Vai Trò Của Chính Quyền Địa Phương Trong Việc Hỗ Trợ Hiệu Quả Hoạt Động Của Một Số Doanh Nghiệp FDI Tại Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)Vai Trò Của Chính Quyền Địa Phương Trong Việc Hỗ Trợ Hiệu Quả Hoạt Động Của Một Số Doanh Nghiệp FDI Tại Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)Vai Trò Của Chính Quyền Địa Phương Trong Việc Hỗ Trợ Hiệu Quả Hoạt Động Của Một Số Doanh Nghiệp FDI Tại Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)Vai Trò Của Chính Quyền Địa Phương Trong Việc Hỗ Trợ Hiệu Quả Hoạt Động Của Một Số Doanh Nghiệp FDI Tại Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)Vai Trò Của Chính Quyền Địa Phương Trong Việc Hỗ Trợ Hiệu Quả Hoạt Động Của Một Số Doanh Nghiệp FDI Tại Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)Vai Trò Của Chính Quyền Địa Phương Trong Việc Hỗ Trợ Hiệu Quả Hoạt Động Của Một Số Doanh Nghiệp FDI Tại Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)Vai Trò Của Chính Quyền Địa Phương Trong Việc Hỗ Trợ Hiệu Quả Hoạt Động Của Một Số Doanh Nghiệp FDI Tại Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)Vai Trò Của Chính Quyền Địa Phương Trong Việc Hỗ Trợ Hiệu Quả Hoạt Động Của Một Số Doanh Nghiệp FDI Tại Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ
VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TRONG VIỆC HỖ TRỢ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA MỘT SỐ DOANH NGHIỆP FDI TẠI VIỆT NAM
Ngành: Kinh doanh Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 8340101
Họ và tên: Phạm Thanh Xuân Người hướng dẫn khoa học: TS Vương Thị Thảo Bình
Hà Nội - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài này được thực hiện dựa trên quá trình nghiên cứu trung thực dưới sự cố vấn của người hướng dẫn khoa học Đây là đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế, chuyên ngành Quản trị kinh doanh Luận văn này chưa được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào và tất cả các nguồn tài liệu tham khảo đều được trích dẫn đủ
Hà Nội, ngày 30 tháng 03 năm 2018
Tác giả luận văn
PHẠM THANH XUÂN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ các cơ quan, tổ chức và cá nhân Nhân đây, tôi xin gửi lời cảm
ơn sâu sắc lòng biết ơn chân thành đến các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện và giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Ngoại thương cùng tập thể các thầy cô giáo, những người đã trang bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn Tiến sỹ Vương Thị Thảo Bình người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài
Do thời gian nghiên cứu và kiến thức còn hạn chế, luận văn được hoàn thiện không thể tránh khỏi những sơ suất thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến của các thầy cô giáo cùng các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 30 tháng 3 năm 2018
Tác giả luận văn
PHẠM THANH XUÂN
Trang 4MỤC LỤC
1.3 Các yếu tố xác định vai trò của địa phương làm ảnh hưởng đến việc hỗ
1.3.1 Các hoạt động ảnh hưởng đến DN FDI của địa phương 15
1.4 Đánh giá của doanh nghiệp về mức độ hỗ trợ của chính quyền cấp tỉnh22 1.5 Các chỉ số đánh giả hiệu quả hoạt động doanh nghiệp FDI 25 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP FDI GIAI
2.2 Phân tích các yếu tố xác định tác động của chính quyền địa phương đến hoạt động doanh nghiệp FDI tại Bắc Ninh, Quảng Ngãi, và Bình Dương 30
Trang 52.3 Ảnh hưởng của yếu tố nguồn lực lao động 47
2.5 Bất cập trong những yếu tố xác định ảnh hưởng của chính quyền địa
2.5.3 Bất cập trong yếu tố Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp 67
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CÁC ĐỊA PHƯƠNG NHẰM GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ DOANH
3.2 Cơ hội, lợi thế, và thách thức đối với Chính quyền địa phương 73
3.3 Giải pháp phát huy vài trò của chính quyền các địa phương nhằm góp
Trang 63.3.3 Giải pháp cho yếu tố Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp 79
Trang 7DANH MỤC KÝ HIỆU, VIẾT TẮT
DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Tổng sản phẩm nội địa
GRDP Tổng sản phẩm trên địa bàn
HDND Hội đồng nhân dân
ICOR Hiệu suất sử dụng vốn đầu tư
KCN Khu công nghiệp
KCNC Khu công nghệ cao
KCX Khu chế xuất
KKT Khu kinh tế
KHPTKT-XH Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hộiNĐ-CP Nghị định – Chính phủ
PCI Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
QĐ-TTg Quyết định của Thủ tướng
QPPL Quy phạm pháp luật
TT-BTC Thông tư – Bộ Tài chính
TTCP Thủ tướng Chính phủ
Trang 8UBND Uỷ ban nhân dân
UBTV Ủy ban Thường vụ
VCCI Thương mại và Công nghiệp Việt NamXHCN Xã hội Chủ nghĩa
Trang 9DANH MỤC BẢNG HIỆU
Bảng 1: Sơ lược vốn đầu tư trên địa bàn từ khu vực FDI, số dự án được cấp phép, tổng vốn đăng ký, và vốn pháp định tại ba tỉnh Bắc Ninh, Bình Dương, Quảng Ngãi,
Bảng 2: Sơ lược về cơ sở hạ tầng bao gồm giao thông, bưu chính viễn thông, và y tế sức khỏe tại ba tỉnh Bắc Ninh, Bình Dương, và Quảng Ngãi 44Bảng 3: Sơ lược dân số trung bình và lao động đang làm việc tại ba tỉnh Bắc Ninh, Bình Dương, Quảng Ngãi, và toàn quốc trong giai đoạn 2011 – 2015 48Bảng 4: Năng suất lao động tại ba tỉnh Bắc Ninh, Bình Dương, Quảng Ngãi, và
Bảng 5: Tỷ lệ lao động trong khu vực FDI ba tỉnh Bắc Ninh, Bình Dương, Quảng Ngãi, và Toàn quốc trong giai đoạn 2011 – 2015 55Bảng 6: GDP/ GRDP khi bỏ khu vực FDI, lao động đang làm việc toàn tỉnh không nằm trong khu vực FDI, và năng suất lao động tại ba tỉnh Bắc Ninh, Bình Dương, Quảng Ngãi, và Toàn quốc trong giai đoạn 2011 – 2015 56Bảng 7: Mức tăng đóng góp GDP từ khu vực FDI, tổng vốn pháp định, năng suất lao động, và chỉ số ICOR tại ba tỉnh Bắc Ninh, Bình Dương, Quảng Ngãi, và Toàn
Bảng 8: Kim ngạch xuất khẩu từ DN, kim ngạch xuất khẩu từ khu vực FDI, và Đóng góp của khu vực FDI vào giá trị xuất khẩu của DN tại ba tỉnh Bắc Ninh, Bình Dương, Quảng Ngãi, và Toàn quốc trong giai đoạn 2011 – 2015 58Bảng 9: Tỷ lệ doanh nghiệp nước ngoài, lao động trong khu vực FDI, và thu nhập của lao động trong khối doanh nghiệp FDI tại ba tỉnh Bắc Ninh, Bình Dương,
Quảng Ngãi, và Toàn quốc trong giai đoạn 2011 – 2015 61Bảng 10: Tỷ lệ GDP/ GRDP đóng góp từ khu vực FDI, cơ cấu vốn sản xuất địa phương từ doanh nghiệp FDI, và Giá trị TSCĐ so với địa phương từ doanh nghiệp FDI tại ba tỉnh Bắc Ninh, Bình Dương, Quảng Ngãi, và Toàn quốc trong giai đoạn
Trang 10Bảng 11: Tổng kết mối liên quan có thể giữa mức hỗ trợ từ chính quyền các tỉnh đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp FDI tại Bắc Ninh, Bình Dương, và Quảng
Trang 11DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1: Các thực thể có liên quan đến các hoạt động kinh tế và quản lý kinh tế của
Hình 2: Sơ đồ các yếu tố ảnh hưởng từ Chính quyền địa phương đối với hoạt động
Hình 3: Chỉ số PCI và xếp hạng của Bắc Ninh, Bình Dương, và Quảng Ngãi trong
Hình 7: Yếu tố “Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất”, “Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, và ““Đào tạo lao động” trong chỉ số PCI tại Bắc Ninh, Bình Dương,
Trang 12TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Luận văn này tập trung vào việc tìm hiểu, phân tích, và đánh giá ảnh hưởng của chính quyền địa phương lên hiệu quả hoạt động DN FDI tại ba tỉnh Bắc Ninh, Quảng Ngãi, Bình Dương, là đại diện cho ba miền Bắc – Trung – Nam tại Việt Nam Trong luận văn này, các yếu tố được tác giả hệ thống hóa theo mô hình mối quan hệ giữa các thực thể có liên quan đến các hoạt động kinh tế và quản lý kinh tế của một nước (Hình 1) Dựa trên sự phân nhóm này, các yếu tố cụ thể được hình thành và hỗ trợ tác giả thực hiện phân tích Kết quả nghiên cứu cho thấy:
Cơ sở hạ tầng, bao gồm giao thông, y tế, và truyền thông, cùng với lợi thế tài nguyên địa phương có tầm ảnh hưởng quan trọng đối với GRDP trên đầu lao động tại khối FDI;
Cơ sở hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ DN đóng góp đáng kể đến hiệu quả của DN FDI trong việc đóng góp tạo việc làm trong khu vực;
Tuy nhiên, từ kết quả này cũng cho thấy tầm ảnh hưởng của chính quyền địa phương lên hiệu quả hoạt động DN FDI, trừ yếu tố dịch vụ hỗ trợ DN, hiện là chưa thực sự đáng kể và cần được cải thiện Trong đó, một vài mặt mà chính quyền địa phương có thể bắt đầu bao gồm việc đẩy mạnh việc tìm kiếm thông tin thị trường,
tư vấn về pháp luật, tìm đối tác kinh doanh, xúc tiến thương mại, đào tạo về kế toán
và tài chính, quản trị kinh doanh, và liên quan đến công nghệ cùng với thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về FDI, tạo hành lang pháp lý đồng bộ, thông thoáng, đảm bảo lợi ích của cả nhà đầu tư nước ngoài và của cả cộng đồng Mọi thủ tục hành chính phục vụ cho hoạt động đầu tư phải đơn giản, gọn nhẹ, không làm tăng chi phí, không gây phiền hà, sách nhiễu cho nhà đầu tư Thường xuyên kiểm tra, giám sát chặt chẽ hoạt động FDI từ khi cấp giấy chứng nhận đầu tư, đến khi triển khai và các công tác hậu kiểm khác để tăng hiệu quả kinh tế – xã hội Hơn thế nữa, các tỉnh có thể tăng cường nâng cao và cải thiện nguồn nhân lực và thắt chặt việc sử dụng công nghệ cao trong sản xuất để có thể duy trì và tăng cường thêm các dự án FDI Để có dự án công nghệ cao, cần lựa chọn đối tác có chọn lọc Các đối tác phải có khả năng đem theo công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, hệ thống quản lý hiện đại, tạo tác động lan toả tích cực tới sự phát triển của khu vực kinh tế trong nước;
Trang 13góp phần xây dựng và hình thành những ngành công nghiệp mũi nhọn theo định hướng của nước ta và theo vùng.
