VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAMHỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ---NGUYỄN ĐỖ HƯƠNG GIANG Tên đề tài luận án: VAI TRÕ CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC SÁN DÌU TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH VÙNG Đ
Trang 1Hà Nội, 2018
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-NGUYỄN ĐỖ HƯƠNG GIANG
Tên đề tài luận án:
VAI TRÕ CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC SÁN DÌU TRONG PHÁT TRIỂN
KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM
(Nghiên cứu trường hợp tỉnh Thái Nguyên)
LUẬN ÁN TIẾN SỸ XÃ HỘI HỌC
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-NGUYỄN ĐỖ HƯƠNG GIANG
Tên đề tài luận án:
VAI TRÕ CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC SÁN DÌU TRONG PHÁT TRIỂN
KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM
(Nghiên cứu trường hợp tỉnh Thái Nguyên)
Ngành, chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 9.31.03.01
LUẬN ÁN TIẾN SỸ XÃ HỘI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS TÔ DUY HỢP
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận án
Nguyễn Đỗ Hương Giang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian chuẩn bị, làm việc khẩn trương,nghiêm túc luận án “Vai trò của phụ nữ dân tộc Sán Dìu trong phát triển kinh tế hộ gia đình vùng Đông Bắc Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp tỉnh Thái Nguyên)”đã hoàn thành Để hoàn thành luận
án, tôi đã được sự chỉ bảo tận tình, chu đáo của GS.TS Tô Duy Hợp Thầy đã cho tôi những gợi ý ban đầu trong quá trình hình thành các ý tưởng nghiên cứu liên quan đến luận án, trong suốt quá trình làm luận án cũng như những khó khăn vướng mắc về chuyên môn trong suốt 6 năm qua Tôi muốn gửi tới Thầy lời cảm ơn chân thành nhất Thầy đã tạo cảm hứng say mê khoa học, nghiêm túc và cẩn thận cho tôi làm động lực hướng tới trong công việc giảng dạy hiện nay và tương lai.
Tôi nhận được sự góp ý về chuyên môn, học thuật về nội dung nghiên cứu của luận án từ các thầy cô trong Hội đồng các chuyên đề, Hội đồng cấp cơ sở, các thầy cô là phản biện độc lập và hỗ trợ đầy trách nhiệm của cán bộ thuộc Khoa Xã hội học - Học viện Khoa học Xã hội Nếu không có sự giúp đỡ nhiệt tình của họ, tôi khó có thể hoàn thiện luận án Nhân đây, tôi cũng muốn bày tỏ lời cảm ơn tới các thầy, cô ở khoa Xã hội học, trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn và các thầy, cô ở khoa Xã hội học, Học viện khoa học xã hội Việt Nam đã giúp tôi về mặt kiến thức cũng như những định hướng về nghề nghiệp khi tôi ở giảng đường Đại học đến khi tôi làm nghiên cứu sinh.
Có được thuận lợi trong quá trình làm luận án này, tôi cũng được Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, ban lãnh đạo và các đồng nghiệp ở khoa Khoa học cơ bản và các bạn bè, đồng nghiệp - những người đã tạo điều kiện và luôn động viên, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành luận án Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô và bạn bè, đồng nghiệp.
Để có được công trình này tôi không thể quên sự giúp đỡ tận tình của các cán bộ địa phương, người dân ở các xã Hóa Trung và Nam Hòa huyện Đồng Hỷ, Phúc Thuận huyện Phổ Yên; Sơn Cẩm huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên trong thời gian chúng tôi đi thực địa Những chia sẻ rất thật tâm và tình cảm của họ là những tư liệu vô cùng quý đối với tôi.
Sau cùng, trong thời gian gấp rút làm luận án, bố mẹ hai bên cùng chồng tôi
đã giúp tôi chăm sóc hai con nhỏ của mình và công việc gia đình Tôi xin cảm ơn những người vô cùng quan trọng đối với cuộc đời mình, là các con, bố mẹ và các thành viên trong gia đình Họ luôn là động lực lớn để tôi hoàn thành luận án này Tôi muốn gửi tới tất cả những người thân bên mình lời cảm ơn sâu sắc nhất!
Thái Nguyên,
2018 Nguyễn Đỗ Hương Giang
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa Lời
cam đoan Lời cảm
ơn Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt Danh
mục các bảng
Danh mục các hộp thông tin Danh
mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 14
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 14
1.1.Các công trình nghiên cứu về phụ nữ và vấn đề giới . 14
1.2.Nghiên cứu về phân công lao động trong gia đình giữa hai giới . 18
1.3. Nghiên cứu về tương quan giới trong tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực trong xã
hội 26
1.4.Nghiên cứu về sự thay đổi địa vị và vai trò của người phụ nữ trong gia đình 29
1.5.Nghiên cứu về dân tộc Sán Dìu . 40
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHUNG PHÂN TÍCH CỦA ĐỀ TÀI 54
2.1.Các khái niệm then chốt của luận án . 54
2.2.Một số quan điểm lý thuyết được vận dụng . 64
2.3.Khung phân tích của luận án . 73
CHƯƠNG 3 VAI TRÕ CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC SÁN DÌU TRONG PHÁT TRIỂN
KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN 75
3.1. Vai trò sản xuất của Phụ nữ Sán Dìu trong phát triển kinh tế hộ gia đình . 76
3.2. Vai trò của phụ nữ Sán Dìu trong hoạt động tái sản xuất phát triển kinh tế hộ gia
đình . 91
3.3. Vai trò của Phụ nữ Sán Dìu trong quản lý kinh tế hộ gia đình . 97
CHƯƠNG 4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VAI TRÕ CỦA PHỤ NỮ SÁN DÌU
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH Ở THÁI NGUYÊN 107
4.1.Những yếu tố khách quan . 107
4.2.Những yếu tố thuộc về bản thân phụ nữ . 126
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 146
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 150
TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
PHẦN PHỤ LỤC 166
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Thông tin chung về các nhóm hộ điều tra 10
Bảng 1.2: Phân bố các dân tộc tỉnh Thái Nguyên năm 2015 45
Bảng 3.1: Người làm công việc chính trong hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp .78Bảng 3.2: Người thực hiện các khâu trong chăn nuôi gia s c, gia cầm của các hộđiều tra 84
Bảng 3.3: Người thực hiện các khâu trong hoạt động tiểu thủ công nghiệp, buôn bándịch vụ của các hộ điều tra 86
Bảng 3.4 Tương quan giữa nghề nghiệp với thu nhập hàng tháng của người Sán Dìu ở
Thái Nguyên 89
Bảng 3.5: Tương quan giữa nhóm tuổi người trả lời và quyền quyết định công việctrong gia đình người Sán Dìu ở Thái Nguyên 101
Bảng 4.1: Mối liên hệ giữa định kiến giới và hậu quả 110
Bảng 4.2: Tương quan giữa trình độ học vấn và việc làm của chủ hộ 127
Bảng 4.3: Nhu cầu của các hộ gia đình Sán Dìu 138
trong sản xuất phát triển kinh tế hộ gia đình 138
Bảng 4.4: Độ tin cậy của thang đo về vai trò của phụ nữ Sán Dìu trong phát triểnkinh tế hộ gia đình ở Thái Nguyên (Cronbach‟s Alpha) 139
Bảng 4.5: Thời gian làm việc của phụ nữ và nam giới Sán Dìu trong ngày 141
Trang 7DANH MỤC CÁC HỘP THÔNG TIN
Hộp 3.1 Phân công công việc trong gia đình người Sán Dìu ở Thái Nguyên 79
Hộp 3.2 Hiện trạng chăn nuôi ở huyện Đồng Hỷ 82
Hộp 3.3 Hiệu quả từ dịch vụ buôn bán tại địa phương 87
Hộp 3.4 Quyền quyết định của các thành viên trong gia đình Sán Dìu 102
Hộp 4.1 Công việc của Phụ nữ và Nam giới Sán Dìu ở Thái Nguyên 109
Hộp 4.2 Phụ nữ cần phải làm gì? 113
Hộp 4.3: Những hỗ trợ của Hội phụ nữ tỉnh Thái Nguyên dành cho phụ nữ pháttriển kinh tế, giảm nghèo bền vững 115
Hộp 4.4 Ai được chọn để đi tập huấn nâng cao trình độ? 131
Hộp 4.5 Quan niệm truyền thống về phụ nữ Sán Dìu 132
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Đối tượng thực hiện chính trong vai trò tái sản xuất 93Biểu đồ 3.2 : Người ra quyết định các công việc trong gia đình người Sán Dìu 98Biểu đồ 4.1 : Quan niệm của người dân về tầm quan trọng của chính sách xã hội tạiđịa phương 118
Biểu đồ 4.2 : Đánh giá về hiệu quả hoạt động của các tổ chức xã hội 119Biểu đồ 4.3 : Nhu cầu được vay vốn của các hộ gia đình (%) 123Biểu đồ 4.4 : Tương quan giữa trình độ học vấn và nơi làm việc của người trả lời 128 Biểu đồ 4.5 : Người tham gia các hoạt động cộng đồng của người Sán Dìu ở Thái Nguyên 134Biểu đồ 4.6: Đánh giá của cộng đồng về sự gi p đỡ của các tổ chức xã hội tại địaphương 135
Trang 9Ngân hàng CSXH : Ngân hàng chính sách xã hội
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việc giải phóng phụ nữ, nâng cao vị thế của phụ nữ, thực hiện “nam nữ bình quyền” là
một trong những mục tiêu đấu tranh cơ bản của sự nghiệp cách mạng xã hội Việc phụ nữ thamgia vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội là tất yếu của lịch sử phát triển con người và xã hội
Chiến lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam thời kì 2011- 2020 của Đảng và Nhà nước ta
đã ch trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho vùng dân tộc thiểu số và miền n i.Nhà nước cần triển khai kế hoạch, biện pháp giải quyết hiệu quả những vấn đề vừa cấp bách,vừa lâu dài của nguồn nhân lực, tạo một chuyển biến thật sự mạnh mẽ trong việc khai thác, đàotạo, sử dụng từ nguồn nhân lực một cách đ ng đắn và phù hợp Vai trò quan trọng của nguồnnhân lực là phụ nữ trong việc phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền n i làkhông thể phủ nhận [31] Việc tăng cường sự tham gia của phụ nữ, th c đẩy tiềm năng kinh tếcủa phụ nữ trong bối cảnh thế giới đang thay đổi là mục tiêu hướng tới vì sự tiến bộ về kinh tế
- xã hội của phụ nữ và bình đẳng giới của khu vực Nhận định phụ nữ có vai trò, đóng gópquan trọng trong phát triển kinh tế cũng như góp phần đưa ra cách tiếp cận bình đẳng về kinh
tế, lao động, việc làm cho cả phụ nữ và nam giới ở Việt Nam hiện nay
Hiện nay, phụ nữ Việt Nam góp một phần rất lớn vào quá trình phát triển của đấtnước, thể hiện ở số lao động nữ nông thôn chiếm tỉ lệ cao 76.5% trong lực lượng lao động,đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất nông – lâm – thủy sản Họ đóng vai trò hết sức quan trọng đốivới sự phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện nay Trong nhóm lao động gia đình, lao động nữvẫn chiếm vai trò chủ đạo (chiếm 66.6%) Tỷ trọng lao động tự làm và lao động gia đìnhchiếm tới 56.0%, cao gần gấp rưỡi so với tỷ trọng người làm công ăn lương Đáng ch ý, tỷtrọng lao động tự làm và lao động gia đình của nữ cao hơn nam 12,4 điểm phần trăm [143].Nhờ kết quả của các nghiên cứu xã hội học, kinh tế học, chính trị học, văn hóa học, nhânhọc trong những năm qua, ch ng ta thấy nhu cầu thực sự cấp thiết của việc nghiên cứu vềvai trò của phụ nữ trong quá trình tham gia phát triển kinh tế hộ gia đình nhằm xóa đói giảmnghèo nhanh và bền vững ở nông thôn Việt Nam hiện nay, đặc biệt là nhóm phụ nữ dân tộcthiểu số
Theo Báo cáo điều tra lao động và việc làm năm 2016 của Tổng cục thống
kê, tỷ lệ hộ nghèo theo thu nhập đã giảm từ 7,0% năm 2015 xuống còn 5,8% năm
Trang 112016, trong đó thành thị giảm từ 2,5% xuống còn 2,0% và nông thôn giảm từ 9,2% xuốngcòn 7,5% Năm 2016, Trung du và miền n i phía Bắc vẫn tiếp tục là vùng có tỷ lệ hộ nghèocao nhất cả nước (13,8%); tiếp đến là vùng Tây Nguyên (9,1%); Bắc Trung Bộ và duyên hảimiền Trung (8,0%); đồng bằng sông Cửu Long 5,2%; Đồng bằng sông Hồng (2,4%) vàĐông Nam Bộ là vùng có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất cả nước (0,6%) Theo Bộ LĐ-TBXH, cảnước có hơn 2,31 triệu hộ nghèo (chiếm tỉ lệ 9,79% so với tổng số hộ dân cư trên toànquốc) và hơn 1,24 triệu hộ cận nghèo (chiếm tỉ lệ 5,27%) theo chuẩn nghèo đa chiều giaiđoạn 2016 - 2020 Theo kết quả điều tra, khu vực miền n i miền n i Đông Bắc có tỷ lệ hộnghèo 20,74%, trong đó Thái Nguyên là tỉnh có tỉ lệ hộ nghèo là 13.4% [143].
