1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của phụ nữ dân tộc h’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện đồng hỷ, tỉnh thái nguyên

143 284 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 3,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những yếu tố nào tác động đến việc nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ?. Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu vai trò của ph

Trang 1

NGÔ THỊ THÚY

VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC H’MÔNG TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH

THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Trung

Thành

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêngtôi, chưa công bố tại bất cứ nơi nào Mọi số liệu sử dụng trong luận văn này

là những thông tin xác thực

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan của mình

Thái Nguyên, ngày tháng năm

2017

Tác giả luận văn

Ngô Thị Thúy

Trang 4

Tôi xin trân trọng cảm ơn Huyện ủy, UBND huyện, Chi cục Thống kê,Phòng Lao động Thương binh & Xã hội, Phòng Nông nghiệp huyện ĐồngHỷ , đặc biệt là lãnh đạo các xã Văn Lăng, Tân Long và Quang Sơn củahuyện Đồng Hỷ trong thời gian qua đã quan tâm, tạo điều kiện, cung cấp

số liệu giúp tôi hoàn thành luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: PGS.TS Lê Trung Thành,người thầy hướng dẫn đã giúp tôi giúp cho đề tài của tôi có ý nghĩa thựctiễn và khả thi

Cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp những người đã luôn ở bêntôi động viên, chia sẻ và giúp đỡ tôi

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm

2017

Tác giả luận văn

Ngô Thị Thúy

Trang 5

MỤC LỤC

i LỜI CẢM ƠN ii MỤCLỤC iiiDANH MỤC CÁC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT viiDANH MỤC CÁC BẢNG

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA

PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH 5

Trang 6

1.3 Dân tộc và dân tộc thiểu số 12

Trang 7

1.4 Kinh tế hộ gia đình - Vai trò của người phụ nữ dân tộc thiểu

số trong quản lý và phát triển kinh tế hộ gia đình vù ng dân tộc

1.5.4 Vai trò của phụ nữ trong việc ra quyết định

Trang 8

1.6.4 Khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn

Trang 9

1.8 Bài học kinh nghiệm rút ra trong việc nâng cao vai trò của phụ nữdân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại tỉnh Thái Nguyên 33

1.8.1 Một số điển hình về vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong pháttriển kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam 33

1.8.2 Bài học kinh nghiệm rút ra trong việc nâng cao vai trò của phụ nữdân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại tỉnh Thái Nguyên 38

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40

2.1 Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải

Chương 3 THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC

H’MÔNG TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH TRÊN

ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN 49

Trang 11

3.1.3 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 60

3.1.4 Phát triển kinh tế của huyện

68

3.2.1 Các hoạt động nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc H’môngtrong phát triển kinh tế hộ gia đình

68

3.2.2 Thực trạng vai trò của phụ nữ người H’mông trong phát triển kinh

tế hộ của đối tượng nghiên cứu

71

3.3 Đánh giá chung vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triểnkinh tế hộ gia đình theo giai đoạn phát triển tại địa bàn nghiên cứu 104

Chương 4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC H’MÔNG TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN 106

4.1 Quan điểm, định hướng, mục tiêu nâng cao vai trò của phụ nữ

dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn

huyện Đồng

Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 106

4.2 Giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong pháttriển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 109

4.2.1 Nhóm giải pháp chung cơ chế chính sách nhằm tạo điều kiện thúcđẩy kinh tế gia đình phát triển ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số 109

4.2.2 Nhóm giải pháp về chính sách xã hội nhằm hỗ trợ phụ nữ dân tộcH’mông nâng cao năng lực quản lý kinh tế hộ gia đình 111

Trang 12

TÀI LIỆU THAM KHẢO

118

Trang 13

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT

GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

HĐSXKD Hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang 14

giai đoạn 2014-2016 56Bảng 3.4: Số hộ nông thôn huyện Đồng Hỷ chia theo loại hộ và chia

theo xã 59Bảng 3.5 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính của

huyện từ năm 2016 61Bảng 3.6: Số lượng gia súc, gia cầm của Huyện từ năm 2014 đến 2016 62

2014-Bảng 3.7 Thống kê số lao động nữ trong các nhóm tuổi giai đoạn

2014-2016 62Bảng 3.8: Số lượng phụ nữ tham gia các cấp ủy đảng, chính quyền

năm 2016 64Bảng 3.9 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 72

Bảng 3.10: Đất đai sản xuất và tài sản của hộ

76

Bảng 3.11: So sánh sự khác biệt về diện tích đất sản xuất giữa các vùng

nghiên cứu 77Bảng 3.12 Vai trò của giới trong việc phân công lao động và điều hành

hoạt động sản xuất của hộ 79

Trang 15

79

Bảng 3.14: Vai trò của phụ nữ trong hoạt động trồng ngô

80

Bảng 3.15: Sự khác biệt về số ngày công thực hiện các công việc trồng

ngô ở các xã nghiên cứu 82

Trang 16

Bảng 3.16: Vai trò của phụ nữ trong hoạt động trồng lúa 84

Bảng 3.17: Đóng góp của phụ nữ trong hoạt động trồng lúa 85

Bảng 3.18: Sự khác biệt về số ngày công thực hiện các công việc trồng

lúa ở các xã nghiên cứu 87Bảng 3.19: Phân công lao động trong hoạt động lâm nghiệp

Bảng 3.26: Sự khác biệt về sử dụng quỹ thời gian của phụ nữ H’mông

tại các vùng nghiên cứu 101

Trang 17

DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ

Hình 3.1: Trình độ văn hoá của lao động nữ tại huyện Đồng Hỷ năm 2016 64

Hình 3.2: Nhà ở của đối tượng nghiên cứu

75

Hình 3.3: Về vai trò lao động của phụ nữ dân tộc H’mông trong gia đình 78

Trang 18

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận văn

Trong quá trình phát triển của Việt Nam, vấn đề giải phóng phụ nữ,bảo đảm bình đẳng, bình quyền giữa phụ nữ và nam giới, luôn được Đảng

và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm

Đại hội đại biểu phụ nữ Toàn quốc lần thứ XI, nhiệm kỳ 2012-2017 đã

đề ra 5 nhiệm vụ, trong đó nhiệm vụ “Vận động, hỗ trợ phụ nữ phát triểnkinh tế, giảm nghèo bền vững, bảo vệ môi trường” có liên quan mật thiếttới việc nâng cao vai trò phụ nữ trong kinh tế hộ gia đình Tại đại hội đạibiểu phụ nữ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2016-2021 đã đề rakhâu đột phá của nhiệm kỳ “Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, tăng giàu,giảm nghèo gắn với Chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị vănminh” [Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Thái Nguyên (2017)]

Hiện nay, phụ nữ Việt Nam góp một phần rất lớn vào quá trình pháttriển của đất nước, thể hiện ở số nữ chiếm tỉ lệ cao trong lực lượng lao động.Lực lượng lao động nữ chiếm 52,8% trong lĩnh vực nông nghiệp và lâmnghiệp, có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển nông nghiệp,nông thôn trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước

Tuy nhiên, người phụ nữ nhất là phụ nữ nông thôn, phụ nữ người dântộc còn chịu nhiều thiệt thòi, chưa được quan tâm đúng mức về sức khỏe,việc làm, địa vị xã hội, cả về tâm tư tình cảm; thiếu thông tin, thiếu điềukiện học tập để nâng cao trình độ…Trong gia đình, vai trò của họ mờ nhạt

so với người chồng trong việc ra các quyết định

Dân tộc H’mông là một dân tộc ít người, chiếm 0,8% dân số toàntỉnh và đứng thứ 7 trong các dân tộc của tỉnh Thái Nguyên, nguồn thunhập chính của họ là từ sản xuất nông lâm nghiệp Cũng như các dântộc ít người khác phụ nữ dân tộc H’mông có cuộc sống rất vất vả, không cóquyền quyết định các công việc trong gia đình, mặc dù họ là lao độngchính

Đồng Hỷ là một huyện có 18 xã, thị trấn, có 21 dân tộc anh em sinhsống, trong đó dân tộc H’mông có khoảng trên 2400 người, cư trú tậptrung ở

