Các nghiên cứu về sức khỏe tâm thần trẻ em và trầm cảm, lo âu, stress và các yếu tố liên quan ở học sinh THPT trên thế giới và Việt Nam...10 1.4.. Do vậy việc chăm sóc sức khoẻ lứa tuổi
Trang 1TRẦN THỊ HƯƠNG QUỲNH
THỰC TRẠNG TRẦM CẢM, LO ÂU, STRESS Ở HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HÀ HUY TẬP, THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN NĂM HỌC 2019-2020
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC DỰ PHÒNG
HÀ NỘI – 2020
Trang 2TRẦN THỊ HƯƠNG QUỲNH
THỰC TRẠNG TRẦM CẢM, LO ÂU, STRESS Ở HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HÀ HUY TẬP, THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN NĂM HỌC 2019-2020
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Chuyên ngành : Y học dự phòng
Trang 3DASS: Depression Anxiety Stress Scales
Thang đo Trầm cảm – Lo âu - StressCLB: Câu lạc bộ
ĐTV: Điều tra viên
GD&ĐT: Giáo dục & đào tạo
HKI: Học kì I
NIMH: National Institute of Mental Health
Viện Sức khỏe tâm thần quốc gia của MỹTB: Trung bình
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số khái niệm trong nghiên cứu 3
1.2 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT 8
1.3 Các nghiên cứu về sức khỏe tâm thần trẻ em và trầm cảm, lo âu, stress và các yếu tố liên quan ở học sinh THPT trên thế giới và Việt Nam 10
1.4 Thang đo trầm cảm, lo âu và stress DASS-21 15
1.5 Khung lý thuyết 17
1.6 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 19
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Địa điểm và thời gian tham gia nghiên cứu 20
2.2 Đối tượng nghiên cứu 20
2.3 Thiết kế nghiên cứu 20
2.4 Chọn mẫu và cỡ mẫu 20
2.5 Biến số và chỉ số nghiên cứu 22
2.6 Công cụ và kỹ thuật thu thập thông tin 27
2.7 Xử lý và phân tích số liệu 28
2.8 Sai số và cách khắc phục 28
2.9 Đạo đức nghiên cứu 29
2.10 Hạn chế của nghiên cứu 30
CHƯƠNG 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1 Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 31
3.2 Mô tả thực trạng trầm cảm, lo âu, stress ở đối tượng nghiên cứu 36
3.3 Các yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu, stress ở đối tượng nghiên cứu 39
CHƯƠNG 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 54
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 54
4.2 Tỷ lệ học sinh THPT có biểu hiện trầm cảm, lo âu, stress của học sinh ở THPT Hà Huy Tập, Thành phố Vinh, Nghệ An năm học 2019-2020 54
4.3 Mối liên quan giữa trầm cảm, lo âu và stress của học sinh và một số yếu tố 54
DỰ KIẾN KẾT LUẬN 55 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5Bảng 1.1 Các câu hỏi đánh giá trầm cảm, lo âu, stress theo DASS-21 16
Bảng 1.2 Thang điểm mức độ trầm cảm, lo âu, stress theo DASS-21 16
Bảng 2.1 Số lượng học sinh các khối của trường năm học 2019-2020 21
Bảng 2.2 Biến số và chỉ số nghiên cứu 22
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 31
Bảng 3.2 Đặc điểm chung về yếu tố học tập của đổi tượng nghiên cứu 32
Bảng 3.3 Đặc điểm về yếu tố thuộc về gia đình 33
Bảng 3.4 Đặc điểm thuộc về yếu tố cá nhân của bố mẹ học sinh 34
Bảng 3.5 Đặc điểm về yếu tố bạn bè, nhà trường, xã hội 35
Bảng 3.6 Đặc điểm một số câu hỏi trong thang đo DASS 21 38
Bảng 3.7 Mối liên quan giữa học sinh mắc 1 rối loạn (trầm cảm hoặc lo âu hoặc stress) với một số đặc điểm của học sinh 39
Bảng 3.8 Mối liên quan giữa học sinh mắc 2 rối loạn (trầm cảm, lo âu hoặc trầm cảm, stress hoặc lo âu, stress) với một số đặc điểm của học sinh 44
Bảng 3.9 Mối liên quan giữa học sinh mắc đồng thời cả 3 rối loạn (trầm cảm, lo âu và stress) với một số đặc điểm của học sinh 49
Trang 6Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ học sinh có biểu hiện trầm cảm, lo âu và stress 36
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ học sinh có 2 hoặc cả 3 biểu hiện trầm cảm, lo âu và stress 36
Biểu đồ 3.3 Mức độ trầm cảm, lo âu và stress của đối tượng nghiên cứu 37
Biểu đồ 3.4 Phân loại Trầm cảm, lo âu, stress theo giới 37
Biểu đồ 3.5 Phân loại Trầm cảm, lo âu, stress theo khối 38
Trang 7vệ sức khỏe tâm thần, chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho vị thành niên là thiết yếu trongthời đại này Để có sức khoẻ tốt về mặt thể chất và tinh thần cho lứa tuổi này cầnquan tâm đến nhiều yếu tố trong đó chăm sóc sức khỏe tâm thần cần được chú trọngđặc biệt
Trầm cảm, lo âu, stress là những rối loạn tâm lý dễ gặp phải, đặc biệt đối vớilứa tuổi học sinh Trung học phổ thông (THPT) Đây là giai đoạn trẻ vị thành niên cónhiều thay đổi về tâm sinh lý như nhân cách, tình cảm, và trí tuệ Đặc biệt ở lứa tuổinày, rất dễ bị tổn thương do phải chịu rất nhiều tác động tâm lý từ chính bản thân mình
do sự phát triển của cơ thể, đồng thời cũng chịu nhiều ảnh hưởng tâm lý từ tác độngmôi trường bên ngoài (do áp lực học tập, kỳ vọng quá nhiều ở các bậc phụ huynh, mẫuthuẫn trong quan hệ bạn bè, thói quen không lành mạnh như sử dụng mạng xã hội quánhiều, thức quá khuya, ngủ dậy muộn ) [2]; kết hợp với đặc điểm tâm lý bồng bột,thiếu kinh nghiệm thì nguy cơ bị trầm cảm, lo âu, stress ở đối tượng này lại càng caohơn Các vấn đề này có thể ảnh hưởng xấu đến các chức năng về mặt xã hội của các emnhư công việc học tập, giao tiếp, tuy nhiên có nhiều nguy cơ và bệnh lí có thể phòngngừa và điều trị được Vì vậy, việc chăm sóc sức khỏe cả về thể chất và tinh thần chotrẻ vị thành niên là hết sức cần thiết
Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Samuels và cộng sự (2016) cho thấy cókhoảng 8% đến 21% trẻ em và vị thành niên mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần nóichung và khác nhau theo khu vực sống, giới tính, lứa tuổi và phương pháp nghiêncứu [3] Một khảo sát dịch tễ học về sức khỏe tâm thần ở trẻ em chọn 10/63tỉnh/thành cho thấy tỷ lệ trung bình các vấn đề sức khỏe tâm thần trẻ em là khoảng12%, có nghĩa là sẽ có hơn 3 triệu trẻ em có nhu cầu về các dịch vụ sức khỏe tâm
Trang 8thần, các vấn đề phổ biến là hướng nội (lo âu, trầm cảm, đơn độc) và vấn đề hướngngoại (tăng động, giảm chú ý) [4]
Số lượng trẻ vị thành niên chiếm 16,5% tổng dân số cả nước [5], các nghiêncứu gần đây cho thấy có khoảng từ 10-20% học sinh có vấn đề về sức khỏe tâmthần trong đó tỉ lệ trầm cảm, lo âu, stress trong lứa tuổi học sinh có xu hướng giatăng [6] [7],[8],[9],[10] Theo nghiên cứu 6 trường THPT tại Hà Nội và Ninh Bình(2018) tỷ lệ rối loạn trầm cảm chiếm khoảng 20% một tỷ lệ đáng báo động [11] TạiTHPT Đinh Tiên Hoàng, Hà Nội (2018) stress lên đến 62,7%, trong đó stress nặng
và rất nặng chiếm 18% [12]; Tại các trường THPT thuộc thành phố Huế (2015) chothấy học sinh có biểu hiện trầm cảm, lo âu và stress lần lượt là 51,4%; 59,7%;40,8% [9]; kết quả khảo sát tại 3 trường THPT tại TP Hồ Chí Minh (2018) với
1114 học sinh có kết quả trầm cảm 38,7%, lo âu chiếm 59%, stress chiếm 35,1%[13] Do vậy việc chăm sóc sức khoẻ lứa tuổi học đường đặc biệt đối với học sinhTHPT rất cần có sự quan tâm phối hợp giữa nhà trường, gia đình và ngành y tế mớiđem lại hiệu quả cao nhất cho sự hình thành, phát triển trí tuệ, nhân cách và thể lực.Mặc dù đã có một số nghiên cứu đồng thời cả ba yếu tố trầm cảm, lo âu, stress
ở Việt Nam hiện nay; tuy nhiên mục tiêu nghiên cứu về đối tượng là học sinh THPThiện nay còn rất ít, đặc biệt ở TP Vinh, tỉnh Nghệ An hiện nay chưa thực hiệnnghiên cứu nào Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu
“Thực trạng trầm cảm, lo âu, stress ở học sinh trường trung học phổ thông Hà Huy Tập, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An năm học 2019-2020 và một số yếu tố liên quan” nhằm mục đích cung cấp một cái nhìn tổng thể hơn về vấn đề sức khỏe
tâm thần, tâm lý xã hội ở học sinh THPT tại TP Vinh nói chung, và tại trườngTHPT Hà Huy Tập nói riêng Đó cũng là tiền đề và là cơ sở cho việc đưa ra kếhoạch cụ thể cho việc chăm sóc sức khỏe lứa tuổi học đường đặc biệt ở lứa tuổi họcsinh THPT Nghiên cứu được tiến hành với hai mục tiêu cụ thể như sau:
1 Mô tả tỷ lệ trầm cảm, lo âu và stress ở học sinh trường trung học phổ thông Hà Huy Tập, Thành phố Vinh, Nghệ An năm học 2019-2020.
