1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Thực trạng bạo lực học đường ở học sinh trường THCS Cam Thượng, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội năm học 2015 2016 và một số yếu tố liên quan

85 642 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,68 MB
File đính kèm Bạo lực học đường ở học sinhTHCS.rar (272 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bạo lực là vấn đề của con người ở mọi thời đại, mọi quốc gia và mọi nền văn hóa. Trong cuộc sống, con người ở mọi lứa tuổi, mọi ngành nghề đều có nguy cơ bị bạo lực. Bạo lực là hành vi cố ý sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực hoặc quyền lực để tự hủy hoại mình, chống lại người khác hoặc một nhóm người, một tập thể cộng đồng làm họ bị tổn thương hoặc có nguy cơ bị tổn thương hoặc tử vong hoặc bị sang chấn tâm thần, ảnh hưởng đến sự phát triển của họ hoặc gây ra các ảnh hưởng khác 1.Trẻ em là chủ nhân tương lai của đất nước, là người sẽ góp phần xây dựng quê hương, đất nước giàu mạnh trong tương lai. Tuổi vị thành niên là giai đoạn phát triển rất cao về thể chất và có nhiều sang chấn, biến đổi trong tâm lý hết sức phức tạp. Chính yếu tố tâm lý cũng như thể chất và nhân cách chưa hoàn thiện một cách đầy đủ này khiến cho trẻ em trong lứa tuổi này hay bị khủng hoảng về tâm lý dẫn đến những suy nghĩ và hành động sai lệch. Bạo lực học đường (BLHĐ) là một phần của bạo lực giới trẻ, xảy ra trong khuôn viên nhà trường, trên đường tới trường, hoặc từ trường về hay trong các hoạt động do nhà trường tổ chức. Nó không phải là các lời nói, cử chỉ trêu chọc, thân thiện khi vui đùa giữa các em 2. Bạo lực trong lứa tuổi học đường, tuy không phải là vấn đề mới mẻ nhưng các nghiên cứu gần đây cho thấy xu hướng bùng phát mạnh mẽ, mức độ và tính chất của hành vi này ngày càng nguy hiểm ở Việt Nam 3. Nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào thực hiện tại xã Cam Thượng một xã thuộc huyện Ba Vì, ngoại thành Hà Nội. Kết quả phỏng vấn cô Phan Thị Hiền hiệu trưởng trường THCS Cam Thượng những năm gần đây, nhà trường đã ghi nhận bạo lực trong học sinh diễn ra cả trong và ngoài trường học, đặc biệt xuất hiện những xô xát xuất phát từ những mâu thuẫn, xích mích trên mạng xã hội đầy phức tạp 4. Với câu hỏi đặt ra: thực trạng bạo lực học đường ở học sinh trường THCS Cam Thượng hiện nay như thế nào? Yếu tố nào liên quan đến vấn đề bạo lực học đường ở học sinh? Từ những nhu cầu trên, đề tài nghiên cứu: “Thực trạng bạo lực học đường ở học sinh trường THCS Cam Thượng huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội năm học 2015 2016 và một số yếu tố liên quan” được tiến hành với mục tiêu nghiên cứu: 1.Mô tả thực trạng bạo lực học đường ở học sinh trường THCS Cam Thượng, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội năm học 2015 2016.2.Phân tích một số yếu tố liên quan đến hành vi bạo lực học đường ở học sinh trường trên đây.

Trang 1

VIỆN ĐÀO TẠO Y HỌC DỰ PHÒNG VÀ Y TẾ CÔNG CỘNG

-ššššš -NGUYỄN PHƯƠNG MAI

THùC TR¹NG B¹O LùC HäC §¦êNG ë HäC SINH

TR¦êNG THCS CAM TH¦îNG, HUYÖN BA V×, THµNH PHè Hµ NéI

N¡M HäC 2015-2016 Vµ MéT Sè YÕU Tè LI£N QUAN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA

KHÓA 2010-2016

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS VŨ KHẮC LƯƠNG

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

Nhân dịp tiến hành đề tài nghiên cứu, với lòng kính trọng và biết ơnsâu sắc, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới:

Ban giám hiệu trường Đại học Y Hà Nội

Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng

đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Đặc biệt, trong sâu thẳm trái tim, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS.VŨ

KHẮC LƯƠNG - người thầy đã trực tiếp dìu dắt, hướng dẫn, tạo mọi điều

kiện tốt nhất và giúp đỡ tôi tận tình trong suốt quá trình học tập tại trường vàtrong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới tất cả các thầy cô giáo, phụ huynh và các

em học sinh trường THCS Cam Thượng, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội - đốitượng tham gia nghiên cứu, đã góp phần quyết định thành công của khóa luận

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cha mẹ, anh chị em, cùngbạn bè tôi đã luôn ở bên động viên, khuyến khích, giúp đỡ tôi rất nhiều trongsuốt sáu năm học tại trường Đại học Y Hà Nội, cũng như trong thời gian tôilàm khóa luận tốt nghiệp

Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2016

Nguyễn Phương Mai

Trang 3

Kính gửi:

Phòng đào tạo Đại học – Trường Đại học Y Hà Nội

Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công Cộng

Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp bộ môn Tổ chức và Quản lý y tế

Tôi xin cam đoan đề tài “Thực trạng bạo lực học đường ở học sinh

trường THCS Cam Thượng, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội năm học 2015- 2016 và một số yếu tố liên quan” là do tôi tự thu thập số liệu, nhập và

phân tích số liệu, các số liệu trong đề tài là hoàn toàn trung thực và chưa từngđược công bố tại bất kì nghiên cứu nào

Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2016

Nguyễn Phương Mai

Trang 4

BL Bạo lực

Bộ GD – ĐT Bộ Giáo dục và đào tạo

CDC Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch

bệnh Hoa KỳĐTNC Đối tượng nghiên cứu

Trang 5

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Khái niệm về bạo lực và bạo lực học đường 3

1.1.1 Bạo lực và cách phân loại bạo lực 3

1.1.2 Bạo lực học đường và cách phân loại bạo lực học đường 5

1.2 Thực trạng bạo lực học đường trên thế giới và tại Việt Nam 7

1.2.1 Bạo lực học đường trên thế giới 7

1.2.2 Bạo lực học đường tại Việt Nam 10

1.3 Một số yếu tố liên quan tới bạo lực học đường 14

1.3.1 Yếu tố cá nhân 14

1.3.2 Yếu tố mối quan hệ 16

1.4 Giới thiệu về nơi nghiên cứu 21

1.4.1 Đặc điểm tự nhiên- kinh tế- xã hội 21

1.4.2 Trường THCS Cam Thượng 22

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Sơ đồ lý thuyết nghiên cứu 23

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 24

2.3 Đối tượng nghiên cứu 24

2.4 Phương pháp nghiên cứu 25

2.4.1 Thiết kế nghiên cứu 25

2.4.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 25

2.4.3 Biến số, chỉ số 27

2.5 Xử lý và phân tích số liệu 30

2.6 Sai số và cách khống chế sai số 31

2.7 Đạo đức trong nghiên cứu 31

Trang 6

3.2 Thực trạng về bạo lực học đường 34

3.2.1 Thực trạng chung về bạo lực học đường 34

3.2.2 Thực trạng bạo lực học đường theo một số đặc tính của học sinh 41 3.3 Mối liên quan giữa bạo lực học đường và các yếu tố 45

Chương 4: BÀN LUẬN 49

4.1 Thông tin chung của học sinh tham gia nghiên cứu 49

4.2 Thực trạng về bạo lực học đường 49

4.2.1 Thực trạng chung về bạo lực học đường 49

4.2.2 Thực trạng về hành vi bạo lực học đường ở học sinh trường THCS Cam Thượng 52

4.2.3 Thực trạng về tình trạng bị bạo lực học đường của học sinh trường THCS Cam Thượng 54

4.3 Các yếu tố liên quan tới bạo lực học đường 56

4.3.1 Các yếu tố liên quan tới hành vi bạo lực học đường 56

4.3.2 Các yếu tố liên quan tới tình trạng bị bạo lực học đường 59

KẾT LUẬN 63

KHUYẾN NGHỊ 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

Bảng 2.1 Cỡ mẫu, phương pháp chọn mẫu và phương pháp thu thập thông

tin 26

Bảng 2.2 Biến số và chỉ số chung 27

Bảng 2.3 Biến số và chỉ số cho mục tiêu 1 27

Bảng 2.4 Biến số và chỉ số cho mục tiêu 2 29

Bảng 3.1 Tỷ lệ học sinh thực hiện hành vi bạo lực học đường 34

Bảng 3.2 Tỷ lệ học sinh là nạn nhân bạo lực học đường 35

Bảng 3.3 Hành vi BLHĐ theo một số đặc điểm chung của học sinh 41

Bảng 3.4 Bị BLHĐ theo một số đặc điểm chung của học sinh 43

Bảng 3.5 Liên quan giữa một số yếu tố với thực hiện hành vi bạo lực chung của học sinh 45