Thái Nguyên là tỉnh miền n i có 09 đơn vị hành chính cấp huyện (06 huyện, 02 thànhphố, 01 thị xã trong đó có 04 huyện miền n i và 01 huyện vùng cao); 18 xã, phường, thị trấn,trong đó có 124 xã, thị trấn miền n i vùng cao (25 xã khu vực I, 63 xã khu vực II, 36 xã khuvực III) và 542 xóm đặc biệt khó khăn Tổng diện tích tự nhiên hơn 3.500 km2 (trong đó địabàn vùng n i chiếm khoảng 90% diện tích cả cả tỉnh), dân số hơn 1.2 triệu người với nhiều dântộc cùng sinh sống, trong đó có 8 dân tộc có dân số trên 2000 người là: Kinh, Tày, Nùng, SánDìu, Sán Chay, Dao, H‟mông, Hoa Đồng bào các dân tộc thiểu số chiếm 27% dân số toàntỉnh, sinh sống tập trung chủ yếu ở 05 huyện miền n i, vùng cao là Định Hóa, Võ Nhai, PhLương, Đồng Hỷ, Đại Từ Thái Nguyên là tỉnh có đông người Sán Dìu nhất ở nước ta(30.06%) Năm 2015, với 50.599 người (3,92%) họ đứng ở vị trí thứ 4 trong các dân tộc củatỉnh và có mặt ở tất cả các huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Thái Nguyên [36]
Nghiên cứu “Vai trò của phụ nữ dân tộc Sán Dìu trong phát triển kinh tế hộ gia đình
vùng Đông Bắc Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp tỉnh Thái Nguyên)” cho thấy thực trạng vai
trò của phụ nữ dân tộc Sán Dìu cùng sự tác động của các yếu tố chủ quan và khách quan đến vịtrí, vai trò của họ trong gia đình và ngoài xã hội; xác định khả năng của người phụ nữ nóichung và phụ nữ dân tộc Sán Dìu ở địa phương nói riêng trong phát triển kinh tế và hoạt động
xã hội Việc tìm ra những giải pháp để nâng cao vai trò của lao động nữ nói chung và của laođộng nữ dân tộc Sán Dìu nói riêng trong xóa đói giảm nghèo là một tất yếu khách quan choviệc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, một yêu cầu không thể thiếu trong quá trình tăngcường hội nhập, đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước
Trang 122 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
+ Mục đích chung: Đề tài nhằm tìm hiểu làm sáng tỏ vai trò của Phụ nữ dân tộc SánDìu trong quá trình phát triển kinh tế hộ gia đình nông thôn tỉnh Thái Nguyên thông qua quátrình phân công lao động gia đình, trong mối liên hệ với quyền quyết định của phụ nữ Sán Dìutrong phát triển kinh tế hộ gia đình hiện nay
+ Mục đích cụ thể:
(1)- Đánh giá thực trạng vai trò của Phụ nữ Sán Dìu ở tỉnh Thái Nguyên trong quá trìnhphát triển kinh tế hộ gia đình thông qua sự phân công lao động của nam giới và nữ giới trongsản xuất, quyền quyết định trong phát triển kinh tế hộ gia đình của phụ nữ dân tộc Sán Dìu tạiTỉnh Thái Nguyên
(2)- Làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ dân tộc Sán Dìu ở tỉnh TháiNguyên trong quá trình phát triển kinh tế hộ gia đình
(3)- Đề xuất các giải pháp cơ bản, khả thi về mặt lý luận – khoa học, khả dụng về mặtthực tiễn – đời sống để tăng cường vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đìnhtrong giai đoạn hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài tập trung thực hiện những nhiệm
vụ chủ yếu sau đây:
2.2.1 Làm rõ một số khái niệm then chốt như: “vai trò”, “phụ nữ”, “dân tộc thiểu số”, “dân tộc Sán Dìu”, “kinh tế hộ”, “gia đình”, “vùng Đông Bắc”, “Thái Nguyên”.
2.2.2 Tổng quan tài liệu có liên quan đến đề tài luận án, qua đó làm rõ lý do
nghiên cứu đề tài này, những thành tựu có thể kế thừa và những điểm cần bổ sung
2.2.3 Lựa chọn cách tiếp cận và các quan điểm lý thuyết thích hợp với chủ
đề/vấn đề nghiên cứu Đặt ra các câu hỏi nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu phùhợp Xây dựng khung phân tích, sơ đồ tương quan giữa các biến số Xây dựng công cụkhảo sát, điều tra XHH chọn mẫu tại địa phương
2.2.4 Tiến hành khảo sát điều tra xã hội học tại 3 huyện Đồng Hỷ, Phổ Yên, Ph
Lương thuộc tỉnh Thái Nguyên nhằm thu thập thông tin sơ cấp về thực trạng vai trò củaphụ nữ dân tộc Sán Dìu trong phát triển kinh tế hộ gia đình nhằm xóa đói giảm nghèo
Trang 13và phát triển bền vững Làm rõ những yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia và khả năngđóng
Trang 14góp của phụ nữ dân tộc Sán Dìu tỉnh Thái Nguyên trong quá trình tham gia phát triển kinh tế
hộ gia đình, xóa đói giảm nghèo nhanh và bền vững
2.2.4 Xây dựng luận cứ khoa học xã hội học cho các quan điểm định hướng và giảipháp cơ bản nhằm huy phát huy vai trò, tăng cường nguồn lực tại chỗ - người phụ nữ dân tộcSán Dìu để góp phần phát triển kinh tế hộ gia đình; phát huy hiệu quả các chương trình lồngghép phát triển kinh tế - xã hội với chiến lược giảm nghèo bền vững của chính quyền địaphương
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Vai trò phụ nữ dân tộc Sán Dìu trong phát triển kinh
tế hộ gia đình
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Vai trò sản xuất, tái sản xuất và quyền quyếtđịnh cùng các yếu tố ảnh hưởng đến phụ nữ Sán Dìu trong phát triển kinh tế hộ giađình qua trường hợp tỉnh Thái Nguyên
- Phạm vi khách thể nghiên cứu: Lao động đại diện hộ gia đình người Sán Dìutại một số xã thuộc huyện Đồng Hỷ, Phổ Yên và Ph Lương tỉnh Thái Nguyên; cán bộquản lý xã, huyện và ban ngành tỉnh Thái Nguyên
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
1/ Thực trạng vai trò của phụ nữ dân tộc Sán Dìu tham gia phát triển kinh tế hộ gia đìnhtại tỉnh Thái Nguyên đang diễn ra như thế nào?
2/ Những yếu tố nào tác động đến vai trò của phụ nữ dân tộc Sán Dìu trong phát triểnkinh tế hộ gia đình nhằm xóa đói giảm nghèo nhanh và bền vững?
3/ Giải pháp nào để phát huy và nâng cao vai trò của lao động nữ nói chung và lao động
nữ dân tộc Sán Dìu nói riêng trong phát triển kinh tế hộ gia đình để xóa đói giảm nghèo nhanh
và bền vững ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay?
