1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

luận văn khách sạn nét huế

68 130 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 12,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu như em không làm đúng với những lời cam đoan của mình và trong quá trình làm bài cùng cô hướng dẫn thực tập, thì em xin chịu mọi trách cũng như những quy định của hội đồng đưa ra.Một

Trang 1

HUTECH B ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP HCM

ĐỎ ÁN/ KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP

Ngành: M Ỹ T H U Ậ T C Ô N G N G H IỆ P

Chuyên ngành: T H IÉ T KÉ N Ộ I T H Ấ T

G iản g v iên hư ớng dẫn : Cô HỒ THỊ THANH NHÀN

Sinh v iên thực hiện : ĐÀM THỊ SEN ' 1^-ữi.ẲđL,

M S S V : 107301132 Lớp: 07DNT 02 Gv'*D MTĨr^ i

T H Ơ V S ệM [RƯỜNG DH KỶ THUẢĨ CÕNG n OHẺ p hCW

TP H ồ Chí M inh, 2011

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan đô án của em là hoàn toàn dựa trên ý tưởng của mình một cách trung thực, không sao chép,không copy lấy ý tưởng của người khác vào dưới mọi hình thứ c.số liệu mà em đưa ra hoàn toàn đúng ,chính xác

và trung thực với những gì mình đâ làm.

Không gian dối trước bất cứ mọi hình thức nào về ý tưởng cũng như quá trinh thê hiện trong quá trình làm hoàn toàn là trung thực không gian dối Nếu như em không làm đúng với những lời cam đoan của mình và trong quá trình làm bài cùng cô hướng dẫn thực tập, thì em xin chịu mọi trách cũng như những quy định của hội đồng đưa ra.Một lần nữa em xin cảm

ơn ban giám hiệu nhà trường và các cô thầy trong hội đồng chấm thi cùng cô hướng dẫn tốt nghiệp rất nhiều.

Trang 3

Và lời cuối cùng là cảm ơn tất cả các bạn đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian làm bài đồ án vừa qua.

Tuy bài còn nhiều hạn chế nhưng em mong các thày cô bỏ qua và góp ý thêm cho em đế em cũng như các bạn có thể làm tốt hơn trong sự nghiệp sau

Trang 4

Đ Ò Á N T Ó T N G H IỆ P

C H U Y Ê N N G À N H N Ộ I T H Ấ T

'ỉs.Cữ.êí

Đề T à i: K H Á C H SẠ N N É T HUÉ

M Ụ C LỤC

LỜI MÒ Đ À U

CHƯƠNG 1 : PHÀN NGHIÊN c ứ u LIÊN QUAN ĐÉN ĐÈ T À I 6

1.1 Kiến T r ú c 6

L l ỉ S ơ Lược Kiến Trúc Đồng A 6

1.1.2 Kiến Trúc Cung Đ ìn h 9

1.1.3 Kiến Trúc c ổ Việt N a m 19

1.1.4 Kiến Trúc Dân G ia n 29

1.1.5 Kiến Trúc Nhà R ư ờ n g 29

1.2 Lễ Nhạc Cung Đ ìn h 33

1.3 Vũ Khúc Cung Đ ìn h 35

1.4 Ca H uế 35

1.5 Nghệ Thuật Tuồng H u ế 37

1.6 Mỹ T h u ậ t, Mỹ Nghệ 38

1.7 Lễ H ộ i 39

1.8 Festival Huế 39

1.9 Ám Thực 40

1.9.1 Đặc Điếm C h u n g 40

1.9.2 Đặc Điểm Theo Vùng Miền Dân T ộc 41

1.9.3 Ám Thực Các Dân Tộc Thiểu s ố Việt N am 42

1.9.4 Âm Thực Việt Nam Trên Thế Gio7 42

1.9.5 Âm Thực H u ế 42

Trang 5

1.9.6 Ảm Thực Chay 43

2.0 Võ Thuật 44

CHƯƠNG 2 : HƯỚNG NGHIÊN c ứ u CHÍNH VÀ Ý TƯỞNG CỦA ĐÈ TÀI 44

2.1 Đối Tượng Sử D ụng 44

2.1.1 Đối Tượng 44

2.1.2 Mục Đ íc h 44

2.2 Ý Tưởng Của Đề Tài 45

2.2.1 Ỷ Tưởng 45

2.2.2 Đặc Trưng Thiết K ế 45

2.3 Biểu Tưọng _ Chủ Đ e 47

2.3.1 Yếu Tố Tạo H ĩn h 48

2.3.2 Hoa Văn Trang T rí 48

2.3.3 Bình Phong Và Non B ộ 50

CHƯƠNG 3 : PHÂN TÍCH HÒ s o ĐÈ TÀI 51

3.1 Đặc Điểm Vị Trí Địa L ý 51

3.2 Hồ So’ Kiến T rú c 52

CHƯƠNG 4 : XÂY DỤNG NHIỆM v ụ THIÉT K Ế 59

CHƯƠNG 5 : PHÂN TÍCH Ý TƯỞNG CHO TỪNG KHÔNG GIAN c ụ THẺ 61

5.1 Không Gian Khu Tiếp T ân 61

5.2 Không Gian Khu Nhà H àng 63

5.3 Không Gian Phòng N gủ 65

5.4 Không Gian Hành L an g 67

CHƯƠNG 6 : KÉT LUẬN 68

TÀI LIỆU THAM K H Ả O 69

Trang 6

1) Tính cấp thiết của đề tài

Nhắc đến cố đô Huế , ai cũng mường tượng ra ngay trong đầu một hình tượng của sự trầm lắng , một trong vùng đất đi lên từ chê độ Phong Kiên hà khắc nhất V iệt Nam , một thời bom đạn chống Pháp ,Mỹ Nhưng đằng sau

đó , Huế chứa đựng nhiều hon thế , con người chân chât tình cảm , hiêu khách của Huế ;kiến trúc Hoàng Thành ,lăng tẩm , chùa chiền có giá trị lâ đời của Huế ; sông Hưong núi N gự của Huế ; cầu Tràng Tiên Huê ; chợ Đ ông Ba Huê v ề ầm thực có Nem chả Huế , bún bò Huê không chỉ nôi tiêng có giá trị

ẩm thực thuần tuý mà còn mang nặng trong mình dáng dâp linh hôn của một nét văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc Từ các đời Vua chúa , người ta đã biêt tinh thần hoá ” đời sống vật c h ấ t, từ các cuộc chiêu đãi yến tiệc hoặc sơn hào

mĩ vị hoặc món ăn dân dã luôn gắn liên với nhừng buôi ca vũ nhạc đặc săc , Nhã Nhạc Cung Đình là một trong những hình thức tiêu biểu.