3 xã phía bắc của huyện là Quang Sơn, Tân Long và Văn Lăng [Công an tỉnh

Thái Nguyên (2016)]

Trang 19

Đồng bào dân tộc H’mông cư trú chủ yếu tập trung ở các sườn núicao, có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, địa hình hiểm trở,giao thông đi lại khó khăn, nhiều xóm chưa có điện lưới; nhiều công trình

hạ tầng thiết yếu còn thiếu và ở mức thấp kém Tỷ lệ hộ nghèo ở vùng đồngbào dân tộc H’mông còn ở mức rất cao, có 3 xóm có tỷ lệ hộ nghèo 100%(xóm Lân Đăm, xã Quang Sơn; xóm Mỏ Nước, xóm Bản Tèn xã Văn Lăng,huyện Đồng Hỷ) Kỹ thuật canh tác ở vùng đồng bào dân tộc H’mông cònlạc hậu, trình độ dân trí thấp, tỷ lệ tăng dân số ở mức cao

Trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang ngày càng hội nhập sâu,rộng vào nên kinh tế thế giới, quá trình này rất cần nâng cao cảnhgiác cách mạng cho lĩnh vực an ninh quốc phòng Vấn đề đói nghèo,dân tộc, tôn giáo, nhân quyền luôn được các thế lực phản động lợidụng gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc Nghiên cứu để pháttriển sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống của đồng bào H’mông

là một hướng đi nhằm giải quyết những vấn đề chung của tỉnh, huyện,những vấn đề riêng của cộng đồng phù hợp với thực tiễn cơ sở

Qua nghiên cứu thực tế cuộc sống của đồng bào dân tộc H’mông tạihuyện Đồng Hỷ, nhiều câu hỏi đặt ra cho bản thân, cho các cấp: Thực trạngvai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình hiệnnay ra sao? Những yếu tố nào tác động đến việc nâng cao vai trò của phụ

nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ? Giải pháp nào nhằm tháo

gỡ những khó khăn trong quá trình nâng cao năng lực cho phụ nữ dântộc?

Vì vậy, nghiên cứu về vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong pháttriển kinh tế hộ gia đình tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên được đặt

ra như một yêu cầu cấp bách đối với tổ chức Hội phụ nữ

Xuất phát từ tính cấp thiết nêu trên và sự nhận thức sâu sắc vềnhững vai trò to lớn của phụ nữ dân tộc, cũng như những cản trở sự tiến bộcủa phụ nữ dân tộc trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế tại

huyện Đồng Hỷ Vì vậy, tác giả chọn vấn đề “Vai trò của phụ nữ dân tộc

H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên” để nghiên cứu.

Trang 20

2 Mục tiêu nghiên cứu

xu hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên địa bàn huyệnĐồng Hỷ nói riêng và tỉnh Thái Nguyên nói chung trong những năm tới

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề “giới” và vai trò

của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình

- Đánh giá thực trạng vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong pháttriển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đóng góp của phụ

nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình

- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của phụ nữdân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyệnĐồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu: Là vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông

trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

b Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu vai trò của phụ nữ

dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình, các yếu tố ảnh hưởngđến vai trò của họ trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bànhuyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

- Về không gian: Luận văn được nghiên cứu trên địa bàn huyện

Trang 21

4 Những đóng góp của luận văn

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về vị trí, vai trò của phụ

nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình Do vậy, kết quảnghiên cứu sẽ có những đóng góp nhất định vào việc hoàn thiện khung lýthuyết về phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình

- Kết quả nghiên cứu cho thấy: Người phụ nữ hoặc người phụ nữ cùngchồng có vai trò rất lớn vào các hoạt động: quản lý và điều hành sản xuấtcủa hộ; hoạt động sản xuất tạo thu nhập bao gồm trồng ngô, trồng lúa,chăn nuôi và lâm nghiệp;tiếp cận và kiêm soát các nguồn lưc của hô; viêc

ra các quyết định của hộ; trong tham gia công tác xã hội; trong đời sốngsinh hoạt hang ngay như: Nôi trơ, chăm sóc sức khỏe gia đình, kèm dạycon, lấy củi đun, mua sắm tài sản hay máy móc, sưa chữa lớn nhà cưa

- Căn cứ vào kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số giải phápnhằm nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong phát triển kinh tế

hộ gia đình gồm: Nâng cao kiến thức cho phụ nữ; Các hoạt động huyđộng nguồn lực hỗ trợ phụ nữ phát triển; Tăng cường hoạt động của Hộiphụ nữ các cấp; Nâng cao nhận thức về giới; Cần xây dựng chính sách thểhiện trách nhiệm xã hội trong việc tái sản xuất các thế hệ tương lai; Chínhsách khuyến khích phụ nữ dân tộc H’mông duy trì và giữ gìn bản sắc vănhóa các dân tộc

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục các chữ viết tắt,danh mục các hình và bảng, danh mục tài liệu tham khảo; luận vănđược bố cục theo 4 chương sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của phụ nữ trong

phát triển kinh tế hộ gia đình

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.

Chương 3: Thực trạng vai trò của phụ nữ dân tộc H’mông trong

phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh TháiNguyên

Chương 4: Giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc

H’mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại huyện Đồng Hỷ

Trang 22

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ

TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH 1.1 Hộ gia đình và kinh tế hộ gia

đình

1.1.1 Phát triển và phát triển

kinh tế

Phát triển: là quá trình thay đổi toàn diện nền kinh tế, bao gồm

sự tăng thêm về quy mô sản lượng, cải thiện về cơ cấu, hoàn thiệnthể chế nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống [Giáo trình kinh tế chínhtrị Mac - Lênin dùng cho khối ngành kinh tế - quản trị kinh doanhtrong các trường cao đẳng, đại học (2006)]

Phát triển kinh tế: có thể hiểu là quá trình lớn lên về mọi mặt của nền

kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm vềquy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội [Ngô Thắng Lợi(2013)]

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm hộ gia đình, hộ nông dân và kinh tế hộ gia đình, hộ nông dân

* Hộ gia đình: hay còn gọi đơn giản hộ là một đơn vị xã hội bao gồm

một hay một nhóm người ở chung (cùng chung hộ khẩu) và ăn chung(nhân khẩu) Đối với những hộ có từ hai người trở lên, các thành viêntrong hộ có thể có hay không có quỹ thu chi chung hoặc thu nhập chung

Hộ gia đình không đồng nhất với khái niệm gia đình, những người trong

hộ gia đình có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡnghoặc hôn nhân hoặc cả hai [Đỗ Văn Viện - Đỗ Văn Tiến (2005)]

Hộ gia đình: có ba tiêu thức chính thường được nói đến khi địnhnghĩa khái niệm hộ gia đình:

- Có quan hệ huyết thống và hôn nhân

- Cùng cư trú

- Có cơ sở kinh tế chung [Đỗ Văn Viện - Đỗ Văn Tiến (2005)]

Theo một số từ điển chuyên ngành kinh tế, từ điển ngôn ngữ thì

hộ được hiểu là: tất cả những người cùng sống trong một mái nhà, baogồm những người có cùng huyết tộc và những người làm công [Đỗ VănViện - Đỗ Văn Tiến (2005)]

Trang 23

Về phương diện thống kê, các nhà nghiên cứu Liên hợp quốc chorằng hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ănchung và có chung một ngân quỹ [Đỗ Văn Viện - Đỗ Văn Tiến (2005)].

Đại đa số các hộ ở Việt Nam đều gồm những người có quan hệhôn nhân, quan hệ huyết thống Vì vậy khái niệm hộ thường được hiểu đồngnghĩa với gia đình, nhiều khi được gộp thành khái niệm chung là hộ giađình

* Hộ nông dân

Theo Frank Ellis cho rằng: “Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao” [Đỗ

Văn Viện - Đỗ Văn Tiến (2005)]

Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993): “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn” [Lê Đình Thắng (1993)].