2 Khảo sát một số yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu và stress của học sinh trường trung học phổ thông Hà Huy Tập, tại thành phố Vinh, Nghệ An năm 2019-2020.
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số khái niệm trong nghiên cứu
1.1.1 Khái niệm chung
Năm 2013, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đưa ra khái niệm sức khỏe tâmthần: “…là trạng thái khỏe mạnh của mỗi cá nhân để họ nhận biết được các khảnăng của bản thân, có thể đương đầu với những căng thẳng thông thường trong cuộcsống, có thể học tập và làm việc một cách hiệu quả và có thể tham gia góp phần vàocác hoạt động của cộng đồng” [1]
1.1.2 Trầm cảm
1.1.2.1 Khái niệm trầm cảm
Trầm cảm là một vấn đề sức khoẻ tâm thần thường gặp, đặc trưng bởi buồnchán, mất hứng thú hoặc niềm vui, cảm giác tội lỗi hay đánh giá thấp giá trị bảnthân, rối loạn giấc ngủ hoặc chán ăn, cảm giác mệt mỏi và kém tập trung [14]
1.1.2.2 Nguyên nhân và yếu tố liên quan của trầm cảm ở lứa tuổi THPT.
- Nguyên nhân của trầm cảm: có thể do các yếu tố di truyền, sinh học, môi
trường và các sang chấn về mặt tâm lý
+ Yếu tố di truyền: 46% các cặp sinh đôi cùng trứng cùng bị trầm cảm, trongkhi ở các cặp sinh đôi khác trứng, tỉ lệ này là 20%
+ Sinh học: Rampello và cộng sự (2000) đã giải thích rằng khí sắc là kết quảcủa sự không cân bằng giữa một số chất dẫn truyền thần kinh, bao gồm serotonin vànorepinephrine, dopamine và acetylcholine Có thể là serotonin đóng vai trò quá lớntrong việc kiểm soát các cơ quan khác nhau của não và sự giảm chất này đã phá vỡhoạt động trong các cơ quan này, dẫn đến trầm cảm
+ Môi trường sống: môi trường sống, văn hóa, kinh tế, xã hội, áp lực làm việc,học tập… ảnh hưởng rất lớn tới tâm lý của một con người Có thể thấy tỷ lệ mắctrầm cảm cao hơn ở những học sinh nghèo, dân tộc thiểu số, có bố mẹ thất nghiệp…
Trang 10vì các em thường xuyên phải đối mặt với những khó khăn, tiêu cực khó giải quyếthoặc khó khăn trong việc hòa nhập với cộng đồng.
+ Sang chấn về mặt tâm lý: những trạng thái cảm xúc tiêu cực tác động lớn tớitâm lý con người như phải nghỉ học giữa chừng, mâu thuẫn gia đình, gia đình phásản hoặc người thân mất đột ngột… là những sang chấn tâm lý nghiêm trọng, để lại
ám ảnh trong một thời gian dài và dễ dẫn đến trầm cảm
- Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm như: giới tính, các hoạt động ngoài
giờ, tiền sử gia đình…Trầm cảm có thể kéo dài hoặc tái phát, gây những hậu quảkhôn lường đối với cá nhân, gia đình và xã hội [15]:
+ Yếu tố cá nhân: không ăn ngủ được bình thường, bị gầy ốm, giảm thể lực và
sự minh mẫn, không tập trung suy nghĩ được do đó học hành kém, kết quả học tậpkém, không lên được lớp, không ứng phó được với khó khăn trong cuộc sống hằngngày Nghiêm trọng nhất là trầm cảm có thể dẫn tới ý tưởng và hành vi tự sát
+ Yếu tố quan hệ gia đình: không vui vẻ, mất hạnh phúc, không yên tâm họctập, bố mẹ không quan tâm dạy dỗ tốt, giảm ý chí cầu tiến
+ Yếu tố liên quan đến học tập: tiếp thu chậm, kém hiệu quả, thiếu tư duy sángtạo, không hòa hợp với bạn bè thầy cô, cãi cọ, gây sự, đánh nhau, giận dỗi
Khi mức độ trầm cảm nhẹ có thể điều trị mà không cần dùng tới thuốc nhưngkhi mức độ trầm cảm vừa hoặc nặng thì cần phải kết hợp giữa điều trị thuốc vàphương pháp tâm lý trị liệu [14]
1.1.3 Lo âu
1.1.3.1 Khái niệm lo âu
Lo âu là một phản ứng bình thường để đối phó với căng thẳng và thực sự cóthể có ích trong một số hoàn cảnh Tuy nhiên, đối với một số người, sự lo lắng cóthể trở thành quá mức gây ra các biểu hiện run, khó thở, tim đập nhanh, vã mồ hôi,cảm giác không thực… Mặc dù những người lo âu có thể nhận ra họ đang lo âu quámức cần thiết cho phép, họ cũng có thể gặp khó khăn trong việc kiểm soát lo âu vàđiều đó có thể ảnh hưởng tiêu cực tới sinh hoạt của họ [16] [17]
Trang 111.1.3.2 Nguyên nhân và yếu tố liên quan của lo âu ở lứa tuổi THPT.
