1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

THỰC TRẠNG MẮC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC CỦA PHỤ NỮ MẠI DÂM Ở ĐỒ SƠN, CÁT BÀ HẢI PHÕNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN NĂM 2014

55 464 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 0,96 MB
File đính kèm Bệnh truyền theo đường tình dục.rar (837 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh lây truyền qua đường tình dục (STIs) là bệnh do vi khuẩn, vi rút, nấm, kísinh trùng, đơn bào và các nguyên nhân khác gây nên, chủ yếu lây truyền từ ngườinày sang người khác qua quan hệ tình dục (QHTD) không được bảo vệ 29. Hiệncó hơn 30 loại vi khuẩn, virus và ký sinh trùng lây truyền qua đường tình dục gâySTIs khác nhau. Trong đó, những STIs phổ biến nhất là giang mai, trùng roiTrichomonas Vaginalis, nấm Candida, Chlamydia, hạ cam, herpes sinh dục, sùi màogà, và đặc biệt là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIVAIDS)29.Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm trên thế giới, ướctính có khoảng 500 triệu người trưởng thành mắc một trong 4 STIs: giang mai, lậu,trùng roi Trichomonas vaginalis và Chlamydia 30. Số người mắc STIs ngày cànggia tăng. Năm 2008, ở khu vực Đông Nam Á, trong tổng số 945,2 triệu ngườitrưởng thành trong độ tuổi từ 15 đến 49, ước tính có khoảng 78,5 triệu người mớimắc 4 STIs phổ biến (Chlamydia, giang mai, lậu và trùng roi), tăng hơn 8,5 triệungười so với năm 2005 27. Tại Việt Nam, mỗi năm, Viện Da liễu Quốc gia nhậnđược trên 150.000 trường hợp báo cáo mắc STIs, riêng năm 2006 là 202.856 trườnghợp. Tuy nhiên, theo ước tính của các chuyên gia thì hàng năm có xấp xỉ gần 1 triệutrường hợp mới mắc 4.Phụ nữ mại dâm (PNMD) là một trong những quần thể có nguy cơ cao mắcSTIs do QHTD với nhiều đối tượng và có thể trở thành nguồn lây nhiễm ra cộngđồng thông qua QHTD không an toàn và khả năng di biến động thường xuyên. TạiCampuchia, nghiên cứu của Heng Sopheab và cộng sự (2005) cho thấy tỉ lệ PNMDmắc ít nhất một trong STIs là 24,4% 20. Kết quả nghiên cứu trên PNMD tại Làonăm 2010 cho thấy có 86,7% đối tượng báo cáo là có triệu chứng của STIs trongvòng 3 tháng qua 21. Tại Việt Nam, kết quả Chương trình Giám sát kết hợp hànhvi và các chỉ số sinh học HIVSTIs (IBBS) năm 20052006 cho thấy, tỉ lệ mắc STIstrong nhóm PNMD khá cao. Kết quả điều tra tại 7 tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, QuảngNinh, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh, Cần Thơ, An Giang cho thấy, có từ 26,3% đến444,8% PNMD báo cáo có triệu chứng STIs và có từ 16,3% đến 21,3% PNMD báocáo có đau loét sùi ở bộ phận sinh dục trong 12 tháng trước điều tra 1.Quận Đồ Sơn và huyện đảo Cát Bà, Hải Phòng là hai địa bàn du lịch nổi tiếngtại Việt Nam với lượng khách qua lại rất đông đúc (theo thống kê của Tổng cục Dulịch, trong năm 2014, lượng khách du lịch tới Đồ Sơn là 2,3 triệu lượt, tới Cát Bà là1,5 triệu lượt khách). Đây cũng là nơi tập trung lượng lớn các PNMD hoạt độngdưới nhiều hình thức. Mại dâm vẫn tồn tại cho dù bị luật pháp Việt Nam nghiêmcấm. Bên cạnh các hoạt động phòng chống mại dâm, các tổ chứccơ quan cũng tậptrung vào các hoạt động can thiệp giảm hại cho nhóm đối tượng này, trong đó cóphòng và điều trị STIs.Năm 2014, UNFPA kết hợp với MOLISA triển khai một chương trình canthiệp tại Đồ Sơn với mục tiêu tăng khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc SKSSphòng HIV cho nhóm PNMD. Để cung cấp các chỉ số ban đầu cho chương trình cancan thiệp cũng như làm cơ sở cho đánh giá kết quả của can thiệp, một nghiên cứu đãđược triển khai trên nhóm PNMD tại các cơ sở khách sạn, nhà hàng tại Đồ Sơn vàCát Bà, Hải Phòng 10. Dựa trên bộ số liệu của nghiên cứu ban đầu, báo cáo nàynhằm trả lời các câu hỏi: (1) Thực trạng mắc bệnh lây truyền qua đường tình dụccủa phụ nữ mại dâm tại các cơ sở khách sạn, nhà hàng tại Đồ Sơn và Cát Bà, HảiPhòng năm 2014 ra sao? (2) Những yếu tố nào liên quan đến mắc bệnh lây truyềnqua đường tình dục của những phụ nữ mại dâm này? Kết quả báo cáo sẽ cung cấpthêm thông tin về thực trạng mắc STIs ở nhóm PNMD và làm tiền đề cho cácnghiên cứu hay những can thiệp thích hợp khác trong tương lai.5MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU1. Mô tả thực trạng mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục của phụ nữ mại dâmtại Đồ Sơn và Cát Bà, Hải Phòng năm 2014.2. Xác định một số yếu tố liên quan đến mắc bệnh lây truyền qua đường tình dụccủa phụ nữ mại dâm tại Đồ Sơn và Cát Bà, Hải Phòng năm 2014.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN BẢO NGỌC