Nhà khoa học Traianốp đưa ra định nghĩa: “Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn định” và ông coi “hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nông nghiệp” [Trần Đức Viên (2001)].

Tác giả Mats Lundahl và Tommy Bengtsson bổ sung thêm vào

quan điểm của Traianốp: “Hộ nông dân là đơn vị sản xuất cơ bản”.

[Trần Đức Viên (2001)]

Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993): “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn” [Lê Đình Thắng (1993)].

Đào Thế Tuấn (1997) chỉ ra: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạtđộng nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá vàhoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”

Đối với nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc (năm 2001) thì: “Hộ nôngnghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên thamgia

Trang 24

trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nôngnghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật, ) và thôngthường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp”.

Xuất phát từ những khái niệm trên, có thể chỉ ra một số đặc điểmchung như sau:

- Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, miền núi, có ngànhnghề sản xuất chính là nông nghiệp Hộ có nguồn thu nhập chủ yếu bằngnghề nông Ngoài ra, hộ nông dân còn tham gia các hoạt động phi nôngnghiệp, chẳng hạn tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ ở các mức độkhác nhau

- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuấtvừa là một đơn vị tiêu dùng Hộ nông dân phải phụ thuộc vào các hệ thốngkinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân Các hộ nông dân càng phụ thuộcnhiều hơn vào các hệ thống kinh tế rộng lớn không chỉ trong phạm vi mộtvùng, một nước khi trình độ phát triển lên mức cao của công nghiệp hoá,hiện đại hoá, thị trường, xã hội càng mở rộng và đi vào chiều sâu

* Kinh tế hộ nông dân

Khái niệm: Theo Frank Ellis (1988) thì kinh tế hộ nông dân là:

“Các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ đất, sử dụng chủ yếu laođộng gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộnghơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trongthị trường, hoạt động với một trình độ không hoàn chỉnh cao” [Đỗ VănViện - Đỗ Văn Tiến (2005)]

* Đặc điểm: Kinh tế hộ nông dân được phân biệt với các hình thứckinh tế khác trong nền kinh tế thị trường bởi các đặc điểm sau:

- Đất đai: Đây là đặc điểm phân biệt giữa hộ nông dân với nhữngngười lao động khác Như vậy, nghiên cứu hộ nông dân là nghiên cứunhững người sản xuất co tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai

- Tiền vốn: Do họ tự tạo ra chủ yếu là từ sức lao động của họ Mụcđích sản xuất chủ yếu là phục vụ yêu cầu cần tiêu dùng trực tiếp của hộ,không phải là lợi nhuận, hộ không quan tâm đến giá trị thặng dư Colúc hộ nông dân phải duy trì mức tiêu dùng tối thiểu, để đầu tư sản xuấtvới chi phí rất cao để đảm bảo cuộc sống của gia đình

Trang 25

- Lao động: Lao động sản xuất chủ yếu là do các thành viên trong hộ

tự đảm nhiệm Sức lao động của các thành viên trong hộ không được xem

là lao động dưới hình thức hàng hoá, hộ không có khái niệm tiền công, tiềnlương

Sự hiểu biết về kinh tế hộ nông dân được thông qua các đặc trưngcủa hộ nông dân nói chung Tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia,mỗi vùng mà nông hộ có những đặc trưng cụ thể Tóm lại, kinh tế hộ nôngdân luôn gắn liền với đất đai và sử dụng lao động gia đình là chủ yếu.Mục đích chủ yếu nhất của sản xuất trong nông hộ là đáp ứng cho tiêudùng trực tiếp của hộ, sau đo mới là sản xuất hàng hoá

1.2 Giới tính và giới

1.2.1 Khái niệm giới tính và giới

Giới tính: Là khái niệm dùng để sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trên cả khía cạnh sinh học và xã hội [Đỗ Văn Viện - Đỗ Văn Tiến (2005)].

Các đặc trưng của giới tính bị quy định và hoạt động theo các cơ chế tựnhiên, di truyền Nữ giới vốn có chức năng sinh lý học như tạo ra trứng,mang thai, sinh con và cho con bú bằng bầu sữa mẹ Nam giới có chứcnăng tạo ra tinh trùng Về mặt sinh lý học, nữ giới khác với nam giới [Tổchức Lao động quốc tế (2002)]

Giới: Là khái niệm dùng để chỉ các đặc trưng sinh học của nữ giới và nam giới trong tự nhiên [Đỗ Văn Viện - Đỗ Văn Tiến (2005)], chỉ sự

khác biệt về xã hội và quan hệ (về quyền lực) giữa trẻ em trai và trẻ emgái, giữa phụ nữ và nam giới, được hình thành và khác nhau ngay trongmột nền văn hoá, giữa các nền văn hoá và thay đổi theo thời gian Sựkhác biệt này được nhận thấy một cách rõ ràng trong vai trò, trách nhiệm,nhu cầu, khó khăn, thuận lợi của các giới tính [Tổ chức Lao động quốc tế(2002)]

Khái niệm về “Giới” được xuất hiện ban đầu là các nước nói tiếngAnh, vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX Ở Việt Nam, khái niệmnày mới xuất hiện vào khoảng thập kỷ 80

“Giới” là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân học, nóiđến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ

“Giới” đề cập đến việc phân công lao động, các kiểu phân chia: nguồn lực

và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh xã hội cụ thể

Trang 26

“Giới” là yếu tố luôn biến đổi cũng như tương quan về địa vị trong xãhội của nữ giới và nam giới, không phải là hiện tượng bất biến mà liêntục thay đổi Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể.

“Giới” là sản phẩm của xã hội, có tính xã hội, dùng để phân biệt sự khácnhau trong quan hệ nam và nữ Đây là cơ sở để nghiên cứu sự cân bằng vềgiới và đảm bảo công bằng trong xã hội

1.2.2 Đặc điểm, nguồn gốc và sự khác biệt về giới và giới tính

1.2.2.1 Những đặc điểm cơ bản về giới tính

- Bẩm sinh: Về phương diện sinh lý thì nam giới và nữ giới khác

nhau ngay từ trong bào thai Đó là những đặc điểm xác định bởi tự nhiên,không theo và không phụ thuộc vào mong muốn của con người Nó ổnđịnh về tương quan giữa hai giới trong quá trình sinh sản Chức năng sinhsản của nữ giới hay nam giới là không thể thay thế, thay đổi hay chuyểndịch cho nhau

- Tính đồng nhất: Nam giới hay nữ giới đều có cấu tạo về mặt sinh lý

giống nhau, tham gia và mang các yếu tố đóng góp vào quá trình thụ thainhư nhau

- Tính không đổi: Về phương diện sinh lý chức năng sinh sản của

nữ giới hay nam giới là không thể thay đổi hay chuyển dịch cho nhauđược Sự khác biệt về giới tính là bất biến cả về thời gian cũng như khônggian

- Tính do dạy và học mà có: Đứa trẻ phải học để làm con trai

hoặc con gái Bắt đầu từ khi sinh ra đứa trẻ được dạy dỗ tuỳ theo là contrai hay con gái Đó là sự khác biệt về quần áo, đồ chơi, màu sắc, cáchnói năng, thái độ và có thể cả về thức ăn và tình cảm của cha, mẹ, anh chị

- Tính đa dạng: Giới thể hiện những đặc trưng của những quan hệ xã

hội giữa nữ giới và nam giới cho nên rất đa dạng Địa vị của người nữ giớitrong xã hội Việt Nam khác xa so với địa vị của người nữ giới ở các nướcHồi giáo Địa vị của phụ nữ nông thôn cũng không hoàn toàn giống nữ giớithành thị

- Tính luôn biến đổi: Quan hệ giới luôn luôn biến đổi cùng với sự

biến đổi của các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hoá, phong tục tập quán…

- Tính có thể thay đổi được: Các quan niệm, hành vi, chuẩn

mực xã hội là hoàn toàn có thể thay đổi được Quan niệm “bếp núc” làthiên chức của nữ giới đang được xem xét lại khi rất nhiều đầu bếp giỏi,các thợ may tinh