- Nhóm nguyên nhân liên quan đến yếu tố cá nhân: học tập thiếu phươngpháp và kế hoạch chưa hợp lý, cảm giác sợ thua kém bạn bè, cảm giác sợ thất bại;kết quả học tập không tốt, tăng áp lực học tập, thi cử, khối lượng bài tập nhiều [9]…
- Nhóm nguyên nhân liên quan đến yếu tố gia đình: lo lắng về kinh tế giađình, bố mẹ bất hoà hay có xung đột, gia đình có người thân đau ốm…
- Nhóm nguyên nhân liên quan đến yếu tố mối quan hệ bạn bè, nhà trường,
xã hội: mâu thuẫn với thầy cô, bạn bè, người yêu, người lạ trên mạng xã hội
- Một số yếu tố liên quan khác: giới tính, trầm cảm, di truyền [18] [19] [20],stress [21]…
Rối loạn lo âu khác với cảm giác của sự căng thẳng, nếu như không được điềutrị kịp thời rối loạn lo âu có thể dẫn đến các tình huống nghiêm trọng hơn về triệuchứng Rối loạn lo âu sẽ có thể là nguy cơ cao mắc trầm cảm và các bệnh lý nhưtăng huyết áp, tim mạch, mất ngủ…Người bệnh dễ lạm dụng các loại thức uống cócồn và các chất kích thích gây nghiện khác để làm giảm nhẹ các triệu chứng mà họmắc phải Điều này sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sức khoẻ, chất lượng cuộc sống vàkhả năng học tập, làm việc, hoạt động xã hội của chủ thể [17]
1.1.4 Stress
1.1.4.1 Khái niệm stress
Stress là một thuật ngữ bắt nguồn từ chữ La-tinh “Stringi”, có nghĩa là: “bị kéocăng ra” Lúc đầu, thuật ngữ stress được dùng trong vật lý học để chỉ một sức nén
mà vật liệu phải chịu đựng Đến thế kỷ XVII stress từ nghĩa sức ép trên vật liệuđược chuyển sang dùng cho người với nghĩa một sức ép hay một xâm phạm nào đótác động vào con người gây ra một phản ứng căng thẳng Hiện nay stress là mộtthuật ngữ được dùng rộng rãi Tuy nhiên nhiều tác giả sử dụng với những sắc tháikhác nhau
Là nhà Tâm lý học Richard S.Lazarus (1984) đã định nghĩa stress như một quátrình tương giao giữa con người và môi trường, trong đó đương sự nhận định sựkiện từ môi trường là có tính chất đe doạ và có hại, đòi hỏi đương sự phải cố gắng
sử dụng các tiềm năng thích ứng của mình [18]
Trang 12Stress là sự tương tác đặc biệt giữa chủ thể và môi trường sống trong đó chủ
thể nhận thức, đánh giá sự kiện (kích thích) môi trường (có hại, nặng nhẹ, nguyhiểm, hụt hẫng…) nhằm huy động các nguồn lực ứng phó đảm bảo sự cân bằng,thích nghi với môi trường luôn thay đổi
1.1.4.2 Nguyên nhân và các yếu tố liên của stress ở lứa tuổi THPT
- Nguyên nhân stress ở lứa tuổi vị thành niên được chia thành nhóm nguyên
nhân bên trong và bên ngoài [9] [22]
Nguyên nhân bên trong:
+ Đặc điểm cá nhân: độ tuổi, giới tính, những vấn đề về cơ thể, sức khỏe như
ốm đau, bệnh tật, cơ thể mệt mỏi, gầy yếu không đủ chất dinh dưỡng…
+ Đặc điểm tâm lý: cách lứa tuổi tự nhìn nhận, đánh giá chính con ngườimình, cách suy nghĩ về những điều đã và sẽ xảy đến trong tương lai theo một cáchtiêu cực như tương lai sau này sẽ rất mù mịt, bế tắc…
+ Khả năng ứng phó: khi gặp các trường hợp không được thuận lợi, khả năngứng phó và giải quyết sự việc tốt hay không, nhanh hay chậm cũng là nguyên nhângây ra stress cho học sinh
Nguyên nhân bên ngoài [23] [3]:
+ Môi trường xã hội: mâu thuẫn, thiếu sự quan tâm từ bạn bè, mẫu thuẫn từmạng xã hội; vấn đề tình cảm, tình yêu của trẻ vị thành niên; không tham gia cáchoạt động thể thao, vui chơi lành mạnh mà thường xuyên sử dụng mạng xã hội;nhìn nhận sai các vấn đề các thông tin từ mạng xã hội, cũng thường gây ra stress,ngoài ra môi trường sống như bụi, ô nhiễm tiếng ồn, thời tiết, giao thông, dịchbệnh cũng tác động không nhỏ tới học sinh
+ Môi trường gia đình: có thể do tình trạng hôn nhân của bố mẹ không thuậnlợi, bố mẹ thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, điều kiện kinh tế gia đình, không sốngcùng bố mẹ, bố mẹ không quan tâm, bố mẹ thường xuyên trách mắng, việc mất mátngười thân, sống trong sự kỳ vọng quá lớn từ gia đình…
Trang 13+ Môi trường học tập: áp lực học tập, kiểm tra, cảm thấy quá tải về kiến thức ởtrường, đi học thêm quá nhiều, sự cạnh tranh giữa các thành viên trong lớp, thầy côkhiển trách, không quan tâm …
Ở một mức độ nào đó stress là cần thiết cho cuộc sống, nó tạo ra động cơ,thách thức đòi hỏi chúng ta phải huy động các nguồn lực để vượt qua và tiếp tục tồntại, hoàn thiện bản thân hơn Tuy nhiên nếu tình trạng stress diễn ra quá mức sẽ ảnhhưởng chức năng về mặt xã hội như công việc, học tập, giao tiếp; gây giảm khảnăng chống đỡ bệnh tật và tăng nguy cơ mắc bệnh lý tâm thần và thể chất [24]
Ngoài ra theo một số nghiên cứu, stress nhẹ không ảnh hưởng đến học tập của học
sinh nên không phải là bệnh lý [20] [25] [26]
- Các yếu tố liên quan đến stress bao gồm yếu tố nguy cơ và yếu tố bảo vệ như sau:
- Các yếu tố nguy cơ bao gồm [27]
+ Yếu tố học tập: thành tích học tập, các kì thi, sự cạnh tranh giữa các học sinh + Các yếu tố vật lý: nơi ở chật chội, đông đúc, môi trường sống ô nhiễm, tiếng
ồn thường xuyên gây khó chịu…
+ Yếu tố cảm xúc: quan hệ với bạn bè, thầy cô ở trường lớp và ngoài xã hội,chuyện tình cảm…
+ Yếu tố xã hội: kinh tế gia đình, sự hỗ trợ của xã hội, định kiến xã hội…
- Các yếu tố bảo vệ bao gồm [27]
+ Yếu tố bạn bè: tâm sự, chia sẻ, hòa đồng bạn bè, giúp đỡ lẫn nhau…
+ Các hoạt động thể dục, chơi môn thể thao ưa thích, các cách giải trí lànhmạnh, phù hợp với lứa tuổi…
+ Yếu tố vật lý: nơi ở gọn gàng sạch sẽ, môi trường sống trong lành…
+ Phương pháp giảng dạy: đơn giản, dễ hiểu, sinh động, thu hút học sinh…+ Sở thích cá nhân: thời gian hợp lý, lành mạnh
+ Sự hỗ trợ của giảng viên: cần quan tâm, khuyến khích, khen thưởng các em…
Trang 141.2 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT
1.2.1 Khái niệm học sinh THPT
“Học sinh trung học phổ thông” là thuật ngữ để chỉ nhóm học sinh từ 15, 16tuổi đến 17, 18 tuổi Theo tâm lý học lứa tuổi, tuổi thanh niên là “giai đoạn pháttriển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn” Tuổi thanhniên được chia làm 2 giai đoạn (đầu tuổi thanh niên từ 15-18 tuổi; tuổi thanh niên17,18-25 tuổi) Như vậy định nghĩa này đã giới hạn ở hai mặt sinh lý và xã hội.Tuổi thanh niên với đặc trưng là hoàn thiện cơ thể và giải phẫu sinh lý, đa số thanhniên là từ thời kỳ 15,16 tuổi đến 25 tuổi
Lứa tuổi từ 15-18 tuổi phần lớn là đang học THPT từ lớp 10 đến lớp 12 còngọi là đầu tuổi thanh niên (thanh niên mới lớn, thanh niên học sinh, vị thành niên)
Do vậy, xét dưới góc độ tâm lý học sư phạm và tâm lý học lứa tuổi có thể gọi là họcsinh THPT [28] [29]
1.2.2 Đặc điểm phát triển thể chất của học sinh THPT
Đặc điểm cơ bản của học sinh THPT về thể chất là cơ thể đã trải qua giaiđoạn phát triển nhiều biến động như chức năng các tuyến sinh dục, tuyến nội tiếthoạt động mạnh, phát triển về chiều cao, kích cỡ, thể lực Chức năng vận động pháttriển, các em có thêm sức lực, thêm khả năng phối hợp, khả năng chịu đựng Vàphần lớn sự biến đổi đều mang nét đặc thù cho từng giới Mất cân đối đồng thời bắtđầu bước vào giai đoạn phát triển bình thường Cơ thể các em có thể đạt tới mứcphát triển của người trưởng thành
Với sự tăng trưởng nhanh nên nhu cầu năng lượng hàng ngày cao hơn cácgiai đoạn khác Các em cần được cung cấp dinh dưỡng và các chất khoáng đầy đủđối để chống đỡ với bệnh tật và stress…Chế độ ăn không hợp lý có thể sẽ ảnhhưởng bất lợi cho sự phát triển cơ thể, tâm thần và hành vi ứng xử, ở những họcsinh gặp tình trạng suy dinh dưỡng hay béo phì