N gày nay , để đáp ứng được nhu cầu thưởng thức cuộc sống đầy đủ ,các khách sạn ,resort nghỉ dưỡng luôn là sự lựa chọn cho những ai muôn thư giãn ,nghỉ ngơi, vui chơi , ăn uống không dừng lại ờ sự thường thức mang tính vật chất mà còn là nhu cầu thưởng thúc tinh thần rất cao.

Đẻ đưa được nét truyền thống gần gũi hơn với mọi người nhưng vân giữ được nét đẹp xưa nhằm mang lại một không gian trâm lăng , nhẹ nhàng và đây

cồ kính Với lối vận dụng hoa văn trang trí , tạo hình thực tế vào không gian

Trang 7

nội thất “ khách sạn N ét Huế ” sẽ càng khiến mọi người hiểu thêm một cách sâu sắc hơn về văn hoá cũng như là con người Huế

Ngày nay , khi mà cuộc sống ngày càng được nâng cao thêm vào đó đời sống tinh thần được cải thiện , con người có xu hướng trở vê với truyên thông trở về với thiên nhiên Nhắc tới cô đô là người ta nhớ ngay đên Huê cho dù bất cứ ai chưa từng đặt chân đến nơi này.Vì vậy , bằng những yếu tố hoa văn truyền thống nên em đã chọn đề tài : “Khách sạn N ét Huế” để góp phần nào giúp mọi người trở về với truyền thống

2) Tình hình nghiên cứu

Tình hình đất nước ta hiện nay đang trên đà phát triển Việc các khu công nghiệp , các công trình xây dựng phát triên khăp nơi Hình ảnh vê mội thời xưa cũ dần thay thế cho sự năng động hiện đại của nền kinh tế mới Với tâm niệm muốn mang đến cho mọi người một không gian nghỉ ngơi vui vẻ sau những mệt mỏi hằng ngày để trờ về với những không gian xưa lãng mạn pha một chút hoài cổ và sự yên tĩnh hiếm có giữa thành phố đầy năng động này

3) M ục đích nghiên cứu

M ụ c T iê u :

■ Tạo ra một không gian nội thất phù hợp với xu hướng hiện đại hoá

nhưng vẫn giữ được nét truyền thống dân tộc.

■ Nâng cao đời sống vật chất đi đỏi với giá trị tinh thân cho du khách

trong nước và ngoài nước nhưng vẫn giừ được nét đặc trưng của văn hoá vùng miền

■ Mang lại vẻ đẹp truyền thống , xưa cũ nhung không bị mài mòn bởi thời

gian.

P hong Cách Thiết K ẻ :

■ Lấv phong cách Á Đông làm nền

Trang 8

■ Sử dụng yếu tố tạo hình , hoa văn truyền thống Huế

■ Dựa vào màu sắc , chất liệu đặc trưng để đưa vào không gian nội

th ấ t.

■ Sử dụng đường nét mảng khối vào từng không gian cụ thê

4) N hiệm vụ nghiên cứu

Đe tài sẽ tập trung nghiên cứu về nét văn hoá Huê đê đưa vào không gian nội thất khách sạn.

_Đ ề tài thiết kế bao gồm 4 không gian sau :

Trang 9

5) Phương pháp nghiên cứu

Đưa nét văn hoá Huế kết hợp sử dụng vật liệu gỗ ,gạch đá cùng với hình tượng hoa sen làm điểm nhấn như tái hiện ra được một không gian khách sạn mang vẻ đẹp trầm lắng mà đầy cổ kính.

Đi sâu tỉm hiểu những nét đặc sắc , văn hoá ẩm thực , văn hoá tinh thần

đê đưa vào bài một cách cụ thể và sâ sấc hơn trong từng không gian nội thất của khách sạn

CHƯƠNG 1 : PHẦN NGHIÊN cứu LIÊN QUAN ĐÉN ĐỀ TÀI

1.1 Kiến Trúc

1.1.1 S ơ Lược Kiến Trúc Đông Ả

Kiên trúc Á Đông là sự giao thoa của nhiều nền văn hóa, sự kế thừa của

vẻ đẹp truyền thống và là sự kết hợp những tinh hoa của kiến trúc hiện đại.

*»* Phong cách và sắc màu:

Phần lớn, phong cách Phương Đ ông chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa và Nhật Bản Người Nhật có khuynh hướng trang trí nhà cửa có màu sắc trung tính, hài hòa và tối giản còn người Trung Hoa lại ưa chuộng mau săc sáng sủa và sặc sỡ với nhũng vật dụng băng sơn mài hay sơn phết màu đỏ rất rực rỡ.

Trang 10

Phông nền chung thường là sử dụng nhừng màu sơn đen hoặc sơn gô màu tối Những ngôi nhà phương Đông thường có nên màu khá nhã nhặn điểm xuyết những nội thất màu sắc nổi bật làm điểm nhân cho căn phòng.

Nôi thất

Người Nhật thường sử dụng

đồ nội thất đơn giản nhưng cho

nhiều mục đích khác nhau Ví dụ

như bộ đệm phu-tông (là loại đệm

dày, có nhồi bông) vừa có thể để

ngồi hay trải xuống sàn để ngủ.

Tương tự, một chiếc rương bằng gồ có thể dùng làm bàn hay chiếc tủ đựng

đồ Trong khi đó, nội thất Trung Quốc thường ưa chuộng nét cổ kính với những đường nét chạm trỗ hoặc những họa tiết trên chât liệu tơ lụa sang trọng.