Trang 27

xảo là nam giới Trong nhiều gia đình hạt nhân khi cả vợ và chồng đềutham gia tích cực vào quá trình sản xuất tạo thu nhập thì nam giới cũngđang tích cực tham gia vào công việc nội trợ như: nấu ăn, chăm sóc concái…

1.2.2.2 Nguồn gốc và những khác biệt về

giới

Nam giới và nữ giới là hai nửa hoàn chỉnh của loài người, bảo đảmcho việc tái sản xuất con người và xã hội Sự khác biệt về giới quy địnhthiên chức của họ trong gia đình và xã hội

Bắt đầu từ khi sinh ra đứa trẻ được đối xử tuỳ theo nó là trai haygái Đó là sự khác nhau về đồ chơi, quần áo, tình cảm của bố, mẹ Đứa trẻđược dạy dỗ và điều chỉnh hành vi của chúng theo giới tính của mình

Phụ nữ được xem là phái yếu Thiên chức của phụ nữ là làm vợ,làm mẹ, nên họ gắn bó với con cái, gia đình hơn nam giới và cũng từđấy mối quan tâm của họ cũng có phần khác hơn nam giới

Nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình Đặc trưng về giớinày cho phép họ dồn hết tâm trí vào lao động sản xuất, vào công việc xãhội và ít bị ràng buộc hơn bởi con cái, gia đình Điều này làm tăng thêmkhoảng cách khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội Để thay đổiquan hệ giới và các đặc trưng của giới cần phải vượt qua những quan niệm

cũ, tức là cần phải bắt đầu từ việc thay đổi nhận thức, hành vi của mọi ngườitrong xã hội về giới và quan hệ giới

Hơn nữa, nam - nữ lại có xuất phát điểm không giống nhau để tiếpcận với cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn, tính chất và mức độ khácnhau để tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắmbắt các thông tin xã hội Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, từ điều kiện

và cơ hội đi học tập, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, tiếp cận và làmviệc, từ vị trí trong gia đình, ngoài xã hội khác nhau, từ tác động củađịnh kiến xã hội, các hệ tư tưởng, phong tục tập quán đối với mỗi giới cũngkhác nhau

Sự khác biệt về giới và giới tính là nguyên nhân cơ bản gây nênbất bình đẳng trong xã hội Trong nhiều năm gần đây, hầu hết các nướctrên thế giới đã dần đánh giá đúng mức vai trò của phụ nữ trong gia đình

và trong xã hội, kết quả là thực hiện các mục tiêu “bình đẳng nam nữ” đểgiải phóng sức

Trang 28

lao động và xây dựng củng cố thêm nền văn minh nhân loại Tuy nhiênmức độ bình đẳng đó tùy thuộc vào từng quốc gia và giảm dần theo chiềutăng của sự phát triển đối với mỗi nước trên thế giới.

1.2.3 Nhu cầu, lợi ích giới và bình đẳng

giới

Nhu cầu giới (còn gọi là nhu cầu thực tế): là những nhu cầu xuất phát

từ công việc và hoạt động hiện tại của phụ nữ và nam giới Nếu những nhucầu này được đáp ứng thì sẽ giúp cho họ làm tốt vai trò sẵn có của mình[Trần Thị Vân Anh (2003)]

Nhu cầu giới thực tế là những nhu cầu được hình thành từ những điềukiện cụ thể mà phụ nữ trải qua Chúng nảy sinh từ những vị trí của họ trongphân công lao động theo giới, cùng với lợi ích giới thực tế của họ là sự tồntại của con người Khác với nhu cầu chiến lược, chúng được chính phụ nữđưa ra từ vị trí của họ chứ không phải qua can thiệp từ bên ngoài Vìvậy, nhu cầu giới thực tế thường là sự hưởng ứng đối với sự cần thiết đượcnhận thức ngay do phụ nữ xác định trong hoàn cảnh cụ thể

Lợi ích giới (còn gọi là nhu cầu chiến lược): là những nhu cầu của phụ

nữ và nam giới xuất phát từ sự chênh lệch về địa vị xã hội của họ Nhữnglợi ích này khi được đáp ứng sẽ thay đổi vị thế của phụ nữ và nam giớitheo hướng bình đẳng [Trần Thị Vân Anh (2003)]

Bình đẳng giới: nam giới và nữ giới được coi trọng như nhau,

cùng được công nhận và có vị thế bình đẳng [Trần Thị Vân Anh (2003)]

Nam giới và phụ nữ được bình đẳng về:

- Các điều kiện để phát huy đầy đủ tiềm năng

- Các cơ hội để tham gia đóng góp, hưởng lợi trong quá trình phát triển

- Quyền tự do và chất lượng cuộc sống

1.2.4 Vai trò của

giới

- Vai trò sản xuất: Là các hoạt động tạo ra của cải vật chất và tinh

thần để tạo ra thu nhập hoặc để tự nuôi sống Vai trò sản xuất bao gồm cảnhững công việc mà nam giới và nữ giới làm để lấy công hoặc tiền, hoặcbằng hiện vật Nó bao gồm cả sản xuất hàng hoá có giá trị trao đổi và sảnxuất vừa có ý nghĩa tiêu dùng tại gia vừa có ý nghĩa sử dụng, nhưng cũng

có ý nghĩa trao đổi

Trang 29

tiềm năng Khi tư tưởng phụ hệ cố gắng thúc đẩy hình mẫu phổ biến vềđàn ông là người giữ vai trò chủ đạo trong sản xuất thì thực tế lại khôngsản sinh ra hình mẫu đó.

- Vai trò tái sản xuất: Vai trò tái sản xuất bao gồm trách nhiệm

sinh đẻ, nuôi con và các công việc nội trợ trong gia đình để duy trì và táisản xuất sức lao động Vai trò này không chỉ bao gồm sự tái sản xuất sinhhọc mà còn cả chăm lo và duy trì lực lượng lao động (LLLĐ) hiện tại và

tương lai Khái niệm “tái sản xuất sinh học” chỉ ngụ ý cứng nhắc vào việc sinh con, thì thuật ngữ “tái sản xuất sức lao động” lại mở rộng hơn Thuật

ngữ này bao gồm việc chăm sóc, xã hội hoá và nuôi dưỡng cá nhân trongsuốt cuộc đời, để đảm bảo sự kế tục của xã hội đến thế hệ sau [Trần ĐứcViên (2001)]

- Vai trò cộng

đồng:

+ Vai trò quản lý cộng đồng: Là các hoạt động ở cấp độ cộng đồng

như sự mở rộng vai trò tái sản xuất Đó là các công việc nhằm đảm bảo vàduy trì các nguồn lực để sử dụng chung như nguồn nước, vệ sinh đườnglàng ngõ xóm, tham gia lễ hội của làng bản, tham dự các đám hiếu hỉ…Đây là những công việc tự nguyện, không được trả tiền và thường làm vàothời gian rảnh rỗi

+ Vai trò chính trị cộng đồng: Gồm những hoạt động ở cấp cộng

đồng trong thể chế chính trị quốc gia Những hoạt động này thường do namgiới thực hiện, được trả công trực tiếp bằng tiền, hoặc gián tiếp làm tăng vịthế và quyền lực của họ [Trần Đức Viên (2001)]

Trang 30

về kinh tế, ngôn ngữ, đặc điểm sinh hoạt văn hóa và ý thức tự giác dântộc thông qua tự nhận tên gọi của dân tộc mình, như dân tộc Thái, dântộc Chăm, dân tộc H’mông Trong mỗi dân tộc có thể bao gồm nhiềunhóm địa phương có tên gọi khác nhau, nhưng có đặc điểm về ngônngữ, văn hóa gần gũi nhau, như dân tộc H’mông có các nhóm địa

phương: Mông Đơ (Mông Trắng), Mông Lềnh (Mông Hoa), Mông Sí (Mông Đỏ), Mông Đú (Mông Đen), Mông Súa (Mông Mán), Mông Xanh.

