
- Số liệu thống kê của các bộ, ngành có liên quan
- Sở Lao động - TBXH, Sở NN & PTNT tỉnh Thái Nguyên
- Báo cáo tổng kết của UBND huyện, Báo cáo tổng kết các hoạt động của Hội Liên hiệp phụ nữ, Báo cáo thống kê của ban địa chính … của huyện Đại Từ
- Ban vì tiến bộ của phụ nữ, Hội phụ nữ tỉnh Thái Nguyên
- Phòng thống kê, phòng LĐ-TBXH huyện Đại Từ
- Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ, Hội phụ nữ huyện Đại Từ
- Văn phòng UBND-HĐND huyện, Huyện uỷ, Ban Dân vận, Ban Tổ chức Huyện uỷ
- Một số sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình
* Phương pháp thu thập: Qua việc ghi chép, thống kê các dữ liệu cần
thiết cho đề tài với một số chỉ tiêu được chuẩn bị sẵn
2.3.3.2 Số liệu sơ cấp
* Nguồn số liệu sơ cấp: Trên cơ sở các mẫu điều tra 150 hộ đã chọn, Phương pháp phỏng vấn trực tiếp thông qua bảng câu hỏi: Thu thập các số liệu bằng hệ thống các câu hỏi để hộ trả lời
Trang 35Nội dung các câu hỏi phục vụ cho đề tài nghiên cứu được thiết kế theo các nhóm thông tin sau:
1 Nhóm thông tin chung về hộ gia đình
2 Nhóm thông tin về điều kiện sản xuất kinh doanh của hộ
3 Nhóm thông tin về các nguồn thu nhập, nguồn vốn vay của hộ
4 Nhóm thông tin về vai trò phụ nữ trong hoạt động sản xuất
5 Nhóm thông tin về vai trò phụ nữ trong hoạt động tái sản xuất và hoạt động cộng đồng
6 Nhóm thông tin về tiếp cận thông tin của phụ nữ
7 Nhóm thông tin về người ra quyết định chính trong các hoạt động
8 Nhóm thông tin về sử dụng quỹ thời gian, sức khỏe của phụ nữ và gia đinh
9 Nhóm thông tin về một số ý kiến về quan điểm giới
* Phương pháp PRA: Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia
của người dân Tại đề tài này dự kiến sẽ sử dụng phương pháp phỏng vấn nhóm, phỏng vấn những người cung cấp thông tin chủ chốt để tìm hiểu những quan điểm, nhận định liên quan đến giới và những khó khăn, thuận lợi, giải pháp nâng cao vai trò của giới trong phát triển kinh tế hộ gia đình và địa phương Phương pháp này cho phép chúng tôi có sự đánh giá khách quan về
hộ gia đình và tình hình kinh tế xã hội của địa phương
2.3.4 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu
2.3.4.1 Phương pháp xử lý số liệu
Sau khi thu thập được các thông tin, tiến hành xử lý và phân tích thông tin tại phần mềm Excel
2.3.4.2 Phương pháp phân tổ thống kê
Được sử dụng để phân loại lao động theo ngành nghề, văn hoá , phân loại các dữ liệu theo xã
Trang 362.3.4.3 Phương pháp thống kê mô tả và so sánh
Có được các chỉ tiêu nghiên cứu tổng hợp thành các bảng số liệu, chúng tôi so sánh bằng các chỉ số khác nhau để thấy được có sự khác nhau về
tư liệu sản xuất, thu nhập, tiêu dùng giữa các nhóm hộ, xã
2.3.4.4 Phương pháp phân tích SWOT
Để phân tích các yếu tố thuận lợi và cản trở việc nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn địa bàn nghiên cứu
Trang 37Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội huyện Đại Từ
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Đại Từ là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên Có diện tích tự nhiên là 57417,14 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp: 148661,9 ha (chiếm 32,5 %), đất lâm nghiệp: 277735,3 ha (chiếm 48,3 %) Dân số toàn huyện năm 2014 là 161.789 người, có gần 37.000 hộ sản xuất nông nghiệp
a Vị trí địa lý
Đại Từ là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, cách thành phố Thái Nguyên 25km, có tổng diện tích đất tự nhiên: 57417,14 ha Với có toạ độ địa lý: 21° 30’ đến 21° 50’ độ vĩ Bắc, 105° 32’ đến 105° 42’ độ Kinh đông
-Phía Tây giáp Tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Phú Thọ
-Phía Đông giáp huyện Phú Lương và thành phố Thái Nguyên