Trang 14LỜI MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài
Từ năm 1986, Việt Nam đã thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước Sau hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với 90% dân số làm nông nghiệp, Việt Nam đã xây dựng được cơ sở vật chất-kỹ thuật, hạ tầng kinh tế-xã hội từng bước đáp ứng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo ra môi trường thu hút nguồn lực xã hội cho phát triển
Trong suốt 30 năm từ 1986 - 2016, nền kinh tế Việt Nam đã liên tục duy trì bình quân tăng trưởng cao bình quân gần 7% mỗi năm trong đó có tới 20 năm liên tục GDP tăng bình quân 7,43% Đến năm 2016, quy mô nền kinh tế đã đạt khoảng
217 tỷ USD Tính đến thời điểm này, Việt Nam đang đứng thứ 6 tại Đông Nam Á
và top 50 nền kinh tế quy mô nhất thế giới Thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 2.200 USD (tương đương 48,6 triệu đồng/năm), trở thành một nước có thu nhập trung bình khá của thế giới Đến thời điểm năm 2017 khép lại, cùng với xu thế chung của kinh tế toàn cầu, kinh tế Việt Nam tiếp tục ổn định về mặt vĩ mô Trong
đó, tăng trưởng GDP đạt 6,81%, chủ yếu đến từ sự đóng góp của xuất khẩu và tiêu dùng trong nước (Tạp chí tài chính, 2018)
Trong suốt quá trình thay đổi không thể không kể đến vai trò của khu vực DN FDI Doanh nghiệp FDI là động lực để thúc đẩy các ngành thuộc công nghiệp chế biến, chế tạo trong nước, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực và góp phần giải quyết có hiệu quả nhiều vấn đề xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế, trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, năm 2013 các DN FDI chiếm tới 45,4% tổng lợi nhuận và 30,5% tổng số nộp ngân sách nhà nước của toàn bộ khu vực DN (Khổng Văn Thắng, 2014) Đồng thời, khu vực doanh nghiệp FDI còn đóng góp tỷ trọng ngày càng vào GDP Năm 1995 tỷ lệ đóng góp vào GDP của khu vực FDI chỉ đạt 6,3%, tăng lên 15,2% năm 2000 và 19,6% năm 2013 (Tổng Cục Thống
Kê, 2014) Trong những năm gần đây, DN FDI tiếp tục đạt tăng trưởng doanh thu và tổng lợi nhuận nhanh nhất toàn thị trường (25,47% trung bình so với 20,81% và 17,44% của khu vực DNNN và khu vực DN ngoài nhà nước)
Trang 15Tuy nhiên, cho đến nay, có một thực trạng đang xảy ra là Việt Nam dường như chưa tận dụng được hết những lợi ích từ các dòng vốn FDI Trong các vấn đề
mà Việt Nam đang gặp phải nằm ở khâu thủ tục hành chính Theo một tài liệu tham khảo về tiến trình cải thiện môi trường pháp lý của Việt Nam đối với DN trong năm
2016, chỉ 2% phản hồi cải thiện đáng kể; 21% ghi nhận cải thiện đôi chút; 18% đánh giá có phần phức tạp; 14% cho rằng môi trường pháp lý của Việt Nam phức tạp hơn nhiều và 40% phản hồi rằng môi trường pháp lý không thay đổi (Lê Thúy, 2017) Ngoài ra, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về hiệu quả sử dụng vốn FDI hay
về phương pháp thu hút FDI, theo hiểu biết của tác giả, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa chính quyền địa phương và hiệu quả hoạt động
DN FDI
Chính vì vậy, để Việt Nam có thể tận dụng tốt hơn những lợi ích từ các dòng vốn FDI và tiếp tục đóng góp vào việc tạo thêm việc làm, tăng sản lượng công nghiệp và đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam, việc tìm hiểu về vai trò của chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ hiệu quả hoạt động của các DN FDI là rất quan cần thiết Câu hỏi đặt ra là chính quyền địa phương có ảnh hưởng thế nào đến hiệu quả hoạt động của các DN FDI? Và lãnh đạo địa phương cần phải làm gì để cải thiện? Xuất phát từ cơ sở lí luận này và thực tiễn về tầm quan trọng của các DN
FDI, tôi đã chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài “Vai Trò Của Chính Quyền Địa
Phương Trong Việc Hỗ Trợ Hiệu Quả Hoạt Động Của Một Số Doanh Nghiệp FDI Tại Việt Nam”
Tổng quan các nghiên cứu liên quan
Nghiên cứu này tập trung vào hai khía cạnh:
- Các yếu tố ảnh hưởng của chính quyền địa phương lên DN
- Hiệu quả hoạt động của các DN FDI
Về chính quyền địa phương, kể từ năm 2005, phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) được hợp tác nghiên cứu và Cơ quan hợp tác Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ US-Aid đã cho ra đời chỉ số Năng lực Cạnh tranh cấp tỉnh PCI với mục đích làm thước đo đánh giá tính cạnh trạnh tại các tỉnh thành Việt Nam dựa
Trang 16theo một danh sách các chỉ số liên quan đến hoạt động của Chính quyền địa phương (PCI, 2018) Tuy vậy, báo cáo này lại chỉ quan tâm đến đánh giá các hoạt động của chính quyền địa phương chứ không màng đến việc ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của DN, đặc biệt là nhóm DN FDI, như thế nào
Ứng dụng của chỉ số PCI vào nghiên cứu về các DN FDI có thể kể đến nghiên
cứu “Đánh giá tác động của chất lượng thể chế cấp tỉnh tới khả năng thu hút FDI vào các địa phương tại Việt Nam” đăng tại Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà
Nội, chuyên mục Kinh tế và Kinh doanh vào năm 2014 của Nguyễn Quốc Việt, Chu Thị Nhường, Trần Thị Giáng Quỳnh, và Phạm Thị Hiền Trong nghiên cứu này, các tác giả đã sử dụng phương pháp hồi quy và ứng dụng STATA để tìm ra mối quan hệ giữa các yếu tố trong chỉ số PCI và khả năng thu hút FDI tại 20 tỉnh thành trên cả nước từ năm 2006 đến năm 2009 Kết quả cho thấy dòng vốn FDI bình quân đầu người tăng lên 99% khi chỉ số về tiếp cận đất đai tăng lên 1 điểm và tăng lên 46% khi chỉ số tính minh bạch và tiếp cận thông tin tăng thêm 1 điểm Trong khi đó, tăng thêm 1 điểm chỉ số chi phí thời gian trong PCI làm cho luồng vốn FDI bình quân đầu người vào các địa phương giảm đi 43% và tăng 1 điểm cho chi phí không chính thức làm cho dòng vốn này bị giảm đi 137%
Trong khi đó, về mặt hiệu quả hoạt động của các DN FDI, tại một vài nghiên cứu và hội thảo về các yếu tố đánh giá hiệu quả của việc đầu tư trực tiếp nước ngoài
ở Việt Nam, bộ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của hoạt động, và tính cạnh tranh cấp tỉnh
trong việc hỗ trợ hoạt động của các DN Trên thực tế, tại hội thảo "Xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ở Việt Nam" vào sáng 18
tháng 04 năm 2012, nhiều ý kiến đánh giá việc nghiên cứu xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả FDI ở Việt Nam là thực sự cần thiết, phù hợp, giúp các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn rõ hơn và cụ thể đối với dòng vốn này, từ đó có các giải pháp, biện pháp quản lý, sử dụng hiệu quả hơn Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một thước đo đánh giá nào được đặt làm tiêu chuẩn về hiệu quả hoạt động của các
DN FDI
Trong nghiên cứu “Về hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010” đăng trên tạp chí Kinh tế và Dự báo số 509 năm 2011 của Đỗ
Trang 17Thùy Trang và Lâm Thùy Dương, tác giả đánh giá hiệu quả hoạt động của DN FDI dựa trên Năng suất lao động của khu vực FDI (triệu đồng/ 1 lao động), hiệu suất sử dụng vốn FDI (ICOR), đóng góp vào xuất nhập khẩu, đóng góp tạo việc làm ở khu vực, và đóng góp vào GDP, sự đóng góp của khu vực FDI là không thể bàn cãi và
có tính tăng dần Số liệu của tác giả có phạm vi nghiên cứu 10 năm từ 2001 đến
2010 và đối tượng là toàn bộ DN FDI trên Toàn quốc Kết quả của nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng và hiệu quả tăng dần của các DN FDI trên lãnh thổ Việt Nam Tuy nhiên, tác giả của nghiên cứu cũng chỉ đến sự cần thiết của những nghiên cứu