Như vậy, khái niệm Dân tộc thiểu số dùng để chỉ những dân tộc có

số dân ít, chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân

số trong một quốc gia đa dân tộc [Lô Quốc Toản (2010)]

Dân tộc Việt Nam là tất cả các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước

Việt Nam có quốc tịch Việt Nam, không phân biệt nguồn

và vùng sâu vùng xa ở miền Bắc, Tây Nguyên và đồng bằng sông CửuLong Cuối cùng là các dân tộc Brâu, Ơ Đu và Rơ Măm chỉ có trên 300người [Nhóm hành động chống đói giảm nghèo (2002)]

Trang 31

Việt-Lào, từ Lạng Sơn đến Nghệ An Người H’Mông cư trú tập trung tạicác tỉnh: Hà Giang, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Lai Châu, Yên Bái, Cao,Nghệ An, Đắk Lắk, Đắk Nông, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Thanh Hóa và TháiNguyên.

Họ cư trú xen kẽ với nhau, không hình thành một vùng lãnh thổriêng Đặc điểm cư trú đó có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự nghiệpxây dựng và bảo vệ tổ quốc

1.4 Kinh tế hộ gia đình - Vai trò của người phụ nữ dân tộc thiểu số trong quản lý và phát triển kinh tế hộ gia đình vùng dân tộc miền núi tại Việt Nam

1.4.1 Vài nét khái quát về phát triển kinh tế hộ gia đình

ở nước ta

Trước xu thế phát triển của đất nước trong nền kinh tế thị trườngnhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hộichủ nghĩa, vùng dân tộc miền núi đã và đang có những bước chuyểnquan trọng trong các hoạt động kinh tế Trong đó nổi bật là sự pháttriển của loại hình kinh tế hộ gia đình đang ngày càng khẳng định vị tríquan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế cả nước nói chung và pháttriển kinh tế miền núi nói riêng

Trong nền kinh tế nhiều thành phần, kinh tế gia đình có vai trò đặcbiệt quan trọng nhất là đối với những nước nông nghiệp như nước ta.Thuật ngữ kinh tế “Kinh tế hộ gia đình” là một thuật ngữ kép, đượchiểu theo nghĩa: Kinh tế của hộ, kinh tế của gia đình

Hộ là một nhóm người cùng huyết thống hoặc không cùng huyếtthống nhưng sống chung một mái nhà, có chung một nguồn thu nhập vàcùng nhau tiến hành sản xuất kinh doanh

Gia đình là một nhóm người có cùng huyết thống, sống chung mộtmái nhà, có chung nguồn thu nhập và cùng nhau tiến hành sản xuấtkinh doanh

Theo sự xác định của Liên hiệp quốc thì hộ bao gồm những ngườisống chung dưới một mái nhà, cùng làm ăn chung, cùng chung mộtngân sách, có chung nguồn thu nhập Như vậy, khái niệm “Kinh tế hộ”mang tính bao trùm hơn khái niệm “Kinh tế gia đình” Khi ta dùng thuậtngữ “kinh tế hộ gia đình”

Trang 32

là muốn đề cập đến kinh tế hộ và kinh tế gia đình, tuy đó là hai kháiniệm không hoàn toàn giống nhau nhưng nếu dùng thuật ngữ kép nàythì nội dung bao hàm hơn, dễ hiểu và dễ hình dung hơn.

Đảng và Nhà nước đã xác định vai trò quan trọng của kinh tế

hộ gia đình trong sự phát triển chung của đất nước mà theo đó là chủtrưởng, chính sách thúc đẩy thúc đẩy một cách đồng bộ như: Xây dựngmột chiến lược phát triển toàn bộ kinh tế xã hội nông thôn; Xây dựngchiến lược phát triển cho từng vùng, miền Đầu tư phát triển cơ sở hạtầng; Xây dựng chương trình quốc gia về lao động - việc làm; Ưu tiêncác nguồn vốn cho phát triển kinh tế

- xã hội nông thôn nói chung và khu vực dân tộc miền núi nói riêng Đãtạo điều kiện cho kinh tế hộ gia đình ngày càng phát triển

Đi liền với quá trình đổi mới xã hội, sự vận hành của nền kinh tế thịtrường ở nước ta đã và đang diễn ra sự phân tầng xã hội, thể hiện ở sựphân hóa giàu nghèo Theo kết quả điều tra, cả nước có hơn 2,338 triệu

hộ nghèo (chiếm tỷ lệ 9,88% so với tổng số hộ dân cư trên toàn quốc) vàhơn 1,235 triệu hộ cận nghèo (chiếm tỷ lệ 5,22%) theo chuẩn nghèo đachiều giai đoạn 2016-2020 Như vậy, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo

đa chiều đã tăng tỷ lệ hộ nghèo từ dưới 5% năm 2015 lên gần 10%năm 2016 do chuẩn nghèo giai đoạn 2011-

2015 tiếp cận dựa trên việc đo lường thu nhập nhưng chuẩn nghèo mớitrong giai đoạn 2016-2020 nâng tiêu chí về thu nhập và đo lường thêmcác mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản như: y tế, giáo dục, nhà ở,nước sạch và vệ sinh, thông tin Trong đó 90% số người nghèo sinh sống

ở các vùng nông thôn nhất là ở vùng nông thôn miền núi [Nguyễn DuyQuý (2010)]

Bên cạnh những vùng, những hộ gia đình nghèo, quá đói nghèo làmột bộ phận dân cư có mức thu nhập cao đang trở thành những ngườigiàu có Hai bộ phân dân cư này đều hòa nhập chung và chịu sự điềuphối của cơ chế thị trường Ở nông thôn, nhất là ở nông thôn miềnnúi, đa số các hộ giàu lên không phải do bóc lột người nghèo mà là dobiết cách làm ăn, có năng lực sản xuất kinh doanh và phát huy đượcnguồn lực trong cơ chế mới Đối với những hộ gia đình đã đủ ăn, có vốn,

có khả năng phát triển chỉ cần tạo điều kiện về

Trang 33

cơ chế chính sách là họ có thể vươn lên được nhưng đối với những hộnghèo, có lẽ ngoài sức lao động ra, họ thiếu đủ thứ, cơ bản nhất vẫn là:Thiếu vốn, thiếu kiến thức và thiếu các thông tin về thị trường Nếukhông được hỗ trợ về

3 yếu tố cơ bản trên thì tài sản sức lao động của các hộ gia đình nghèo

sẽ không phát huy được

1.4.2 Vị trí của lao động nữ trong gia đình

và xã hội

Trên toàn thế giới, phụ nữ đóng vai trò then chốt trong gia đình vềkhả năng sản xuất và tái sản xuất Họ chiếm trên 50% trong tổng số laođộng; số giờ lao động của họ chiếm 2/3 tổng giờ lao động của xã hội vàsản xuất ra 1/2 trong tổng sản lượng nông nghiệp Cùng với việc đảmnhiệm nhiều công việc khác nhau, lao động nữ chiếm tỷ lệ ngày càngcao trong các ngành công nghiệp, dịch vụ với trình độ không ngừng đượcnâng cao [Viện nghiên cứu chính sách lương thực Quốc tế (2001)]

Theo kết quả của những công trình nghiên cứu trước cho biết:Phụ nữ là người tạo ra phần lớn lương thực tiêu dùng cho gia đình 1/4 số

hộ gia đình trên thế giới do nữ làm chủ hộ và nhiều hộ gia đình khácphải phụ thuộc vào thu nhập của lao động nữ [Đỗ Thị Bình - Trần Thị VânAnh (2003)]

Tuy vậy, sự bất bình đẳng vẫn còn tồn tại ở rất nhiều nước trên thếgiới đặc biệt là ở các vùng nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số,phụ nữ bị hạn chế về mọi mặt, đời sống, điều kiện sống và làm việc tồitàn, địa vị trong xã hội thấp Trong số hơn 1,3 tỷ người trên thế giới ởtrong tình trạng nghèo khổ thì có đến 70% là nữ Có ít nhất 1/2 triệu phụ

nữ tử vong do các biến chứng về mang thai, sinh đẻ…

Phụ nữ hiện chiếm trên 50% dân số cả nước và chiếm trên 47% lựclương lao động xã hội; tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế chiếm 83%,gần tương đương với nam giới là 85 % Tỷ lệ nữ cán bộ, công chức chiếm30%, viên chức 61% Lực lương lao động nữ hiện diện ở hầu hết cáclãnh vực, ngành nghề, trong đó có một số ngành nữ chiếm tỷ lệ cao nhưchế biến nông sản, giáo dục, y tế, may mặc, và ngày càng nhiều laođộng nữ trong các lãnh vực kỹ thuật công nghệ (34%) So sánh ngànhnghề giữa nông thôn và thành