4.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Phụ nữ dân tộc Sán Dìu là người chịu trách nhiệm chính trong các hoạt độngsản xuất nông lâm nghiệp cũng như công việc nội trợ, nuôi dạy và chăm sóc con cái.Tuy nhiên họ lại là người không có quyền kiểm soát kinh tế và quyết định phương ánsản xuất
- kinh doanh, đầu tư, tích luỹ trong các công việc gia đình cũng như sản xuất
Trang 15- Yếu tố phong tục tập quán và chính sách dân tộc cùng vị thế xã hội của ngườiphụ nữ dân tộc thiểu số có tác động trực tiếp đến vai trò của họ trong phát triển kinh tế
hộ gia đình Các quy định khắt khe của chế độ phụ hệ đã hạn chế sự tham gia hoạtđộng của phụ nữ Sán Dìu trong gia đình cũng như trong cộng đồng Phụ nữ Sán Dìu rấtkhó tham gia vào việc xã hội, vì đó là những vị trí dành riêng cho nam giới
- Cần thay đổi nhận thức về vai trò của phụ nữ, khuôn mẫu hành vi của họ, đồngthời điều chỉnh chính sách và đổi mới thể chế xã hội thì mới thực sự nâng cao vai tròcủa họ trong phát triển kinh tế hộ gia đình nhằm bảo đảm sinh kế và phát triển bềnvững
4.3 Phương pháp luận hay tiếp cận nghiên cứu của luận án
4.3.1 Phương pháp luận nghiên cứu của luận án
Do không có một Phương pháp luận duy nhất đ ng đắn trong Xã hội học; tuynhiên nhiều Phương pháp luận lại có hạt nhân hợp lý, cho nên NCS sẽ lựa chọn cách
Tiếp cận tổng – tích hợp hạt nhân hợp lý của các Phương pháp luận đang vừa cạnh
tranh vừa hợp tác với nhau trong Xã hội học đương đại Đó chính là tổng – tích hợp
hạt nhân hợp lý của Phương pháp luận thực chứng chủ nghĩa (Positivist Methodology)
đề cao các Phương pháp nghiên cứu định lượng và Tiếp cận nhân quả xã hội,
Phương pháp luận diễn giải chủ nghĩa (Interpretivist Methodology) đề cao các
Phương pháp định tính và Quan điểm thấu hiểu ý nghĩa xã hội của các hành vi/hành
động cá nhân, và Phương pháp luận phê phán chủ nghĩa (Criticist Methodology) đề cao
sự kết hợp biện chứng giữa các Phương pháp định tính và định lượng, coi trọng sựgiải thích duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đối với các quan hệ nhân quả xã hội
Sự đụng độ về Phương pháp luận giữa 2 trường phái toàn thể luận (holism) và cá nhân luận (individualism) sẽ được hóa giải bằng Tiếp cận lý thuyết khinh – trọng (Tô Duy
Hợp và các Cộng sự, 2012) [59], nghĩa là: (1)- Tránh cực đoan, duy/vị, thái quá theo
kiểu Duy toàn thể luận hoặc là Duy cáthể luận; vì thái quá = đại bất cập = được cái này mất cái kia!;
(2)- Chấp nhận tình trạng đối trọng giữa 2 Mô thức (Paradigm): (2.1)- hỗn hợp coi trọngToàn thể luận hơn cá nhân luận hoặc là (2.2)- hỗn hợp đề cao Cá nhân luận hơn toàn thể luận,đối với Đề tài luận án này thì hiện nay Mô thức (2.1) phù hợp truyền thống dân tộc, đang tiếpdiễn với thế chủ đạo; tuy nhiên trong tương lai, Mô thức (2.2) sẽ trỗi dậy để đối trọng với Môthức phù hợp truyền thống (2.1);
Trang 16(3)- Đề tài luận án định hướng lựa chọn thứ ba, đó chính là Phương pháp luận kết hợphài hòa giữa Tiếp cận toàn thể phương pháp luận (methodological holism), được
Trang 17Chủ nghĩa Mác và Chủ nghĩa thực chứng đề cao và Tiếp cận cá nhân phương pháp luận(methodological individualism), được Chủ nghĩa phản thực chứng và Chủ nghĩa phi mácxít coitrọng, và một cách tương ứng sẽ kết hợp hài hòa giữa các Phương pháp định tính và Phươngpháp định lượng trong tổng quan tài liệu, nghiên cứu khảo sát điều tra chọn mẫu, tổng hợp kếtquả nghiên cứu.
4.3.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể của luận án
Phương pháp phân tích tài liệu sẵn có
Nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng quan tài liệu để phân tích chủ đề nghiên cứu,đồng thời đ c r t các bài học kinh nghiệm trong thực tiễn Trước khi tiến hành khảo sát thựcđịa cũng như để so sánh với các kết quả nghiên cứu thực địa đề tài sẽ phải tiến hành thu thập,ghi chép, thống kê các dữ liệu cần thiết cho đề tài với các chỉ tiêu được chuẩn bị sẵn:
- Số liệu thống kê của các bộ, ngành có liên quan
- Sở Lao động thương binh và xã hội, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôntỉnh Thái Nguyên
- Niên giám thống kê, Phòng thống kê của UBND, Phòng Lao động thươngbinh và xã hội, Báo cáo tổng kết các hoạt động của Hội Liên Hiệp phụ nữ tỉnh TháiNguyên
- Một số sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề
về vai trò phụ nữ trong xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn
Từ những tài liệu thu thập được, tác giả luận án tiến hành phân tích nội dung, xem xét
và phát hiện những vấn đề liên quan đến chủ đề nghiên cứu mà chưa ai đề cập đến Trên cơ sở
đó, tác giả tiến hành xây dựng bộ công cụ phục vụ cho việc khảo sát thực địa
Phương pháp nghiên cứu định tính
- Nghiên cứu thực hiện phương pháp định tính nhằm tìm hiểu những vấn đềchưa được làm rõ trong các nghiên cứu khác; đi sâu tìm hiểu, lý giải những yếu tố ảnhhưởng, tác động đến vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ giađình nhằm xóa đói, giảm nghèo nhanh và bền vững Mẫu nghiên cứu định tính (phỏngvấn sâu và thảo luận nhóm tập trung) được xác định một cách hợp lý theo lý thuyếtchọn mẫu khảo sát xã hội học và phù hợp với điều kiện cụ thể địa phương
- Nghiên cứu còn tiếp cận và thu nhận các thông tin thực địa từ quá trình quan sát điều
kiện sống của các gia đình và điều kiện làm việc của người phụ nữ trong các hoạt động tạo thunhập cho gia đình Thêm vào đó là quan sát thái độ của người được phỏng
Trang 18vấn để đánh giá độ tin cậy của thông tin thu được cũng như thái độ của người được hỏi về vaitrò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình xóa đói giảm nghèo ở địa phương Phươngpháp quan sát được thực hiện trong suốt quá trình thâm nhập, điền dã Các hình ảnh được quansát trong quá trình nghiên cứu sẽ gi p ích cho việc đưa ra các nhận định, các phân tích/tổng hợpcủa nghiên cứu.
Đơn vị mẫu phỏng vấn sâu được chọn theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích Chọntập hợp những người tham gia dựa theo những tiêu chí có tính đại diện liên quan tới nội dungnghiên cứu Cơ cấu mẫu nghiên cứu định tính bao gồm các nhóm với số lượng cụ thể:
+ Cán bộ lãnh đạo, quản lý: 8 trường hợp+ 10 nam giới dân tộc Sán Dìu
+ 10 phụ nữ dân tộc Sán Dìu
Phương pháp nghiên cứu định lượng
- Thu thập, phân tích các nguồn số liệu thống kê kinh tế - xã hội
- Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi nhằm khai thác các thông tin toàn diện, đảmbảo tính đại diện tốt để bổ sung cho nguồn tài liệu thứ cấp; kết hợp với các thông tin định tính
từ phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm, nghiên cứu có được sự đánh giá vấn đề nghiên cứu từ nhiềuchiều cạnh khác nhau Mẫu điều tra xã hội học được tính toán hợp lý theo lý thuyết chọn mẫu
và điều kiện thực tế cho phép
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, địa điểm nghiên cứu phải đại diện cho vùng nghiêncứu về các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, văn hóa, môi trường… là nơi tập trung nhiềuđồng bào dân tộc Sán Dìu Theo vị trí địa lý, địa hình, địa mạo đất đai của tính Thái Nguyên,đồng thời căn cứ vào sự phân tán của các hộ dân tộc Sán Dìu sinh sống trên đó, mỗi tiểu vùngtác giả luận án chọn ra 1 xã điển hình để nghiên cứu Riêng huyện Đồng Hỷ, nơi có đôngngười Sán Dìu sinh sống nhất, có 2 xã được chọn để làm mẫu nghiên cứu
+ Xã Hóa Trung, huyện Đồng Hỷ: Hóa Trung có diện tích kéo dài theo chiều bắc nam
và giáp với xã Tân Long và Quang Sơn ở phía bắc, giáp với thị trấn Sông Cầu ở phía đông,giáp với xã Khe Mo ở phía đông nam, giáp với xã Hóa Thượng ở phía nam và tây nam, giápvới xã Minh Lập ở phía tây bắc Theo Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 2016, xã có tổngdiện tích 11,89 km2, với 6.424 người, trong đó có 1.021 người
Trang 19Sán Dìu (189 hộ); là Xã nằm ở phần giữa của huyện và có tuyến quốc lộ 1B chạy qua địa bàn,
cơ bản là Xã làm nông nghiệp [36]
+ Xã Nam Hòa, huyện Đồng Hỷ : Xã nằm tại phía nam của huyện và có tuyến đường
tỉnh lộ 269 nối từ huyện lị sang tỉnh Bắc Giang chạy qua địa bàn Nam Hòa là một trongnhững xã thuộc vùng mỏ sắt Trại Cau Nam Hòa giáp với xã Văn Hán ở phía bắc, giáp với xãCây Thị, thị trấn Trại Cau và xã Tân Lợi ở phía đông, giáp với hai xã Đồng Liên và Bàn Đạt
của huyện Ph Bình ở phía nam, giáp với xã Huống Thượng và Linh Sơn ở phía tây và giáp với
xã Khe Mo ở một đoạn nhỏ phía tây bắc Theo Niên giám thống kê Tỉnh Thái Nguyên 2016, xãNam Hòa có diện tích 24,75 km², tổng dân số có 9.715 người, số người Sán Dìu là 5.923người (1.558 hộ) [36]
Công thức tính cỡ mẫu (*): với trường hợp chọn không lặp lại
N x t x t x 0,25
n =
N x ε x ε + t x t x 0,25Trong đó:
n: cỡ mẫu
thểt: hệ số tin cậy (tra bảng)ε: phạm vi sai số chọn mẫu, hay còn gọi là khoảng ước lượng, ε = t x d (d là sai số chọn mẫu) [113: tr.194]
Ta có:
N: 1653 hộChọn hệ số tin cậy 95%, tra bảng t = 1,96Chọn sai số chọn mẫu 0,03444 phạm vi sai số chọn mẫu ε là: 0,0675
Thay vào công thức trên ta có:
Trang 20trung tâm thị xã 13 km về phía tây và giáp với xã Phúc Tân cùng thị xã và xã Bình Sơn thuộc
thành phố Sông Công ở phía bắc, phía đông giáp xã Minh
Trang 21Đức và phường Bắc Sơnthuộc thị xã Phổ Yên, phía nam giáp với xã Thành Công thuộc thị xãPhổ Yên, phía tây nam giáp với xã Trung Mỹ thuộc huyện Bình Xuyên của tỉnh Vĩnh Ph c
qua dãy núi Tam Đảo Phía tây giáp với xã Cát Nê, Quân Chu và trấnthị Quân Chu thuộchuyện Đại Từ
Theo Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 2016, xã Ph c Thuận có diện tích 5.217,19
ha (52,2 km²) và dân số là 13.269 người, mật độ dân số đạt 254,3 người/km² Với tổng diệntích đất tự nhiên 5.217,19 ha; trong đó có 205 hộ dân tộc Sán Dìu Xã cách trung tâm huyện
13 km về phía tây [36]
Công thức tính cỡ mẫu(*) ta có:
N: 205 hộChọn hệ số tin cậy 95%, tra bảng t=1,96Chọn sai số chọn mẫu 0,03444 phạm vi sai số chọn mẫu ε là: 0,0675
Thay vào công thức trên ta có:
+ Xã Sơn Cẩm, huyện Phú Lương: Sơn Cẩm là một xã thuộc huyện Ph Lương, tỉnh
Thái Nguyên Đây là xã cực nam và có dân số đông nhất trong huyện Xã Sơn Cẩm cách trungtâm thành phố Thái Nguyên khoảng 6 km Sơn Cẩm nằm ven sông Cầu, con sông chính tạitỉnh Thái Nguyên và qua dòng sông này giáp với hai xã Minh Lập và Hóa Thượng thuộchuyện Đồng Hỷ ở phía đông bắc và xã Cao Ngạn thuộc thành phố Thái Nguyên ở phía đông.Phía nam giáp với Tân Long thuộc thành phố Thái Nguyên, phía đông nam giáp với xã AnKhánh thuộc huyện Đại Từ, phía tây giáp với xã Cổ Lũng và phía tây bắc giáp với xã VôTranh đều thuộc huyện Ph Lương