kỹ càng và toàn diện hơn để có được bức tranh toàn cảnh Trong đó, tác giả thừa nhận việc những phân tích và chỉ số đánh giá này chưa đề cập đến hiệu quả môi trường và sự lan tỏa công nghệ Ngoài ra, nghiên cứu này không đưa lên được ảnh hưởng từ chính quyền địa phương
Trong báo cáo “Hiệu quả của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giai đoạn 2005 – 2014” của Tổng Cục Thống Kê được Nhà xuất bản thống kê
sản xuất năm 2016, hiệu quả hoạt động của các DN FDI trên lãnh thổ Việt Nam cũng được theo dõi theo đóng góp của các DN FDI vào tăng quy mô GDP của Việt Nam, đóng góp tạo việc làm cho người lao động, đóng góp vào thu ngân sách nhà nước của Việt Nam, và đóng góp vào gia tăng giá trị xuất khẩu của Việt Nam Tuy nhiên, khác với nghiên cứu của Đỗ Thùy Trang và Lâm Thùy Dương, Tổng Cục Thống Kê có đưa thêm số liệu phân theo ngành kinh tế, tỉnh, và thành phố trong các năm 2005, 2010, và 2014 Việc đưa các chỉ số theo quãng thời gian cách vài năm có thể giúp người đọc theo dõi được sự thay đổi lớn về hiệu quả hoạt động DN FDI tại các địa phương nhưng không thể hiện được mối liên quan giữa chính quyền địa phương và sự thay đổi hiệu quả đó
Ngoài ra, theo nghiên cứu “Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến FDI của các tỉnh thành Việt Nam bằng mô hình kinh tế lượng không gian” của Lê Văn Thắng và
Nguyễn Lưu Bảo Đoan đăng trên Tạp chí Phát triển Kinh tế vào năm 2017, cấp chính quyền địa phương nên tăng cường chỉ đạo các cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục thu hồi đất và cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho các dự án đầu tư nước ngoài không có khả năng triển khai hoặc có kế hoạch sử dụng đất đầy đủ đã được
Trang 18giao để chuyển giao cho các dự án đầu tư mới hiệu quả hơn Đồng thời, cấp chính quyền địa phương, trong phạm vi thẩm quyền của mình, nên chủ trương tổ chức rà phá đất đai và giao đất cho nhà đầu tư theo cam kết, đặc biệt là các dự án có quy mô lớn mà nhà đầu tư sẵn sàng giải ngân cho dự án Ngoài ra, cấp chính quyền địa phương còn có thể đề xuất ý kiến với Bộ Kế hoạch và Đầu tư để xử lý những vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện dự án ngoài thẩm quyền để báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Cuối cùng, trong nghiên cứu xoay quanh bộ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tới nền kinh tế Việt Nam, viện VCCI chỉ ra rằng các địa phương Đồng Nai, Bình Dương, Hà Nội, Bắc Ninh rơi vào nhóm cuối đặc biệt trong giai đoạn chuyển giao từ 2000 - 2004 sang giai đoạn 2005 –
2009 Điều này cho thấy, những điều chỉnh trong chiến lược sản xuất, kinh doanh của khu vực FDI theo hướng tạo ra tác động tiêu cực nhiều hơn đối với các địa phương nói riêng, nền kinh tế Việt Nam nói chung Bản thân báo cáo của Tổng Cục Thống Kê cũng thấy được yếu kém tại một vài địa phương như Quảng Ngãi Tại đây, các DN FDI trong cả năm 2010 lẫn năm 2014 đều báo cáo lợi nhuận trước thuế
âm Những bằng chứng này chứng tỏ có sự khác biệt về hiệu quả hoạt động của các DN FDI tại các tỉnh mà trong đó chính quyền địa phương có thể đã có sự tác động nhất định.Tóm lại các nghiên cứu hay báo cáo trên chỉ tập trung hoặc là vào hiệu quả hoạt động của DN FDI hoặc là vào đánh giá các hoạt động của chính quyền địa phương, chưa kết nối và tìm mối quan hệ giữa hai yếu tố này Luận văn này nhằm làm rõ ảnh hưởng của chính quyền địa phương đến vào hiệu quả hoạt động của DN FDI với phạm vi nghiên cứu tại ba tỉnh đại diện ba miền của Việt Nam bao gồm: Bắc Ninh, Bình Dương, và Quảng Ngãi với số liệu nghiên cứu được thống kê từ năm 2011 đến năm 2015
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát:
Nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của chính quyền địa phương đến hiệu quả hoạt động của DN FDI và từ đó đưa ra những gợi ý và giải pháp trong việc tăng
Trang 19cường hỗ trợ và cải thiện hiệu quả hoạt động của các DN FDI trên địa bàn mang tính tham khảo cho các địa phương khác
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Chính quyền địa phương cấp tỉnh
Phạm vi nghiên cứu: 3 tỉnh đại diện cho ba miền trên lãnh thổ đất nước bao gồm Bắc Ninh, Bình Dương, và Quảng Ngãi
Phạm vi thời gian: Dữ liệu từ năm 2011 đến năm 2015 Việc sử dụng dữ liệu trong giai đoạn này gắn chặt với giới hạn về khả năng truy cập những số liệu mới hơn của tác giả, trong đó đặc biệt là Niên giám thống kê hàng năm của hai năm trở lại đây
Phạm vi về nội dung: Tập trung vào các yếu tố xác định vai trò của địa phương trong việc hỗ trợ hoạt động của DN FDI
Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu khoa học này, phương pháp nghiên cứu tài liệu sẽ là phương pháp chính được sử dụng với sự bổ trợ của phương pháp thống kê toán học
Trong đó, bài nghiên cứu này sẽ tham khảo những tại liệu nghiên cứu khác về FDI, về DN FDI trên lãnh thổ Việt Nam, các yếu tố ảnh hưởng, và các tài liệu khác
về đề tài này, tổng hợp, và hệ thống hoá các dữ liệu
Trang 20Kết cấu của luận văn
Trong luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu nghiên cứu, luận văn kết cấu theo 3 chương:
Chương 1: Tổng quan cơ sở lý luận về vai trò của chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ hiệu quả hoạt động của các DN FDI
Chương 2: Thực trạng ảnh hưởng chính quyền địa phương tại Bắc Ninh, Bình Dương, và Quảng ngãi đến hiệu quả hoạt động của những DN FDI giai đoạn 2011 – 2015
Chương 3: Giải pháp phát huy vai trò của chính quyền các địa phương nhằm góp phần nâng cao hiệu quả doanh nghiệp FDI tại Việt Nam
Trang 21CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TRONG VIỆC HỖ TRỢ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA MỘT SỐ
DOANH NGHIỆP FDI Định nghĩa vai trò của chính quyền địa phương
Để hiểu về chính quyền địa phương, trước hết, chúng ta cần định nghĩa Nhà nước là gì! Nhà nước tồn tại đóng vai trò là chủ thể lớn nhất, quyết định nhất trong việc quản lý xã hội tồn tại, hoạt động, phát triển hoặc suy thoái (Đỗ Hoàng Toàn và Mai Văn Bưu, 2005, tr 9) Vai trò này được thể hiện thông qua các sứ mệnh, nhiệm
vụ và các chức năng mà Nhà nước phải gánh vác trước xã hội Trong đó, nhiệm vụ thứ nhất là Nhà nước phải bảo vệ được sự an toàn, yên ổn cho mọi công dân trong
xã hội, giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ Nhiệm vụ thứ hai
là bảo đảm cho xã hội phát triển, các công dân đạt được nguyện vọng chính đáng của mình Nhiệm vụ cuối cùng là phải thay mặt xã hội tiến hành các hoạt động đối ngoại với các Nhà nước và thực thể xã hội khác, thông qua đó tạo điều kiện thực hiện tốt các sứ mệnh đối nội
Tại Việt Nam, thể chế nhà nước xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế chỉ huy vận hành theo kế hoạch hóa tập trung, trong đó Nhà nước là người quản lý trực tiếp mọi hoạt động sản xuất Trong mô hình này, các cơ quan, bộ ngành Nhà nước đóng vai trò then chốt trong việc định hướng phát triển của các thể chế kinh tế và xã hội Như vậy, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế; tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và bảo vệ tài nguyên, môi trường; phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội Thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực,
là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân
bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường
Trang 22Hình 1: Các thực thể có liên quan đến các hoạt động kinh tế và quản lý