Trang 34

thị Ở thành thị, phụ nữ làm công nhân viên chức, các nghề tự do, hoặclao động chân tay, tuy nhiên, lương bổng lại không bằng nam giới Ởkhu vực nông thôn, phụ nữ vừa làm việc đồng áng hoặc buôn bán Tìnhtrạng lao động nữ chưa qua đào tạo rất phổ biến (chiếm 90%) Nhìnchung, ở nông thôn cũng như thành thị phụ nữ đang phải làm nhữngngành nghề dành cho nữ như dệt may, nông - lâm nghiệp… đều lànhững ngành lao động phổ thông, nặng nhọc, năng suất thấp, dễ bịtổn thương với mức thu nhập thấp; điều kiện làm việc thì khắc nghiệt

mà tính rủi ro do mất việc rất cao Mặc dù tham gia vào thị trường laođộng với tỷ lệ cao nhưng theo thống kê cho thấy thì thu nhập của laođộng nữ luôn chỉ bằng 3/4 lao động nam Khi kinh tế biến động cần sathải nhân công thì lao động nữ cũng là “ưu tiên hàng đầu” Lý do là vì ítđào tạo, trình độ thấp nên cơ hội việc làm có lương cao rất hạn chế Tỷ lệlao động nữ chưa qua đào tạo là 80,9%, khu vực nông thôn gần 90%, chỉ

có 3,65% lao động nữ ở nông thôn có chứng chỉ nghề Một đặc điểm vănhóa khác biệt của phụ nữ Việt Nam so với các nước Châu Á hay phươngTây là tuy kiếm ít tiền hơn nhưng lại là người cai quản tài chính củagia đình [Nguyễn Thị Thanh Hòa (2011)]

Ở Việt Nam hiện nay, tỷ lệ phụ nữ tham gia các cấp uỷ đảng từtrung ương tới địa phương đều chưa đạt 15% (trừ cấp cơ sở đạt 15,08%).Cấp trung ương, tỷ lệ uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X

Trang 35

lệ nữ tham gia ban chấp hành là 14,74% (tăng 1,85% so với nhiệm kỳtrước) và ở cấp xã là 15,08% (tăng 3,2% so với nhiệm kỳ trước) Đánhgiá tổng quát về tỷ lệ nữ tham gia cấp uỷ là: cấp trung ương giảm, cáccấp địa phương tăng không đáng kể Điều đặc biệt là ở những nơi khókhăn như miền núi thì tỷ lệ cán bộ nữ cao hơn đồng bằng [Nguyễn ThịThanh Hòa (2016)].

Trong cơ quan dân cử, tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XIV là

133 người (đạt 26,80%), mặc dù tỷ lệ ĐBQH là nữ không đạt được ítnhất 30% như mục tiêu, nhưng cũng đã tăng 11 người (2,4%) so vớikhóa XIII (có 122 đại biểu nữ, chiếm 24,4%) Cũng theo báo cáo củaHội đồng Bầu cử Quốc gia, tỷ lệ nữ đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2016 -2021các cấp đều tăng so với nhiệm kỳ trước (2011 – 2016) Cụ thể, tỷ lệ nữđại biểu HĐND cấp tỉnh đạt

26,46% (tăng 1,29%); cấp huyện đạt 27,51% (tăng 2,89%); cấp xã đạt26,70%

(tăng 4,99%) [Hội đồng bầu cử quốc gia

(2016)]

Mặc dù tỷ lệ phụ nữ trong hệ thống chính trị hiện nay còn hạn chếsong nhìn chung, sự gia tăng số lượng cán bộ nữ tham gia quản lý nhànước và các hoạt động chính trị trong những năm qua chứng tỏ năng lựccủa cán bộ nữ ngày càng được nâng cao Nhìn lại chặng đường đã qua,phụ nữ Việt Nam đã không ngừng nỗ lực phấn đấu vươn lên; mặt khác,

sự quan tâm, tạo điều kiện của Đảng và Nhà nước đã tạo môi trườngthuận lợi để chị em có cơ hội phát triển toàn diện và tham gia trên hầuhết các lĩnh vực của đời sống xã hội Những đóng góp tích cực và cụ thểcủa phụ nữ vào thành quả của công cuộc đổi mới đã dần làm thay đổinhững định kiến về vai trò của phụ nữ trong xã hội, khiến xã hội phảithừa nhận phụ nữ có khả năng tham gia lĩnh vực chính trị không thuakém nam giới và nhìn nhận, đánh giá đúng hơn về vai trò, vị trí của phụ

nữ trong các hoạt động kinh tế - chính trị - xã hội của đất nước

1.4.3 Vai trò người phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh

tế hộ gia đình

Khi nói đến cơ cấu tổ chức sản xuất của kinh tế hộ gia đình là nóitới một mô hình sản xuất gọn nhẹ với sự tham gia của các thành viêntrong gia đình, dòng họ Các thành viên trong hộ gia đình có chungnguồn thu nhập, cùng chung lợi ích và có trách nhiệm ràng buộc vớinhau Vì vậy mà họ có

Trang 36

chung một ý chí lao động sản xuất, tuy nhiên từng thành viên có các vịthế khác nhau trong gia đình Vị thế đó phụ thuộc rất nhiều vào các yếu

tố chủ quan và khách quan kể cả phong tục tập quán của từng dân tộc

Do đặc điểm lịch sử của đất nước, phụ nữ Việt Nam luôn giữ mộtvai trò trụ cột trong sản xuất nông nghiệp Họ là lực lượng rất quantrọng để tạo ra của cải vật chất và xây dựng văn hóa nông thôn Vớilực lượng đông đảo:

78% phụ nữ ở nông thôn, chiếm 52% lực lượng lao động xã hội và 23%làm chủ hộ gia đình, người phụ nữ đã và đang khẳng định vai trò quantrọng của mình trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nôngnghiệp và nông thôn Trong quá trình hoạt động của kinh tế hộ giađình vùng dân tộc miền núi, người phụ nữ dân tộc thiểu số là một lựclượng, một nguồn lực lao động quan trọng thể hiện vị thế của mình tronggia đình theo thiên chức và trách nhiệm, theo sự phân công mang tínhchất giới trong gia đình [Ủy ban dân tộc và miền núi (2000)]

Hoạt động kinh tế gia đình trong tình hình mới đã tác động đến vaitrò của các giới, đến vai trò của người chồng và người vợ trong các côngviệc cụ thể của hoạt động kinh tế hộ gia đình Nếu trong bối cảnh củanền kinh tế tự cung tự cấp trước đây việc phân công lao động còn mangtính tự nhiên chủ nghĩa thì hiện nay trước yêu cầu của sự phát triểnkinh tế và hoàn cảnh kinh tế, đặc thù kinh tế của từng địa phươngcũng như tương quan trình độ của nam và nữ mà có sự phân côngkhác nhau trong các hoạt động trực tiếp hay gián tiếp đến kinh tế hộ giađình

Hoạt động kinh tế hộ gia đình của nông dân, miền núi trong bốicảnh hiện nay là một phức hợp các công việc trong việc tổ chức điềuhành sản xuất, phân công lao động, đầu tư và sử dụng đồng vốn mộtcách có hiệu quả nhất, đòi hỏi sự tư duy, tính toán của cả vợ và chồng chứ không phải là công việc thuần nông giản đơn như trước đây hoạtđộng kinh tế hộ gia đình theo kinh nghiệm, theo bản năng

Người phụ nữ đảm nhận mọi công việc nặng nhọc trong gia đìnhnhưng qua khảo sát, quyền quyết định của họ trong việc điều hành cáccông việc lớn

Trang 37

trong gia đình lại ở mức độ thấp Điều đó thể hiện sự mâu thuẫn giữacường độ lao động của phụ nữ (thường gấp 1,5 - 2 lần so với nam giới)với quyền quyết định điều hành các hoạt động kinh tế gia đình.