Bảng 3.6 Liên quan giữa một số yếu tố với tình trạng bị bạo lực chung của học sinh 47

Trang 8

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ giới tính của học sinh tham gia nghiên cứu 33

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ khối lớp của học sinh tham gia nghiên cứu 34

Biểu đồ 3.3 Phân loại bạo lực học đường của đối tượng học sinh 35

Biểu đồ 3.4 Tình trạng thực hiện hành vi bạo lực theo nhóm 36

Biểu đồ 3.5 Tình trạng bị bạo lực bởi nhóm 36

Biểu đồ 3.6 Lý do thực hiện hành vi bạo lực của học sinh 37

Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ phản ứng của học sinh khi nhìn thấy các vụ bạo lực tại trường 38

Biểu đồ 3.8 Địa điểm thường xảy ra các vụ bạo lực 38

Biểu đồ 3.9 Hậu quả của bạo lực học đường 39

Biểu đồ 3.10 Phản ứng của học sinh khi là nạn nhân của BLHĐ 40

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bạo lực là vấn đề của con người ở mọi thời đại, mọi quốc gia và mọinền văn hóa Trong cuộc sống, con người ở mọi lứa tuổi, mọi ngành nghề đều

có nguy cơ bị bạo lực Bạo lực là hành vi cố ý sử dụng hoặc đe dọa sử dụng

vũ lực hoặc quyền lực để tự hủy hoại mình, chống lại người khác hoặc mộtnhóm người, một tập thể cộng đồng làm họ bị tổn thương hoặc có nguy cơ bịtổn thương hoặc tử vong hoặc bị sang chấn tâm thần, ảnh hưởng đến sự pháttriển của họ hoặc gây ra các ảnh hưởng khác

Trẻ em là chủ nhân tương lai của đất nước, là người sẽ góp phần xâydựng quê hương, đất nước giàu mạnh trong tương lai Tuổi vị thành niên làgiai đoạn phát triển rất cao về thể chất và có nhiều sang chấn, biến đổi trongtâm lý hết sức phức tạp Chính yếu tố tâm lý cũng như thể chất và nhân cáchchưa hoàn thiện một cách đầy đủ này khiến cho trẻ em trong lứa tuổi này hay

bị khủng hoảng về tâm lý dẫn đến những suy nghĩ và hành động sai lệch Bạolực học đường (BLHĐ) là một phần của bạo lực giới trẻ, xảy ra trong khuônviên nhà trường, trên đường tới trường, hoặc từ trường về hay trong các hoạtđộng do nhà trường tổ chức Nó không phải là các lời nói, cử chỉ trêu chọc,thân thiện khi vui đùa giữa các em Bạo lực trong lứa tuổi học đường, tuykhông phải là vấn đề mới mẻ nhưng các nghiên cứu gần đây cho thấy xuhướng bùng phát mạnh mẽ, mức độ và tính chất của hành vi này ngày càngnguy hiểm ở Việt Nam Nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào thực hiệntại xã Cam Thượng - một xã thuộc huyện Ba Vì, ngoại thành Hà Nội Kết quảphỏng vấn cô Phan Thị Hiền- hiệu trưởng trường THCS Cam Thượng -những năm gần đây, nhà trường đã ghi nhận bạo lực trong học sinh diễn ra cảtrong và ngoài trường học, đặc biệt xuất hiện những xô xát xuất phát từ nhữngmâu thuẫn, xích mích trên mạng xã hội đầy phức tạp Với câu hỏi đặt ra: thực

Trang 10

trạng bạo lực học đường ở học sinh trường THCS Cam Thượng hiện nay nhưthế nào? Yếu tố nào liên quan đến vấn đề bạo lực học đường ở học sinh? Từ

những nhu cầu trên, đề tài nghiên cứu: “Thực trạng bạo lực học đường ở

học sinh trường THCS Cam Thượng huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội năm học 2015- 2016 và một số yếu tố liên quan” được tiến hành với mục

tiêu nghiên cứu:

1 Mô tả thực trạng bạo lực học đường ở học sinh trường THCS Cam Thượng, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội năm học 2015- 2016.

2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến hành vi bạo lực học đường ở học sinh trường trên đây.

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Khái niệm về bạo lực và bạo lực học đường

1.1.1 Bạo lực và cách phân loại bạo lực

Khái niệm bạo lực

Định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì: “Bạo lực là hành vi cố

ý sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực hoặc quyền lực để tự hủy hoại mình,chống lại người khác hoặc một nhóm người, một tập thể cộng đồng làm họ bịtổn thương hoặc có nguy cơ bị tổn thương hoặc tử vong hoặc bị sang chấntâm thần, ảnh hưởng đến sự phát triển của họ hoặc gây ra các ảnh hưởngkhác”

Định nghĩa này của WHO bao gồm cả những hành vi cố ý gây thươngtích giữa người với người và hành vi tự sát cũng như xung đột vũ trang Vớibản chất như vậy thì bạo lực cũng có thể là những hình thức chém giết, đánhđập, hành hạ nhau về mặt thể xác, nhưng cũng có thể là trấn áp, đe dọa, gâysức ép về mặt tâm lý, tâm thần Điều này phản ánh sự công nhận bạo lựckhông nhất thiết phải dẫn đến tử vong hay thương tích mà còn gây ra ảnhhưởng về tinh thần, đặt ra gánh nặng đáng kể với cá nhân, gia đình, xã hội và

hệ thống chăm sóc sức khỏe Định nghĩa trên đã gạt bỏ đi sự cố không chủ ý,những sự kiện xảy ra ngoài ý muốn (ví dụ tai nạn giao thông, tai nạn laođộng, cháy nổ, bỏng…) không được coi là bạo lực

Phân loại bạo lực

Tổ chức Y tế Thế giới đã phân loại bạo lực dựa trên sự khác nhau giữabạo lực của một người tự gây ra cho chính mình hay gây ra bởi nhiều ngườikhác, bởi một nhóm ít người hay nhiều người như các tổ chức chính trị, tổchức khủng bố, nhóm quân sự… Dưới đây là sự phân loại bạo lực theo phạm

Trang 12

vi bạo lực hoặc loại hành vi bạo lực, mỗi loại được chia nhỏ hơn phản ánhnhiều loại bạo lực chi tiết hơn nữa

a Phạm vi bạo lực

- Bạo lực tự định hướng: được chia làm 2 thể chính.

+ Hành vi tự sát: bao gồm các hành vi nghĩ đến tự sát, cố gắng tự sátnhưng chưa thành và tự sát thành công

+ Tự ngược đãi bản thân: là các hành động tự hành hạ bản thân

- Bạo lực giữa các cá nhân: cũng chia làm 2 thể chính

+ Bạo lực gia đình và bạo lực tình dục: thể loại bạo lực này rất phổ biếngiữa các thành viên trong gia đình và với đối tác thân mật, đối tác quan hệtình dục, thông thường (nhưng không phải nhất thiết) hay xảy ra trong nhà.Thể loại bạo lực này bao gồm các hình thức như lạm dụng trẻ em, bạo lựctình dục, hành hạ người cao tuổi,…

+ Bạo lực cộng đồng: bạo lực xảy ra giữa các cá nhân không có mốiquan hệ ruột thịt, họ có thể quen biết nhau hoặc không quen biết nhau trướcđây, thường xảy ra ở ngoài Thể loại bạo lực này bao gồm bạo lực ở giới trẻ,các hành động bạo lực ngẫu nhiên, hiếp dâm hoặc quấy rối tình dục bởi người

lạ và các hành động bạo lực xảy ra tại các cơ quan như trường học, công sở,nhà tù…

- Bạo lực chung (bạo lực có tổ chức): bạo lực này chia làm 3 thể.