kinh tế của một nước
Nguồn: Đỗ Hoàng Toàn và Mai Văn Bưu (2005)
Hay nói cách khác, hoạt động của các chủ thể tham gia kinh tế trong lãnh thổ Việt Nam, trong đó bao gồm cả các DN FDI, đều bị ảnh hưởng bởi chính quyền địa phương FDI là một lĩnh vực mới mẻ và phức tạp của hoạt động kinh tế đối ngoại ở Việt Nam, nên ngay từ đầu, Nhà nước đã đứng ra chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ quá trình hoạt động của đầu tư trực tiếp nước ngoài Mục tiêu chung của công tác quản lý hoạt động FDI là thực hiện mục tiêu chung của Nhà nước trong quan hệ hợp tác với nước ngoài, tranh thủ mọi nguồn lực có thể có của thế giới về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, thị trường và sự phân công lao động quốc tế, khai thác
có hiệu quả tiềm năng về lao động, tài nguyên của đất nước để phát triển sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu, tăng tích luỹ, cải thiện đời sống nhân dân, từng bước công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Mục tiêu cụ thể của công tác quản lý FDI là giúp các nhà đầu tư thực hiện một cách tốt nhất, hiệu quả nhất Luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, tạo môi trường hoạt động thông thoáng, giải quyết, xử lý và điều chỉnh những phát sinh trong quá trình đầu tư, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững
Trên thực tế, theo mô hình trên (Hình 1) thì các DN FDI thuộc nhóm (2) Các chủ thể tham gia các hoạt động kinh tế bao gồm các DN, các hợp tác xã, các hộ gia đình,
Trang 23các nhóm liên kết hoạt động kinh tế và các cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế Cũng theo hình biểu đồ này thì nhóm (2) sẽ nhận tác động từ hai đối tượng chính bao gồm các cơ quan quyền lực nhà nước tham gia quản lý kinh tế và các thiết chế
xã hội khác ngoài kinh tế cùng với hai yếu tố chung là môi trường nhiên nhiên và công nghệ toàn cầu, và tài nguyên đất nước Ngoài ra, bản thân nhóm (1) Các cơ quan quyền lực nhà nước tham gia quản lý kinh tế cũng có thể tác động đến nhóm (2) thông qua hai yếu tố môi trường nhiên nhiên và công nghệ toàn cầu, và tài nguyên đất nước Trên thực tế, ở tại Việt Nam, quản lý kinh tế của nhà nước là một dạng của quản lý xã hội của nhà nước trong đó có sự tham gia của các cơ quan quản
lý nhà nước ở trung ương, các bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ, các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương, và các cơ quan có thẩm quyền chuyên môn ở địa phương
Mặt khác, thuật ngữ “ chính quyền địa phương” được sử dụng tương đối rộng rãi và phổ biến trong các văn kiện của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước, các sách báo chính trị pháp lý, cũng như các bài phát biểu của Lãnh đạo Đảng và Nhà nước ở trung ương và địa phương Trong Hiến pháp năm 1992, chương nói về chính quyền địa phương có tên gọi là: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Đến Hiến pháp năm 2013, tên gọi của chương này được đổi tên thành Chính quyền địa phương Đây là sự thay đổi hợp lý, phù hợp với lịch sử lập hiến cũng như các văn bản khác của Đảng và Nhà nước ta Hiện nay, chính quyền địa phương là khái niệm dùng để chỉ cơ quan thực thi quyền lực nhà nước ở địa phương Theo quy định tại Điều 111 Hiến pháp năm 2013 thì Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn
vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật quy định
Cụ thể hơn, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc song trùng trực thuộc: phụ thuộc theo chiều dọc và phụ thuộc theo chiều ngang: UBND các cấp (cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung), vừa phụ thuộc cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung ở cấp
Trang 24trên vừa phụ thuộc vào hội đồng nhân dân (HÐND) cùng cấp (cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp ở địa phương) còn Các sở, phòng, ban (cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn) vừa phụ thuộc vào cơ quan hành chính nhà nước
có thẩm quyền chuyên môn cấp trên vừa phụ thuộc vào UBND cùng cấp (cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung cùng cấp) Ở đây, UBND được xác định
là cơ quan quản lý hành chính nhà nước ở địa phương, có trách nhiệm trực tiếp quản
lý tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng trên địa bàn địa phương Đồng thời, UBND “chủ động đề xuất các định hướng phát triển kinh tế
- xã hội để Hội đồng nhân dân xem xét”
UBND có các cơ quan chuyên môn trực thuộc, quản lý các ngành, lĩnh vực ở địa phương đảm bảo nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và lãnh thổ Các địa phương được quyền tự chủ rất lớn về quy hoạch phát triển, phân cấp đất, quyền quyết định xây dựng hạ tầng trong tỉnh Mặc dù phần lớn các dự án đầu tư công có nguồn vốn ngân sách do Trung ương bố trí và quyết định, các dự án vẫn được giao cho chính quyền địa phương quản lý Theo Hiến pháp 2013, vốn có tiền đề từ Hiến pháp 1992, và Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015, thì chính quyền địa phương có quyền quyết định biện pháp thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm, kế hoạch sử dụng lao động công ích hàng năm, biện pháp thực hiện chương trình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công và chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cây trồng, vật nuôi theo quy hoạch chung, quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn, dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phân bổ dự toán ngân sách cấp địa phương, phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương; các chủ trương, biện pháp để triển khai thực hiện ngân sách địa phương và điều chỉnh
dự toán ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật; giám sát việc thực hiện ngân sách đã được Hội đồng nhân dân quyết định, quyết định biện pháp quản lý và
sử dụng hợp lý, có hiệu quả quỹ đất được để lại nhằm phục vụ các nhu cầu công ích của địa phương, quyết định biện pháp quản lý cơ sở hạ tầng và nguồn nước
Như vậy, chính quyền địa phương có thể ảnh hưởng tới hoạt động của DN thông qua phương án thực hiện chương trình khuyến công và chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phân bổ dự toán ngân sách, phương án quản lý quỹ đất, tài nguyên nước, và
Trang 25cơ sở hạ tầng tại địa phương Hay nói cách khác, cũng như biểu đồ quan hệ trên (Hình 1), chính quyền địa phương, thuộc nhóm (1) có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của DN FDI, thuộc nhóm (2), một cách trực tiếp thông qua phương án thực hiện chương trình khuyến công và chuyển đổi cơ cấu kinh tế và gián tiếp thông qua phương án quản lý quỹ đất, tài nguyên nước, và cơ sở hạ tầng tại địa phương Bên cạnh đó, chính quyền địa phương cũng có quyền và nhiệm vụ phải căn cứ vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội đã được phê duyệt lập và công bố danh mục dự
án thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại địa phương tổ chức vận động, xúc tiến đầu tư, tham gia thẩm định các dự án đầu tư nước ngoài tại địa phương, giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến hình thành triển khai thực hiện dự án theo thẩm quyền, thực thi pháp luật của Trung ương
Ngoài nhóm (1) ra, nhóm (4) Các thiết chế xã hội khác ngoài kinh tế có thể bao gồm các đơn vị hành chính sự nghiệp như trường học, bệnh viện , các đơn vị này có tài sản riêng, có một tập thể cán bộ, công nhân viên chức chuyên môn, kỹ thuật, hoạt động dựa vào ngân sách nhà nước Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, tác giả sẽ chỉ tập trung vào ảnh hưởng từ chính quyền địa phương đến hoạt động của