Đối với người Phương Đ ông, thảm thường được chú ý đầu tiên trước khi tiến hành lựa chọn đồ nội thất Những vật dụng trong nhà từ đó sẽ được kêt hợp hài hòa với màu sắc, kiểu dáng và chất liệu của chiếc thảm Ví dụ, một chiếc thảm hoa với những họa tiết màu vàng sẽ được kết họp với bộ bàn ghẻ cùng tông màu hay một bức vách tao nhã treo những bức tranh cùng họa tiêt.

Trang 11

Đây là điểm mấu chốt trong việc trang trí nhà theo phong cách Á Đ ông bởi người phương Đ ông rất chú trọng về yếu tố cân bằng, đặc biệt là trong việc sắp xếp cửa nẻo và ánh sáng

Ví dụ như căn phòng của bạn đầy ắp những họa tiết trang trí ở thảm, hay

đồ nội thất thì các cánh cửa nên thiết kế thật đơn giản, không cầu kỳ, màu sắc phải hài hòa với tông màu sáng sủa

Một căn phòng theo phong cách Nhật Bản sẽ nghiêng về nét giản dị và đồng thuận cùng thiên nhiên V í dụ như người Nhật hay dùng những chiêc màn cửa bằng tre hay mành gỗ Trong khi đó, người Trung Quôc lại thích trang trí cửa với những chiếc đèn lồng hay những tấm màn thêu hoa màu sặc sỡ.

Vật trang trí thủ công mỹ nghệ:

Bước vào một ngôi nhà theo phong

cách Á Đông, bạn sẽ dễ dàng nhận ra nơi

đây không có nhiều không gian rộng như

lối thiết kế của người Phương Tây Các

khoảng trống thường được trang trí với

những vật dụng như mành tre, bình gốm

hay thác nước phong thủy, một vật dụng

được quan niệm là nguồn cung cấp năng

lượng, sự giàu có và thịnh vượng cho gia

chủ.

Thác nước phong thủy.

Trang 12

Đcm giản mà lạ lẫm, những họa tiết hoa văn sẽ là sự lựa chọn tuyệt vời khi được họa trên những bức màn tơ tằm Và nếu bạn cần một không gian che giấu khéo léo thì một bức mành sẽ là giải pháp hợp lý và thẫm mỹ.

1.1.2 Kiến Trúc Cung Đình

Kiến trúc ờ Huế phong phú và đa dạng : có kiến trúc cung đình và kiến trúc dân gian , kiến trúc tôn giáo và kiến trúc đền miếu, kiến truc truyên thông

và kiến trúc hiện đại

Những công trình kiến trúc công phu, đồ sộ nhất chính là Quân thê di tích Cô

Đ ô Huế hay quần thể di tích Huế Đ ó là những di tích lịch sử văn hoá do triều

N guyễn chủ trương xây dựng trong khoảng thời gian từ đâu thê kỷ 19 đên nửa đầu thế kỷ 20 trên địa bàn kinh đô Huế xưa.

Nghệ Thuật Kiến Trúc Cung Đình H uế

Kiến trúc cung đình Huế được định hình và mang phong cách bản sắc Huế từ khi Huế là Kinh đô của V N thời triều Nguyễn Là một trung tâm chính trị - ván hóa - kinh tế của cả nước suốt thê kỷ X IX và nửa đâu thê kỷ XX , Kinh đô Huế có những công trình kiến trúc mỹ thuật kỳ v ĩ nhất đất nước, nay còn tồn tại với mật độ dồi dào.

Trang 13

về kiến trúc quy hoạch đồ án xây

dựng kinh đô Huế, vua Gia Long là

một nhà chính trị, quân sự, đồng thời

hoạch đô thị Đ ồ án được thai nghén trong tâm thức nhà vua từ trước khi đăng quang V iệc thi công được thực hiện kể từ năm 1802 Kinh đô Huế xây dựng bởi ba lớp thành bao bọc là Kinh thành, Hoàng thành và Tử Câm thành.

Kinh thành hay Phòng thành

Năm 1802 vua Gia Long khởi công xây dựng Hoàng thành và Tử c ấ m thành Năm 1805 mới bắt đầu xây dựng Kinh thành, quy mô diện tích rất lớn 520ha, chu vi lOkm Đặc biệt vận dụng kiểu kiến trúc phòng ngự Vauban của Pháp Phòng thành Huế tạo những đường dích dắc, gồm các hệ thống: luỹ, pháo đài, giác bảo, đoạn thành nối hai pháo đài, tường băn, phản pháo, phòng

lô, hào, thành giai Đây là một loại thành luỹ đã được áp dụng ở nhiêu địa phương nước Pháp và các nước lân cận Khi xây dựng kinh thành, 8 làng phải dời đi và hai đoạn nhánh Sông Hương là Bạch Yến và Kim Long đã bị lâp

V òng thành có 10 cửa lớn đường bộ, hai đường thuỷ và kỳ đài; thành cao 6,6m , rộng 21 m xây gạch bên ngoài kiên cố có dãy hào sâu gọi là Hộ Thanh

hà Trong Kinh thành còn có những công trình kiến trúc: lục bộ, nha viện, Quốc Tử giám, Quốc Sử quán, quần thể kiến trúc hồ Tịnh Tâm, Khâm Thiên giám, Trần Bình đài, Tàng Thơ lâu, Kỳ đài

Hoàng thành

Toàn cảnh Hoàng thành Thành gần hình vuông, mỗi cạnh 606m Trong

đồ án hơi lệch v ề phía Nam của Kinh thành, có một cửa chính N gọ Môn (Nam), Hòa Bình (Bắc), Hiển Nhơn (Đ ông) và Chương Đức (Tây) Theo trục dũng đạo, từ cửa N gọ M ôn vào điện Thái Hoà là nơi thiêt đại triêu và tỉêp sứ thần, có nhiều cầu, hồ liên tục và những phương môn băng đông nguy nga

Trang 14

miếu, điện Phụng Tiên, Cửu đỉnh, các cung Diên Thọ (các bà mẹ vua ở), cung Trường Sanh (các bà nội vua ở), các kho tàng, vườn Thượng Uyển N gọ

M ôn và H iển Lâm các là hai công trình kiến trúc đồ sộ, độc đáo tuyệt mỹ của kiến trúc truyền thống Huế.