THỰC TRẠNG MẮC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC CỦA PHỤ NỮ MẠI DÂM Ở ĐỒ SƠN, CÁT BÀ- HẢI PHÕNG VÀ MỘT

SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN NĂM 2014

KHÓA LUẬN TỐT NGHỆP CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG

HÀ NỘI, 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN BẢO NGỌC

THỰC TRẠNG MẮC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC CỦA PHỤ NỮ MẠI DÂM Ở ĐỒ SƠN, CÁT BÀ- HẢI PHÕNG VÀ MỘT

SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN NĂM 2014

KHÓA LUẬN TỐT NGHỆP CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG

Hướng dẫn khoa học: TS Bùi Thị Tú Quyên

HÀ NỘI, 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận tốt nghiệp là tâm huyết, đánh dấu chặng đường dài phấn đấu, nỗ lực học tập và nghiên cứu tại trường đại học của mỗi sinh viên Trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp, được sự tạo điều kiện thuận lợi của Nhà trường, sự chỉ bảo tận tình của giảng viên hướng dẫn, em đã có một quá trình nghiên cứu, tìm hiểu

và học tập nghiêm túc để hoàn thành đề tài phân tích số liệu thứ cấp “Thực trạng mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục của phụ nữ mại dâm ở Đồ Sơn, Cát Bà – Hải Phòng và một số yếu tố liên quan năm 2014”

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Bùi Thị Tú Quyên là đại diện nhóm nghiên cứu và giảng viên hướng dẫn, đã đồng ý cho em sử dụng bộ số liệu của nghiên cứu ban đầu, đồng thời, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và góp ý cho em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô giáo trong Bộ môn Dịch tễ - Thống kê nói riêng và trong trường Đại học Y tế công cộng nói chung đã hết lòng truyền đạt kiến thức cho em trong những năm tháng học tập tại trường Trong quá trình thực hiện khóa luận không thể tránh khỏi sơ suất, em rất mong nhận được sự góp ý, nhận xét của quý thầy cô để khóa luận được hoàn thiện hơn! Sau cùng, em xin kính chúc quý thầy cô giáo dồi dào sức khỏe, hạnh phúc, ngày càng thành công trong sự nghiệp để tiếp tục dẫn dắt những thế hệ sinh viên Đại học Y tế công cộng kế tiếp!