DN FDI
Các khái niệm liên quan đến doanh nghiệp FDI
Đầu tư nước ngoài có thể hiểu một cách tổng quát đó là các hình thức mà người nước ngoài trực tiếp hoặc gián tiếp bỏ vốn thông qua các loại hình khác nhau đầu tư vào sản xuất kinh doanh ở một nước khác nhằm thu lợi nhuận thông qua việc tận dụng các lợi thế sẵn có của các nước tiếp nhận đầu tư, cụ thể như: nhân công, nguyên liệu, thị trường tiêu thụ … hoạt động trong khuôn khổ pháp luật của nước sở tại và thông lệ quốc tế (Nguyễn Thùy Dương, 2015)
Theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam sửa đổi năm 2000 thì: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc các nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ một loai tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam Căn cứ vào nội dung của Luật này, nhà nước Việt Nam khuyến khích và tạo điều kiện để các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam nhằm tăng cường hợp tác
Trang 26hơn nữa với các nước trên thế giới trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền và tuân thủ đầy đủ pháp luật Việt Nam, bình đẳng cùng có lợi (Nguyễn Thùy Dương, 2015).Hiện nay, tại Việt Nam có 3 hình thức DN FDI chủ yếu sau:
a Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Đây là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước chủ nhà, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh
b Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh là DN được thành lập do các chủ đầu tư nước ngoài góp vốn chung với các tổ chức, cá nhân trong nước trên cơ sở hợp đồng liên doanh Các bên cùng tham gia điều hành DN, phân chia lợi nhuận cũng như chịu rủi ro theo
tỷ lệ góp vốn tương ứng giữa các bên Loại hình DN này là công ty trách nhiệm hữu hạn; tùy thuộc vào quy mô của vốn đầu tư và lĩnh vực đầu tư mà thời hạn đầu tư cho mỗi liên doanh sẽ khác nhau
c Hợp đồng hợp tác kinh doanh
Là doanh nghiệp hợp doanh theo kiểu hợp đồng hay còn được xem là văn bản
ký kết giữa hai hay nhiều bên quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh mà không cần thành lập pháp nhân
d Một số hình thức đầu tư đặc thù
Xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT)
Xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (BTO)
Xây dựng – chuyển giao (BT)
Nhìn chung, cả ba hình thức trên đều có những đặc điểm chung sau:
Chỉ được ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Đầu tư vào hạ tầng cơ sở của Việt Nam: xây dựng cầu đường, cầu, cảng, sân bay, các công trình điện nước …
Trang 27 Được hưởng nhiều ưu đãi của chính phủ Việt Nam về tiền thuê đất, thuế các loại, thời gian đầu tư dài, tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thu hồi vốn và có lời hợp lý
Hết thời hạn hoạt động của giấy phép, chủ đầu tư phải chuyển giao không bồi hoàn công trình cho chính phủ Việt Nam trong tình trạng hoạt động bình thường.Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong nền kinh tế hiện nay (Nguyễn Thùy Dương, 2015)
Đối với nước chủ đầu tư
oGiúp thâm nhập vào những thị trường mới mà vẫn có thể đạt được lợi nhuận cao nhờ tận dụng việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư, các lợi thế sản xuất sẵn có của nước tiếp nhận đầu tư và mở rộng thị trường tiêu thụ
oXây dựng được thị trường cung cấp nguyên vật liệu ổn định
oPhân tán và giảm bớt rủi ro của việc tập trung sản xuất và kinh doanh trong phạm vi một quốc gia
oHạn chế được các rào cản thương mại, các hàng rào bảo hộ mậu dịch do một
số các quốc gia đặt ra; thông qua con đường đầu tư, các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể tranh thủ được những ưu đãi của nước tiếp nhận đầu tư
Đối với nước tiếp nhận đầu tư
oGóp phần bổ sung nguồn vốn đầu tư, thúc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế
oGiải quyết công ăn, việc làm, đẩy lùi nạn thất nghiệp, từ đó góp phần nâng cao đời sống của người dân, tăng thu nhập quốc dân
oGiúp các nước nghèo, kém phát triển chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện cơ
sở hạ tầng của nền kinh tế mà nguồn vốn trong nước không đủ khả năng đáp ứng.oGiúp các nước nghèo phần nào tiếp thu và theo kịp với trình độ công nghệ, trình độ quản lý, trình độ nguồn nhân lực … từ các nước tiên tiến thông qua các hợp đồng chuyển giao công nghệ
Trang 28Các yếu tố xác định vai trò của địa phương làm ảnh hưởng đến việc hỗ trợ các
DN FDI
1.1.1 Các hoạt động ảnh hưởng đến DN FDI của địa phương
Chính quyền địa phương có thể thúc đẩy hoạt động DN FDI thông qua phương
án thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội, quản lý công sản, thực thi luật pháp nhà nước, và các quyết định hành chính (Hình 2)
Hình 2: Sơ đồ các yếu tố ảnh hưởng từ Chính quyền địa phương đối với
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Nguồn: Tác giả vẽ
1.1.1.1 Chính sách kinh tế - xã hội
Về các chính sách kinh tế - xã hội là công cụ quản lý kinh tế của nhà nước theo mục tiêu, được thể hiện bằng những mục tiêu định hướng phát triển kinh tế-xã hội phải đạt được trong khoảng thời gian nhất định của một quốc gia hoặc của một địa phương và những giải pháp, chính sách nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra một cách có hiệu quả và cao nhất (UNICEF, 2013)
Các kế hoạch này được xây dựng ở các cấp chính quyền từ xã, phường cho tới các cấp cao hơn Trong đó, theo Nghị định số 92/2006/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 07 tháng 09 năm 2006 về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch phát triển ngành/lĩnh vực được các ngành xây dựng theo định hướng của Chiến lược và Kế hoạch cấp quốc gia để phát triển ngành/ lĩnh vực là định hướng phát triển từng ngành/ lĩnh vực trong từng thời kỳ
Trang 29(hàng năm và 5 năm) Kế hoạch phát triển ngành/lĩnh vực là một bộ phận của Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, phải nằm trong kế hoạch tổng thể phát triển kinh tế -
xã hội của cả nước và KHPTKT-XH địa phương Kế hoạch phát triển ngành/lĩnh vực bao gồm 3 cấp: 1 bộ/ngành (trung ương); 2 sở/ngành (cấp tỉnh); và 3 phòng ban (cấp dưới tỉnh) Trong nội dung của kế hoạch ngành sẽ cụ thể hoá thành các chương trình, dự án phát triển; định hình các yếu tố tác động, các cơ chế, chính sách
để thực hiện mục tiêu của ngành; khai thác những tiềm năng và ưu thế của từng ngành diễn ra trên từng vùng và từng địa phương, phục vụ mục tiêu phát triển của ngành và địa phương
Phạm vi kế hoạch ngành bao gồm các ngành như Nông lâm ngư nghiệp, Công nghiệp-Xây dựng, Dịch vụ; các lĩnh vực xã hội (Y tế, Giáo dục, Lao động, Văn hoá ); An ninh - Quốc phòng trong đó được chia theo các phân ngành cụ thể (theo hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân) Tại Việt Nam, các chính sách kinh tế -
xã hội thường được đặt ra theo từng giai đoạn mỗi năm năm
1.1.1.2 Luật pháp
Hệ thống pháp luật là một trong những yếu tố hết sức quan trọng đóng vai trò quyết định trong việc tạo diện mạo của môi trường đầu tư Đó là điều kiện không thể thiếu được trong mọi hoạt động kinh tế nói chung và trong hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài nói riêng Hệ thống pháp luật của một quốc gia có thể được biểu hiện qua một số nét sau (Đỗ Thị Hương, 2016):
Xây dựng thể chế
Tính đầy đủ và đồng bộ