+ Bạo lực xã hội: các bạo lực cam kết thúc đẩy chương trình nghị sự xãhội như bạo lực đám đông, bạo lực của các tổ chức tội phạm, khủng bố, + Bạo lực chính trị: các cuộc chiến tranh và xung đột, bạo lực nhà nước, + Bạo lực kinh tế: cuộc tấn công của các nhóm lớn vì lợi ích kinh tế nhưcác cuộc tấn công được thực hiện với mục đích gây rối loạn các hoạt độngkinh tế, từ chối truy cập đến dịch vụ thiết yếu,

Trang 13

b Loại hành vi bạo lực

- Bạo lực thể chất

- Bạo lực tình dục

- Bạo lực tinh thần

- Kỳ thị/ phân biệt đối xử/ hắt hủi/ xa lánh/ thờ ơ

Bốn loại hành vi bạo lực này xảy ra bên trong của mỗi loại phạm vi bạolực Ví dụ như bạo hành trẻ em trong gia đình có thể bao gồm các loại hành vibạo lực như bạo lực thể chất, bạo lực tình dục, bạo lực tinh thần cũng như kìthị, xa lánh Bạo lực cộng đồng có thể gồm bạo lực thể chất, bạo lực tình dục

ở nơi làm việc, kì thị, xa lánh người cao tuổi Bạo lực chính trị có thể baogồm bạo lực tình dục trong các cuộc xung đột, chiến tranh, bạo lực thể chất vàbạo lực tâm lý,

1.1.2 Bạo lực học đường và cách phân loại bạo lực học đường

Khái niệm bạo lực học đường

Theo trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), bạolực học đường là một phần của bạo lực giới trẻ, xảy ra trong khuôn viên nhàtrường, trên đường tới trường, hoặc từ trường về hay trong các hoạt động donhà trường tổ chức Nó không phải là các lời nói, cử chỉ trêu chọc, thân thiệnkhi vui đùa giữa các em

Bắt nạt học đường: là một hành động đối xử thô bạo trong giới học sinhvới nhau Các hành vi bắt nạt bao gồm bạo lực về thể chất (đá, đấm, ) chođến việc sử dụng lời nói (đặt tên hay đe dọa) và bạo lực tinh thần như lời đồn,

xa lánh, cô lập

Bạo lực học đường là thuật ngữ để chỉ các hành vi làm tổn hại đến thểchất, tinh thần và vật chất của người khác dưới những hình thức khác nhaudiễn ra trong môi trường học đường Còn hành vi BLHĐ được hiểu là hành vi

sử dụng sức mạnh từ một khách thể hay nhóm khách thể này đến khách thể

Trang 14

khác làm tổn hại đến thể chất, tinh thần và vật chất của người khác dướinhững hình thức khác nhau diễn ra trong môi trường học đường

Phân loại bạo lực học đường

Bạo lực học đường được chia thành 4 nhóm dựa trên phân loại của một

số nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam , , ,

- Bạo lực thể chất: bao gồm các hành vi vũ lực như đánh, đá, đấm, tát,dứt tóc, kéo tai, xé quần áo, trấn lột, cướp đồ vật của một học sinh hoặc mộtnhóm học sinh khác

- Bạo lực bằng lời nói: là việc sử dụng lời nói có dụng ý đe dọa làmngười khác sợ hãi hay gán/ gọi biệt danh (mang ý nghĩa xấu ), hét lên, caogiọng, lớn tiếng quát tháo, chế nhạo, chỉ trích, mắng chửi làm tổn thương tinhthần, sỉ nhục, ép buộc một hay một nhóm học sinh khác làm theo ý mình

- Bạo lực xã hội: gồm các hành vi như phân biệt đối xử, cô lập, tẩy chay,tạo/ phát tán tin đồn mang ý nghĩa xấu cho một hoặc một nhóm học sinh khác

- Bạo lực điện tử: bao gồm các hành vi nhắn tin, gọi điện, sử dụng email,ảnh cá nhân để uy hiếp, đe dọa, ép buộc một hoặc một nhóm học sinh kháclàm theo ý mình, hay lập và tham gia các hội trên mạng để cô lập, tẩy chaymột hoặc một nhóm học sinh khác

Như vậy, khái niệm bạo lực học đường có phạm vi rất rộng, bao gồm cảtrong và ngoài trường học và được hiểu là bắt nạt, bạo lực giữa các học sinh

và nhóm học sinh với nhau, xảy ra trên khuôn viên nhà trường, trên đường tớitrường, từ trường về hay trong các hoạt động do nhà trường tổ chức Theo đó,bạo lực giữa các học sinh với nhau là cách ứng xử, giải quyết các bất đồng,mâu thuẫn nảy sinh trong học tập, sinh hoạt trong nhà trường bằng bạo lực.Khái niệm này không đề cập đến đến hành vi bạo lực giữa giáo viên với họcsinh và ngược lại

Trang 15

1.2 Thực trạng bạo lực học đường trên thế giới và tại Việt Nam

1.2.1 Bạo lực học đường trên thế giới

Bạo lực học đường đang trở thành vấn nạn tại nhiều quốc gia Theo ướctính của WHO, năm 2000 có 199.000 thanh thiếu niên trẻ bị giết xảy ra trêntoàn thế giới, có nghĩa là trung bình trên thế giới mỗi ngày có khoảng 565 trẻ

em và thanh thiếu niên trong độ tuổi từ 10-29 tuổi tử vong do các nguyênnhân liên quan đến bạo lực Ở bất kì nơi đâu, tỷ lệ nam là nạn nhân của bạolực luôn cao hơn nữ Điều này chứng tỏ nam giới là nhóm dân số có nguy cơcao hơn Đi đôi với mỗi vụ tử vong do bạo lực trong giới trẻ, trung bình có từ20-40 nạn nhân phải nhập viện do chấn thương Các loại súng, súng ngắn là

vũ khí được sử dụng phổ biến trong các vụ bạo lực gây tử vong, trong khi đócác vụ bạo lực có mức độ nhẹ hơn thưởng sử dụng đấm, đá, và một số loại vũkhí khác như dao, gậy, dùi cui

Ở châu Á, bạo lực học đường cũng trở thành một vấn đề nhức nhối củangành giáo dục nói chung và toàn xã hội nói riêng Tổ chức phát triển cộngđồng tập trung vào trẻ em Plan Internatinonal công bố báo cáo về tình trạngbạo lực trong các trường học ở châu Á Báo cáo dựa trên kết quả nghiên cứu

và khảo sát thực tế với 9.000 học sinh ở lứa tuổi 12- 17, các giáo viên, hiệutrưởng, phụ huynh tại 5 quốc gia: Campuchia, Việt Nam, Indonesia, Pakistan

và Nepal Theo báo cáo này, tình trạng bạo lực trong các trường học châu Áđang ở mức báo động Chỉ tính trong 6 tháng, số học sinh bị bạo lực (ở mọihình thức: tinh thần, thể xác…) tại trường học của Indoneisa là 75%, ViệtNam đứng thứ hai với 71%

Tại Kolkata, một nghiên cứu cắt ngang về bản chất bạo lực phải chịuđựng của thanh thiếu niên và xác định các mối quan hệ liên quan đến nền kinhtế- xã hội và sức khỏe tâm thần trên 370 thanh thiếu niên (182 bé trai và 188

bé gái) từ 6 trường Trung học phổ thông Kết quả cho thấy rằng 52,4%;

Trang 16

25,1% và 12,7% thanh thiếu niên bị tâm lý, thể chất, tình dục trong năm qua.18,6% vị thành niên đứng chứng kiến bạo lực giữa các thành viên người lớntrong gia đình Hơn 61,9% thanh thiếu niên trải qua ít nhất một loại bạo lực,32,7% bị bạo lực về thể xác hoặc tình dục hoặc cả hai Bạo lực để lại một vết

“sẹo” trên sức khỏe tinh thần của các nạn nhân

Không chỉ tại các nước đang phát triển, rất nhiều quốc gia phát triểncũng đang phải đau đầu với vấn đề bạo lực học đường Người đứng đầu bangQueensland, Úc hồi tháng 7/2009 cho biết tình trạng bạo lực học đường ởnước này đang gia tăng một cách đáng sợ Riêng trong năm 2008, 55.000 họcsinh trong đó gần một nửa là nữ bị đình chỉ học tập vì vấn đề bạo lực

Tại Thổ Nhĩ Kỳ, một nghiên cứu trên 2641 học sinh ở độ tuổi từ 10-15tuổi cho kết quả phổ biến nhất là bạo lực lời nói với 31% học sinh là nạnnhân, 24% là nạn nhân của bạo lực thể chất, 21% là nạn nhân của bạo lực xãhội và 8% về tình dục, có sự khác biệt về giới tính khi học sinh nam là nạnnhân nhiều hơn học sinh nữ Một nghiên cứu khác điều tra về tình hình bắtnạt ở học sinh trung học công lập của Thổ Nhĩ Kỳ có 35,5% bị bắt nạt về thểchất; 33,5% bị bắt nạt về lời nói; 28,3% về tình cảm; 15,6% về tình dục Có

sự khác biệt giới tính rõ ràng khi các chàng trai luôn trải qua tát, đánh, hànhhung, cười thô lỗ, hay nhiều hơn nữa là bắt nạt về lời nói bao gồm cả gọi tên,xúc phạm và chửi thề