Tử Cấm thành

Thái Bình Lâu trong Tử c ẩ m thành Toàn bộ cung điện, lầu gác, đình tạ xây dựng để phục vụ sinh hoạt của nhà vua và gia tộc Đại cung môn gôm có: điện Cần Chánh, Càn Thành, Kiến Trung, Tam Cung lục viện, Tả vu, Hữu vu, điện Vàn Minh, V õ Hiển, Thái Bình lâu, Duyệt Thị đường, Thái Y viện, v.v

N goài Kinh thành còn có: Phu Văn lâu, đàn Nam Giao, Văn Thánh, chùa Linh

Mụ, điện Hòn Chén, Hổ Quyền Đây là những di tích lịch sử và cảnh quan đẹp của đất Thần kinh.

Giá trị thẩm m ỹ của những công trình kiến trúc tiêu biểu

Ngọ Môn

Là cổng chính của Đại nội, xây dựng 1833, thời vua Minh Mạng N gọ

M ôn được xây dựng trên mặt bằng hình chữ u và hệ thông N gũ Phụng lâu chia thành 9 bộ mái lớn nhỏ, cao thấp, nhấp nhô trông rất đẹp mắt đê tránh sự

Trang 15

nặng nề của công trình kiến trúc hình khối tương đối đô sộ Hệ thông nên đài xây dựng bằng vật liệu cứng (đá thanh, gạch, đồng) nhưng nhờ tạo dáng mêm

mại, bố trí hài hoà, trau chuốt khéo léo nên trông rất nhẹ nhàng Các lối đi trổ xuyên thâu nền đài thành như đường hầm dài.

Tổng thể N gọ M ôn đồ sộ nguy nga, hùng tráng, nhìn xa như một lâu đài tráng lệ phản ánh trình độ cao của các công trình sư, kiến trúc sư thời Minh Mạng N gọ M ôn là một công trình kiến trúc tiêu biểu, xuất sắc của triều

N guyễn nói riêng và kiến trúc cổ V iệt Nam nói chung.

Điện Thái Hòa

Trong Đại nội, cung điện quan trọng nhất là điện

Thái Hoà Điện nằm ở điểm trung tâm trong quy

hoạch tổng thể mặt bằng hệ thống các công trình kiến

trúc cung đình kinh đô Huế N ơi đây đặt ngai vàng,

biểu tượng thiêng liêng của chế độ quân chủ về

phong cách kiểu thức, kiến trúc ở Kinh đô Huế khác

hẳn những triều đại trước thuộc văn hoá Thăng Long.

Đ iện Thái Hoà cũng như nhiều điện khác trong Đại

nội được thiết kế theo kiểu thức nhà kép, gọi là trùng thiềm điệp ốc (mái chồng lên nhau, nhà nối liền nhà), nhà trước và nhà sau của điện nằm trên một mặt nền và nối liền nhau bằng một hệ thống vì kèo thứ ba, một hệ thông trân

Trang 16

nằm cong nên thường gọi là trần vỏ cua hay thừa lưu Đ iện Thái Hoà là một ngôi điện lớn, uy nghi tráng lệ nhất trong quần thể kiên trúc cung đình xưa còn tồn tại ở Huế, nó mang chủ đề tư tưởng của kiến trúc Kinh đô Huế và chê

độ quân chủ nhà Nguyễn Đây là một công trinh kiến trúc có thê xem là chuân mực về cấu trúc phong cách như những cung điện miêu thờ của kiên trúc cung điện triều N guyễn theo kiểu trùng thiềm điệp ốc.

Điện Long An (nay là Bảo tàng c ổ vậ t Cung đình Huế)

Trên phương diện kiến trúc cổ, đây là một công trình có giá trị thâm mỹ cao của nhà Nguyễn, kiến trúc điện Long An là một tòa nhà kép, gọi là trùng thiềm điệp ốc, hệ thống vì kèo trần vỏ cua được chạm trổ rất tinh tê Không gian rộng, có chiều sâu, tạo sự thâm nghiêm chung quanh toà nhà; tòa nhà tuyệt đối không xây vách mà chỉ dựng toàn cửa bằng khoa lồng kính đê tiêp nhận ánh sáng, mái bao che chung quanh 3 tầng, ở giữa là hàng cô diêm được trang trí hàng cột hiên đứng xuống mặt sàn nhà không từ trên nền.

Điện Long An được trang trí hình ảnh và thơ văn nhiều nhất N ội thất

có bảy mươi mốt ô hộc trang trí theo lối nhất thi nhất hoạ với chất liệu óng ả cẩn xà cừ, ngà xương Đặc biệt trên hệ thống bản đố nhà trong, hai bên có hai vách gỗ, có 56 chữ N ho được sắp xếp hình Bát Quái và dùng đê hồi văn liên hoàn có thể đọc thành 64 bài thơ thất ngôn và ngũ ngôn khác nhau do vua Thiệu Trị sáng tác Đ iện Long An là một công trình nguy nga, tráng lệ và thanh nhã bởi những bàn tay khéo léo của các nghệ nhân được xem là một cung điện đẹp nhất ở Huế và VN Điện thuân túy băng chât gô, không vàng son như thường thấy ở các cung điện khác.

Hiển Lâm Các

Trang 17

Là một công trình kiến trúc độc đáo cao ba tầng bằng gồ duy nhất trông rất kỳ v ĩ trang nghiêm, có 12 mái, 4 cột chính chạy suốt chiều cao khoảng 13m , diện tích mặt băng rộng 300m2 Trên nền các tầng thu nhỏ dần, tạo thành cấu trúc khối đơn giản, đẹp và duyên dáng nhung có vẻ tôn nghiêm Chưc nang chinh được xem như đài tưởng niệm đê ghi nhớ công lao của các

vua nhà Nguyễn được thờ ở Thế miếu.