Theo Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 2016, xã Sơn Cẩm có diện tích 16,52 km²
và dân số là 11929 người, mật độ dân cư đạt 722 người/km² Sơn Cẩm là địa phương đôngdân nhất và có mật độ dân số chỉ đứng sau hai thị trấn Giang Tiên và Đu tại huyện Ph Lương.Trong đó có 2499 người Sán Dìu (595 hộ) [36]
Công thức tính cỡ mẫu (*) với trường hợp chọn không lặp
lại Ta có:
N: 595 hộ
Trang 22Chọn hệ số tin cậy 95%, tra bảng t = 1,96Chọn sai số chọn mẫu 0,03444 phạm vi sai số chọn mẫu ε là: 0,0675
Thay vào công thức trên ta có:
595 x 1,96t x 1,96 x 0,25
n =
595 x 0,0675 x 0,0675 + 1,96 x 1,96x 0.25
Số mẫu cần là: 157 hộ Dự phòng 20%: 31 hộ
Vậy Tổng mẫu điều tra: 218+105+157= 480 hộ
= 157
Mẫu nghiên cứu được phân bổ theo tỷ lệ căn cứ vào một số tiêu chí: cơ cấu giới tính;
độ tuổi, trình độ và nghề nghiệp Tuy nhiên, trên cơ sở xác định dung lượng mẫu, tác giả luận
án đã tiến hành cách thức lấy mẫu chia đều cho 4 xã để giảm bớt sự sai số và gia tăng tính đạidiện: phỏng vấn 480 lao động nam và lao động nữ trong độ tuổi lao động người dân tộc SánDìu bằng bảng hỏi để do lường các sự kiện xã hội Cơ cấu nhân khẩu – xã hội của mẫu khảosát được cho trong Bảng 1 dưới đây:
Bảng 1.1: Thông tin chung về các nhóm hộ điều tra (N=480)
Trang 23(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra)
Nghiên cứu sử dụng đồng thời các phương pháp nêu trên nhằm mục đích làm sao chokết quả các dữ liệu có thể bổ sung cho nhau, khắc phục hạn chế của mỗi phương pháp cũngnhư phát huy ưu điểm của ch ng
Phương pháp xử lý thông tin: Nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để
làm công cụ xử lý thông tin định lượng
Luận án với nội dung“Vai trò của phụ nữ dân tộc Sán Dìu trong phát triển kinh
tế hộ gia đình vùng Đông Bắc Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Thái Nguyên)”có những tìm tòi mang tính chất thấu hiểu, phát hiện vấn đề Trong đó, các
phép suy luận thống kê không mang tính chất liên quan đến sự sống, hay sức khỏe củacon người Do vậy, một vài phép kiểm định trong luận án này được tác giả luận ánchấp nhận xác suất mắc sai lầm loại I với p% (5% < p% < 10%) với sự mong muốn sẽtiếp tục th c đẩy các thử nghiệm sau này khi ch ng tôi cố gắng chỉ ra những biến số tácđộng có ý nghĩa lên biến số phụ thuộc
Những thông tin thu được từ các phỏng vấn sâu được xử lý phân chia thông tin theo cácnhóm chủ đề cụ thể phục vụ mục tiêu nghiên cứu, góp phần làm sâu, rõ hơn các nội dungnghiên cứu của luận án mà số liệu định lượng chưa làm rõ được
5 Đóng góp m i của luận án
Trong quá trình hội nhập và hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của đấtnước nói chung, của tỉnh Thái Nguyên nói riêng, phụ nữ dân tộc Sán Dìu đóng vai trò quantrọng trong phát triển kinh tế hộ gia đình, họ đã bước đầu thay đổi nhận thức, thay đổi khuônmẫu hành vi và có mục tiêu phát triển rõ ràng Luận án là hệ thống cơ sở lý luận về nghiên cứu
vai trò của phụ nữ Sán Dìu trong phát triển kinh tế hộ gia đình Đồng thời, luận án cho thấy
bức tranh khái quát về thực trạng vai trò phát triển kinh tế hộ gia đình của phụ nữ Sán Dìu vàchỉ ra được các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò phát triển kinh tế hộ gia đình của phụ nữ SánDìu ở tỉnh Thái Nguyên
Trang 24Khác với các nghiên cứu trước đây, với đề tài này tác giả luận án mong muốn đóng góp
thêm vào các công trình nghiên cứu khoa học cụ thể về vấn đề phụ nữ trong mưu sinh và phát
triển, rộng hơn là giới với sinh kế và phát triển ở Việt Nam dưới góc nhìn xã hội học, vì sinh kế
bền vững không chỉ là điều kiện tiên quyết của phát triển mà còn là mục tiêu trước tiên của các
dự án, chương trình phát triển; nói khác đi, như ch ng ta thấy xoá đói giảm nghèo là mục tiêuđầu tiên của mọi chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội nói chung, phát triển kinh tế hộgia đình ở nông thôn nói riêng
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận án góp phần làm phong ph thêm sự vận dụng của hệ thống khái niệm (vai trò, vaitrò của phụ nữ Sán Dìu, kinh tế hộ gia đình, vùng Đông Bắc, …), và các lý thuyết chuyên biệt(thuyết vị thế - vai trò, thuyết nữ quyền, thuyết phát triển bền vững) vào nghiên cứu xã hội học.Luận án đã hệ thống cơ sở lý luận về nghiên cứu vai trò của phụ nữ và kết quả nghiên cứu chothấy bức tranh khái quát bề thực trạng vai trò phát triển kinh tế hộ gia đình của phụ nữ Sán Dìutại Thái Nguyên Từ đó cũng chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò phát triển kinh tế hộ giađình của phụ nữ Sán Dìu Kết quả nghiên cứu cũng gợi mở những hướng nghiên cứu tiếp theo vềvai trò của phụ nữ trong tiến trình xây dựng nông thôn mới đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH,HĐH hiện nay; tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc thiểu số anh em sớm hội nhập vào tiếntrình phát triển chung của cả nước
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học và thực tiễn gi p các nhà quản lý, các nhà hoạchđịnh chính sách, nhà giáo dục và đào tạo kịp thời điều chỉnh chính sách và đổi mới thể chế xãhội để thực sự nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ gia đìnhnhằm bảo đảm sinh kế và phát triển bền vững Nghiên cứu sẽ gi p cho bản thân người phụ nữcũng như những người quan tâm hiểu rõ hơn về vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong hoạtđộng phát triển sản xuất kinh tế hộ gia đình ở nông thôn vùng Đông Bắc hiện nay nói chung vàtrên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nói riêng Nghiên cứu không những góp phần quan trọng tronglĩnh vực nghiên cứu mà còn phát huy vai trò tư vấn, là tài liệu tham khảo cho cán bộ lãnh đạođịa phương trong xây dựng, hoạch định chính sách liên quan đến phát triển kinh tế hộ gia đình,đặc biệt là nhóm hộ gia đình dân tộc thiểu số Nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích vớicác cấp, ngành tại địa bàn nghiên cứu Đồng thời luận án cũng là tài liệu tham khảo trongnghiên cứu,
Trang 25giảng dạy xã hội học giới, xã hội học kinh tế, xã hội học nông thôn, nghiên cứu về phụ nữ khi vận dụng vào đề tài vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ gia đình
ở nông thôn hiện nay
7 Kết cấu của luận án
Phần mở đầuPhần nội dung gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tài liệu liên quan đến đề tài luận
án Chương 2: Cơ sở lý luận và khung phân tích của đề tài
Chương 3: Vai trò của phụ nữ Sán Dìu trong phát triển kinh tế hộ gia đình ở tỉnh Thái Nguyên
Chương 4: Các yếu tố ảnh hưởng đến Vai trò của phụ nữ Sán Dìu trong phát triển kinh
tế hộ gia đình ở Thái Nguyên hiện nay
Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo Phần phụ lục
Trang 26PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Phần này trình bày tổng quan tình hình các nghiên cứu có liên quan đến chủ đề của luận
án, việc rà soát và hệ thống hoá các chủ đề, vấn đề mà các nghiên cứu đã đề cập là cần thiết
để tác giả luận án có thể tìm hiểu những bằng chứng mới trên cơ sở học hỏi, kế thừa nhữngthành quả nghiên cứu của tác giả khác Qua tổng quan tài liệu, tác giả luận án thấy có nhữngnhóm vấn đề liên quan đến luận án, bao gồm các nghiên cứu về: 1/ Phụ nữ và vấn đề giới; 2/Quá trình phân công lao động trong gia đình giữa hai giới; 3/ Quá trình tiếp cận và kiểm soátcác nguồn lực trong gia đình của phụ nữ và nam giới; 4/ Sự thay đổi địa vị và vai trò của phụ
nữ trong gia đình; 5/ Nghiên cứu về dân tộc Sán Dìu
1.1 Các công trình nghiên cứu về phụ nữ và vấn đề gi i
Nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa nam nữ tiếp tục được khẳng địnhtrong các văn bản quy phạm pháp luật, được ban hành trong những năm qua như: Luật bảo vệ,chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004, Bộ luật Dân sự 2005, Luậtsửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua khen thưởng số 2005, Luật Bình đẳng giới
2006, Luật Bảo hiểm xã hội 2006, Luật Dạy nghề 2006, Luật Phòng chống bạo lực gia đình
2007, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng chống ma tuý 2008,
Luật Bình đẳng giới đã quy định các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới gồm: 1)Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình; 2) Nam, nữ không bịphân biệt đối xử về giới; 3) Biện pháp th c đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử
về giới; 4) Chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới; 5)Bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật; 6) Thực hiệnbình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân Những nguyên tắc này sẽ
là yêu cầu ràng buộc trách nhiệm, là kim chỉ nam gi p các cơ quan hoạch định và thực thi chínhsách thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý nhà nước về bình đẳng giới theo thẩm quyền đượcgiao.Luật Bình đẳng giới và các văn bản hướng dẫn thi hành: Nghị định số 70/2008/NĐ-CP củaChính phủ về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bình đẳng giới, Nghị định số48/2009/NĐ-CP của Chính phủ quy định về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới, Nghịđịnh số 55/2009/NĐ-CP của
Trang 27Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới Thực hiện quy định củaLuật Bình đẳng giới về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật,hầu hết các văn bản pháp luật mới được ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung đã lồng ghép vấn đềbình đẳng giới, cụ thể như: Luật Cán bộ, công chức 2008; Luật Ban hành văn bản quy phạmpháp luật 2008; Luật Người cao tuổi 2009; Luật Người khuyết tật 2010; Luật viên chức 2010;Luật nuôi con nuôi 2010; Luật Thi hành án hình sự 2010; Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày30/6/2009 về trợ gi p phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó ưu tiên trợ gi p cho cácdoanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ và có sử dụng nhiều lao động nữ…Một số vănbản quy phạm pháp luật đang được xây dựng để thực hiện nguyên tắc bình đẳng giới như: BộLuật Lao động (sửa đổi), Luật Phòng, chống mua bán người, Chiến lược quốc gia về bình đẳnggiới giai đoạn 2011- 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 22/12/2010.