Tính chuẩn mực và hội nhập
Tính rõ ràng, công bằng, công khai và khả năng thực thi
Đây là yêu cầu hàng đầu của một hệ thống luật pháp nói chung của một quốc gia, là mối quan tâm rất lớn của các chủ đầu tư nước ngoài Do làm ăn ở nơi xa lạ với lượng tài sản lớn nên các nhà đầu tư nước ngoài phải dựa vào pháp luật của nước chủ
Bên cạnh đó, thủ tục hành chính là một yếu tố rất quan trọng góp phần tạo nên
sự thành công của môi trường đầu tư Thủ tục hành chính càng đơn giản, gọn nhẹ,
Trang 30rõ ràng thì sức hút của môi trường đầu tư đối với các nhà đầu tư nước ngoài càng lớn Thủ tục hành chính bao trùm lên tất cả các hoạt động của DN Và một trong những lỗ hổng nếu thủ tục hành chính không được quan tâm sát sao đó chính là hiện tượng tham nhũng (Đỗ Thị Hương, 2016) Có thể nói, chính sách về môi trường đầu
tư là mục tiêu hấp dẫn để các DN, quan chức và các nhóm lợi ích khác nhau trục lợi Tham nhũng có thể làm tăng chi phí tiến hành kinh doanh và khi nó lan đến bộ máy chính quyền cao cấp thì có thể dẫn đến những méo mó ghê gớm trong chính sách và làm bóp méo quá trình hoạch định chính sách trên quy mô lớn Lũng đoạn, nâng đỡ và chủ nghĩa thân quen, những hệ lụy tất yếu của thủ tục hành chính yếu kém sẽ gây ra những méo mó trong chính sách nghiêm trọng làm cho chính sách thiên vị một số nhóm người với cái giá phải trả từ nhóm người khác; như vậy sẽ làm mất lòng tin của nhà đầu tư vào chính phủ Tuy nhiên, thủ tục hành chính cũng như cách hành xử của mỗi địa phương là khác nhau, vì vậy mới có những nơi mà nhà đầu tư gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc xin cấp giấy phép đầu tư, đăng ký kinh doanh… (Đỗ Thị Hương, 2016)
Tóm lại, quá trình điều hành của chính phủ nước sở tại, sự ổn định của hệ thống pháp luật, sự đơn giản hóa các thủ tục hành chính, sự tuân thủ các chính sách cũng như các quy định của pháp luật … sẽ tạo dựng được độ tin cậy của các nhà đầu tư nước ngoài; ngược lại, sẽ làm gia tăng sự quan ngại của các DN, các nhà đầu
tư về môi trường đầu tư của nước đó
1.1.1.3 Quyết định hành chính
Về những quyết định hành chính, nhằm tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục đầu
tư, từ những năm 1990, theo Nghị định số 29/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14 tháng 3 năm 2008 về quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế, Chính phủ đã khuyến khích các khu công nghiệp (KCN) áp dụng theo cơ chế “một cửa, tại chỗ” Đó là cơ chế ban quản lý các KCN được ủy quyền thực hiện thủ tục hành chính cho các nhà đầu tư trong khu Mục tiêu hướng đến của cơ chế “một cửa, tại chỗ” là nhằm giảm các quy định mang tính xin - cho không cần thiết, gây phiền
hà cho hoạt động đầu tư Thêm vào đó, từ năm 2006, Việt Nam bắt đầu thực hiện chủ trương phân cấp toàn diện cho địa phương cấp phép và quản lý hoạt động đầu
Trang 31tư nước ngoài Sở Kế hoạch và Đầu tư của tỉnh là cơ quan một cửa tại chỗ xử lý các vấn đề cấp phép kỹ thuật liên quan như tiếp nhận hồ sơ, xem xét hồ sơ v.v… của những dự án ngoài KCN, KCX, KCNC, KKT và không thuộc thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ và những dự án phát triển hạ tầng các KCN, KCX, KCNC tại các địa phương chưa thành lập Ban quản lý
Cụ thể hơn, Điều 32 Luật đầu tư 2014 quy định trừ những dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo pháp luật về đầu tư công và các dự án thuộc thẩm quyền của Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ,
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư đối với các dự án được Nhà nước giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá, đấu thầu hoặc nhận chuyển nhượng; dự án có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất, dự án đầu tư trong trường hợp trên thực hiện tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh
tế phù hợp với quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt không phải trình
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư, và dự án có sử dụng công nghệ thuộc Danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao theo quy định của pháp luật
về chuyển giao công nghệ
Trên thực tế, ngoại trừ các lĩnh vực bao gồm kinh doanh vận tải biển, thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ bưu chính, chuyển phát, viễn thông và internet, thiết lập mạng truyền dẫn phát sóng, in ấn, phát hành báo chí, xuất bản, và thành lập cơ sở nghiên cứu khoa học độc lập không phân biệt nguồn vốn và quy mô đầu tư là thuộc thẩm quyền của Chính phủ, các dự án thuộc lĩnh vực dầu khí thuộc về thẩm quyền
Bộ Công thương, tổ chức tín dụng do Ngân hàng nhà nước quản lý, và bảo hiểm do
Bộ Tài chính cấp giấy chứng nhận đầu tư, địa phương có thẩm quyền trong tất cả các lĩnh vực còn lại trong phạm vi
1.1.1.4 Công sản
Cuối cùng, về công sản, theo quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật Đất đai 2013 thì UBND cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, DN có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; đất sản xuất, kinh
Trang 32doanh phi nông nghiệp; đất xây dựng công trình công cộng có mục đích kinh doanh; đất để thực hiện dự án đầu tư nhà ở để cho thuê; sử dụng đất xây dựng công trình sự nghiệp Ngoài ra, theo báo cáo của PCI, các nhà đầu tư nước ngoài đang xếp hạng
cơ sở hạ tầng và dịch vụ công của Việt Nam tệ hơn so với hầu hết các nước cạnh tranh tiềm năng khác mà họ cân nhắc thay thế
1.1.2 Yếu tố nguồn lực lao động
Ở sơ đồ hình 1, ngoài ảnh hưởng từ nhóm (1) Các cơ quan quyền lực nhà nước tham gia quản lý kinh tế, hoạt động của các DN có vốn nước ngoài còn có thể chịu ảnh hưởng của các yếu tố tài nguyên tại địa phương trong đó bao gồm các yếu tố về, trình độ nền kinh tế, văn hóa xã hội, và nguồn nhân lực Tuy nhiên, trong đề tài ảnh hưởng từ chính quyền địa phương, chỉ có yếu tố nguồn lực lao động là nằm trong tầm kiểm soát của chính quyền
1.1.2.1 Văn hóa xã hội
Văn hóa xã hội ảnh hưởng một cách chậm chạp hơn song cũng rất sâu sắc đến hoạt động quản trị và kinh doanh của mọi DN Các vấn đề về phong tục tập quán, lối sống, trình độ dân trí, tôn giáo, tín ngưỡng, có ảnh hưởng sâu sắc đến cơ cấu của cầu trên thị trường Nhân tố này tác động trực tiếp và rất mạnh mẽ đến hoạt động của các DN du lịch, DN dệt may, các sản phẩm tiêu dùng truyền thống Văn hóa xã hội còn tác động trực tiếp đến việc hình thành môi trường văn hóa của DN, văn hóa nhóm cũng như thái độ cư xử, ứng xử của các nhà quản trị, nhân viên tiếp xúc với đối tác kinh doanh cũng như khách hàng (Trương Quang Dũng, 2013)
Nói chung, môi trường văn hóa, xã hội thể hiện các thái độ xã hội và các giá trị văn hóa Nó bao gồm nghiệp tố nhân khẩu, tốc độ tăng dân số, cơ cấu dân số, quan điểm sống, quan điểm về thẩm mỹ, các giá trị, chuẩn mực đạo đức… Khi có
sự thay đổi về các nghiệp tố này sẽ tạo sự thay đổi rất lớn về nhu cầu tiêu dùng sàn phẩm Việc nắm bắt các nghiệp tố này sẽ giúp DN cósự thích ứng nhanh chóng với những yêu cầu của khách hàng, có hoạt động sán xuất hoặc marketing phù hợp (Trương Quang Dũng, 2013) Ví dụ, xu hướng già hóa của dân số sẽ tạo cơ hội cho các DN hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ y tế, du lịch các nhà dưỡng lão… Trình độ học vấn gia tăng sẽ có thể làm tăng chất lượng nguồn nhân lực quốc gia, một trong
Trang 33những nghiệp tố tạo nên lợi thế về năng lực cạnh tranh của DN khi tham gia hoạt động trên thị trường quốc tế.