Theo trung tâm Thống kê Quốc gia về Giáo dục Mỹ, bạo lực học đường

là một vấn đề nghiêm trọng Năm 2007, một cuộc điều tra tổng thể toàn quốcđược tiến hành hai năm một lần bởi CDC với mẫu đại diện là các học sinhtrung học Hoa Kì thấy rằng: trong khoảng thời gian 30 ngày trước nghiêncứu, có 18% trong số đó đã thực hiện một loại vũ khí (dao, súng, ) với tỷ lệ ởnam giới (28,5%) cao hơn nhiều so với nữ (7,5%) học sinh và 5,5% không đihọc ít nhất 1 ngày vì họ cảm thấy họ sẽ không an toàn ở trường hoặc trên

Trang 17

đường từ nhà đến trường hay ngược lại Trong thời gian 12 tháng trước khikhảo sát, 6,9% học sinh trung học đã cố gắng tự tử; 35,5% học sinh có mặttrong ít nhất một cuộc chiến có sử dụng vũ lực cũng với tỷ lệ ở nam giới(44,4%) cao hơn nhiều so với nữ (26,5%) học sinh Riêng năm 2011, báo cáocủa CDC cho thấy 30% thanh thiếu niên Mỹ từng là nạn nhân, kẻ bắt nạt hay

cả hai Cụ thể 13% báo cáo là kẻ bắt nạt, 11% báo cáo là nạn nhân của vụ bắtnạt, 6% báo cáo vừa là nạn nhân, vừa là kẻ bắt nạt Nghiên cứu cũng chỉ rarằng nam giới thường sử dụng hình thức bạo lực thể chất trong khi hình thứcbạo lực bằng lời nói diễn ra phổ biến hơn ở nữ giới Năm 2015, nghiên cứu ởhọc sinh lớp 9-12 cho thấy 8,1% học sinh báo cáo trong một cuộc chiến vậtlý; 7,1% báo cáo họ không đi học trong 1 hoặc nhiều ngày trong vòng 30ngày trước thời điểm nghiên cứu bởi vì cảm thấy không an toàn ở trường, trênđường đến trường hoặc từ trường về nhà; 5,2% mang vũ khí; 6,9% báo cáo bị

đe dọa hoặc bị thương; 14,8% bị bạo lực điện tử trong 12 tháng trước thờiđiểm nghiên cứu

Công trình nghiên cứu của Wang.J và cộng sự năm 2009 đã được nghiêncứu tại Mỹ với đề tài “ Bắt nạt trường học trong thanh thiếu niên tại Hoa Kì:thể chất, lời nói, quan hệ và trên điện tử ” ở học sinh lớp 6-10 cho kết quả:Người thực hiện hành vi bắt nạt người khác ít nhất một lần trong 2 tháng quavới 13,3% thể chất; 37,4% bằng lời nói; 27,2% xã hội và 8,3% điện tử Nạnnhân trong 2 tháng qua là 12,8% thể chất; 36,5% cho lời nói; 41,0% cho quanhệ; và 9,8% đối với các hình thức mạng Tỷ lệ thực hiện hành vi bắt nạt, bịbắt nạt, hoặc cả hai là 20,8% đối với thể chất; 53,6% cho lời nói; 51,4% choquan hệ và 13,6% cho mạng Trong số bắt nạt về thể chất có 38,9% chỉ làngười bắt nạt; 36,0% chỉ là nạn nhân và 26,3% vừa là kẻ bắt nạt, vừa là nạnnhân Bắt nạt bằng lời nói có 30,3% chỉ là kẻ bắt nạt; 31,7% chỉ là nạn nhân

và 38,1% là kẻ bắt nạt và nạn nhân Bắt nạt xã hội có 19,1% chỉ là kẻ bắt nạt;

Trang 18

48,1% chỉ là nạn nhân và 32,8% là kẻ bắt nạt là nạn nhân Bắt nạt điện tử có27,4% chỉ là người bắt nạt; 40,0% chỉ là nạn nhân và 32,6% là kẻ bắt nạt vànạn nhân Nghiên cứu ở học sinh từ lớp 6 đến 10 trong các trường công lập

và tư nhân trên khắp nước Mỹ báo cáo rằng sự tham gia thường xuyên bắt nạthọc đường trong 2 tháng qua là 29,9%, trong đó bao gồm 13,0% là kẻ bắt nạt;10,6% là nạn nhân và 6,3% là cả hai Nam giới có nhiều khả năng hơn so với

nữ là kẻ bắt nạt và mục tiêu bắt nạt

1.2.2 Bạo lực học đường tại Việt Nam.

Ở Việt Nam những năm gần đây, dư luận xã hội lên tiếng khá nhiều vềbạo lực học đường với những lo ngại về sự đa dạng và mức độ nguy hiểm củahành vi này Các vụ bạo lực không chỉ gia tăng về số lượng mà còn tăng cảmức độ nguy hiểm, nó lan rộng ra nhiều địa phương, báo động về thực trạngsuy thoái về đạo đức, lối hành xử bạo lực, thiếu lành mạnh ở một bộ phận củathế hệ trẻ trong độ tuổi chưa thành niên là học sinh Những xô xát tưởngchứng như rất trẻ con ấy lại trở nên nghiêm trọng, không chỉ là những hiệntượng cá biệt, không chỉ ở một vài trường mà lan rộng cả thành thị và nôngthôn, đồng bằng và miền núi với tốc độ gia tăng đáng kể

Tại Việt Nam, bạo lực học đường diễn biến ngày một phức tạp Theothống kê của Cục cảnh sát điều tra về trật tự xã hội, từ năm 2003 đến 2010,trung bình mỗi năm Việt Nam xảy ra khoảng 10.000 vụ phạm tội trong lứatuổi vị thành niên; tỷ lệ học sinh, sinh viên, thanh thiếu niên phạm tội và viphạm pháp luật chiếm khoảng ¼ tổng số vụ phạm pháp hình sự xảy ra trêntoàn quốc Đặc biệt theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT),trong năm học từ 2003-2009, thống kê từ 38 Sở GD-ĐT có tới hơn 8.000 vụhọc sinh tham gia đánh nhau và bị xử lý kỷ luật Gần đây, nhiều vụ bạo lựchọc đường xảy ra không chỉ ở thành phố mà diễn ra cả ở nông thôn, không chỉ

ở học sinh nam mà ở cả học sinh nữ - vốn được coi là “phái yếu” như: nữ sinh

Trang 19

tụ tập đánh nhau “hội đồng”, làm nhục bạn, nam sinh dùng dao, kiếm, mã tấuchém nhau ngay trong trường học Ở nhiều nơi, do mâu thuẫn trong tình bạn,tình yêu đã dùng dao rạch mặt bạn, đâm chết bạn giữa sân trường Vấn đềbạo lực học đường ngày càng gia tăng với số lượng chóng mặt, tiếp tục diễnbiến phức tạp, trở thành vấn đề cấp bách ảnh hưởng đến quá trình đào tạo vàphát triển toàn diện của trẻ em- chủ nhân tương lai của đất nước Chốn họcđường được xem là môi trường an toàn nhưng giờ đây bị ảnh hưởng nghiêmtrọng bởi tình trạng học sinh hành xử nhau theo kiểu xã hội đen Vấn nạn này

đã khiến các ngành chức năng hết sức quan tâm, là nỗi lo lắng của gia đình và

cả một thế hệ tương lai của đất nước Bộ GD-ĐT đã công bố kết quả nghiêncứu từ tháng 3 đến tháng 9/2014 với 3.000 học sinh cho biết có khoảng 80%học từ trước đến nay bị bạo lực giới ít nhất một lần, 71% bị bạo lực trongvòng 6 tháng qua Mức độ an toàn ở nhà trường được các em đánh giá rấtthấp, chỉ 16% học sinh nữ và 19% học sinh nam cho rằng luôn luôn an toàntrong khuôn viên trường Không chỉ gia tăng về số lượng, mức độ và tínhchất nguy hiểm của các vụ bạo lực trong học sinh ngày càng nghiêm trọng.Kết quả điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam ( SAVY)năm 2003 cho thấy tỷ lệ mang hung khí/vũ khí nói chung là 2,3% tập trungchủ yếu vào nam thanh thiếu niên ( nam 4% so với nữ 0,5%), riêng tỷ lệ namthanh thiếu niên thành thị 14-17 tuổi, 18-21 tuổi mang vũ khí cao hơn nhiều(6,4% và 9%) 3% nam thanh niên trả lời họ đã từng hành hung một ngườikhác đến mức người đó phải đi bệnh viện Đặc biệt là một nghiên cứu trongtrường học tại thành phố Hồ Chí Minh có hơn 10% nam thanh thiếu niênmang hung khí Bạo lực học đường hiện nay cũng tồn tại ở hình thức giữacác em học sinh với nhau với tỷ lệ 16,7% học sinh bị bạn ức hiếp; 35,4% họcsinh đã từng bị bạn hù dọa và 10,2% các em không nhận được sự trợ giúp củabạn bè khi gặp khó khăn