Em xin trân trọng cảm ơn!

Sinh viên

Nguyễn Bảo Ngọc

Trang 4

MỤC LỤC

TÓM TẮT BÁO CÁO 1

ĐẶT VẤN ĐỀ 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Thời gian tiến hành đề tài phân tích số liệu thứ cấp 16

2.2 Đối tượng nghiên cứu 16

2.3 Thiết kế nghiên cứu 16

2.4 Mẫu nghiên cứu 16

2.5 Trình tự tiếp cận nghiên cứu/bộ số liệu 16

2.6 Phương pháp quản lý, phân tích số liệu 16

2.8 Khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 20

2.9 Sai số có thể gặp phải trong nghiên cứu 20

2.10 Vấn đề đạo đức nghiên cứu 20

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 21

3.2 Thực trạng mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục của phụ nữ mại dâm tại Đồ Sơn và Cát Bà, Hải Phòng năm 2014 23

3.3 Một số yếu tố liên quan đến thực trạng mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục của phụ nữ mại dâm tại Đồ Sơn và Cát Bà, Hải Phòng năm 2014 25

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 31

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 37

PHỤ LỤC 43

Phụ lục 1: Giấy xin phép sử dụng bộ số liệu 43

Phụ lục 2: Bộ câu hỏi sử dụng trong phân tích số liệu thứ cấp 44

Phụ lục 3: Các biến số được mã hóa lại trong quá trình phân tích đa biến 48

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Các biến số của nghiên cứu gốc được chọn sử dụng trong phân tích số liệu thứ cấp 18 Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 21 Bảng 3.2 Phân bố tỉ lệ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục của PNMD trong

12 tháng qua theo một số yếu tố dân số học 24 Bảng 3.3 Mối liên quan giữa một số đặc điểm dân số học của PNMD với mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục trong 12 tháng qua 25 Bảng 3.4 Mối liên quan giữa một số đặc điểm nghề nghiệp của PNMD đến mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục trong 12 tháng qua 26 Bảng 3.5 Mối liên quan giữa số lượng bệnh lây truyền qua đường tình dục mà PNMD biết tên với mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục trong 12 tháng qua 27 Bảng 3.6 Mối liên quan giữa sử dụng bao cao su, nạo phá thai với mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục của PNMD trong 12 tháng qua 27 Bảng 3.7 Mô hình hồi quy đa biến logistic một số yếu tố liên quan đến mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục của PNMD trong 12 tháng qua 29

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Tỉ lệ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục của PNMD trong 12 tháng qua 23 Biểu đồ 3.2 Tỉ lệ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục của PNMD trong 12 tháng qua theo thời điểm gần nhất mắc bệnh 24

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AIDS Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người do

nhiễm HIV

HIV Virus gây hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở

Trang 7

TÓM TẮT BÁO CÁO

Bệnh lây truyền qua đường tình dục (STIs) vẫn đang là vấn đề được nhiều quốc gia quan tâm, trong đó có Việt Nam Một trong những nhóm đối tượng có nguy cơ cao bị nhiễm và lây truyền STIs ra ngoài cộng đồng là phụ nữ mại dâm Các hoạt động can thiệp giảm hại cho nhóm đối tượng này trong đó có phòng và điều trị STIs đã và đang được các tổ chức/cơ quan tập trung, chú trọng

Năm 2014, Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) kết hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (MOLISA) có triển khai một chương trình can thiệp tại Đồ Sơn với mục tiêu tăng khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản/phòng HIV cho nhóm phụ nữ mại dâm Để cung cấp các chỉ số ban đầu cho chương trình can thiệp cũng như làm cơ sở cho đánh giá kết quả can thiệp, một nghiên cứu đã được triển khai trên nhóm phụ nữ mại dâm tại các cơ sở khách sạn, nhà hàng tại quận Đồ Sơn và huyện đảo Cát Bà, Hải Phòng