Hệ thống kết cấu con sơn là một

kiểu thức của kiến trúc cổ V N nhưng

đã có sự phát triển mới Trang trí nội

thất cũng như ngoại thất rất tinh tế,

đẹp hài hòa với không gian thiên

nhiên tươi đẹp, những cây cổ thụ rợp

bóng mát quanh năm Hiển Lâm các

có giá trị về kỹ thuật lẫn thẩm mỹ tạo hình.

Thế miếu

Năm 1804, Gia Long cho xây dựng miếu Hoàng Khảo ở vị trí của Thế

M iếu ngày nay để thờ cha mình là Nguyễn Phúc Luân Sau khi vua Gia Long mất, Minh Mạng lên nối ngôi, năm 1921 ông đã cho dời miếu Hoàng Khảo lui

về phía sau vài chục mét, đổi thành Hưng Miếu, còn xây Thế M iếu vào vị trí

ay vao năm 1821 - 1822 đê thờ vua Gia Long và các vua kế vị

Thế Miếu được xây dựng trên mặt bàng 1500 m2, cũng là toà nhà kép theo kiểu "trùng thiềm, trùng lương" như Điện Thái Hoà Tiền doanh ( nhà trước) có 11 gian và chính doanh (nhà sau) có 9 gian Hai doanh nối với nhau bằng trần vỏ cua Tất cả có chung một đường mà ngăn riêng từng thất - tức là cùng một toà nhà mà chia ra nhiều ngăn, một gian thiết trí, một án thờ giành cho một vị vua.

Trang 18

Lăng tẩm các vua nhà Nguyễn

Dưới thời Nguyễn, lăng tẩm của các vị hoàng đế có kiến trủc rất quy mô, hài hòa giừa thiên nhiên với con người Chúng như những khu công viên rộng lớn ở thượng nguồn sông Hương và một phần nào phản ánh tư tưởng, cá tính của các vị vua Bản thân các vua đã bỏ hết tâm tư vào việc xây dựng lăng tâm cho mình từ lúc còn tại vị Thành phần kiến trúc gồm có: tượng châu bái đình, nhà bia, trụ biểu, tẩm điện Thành phần tự do gồm có: hồ cầu, la thanh, nghi môn

Sự thêm bớt quy hoạch cụ thể, tuân thủ nghiêm túc những nguyên lý phong thủy của các thầy địa được trọng dụng đưa ra để chọn địa thế như: Vạn niên cát địa (đất tốt ngàn năm), Tiền án hậu chẩm (núi án phía trước, núi gối phía sau), Tả long hữu hổ (núi chầu phải, trái như rồng chầu hổ phục), Huyền thủy chi lưu (nước chãy lặng lẽ vòng quanh hình chừ chi), Sơn triều thủy tụ (núi hướng về, nước chãy đến).

Những lăng tiêu biểu như lăng Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức có vẻ đẹp hùng vĩ, nên thơ và mang phong cách truyền thống Tuy nhiên cũng có lăng ảnh hưởng kiến trúc Baroque Tây phương như Lăng Khải Định.

Trang 19

Lăng Gia Long

Đồ án công trình bố cục theo chiều ngang trải rộng mênh mông, không

có đình tạ và thành Tổng thể điện Minh Thành bao gồm tẩm điện, sân châu, tượng đá voi ngựa, quan chầu, bia Thánh Đức thần công Bao quanh canh núi đồi hùng v ĩ giống như một vòng thành thiên nhiên, với núi Thiên Thọ gôm 42 ngọn đồi Khu mộ hợp táng vua và hoàng hậu là sự độc đáo của công trình lăng ờ phương Đông.

Cảnh quan thiên nhiên hoà quyện với

kiến trúc Con người làm chủ được thiên

nhiên trong sự hài hòa có tính chất chiều

sâu tâm linh nội tại Một chuyên gia

UNESCO đã nhận xét rằng, lăng Gia

Long ờ giữa một khu vườn thiên nhiên

bao la gợi nên ấn tượng hoành tráng và thanh thoát.

Trang 20

tráng uy nghi, đặc biệt tẩm (khu mộ khối hình tròn thành cao tượng trưng cho mặt trời, biểu tượng thiên thể).

Lăng Thiệu Trị

\ r

Là sự thay đồi không gian qua

biến thể cấu trúc kết hợp giữa đồ án

hoành của lăng Gia Long và trục

đứng đạo đến khu mộ của lăng Minh

Mạng để tạo ra bố cục mới đặt cụm

kiến trúc sân chầu, nhà bia, bửu thành song song viện chính và vẫn giữ vẻ uy nghi, quy mô hoà hợp với cảnh quan thiên nhiên.

Lăng Tự Đức

Tuy có sự kế thừa nhưng đã phá vờ

không gian tạo hình, không giống

những lăng các vị tiên đế Đ ồ án

uyển chuyển nhịp nhàng, tạo nhịp

điệu đầy chất thơ hoà quyện trong

không gian thiên nhiên đầy thông,

hồ nước chãy quanh, đặc biệt điêm

tô thêm nhà thuỷ tạ duyên dáng soi

bóng trên mặt hồ sen, một nhà bia với tấm văn bia đồ sộ biêu lộ tâm trạng bi quan của nhà vuạ Lăng phản ánh tâm hồn phỏng khoáng, lãng mạn của một vị vua thi s ĩ đã có nhiều trước tác về thơ văn có giá trị văn học.

Lăng Khải Định

Trang 21

So với lăng của các vua tiền nhiệm, lăng Khải Định có diện tích nhỏ hcm nhiều ( 1 17m X 48 ,5m) nhưng rất công phu và tốn nhiều thời gian N ó là kết quả hội nhập của nhiều dòng kiến trúc Á - Âu, V iệt Nam cổ điển và hiện đại.Tổng thể của lăng là một khối nổi hình chữ nhật vưom cao tới 127 bậc và được chia ra.Vào lăng phải vượt qua hệ thống của 37 bậc với thành bậc đắp rồng to lớn nhất cả nước, ừên sân có hai dãy Tả - Hữu tòng tự, ở hai bên xây kiểu chồng diêm hai lớp, tám mái, song các vì kèo lại bằng xi măng cốt thép.