Trang 20

Một cuộc khảo sát do trường ĐHQGHN vào năm 2008 tại 2 trườngTHPT tại quận Đống Đa về tình trạng bạo lực nữ sinh cho thấy nhiều kết quảđáng lo ngại Cụ thể, có đến 97,6% số học sinh trả lời ở trường có xảy ra hiệntượng nữ sinh đánh nhau Mức độ bạo lực trong nữ sinh là 44,7% rất thườngxuyên, 38% thường xuyên và 17,3% không thường xuyên

Nghiên cứu “Thực trạng bạo lực trong trường học ở học sinh trườngPTTH Việt Đức, Hà Nội năm 2006 và một số yếu tố cá nhân và gia đình liênquan” chỉ ra hình thức phổ biến nhất là bắt nạt bạn bè, sau đó là đe dọa bạolực chiếm 9%, ẩu đả đánh nhau 7% và cuối cùng là tấn công bằng vũ lựcchiếm 2% Đa số chỉ xảy ra 1 lần trong suốt năm học vừa qua Đối tượng thựchiện hành vi thường là bạn bè cùng lớp, nguyên nhân do các va chạm, hiểunhầm trong sinh hoạt và học tập Bên cạnh đó tấn công bằng vũ lực tuy tỷ lệthấp hơn nhưng đối tượng và nguyên nhân phức tạp hơn như trả thù, ghentuông Giới nữ chiếm tỷ lệ cao hơn ở đe dọa bạo lực, nam là đối tượng caohơn ở mọi hình thức khác 4% các em bị hậu quả do bạo lực học đường đemlại, hầu hết là thương tích cơ thể, có nhiều trường hợp phải đi bệnh viện Nghiên cứu “Thực trạng bạo lực học đường và một số yếu tố liên quanđến hành vi bạo lực ở học sinh trường Trung học phổ thông Trần Phú, quậnHoàn Kiếm, Hà Nội năm 2013” cho thấy trong tổng số mẫu 392 học sinh, có

160 em (tương đương với 40,8%) không tham gia vào bất kì hình thức nào (kể

cả là nạn nhân lẫn thực hiện hành vi); có 66 em (tương đương với 16,8%) chỉthực hiện hành vi bạo lực; 118 em (tương đương với 30,1%) vừa thực hiệnhành vi bạo lực, vừa là nạn nhân và 48 em (tương đương 12,2%) chỉ là nạnnhân của bạo lực trong vòng 6 tháng trước thời điểm nghiên cứu Bạo lực sửdụng lời nói là hành vi phổ biến nhất, với tỷ lệ học sinh thực hiện hành vi này

là 41,8% Tỷ lệ này giảm dần ở bạo lực xã hội (25,3%); bạo lực thể chất(17,1%) và bạo lực điện tử (13%) Đa số các vụ bạo lực xảy ra ở một nhóm

Trang 21

học sinh thực hiện trên một học sinh Về thực trạng bị bạo lực, 35,2% bị bạolực lời nói; 19,6% bị bạo lực thể chất; 17,6% bị bạo lực xã hội và 5,9% là nạnnhân bạo lực điện tử Phần lớn sau khi bị bạo lực, các em chỉ chia sẻ với bạn

bè hoặc không kể với ai Học sinh nam vừa là đối tượng thực hiện hành vi,vừa là đối tượng nạn nhân bị bạo lực hơn so với học sinh nữ Thực trạng bạolực học đường ở học sinh 3 khối lớp học là gần như tương đương nhau

Nghiên cứu “Thực trạng và các yếu tố liên quan đến bạo lực học đường

ở học sinh trường THCS Lê Lai, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh” cho kết quả13,2% học sinh có thực hiện hành vi bạo lực học đường trong 6 tháng qua,mang vũ khi tới trường 5,9%, đe dọa học sinh khác 12,2% và mắng chửi nhau

là 36,9% Kéo theo đó việc có học sinh là nạn nhân của bạo lực học đường làđương nhiên với 11,9% HS bị đánh; 10,3% bị đe dọa và 4,1% bị trấn lột Cácđặc tính cá nhân, gia đình, nhà trường và xã hội đều có liên quan rất lớn đếnhành vi bạo lực của HS Đặc biệt, tỷ lệ học sinh đã từng bị bạo lực, gia đình

có sử dụng bạo lực, hay bạn bè có sử dụng bạo lực có hành vi bạo lực cao gấp1,9 lần; 1,4 lần và 2,1 lần so với những học sinh chưa từng bị bạo lực, giađình không sử dụng sử dụng bạo lực hay bạn bè không sử dụng bạo lực Nghiên cứu “Hành vi bạo lực học đường của học sinh THCS Thành phốHuế” cho kết quả 24% trong số 200 em được hỏi nhận định là hành vi BLHĐxảy ra rất thường xuyên; 33% cho là khá thường xuyên; 26,5% cho là thỉnhthoảng; 14,5% cho là ít và chỉ có 0,5% cho là hoàn toàn không xảy ra

Thời gian qua, các cấp chính quyền nước ta đã có nhiều giải pháp đểngăn chặn tình trạng bạo lực học đường, nhằm thiết lập một môi trường họcđường an toàn, thân thiện cho học sinh, bảo đảm an ninh cho xã hội Thông tưliên tịch số 34/2009/TTLT-BGDĐT-BCA ngày 20/11/2009 của Bộ Giáo dục

và Đào tạo với Bộ Công an về “Hướng dẫn phối hợp thực hiện công tác bảođảm an ninh, trật tự tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân”

Trang 22

và có Quy chế phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo và Công an tỉnh về thựcbiện công tác bảo đảm an ninh, trật tự tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thốnggiáo dục quốc dân trên địa bàn tỉnh

1.3 Một số yếu tố liên quan tới bạo lực học đường

Các yếu tố liên quan tới bạo lực ở học sinh bên cạnh một số đặc điểmriêng đặc trưng theo lứa tuổi và môi trường học đường thì đa phần có nhữngđặc điểm tương tự với bạo lực ở giới trẻ, bao gồm các yếu tố về cá nhân vànhóm yếu tố xuất phát từ mối quan hệ như trong gia đình, nhà trường, và xãhội ,

1.3.1 Yếu tố cá nhân

Ở mức độ cá nhân, liên quan tới bạo lực trong giới học sinh chủ yếu làcác yếu tố thuộc về tuổi, giới, tâm sinh lý, sự phát triển và một số hành vinguy cơ của thanh thiếu niên

Theo một nghiên cứu của WHO vào năm 2000, các yếu tố cá nhân cóliên quan tới bạo lực ở giới trẻ bao gồm:

- Hiếu động thái quá

là nạn nhân của bạo lực thì xu hướng cảm xúc thường lo lắng, trầm cảm, haychán nản, sợ hãi, thiếu cảm giác an toàn, thiếu tự tin, học tập kém, từng có ý

Trang 23

nghĩ tự tử và cố gắng tự tử Tâm lý lứa tuổi học sinh trung học với sự pháttriển chưa hoàn thiện: cái “tôi”, bản tính “anh hùng” muốn thể hiện bạn thântrước bạn bè và không muốn thua thiệt “bùng phát” làm cho các em đôi khichưa biết kiềm chế cảm xúc, dễ dẫn đến những hành vi xô xát, gây gổ đánhnhau Khả năng nhận thức cũng như tư duy chưa chín muồi, vốn kỹ năng sốngchưa trang bị đủ, hiểu biết về xã hội còn quá ít làm cho các em rất dễ bị kíchđộng bởi những sự việc đơn giản, đôi khi đó chỉ là sự hiểu nhầm rất nhỏ Trênthực tế không thiếu những hành vi BLHĐ nghiêm trọng mà xuất phát điểmchỉ là những xích mích, hiểu lầm nhỏ giữa học sinh với nhau

Các yếu tố nguy cơ như sử dụng rượu bia, thuốc lá và chất kích thích

cũng đã được chứng minh có liên quan tới hành vi bạo lực ở học sinh ,

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Trang đã chỉ ra học sinh có sử dụng rượubia có nguy cơ thực hiện hành vi bạo lực thể chất cao hơn (OR= 3,5; 95%CI:1,4 - 8,5); nhóm học sinh sử dụng thuốc lá có nguy cơ thực hiện bạo lực xãhội, internet cao hơn (OR= 2,6; 95%CI: 1,1 - 6,2) và (OR= 4,9; 95%CI: 1,9 -12,7) nhóm còn lại