1.1.2.2 Đào tạo lao động
Nhìn chung, ban đầu thì sự sẵn có của lao động không có kỹ năng, và chi phí thấp là một yếu tố quyết định vị trí nổi bật của FDI ở các nước đang phát triển Tuy nhiên, trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, cạnh tranh thu hút FDI ngày càng gay gắt, việc thu hút FDI thời gian tới đã được xác định phải thu hút những dự án công nghệ cao, thân thiện với môi trường và nhất là chuyển dần thu hút đầu tư nước ngoài với lợi thế giá nhân công rẻ sang cạnh tranh bằng nguồn lực chất lượng cao Việc di chuyển dần dần FDI ra khỏi lao động chuyên sâu, chi phí thấp, kỹ năng thấp hướng tới nhiều vốn hơn, kiến thức - và các ngành công nghiệp đòi hỏi kỹ năng phản ánh những tiến bộ công nghệ mới đã làm giảm nội dung lao động của sản xuất và tăng nội dung tri thức Đối với các tập đoàn đa quốc gia, sự hiện diện của một nhóm lao động được giáo dục tốt đã trở nên ngày càng hấp dẫn so với chi phí nhân công thấp
Hơn thế nữa, trong những năm gần đây, quá trình Quá trình toàn cầu hoá - được thúc đẩy bởi những cải tiến về công nghệ, sự cởi mở với thương mại, FDI và các luồng công nghệ, cùng với những áp lực cạnh tranh tiếp theo - đã dẫn đến các chiến lược phức tạp hơn của các tập đoàn đa quốc gia để nâng cao khả năng cạnh tranh toàn cầu của họ Các công ty chia quy trình sản xuất thành các hoạt động cụ thể khác nhau (như tài chính, R & D, kế toán, đào tạo, sản xuất linh kiện, phân phối) được thực hiện bởi các chi nhánh tại các địa điểm phù hợp nhất với từng hoạt động
cụ thể Đầu tư trực tiếp nước ngoài không còn đơn giản là phương tiện để tiếp cận thị trường nước ngoài để mở rộng bán hàng, mà còn là phương tiện tiếp cận các yếu
tố sản xuất, đặc biệt là tài sản tạo ra, 9 để hợp lý hoá sản xuất quốc tế Kết quả là các quyết định vị trí hiện nay có nhiều khả năng bị ảnh hưởng bởi sự hiện diện của các tài sản phức tạp, được tạo ra, bao gồm nguồn nhân lực với khả năng sáng tạo và
kỹ năng tiếp thị, lập kế hoạch và quản lý, thay vì nguồn cung lao động chi phí thấp hoặc tài nguyên địa phương
Trang 34Như vậy, để doanh nghiệp FDI phát triển, tăng vốn đầu tư, và đẩy mạnh hiệu quả hoạt động lên mức tối đa, thị trường cần sẵn có một lực lượng lao động dồi dào với những kỹ năng cần thiết Trên thực tế, do sự cải thiện về nguồn nhân lực, ngày càng nhiều quốc gia đang phát triển cạnh tranh trong việc thu hút FDI bằng cách đưa ra những lợi thế về vị trí vượt xa lao động chi phí thấp, chẳng hạn như kết hợp cạnh tranh về tiền lương, kỹ năng và năng suất Trong khi đó, để có được điều này cần sự chuẩn bị đào tạo từ địa phương trong nhiều năm Suy cho cũng, việc đào tạo nhân sự không phải là một quá trình có thể diễn ra trong thời gian ngắn Tại nhiều địa phương, tuy đã có hệ thống các trường dạy nghề, nhưng ngành nghề đào tạo còn chưa sát với vị trí tuyển dụng của doanh nghiệp FDI
Trong vấn đề này, chính quyền địa phương đóng vai trò thiết yếu Cụ thể hơn, chính quyền địa phương cần nghiên cứu kỹ lưỡng, đưa ra các chính sách đột phá trong đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp Đồng thời, cần nâng cao cho người lao động tính sẵn sàng trong việc tiếp thu kiến thức mới trong bối cảnh cuộc cách mạng côngnghệ 4.0 đang được hiện thực hoá ở Việt Nam Ngoài ra, vai trò hỗ trợ từ phía các địa phương để thúc đẩy hợp tác giữa doanh nghiệp và cơ
sở đào tạo; qua các chính sách, ưu đãi cụ thể về đất đai, thuế… nhằm xây dựng các vườn ươm doanh nghiệp, khu công nghệ cao,…cũng được coi là cần thiết,góp phần tạo được những nguồn được nguồn nhân lực chất lượng cao
Đánh giá của doanh nghiệp về mức độ hỗ trợ của chính quyền cấp tỉnh
Về các yếu tố xác định ảnh hưởng của chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ hiệu quả hoạt động DN FDI, trong những năm gần đây, tại Việt Nam xuất hiện chỉ số PCI, tên viết tắt tiếng Anh của Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (Provincial Competitiveness Index), là chỉ số đo lường và đánh giá chất lượng điều hành kinh tế, mức độ thuận lợi, thân thiện của môi trường kinh doanh và nỗ lực cải cách hành chính của của chính quyền các tỉnh, thành phố tại Việt Nam, qua đó thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân Chỉ số này được xây dựng từ dữ liệu điều tra doanh nghiệp thường niên có quy mô lớn nhất, thực hiện một cách công phu nhất tại Việt Nam hiện nay, Chỉ số PCI chính là tập hợp tiếng nói của cộng đồng doanh nghiệp dân doanh về môi trường kinh doanh tại các tỉnh, thành phố ở
Trang 35Việt Nam Hay nói cách khác, chỉ số này đại diện cho đánh giá của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp FDI tại địa phương về mức độ hỗ trợ của chính quyền cấp tỉnh dựa theo các yếu tố thành phần.
Chỉ số này được công bố thí điểm lần đầu tiên vào năm 2005 gồm tám chỉ số thành phần, mỗi chỉ số thành phần lý giải sự khác biệt về phát triển kinh tế giữa các tỉnh, thành phố của Việt Nam, theo đó đã có 47 tỉnh, thành phố của Việt Nam được xếp hạng và đánh giá Lần thứ hai, năm 2006 hai lĩnh vực quan trọng của môi trường kinh doanh- Thiết chế pháp lý và Đào tạo lao động- được đưa vào xây dựng chỉ số PCI Từ năm 2006 trở đi, tất cả các tỉnh thành của Việt Nam đều được đưa vào bảng xếp hạng, đồng thời các chỉ số thành phần cũng được tăng cường thêm (PCI, 2018)
Năm 2009, phương pháp luận PCI được điều chỉnh để phản ánh kịp thời sự phát triển năng động của nền kinh tế và các thay đổi trong môi trường pháp lý tại Việt Nam Sau khi loại bỏ chỉ số Ưu đãi doanh nghiệp nhà nước, hiện nay, PCI còn
9 chỉ số thành phần Năm 2013, PCI đánh dấu bước thay đổi mới khi chỉ số Cạnh tranh bình đẳng được đưa vào bộ chỉ số là một thước đo đánh giá, theo đó, một tỉnh được đánh giá là thực hiện tốt tất cả 10 chỉ số thành phần này cần có: (Chi tiết về 10 chỉ số này được cung cấp ở Phụ lục 1)
Chi phí gia nhập thị trường thấp: Chỉ số này được xây dựng nhằm đánh giá
sự khác biệt về chi phí gia nhập thị trường của các doanh nghiệp mới thành lập giữa các tỉnh với nhau
Doanh nghiệp dễ dàng Tiếp cận đất đai và có mặt bằng kinh doanh ổn định:
Đo lường về hai khía cạnh của vấn đề đất đai mà doanh nghiệp phải đối mặt: việc tiếp cận đất đai có dễ dàng không và doanh nghiệp có thấy yên tâm và được đảm bảo về sự ổn định khi có được mặt bằng kinh doanh hay không
Môi trường kinh doanh công khai minh bạch, doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận công bằng các thông tin cần cho kinh doanh và các văn bản pháp luật cần thiết:
Đo lường khả năng tiếp cận các kế hoạch của tỉnh và các văn bản pháp lý cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, liệu doanh nghiệp có thể tiếp cận một
Trang 36cách công bằng các văn bản này, các chính sách và quy định mới có được tham khảo ý kiến của doanh nghiệp và khả năng tiên liệu trong việc triển khai thực hiện các chính sách quy định đó và mức độ tiện dụng của trang web tỉnh đối với doanh nghiệp.
Thời gian doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các thủ tục hành chính và thanh tra kiểm tra hạn chế nhất (Chi phí thời gian): Đo lường thời gian doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các thủ tục hành chính cũng như mức độ thường xuyên và thời gian doanh nghiệp phải tạm dừng kinh doanh để các cơ quan Nhà nước của địa phương thực hiện việc thanh tra, kiểm tra
Chi phí không chính thức ở mức tối thiểu: Đo lường các khoản chi phí không chính thức mà doanh nghiệp phải trả và các trở ngại do những chi phí không chính thức này gây ra đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc trả những khoản chi phí không chính thức có đem lại kết quả hay “dịch vụ” như mong đợi và liệu các cán bộ Nhà nước có sử dụng các quy định của địa phương để trục lợi hay không
Cạnh tranh bình đẳng: Đo lường mức độ tỉnh ưu ái cho các tổng công ty, tập đoàn của Nhà nước
Lãnh đạo tỉnh năng động và tiên phong: Đo lường tính sáng tạo, sáng suốt của lãnh đạo tỉnh trong quá trình thực thi chính sách Trung ương cũng như trong việc đưa ra các sáng kiến riêng nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời đánh giá khả năng hỗ trợ và áp dụng những chính sách đôi khi chưa rõ ràng của Trung ương theo hướng có lợi cho doanh nghiệp
Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, do khu vực nhà nước và tư nhân cung cấp: Chỉ
số này trước kia có tên gọi là Chính sách phát triển kinh tế tư nhân, dùng để đo lường các dịch vụ của tỉnh để phát triển khu vực tư nhân như xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp, hỗ trợ tìm kiếm đối tác kinh doanh, phát triển các khu/cụm công nghiệp tại địa phương và cung cấp các dịch vụ công nghệ cho doanh nghiệp
Trang 37 Có chính sách đào tạo lao động tốt: Đo lường các nỗ lực của lãnh đạo tỉnh để thúc đẩy đào tạo nghề và phát triển kỹ năng nhằm hỗ trợ cho các ngành công nghiệp tại địa phương và giúp người lao động tìm kiếm việc làm.