Dựa trên bộ số liệu của nghiên cứu ban đầu, báo cáo phân tích số liệu thứ cấp với thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích đã được tiến hành, sử dụng mẫu gồm toàn bộ 492 phụ nữ mại dâm tham gia vào nghiên cứu gốc Báo cáo này

nhằm trả lời các câu hỏi: (1) Thực trạng mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục của phụ nữ mại dâm tại các cơ sở khách sạn, nhà hàng tại Đồ Sơn và Cát Bà, Hải Phòng năm 2014 ra sao? (2) Những yếu tố nào liên quan đến mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục của những phụ nữ mại dâm này? Trong quá trình phân tích,

thống kê mô tả đã được sử dụng để mô tả thông tin chung về đối tượng tham gia nghiên cứu và thực trạng mắc STIs Thống kê suy luận với các kiểm định hợp lý (Khi bình phương, Kiểm định chính xác Fisher) và mô hình hồi quy đa biến logistic

đã được sử dụng để xác định mối liên quan đơn biến và đa biến của một số yếu tố với thực trạng mắc STIs trong 12 tháng qua của phụ nữ mại dâm tại Đồ Sơn và Cát

Bà, Hải Phòng

Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong tổng số 492 phụ nữ mại dâm, tỉ lệ đối tượng mắc STIs trong 12 tháng qua là 25,4%, trong đó, 41,3% cho biết mắc STIs

Trang 8

trong vòng 1 tháng qua Tỉ lệ phụ nữ mại dâm báo cáo có vết loét hoặc đau/sần bộ phận sinh dục trong 12 tháng qua là 10,4% Một số yếu tố được tìm thấy có mối liên quan với mắc STIs là thu nhập trung bình/tháng, số lượng STIs mà phụ nữ mại dâm biết tên và nạo phá thai/hút điều hòa kinh nguyệt trong 12 tháng qua (p<0,05) Những phụ nữ mại dâm có thu nhập trung bình trên 6 triệu/tháng có khả năng mắc STIs cao gấp 2,1 lần những phụ nữ mại dâm có thu nhập trung bình <=6 triệu/tháng Những phụ nữ mại dâm biết từ 5 STIs trở lên có khả năng mắc STIs cao gấp 1,7 lần những phụ nữ mại dâm biết ít hơn 5 STIs Những phụ nữ mại dâm có nạo phá thai/hút điều hòa kinh nguyệt trong 12 tháng qua có khả năng mắc STIs cao gấp 3,1 lần những phụ nữ mại dâm không nạo phá thai/hút điều hòa kinh nguyệt trong 12 tháng qua Không tìm thấy mối liên quan giữa một số yếu tố khác như số lượng khách trung bình/ngày, tần suất sử dụng bao cao su trong tháng qua với mắc STIs (p>0,05)

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh lây truyền qua đường tình dục (STIs) là bệnh do vi khuẩn, vi rút, nấm, kí

sinh trùng, đơn bào và các nguyên nhân khác gây nên, chủ yếu lây truyền từ người này sang người khác qua quan hệ tình dục (QHTD) không được bảo vệ [29] Hiện

có hơn 30 loại vi khuẩn, virus và ký sinh trùng lây truyền qua đường tình dục gây STIs khác nhau Trong đó, những STIs phổ biến nhất là giang mai, trùng roi Trichomonas Vaginalis, nấm Candida, Chlamydia, hạ cam, herpes sinh dục, sùi mào

gà, và đặc biệt là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) [29]

Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm trên thế giới, ước tính có khoảng 500 triệu người trưởng thành mắc một trong 4 STIs: giang mai, lậu, trùng roi Trichomonas vaginalis và Chlamydia [30] Số người mắc STIs ngày càng gia tăng Năm 2008, ở khu vực Đông Nam Á, trong tổng số 945,2 triệu người trưởng thành trong độ tuổi từ 15 đến 49, ước tính có khoảng 78,5 triệu người mới mắc 4 STIs phổ biến (Chlamydia, giang mai, lậu và trùng roi), tăng hơn 8,5 triệu người so với năm 2005 [27] Tại Việt Nam, mỗi năm, Viện Da liễu Quốc gia nhận được trên 150.000 trường hợp báo cáo mắc STIs, riêng năm 2006 là 202.856 trường hợp Tuy nhiên, theo ước tính của các chuyên gia thì hàng năm có xấp xỉ gần 1 triệu trường hợp mới mắc [4]