Trong hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan xét xử và thi hành phápluật, những biện pháp ngăn ngừa, xử lý nghiêm hành vi vi phạm quyền bình đẳng của phụ nữ,phạm tội đối với phụ nữ, tiếp tục được thực hiện
Khoản 1 Điều 27 Luật Bình đẳng giới và Chỉ thị số 10/2007/CT-TTg của Thủ tướngChính phủ ngày 3/5/2007 về triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới đã quy định rõ trách nhiệmcủa các Bộ, Ngành phải tiến hành rà soát văn bản quy phạm pháp luật hiện hành để kịp thờisửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành mới theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyềnsửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm mục tiêubình đẳng giới, các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới và chính sách của nhà nước về bìnhđẳng giới trong lĩnh vực mà mình quản lý
Quyết định số 2351/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chiến lược quốc gia
về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020: Đây là quyết tâm của Việt Nam được khẳng địnhtrong Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 là một bộ phận cấu thànhquan trọng của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước, là cơ sở của chiếnlược phát triển con người của Đảng và Nhà nước Công tác bình đẳng giới là một trong nhữngyếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội.Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự phối hợp của các tổchức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế,đơn vị sự nghiệp, sự tham gia của mỗi cá nhân, từng gia đình và cả cộng đồng đối với côngtác bình đẳng giới Huy động tối đa mọi
Trang 28nguồn lực để thực hiện có hiệu quả công tác bình đẳng giới “Không ngừng nâng cao nănglực nhằm bảo đảm sự tham gia ra quyết định của phụ nữ trong các hoạt động phát triển kinhtế…”.
Mục tiêu tổng quát của Chiến lược là đến năm 2020, về cơ bản, bảo đảm bình đẳng thựcchất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế,văn hóa và xã hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước [32]
Nghị quyết 22-NQ/TƯ, ngày 27/11/1989 của Bộ Chính trị Về một số chủ
trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xă hội miền núi cũng chỉ ra tầm quan
trọng của chủ đề này
Nghị quyết số 57/NQ-CP năm 2009, đã xác định nghiên cứu khoa học về bình đẳng giới
là một trong nội dung quan trọng trong giai đoạn từ năm 2010-2020:
- Bộ Khoa học và Công nghệ hàng năm có trách nhiệm tăng cường các côngtrình nghiên cứu khoa học liên quan đến bình đẳng giới và công tác phụ nữ;
- Viện Khoa học Xã hội Việt Nam có trách nhiệm xây dựng chương trìnhnghiên cứu về bình đẳng giới trong các lĩnh vực, trước mắt tập trung nghiên cứu cáctrở ngại liên quan đến sự phát triển của phụ nữ
- Trung tâm Nghiên cứu lao động nữ và Giới thuộc Viện Khoa học lao động và
xã hội – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội là đầu mối của ngành nghiên cứu vấn
đề phụ nữ và bình đẳng giới phục vụ chức năng quản lý nhà nước cuả ngành
- Trung tâm Nghiên cứu Phụ nữ thuộc Trường Cán bộ Phụ nữ Trung ương, làđầu mối nghiên cứu của phụ nữ của Hội, gi p hoạt động nghiên cứu khoa học của Hộiphụ nữ dần đi vào nề nếp, mang tính chuyên nghiệp ngày càng cao
- Các cơ quan nghiên cứu của mỗi Bộ, Ngành cũng đã quan tâm lồng ghép vấn
đề giới vào trong các nghiên cứu chuyên môn của ngành mình Kết quả nghiên cứuđược sử dụng để tham khảo trong quá trình xây dựng và hoạch định chính sách, phápluật
Luật Hôn nhân Gia đình 2014 quy định về giải quyết quan hệ tài sản đảm bảo quyền,lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con, đặc biệt nêu rõ công việc nội trợ và các công việc khác cóliên quan để duy trì đời sống chung được xem như lao động có thu nhập
Năm 2015, Chương trình Hành động Quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 2016- 2020được Chính phủ phê duyệt với mục tiêu tỏng quát là giảm khoảng cách giới và nâng cao vị thếcủa phụ nữ trong một số lĩnh vực, vùng, ngành, địa phương có bất bình
Trang 29đẳng giới hoặc có nguy cơ bất bình đẳng giới cao, góp phần thành công Chiến lược quốc gia
về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020
Đề án “Đào tạo nghề cho lao đông nông thôn đến năm 2020” và Đề án “Hỗ trợ phụ
nữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2010 - 2015” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệtnhằm tạo điều kiện tốt hơn cho lao động nông thôn nói chung và lao động nữ nói riêngnâng cao kỹ năng nghề nghiệp và tiếp cận tốt hơn tới việc làm có thu nhập ổn định, gi p xóađói, giảm nghèo và nâng cao vị thế Ngoài chính sách dạy nghề, Nghị quyết 26-NQ/TWcũng nhấn mạnh mục tiêu tạo chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp và kinh tếnông thôn, qua đó các chương trình chuyển giao khoa học kỹ thuật nông nghiệp đã đượctriển khai rộng khắp
Trong lĩnh vực tín dụng, hệ thống các Ngân hàng nhà nước (Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam…) đã và đangthực hiện nhiều chương trình tín dụng phát triển kinh tế khu vực nông thôn (Nghị định41/2010/NĐ-CP, Nghị định 78/2002/NĐ-CP)
Kể từ năm 2007 đến nay khá nhiều nghiên cứu dưới góc độ giới đã được thực hiện vàcông bố để phục vụ cho việc hoạch định chính sách như: 1) Đánh giá việc thực hiện Công ước
về Phân biệt đối xử trong việc làm, nghề nghiệp và trả công bình đẳng giữa lao động nam vàlao động nữ cho công việc có giá trị ngang nhau; (2) Chính sách, pháp luật lao động nhìn dướigóc độ bình đẳng giới; 3) Nghiên cứu về tác động kinh tế - xã hội của việc gia nhập WTO đếnphụ nữ nông thôn Việt Nam; 4) Tuổi nghỉ hưu của lao động nữ ở Việt Nam: Bình đẳng giớitrong chính sách bảo hiểm xã hội; 5) Giới và biến đổi khí hậu; 6) Bạo lực gia đình; 7) Điều tragia đình Việt Nam …Đặc biệt, năm 2010 là năm bản lề xây dựng các Chiến lược, Kế hoạchphát triển cho giai đoạn mới của mỗi Bộ ngành, địa phương, vì vậy, hầu hết các Bộ, Ngành,Địa phương đều đã tổ chức các nghiên cứu đánh giá thực trạng cũng như việc thực hiện cácchính sách chuyên ngành, trong đó có xem xét dưới góc độ giới Các nghiên cứu này sẽ là cơ
sở cho việc xây dựng và ban hành các chiến lược, kế hoạch phát triển cho giai đoạn mới củamỗi Bộ ngành, địa phương
Các Trung tâm nghiên cứu và đào tạo về giới tiếp tục hoạt động, đã và đang tập trungnghiên cứu về vai trò của nam và nữ trong sản xuất; vai trò và địa vị của phụ nữ trong gia đình;
sự biến đổi vai trò giới dưới tác động của sự phát triển kinh tế- xã hội; quá trình đô thị hoá vàchuyển dịch lao động từ khu vực nông thôn đến đô thị; bạo lực trong
Trang 30gia đình; buôn bán phụ nữ; cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác trợ gi p pháp lý cho phụnữ Một số kết quả nghiên cứu nói trên đã được sử dụng trong quá trình xây dựng và banhành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến phụ nữ và bình đẳng giới Như vậy, cóthể nói đã có khá đầy đủ chính sách; tuy nhiên, cần có các cơ chế cụ thể hơn để gi p nữ laođộng dân tộc thiểu số tiếp cận được với những công việc có hàm lượng tri thức, chất xám,công nghệ gi p mang lại thu nhập cao cho cá nhân và giá trị gia tăng cao cho xã hội Trong lầnđối thoại giữa chính phủ Việt Nam và ủy ban CEDAW về báo cáo quốc gia ghép định kỳ lầnthứ 7 và 8 của Việt Nam tại Phiên họp thứ 1313 và 1314 ngày 10/7/2015, Ủy ban đã yêu cầuViệt Nam cần thu thập số liệu thống kê một cách có hệ thống về tất cả các hình thức bạo lựcđối với phụ nữ; tăng cường thu thập, phân tích và phổ biến các dữ liệu toàn diện, được táchbiệt theo giới tính, tuổi tác, tình trạng khuyết tật, dân tộc, vị trí và tình trạng kinh tế xã hội.