Thời kỳ trưởng thành về giới tính, đánh dấu sự chấm dứt của thời kỳ khủnghoảng về biến đổi sinh lý để chuyển sang thời kỳ ổn định, cân bằng hơn Ở trên cảcác mặt hoạt động hưng phấn, ức chế của hệ thần kinh cũng như các mặt phát triểncủa thể chất [29] [30] [31]
Trang 151.2.3 Đặc điểm phát triển tâm lý của học sinh THPT
- Sự phát triển của tự ý thức ở lứa tuổi này đã phát triển mức độ cao, có liênquan đến nhu cầu tìm hiều và đánh giá những thuộc tính tâm lý theo quan điểm,mục đích sống, hoài bão Chính điều này, làm cho các em quan tâm sâu sắc tới đờisống tâm lý, phẩm chất, nhân cách và năng lực của mình
Nếu như học sinh trung học cơ sở thường đặt bản thân mình vào hiện tại thìngược lại học sinh THPT lại đặt bản thân mình vào tương lai Vì vậy, các em quantâm nhiều đến cuộc sống sau này, tình yêu, gia đình, nghề nghiệp và lựa chọn bạnđời tương lai [28],[29]
- Sự phát triển thế giới quan học sinh THPT đã có một quá trình tích lũy hệ thốngkiến thức, kỹ năng, hành vi, lối sống …trong nhiều năm, nên đã có khả năng đúc kếtnhững suy nghĩ của mình trong việc nhìn nhận thế giới khách quan Các em tự xây dựngđược một hệ thống quan điểm riêng dựa trên những điều kiện về mặt trí tuệ và xã hộihiện có Tuy nhiên, thế giới quan chưa thể đạt đến mức sâu sắc và bền vững
- Sự phát triển hoạt động nhận thức: Các giác quan phát triển mạnh tri giác cómục đích đạt tới mức rất cao, quan sát có chủ định, có hệ thống và toàn diện hơn.Khả năng tư duy lí luận, tư duy trừu tượng diễn ra một cách độc lập sáng tạo, đồngthời tư duy của các em cũng chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán hơn, tính phêphán cũng phát triển Nhìn chung lứa tuổi THPT có những đặc điểm của ngườitrưởng thành về mặt trí tuệ thông thường đã được hình thành và vẫn còn tiếp tụcphát triển
- Đặc điểm hoạt động giao tiếp: ở lứa tuổi này mang tính chất tập thể, điềuquan trọng đối với các em là được sinh hoạt với những bạn bè cùng trang lứa, cảmthấy mình cần thiết, có uy tín và vị trí nhất định trong nhóm bạn Mối quan hệ giaotiếp được mở rộng cả về phạm vi lẫn chất lượng, đồng thời các em ngày càng đượcthể hiện sự bình đẳng, độc lập trong giao tiếp với người lớn và bạn bè
- Đặc điểm đời sống tình cảm: Tình cảm được nảy sinh trên cơ sở nhận thức
về thế giới quan Các loại tình cảm đạo đức, trí tuệ, thẫm mỹ đều phát triển mạnh.Các em có khả năng chủ định phân tích tình cảm của chính mình, có khả năng kiềm
Trang 16chế cảm xúc Tình bạn sâu sắc, bền chặt, thẳng thắn giúp nhau cùng tiến bộ, đượcxây dựng trên cơ sở của sự hiểu biết lẫn nhau, cùng nhau phấn đấu mục đích chung,cùng hứng thú, sở thích, lí tưởng Một loại tình cảm rất đặc trưng của lứa tuổi này làtình bạn khác giới Tình cảm yêu đương nam nữ là tình cảm đep đẽ, trong sáng cóảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của các em Tình yêu của lứa tuổi này cóthể do sự say mê hoặc sự rung cảm nhưng nó có thể được xuất phát từ tình bạn, sựđồng cảm với hoàn cảnh của nhau và sự hòa hợp trong tâm hồn, sự quý mến, cảmphục đối với nhau… Những biểu hiện của loại tình cảm này, nhìn chung rất phứctạp, không đồng đều [29] [30] [32].
Trong thời kỳ này thường xảy ra sự mất ổn định trong các chức năng của hệgiao cảm – nội tiết, nên thường thấy những rối loạn chức năng của nhiều cơ quan nhưhay hồi hộp, tăng huyết áp, những rối loạn về thần kinh: tính tình thay đổi, dễ lạc quannhưng cũng dễ bi quan hay có những suy nghĩ bồng bột…Giai đoạn này trẻ thường ítbệnh tật hơn cả, tuy nhiên ý định tự tử, hành vi tự tử và các bệnh tâm thần lại xuất hiệnnhiều [32]
1.3 Các nghiên cứu về sức khỏe tâm thần trẻ em và trầm cảm, lo âu, stress và các yếu tố liên quan ở học sinh THPT trên thế giới và Việt Nam.
1.3.1 Nghiên cứu về trầm cảm và các yếu tố liên quan.
Theo một nghiên cứu khảo sát ở Mỹ với những người dân nhập cư của 6 quốcgia Châu Á, tỷ lệ biểu hiện trầm cảm ở các mức độ nhẹ (30,9%), vừa và nặng(9,6%) Trong đó tỷ lệ người Việt Nam sống tại Mỹ có trầm cảm nhẹ lên đến 60%gấp đôi trung bình của cả 6 nước, tuy nhiên trầm cảm vừa và nặng thấp hơn chiếm4% [33]
Tại Đức, nghiên cứu của tác giả Strydom và cộng sự về trầm cảm và lo âu ởhọc sinh lớp 11 và 12 tại các trường trung tâm thành phố Bloemfontein năm 2012
đã đưa ra kết quả có 23,8% học sinh 12 mắc trầm cảm (theo thang đo HADS) [34]
Ở Australia thì tỷ lệ trầm cảm cao hơn một số nước khác trên thế giới (20-30% dânsố), trong đó có 3-4% là trầm cảm vừa và nặng Ở một số nước Châu Á như TrungQuốc, theo tác giả ChenR., tỷ lệ trầm cảm ở người già trên 60 tuổi ở khu vực nôngthôn là 6%, ở khu vực thủ đô là 3,6% [35]
Trang 17Một nghiên cứu của Anita Thapar & cộng sự chỉ ra rằng trầm cảm đơn cực ởtrẻ vị thành niên là phổ biến trên toàn thế giới Trầm cảm ở tuổi vị thành niên cóliên quan với tỷ lệ mắc bệnh trong tương lai, và làm tăng nguy cơ tự tử [36].
Ở Việt Nam, trong hơn một thập kỷ gần đây vấn đề sức khỏe tâm thần nóichung và trầm cảm nói riêng được đề cập đến nhiều hơn, các nhà nghiên cứu quantâm hơn, và cũng đã có nhiều nghiên cứu khác nhau về dịch tễ học trầm cảm trongcộng đồng
Theo Nguyễn Văn Siêm (2010) nghiên cứu tại xã Quất Động, Thường Tín, HàNội cho thấy tỷ lệ mắc trầm cảm ở nhóm từ 15 tuổi trở lên là 8,35% Tỷ lệ bệnh nhânnữ/nam là 5/1 Tỷ lệ mới mắc là 0,48%; đa số bệnh nhân (94,24%) mắc bệnh trên 1năm, (70,3%) mắc trên 4 năm Tính chất tiến triễn mạn tính rõ rệt (93.6% là trầm cảmtái diễn) Các yếu tố tâm lý – xã hội theo thứ tự tăng dần: sống độc thân, ly thân, góabụa, stress cường độ mạnh, đông con, stress trung bình, bệnh cơ thể [37]
Theo nghiên cứu của tác giả Trần Quỳnh Anh trên 450 sinh viên hệ Y học dựphòng trường Đại học Y Hà Nội bằng thang CES-D điểm cắt là 16 cho thấy tỷ lệ trầmcảm là 38,9% [38] Nghiên cứu của Lê Thành Trung về thực trạng stress, trầm cảm, lo
âu và các yếu tố liên quan của sinh viên cử nhân trường Đại học Y tế công cộng năm
2017 cho thấy tỷ lệ có biểu hiện trầm cảm là 35% (thang đo DASS-21) [39]
Tác giả Thái Thanh Trúc & cộng sự (2018) tiến hành nghiên cứu trên 1114 họcsinh 03 THPT tại thành phố Hồ Chí Minh sử dụng thang đo DASS-21 cho thấy có38,7% học sinh có các biểu hiện trầm cảm [13] Một nghiên năm 2019 trên 341 họcsinh THPT Nguyễn Thị Minh Khai, Hà Nội theo thang đo PHQ-9 cho thấy có 33,7%biểu hiện trầm cảm (mức độ nhẹ 60%; mức độ vừa 32,2%; mức độ nặng 7,8%) [40] Hơn một nửa bệnh nhân trầm cảm nhập viện bị tái diễn ít nhất 1-2 lần mỗinăm; nếu không được điều trị, số lần xuất hiện của bệnh cũng như độ nặng của cáctriệu chứng có khuynh hướng tăng dần theo thời gian Tỉ lệ tự sát nghiêm trọng:trầm cảm chiếm 2/3 số trường hợp chết do tự sát Chi phí chăm sóc trầm cảm rất lớn
và ngày càng tăng Về gánh nặng bệnh, trầm cảm xếp hàng thứ 5 ở nữ và 7 ở nam(World Bank, 1990); lo âu và trầm cảm xếp thứ nhất ở cả nam và nữ trưởng thành
Trang 18trên thế giới từ 15 - 34 tuổi (WHO, 2012) Trầm cảm sẽ trở thành nguyên nhân gâymất sức lao động đứng hàng thứ 2 trên thế giới vào năm 2020.