Những đối tượng có hành vi bạo lực bao gồm nhiều lứa tuổi khác nhau.Tuy nhiên vấn đề đặc biệt nghiêm trọng đối với lứa tuổi thiếu niên Theo mộtnghiên cứu trên học sinh từ lớp 7 đến lớp 12 của Úc đã chỉ ra rằng tỉ lệ trẻ bịbắt nạt giảm đi theo độ tuổi, trẻ càng lớn thì càng ít bị bắt nạt hơn

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nam giới là đối tượng hay thực hiệnhành vi bạo lực đồng thời cũng là nạn nhân của bạo lực xuất hiện phổ biếnhơn và có mức độ nghiêm trọng hơn so với nhóm nữ sinh , , , Các nghiêncứu cho thấy rằng các em học sinh nam thường tham gia nhiều hơn vào cáchoạt động bạo lực với các hình thức vũ lực như ẩu đả, tổ chức đánh nhauthậm chí có sử dụng vũ khí như dao, gậy Trong khi hình thức bạo lực bằnglời nói lại diễn ra phổ biến ở các em học sinh nữ hơn

Trang 24

Nghiên cứu của J.Wang trên đối tượng học sinh lớp 6-10 ở Mỹ cho thấy

ở học sinh nam có nguy cơ thực hiện hành vi bạo lực thể chất cao hơn nhómhọc sinh nữ (OR=2,41; 95%CI: 1,91 - 3,05)

Tác giả Nguyễn Thị Thu Trang khi nghiên cứu thực trạng bạo lực họcđường và một số yếu tố liên quan đến hành vi bạo lực ở học sinh trườngTrung học phổ thông Trần Phú, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội cũng cho thấy sựliên quan đến giới tính với bạo lực học đường Ở học sinh nam có nguy cơthực hiện hành vi bạo lực thể chất và lời nói hơn học sinh nữ (OR= 2,6;95%CI: 1,4 - 5,1 và OR=2; 95%CI: 1,3 - 3,2)

1.3.2 Yếu tố mối quan hệ

Yếu tố gia đình

Ảnh hưởng từ gia đình và cha mẹ là yếu tố chính tác động đến hành vibạo lực ở giới trẻ Việc giám sát và theo dõi lỏng lẻo của bố mẹ và cách giáodục con chưa hợp lý sẽ dẫn tới bạo lực khi trở thành thanh thiếu niên Hỗ trợcủa cha mẹ cao hơn thì con cái ít liên quan đến những vấn đề về bạo lực hay

hỗ trợ của cha mẹ có thể bảo vệ chính con cái của mình tránh xa được các vấn

đề về bạo lực Viện Nghiên cứu Phát triển TP.HCM báo cáo kết quả cho thấy9,1% học sinh sống trong gia đình có cha mẹ uống rượu hàng ngày, 33,4%học sinh sống trong gia đình có cha mẹ hoặc người thân thường xuyên cãi lộn,đánh nhau là những nguy cơ ảnh hưởng đến tinh thần trẻ tổn thương, tâmtrạng bực bội, khó chịu, dễ có hành động gây hấn, hung dữ hoặc có hành vibạo lực không kiểm soát được

Nhà đông con, cấu trúc gia đình như sống cùng bố mẹ hay chỉ bố hoặc

mẹ hoặc không sống cùng cả hai đều có ảnh hưởng đến những hành vi củacon Sống trong gia đình có hoàn cảnh không thuận lợi sẽ tác động tiêu cựctới quá trình hình thành và phát triển nhân cách của con cái Nhiều nghiên cứu

đã chỉ ra rằng cha mẹ ly hôn, ly thân có ảnh hưởng nghiêm trọng tới nét tính

Trang 25

cách của trẻ Đa số các em trở nên tự ti hay hung hãn hơn Đôi khi các emmuốn sử dụng hình thức này để gây sự chú ý với cha mẹ như một cách phảnkháng với sự thiếu hụt tình yêu thương Xu hướng quan tâm thái quá cũng gây

ra nhiều vấn đề phức tạp Ở lứa tuổi học sinh các em có nhu cầu tự khẳngđịnh, độc lập trong quyết định thì sự bao bọc, nghiêm khắc quá mức sẽ khiếncác em thấy áp lực Vì vậy, gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến hành vi và nhâncách của các em

Ở nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Trang chỉ ra nhóm học sinh bị bạolực từ gia đình có nguy cơ thực hiện hành vi bạo lực thể chất cao hơn (OR=3,3; 95%CI: 2,0 - 9,3), đồng thời cũng có nguy cơ trở thành nạn nhân cao hơn(OR= 2,3; 95%CI: 1,3 - 4,3) Học sinh được hỗ trợ thấp từ gia đình có nguy

cơ là nạn nhân của bạo lực lời nói cao hơn (OR= 1,7; 95%CI: 1,0 - 2,7) Ởnghiên cứu của Trần Thị Chiến và Tô Gia Kiên cũng chỉ ra học sinh có giađình sử dụng bạo lực có nguy cơ thực hiện hành vi cao (OR= 1,4)

Yếu tố bạn bè

Ảnh hưởng của bạn bè đồng trang lứa là yếu tố khá quan trọng tronghành vi của giới trẻ TS.Nghiêm Thị Phiến tiến hành nghiên cứu đề tài “Ảnhhưởng của nhóm bạn bè tới hành vi lệch chuẩn của học sinh” trên 31 học sinhthiếu niên cá biệt tại trường THCS Thịnh Quang (Hà Nội), đã liệt kê nhữnghành vi lệch chuẩn của nhóm học sinh này và chỉ ra những nguyên nhân dẫnđến các hành vi đó Tác giả kết luận, hiện tượng bạn bè xấu rủ rê, lôi kéo làmột trong những nguyên nhân khá chủ yếu dẫn trẻ tới những hành vi lệchchuẩn Nếu như ở những giai đoạn lứa tuổi trước vai trò của những ngườithân trong gia đình gia đình là quan trọng bậc nhất, thì khi bước vào lứa tuổi

vị thành niên, bậc học trung học thì sự cố kết bên ngoài xã hội tăng dần màbiểu hiện rõ nhất là việc đề cao các mối quan hệ bạn bè Bắt đầu hình thành

Trang 26

các nhóm bạn với cùng sở thích, tính cách và bạn bè có ảnh hưởng lớn, chiphối nhận thức, thái độ, hành vi của các em

Ở nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Trang cũng chỉ ra rằng nhómhọc sinh có bạn thân sử dụng vũ lực có nguy cơ thực hiện hành vi bạo lựcđiện tử cao hơn (OR= 4,2; 95%CI: 1,6 - 11,3) nhóm còn lại, đồng thời cũng

có nguy cơ cao trở thành nạn nhân của bạo lực thể chất (OR= 3,4; 95%CI: 1,6

- 7,2), bạo lực xã hội (OR= 3,4; 95%CI: 1,5 - 7,7), bạo lực điện tử (OR= 13;95%CI: 3,7 - 46,1)

Nghiên cứu tại trường THCS Lê Lai, quận 8, Hồ Chí Minh cũng chỉ rarằng học sinh có bạn sử dụng bạo lực có nguy cơ thực hiện hành vi cao hơn

(OR= 2,1; 95%CI: 1,96 - 2,55) Tác giả Nguyễn Thị Hoa với công trình

nghiên cứu về các ảnh hưởng đến hành vi có vấn đề của trẻ vị thành niên đãchỉ ra ở lứa tuổi này các em xuất hiện ý nghĩ “ Mình đã là người lớn” Nhucầu được khẳng định, được tôn trọng làm người lớn, được đối xử tôn trọng vàbình đẳng rất lớn Tuy nhiên do kinh nghiệm sống của các em còn non nớt, tưduy bồng bột, chưa sâu sắc nên những người làm bố, làm mẹ vẫn coi các emnhư đứa trẻ trước đó Vì thế giữa các em và bố mẹ thường xuất hiện mâuthuẫn, các em không hài lòng với ứng xử của người lớn Khi đó các emthường tìm đến bạn bè để chia sẻ Trong hoàn cảnh đó, các em rất dễ bị ảnhhưởng từ bạn bè, đặc biệt là bạn xấu với những ảnh hường tiêu cực là khótránh khỏi dẫn đến những hành vi lệch chuẩn ở các em