Đây chính là cơ sở quan trọng để đề tài xác định được rõ ràng quyền bình đẳng nam nữ
là nền tảng quan trọng ảnh hưởng đến quá trình thực hiện vai trò của phụ nữ Sán Dìu trongphát triển kinh tế hộ gia đình tại tỉnh Thái Nguyên
1.2 Nghiên cứu về phân công lao động trong gia đình giữa hai gi i
Sự khác biệt giữa nam và nữ dẫn đến sự phân công lao động nam – nữ trong xã hội vàgia đình Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước”,Ănghen đã nhận xét “Sự phân công lao động là hoàn toàn có tính chất tự nhiên, chỉ tồn tại giữanam và nữ Đàn ông đi đánh giặc, đi săn bắn và đánh cá, tìm nguyên liệu dùng làm thức ăn vàkiếm những công cụ cần thiết cho việc đó Đàn bà chăm sóc việc nhà, chuẩn bị cái ăn và cáimặc, họ làm bếp, dệt, may vá” Từ sự phân công lao động “hoàn toàn có tính chất tự nhiên”như thế đã dẫn đến một sự phân chia hoạt động theo giới một cách tự nhiên: Mỗi bên làmchủ trong lĩnh vực hoạt động của riêng mình: đàn ông làm chủ trong rừng, đàn bà làm chủ ởnhà” Và, điều này đưa đến một sự sở hữu có tính đặc trưng theo giới: Mỗi bên đều làngười sở hữu những công cụ do mình chế tạo và sử dụng: đàn ông làm chủ vũ khí, dụng cụsăn bắn và đánh cá; đàn bà làm chủ những dụng cụ gia đình” (Hoàng Bá Thịnh, 2002) [124:
tr 24] Trong các xã hội, sự phân công lao động theo giới biểu hiện qua sự phân chia khuvực lao động nghề nghiệp Ngoài ra, sự phân công lao động theo giới còn thể hiện trongcách tổ chức cuộc sống gia đình “Phân công lao động trong gia đình” là sự đảm nhiệm cáccông việc trong gia đình của vợ, chồng và các thành viên khác trong
Trang 31gia đình nhằm thực hiện những chức năng của gia đình trong chăm sóc, giáo dục đảm bảocho sự tồn tại và phát triển ổn định của gia đình Sự phân công lao động trong gia đình chủyếu dựa trên 3 nhóm công việc: các công việc tạo thu nhập, các công việc tái tạo sức laođộng và các hoạt động nhằm duy trì mối liên hệ giữa các thành viên trong gia đình với họhàng, cộng đồng Phân công lao động theo vợ chồng là yếu tố hình thành vai trò giới tronggia đình và xã hội Phụ nữ có vai trò biểu đạt tình cảm, nam giới có vai trò là công cụ tạo rathu nhập Theo thuyết chức năng, lao động của phụ nữ có chức năng tình cảm và lao độngcủa nam giới có chức năng tư duy và hành động giải quyết vấn đề.
Theo Michael Anderson, 1994, những vai trò riêng biệt của người vợ và người chồngxuất phát từ “phân công lao động trong gia đình” Những nghiên cứu kinh điển về Gia đình và
hệ thống xã hội (Family and Social System) (1957), Elizabeth Both quan sát thấy trong một cặp
vợ chồng thì có một người thường có trách nhiệm chăm lo cho gia đình về mặt tài chính, cònngười kia thì đảm nhận những việc nội bộ như chăm lo nhà cửa và chăm sóc con cái Nhưngcũng có hoạt động nhất định về mức độ phân chia các vai trò của chồng và vợ Tác giả đãnhận định rằng, ngay cả trong giai cấp lao động cũng có sự chuyển đổi về những vai trò chungcủa chồng và vợ, với cuộc hôn nhân lý tưởng là phải “dễ làm bạn” Những nghiên cứu về quản
lý tài chính trong gia đình cho thấy thường thì người vợ nhận được những khoản chi phí chosinh hoạt gia đình, nhưng nhiều người vẫn không biết chồng mình kiếm được bao nhiêu [177]
Tác giả Thomas Hansen đã sử dụng dữ liệu từ hai cuộc khảo sát riêng biệt nhưng cóliên quan: LOGG - được tiến hành trong năm 2007/2008 với N = 15,140 ; tuổi từ 18- 79 và
NorLAG với N = 3,794 ; tuổi từ 40-79 tại Na Uy với tiêu đề “Equality in home”(Bình đẳng
trong gia đình) (2012) đã có kết quả nghiên cứu đáng ch ý [174] Trong những khác biệt về
mặt nhân khẩu, xét về giới tính, công việc gia đình chủ yếu được phân chia theo truyền thống trong đó vợ làm tất cả hoặc hầu hết công việc; xét về lứa tuổi, ở lớp trẻ có sự phân chia công bằng hơn nhóm tuổi lớn hơn; xét về khu vực sống, phân chia công việc gia đình cân bằng nhất được tìm thấy ở khu vực thành thị; xét về kinh tế - xã hội, tình trạng kinh tế xã hội của vợ
(giáo dục, thu nhập, nghề nghiệp) ảnh hưởng đến việc phân chia lao động gia đình hơn làchồng (và cũng chỉ báo hạnh ph c ở vợ hơn là chồng), theo đó tình trạng kinh tế xã hội càngcao (ở cả nam và nữ), việc nhà càng có xu hướng được chia đều hơn Về nhận thức về vai trògiới trong việc phân chia
Trang 32lao động gia đình, kết quả cho thấy các khách thể có các đặc điểm giới tính phi khuôn mẫu có
xu hướng báo cáo về sự phân chia công việc gia đình cân bằng hơn Một kết quả bất ngờtrong nghiên cứu liên quan tới mối liên hệ giữa sự phân chia việc nhà và sự hài lòng trong mốiquan hệ, đó là nguy cơ ly dị (qua 4 năm hôn nhân) cao hơn khi chồng làm công việc nhà càngnhiều (ít nhất cũng như vợ), so với khi vợ làm hầu hết các công việc nhà; và con số này có ýnghĩa thống kê, cũng sau khi kiểm soát các yếu tố có liên quan Nói cách khác, tỷ lệ ly hôngiữa các cặp phân chia việc nhà bình đẳng cao hơn 50% so với các cặp trong đó vợ làm hết/gầnhết việc nhà Trong khi đa số các nghiên cứu chỉ ra kết quả ngược lại, tác giả nghiên cứu giảithích rằng hệ giá trị và thái độ cũng có thể là nguyên nhân dẫn tới khác biệt này: những ngườitruyền thống (vợ làm hầu hết công việc nhà) có thái độ truyền thống hơn đối với ly hôn (không
dễ ly hôn) và ngược lại; theo đó thì sự phân chia việc nhà không phải yếu tố dẫn tới ly hôn
Tác giả Lisa A Cubbins và Dana Vannoy thực hiện một nghiên cứu ở Nga
(2004) với tiêu đề “Division of Household Labor as a Source of Contention for
Married and Cohabiting Couples in Metropolitan Moscow” (Phân công lao động gia đình với tư cách là nguồn gốc của sự bất hòa giữa các cặp vợ chồng chung sống với nhau ở Thành phố Matxcova) chỉ ra rằng lao động trong gia đình là yếu tố quan trọng
nhất trong việc dự đoán cuộc hôn nhân vợ chồng, nhưng điều đó chỉ quan trọng đối vớingười chồng (điều này trái với kết quả nghiên cứu ở Na Uy) [171]
Một nghiên cứu về “Division of Household Labor and Marital Satisfaction in China,
Japan, and Korea” (Phân công lao động gia đình và sự hài lòng trong hôn nhân ở Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc) của nhóm tác giả Takashi Oshio, Kayo Nozaki & Miki
Kobayashi (2013) đã so sánh sự hài lòng trong hôn nhân với việc phân chia lao động giữa vợchồng ở Châu Á, dựa trên Điều tra Xã hội chung của Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc năm
2006 (N = 2,346, 997 và 990) Kết quả cho thấy ở cả ba nước, vợ ít hài lòng hơn chồng vớihôn nhân, chủ yếu vì họ phải làm việc nhà nhiều hơn Các cặp vợ chồng Trung Quốc tương đốiủng hộ sự phân chia lao động công bằng cả ở ngoài xã hội và ở trong nhà, các cặp vợ chồngNhật Bản ủng hộ truyền thống với người vợ linh hoạt thay đổi các nỗ lực của họ giữa việc cơquan và việc nhà, còn các cặp vợ chồng Hàn Quốc đang chịu sức ép từ những xung đột giữaquan điểm truyền thống và hiện đại trong sự phân chia lao động gia đình Tại Việt Nam, nhiềukhảo sát về bình đẳng giới trong gia
Trang 33đình đã được thực hiện trong nhiều năm qua trong nỗ lực góp phần xây dựng gia đình hạnh ph
c, bền vững và tiến tới bình đẳng giới cho toàn xã hội [185]
Thông qua những luận điểm của Lý thuyết vai trò, các nghiên cứu tập trung vào những
kỳ vọng và đóng góp của đàn ông và phụ nữ, các quan hệ giới và phân công lao động có tínhgia trưởng và bất bình đẳng (Dempsey, 1990, 1992; Poiner, 1990) [Lê Thị Quý (2009) [110].Những nghiên cứu về vấn đề giới trong quan hệ với môi trường (các yếu tố sinh học, vật chất,văn hóa xã hội của họ) đã chỉ ra những hậu quả của môi trường trong phát triển đến sức khỏe
và ph c lợi của nam giới và phụ nữ (Panelli & Gallagher, 2003) Lynne Brydon (1989)[176].Các nghiên cứu chỉ ra rằng những công việc này thường do một nhóm người nhất định trong
xã hội thực hiện chẳng hạn như người già, trẻ em, và nhất là phụ nữ Mặc dù phụ nữ có thể đã
có vị trí cao ở nơi họ làm việc nhưng họ vẫn phải lao động vất vả ở nhà, nơi mà họ thườngphải mất số thời gian gấp 2-3 lần đàn ông để làm các công việc thường nhật này và ngay cả khi
họ thuê người khác làm thay thì họ vẫn phải đảm đương việc kiểm tra hay giám sát nhữngngười đó (Coltrane, 2000)[184] Điều này một phần là do quá trình xã hội hóa giới mà từ đónhững quan điểm về giới được hình thành trong mỗi cá nhân Với những quan điểm đó cá nhân
tự học và ứng xử theo những cách phù hợp với các giá trị vai trò giới Tuy nhiên, nhiều họcgiả lại xác nhận rằng những công việc này không hề có liên quan gì đến giới tính, hay tuổi táccủa một cá nhân Tuy vậy, cách hiểu thông thường mang tính văn hóa này không dễ gì loại bỏ
Nó thậm chí còn được nhấn mạnh bởi một số nhà nghiên cứu và những nhà hoạt động báochí, tiếp tục gán những tên gọi mang mầu sắc giới cho những hoạt động này hay xây dựng vàtái hiện những hình ảnh công việc được coi là chỉ phù hợp với nam giới và phụ nữ Bằng cách
đó, họ vô hình trung đã “thừa nhận công khai rằng giới có ảnh hưởng đến sự phân lao độnggia đình” (Coltrane, 2000) [184]
Điều đó cho thấy rõ là nam giới, và ngay cả phụ nữ, thường coi việc nhà là thiênhướng hay chức năng tự nhiên của người phụ nữ Tuy nhiên, điểm mấu chốt trong nhữngnghiên cứu về chủ đề này lại là ý tưởng cho rằng đàn ông nên chia sẻ nhiều trách nhiệm hơnđối với công việc nhà Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng phụ nữ đã kết hôn được hưởngthời gian nghỉ ngơi ít hơn và chịu nhiều căng thẳng hơn do phải dành rất nhiều thời giancho công việc nhà Sự căng thẳng này gia tăng đáng kể nếu họ cũng phải tham gia vào hoạtđộng kinh tế Điều quan trọng hơn là sự chia sẻ trách nhiệm mất cân xứng này đối vớicông việc nhà lại có liên quan đến sự phát
Trang 34triển của người phụ nữ, khả năng suy giảm sự thỏa mãn trong hôn nhân và làm tăng buồnphiền, mà chính nó đe dọa trở lại đối với hạnh ph c gia đình và khả năng bền vững của mỗigia đình (Coltrane, 2000) [184].