Như vậy: Nếu xét dưới góc độ kinh tế, năng lực quản lý kinh tế hộ gia đình của phụ nữ là hiệu quả của quá trình tổ chức, điều hành và quản lý sản xuất có sự tham gia của chị em với tư cách là thành viên - là người chủ của hộ gia đình.

Năng lực quản lý kinh tế hộ gia đình của phụ nữ nếu xét dưới gócđộ

chính trị - xã hội là sự thể hiện quyền bình đẳng giữa giới nam vàgiới nữ trong định hướng đầu tư, trong tổ chức, phân công lao động giađình và trong việc sử dụng, hưởng thụ các sản phẩm sản xuất ra

Tuy nhiên các khái niệm này đều chỉ mang tính tương đối vì nănglực quản lý liên quan nhiều vấn đề như: Dân tộc, gia đình, văn hóa, giáodục, xã hội, điều kiện lao động, điều kiện sức khỏe

Người phụ nữ dân tộc thiểu số tham gia phát triển kinh tế hộ giađình không những với tư cách là thành viên của gia đình, có trách nhiệmphải đóng góp công sức tạo ra của cải nuôi sống gia đình và bản thân

mà còn với tư cách là người vợ, người mẹ, người chủ gia đình Người phụ

nữ vừa đóng vai trò quan trọng trong sự định hướng sản xuất vừa làngười trực tiếp thực hiện quy trình lao động sản xuất đó Hơn nữa, việctái tạo ra sức lao động, duy trì nòi giống lại là thiên chức bẩm sinh củangười phụ nữ

Có thể nói trong phát triển kinh tế hộ gia đình, người phụ nữ giữmột vai trò đặc biệt không thể thiếu đối với các quy trình lao động sảnxuất Lao động nữ có những thế mạnh mà lao động nam không thể cóđược: Đó là sự cần mẫn, nhẫn nại, khéo léo và dẻo dai trong cuộcsống Sức chịu đựng của lao động nữ trong những điều kiện lao độngkhó khăn tỏ ra hơn hẳn nam giới Hơn nữa tính căn cơ, tiết kiệm và tínhthực tế đã được thực tiễn chứng minh là điểm nổi bật của lao động nữ.Nhưng việc phát huy vai trò đặc biệt đó để nhân lên thành sức mạnhgiúp người phụ nữ vượt qua được các mặc cảm tự ty, hủ tục lạc hậu,vượt qua những vất vả, khó khăn mà họ phải gánh chịu để

Trang 38

làm chủ bản thân, làm chủ gia đình, chủ động trong định hướng đầu tưsản xuất, trong chỉ tiêu, trong giáo dục con cái và trong quản lý gia đìnhlại là một vấn đề hoàn toàn khác, phụ thuộc vào nhiều yếu tố kháchquan mà nếu để tự chị em thì họ không thể thực hiện được.

Trong cuộc sống thực tế, tư tưởng “trọng nam khinh nữ” đã dầndần được xóa bỏ ở mọi lĩnh vực từ gia đình đến xã hội, làm thay đổicác cơ sở kinh tế, thay đổi các quan niệm về đạo đức, phong tục tậpquán và đặc biệt là làm thay đổi hẳn thân phận và địa vị của người phụ

nữ Hiện nay phụ nữ nước ta nói chung và phụ nữ dân tộc thiểu số nóiriêng đều đã được tham gia vào hầu hết các lĩnh vực sản xuất kinhdoanh, dịch vụ và được nâng cao địa vị trong gia đình Tuy nhiên, ởnhiều khu vực nông thôn miền núi, ở nhiều vùng, nhiều nơi, nhiều giađình, vai trò của chị em trong quản lý kinh tế hộ gia đình còn rất mờnhạt, khiến chị em luôn mặc cảm tự ty, cam chịu trong cảnh nghèo đói,phụ thuộc vào người chồng, người đàn ông trong gia đình

Như vậy, dù được thừa nhận hay không được thừa nhận, thực tếtrong cuộc sống hàng ngày và những gì phụ nữ dân tộc thiểu số làm đãkhẳng định vai trò của họ trong gia đình, trong mọi lĩnh vực của đời sốngkinh tế - xã hội, trong bước tiến của nhân loại Phụ nữ dân tộc thiểu sốcũng phải thực hiện nhiều vai trò, cho nên họ cần được nam giới chia

sẻ, thông cảm cả về hành động lẫn tinh thần, xã hội cũng cần có nhữngchương trình trợ giúp để họ thực hiện tốt hơn vai trò của mình

1.5 Nội dung vai trò của phụ nữ dân tộc trong phát triển kinh tế

hộ gia đình

1.5.1 Vai trò của phụ nữ trong quản lý và điều hành

sản xuất

Phụ nữ có vai trò hết sức quan trọng đối với mọi hoạt động trong

hộ gia đình Trong hoạt động kinh tế hộ gia đình thì việc quản lý và việcđiều hành sản xuất của hộ đóng vai trò quan trọng, quyết định việc phâncông lao động trong gia đình, phân công bán cho ai? Người xác định giábán và bán ở đâu? Bán như thế nào? Trong hoạt động này người phụ

nữ có vai trò quan trọng

Trang 39

trong việc quản lý kinh tế của hộ và điều hành việc sản xuất của giađình Mặc dù người phụ nữ có vai trò quan trọng trong công việc gia đình

và tham gia quản lý sản xuất nhưng do phong tục tập quán, quan niệm

và do nhận thức của người dân nên việc ra quyết định cuối cùngtrong gia đình chủ yếu là người chồng Vấn đề này phổ biến trong các

hộ gia đình nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dântộc thiểu số

1.5.2 Vai trò của phụ nữ trong sản xuất tạo ra thu nhập

cho gia đình

Có nhiều nghiên cứu về vai trò phụ nữ trong sản xuất ở nhiều cấp

độ và góc độ khác nhau, những nghiên cứu đó đều nhận định: Là lựclượng lao động quá bán ở nông thôn, phụ nữ đóng vai trò đáng kể trongđời sống hoạt động kinh tế hộ cũng như hoạt động áp dụng tiến bộ kỹthuật vào sản xuất Họ là người tham gia trực tiếp vào các hoạt độngnông nghiệp, từ khâu cày, bừa, trồng, cấy, chăm sóc đến thu hoạch.Ngoài ra, họ còn tham gia vào việc lựa chọn phương án làm ăn của hộgia đình: Chọn cây gì, giống nào, phân bón gì, nuôi con nào, tiêu thụ ởđâu…

Phụ nữ là người tham gia chính vào các khâu sản xuất nôngnghiệp Khâu làm đất nữ làm 56%, nam làm 9,8%; Khâu chọn giống, nữlàm 68,6%, nam làm 8,6%; khâu chăm sóc, cấy trồng, nữ làm 69,2%,nam làm 5,1%; phun thuốc sâu nữ làm 63,6%, nam làm 13,6%.Trong thu hoạch bán sản phẩm chủ yếu là do nữ đảm nhiệm (48,3% ởCẩm An, 71,4% ở Hoà Phú và

49,1% ở Khánh Hoà lĩnh vực này do người vợ làm) [Chương trình nghiêncứu

Việt Nam - Hà Lan

(2006)]

Những nghiên cứu khác còn cho thấy, ở mỗi vùng, mỗi miền vàđiều kiện cụ thể từng nơi mà vai trò của phụ nữ trong sản xuất cũng thểhiện một cách khác nhau trong các khâu công việc