Theo nghiên cứu N.V Hùng và H.T.T Ngân (2017) về mối tương quan giữalạm dụng internet với trầm cảm, lo âu, stress ở 634 học sinh THPT tại Huế kết quảcho thấy có 71,8% học sinh nghiện internet mức độ nhẹ; 13,5% mức độ vừa vànặng Nghiên cứu đã xác định có mối liên quan giữa mức độ nghiện Internet vớimức độ trầm cảm (B=2,914; 95%CI: 1,829-3,999; p<0,001); lo âu (B=3,021;95%CI: 1,963-4,078; p<0,001); stress (B=3,363; 95% CI: 1,963-4,078; p<0,001).Tác giả kết luận rằng những học sinh nghiện Internet ở mức độ càng cao thì có nguy
cơ mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần càng lớn
1.3.2 Nghiên cứu về lo âu và các yếu tố liên quan.
Nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện và đưa ra những số liệu cảnh báocho chính phủ cũng như người dân, đặc biệt là những nghiên cứu về rối loạn lo âucho trẻ dưới 18 tuổi [41] [42] [16] Theo thống kê của Viện sức khỏe tâm thần Quốcgia (NIMH) có 31,9% dân số Mỹ từ 13-18 tuổi trở lên mắc các rối loạn lo âu caohơn so với người lớn từ 18 tuổi (19,1%) và trong đó có 8,3% ở mức độ nghiêmtrọng theo tiêu chí DMS-IV; rối loạn lo âu ở nữ (38,0%) cao hơn nam (26,1%) [41].Trong một điều tra phúc lợi trẻ em ở Canada, Lil Tonmyr và các cộng sự cho biết,trong số 4.381 trẻ em từ 10 đến 15 tuổi thì có 25% các em có vấn đề về lo âu, trầmcảm, trong đó nguyên nhân tiếp xúc với bạo lực gia đình là nguyên nhân ảnh hưởngđến biểu hiện lo âu nhiều nhất (11%), sau đó mới đến các nguyên nhân khác [42].Một nghiên cứu của Toscos, T & cộng sự trên 2.789 thanh thiếu niên Mỹ (2019)cho thấy 30,58% và 22,91% có các triệu chứng lo âu và trầm cảm từ vừa đếnnặng trong 2 tuần qua; 16,24% có ý định tự tử trong năm qua [43]
Vấn đề lo âu ở học sinh THPT là do: học tập, bạn bè, hình ảnh bản thân hiệntại và tương lai, tình yêu đôi lứa và gia đình Ở Việt Nam, theo nghiên cứu tại cáctrường THPT thuộc thành phố Huế (2014) Nguyễn Văn Thanh rối loạn lo âu chiếm37,2%; theo N.T.N.Hòa (2015) cho thấy học sinh lo âu 59,7% [9]; TP Hồ Chí Minh(2018) lo âu chiếm 59% [13]
Trang 19Tác giả Nguyễn Thị Hằng Phương (2009) nghiên cứu trên 600 học sinh THPT
ở Quảng Bình cho biết có 130 học sinh có biểu hiện lo âu Và một trong bốn nhómnguyên nhân ảnh hưởng tới rối loạn lo âu của các em là nguyên nhân gia đình: bạolực gia đình là yếu tố ảnh hưởng đến rối loạn lo âu nhiều thứ hai, chỉ xếp sau yếu tố
lo lắng về kinh tế gia đình
1.3.3 Nghiên cứu về stress và các yếu tố liên quan.
Trên thế giới, các nghiên cứu về stress học đường rất đa dạng, tập trung vàonhiều khía cạnh và lĩnh vực từ thống kê mô tả các biểu hiện của stress, tìm hiểunguyên nhân, tìm hiểu phong cách ứng phó, cho đến những liên quan của stress họcđường với các sự kiện cuộc sống hay sức khỏe tâm thần Tại Ấn Độ, nghiên cứu
830 học sinh THPT Impal (2017) cho thấy tỷ lệ học sinh biểu hiện trầm cảm, lo âu,stress chiếm tỷ lệ 19,5%, 24,4% và 21,1% và có tới 34,7% mắc cả ba rối loạn [22].Nghiên cứu của Saikia, A M & cộng sự (2019) cho thấy có mối liên quan giữanghiên mạng Internet (chủ yếu là mạng xã hội) và lo âu (OR=3,3), trầm cảm(OR=14) và stress (OR=12) [44].Nghiên cứu của tác giả Najarian, L R và cộng sự(2014) tại Mỹ cho thấy không có mối liên quan giữa giới tính của học sinh và tỷ lệmắc stress (p>0,05) [22] Tuy nhiên tác giả Leonard, N R & cộng sự (2015) chỉ ra
có sự liên quan giữa giới tính và stress [45]
Sức khỏe tâm thần là một phần quan trọng trong sức khỏe tổng thể của thế hệtrẻ Ở Việt Nam, nhiều nghiên cứu về sức khỏe tâm thần chỉ ra rằng stress là mộttrong những biểu hiện thường gặp của các vấn đề sức khỏe tâm thần ở lứa tuổi họcsinh THPT [3] [19] Tại Hà Nội, theo nghiên cứu của T.T.H Vân (2014) tại mộttrường THPT ở thành phố đưa ra tỷ lệ học sinh có biểu hiện stress là 46,1%, trong
đó stress mức độ vừa chiếm tỷ lệ cao nhất 20,1%; mức độ nhẹ 18,9%; thấp nhấtmức độ rất nặng 2,5% [3] Tại THPT Đinh Tiên Hoàng, Hà Nội (2018) học sinhmắc stress lên đến 62,7%, trong đó stress nặng và rất nặng chiếm 18%; theo giớitính tỷ lệ học sinh nữ stress rất nặng là 6,4%, gấp gần 2 lần học sinh nam; theo khốihọc thì khối 12 mắc stress rất nặng cao nhất; yếu tố liên quan học sinh cho rằngnguyên nhân cơ bản dẫn đến stress do kết quả học tập không như mong muốn với tỷ
lệ cao nhất 49,7%; ngoài ra để ứng phó với stress học sinh lựa chọn nhiều nhất “làm
Trang 20những công việc theo sở thích để giải tỏa căng thẳng”, và có tới 41,8% học sinh
“không làm gì, tự chịu đựng” [12] Tại TP Hồ Chí Minh (2018) theo nghiên cứuThái Thanh Trúc & cộng sự stress chiếm 35,1% [13]
Tại TP Huế, nghiên cứu của Nguyễn Văn Thanh (2014) cho kết quả 39,8%học sinh có stress [19]; nghiên cứu của N.T.Nhật Hòa (2015) ở học sinh lớp 12 biểuhiện stress 40,8% trong đó mức độ vừa chiếm 14%, mức độ nhẹ chiếm 8,9%, thấpnhất là rất nặng chiếm 4,2% [9] Theo nghiên cứu của Đ.V.D Khánh (2018) trên
420 học sinh THPT theo thang đo DASS-42 biểu hiện stress chiếm 57,2%, stresstheo các mức độ nhẹ, vừa, nặng, rất nặng lần lượt là 17,9%; 29,5%; 7,6%; 2,2%.Các yếu tố liên quan đến tình trạng stress của học sinh bao gồm tình trạng hôn nhâncủa bố mẹ không thuận lợi, cảm nhận về thời gian tự học quá nhiều, mức độ áp lựchọc tập, mức độ khiển trách của giáo viên, mức độ bị bạn bè trêu chọc, sỉ nhục(p<0,05) [46]
Tại Đà Nẵng, theo kết quả thống kê sơ bộ của dự án nghiên cứu stress thanhthiếu niên được khảo sát qua mạng và phỏng vấn gián tiếp do Bệnh viện Tâm thần
Đà Nẵng (2014) ở 03 trường THPT trên địa bàn thành phố, có 20% học sinh nam bịrối loạn tâm lý, 10% ở nữ giới Nguyên nhân khiến học sinh mắc chứng bệnh nàychủ yếu là áp lực học tập Gần 58% học sinh được khảo sát cho biết bị bố mẹ lamắng, khiển trách vì không học tốt tại trường, hơn 59% học sinh nói kết quả học tậpkhông như ý muốn [7]
Theo nghiên cứu của Ngô Thị Trang khi phân tích một số yếu tố liên quan đếnstress tâm lý ở học sinh THPT ở Thái Nguyên cho thấy các yếu tố như tình trạng hônnhân của bố mẹ không thuận lợi, bố mẹ mâu thuẫn thường xuyên, bị bố mẹ trách mắngthường xuyên là những yếu tố liên quan đến stress ở học sinh (p<0,05) Ngoài ra cácyếu tố liên quan đến học tập và trường học như học thêm ở ngoài, cảm thấy quá tải vớilượng kiến thức ở trường, quá nhiều bải tập, áp lực thi cử và thiếu sự quan tâm của bạn