Hai mươi năm qua, những thiên lệch trong phân bổ lao động giữa nam và nữ rất chậm được cải thiện (Trần Thị Vân Anh, Nguyễn Hữu Minh 2008) [7: tr66, 351-
387] Tỷ lệ tham gia lao động ở nước ta - chỉ số về mức độ tham gia vào lao động
xã hội của dân số từ 15 tuổi trở lên trong nhiều thập niên qua luôn luôn cao, đối với
cả nam và nữ Nhưng sự khác biệt giới trong lao động- việc làm tỏ ra nghiêm trọng
hơn nhiều khi các nhà nghiên cứu đào sâu vào cơ cấu lao động phân theo giới tính,
đặc biệt là khi ch ng được khảo sát theo chiều ngang (khác biệt nam, nữ về phân bổ theo ngành) và chiều dọc (nữ và nam tập trung ở những nhóm việc làm có chuyên
môn, tay nghề và thang lương khác hẳn nhau) (Trần Thị Vân Anh 2008, Vũ MạnhLợi 2009) [6: tr 56 – 60]; [89: tr 240, 241]
Bàn luận về vấn đề này, tác giả Đỗ Thiên Kính (2007) đã nhận xét: nói chung cả hai
vợ chồng đều chủ yếu làm trong nghề nông, nhưng tỷ lệ nghề nông của người vợ vẫn caohơn người chồng Người chồng có tốc độ chuyển ra khỏi lĩnh vực nông nghiệp nhanh hơnvợ; tốc độ dịch chuyển của người chồng đến nơi làm việc cho tư nhân trên thị trường cũngnhanh hơn vợ Tình trạng ưu thế này tiếp tục tăng lên theo thời gian chung sống [75]
Theo Nguyễn Hữu Minh, 2008, các công trình nghiên cứu cho thấy có một xu hướng
bảo lưu rõ nét đối với các khuôn mẫu lâu đời về phân công lao động theo giới trong gia đình,
theo đó phụ nữ được coi là thích hợp với công việc nội trợ, chăm sóc trẻ em và người già, giữtiền của các gia đình [93] Và các cuộc nghiên cứu cũng cho thấy đại bộ phận người phụ nữ,người vợ trong gia đình thực sự đang làm các công việc “nội trợ”, “giữ tiền”, và “chăm sóc trẻem” Khuôn mẫu này đặc biệt được ghi nhận đậm nét tại các địa bàn nông thôn (Lê Ngọc Văn
2002, Vũ Tuấn Huy 2004, Trần Quý Long 2007a, 2007b, 2008) [65]; [86]; 87]; [88]; [158]
Tuy nhiên, các nghiên cứu trong thập niên qua cũng cho thấy khuôn mẫu phân
công lao động theo giới trong gia đình không phải đang được bảo lưu một cách quá kiên cố Thiết chế gia đình tỏ ra là một thiết chế xã hội nhạy cảm và năng động đối với
những thay đổi trong môi trường kinh tế, xã hội, chính trị và sinh thái rộng lớn hơn.Trong khi cấu tr c lại chiến lược sống của mình, các gia đình Việt Nam đã làm chokhuôn mẫu cổ
Trang 35truyền về phân công lao động theo giới trong gia đình phải bị biến cải đi, theo hướng côngbằng/bình đẳng hơn giữa vợ và chồng, nam giới và nữ giới (Vũ Tuấn Huy 2004)[65] TrongĐiều tra Gia đình Việt Nam 2006, một tỷ lệ đáng kể (62%) người được hỏi thuộc cả 3 nhómtuổi cho rằng công việc sản xuất - kinh doanh phù hợp với cả nam và nữ; và việc chăm sócngười già/người bệnh, hay thay mặt gia đình giao tiếp với chính quyền là phù hợp với cả haigiới Dường như một bộ phận phụ nữ và nam giới đã sẵn sàng cho việc thay đổi vai trò truyềnthống của mình (Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch và các cơ quan khác 2008, Trần Thị VânAnh, Nguyễn Hữu Minh chủ biên 2008) [7: tr 77-78]; [8: tr 402-403];
Khi người phụ nữ tham gia nhiều vào các công việc sản xuất và hoạt động xã hội thìcông việc “nội trợ” có xu hướng được chia sẻ nhiều hơn giữa vợ và chồng - rõ nhất là trườnghợp các gia đình người vợ đóng vai trò trụ cột kinh tế (Đỗ Thiên Kính 2007, Nguyễn Thị KimHoa 2008, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch 2008, Nguyễn Đức Chiện 2009) [8: tr 78]; [35];[55]; [75]
Tuy vậy, cuộc giằng co giữa các xu hướng bảo lưu hay biến đổi cũng còn khá nan giải.Các khảo sát cho thấy những năm gần đây cả nam giới và nữ giới đều có sự thay đổi tích cựchơn trong nhận thức về giá trị và công sức mà người làm nội trợ phải bỏ ra Chính việc đadạng hóa nghề nghiệp, làn sóng di cư từ nông thôn ra đô thị kiếm việc làm (trong đó có rấtnhiều lao động nữ) đã làm lộ rõ giá trị các công việc nội trợ âm thầm xưa nay và làm chonhiều người chồng dần đánh giá đ ng hơn những đóng góp của người vợ trong các công việcgia đình (Nguyễn Hữu Minh, 2008) [93] Trong một cuộc khảo sát tại một xã đồng bằng Bắc
Bộ, một nửa số người được hỏi đã bác bỏ dứt khoát quan niệm cho rằng nội trợ không đem lạigiá trị kinh tế, và trên 70% bác bỏ quan niệm cho rằng làm nội trợ không tốn thời gian, công
sức (Đặng Thanh Nhàn, 2005) [103] Nhiều tác giả nhấn mạnh rằng việc lượng hóa bằng tiền
các đóng góp việc nhà của phụ nữ sẽ rất ít có ý nghĩa nếu không chỉ ra được mối liên hệ giữa những đóng góp to lớn đó với địa vị thấp kém của người phụ nữ trong gia đình do bị nhìn
nhận không phải là trụ cột kinh tế, và các việc ấy dù sao cũng chỉ là “vặt vãnh” (Đỗ Thị Bình
và Trần Thị Vân Anh 2003, Lê Thi 2002, Nguyễn Hữu Minh 2008) [18]; [93]; [121]
Các khảo sát gia đình nông thôn cho thấy quan hệ quyền lực giữa vợ và chồng nhìnchung có rất ít thay đổi so với kết quả của các nghiên cứu trước đây Sự so sánh mô hình raquyết định của gia đình giữa nông thôn và thành thị cho thấy ở thành thị, tỷ lệ
Trang 36người vợ “quyết định nhiều hơn” luôn luôn cao hơn nông thôn trên hầu hết các việc Các nhànghiên cứu cho rằng điều kiện thuận lợi hơn của phụ nữ đô thị như học vấn, nghề nghiệp, kiểu
tổ chức kinh doanh ở đô thị có tác động rõ rệt tăng cường quyền ra quyết định của phụ nữtrong gia đình (Trần Thị Vân Anh, Nguyễn Hữu Minh chủ biên, 2008: 161-167) [7] Một sốnhà nghiên cứu cũng nhận xét rằng cán cân quyền lực giữa vợ và chồng trong gia đình ViệtNam có mối liên hệ chặt chẽ với sự phân bố nguồn lực kinh tế
- xã hội giữa họ, trong đó, việc phụ nữ tiếp cận tốt hơn với giáo dục và thị trường laođộng cần được coi là một yếu tố động lực quan trọng (Trần Thị Cẩm Nhung, 2009,Trần Thị Kim, 2003) [71]; [105]; Một số nhà khoa học nghiên cứu về giới ở Việt Namtrong thập niên qua đã tiến xa hơn trong việc đào sâu khía cạnh lý thuyết của việc giámsát “các động thái quyền lực giới” (Lê Ngọc Hùng, 2008) [66]
Sự biến đổi của xã hội theo hướng công nghiệp hóa góp phần tạo cơ hội việc làm chophụ nữ và sự tham gia của họ vào lực lượng lao động xã hội Từ đó, đóng góp của phụ nữ vàothu nhập gia đình tăng lên, góp phần tăng sự tham gia của người chồng vào các công việc giađình Cách thức chủ yếu là đo lường về quyền quyết định cuối cùng trong một số lĩnh vực nhưsản xuất/kinh doanh; mua bán/xây sửa nhà đất; chi tiêu hàng ngày; mua sắm đồ đạc đắt tiền; tổchức giỗ tết; v.v Phân công lao động cho nữ giới ở nông thôn tập trung chủ yếu là công việcnội trợ, một loại hình gần như kết quả có thể đoán trước, sản xuất, kinh doanh gia đình, giaotiếp, v.v Ít được đề cập đến hoặc chỉ được phân tích một cách riêng rẽ Theo Báo cáo tại Hộinghị thượng đỉnh phụ nữ năm 2008 diễn ra tại Hà Nội, vai trò của người phụ nữ Việt Namtrong tiến trình phát triển kinh tế được đánh giá cao Báo cáo nêu rõ: “Nói về Việt nam, ch ngtôi thấy rằng phụ nữ Việt Nam gần như đã đạt được tỷ lệ ngang bằng với nam giới trong lựclượng lao động Về giáo dục, càng ngày càng có nhiều phụ nữ được đào tạo bài bản Phụ nữViệt Nam ngày nay tự tin coi mình là một lực lượng lao động chính trong xã hội, trong giađình và khi kinh tế được cải thiện, chỉ số tiêu dùng của họ cũng gia tăng” Ở Việt Nam, chínhsách đổi mới và mở cửa từ năm 1986 đã mang lại nhiều thay đổi về kinh tế và những thay đổitrong quan hệ giới và gia đình Sự đa dạng hóa, công nghiệp hóa và tư nhân hóa nền kinh tế
đã tạo điều kiện cho các cá nhân phát triển, đặc biệt là các cơ hội của phụ nữ tổ chức và thamgia các hoạt động tạo thu nhập Tuy nhiên, vị trí kinh tế của phụ nữ thay đổi một cách tích cựckhông có nghĩa là những trách nhiệm trong gia đình của họ được giảm nhẹ Nhiều nghiên cứu
về quan hệ gia đình và phân công lao động trên cơ sở giới