Ở nông thôn miền núi tỉnh Thái Nguyên, lực lượng lao động nữ chiếm từ

45% đến 74,6% tổng số lao động Trong số lao động nữ có khoảng 21%

là chủ hộ và 51,2% được quyền tham gia quản lý gia đình Điều đóchứng tỏ một số

Trang 40

chị em phụ nữ dân tộc ít người vùng này có khả năng quản lý kinh tế

hộ tự cung tự túc Phụ nữ không chỉ chiếm tỷ trọng cao trong lực lượnglao động mà còn được phân công thực hiện nhiều công việc trong tronghoạt động kinh tế hộ gia đình (Họ làm 70% công việc gia đình, 70% côngviệc đồng áng) Do đó năng suất và chất lượng lao động của họ có tínhchất quyết định đối với hiệu quả sản xuất, là nguồn lực cho phát triểnkinh tế hộ gia đình [Lê Thi (1999)]

1.5.3 Vai trò của phụ nữ trong tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực phát triển

* Tiếp cận vốn

Phụ nữ hiện nay có thuận lợi hơn trước đây trong việc vay vốn tíndụng vì có nhiều nguồn từ các tổ chức chính thống, phi chính thống Làngười tham gia trực tiếp vào các hoạt động sản xuất kinh doanh(HĐSXKD) và cũng tham gia vào các quyết định phát triển kinh tế củagia đình, do vậy phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong việc sử dụng vốn

và tiết kiệm Thông qua sự uỷ thác của ngân hàng chính sách xã hội(NHCSXH), hội phụ nữ (HPN) các địa phương đã thực hiện việc cho vayvốn tới các hội viên kết hợp với việc kiểm soát sử dụng vốn và trả lãi

* Tiếp cận với khoa học kỹ thuật

Sự tiếp cận khoa học kỹ thuật thông qua hệ thống khuyến nôngNhà nước và khuyến nông tự nguyện hoặc các chương trình, dự án đốivới phụ nữ nông thôn là cần thiết nhưng gặp một số khó khăn Ngoàicông việc sản xuất kinh doanh, phụ nữ còn phải làm công việc gia đình

và tham gia vào các hoạt động khác Quỹ thời gian không cho phép họtham gia các khoá tập huấn dài ngày hoặc ở xa vì thiếu phương tiện đilại

Thường thì những kiến thức họ nhận được từ các khoá tập huấn cóthể áp dụng ngay vì họ trực tiếp tham gia vào các hoạt động sản xuấtkinh doanh hay nuôi dạy con cái trong khi nam giới đến các khoá tậphuấn thường không chú ý nghe hay tham gia bởi họ nghĩ là họ biết hết.Sau đó họ lại không truyền đạt những gì họ học được cho vợ, con Nhữngngười phụ nữ có trình độ học vấn cao, có khả năng tiếp thu và áp dụngtiến bộ kỹ thuật tốt hơn Tuy nhiên trình độ của phụ nữ nông thôn thấpkhiến việc tiếp cận khoa học kỹ thuật của họ bị hạn chế

Ngày đăng: 20/07/2018, 18:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Vân Anh (2001), “Giới và phát triển nông thôn”, tài liệu tập huấn phiển triển bền vững nông thôn của chương trình VNRP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới và phát triển nông thôn”
Tác giả: Trần Thị Vân Anh
Năm: 2001
2. Đỗ Thị Bình - Trần Thị Vân Anh (2003), “Giới và công tác giảm nghèo”,NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới và công tác giảm nghèo”
Tác giả: Đỗ Thị Bình - Trần Thị Vân Anh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2003
3. Nguyễn Sinh Cúc (2001), Phân tích điều tra nông thôn năm 2000 4. Chương trình nghiên cứu Việt Nam - Hà Lan (2006), Kết quả nghiêncứu các đề án VNRP, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích điều tra nông thôn năm 2000"4. Chương trình nghiên cứu Việt Nam - Hà Lan (2006), "Kết quả nghiên"cứu các đề án VNRP
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc (2001), Phân tích điều tra nông thôn năm 2000 4. Chương trình nghiên cứu Việt Nam - Hà Lan
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2006
5. Phạm Văn Dũng (2006), Giáo trình kinh tế chính trị Mác- Lênin dùng cho khối ngành kinh tế - quản trị kinh doanh trong các trường cao đẳng, đại học, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế chính trị Mác- Lênindùng cho khối ngành kinh tế - quản trị kinh doanh trong các trườngcao đẳng, đại học
Tác giả: Phạm Văn Dũng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
6. Nguyễn Thị Thanh Hòa (2011), Thực hiện bình đẳng giới để phụ nữ Việt Nam tích cực tham gia xây dựng, phát triển đất nước, Quản lý nhà nước, số 189 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện bình đẳng giới để phụ nữViệt Nam tích cực tham gia xây dựng, phát triển đất nước
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hòa
Năm: 2011
7. Nguyễn Thị Thanh Hòa (2016), Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ thống chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực lãnh đạo của cánbộ nữ trong hệ thống chính trị
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hòa
Năm: 2016
8. Hội đồng bầu cử quốc gia (2016), Báo cáo tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết cuộc bầu cử đạibiểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ2016-2021
Tác giả: Hội đồng bầu cử quốc gia
Năm: 2016
9. Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Thái Nguyên, Nghị quyết Đại hội Đại biểu phụ nữ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2017-2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội Đại biểuphụ nữ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XIII
10. Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, Nghị quyết Đại hội phụ nữ huyện Đồng Hỷ lần thứ XXIII, nhiệm kỳ 2017-2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyếtĐại hội phụ nữ huyện Đồng Hỷ lần thứ XXIII
11. Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên, Báo cáo chính trị củaBan chấp hành trình tại Đại hội phụ nữ huyện Nậm Pồ lần thứ II, nhiệm kỳ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của
14. Nguyễn Thị Hiên - Lê Ngọc Hùng (2006), “Nâng cao năng lực phát triển bền vững bình đẳng giới và giảm nghèo”, Nxb Lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nâng cao năng lực pháttriển bền vững bình đẳng giới và giảm nghèo”
Tác giả: Nguyễn Thị Hiên - Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2006
15. Nguyễn Linh Khiếu (2001), Gia đình và phụ nữ trong biến đổi văn hóa xã hội nông thôn”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình và phụ nữ trong biến đổi vănhóa xã hội nông thôn
Tác giả: Nguyễn Linh Khiếu
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2001
16. Nguyễn Thị Lân (2006), Vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong hoạt động xóa đói giảm nghèo, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong hoạtđộng xóa đói giảm nghèo
Tác giả: Nguyễn Thị Lân
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2006
17. Ngô Thắng Lợi (2013), Giáo trình kinh tế phát triển, NXB Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế phát triển
Tác giả: Ngô Thắng Lợi
Nhà XB: NXB Đại học Kinhtế quốc dân
Năm: 2013
19. Nguyễn Duy Quý (2010), Công cuộc đổi mới – những thành tựu và bài học kinh nghiệm, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công cuộc đổi mới – những thành tựu vàbài học kinh nghiệm
Tác giả: Nguyễn Duy Quý
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2010
20. Lê Đình Thắng (1993), Phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hoá,NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hoá
Tác giả: Lê Đình Thắng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1993
23. Lô Quốc Toản (2010), Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở cáctỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay
Tác giả: Lô Quốc Toản
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
24. Lê Thi (1999), Việc làm đời sống phụ nữ trong chuyển đổi kinh tế ởViệt Nam, Nxb khoa học - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc làm đời sống phụ nữ trong chuyển đổi kinh tế ở"Việt Nam
Tác giả: Lê Thi
Nhà XB: Nxb khoa học - xã hội
Năm: 1999
25. Trần Đức Viên (2001), Nông nghiệp trên đất dốc, thách thức và tiềm năng, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp trên đất dốc, thách thức vàtiềm năng
Tác giả: Trần Đức Viên
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2001
26. Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Quyết định số 2037/QĐ- UBND ngày 16/9/2014 về việc phê duyệt Đề án “Phát triển kinh tế - xã hội, ổn định sản xuất và đời sống các xóm, bản đặc biệt khó khăn có nhiều đồng bào dân tộc Mông sinh sống tỉnh Thái nguyên đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế -xã hội, ổn định sản xuất và đời sống các xóm, bản đặc biệt khó khăncó nhiều đồng bào dân tộc Mông sinh sống tỉnh Thái nguyên đếnnăm 2020

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w