Yếu tố trường học và xã hội

Kết quả nghiên cứu “ Các yếu tố tác động đến hành vi bạo lực của họcsinh” đã chỉ ra các nhân tố chính tác động đến hành vi bạo lực ở học sinh là:chứng kiến bạo lực, sự kém tuân thủ quy định ở trường, mối quan hệ với bạn

bè có vấn đề, nạn nhân của bạo lực, ấn tượng về trường học, thái độ với bạolực và tính nóng nảy của cá nhân Học sinh lớp càng cao thì có hành vi bạo

Trang 27

lực ở mức độ càng thấp Trình độ giáo dục cũng là một trong những yếu tốxác định mức độ sử dụng bạo lực của học sinh Học sinh thường chơi trò chơitrực tuyến bạo lực, trình độ giáo dục thấp cũng có hành vi bạo lực cao hơn vàphổ biến ở học sinh nam cao hơn học sinh nữ Học sinh không xem phim bạolực và chơi game bạo lực có hành vi bạo lực thấp hơn ở nhóm xem và chơi(OR= 0,59 và 0,6) Mạng xã hội cũng là một nguyên nhân dẫn đến bạo lựchọc đường Từ những tin đồn, cãi vã, đăng ảnh bôi nhọ và bình luận ác ý trênFacebook đã khiến các em đánh nhau ở trường Kết quả khảo sát các biệnpháp khắc phục tình trạng BLHĐ gồm “nhóm biện pháp áp dụng tại nhàtrường; nhóm biện pháp áp dụng tại gia đình và nhóm biện pháp áp dụng cho

xã hội” đối với HS tại Cần Thơ cho thấy các biện pháp đề xuất được đánh giá

là “đồng ý” Đây là cơ sở quan trọng giúp khắc phục tình trạng BLHĐ mộtcách toàn diện theo các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng BLHĐ trong học sinhhiện nay Các trò chơi điện tử mang tính bạo lực hay phim ảnh mang nộidung bạo lực diễn ra thường xuyên cũng dễ dẫn đến việc các em “hung bạo”với người khác, trở thành đối tượng gây bạo lực hay “co mình” mang cácbệnh về tâm lý khiến cho các bạn xung quanh gây bạo lực với mình (chủ yếu

vì lí do khác người) Có nhận định cho rằng, hành vi bạo lực được học từphim ảnh và trò chơi bạo lực: “Kết quả so sánh giữa mức độ thường xuyênxem phim bạo lực và chơi trò chơi điện tử bạo lực giữa các nhóm học sinhcho thấy: Nhóm học sinh gây bạo lực và nhóm học sinh vừa là nạn nhân, vừa

là thủ phạm của bạo lực có mức độ xem phim bạo lực và chơi trò chơi điện tửthường xuyên hơn nhóm học sinh không liên quan đến bạo lực và nhóm họcsinh là nạn nhân” hay “Khi học sinh thường xuyên xem phim bạo lực và chơitrò chơi điện tử bạo lực, trẻ sẽ tập nhiễm hành vi bạo lực, dần vô cảm với cảmgiác của người khác và cảm thấy mạnh mẽ khi làm người khác đau đớn, chính

vì vậy mà trẻ càng thể hiện hành vi bạo lực ngoài đời thường”

Trang 28

Nghiên cứu” Nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường tại trường THCS

Lê Lai- Quận 8-Thành phố Hồ Chí Minh” do Lê Thị Hồng Thắm, Tô GiaKiên thực hiện Qua nghiên cứu cho thấy các em có hành vi bạo lực luônmuốn chứng tỏ mình Ba mẹ của các em thường la mắng, đánh đập các emmỗi khi các em sai phạm và ba mẹ có thái độ xúi giục các em thực hiện hành

vi bạo lực khi bị người khác xúc phạm, anh chị thì không quan tâm đúng cáchđến các em Nhà trường chưa tổ chức được chương trình phòng chống BLHĐ

và không đồng nhất trong cách xử lý các hành vi sai phạm của các em, đôi khinhà trường còn dùng hành vi bạo lực đối với các em Khi gặp thầy cô, đôi khicác em không chào vì một số nguyên nhân nào đó

Tác giả Mai Thị Tuyết chỉ ra nguyên nhân của bạo lực học đường chính

là sự buông lỏng của gia đình, thiếu sự chia sẻ từ thầy cô giáo có thể khiếnhọc sinh bị tiêm nhiễm từ lối cư xử của các đối tượng bên ngoài nhà trường,dựa vào nhau thành băng nhóm, nảy sinh bạo lực, chai sạn cảm xúc và thoát

ly các quy chuẩn của xã hội Nguyên nhân của bạo lực học đường còn từphim ảnh, trò chơi bạo lực trên Internet…và thậm chí là từ những người lớntrong gia đình Nhiều học sinh có cha mẹ hoặc người thân có cách cư xửkhông chuẩn mực Chính những thói quen ứng xử hằng ngày của họ đã vôtình gieo trong đầu các em những suy nghĩ không tốt, dẫn đến việc các em cólối cư xử, hành xử không hay trong nhà trường với bạn bè Ngoài ra cũng phải

kể đến những thiếu sót và bất cập trong giáo dục đào tạo: nặng về giáo dưỡng,chưa chú trọng đúng mức đến giáo dục đạo đức, pháp luật, kỹ năng sống chohọc sinh Tác động từ phương pháp giáo dục của nhà trường có ý nghĩa lớntrong việc hình thành đạo đức của học sinh Bên cạnh truyền thụ tri thức,những người làm công tác “trồng người” cũng phải trang bị cho các emnhững giá trị nhân văn tốt đẹp Tuy nhiên, không có nghĩa chúng ta dồn hếttrách nhiệm về sự tha hóa trong nhân cách của học sinh cho nhà trường Phải

Trang 29

có sự đồng bộ kết hợp từ gia đình, nhà trường và xã hội để có thể định hướngcho các em tránh xa những yếu tố tiêu cực trong cuộc sống Quá trình hộinhập, giao thoa văn hóa làm tổn hại những giá trị văn hóa truyền thống.Những cảnh bạo lực trong phim, trò chơi bạo lực trên mạng, sách báo mangnội dung bạo lực đã vô hình chung truyển tải đến học sinh những hành vikhuynh hướng bạo lực Thay vì mang sách vở đến trường, nhiều em đemhung khí vào lớp, chỉ cần xích mích nhỏ là có thể sử dụng bạo lực để giáiquyết mâu thuẫn

1.4 Giới thiệu về nơi nghiên cứu

1.4.1 Đặc điểm tự nhiên- kinh tế- xã hội

Vị trí địa lý

Xã Cam Thượng thuộc huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội Phía Đông giápvới xã Đường Lâm- thị xã Sơn Tây, phía Nam giáp xã Xuân Sơn- Sơn Tây,phía Bắc giáp xã Đông Quang, phía Tây giáp 2 xã Thụy An, Tiên Phong-huyện Ba Vì

Dân số và kinh tế

Xã có 9 thôn, chạy dọc qua xã có tuyến đường quốc lộ lớn 32 Hà Trung Hà, lên vùng Tây bắc của Tổ quốc

Nội-Diện tích 8,27 km2, tính đến ngày 30/3/2016 thì có 1780 hộ, 7176 người trong

đó nam 3563 người, nữ 3613 người, số người từ 14 tuổi trở lên là 5545 người

Văn hóa, giáo dục

Văn hóa: Cam Thượng thuộc vùng đất cổ xứ Đoài, là quê hương củaĐức Quốc Mẫu -Man Hoàng Hậu -Trần Thị Đoan -mẹ của Hai Bà Trưng.Trong kháng chiến chống Pháp, là nơi chuyên trở cán bộ, dân quân du kíchhoạt động giữa Sơn Tây, Vĩnh Yên và đã được Đảng, nhà nước phong tặngdanh hiệu cao quý Xã anh hùng lực lượng vũ trang trong thời kì chống Pháp

Trang 30

Ngày nay, nhân dân Cam Thượng đang ra sức phấn đấu xây dựng quê hương,đất nước, ngày một đổi mới, có 6/9 thôn đạt danh hiệu làng văn hóa.