bè là có liên quan đến stress ở học sinh (p<0,05) Các yếu tố về giới tính, dân tiich vàkhối học không liên quan đến stress (p>0,05) [23]
Trang 211.4 Thang đo trầm cảm, lo âu và stress DASS-21
Thang đo tự đánh giá về trầm cảm, lo âu, stress trên đối tượng vị thành niên vàngười trưởng thành được phát triển bởi Livibond S.H and Livibond P.E (1995) -Depression Anxiety Stress Scales (DASS) [47] [48] Ngày nay, DASS được sửdụng ngày càng nhiều trong chẩn đoán sàng lọc các vấn đề về sức khỏe tâm thần tạicộng đồng, đặc biệt là có thể dành cho đối tượng thanh thiếu niên (học sinh, sinhviên…) [49]
Hiện nay thang đo DASS có 2 phiên bản: phiên bản gốc gồm 42 câu hỏi(DASS-42) và phiên bản rút ngắn 21 câu hỏi (DASS-21) Chúng tôi sử dụng thang
đo 21 câu 21 trong nghiên cứu này, vì thang đo 21 ngắn hơn
DASS-42, trong khi độ tin cậy và giá trị của 2 phiên bản là như nhau Giá trị và độ tin cậycủa thang đo DASS-21 cũng đã được chứng minh trong các nghiên cứu gần đây củatác giả Nguyễn Văn Hùng [50] [51]
Ngoài ra có nhiều thang đo khác để đánh giá về sức khỏe tâm thần như thang
đo đánh giá stress PSS (Perceived Stress Scales), thang đánh giá trầm cảm CES-D(The Centre for Epidemiological studies- Depression Scale), thang đo lo âu ZUNG,thang tự đánh giá trầm cảm của Beck (Beck Depression Inventory) Việc sử dụngthang đo DASS sẽ rất hữu ích khi đo lường tình trạng hiện tại cũng như biến đổitheo thời gian của cả 3 tình trạng trầm cảm, lo âu và stress Việc phân biệt được 3tình trạng liên quan này giúp các nhà nghiên cứu nhận định được tính chất, nguyênnhân và cơ chế của các rối loạn SKTT Bên cạnh đó, thang đo DASS thích hợp đểsàng lọc ở người bình thường và có thể được sử dụng bởi các bác sĩ không thuộcchuyên khoa tâm thần
Thang đo DASS-21 (Depression Anxiety Stress Scales) là công cụ được cácnhà nghiên cứu tâm lý sử dụng phổ biến trên thế giới [31] [32] và các nghiên cứu ởViệt Nam [25] [26] để đo lường sự tự nhận thức về trầm cảm, lo âu và stress
Thang đo này gồm có 21 câu, nhằm đo lường mức độ trầm cảm, lo âu và stress
mà chủ thể nhận thấy về cuộc sống của họ trong 2 tuần vừa qua Thang đo đượcchia làm 3 phần mỗi phần 7 câu để hỏi tương ứng với các khía cạnh trầm cảm, lo âu,
Trang 22stress Mỗi câu sử dụng thang điểm Likert 4 mức độ từ 0-3 với thang đo được mãhóa “Điều này tôi hoàn toàn không gặp phải” (0), “Đúng với tôi một phần nào đóhay đôi khi gặp phải” (1), “Tôi thường xuyên hoặc nhiều lần gặp phải” (2), “Rấtthường xảy ra với tôi hay hầu hết lúc nào cũng gặp” (3).
Bảng 1.1 Các câu hỏi đánh giá trầm cảm, lo âu, stress theo DASS-21
Bảng 1.2 Thang điểm mức độ trầm cảm, lo âu, stress theo DASS-21
- Đánh giá độ tin cậy của thang đo DASS-21
Thang đo DASS 21 có hệ số Cronbach’s alpha của Trầm cảm, Lo âu và Stresslần lượt là 0.81, 0.75 và 0.78 Điều này đảm bảo tính nhất quán của thang đo khi hệ
số Cronbach’s alpha > 0.7 Phân tích đường cong ROC (Receiver OperatingCharacteristic) cho thấy độ nhạy (Se) và độ đặc hiệu (Sp) của trầm cảm lần lượt là0.68 và 0.68, độ nhạy và độ đặc hiệu của lo âu lần lượt là 1.0 và 0.69 [50] [51]
Trang 24TRẦM CẢM,
LO ÂU, STRESS Ở HS THPT
Yếu tố thuộc về gia đình:
- Điều kiện kinh tế gia đình, gia đình đông con, ít con, con thứ mấy
- Không sống cùng bố mẹ
- Bố mẹ không quan tâm, bố mẹthường xuyên trách mắng, đánh mắng
- Sống trong sự kỳ vọng quá lớn từ gia đình
- Mẫu thuẫn trong gia đình
- Việc mất mát người thân
Yếu tố bạn bè
- Không có bạn thân để tâm sự, chia sẻ, giúp đỡ nhau
- Cảm giác sợ thua kém bạn bè, cảm giác sợ thất bại
- Mâu thuẫn bạn bè, bị bạn bè trêu chọc, bắt nạt, đánh mắng
- Chứng kiến bạn bè bị trêu chọc, bắt nạt, đánh mắng
- Đánh nhau với bạn bè
Yếu tố nhà trường, xã hội
- Thầy cô khiển trách, không quan tâm
- Kế hoạch học tập, thi cử chưa hợp lý gây áp lực học tập cho học sinh
- Các hoạt động thể thao, ngoại khóa không thu hút được học sinh
- Mâu thuẩn qua giao tiếp, thu nhận thông tin, bạo lực từ mạng xã hội và các mối quan hệ ngoài xã hội
- Môi trường sống bụi, ô nhiễm, dịch bệnh, giao thông, tai nạn…
- Thiếu sự hỗ trợ từ xã hội, định kiến của xã hội
Yếu tố thuộc về đối tượng
nghiên cứu:
- Độ tuổi
- Giới tính
- Vấn đề về thay đổi tâm lý,
tình cảm, tình yêu lứa tuổi vị
YẾU TỐ CÁ NHÂN
YẾU TỐ BẠN BÈ, NHÀ TRƯỜNG, XÃ HỘI
lượng bài tập nhiều
- Học thêm quá nhiều
Yếu tố cá nhân của bố mẹ
- Trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân
Trang 251.6 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
Thành phố Vinh là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh Nghệ
An Cách thủ đô Hà Nội 295 km về phía Bắc, cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.424
km về phía Nam Toàn thành phố có 16 phường, dân số đến năm 2018 là 545.180người Tổng diện tích đất tự nhiên: 104.5 km2 Trên địa bàn thành phố Vinh hiện có
05 trường THPT công lập bao gồm: 02 trường chuyên THPT Phan Bội Châu vàkhối chuyên Đại học Vinh, 03 trường THPT Huỳnh Thúc Kháng (Vinh 1), THPT
Hà Huy Tập (Vinh 2), THPT Lê Viết Thuật (Vinh 3)
Trường THPT Hà Huy Tập được thành lập từ những năm 1975 và có truyềnthống hiếu học Đầu năm học 2013-2014, tập thể giáo viên và học sinh trườngTHPT Hà Huy Tập vui mừng và vinh dự là một trong 3 đơn vị đầu tiên được đónnhận giấy chứng nhận chất lượng giáo dục cấp độ 3 của Giám đốc Sở GD&ĐTNghệ An Là trường công lập với điểm xét tuyển đầu vào lớp 10 đứng thứ 2 thànhphố Vinh Vào năm học 2019-2020 nhà trường có tổng số học sinh là 1.667 em,toàn trường có 39 lớp trong đó mỗi khối 10, 11, 12 gồm có 13 lớp
Cùng với sự phát triển của xã hội thì nhà trường và gia đình luôn đòi hỏi hơnnữa sự tiến bộ của thể hệ trẻ trong học tập và phát triển bản thân Việc chăm sóc sứckhỏe nói chung và sức khỏe tâm thần nói riêng đang được quan tâm gần đây Hiệntại nhà trường đã và đang thực hiện theo chăm sóc y tế học đường theo Thông tưliên tịch số 13 của Bộ Y tế và Bộ Giáo dục trong đó có cả vấn đề chăm sóc sức khỏetâm thần, tư vấn tâm lý cho các em học sinh [52] Tuy nhiên, hiện nay chưa cónghiên cứu nào liên quan đến vấn đề sức khỏe tâm thần được thực hiện ở trườngTHPT Hà Huy Tập, TP Vinh, Nghệ An Nghiên cứu và tìm hiểu mối liên quan củatrầm cảm, lo âu, stress có thể giúp tư vấn cho học sinh, phụ huynh, nhà trường tổchức hoạt động, lập kế hoạch giáo dục cho con em mình một cách phù hợp để giúpcác em phát triển tốt và toàn diện hơn