- Phía Bắc giáp huyện Định Hoá
Huyện Đại Từ nằm kề với thành phố Thái Nguyên Với vị trí địa lý, giao thông thuận lợi, huyện Đại Từ có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa Do năm gần trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế của Tỉnh nên huyện Đại Từ sẽ là địa bàn quan trọng để phát triển mạnh các khu công nghiệp, điểm xây dựng các khu dân cư tập trung, khu hành chính, khu
du lịch… góp phần tăng trưởng kinh tế xã hội cho Huyện, tạo tiền đề thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài
Trang 38a Đặc điểm địa hình
Do vị trí địa lý của Huyện, Đại Từ được bao bọc xung quanh bởi dãy núi:
- Phía Tây và Tây Nam có dãy núi Tam đảo ngăn cách giữa Huyện và tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, độ cao từ 300 - 600m
- Phía Bắc có dãy Núi Hồng và Núi Chúa
- Phía Đông là dãy núi Pháo cao bình quân 150 - 300 m
Trang 39- Phía Nam là dãy núi Thằn Lằn thấp dần từ bắc xuống nam
Đại Từ là huyện có địa hình tương đối phức tạp thể hiện đặc trưng của vùng trung du miền núi Đông Bắc, địa hình có thể chia làm 3 vùng khác nhau:
+ Vùng I: là vùng địa hình của dãy Tam Đảo
+ Vùng II: là vùng của dãy núi thấp có độ cao: 150 - 300m
+ Vùng III: là vùng thung lũng hẹp song song với dãy Tam Đảo Tổng diện tích của huyện theo cấp độ cao tuyệt đối và độ dốc được thể hiện ở bảng 3.1
Bảng 3.1: Diện tích của huyện theo cấp độ cao tuyệt đối và độ dốc
STT Độ cao tuyệt
đối (m)
Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
Độ dốc
(độ)
Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Báo cáo diện tích của huyện trong báo cáo KTXH huyện Đại Từ)
c Đặc điểm khí hậu, thủy văn
* Khí hậu thời tiết
+ Khí hậu chia hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau
- Khí hậu nhiệt độ trung bình năm: 22.9°C
- Nhiệt độ cao nhất trung bình năm: 27.2°C
- Nhiệt độ thấp nhất trung bình năm: 20.0°C - Lượng mưa trung bình năm: 1 872mm/năm
Trang 40suối, khe như suối La Bằng, Quân Chu, Cát Nê v.v cũng là nguồn nước quan trong cho đời sống và trong sản xuất của Huyện.
- Hồ đập: Hồ núi Cốc lớn nhất Tỉnh với diện tích mặt nước 769 ha, vừa
là địa điểm du lịch nổi tiếng, vừa là nơi cung cấp nước cho các Huyện Phổ Yên, Phú Bình, Sông Công, Thành phố Thái Nguyên và một phần cho tỉnh Bắc Giang Ngoài ra còn có các hồ: Phượng Hoàng, Đoàn Uỷ, Vai Miếu, Đập Minh Tiến, Phú Xuyên, Na Mao, Lục Ba, Đức Lương với dung lượng nước tưới bình quân từ 40 - 50 ha mỗi đập và từ 180 - 500 ha mỗi Hồ
- Thuỷ văn: Do ảnh hưởng của vị trí địa lý, đặc biệt là các dãy núi bao bọc Đại Từ thường có lượng mưa lớn nhất Tỉnh, trung bình lượng mưa hàng năm từ 1.800mm - 2.000mm rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông lâm nghiệp của Huyện (đặc biệt là cây chè)
+ Hệ thống thuỷ văn và hệ thống nước Huyện Đại Từ là huyện có điều kiện thuỷ văn rất thuận lợi: Sông Công chảy qua huyện có chiều dài 24km,
Hồ Núi Cốc có diện tích 25 km2 Ngoài ra trên dịa bàn huyện còn có các con suối như: La Bằng, Quân Chu, Cát Nê, Phục Linh, Ký Phú, Văn Yên, Mỹ Yên, Hoàng Nông là nguồn cung cấp nước quan trọng trong việc cung cấp nước để tưới tiêu và nước sinh hoạt cho nhân dân
d Tình hình phân bổ, sử dụng đất
Đại Từ là huyện có diện tích đứng thứ hai của tỉnh, theo số liệu thống kê của huyện năm 2014, tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 57.417,14 ha
Phân theo địa giới hành chính thì diện tích lớn nhất thuộc về xã Yên Lãng là 3881,91 ha chiếm 6,761%, đơn vị có diện tích đất thấp là xã Vạn Thọ gồm 855,29 ha chiếm 1.49 % tổng diện tích trong toàn huyện, có 18 xã có diện tích đất tự nhiên dưới 2.000 ha và 12 đơn vị có diện tích trên 2.000 ha