Vượt 29 bậc nữa lên tầng sân bái

đình, ở giữa có nhà bia Bát giác xây

bê tông cốt thép hoà trộn cổ kim,

trong đó có bia đả Hai bên sân, mồi

bên có 2 hàng tượng cùng nhìn vào

giữa sân N goài tượng như ở các lăng

khác, còn có thêm 6 cặp tượng linh

túc vệ, từng đôi tượng cùng loại ờ cạnh nhau được làm đối xứng và cùng đôi xứng với đôi tượng phía đối diện Các tượng này làm bằng chât liệu đá hiêm trong lăng Khải Định và đều có khí sắc Hai cột trụ biểu cao to.Qua 3 lớp nên

là đến điện thờ Từ sân lên cửa điện còn phải qua 15 bậc nữa Đ iện Khải Thành là phòng chính của cung Thiên Định, có nhiều phòng liên hoàn Các điện tường phẳng được trang trí dày đặc bằng nghệ thuật khảm kính sứ Cùng với tranh trên tường, dưới nền lát gạch men hoa và trên trần vẽ Cửu long ân hiện trong mây Cả không gian 6 mật đã tạo nên một thế giới nghệ thuật Phòng sau của điện Khải Thành là chính tẩm có đặt tượng vua Khải Định, mộ phần ở phía dưới Trong cùng là khán thờ với bài vị của vị vua đã quá cố.

Lăng Khải Định thực sự là một công trình cỏ giá trị nghệ thuật và kiến trúc N ó làm phong phú và đa dạng thêm quần thể lăng tẩm ờ Huế.

Trang 22

1.1.3 Kiến Trúc c ổ Việt Nam

Quá trình phát triển nền kiến trúc cổ V iệt Nam

gắn liền với môi trường thiên nhiên và hoàn cảnh

kinh tế - xã hội Những công trình kiến trúc cổ hầu

hết được xây dựng trong thời kỳ phong kiến - chủ

yếu là trước thế kỷ 19 Dù là công trình nhỏ bé như

kiến trúc dân gian hoặc đồ sộ, phức tạp như kiến

trúc cung đình, vật liệu xây dựng sẵn có ở địa

phương đã được khai thác và sử dụng phổ biến và

rộng khắp: tranh, tre, nứa, lá, gỗ, đá , sau này còn có các vật liệu khác như gạch, ngói, sành, sứ Hệ thống kết cấu khung cột, vì kèo và các loại xà đều

cỏ quy định thống nhất về kích

thước, tương quan về tỷ lệ và qua đó,

những nghệ nhân trước đây đã sáng

tạo ra một thức kiến trúc riêng biệt

trong kiến trúc cổ và dân gian Việt

Nam.

Trải qua nhiều triều đại, nhiều thế kỷ với bao thăng trầm lịch sử, đến ngày nay các công trình đã trải qua nhiều lần trùng tu sửa chừa để tồn tại, một

số còn giữ được cốt cách nguyên sơ song cũng có nhiều công trình bị pha tạp

do nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan Tuy nhiên, những công trình này vẫn là dấu tích cụ thể ghi lại chặng đường sáng tạo và lao động nghệ thuật, mang dấu ấn lịch sử dân tộc rất rõ nét.

Kiến trúc cổ V iệt Nam còn lại không nhiều và không phải là những công trình tiêu biểu nhất Tinh hoa của kiến trúc cổ Việt Nam đã bị chôn vùi sau các cuộc tàn phá triệt hạ văn hóa phương Nam của Trung Hoa và quy luật thời

Trang 23

gian (đa số những công trình cổ còn hiện hữu, có niên đại từ thời nhà Hậu Lê đến thời nhà Nguyễn) Người ta hiện còn biết rất ít (và cũng nhiều điều người

ta chưa biết gì) về kiến trúc các cung điện thời Lý - Trần, được xem là thời kỳ văn minh nhất của Đại V iệt và được sử sách khen ngợi là trước đó chưa hề có, sánh ngang cùng Trung Hoa phương Bắc Những nền đất còn lại của các ngôi chùa thời kỳ này như chùa Phật Tích, chùa Dâu có thể chứng minh được những lời này Tuy vậy, nhừng gì còn lại trên tại V iệt Nam ngày nay cũng để người ta biết cách thức xây dựng trong dân gian và những quy định trong cấu tạo kiến trúc thời xưa, được gọi là "thức kiến trúc cổ V iệt Nam".

Khi nói về kiến trúc cổ V iệt Nam, nhiều người lầm tường nó là kiến trúc Trung Hoa Nhưng thật ra kiến trúc cổ Việt Nam khác nhiều so với hệ kiên trúc Trung-Nhật-Hàn (3 nước này khá tương đồng nhau) Kiến trúc cổ Việt Nam cũng lấy gỗ làm vật liệu xây dựng cơ bản và tạo đặc trưng riêng cho nền kiến trúc của mình, tương phản với kiến trúc gạch đá của các vùng còn lại trên thế giới.

N é t đặc tru ng:

r f r f

Thức kiên trúc cô Việt N am : dôc m á i thăng

Trang 24

Có 3 nét đặc trưng của kiến trúc cổ Việt Nam làm ta phân biệt trong nền kiến trúc gỗ cổ phương Đông:

_D ốc mái thẳng

_D ùng bảy, kẻ đỡ mái hiên

_C ột mập to, phình ở phần giữa thân dưới

Nếu so sánh với thức kiến trúc cổ Trung Quốc sẽ thấy được sự khác nhau:

_ĐỠ mái hiên bằng hệ đấu-củng (còn gọi là con sơn chồng đấu)

_Cột thanh mảnh, tròn đều

Triền mái của kiến trúc cổ V iệt Nam thẳng, không cong, nhưng hếch lên

ờ góc mái tạo sự thanh thoát, lấy cảm hứng từ mũi thuyền của nền văn hóa sông nước Phần mái lớn và thường chiếm tới 2/3 chiều cao mặt đứng công trình Trong khi kiến trúc Trung Hoa mái cong và chỉ hơi hếch ờ góc mái

N gói lọp mái truyền thống V iệt Nam là ngói mũi hài còn gọi là ngói vẩy rồng trong khi ngói lọp Trung Hoa là ngói âm dương hay ngói ống Trang trí trên

mai co thường có các phân đặc trung như những con giống gắn trên đầu đao trong đỏ con giống luôn là hình tượng thể hiện tinh thần ngôi nhà, được làm

từ đất nung hanh vừa truyền thống Tiếp theo là các bờ nóc có đặt gạch hoa chanh, đỉnh mái gắn con kìm, con sô, con náp, hay lạc long thủy quái Khu đĩ thường đê trống thông thoáng và có chạm yếm trang trí gọi là vỉ ruồi.