Hệ thống pháp luật và tư pháp để giải quyết tranh chấp công bằng và hiệu quả: Đo lường lòng tin của doanh nghiệp tư nhân đối với hệ thống tòa án, tư pháp của tỉnh, liệu các thiết chế pháp lý này có được doanh nghiệp xem là công cụ hiệu quả để giải quyết tranh chấp hoặc là nơi doanh nghiệp có thể khiếu nại các hành vi nhũng nhiễu của cán bộ công quyền tại địa phương
Nói chung, cũng theo trang chủ của PCI khi giới thiệu về chỉ số, phương pháp tiếp cận này có bốn đặc điểm đáng chú ý Thứ nhất, chỉ số PCI khuyến khích chính quyền các tỉnh cải thiện chất lượng công tác điều hành bằng cách chuẩn hóa điểm số xung quanh các thực tiễn điều hành kinh tế tốt sẵn có tại Việt Nam mà không dựa trên các tiêu chuẩn điều hành kinh tế lý tưởng nhưng khó đạt được, do đó đối với từng chỉ tiêu, có thể xác định được một tỉnh "ngôi sao" hoặc tỉnh đứng đầu của chỉ tiêu đó, và về lý thuyết bất kỳ tỉnh nào cũng có thể đạt được điểm số PCI tuyệt đối
là 100 điểm bằng cách áp dụng các thực tiễn tốt sẵn có Thứ hai, bằng cách loại trừ ảnh hưởng của các điều kiện truyền thống ban đầu (các nhân tố cơ bản đóng góp vào tăng trưởng kinh tế trong một tỉnh và gần như không thể thay đổi trong ngắn hạn như cơ sở hạ tầng, quy mô của thị trường và nguồn nhân lực), chỉ số PCI giúp xác định và hướng vào các thực tiễn điều hành kinh tế tốt có thể đạt được ở cấp tỉnh
Thứ ba, bằng cách so sánh đối chiếu giữa các thực tiễn điều hành với kết quả phát triển kinh tế, chỉ số PCI giúp lượng hóa tầm quan trọng của các thực tiễn điều hành kinh tế tốt đối với thu hút đầu tư và tăng trưởng Nghiên cứu chỉ ra được mối tương quan giữa thực tiễn điều hành kinh tế tốt với đánh giá của doanh nghiệp, và
sự cải thiện phúc lợi của địa phương Mối liên hệ cuối cùng này đặc biệt quan trọng
vì nó cho thấy các chính sách và sáng kiến thân thiện với doanh nghiệp khuyến khích họ hoạt động theo hướng đem lại lợi ích cho cả chủ doanh nghiệp, người lao động và cộng đồng thông qua tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho cả nền kinh
Trang 38tế Thứ tư, các chỉ tiêu cấu thành chỉ số PCI được thiết kế theo hướng dễ hành động, đây là những chỉ tiêu cụ thể cho phép các cán bộ công chức của tỉnh đưa ra các mục tiêu phấn đấu và theo dõi được tiến bộ trong thực hiện Các chỉ tiêu này cũng rất thực chất vì được doanh nghiệp nhìn nhận là các chính sách then chốt đối với sự thành công của công việc kinh doanh.
Trong bài nghiên cứu này, chỉ số PCI này, đặc biệt là 10 chỉ số thành phần, có thể giúp đánh giá mức độ hỗ trợ của chính quyền địa phương đối với doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp FDI nói riêng Trên thực tế, việc sử dụng chỉ số PCI trong nghiên cứu tác động của chính quyền đến các hoạt động của DN FDI cũng không phải là chưa từng có tiền lệ Vào năm 2014, đã có một nhóm tác giả đã thực hiện bài “Đánh giá tác động của chất lượng thể chế cấp tỉnh tới khả năng thu hút FDI vào các địa phương tại Việt Nam” đăng trên Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội (Nguyễn Quốc Việt, Chu Thị Nhường, Trần Thị Giáng Quỳnh, và Phạm Thị Hiền, 2014) Trong nghiên cứu này, chỉ số PCI cũng được sử dụng để xác định ảnh hưởng của chính quyền địa phương
Các chỉ số đánh giả hiệu quả hoạt động doanh nghiệp FDI
Về các chỉ số đánh giá hoạt động DN FDI, tác giả dựa theo những chỉ số đã được sử dụng tại có thể bao gồm (Đỗ Thu Trang và Lâm Thu Dương, 2011) (Tổng Cục Thống Kê, 2016)
Năng suất lao động của khu vực FDI (triệu đồng/ 1 lao động): Năng suất lao động thường được cho là sức sản xuất của cá nhân người lao động, được đo bằng tỷ
số số lượng sản phẩm hoàn thành với thời gian lao động để hoàn thành số sản phẩm
đó Trong trường hợp kinh tế vĩ mô, chỉ số này có thể được tính bằng tỷ lệ giá trị sản xuất trên mỗi đầu nhân công trong khu vực FDI so với cả nước hay trong một khu vực Đối với các DN, tổng giá trị sản xuất có thể được thay thế bằng tổng số lượng sản phẩm hay doanh thu
Hiệu suất sử dụng vốn FDI: Hiệu suất sử dụng vốn đầu tư (ICOR) là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh quan hệ so sánh giữa chỉ tiêu đầu vào là vốn đầu tư thực hiện (hoặc tích luỹ tài sản) và chỉ tiêu đầu ra là kết quả sản xuất đạt được ICOR cần tính cho từng năm và chung cho nhiều năm trong một thời kỳ và có thể được tính
Trang 39bằng hai phương pháp chính Phương án một sử dụng tỷ lệ vốn đầu tư trên tốc độ tăng GDP so với năm trước ICOR tính theo phương pháp này thể hiện: Để tăng thêm 1 phần trăm (1%) tổng sản phẩm trong nước đòi hỏi phải tăng bao nhiêu phần trăm (1%) tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP Ở phương pháp thứ hai, ICOR cũng có thể tính bằng tổng vốn đầu tư so của năm nghiên cứu trên mức tăng GDP so với năm trước ICOR tính theo phương pháp này thể hiện: Để tăng thêm một đơn vị GDP, đòi hỏi phải tăng thêm bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư thực hiện Đối với mức độ DN, chỉ số ICOR có thể tính bằng mức đầu tư FDI của năm nghiên cứu so với mức tăng trong đóng góp vào GDP của khối FDI so với năm trước (Trần Văn Khiên và Nguyễn Văn Trãi, 2010)
Đóng góp vào xuất nhập khẩu: Chỉ số này có thể được thể hiện qua tỷ lệ đóng góp của FDI vào xuất nhập khẩu, tỷ lệ xuất khẩu trên nhân lực của khu vực, tỷ
lệ xuất khẩu trên tổng vốn đầu tư FDI, đóng góp vào cán cân thương mại của khu vực, tỷ lệ so với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu
Đóng góp tạo việc làm ở khu vực: tỷ lệ đóng góp vào tuyển dụng tại khu vực
so với tổng mức tài sản của DN
Đóng góp vào GDP: mức đóng góp vào GDP của khu vực so với mức tài sản
và tuyển dụng của DN
Trang 40CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP FDI GIAI
ĐOẠN 2011 – 2015
Trong chương này, tác giả sẽ sơ lược qua những chỉ số cơ bản về tính hình vốn FDI, ảnh hưởng của yếu tố văn hóa xã hội, nhân tố kinh tế, và lực lượng lao động, hiệu quả hoạt động doanh nghiệp FDI, tại Bắc Ninh, Bình Dương, Quảng Ngãi trong giai đoạn 2011 – 2015 Đồng thời, thông qua phân tích những chỉ số này, tác giả cũng sẽ chỉ ra những bất cập trong những yếu tố xác định ảnh hưởng của chính quyền địa phương lên hiệu quả hoạt động DN FDI tại những tỉnh thành này Dựa trên những lập luận này, tác giả sẽ đưa ra giải pháp cho vấn đề trong chương III
2.1 Sơ lược về tình hình FDI
Đầu mục – Tỉnh thành/ Năm 2011 2012 2013 2014 2015
Vốn đầu tư trên địa bàn từ
khu vực đầu tư trực tiếp
nước ngoài (tỷ đồng)
Bắc Ninh 8171 17932 31164 23085 34973Bình
Dương 12667 18802 24779 28916 32250Quảng
Toàn Quốc 226891 218573 240112 265400 318100
Vốn đầu tư trên địa bàn từ
khu vực đầu tư trực tiếp