Trang 26CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian tham gia nghiên cứu
- Địa điểm: Trường THPT Hà Huy Tập, TP Vinh, Nghệ An
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 10 năm 2019 đến tháng 10 năm 2020
- Thời gian thu thập số liệu: dự kiến tháng 5-6/2020
2.2 Đối tượng nghiên cứu
- Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu:
+ Học sinh đang học ở tại trường THPT Hà Huy Tập bao gồm: lớp 10, 11, 12.+ Học sinh có giấy xác nhận đồng ý tham gia nghiên cứu từ phụ huynh hoặc người giám hộ
- Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu:
+ Học sinh từ chối tham gia nghiên cứu
+ Học sinh đã được xác định có mắc bệnh tâm thần hoặc thiểu năng trí tuệ.+ Học sinh không có mặt trong khoảng thời gian thu thập số liệu nghiên cứunhư: nghỉ học, nghỉ ốm, …
+ Học sinh tự nguyện tham gia nhưng không hợp tác trong quá trình nghiên cứu
2.3 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
+ Z1-α/2: hệ số giới hạn tin cậy (với α = 0,05, Z1-α/2 = 1,96)
+ n: cỡ mẫu nghiên cứu
+ d: sai số mong muốn, chọn d = 0,045
Trang 27+ p: Lần lượt thay giá trị p tương ứng với các tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress ởđối tượng học sinh THPT địa bàn TP Hồ Chí Minh tại nghiên cứu của Thái ThanhTrúc năm 2018 [13]
p= 0,387 là tỷ lệ trầm cảm ở học sinh
p= 0,59 là tỷ lệ lo âu ở học sinh
p= 0,351 là tỷ lệ stress của học sinh
Áp dụng công thức trên, chúng tôi tính được cỡ mẫu lớn nhất khi thay các
giá trị p nói trên là 459 học sinh Chúng tôi dự kiến thu thập trên 500 học sinh.
2.4.2 Chọn mẫu:
Sử dụng phương pháp chọn mẫu tỷ lệ nhiều giai đoạn
- Giai đoạn 1: Phân tầng theo khối học gồm 3 khối 10, 11 và 12
- Giai đoạn 2: Tiến hành chọn mẫu theo tỷ lệ với kích thước mỗi tầng
Bảng 2.1 Số lượng học sinh các khối của trường năm học 2019-2020
+ Khối 11: 38%, tương đương 190 học sinh (khoảng 4 lớp)
+ Khối 12: 29%, tương đương 145 học sinh (khoảng 4 lớp)
Trang 282.5 Biến số và chỉ số nghiên cứu
Bảng 2.2 Biến số và chỉ số nghiên cứu
Phần 1: Thông tin chung:
ST
1.1 Yếu tố cá nhân
1 Khối/lớp - Học sinh học lớp 10, 11, 12 Thứ hạng
8 Trung bình thời gian tự học/học kèm ở nhà/học
thêm mỗi ngày
- 2 giờ/ngày trở lên
- Dưới 2 giờ/ ngày
9 Mục tiêu sau khi học xong cấp 3
11 Hài lòng với điểm thi/kếtquả học tập - Có/Không Nhị phân
12 Nghỉ dịch cảm thấy
- Cảm giác bị cô lập, chán nản ở nhà quá lâu
- Cảm thấy nhớ bạn bè, thầy cô, trường học
- Cảm thấy lo lắng với lượng kiến thức phải học bù, và khó theo kịp
- Cảm thấy căng thẳng, lo lắng vì dịch bệnh
- Khác
Phân loại
13 Khó khăn khi Học onlinetrong kỳ nghỉ dịch - Có/Không Nhị phân
14 Lý do gây khó khăn khi - Khó/Không tiếp thu kiến thức Phân loại
Trang 29học online
- Khó tập trung khi học online ở nhà
- Mệt mỏi, căng thẳng vì ngồi lâu trước máy tính, điện thoại để học
- Đường truyển internet không tốt
- Phương pháp dạy online của thầy cô không phù hợp
- Không có sự tương tác với bạn bè, hỗtrợ trực tiếp từ giáo viên trong 1 vài trường hợp
- Khác
1.2 Yếu tố gia đình
16 Tình trạng hôn nhân của bố mẹ - Sống cùng nhau- Không sống cùng nhau Phân loại
17 Điều kiện kinh tế gia đình HS - Nghèo/cận nghèo- Bình thường
20 Trình độ học vấn của Mẹ Cấp học cao nhất của mẹ HS đã hoàn
Trang 30- Đại học/ Sau đại học
22 Số anh, chị, em trong giađình Số con trong gia đình của HS Rời rạc
23 Con thứ HS là con thứ mấy trong nhà Thứ hạng
24 Mọi người trong gia đìnhyêu mến HS - Có/Không Nhị phân25
26 Bị ép học đến mức không chịu được - Có/Không Nhị phân
27 Gia đình xảy ra mẫu thuẫn - Có/Không Nhị phân
28 Có người thân ốm nặng/mất (chết) - Có/Không Nhị phân
29 Gia đình bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh
- Kinh tế gia đình sụt giảm
1.3 Yếu tố bạn bè, nhà trường, xã hội
30 Số bạn thân Số lượng bạn thân của học sinh Rời rạc
31 Mẫu thuẫn bạn bè 1 nămqua - Có/Không Nhị phân
32 Mức độ bị thầy cô khiển
trách - Không bao giờ- Hiếm khi
- Thỉnh thoảng
Thứ hạng
Trang 31- Thường xuyên
33 Thích thú khi đến trường - Có/Không Nhị phân
34 Bị trêu chọc, bắt nạt, đánh, mắng - Có/Không Nhị phân
40 Nghỉ dịch ở nhà thường xuyên liên lạc bạn bè - Có/Không Nhị phân
41 Nghỉ dịch ở nhà muốn quay lại trường để gặp
43 Được nghe về thông tin
Trang 32Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng trầm cảm, lo âu, stress (Theo thang đo DASS21)
Mục tiêu 2: Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu và stress ở học sinh
THPT
Trang 3355 Các yếu tố cá nhân của đối tượng nghiên cứu
56 Các yếu tố gia đình của đối tượng nghiên cứu
57 Các yếu tố bạn bè, nhà trường, xã hội của đối tượng
nghiên cứu
2.6 Công cụ và kỹ thuật thu thập thông tin
2.6.1 Công cụ thu thập số liệu
Thông tin được thu thập bằng phương pháp phát phiếu tự điền khuyết danh(không ghi họ và tên học sinh) với bộ câu hỏi thiết kế sẵn
Bộ câu hỏi sử dụng để thu thập số liệu gồm 3 phần:
- Phần 1: Câu hỏi về thông tin chung bao gồm: yếu tố cá nhân, yếu tố giađình, yếu tố bạn bè, nhà trường, xã hội
- Phần 2: Thang đánh giá trầm cảm, lo âu, stress DASS21
- Phần 3: Cách ứng phó trước các vấn đề tâm lý
2.6.2 Kỹ thuật thu thập số liệu:
Bước 1: Chọn 03 điều tra viên (ĐTV) được tập huấn kỹ về kỹ năng, nội dungcông việc
Bước 2: Liên hệ Ban giám hiệu nhà trường để xin xác nhận sự đồng ý và hợp tác.Sau đó liên hệ Hội trưởng phụ huynh giới thiệu mục tiêu nghiên cứu và xin xác nhận
Bước 3: Liên hệ giáo viên chủ nhiệm của 1 lớp, giới thiệu mục tiêu nghiêncứu và tiến hành điều tra thử 10 học sinh nhằm kiểm tra tính logic, phù hợp của bộcâu hỏi trước khi chính thức thu thập số liệu nghiên cứu
Bước 4: Sau khi điều tra thử xong thì thống nhất kế hoạch ngày tiến hành thuthập số liệu với Nhà trường và chọn ngẫu nhiên các lớp tham gia nghiên cứu Liên hệgiáo viên chủ nhiệm các lớp được chọn giới thiệu nội dung nghiên cứu, nhờ giáo viên
Trang 34gửi và thu lại phiếu xác nhận đồng ý tham gia nghiên cứu cho phụ huynh/người chămsóc học sinh ở các lớp được chọn.