Đồ’ mái hiên băng kẻ, hay bảy, một thanh chéo đỡ mái hiên vươn ra bằng nguyên tăc đòn bày rât hay Không dùng hệ đấu - củng rất nhiều chi tiết như

Trang 25

Trong thức kiến trúc cô V iệt Nam chạm trô là phân rât quan trọng, nó thể hiện tinh thần công trình So với kiên trúc Trung Hoa thích vẽ hình và son mầu sặc sỡ, kiến trúc cổ V iệt Nam thường đê mộc mâu gô hay quét sơn ta bảo

vệ có mâu nâu, thích chạm trô.

Trong thức kiến trúc cổ V iệt Nam, tất cả các kích thước tính của công trình đều dựa theo Thước Tâm, một cây thước được tính theo kích thước cơ thể gia chủ Đây là một điều độc đáo, theo cách phân tích cái đẹp tỷ lệ thì thước tầm là modulor của kiến trúc cổ Việt Nam như modulor của kiên trúc

Hy Lạp, tạo ra vẻ đẹp hình học tinh tế như độ dốc mái, tỉ lệ chiêu cao mái với phần chân cột, sự thích hợp với người gia chủ.

Căn nhà được xây dựng theo các vì nhà, sau đó các vì được dựng lên và nối với nhau bằng các xà ngang và xà ngưởng tạo thành một hình hộp, sau đô

là lợp mái và làm tường nhà Vì nhà chính là đơn vị cơ bản khi nói đên kích

Trang 26

thước ngôi nhà, giữa hai vì gọi là "gian" Vì nhà cũng là đặc trưng cho lối kiên trúc theo từng địa phương và từng thời kỳ, tuy rất trung thành với thức kiến trúc cổ V iệt Nam.

Tên g ọ i các cấu kiện tro n g thứ c kiến trúc cổ Việt N am

Tên g ọ i các cấu kiện hộ vì nhà và hệ m á i • • •

Khung nhà phân không gian nhà thành các gian nhà, thường có các bộ phận sau:

C ột là kết cấu đứng chịu nén, thường có các loại cột:

-C ộ t c á i: cột chính của nhà đặt ở hai đầu nhịp chính

-C ột quán hay cột con: cột phụ nằm ở đầu nhịp phụ hai bên nhịp chính

-C ột hiên: nằm ở hiên nhà, phía trước.

Trang 28

CnÀN C Ù I

I

DÊ CỘT bang s a

Liên kết chân cột

A7/ là các giăng ngang chịu kéo, liên kết các cột với nhau, gồm có các loại

xà năm trong khung và các loại xà nằm ngoài khung vuông góc với khung Xà nằm trong khung, thường đặt ở cao độ đính các cột quân để liên kết được cả cột cái và cột quân, gồm:

-Xà lòng, tức cáu đầu hay chếnh: liên kết các cột cái của khung;

-Xà nách hay thuận: liên kết cột quân vào cột cái, trong khung.

K ẻ là các dầm đơn đặt theo phương chéo của mái nhà, gác lên các cột bằng

liên kết mộng, thường có các loại kẻ sau:

-K ẻ ngồi loại kẻ gác từ cột cái sang cột quân, trong khung;

Trang 29

-K ẻ hiên gác từ cột quân sang cột hiên, trong khung Một phân kẻ hiên

được kéo dài đâm xuyên qua cột hiên để đỡ phần chân mái.

Bẩy hay bẩy hậu hoặc bẩy hiên: là dầm nằm trong khung liên kết vào cột quân phía sau nhà, đỡ phần mái vẩy phía sau Đ ối với nhà ờ thì tiền kẻ, hậu bảy Đối với các công trình công cộng như đình làng, thường bôn mặt xung

quanh đều có hiên thoáng không có cột hiên, nên thường dùng bây hiên.

C âu đầu là dầm ngang chính đặt trên cùng, khoá các đầu trên của các cột

cái trong khung (gác lên các cột cái).

Con rư ờ n g hay ch ồn g rư ờ n g là các đoạn gôi đõ' mái dạng dâm gô hộp đê

đỡ hoành mái, được đặt chồng lên nhau Chiều dài của chúng thu ngắn dần cân theo chiều vát của mái, càng lên cao các con rường bên trên càng ngăn, ơ

vì nóc các con rường nằm chồng lên câu đâu.

Trang 30

Con lợn còn gọi là rư ờ n g bụn g lợ n : là con rường trên cùng, gối lên con rường bên dưới qua hai đoạn cột ngắn gọi là trụ trố n , và làm nhiệm vụ đờ xà nóc (thượng lương) Bên dưới rường bụng lợn (giữa hai trụ trốn) là ván lá đề thường để điêu khắc trang trí Con lợn có thể được thay bàng g iá chiêng.

R ư ờng cụ t là loại rường nằm ở vì nách (giữa cột cái và cột quân), chúng

nằm chồng trên xà nách, chúng cũng đờ hoành và vân thu dân chiêu dài khi lên cao theo độ dốc mái.

C ác loại x à nằm n goài kh u n g gồ m có:

X à thư ợn g liên kết đỉnh các cột cái; xà này song song với chiều dài của

nhà.

X à hạ hay xà đại, liên kết các cột cái tại cao độ đỉnh cột quân, gần sát vị trí

liên kết xà lòng, xà nách vào cột cái Xà này cũng chạy song song với chiều dài của nhà.

X à tử th ư ợng (xà trên của cột con): liên kết các cột quân của các khung ở

bên trên.

X à tử h ạ (xà dưới của cột con); liên kết các cột quân của các khung ở bên

dưới, tại mức độ cao ngay trên hệ cửa bức bàn.