Hiện tại chính quyền và nhân dân rất quan tâm tới giáo dục với phươngchâm “Đầu tư cho giáo dục là quốc sách hàng đầu”, toàn xã có 1 trường mầmnon với 14 lớp và 508 học sinh, 1 trường tiểu học với 13 lớp và 453 học sinh,

1 trường THCS với 8 lớp và 256 học sinh Cả 3 trường hàng năm đều đạtdanh hiệu trường tiên tiến

1.4.2 Trường THCS Cam Thượng

Trường THCS Cam Thượng cách trung tâm huyện Ba Vì 4km, rất gầnthị xã Sơn Tây Trường gần với trường THCS Đông Quang- Ba Vì, THCSĐường Lâm, Xuân Sơn – thị xã Sơn Tây Hàng năm trường đều đạt tập thểlao động tiên tiến cấp huyện

Cơ sở hạ tầng: trường nằm giữa trung tâm xã, diện tích 2420 m2, 8

phòng học 2 tầng, 1 phòng thiết bị, chưa có phòng học bộ môn, chưa có nhà

đa năng, cơ sở vật chất để đạt chuẩn còn thiếu thốn nhiều

Cơ cấu cán bộ và học sinh: tổng số 31 cán bộ giáo viên, 286 học sinh

chia thành 8 lớp ( mỗi khối 2 lớp) Tỷ lệ học sinh giỏi đạt 20%, khá 40%,trung bình 36,5% và yếu 3,5% Học sinh tốt nghiệp từ 98-100%, vào Trunghọc phổ thông đạt từ 65-75%

Trang 31

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Sơ đồ lý thuyết nghiên cứu

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ lý thuyết nghiên cứu

- Lý do xảy ra BL

- Phản ứng học sinh khi nhìn thấy/nạn nhân BL

- Địa điểm xảy ra BL

- Hậu quả của BL

và phim bạo lực

Yếu tố cá nhân: tuổi, giới và

hành vi nguy cơ (rượu bia,

thuốc lá,mang vũ khí )

Trang 32

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: Trường THCS Cam Thượng, huyện Ba Vì,thành phố Hà Nội

- Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 10/2015đến tháng 4/2016

2.3 Đối tượng nghiên cứu

- Học sinh hiện đang học tập tại trường THCS Cam Thượng, huyện Ba

Vì, thành phố Hà Nội năm học 2015- 2016

- Thành viên ban giám hiệu nhà trường và giáo viên chủ nhiệm

- Phụ huynh học sinh

Tiêu chuẩn lựa chọn

- Học sinh hiện đang theo học tại trường, tự nguyện đồng ý tham gianghiên cứu và có mặt tại thời điểm nghiên cứu

- Thành viên ban giám hiệu và giáo viên chủ nhiệm tự nguyện đồng ýtham gia nghiên cứu, có mặt tại thời điểm nghiên cứu và có thời gian công táctại trường từ 06 tháng trở lên

- Phụ huynh học sinh tự nguyện đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

- Học sinh không hợp tác tham gia nghiên cứu

- Học sinh không có mặt trong thời gian nghiên cứu

- Phụ huynh học sinh không đồng ý tham gia nghiên cứu

- Giáo viên không đồng ý tham gia nghiên cứu và có thời gian công táctại trường ít hơn 06 tháng

Trang 33

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Thiết kế nghiên cứu

- Nghiên cứu mô tả cắt ngang có kết hợp nghiên cứu định lượng với định tính.

- Học sinh: Sử dụng bộ câu hỏi tự điền kết hợp nghiên cứu định lượng và

nghiên cứu định tính

- Giáo viên và phụ huynh học sinh: Phương pháp định tính sử dụng hình

thức thảo luận nhóm

2.4.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

- Cỡ mẫu nghiên cứu học sinh: Chọn mẫu toàn bộ.

Trường THCS Cam Thượng có tổng số 286 học sinh Trong đó có 08lớp (mỗi khối gồm 2 lớp) với 66 học sinh lớp 6, 66 học sinh lớp 7, 77 họcsinh lớp 8 và 77 học sinh lớp 9

- Cỡ mẫu nghiên cứu giáo viên và phụ huynh học sinh

01 đại diện BGH, 01 giáo viên tổng phụ trách Đội thảo luận nhóm toàn

bộ 08 giáo viên chủ nhiệm

08 phụ huynh học sinh thảo luận nhóm có con thực hiện hành vi bạo lựchọc đường

08 phụ huynh học sinh có con là nạn nhân của bạo lực học đường

08 phụ huynh học sinh thảo luận nhóm có con không thực hiện hành vibạo lực và không là nạn nhân bạo lực học đường

Trang 34

Bảng 2.1 Cỡ mẫu, phương pháp chọn mẫu và phương pháp thu thập thông

tin

Đối tượng

nghiên cứu Cỡ mẫu

Phương pháp chọn mẫu

Phương pháp thu thập thông tin

Công cụ thu thập thông tin

thông tin

Phiếu tựđiền

Giáo viên

Đại diện BGH nhà

trườngGiáo viên tổng phụ trách

ĐộiToàn bộ giáo viên chủnhiệm 08 lớp

Thầy côhiệu trưởnghoặc hiệuphó

Thảo luậnnhóm

Bảng hướngdẫn thảoluận nhóm

Phụ huynh

08 phụ huynh có conthực hiện hành vi

08 phụ huynh có con là

nạn nhân

08 phụ huynh có conkhông thuộc 2 nhóm trên

Theo giớithiệu củaban giámhiệu

Thảo luậnnhóm

Bảng hướngdẫn thảoluận nhóm

Trang 35

Tỷ lệ đối tượng

NC giới nam/nữ(X2)

X2 =

Bảng 2.3 Biến số và chỉ số cho mục tiêu 1

STT Biến số/ chỉ số Định nghĩa/cách tính

Phương pháp thu thập

Trang 37

Bảng 2.4 Biến số và chỉ số cho mục tiêu 2

STT Biến số/ chỉ số Cách tính

Phương pháp thu thập cho biến số /chỉ số

bộ câu hỏi,GVCN, Phụhuynh họcsinh2

Sự ảnh hưởng của yếu tố gia đình có mâu

Sự ảnh hưởng của yếu tố tự giải quyết

mâu thuẫn với thực trạng thực hiện hành

vi bạo lực/nạn nhân BLHĐ ở học sinh

Trang 38

a: Số người thực hiện hành vi bạo lực/nạn nhân BLHĐ có mang các yếu

tố ảnh hưởng (giới tính, gia đình, bạn bè, yếu tố nguy cơ, )

b: Số người không thực hiện hành vi bạo lực/nạn nhân BLHĐ có mangcác yếu tố ảnh hưởng (giới tính, gia đình, bạn bè, yếu tố nguy cơ, )

c: Số người thực hiện hành vi bạo lực/nạn nhân BLHĐ không mang cácyếu tố ảnh hưởng (giới tính, gia đình, bạn bè, yếu tố nguy cơ, )

d: Số người không thực hiện hành vi bạo lực/nạn nhân BLHĐ khôngmang các yếu tố ảnh hưởng (giới tính, gia đình, bạn bè, yếu tố nguy cơ, )

2.5 Xử lý và phân tích số liệu

 Đối với nghiên cứu định lượng

- Số liệu được nhập bằng phần mềm nhập liệu Epidata

- Sau khi nhập liệu, số liệu được phân tích bằng phần mềm phân tích và

Trang 39

+ Đối tượng không hiểu câu hỏi, trao đổi thông tin trong quá trình điền

+ Sai số trong quá trình nhập liệu, phân tích số liệu

+ Sai số do nhớ lại của đối tượng

+ Vấn đề nghiên cứu khá nhạy cảm

Khống chế sai số

+ Thiết kế bộ câu hỏi dễ hiểu

+ Điều tra thử, kiểm tra chất lượng, chỉnh bộ câu hỏi

+ Tập huấn giám sát viên kỹ lưỡng

+ Giới hạn khoảng thời gian trong các câu hỏi để hạn chế sai số nhớ lại.+ Kiểm tra từng phiếu ngay khi điều tra xong để tránh trường hợpthông tin bị bỏ sót

+ Kiểm tra đối chiếu số liệu ngay sau khi nhập vào máy

2.7 Đạo đức trong nghiên cứu

- Tuân thủ quy trình xét duyệt của Hội đồng Đạo đức của Trường Đại học

Y Hà Nội, chỉ tiến hành nghiên cứu khi được Hội đồng Đạo đức chấp thuận

- Đối tượng tham gia nghiên cứu được nghe giải thích về mục đíchnghiên cứu trước khi tiến hành điền phiếu điều tra

Trang 40

- Các học sinh được chọn làm đối tượng nghiên cứu sẽ có quyền từ chốitham gia nghiên cứu Các bạn tham gia trả lời bộ câu hỏi điều tra có thể dừngbất cứ lúc nào.

- Nghiên cứu được sự chấp thuận của ban giám hiệu trường tại địa bànnghiên cứu

- Đảm bảo các thông tin mà đối tượng cung cấp luôn giữ tính bảo mậttuyệt đối, thông tin thu được hoàn toàn trung thực, khách quan, không chịu sựchi phối từ bất cứ áp lực nào và chỉ được sử dụng cho mục đích của nghiêncứu này

Ngày đăng: 31/08/2017, 11:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w