Bước 5: Chọn ngày điều tra vào cuối tuần, tại các tiết sinh hoạt ngoại khóa,sinh hoạt lớp của các em để tránh ảnh hưởng đến việc học tập ĐTV giới thiệu nộidung nghiên cứu, tầm quan trọng về giá trị của những thông tin mà học sinh cungcấp ĐTV hướng dẫn cụ thể cách thức, nội dung bộ câu hỏi để học sinh có thể hoànthành phiếu một cách đầy đủ và chính xác nhất (sau khi nhận được sự đồng ý củahọc sinh và có giấy xác nhận của phụ huynh/người chăm sóc) Phát phiếu điều tracho các em, 03 ĐTV sẽ điều tra cùng 1 lớp để giám sát quá trình điền phiếu, giảithích trực tiếp những nội dung mà đối tượng thắc mắc
Bước 6: ĐTV và nghiên cứu viên tiến hành kiểm tra thông tin trong phiếu đãđầy đủ chưa và cho học sinh bổ sung ngay tại chỗ nếu còn thiếu và không phù hợp
2.7 Xử lý và phân tích số liệu
Số liệu được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1, số liệu sau khi nhập đượckiểm tra, làm sạch, loại bỏ các giá trị không phù hợp
Số liệu sau khi làm sạch được phân tích và xử lý bằng các thuật toán thống
kê y học trên phần mềm STATA 14 So sánh kết quả các biến được mô tả theo testthống kê cơ bản để mô tả số lượng và tỷ lệ (%) Phân tích mối liên quan của trầmcảm, lo âu, stress và một số yếu tố bằng test kiểm định và hồi quy đa biến logistic
cụ thể như sau:
- Mô tả tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress: kết quả trình bày dưới dạng sử dụng tần
số, tỉ lệ % để mô tả các biến số nghiên cứu
- Phân tích mối liên quan: Kiểm định test χ2, OR, 95% CI, hồi quy logisticđược sử dụng để xác định các yếu tố liên quan tới việc trầm cảm, lo âu, stress.Biến phụ thuộc là học sinh mắc rối loạn trầm cảm, lo âu, stress (có/không), biếnđộc lập là các yếu tố cá nhân, yếu tố gia đình, yếu tố bạn bè nhà trường xã hội củahọc sinh
2.8 Sai số và cách khắc phục
- Sai số thông tin:
Trang 35+ Sai số do điều tra viên: ĐTV chưa giải thích rõ ràng cụ thể nội dung trongphiếu câu hỏi tự điền cho đối tượng
+ Sai số do người trả lời phỏng vấn: sai số tự khai báo, sai số nhớ lại
+ Sai số trong quá trình nhập liệu
- Cách khắc phục sai số thông tin
+ Tập huấn kĩ cho các ĐTV: huấn luyện kỹ ĐTV về hướng dẫn đúng bộ câuhỏi tự điền Sau mỗi buổi điều tra, nghiên cứu viên chính thu lại phiếu, kiểm trathông tin
+ Đối với sai số do đối tượng trả lời: Giải thích rõ cho đối tượng những chỗcần lưu ý và khi đối tượng thắc mắc về caau hỏi nào thì giải thích cho các em hiểungay tại thời điểm điền phiếu
+ Đối với sai số trong quá trình thu thập số liệu: Giám sát, có sự hỗ trợ củagiáo viên để đảm bảo sự trật tự của lớp và học sinh điền phiếu một cách nghiêm túchơn Sau đó kiểm tra phiếu ngay khi nhận lại từ học sinh nếu phiếu nào thiếu thôngtin cần đưa lại cho học sinh phiếu đó để điền các thông tin còn thiếu hoặc sai sót sẽsửa lại ngay tại lớp
+ Đối với sai số trong quá trình làm sạch số liệu và nhập liệu: Đọc phiếu vàlàm sạch trước khi nhập liệu Tạo các tệp check của phần mềm nhập liệu nhằm hạnchế sai số trong quá trình nhập liệu
+ Làm sạch các số liệu bị thiếu và số liệu vô lý trước khi phân tích
2.9 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu sẽ được thông qua Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu củaTrường Đại học Y Hà Nội trước khi tiến hành nghiên cứu
Nghiên cứu sẽ được đồng ý của ban giám hiệu trường THPT Hà Huy Tập,được sự cho phép của Hội phụ huynh nhà trường và được sự cho phép phụ huynhhoặc người giám hộ học sinh
Đối tượng nghiên cứu sẽ được giải thích rõ về mục đích nghiên cứu và kí vàobản “thỏa thuận đồng ý tham gia nghiên cứu” trước khi trả lời câu hỏi
Trang 36Trong bộ câu hỏi sẽ không phải điền họ và tên của học sinh (khuyết danh), đểđảm bảo không ảnh hưởng đến cuộc sống cá nhân của các em và mọi thông tinnghiên cứu hoàn toàn được bảo mật Các thông tin thu thập chỉ phục vụ cho học tập
và nghiên cứu chứ không vì mục đích nào khác
Trong trường hợp các em mắc rối loạn ở mức độ khác nhau và cần nhận được
sự hỗ trợ về tâm lý sẽ tư vấn và giới thiệu một số đơn vị, trung tâm có thể giúp đỡcho các em (phụ lục 3)
2.10 Hạn chế của nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng thang đo trầm cảm, lo âu và stress áp dụng trên nghiêncứu cộng đồng nên kết quả chỉ mang tính chất sàng lọc, không mang tính chẩn đoánxác định
Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi tự điền nên thông tin thu thập phụ thuộc vàotrình độ hiểu biết cũng như sự hợp tác của người trả lời
Một số biến số nghiên cứu thu thập thông tin phụ thuộc vào tính chủ quan củangười được nghiên cứu
Thời gian tiến hành thu thập số liệu có thể gây nhiễu thông tin nghiên cứu: tỷ
lệ học sinh có biểu hiện trầm cảm, lo âu và stress vào thời điểm đầu năm học sẽkhác thời điểm giữa học kỳ, cuối học kỳ I hay cuối năm học
Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang vì vậy mốiquan hệ nhân quả là khó xác định, một số yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu,stress không đưa vào trong nghiên cứu này như: yếu tố di truyền trong gia đình, tìnhtrạng bệnh tật hiện nay…
Trang 37CHƯƠNG 3
DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu.
3.1.1 Thông tin chung về yếu tố cá nhân
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Tần suất chơi thể thao trong 1 năm qua
Không bao giờHiếm khiThỉnh thoảngThường xuyên
Thừa cân/Béo phì (BMI)
Trang 38Bảng 3.2 Đặc điểm chung về yếu tố học tập của đổi tượng nghiên cứu
Đặc điểm Số lượng (n) Tỷ lệ (%) Học lực HKI
Cảm giác bị cô lập, chán nản ở nhà quá lâu
Cảm thấy nhớ bạn bè, thầy cô, trường học
Cảm thấy lo lắng với lượng kiến thức phải học bù, và khó theo kịp
Lý do gây khó khăn khi học online
Khó/Không tiếp thu kiến thức
Khó tập trung khi học online ở nhà
Mệt mỏi, căng thẳng vì ngồi lâu trước máy tính, điện thoại để học
Đường truyển internet không tốt
Phương pháp dạy online của thầy cô không phù hợp
Không có sự tương tác với bạn bè, hỗ trợ trực tiếp từ giáo viên
Khác
Nhận xét:
Trang 393.1.2 Thông tin chung về yếu tố gia đình
Bảng 3.3 Đặc điểm về yếu tố thuộc về gia đình
Gia đình bị ảnh hưởng bởi dịch Covid
Kinh tế gia đình sụt giảm
Bố/mẹ bị mất việc
Gia đình có người liên quan và phải đi cách ly tập trung do dịch bệnh
Gia đình xảy ra mâu thuẫn trong thời gian ở nhà nghỉ dịch
Khác
Nhận xét:
Trang 40Bảng 3.4 Đặc điểm thuộc về yếu tố cá nhân của bố mẹ học sinh