X à n gư ỡ n g nối các cột quân ở vị trí ngưỡng cửa Xà này đờ hệ thông cửa

bức bàn.

X à hiên liên kết các cột hiên của các khung.

Thượng lư ơ n g , còn gọi là đòn dông hay X à n óc đặt trên đỉnh mái.

Các k ết cấu m ái:

Trang 31

H oành là các dầm chính đỡ mái đặt nằm ngang theo chiều dài nhà vuông

góc với khung nhà.

D u i hay ru i là các dầm phụ trung gian, đặt dọc theo chiều dốc mái (trực

giao với hoành), gối lên hệ thống hoành.

M è là các dầm phụ nhỏ, đặt trực giao với dui, song song với hoành, gối lên

hệ dui khoảng cách giữa các mè là nhỏ nhất, vừa đủ để lợp ngói V iệc sử dụng hệ kết cấu hoành - dui - mè, nhằm phân nhở nhịp của kết cấu đỡ mái thành hệ lưới vừa đủ để lát lớp gạch màm và lợp ngói bên trên.

Gạch m àn là một loại gạch lá nem đơn bằng đất nung, có tác dụng đỡ ngói

đông thời tạo độ phăng cho mái, chống thấm dột và chống nóng Gạch màn ngồi trực tiếp trên lớp mè.

N g ó i m ũ i h à i hay còn gọi là n gói ta hay n gói vẩy rồng, bằng đất nung

tiụe tiêp chông thâm dột và chông nóng, lọp trên lớp gạch màn và cũng có thể

có lóp đất sét kẹp giữa.

1.1.4 K iến Trúc Dân Gian

Trang 32

Nhà ở dân gian đã trải qua một quá trinh

chuyển biến từ nhà sàn đến nhà nền đất Nhà

nền đất vùng xuôi có kết cấu khung tre hay gỗ,

thường làm vách và lợp bằng tranh, rạ hay lá

dừa nước; nếu là kết cấu khung gỗ loại tốt lại

thường được lọp bằng ngói, tường bao quanh

bằng gạch với vì kèo gồ Khuôn viên nhà bao gôm: nhà chính, nhà phụ (nhà ngang, nhà bếp) và chuồng gia súc cùng sân, vườn, ao, giếng hoặc bê nước và hàng rào, tường vây quanh, cổng ngõ Nhà chính thường có số gian lẻ (1, 3 hay 5) cùng với 1 hoặc 2 chái Nhà chính thường quay về hướng nam, hướng này có thể đón ánh nắng khi trời lạnh, đón được gió mát để giải nồng Phía trước thường trồng cây có tán cao đề làm cảnh, đón gió tốt Phía sau, trông cây bụi để ngăn gió lạnh.

1.1.5 K iến Trúc N h à R ư ờ n g

a) K h á i n iệm : Rường là cách gọi rủt ngắn của rường cột Nhà

rường là loại nhà có hệ thống cột kèo gỗ được dựng lên theo những quy cách nhất định Dù to lớn đến đâu, nhà rường cũng được kết cấu hoàn toàn bằng hệ thống chốt và mộng gỗ, có thể lắp ráp và tháo gỡ dễ dàng Sô gian trong nhà được phân định bằng cột, chỉ có hai chái ở hai đầu nhà là được phân cách với các gian giữa bằng vách ngăn.

b) N é t đặc trư n g :

V Ì : Dãy cột từ trước ra sau Nhà nhỏ , mỗi dãy cũng phải có 2 hoặc 3

c ộ t , vừa vừa thì 4 hoặc 5 c ộ t , khá giả mỗi dãy được 6 hay 7 cột.

Trang 33

K EO:H ệ thống gỗ kết nối các đầu cột của v ì

Tùy theo số cột và hình dạng của KÈO , ta có nhà

R Ọ I hay nhà R Ư Ờ N G

Các K È O và

C Ộ T liên kết

nhau thành khung nhà , dân gian gọi là B Ộ G IÀ N T R Ò Tùy theo vị trí cột

có nhiều tên khác nhau.

ván là

C Ộ T H IÊ N : Cột ngòai cùng ,trước khi vào nhà.

C Ọ T Q U A N : Dãy cột kế tiếp , chỗ cửa ra vào.

C Ộ T C Á I : Dãy cột giữa nhà

C Ọ T Q U Y E T T IỀ N : Hai cột góc nhà phía trước.

C Ộ T Q U Y Ế T H Ậ U : Hai cột góc nhà , phía sau.

C Q T Đ A M T IE N : Hai cột Quân , bìa nhà , phía trước.

C Q T Đ A M H Ậ U : Hai cột Quân , bìa n h à , phía sau.

C Q T C U A Đ O N G P H O N G : Cột kế đấm hậu , cùng với đấm hậu làm thành

Trang 34

cửa vào phòng ở hướng Đông.

CỘT CỬA TÂY PHÒNG : Cột kế đấm hậu , cùng với cột này , lam thành cửa vào phòng ở hướng Tây.

KÈO MÁI

_K èo chính từ nóc xuống cột quân ( cột nhì ) , và có 4 cái.

Hai kèo tiền va 2 kèo hậu , nhỏ đầu trên , to dần đến họng cột n h ì, cong xuống rồi thẳng ra.

Đầu trên kèo tiền có buông va lỗ con sẽ ( hay lỗ con tron ).

Đầu trên kèo hậu có mõ , tức rãnh xẻ cho buông lồng vào, cũng có lô con sẽ.

Chỗ 2 đầu kèo ráp , có con sẽ đóng lại, gọi là giao nguyên, đòn dông đặt trên giao nguyên Từ giao duyên xuống họng cột nhât , có bong túm

Từ họng cột nhất đến họng cột nhì thì làm ống trấy.

_Ở họng cột n h ì, phần cong xuống rồi ngay ra là cổ kèo_Từ cổ trở đ i , là đuôi kèo , mặt trên gọi là trôn , mặt dưới chạm tam scm và lá lót 2 bên , phân trên phẳng gọi là lá mạn , phần dưới phình ra gọi là Má kèo thỉnh thoảng có chạm

ốc rìa

Ngày đăng: 16/09/2017, 22:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w