Trang 37đã ghi nhận rằng so với nam giới, phụ nữ vẫn tiếp tục đảm nhiệm nhiều hơn các công việctrong gia đình đặc biệt là những công việc tái sản xuất như chăm sóc và việc nhà, nhất là khinhững dịch vụ tương tự do nhà nước cung cấp đã bị cắt giảm và thương mại hóa và tư nhânhóa như là hệ quả của chính sách Đổi mới (Trần Thị Vân Anh, 1997) [4] Viện Nghiên cứuGia đình và Giới (2012) cho biết, có 37,1% số hộ gia đình cả hai vợ chồng đóng góp như nhaucho kinh tế gia đình, 15,9% số hộ người vợ có đóng góp thu nhập cao hơn chồng và 47% số hộngười chồng đóng góp thu nhập cao hơn vợ Quan trọng hơn, nghiên cứu này cung cấp những
số liệu điều tra cho thấy 90,1% người vợ và người chồng có khả năng đảm bảo cuộc sống độclập về kinh tế trong trường hợp không có sự trợ gi p từ nguồn thu nhập của chồng hoặc vợ.Trường hợp phụ thuộc kinh tế chỉ có tính tạm thời hay vì lý do sức khỏe bệnh tật của mộttrong hai người Như vậy, một khi cấu tr c cơ hội thay đổi làm cho phụ nữ được giáo dục, cónghề nghiệp, có thu nhập cũng có nghĩa là các nguồn lực của phụ nữ tăng lên sẽ ủng hộ sự chia
sẻ quyền lực của phụ nữ trong hôn nhân [162]
Thực tế này đã đặt ra một số câu hỏi nghiên cứu như mô hình phân chia công việc nhàthực sự như thế nào trong bối cảnh xã hội đang phát triển một cách nhanh chóng như hiện nay
ở Việt Nam? Quan niệm của nam giới và nữ giới về việc nhà như thế nào? Công việc nhà cógiá trị kinh tế như thế nào? Làm cách nào để lượng hóa được công việc nhà và sự đóng gópcủa nó vào nền kinh tế quốc gia? Để trả lời những câu hỏi này đòi hỏi có một nghiên cứu toàndiện về công việc nhà Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao nhận thức của xã hội về loạicông việc này và sẽ gi p các nhà hoạch định chính sách xây dựng những chính sách phù hợpquan tâm tới điều kiện phát triển kinh tế- xã hội và đào tạo giải quyết những nhu cầu củangười lao động và công bằng/ bình đẳng giới Cần phân tích sâu hơn logic xã hội ẩn đằng sau
sự phân công lao động theo giới trong gia đình ở Việt Nam và tìm ra những điều hợp lý hay bấthợp lý của sự phân công lao động hiện tại để chỉ ra vì sao khuôn mẫu ra quyết định hay sựphân công lao động theo giới trong gia đình có thể tồn tại lâu dài như vậy?
Giới hạn phạm vi nghiên cứu về vai trò của phụ nữ Sán Dìu của luận án tác giả tậptrung vào những khía cạnh sau:
- Nghiên cứu mô tả, đánh giá thực trạng vai trò của phụ nữ và đàn ông Sán Dìutrong phát triển kinh tế hộ tại tỉnh Thái Nguyên
Trang 38- Nghiên cứu, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ Sán Dìutrong quá trình tham gia phát triển kinh tế hộ gia đình cũng như chỉ ra những khó khăn,thách thức trong công cuộc phát triển kinh tế hộ gia đình của người Sán Dìu ở TháiNguyên.
1.3 Nghiên cứu về tương quan gi i trong tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực trong xã hội
1.3.1 Giới trong tiếp cận và kiểm soát đất đai
Tình trạng vợ, chồng đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà ở, đất ở tại ViệtNam là một chỉ báo khá điển hình về việc đàn ông và phụ nữ tiếp cận và kiểm soát nguồn lựctrong gia đình và ngoài xã hội Cuộc Điều tra về Bình đẳng giới và cuộc Điều tra gia đình ViệtNam 2006 (Bộ Văn hóa-Thông tin và Du lịch và những tổ chức khác 2008) [8] đều cho thấy
đa số các hộ có giấy chứng nhận nhà ở, đất ở đều chỉ có người chồng đứng tên Hầu như
trong suốt thập niên 2000-2010, mối quan hệ giới trong lĩnh vực này không có thay đổi đáng kể(Trần Thị Hồng 2009) [56]
Theo phân tích của Ngân hàng thế giới, vấn đề đất đai đáng lo ngại nhất là thay đổi
về quyền sở hữu và sử dụng đất từ quản lý dựa vào cộng đồng sang quản lý dựa vào thịtrường Nguồn tài nguyên vốn được cộng đồng quản lý và chia sẻ nay đã chuyển sang sởhữu cá thể có thể chuyển nhượng mua bán tạo ra sự khác biệt trong sở hữu và sử dụng đất.Đây cũng là lý do tạo ra khoảng cách ngày càng tăng trong các cộng đồng dân tộc thiểu số[98]
Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh Tâm (2006) Một số nét về bình đẳng
giới ở các dân tộc thiểu số (qua khảo sát một số địa bàn tại Sa Pa) thì những quy định về vai
trò của người đàn ông trong việc thờ c ng cha mẹ tổ tiên trong xã hội phụ hệ chính là lý do tạo
ra sự bất công đối với phụ nữ Người H‟mông, Dao và Giáy đều coi trọng việc có con traibởi con trai mới có quyền thừa kế tài sản và sẽ giữ tài sản cho gia đình Nếu không có con traithì tài sản sẽ bị chuyển sang con trai của anh chị em trong gia đình Bởi vậy, nếu không có contrai, họ có thể đi xin con trai người khác nuôi hoặc nhận con rể làm con trai [117] Nghiên cứucủa Đỗ Thị Bình và Hoàng Thị Sen 2005 ở huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế, lại nhận thấytập tục truyền thống về thừa kế đất đai của người Cơ Tu luôn giành sự ưu tiên cho con trai.Nhiều người được hỏi nói rằng: Từ trước tới nay trong cộng đồng người dân tộc Cơ Tu chưabao giờ con gái đi lấy chồng được chia đất, chỉ con trai được chia khi lập gia đình riêng, hoặc
Trang 39trước đây và cả hiện nay đất đai của bố mẹ đều được để lại cho con trai Vì con trai phải ở lại
để trông nom bố mẹ
Trang 40nên đất phải để cho con trai, con gái đã có nhà chồng lo, điều này là hợp lý, không có gì sai cả [16].
Sự bất bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai cũng được thể hiện ở sự thiếu hỗ trợ củachính quyền đối với những trường hợp phụ nữ không nằm trong danh sách xác nhận sử dụngđất phải chịu rủi ro mất quyền lợi khi li dị, li thân hay l c vợ chồng không hòa thuận Ở CaoBằng thì con gái người Tày và Nùng không bao giờ được quyền thừa kế tài sản (nhà, đất) do
bố mẹ để lại (Đỗ Thị Bình 1999) [14: tr22]
Theo tác giả Nguyễn Thị Thanh Tâm (2006) thì những bất bình đẳng trong quyền sửdụng đất do tập tục truyền thống, vô tình lại được hợp pháp hóa bằng những thủ tục quy địnhcủa nhà nước trong việc cấp đất những năm trước đây Ví dụ, hơn 80% số giấy chứng nhậnquyền sử dụng ruộng đất của xã Tả Văn cấp trong năm 1998 đều chỉ ghi tên người chồng, làchủ hộ đa số là đàn ông Chính những quy định này đã tạo ra những “đặc quyền, đặc lợi” chođàn ông và hạn chế cơ hội của phụ nữ trong việc tiếp cận và sử dụng đất lại góp phần làm chophụ nữ phụ thuộc nhiều hơn vào đàn ông [117: tr43]
Luật Đất Đai sửa đổi 2003 mới dừng lại ở chỗ thừa nhận quyền của phụ nữ trên giấy tờ
Ở Thừa Thiên Huế, bất bình đẳng trong việc tiếp cận đất đai của phụ nữ cũng được thể hiện ởquan niệm khác nhau của nam và nữ về tầm quan trọng của việc đứng tên sổ đỏ Trong khi phụ
nữ cho rằng việc đứng tên là làm chủ đất, và “giữ được đất khi chồng mất, hoặc nếu không cótên trong giấy, chồng có thể mang cho người khác mà mình không làm gì được” thì đàn ôngcho rằng phụ nữ đứng tên để thay chồng vay vốn khi vắng mặt (Đỗ Thị Bình và Hoàng ThịSen 2005) [16]
Quá trình giao quyền sử dụng đất nhà nước bằng phương thức cấp sổ đỏ cho các hộgia đình và chính sách đưa tên của vợ và chồng vào giấy chứng nhận sử dụng đất có ảnh
hưởng rất ít tới phụ nữ của các nhóm dân tộc thiểu số Báo Cáo Phân Tích Giới: Nghiên cứu
định tính tại hai xã Xuân Lạc và Bản Thi, Huyện Chợ Đồn – Bắc Cạn của tác giả Hoàng Bá
Thịnh năm 2007 về tiếp cận nguồn lực đất đai của phụ nữ ở Chợ Đồn, Bắc Kạn cũng cho thấychưa có sự thay đổi nhiều trong sở hữu đất đai của phụ nữ dân tộc Dao và H‟mông Là chủ
hộ, đàn ông không những nắm giữ tài sản đất đai của gia đình, mà còn tiếp tục kiểm soátviệc tiếp cận vốn vay và tham dự các lớp tập huấn [125]
Luật Đất đai sửa đổi năm 2013 đã khắc phục, giải quyết được những tồn tại, hạn chếphát sinh trong quá trình thi hành Luật trước đây và đảm bảo quyền sở hữu nhà ở và tài sảnkhác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là