Phụ nữ mại dâm (PNMD) là một trong những quần thể có nguy cơ cao mắc STIs do QHTD với nhiều đối tượng và có thể trở thành nguồn lây nhiễm ra cộng đồng thông qua QHTD không an toàn và khả năng di biến động thường xuyên Tại Campuchia, nghiên cứu của Heng Sopheab và cộng sự (2005) cho thấy tỉ lệ PNMD mắc ít nhất một trong STIs là 24,4% [20] Kết quả nghiên cứu trên PNMD tại Lào năm 2010 cho thấy có 86,7% đối tượng báo cáo là có triệu chứng của STIs trong vòng 3 tháng qua [21] Tại Việt Nam, kết quả Chương trình Giám sát kết hợp hành

vi và các chỉ số sinh học HIV/STIs (IBBS) năm 2005-2006 cho thấy, tỉ lệ mắc STIs trong nhóm PNMD khá cao Kết quả điều tra tại 7 tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh, Cần Thơ, An Giang cho thấy, có từ 26,3% đến

Trang 10

44,8% PNMD báo cáo có triệu chứng STIs và có từ 16,3% đến 21,3% PNMD báo cáo có đau loét sùi ở bộ phận sinh dục trong 12 tháng trước điều tra [1]

Quận Đồ Sơn và huyện đảo Cát Bà, Hải Phòng là hai địa bàn du lịch nổi tiếng tại Việt Nam với lượng khách qua lại rất đông đúc (theo thống kê của Tổng cục Du lịch, trong năm 2014, lượng khách du lịch tới Đồ Sơn là 2,3 triệu lượt, tới Cát Bà là 1,5 triệu lượt khách) Đây cũng là nơi tập trung lượng lớn các PNMD hoạt động dưới nhiều hình thức Mại dâm vẫn tồn tại cho dù bị luật pháp Việt Nam nghiêm cấm Bên cạnh các hoạt động phòng chống mại dâm, các tổ chức/cơ quan cũng tập trung vào các hoạt động can thiệp giảm hại cho nhóm đối tượng này, trong đó có phòng và điều trị STIs

Năm 2014, UNFPA kết hợp với MOLISA triển khai một chương trình can thiệp tại Đồ Sơn với mục tiêu tăng khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc SKSS/ phòng HIV cho nhóm PNMD Để cung cấp các chỉ số ban đầu cho chương trình can can thiệp cũng như làm cơ sở cho đánh giá kết quả của can thiệp, một nghiên cứu đã được triển khai trên nhóm PNMD tại các cơ sở khách sạn, nhà hàng tại Đồ Sơn và Cát Bà, Hải Phòng [10] Dựa trên bộ số liệu của nghiên cứu ban đầu, báo cáo này

nhằm trả lời các câu hỏi: (1) Thực trạng mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục của phụ nữ mại dâm tại các cơ sở khách sạn, nhà hàng tại Đồ Sơn và Cát Bà, Hải Phòng năm 2014 ra sao? (2) Những yếu tố nào liên quan đến mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục của những phụ nữ mại dâm này? Kết quả báo cáo sẽ cung cấp

thêm thông tin về thực trạng mắc STIs ở nhóm PNMD và làm tiền đề cho các nghiên cứu hay những can thiệp thích hợp khác trong tương lai

Trang 11

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục của phụ nữ mại dâm tại Đồ Sơn và Cát Bà, Hải Phòng năm 2014

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục của phụ nữ mại dâm tại Đồ Sơn và Cát Bà, Hải Phòng năm 2014

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái niệm bệnh lây truyền qua đường tình dục

Bệnh lây truyền qua đường tình dục (STIs) là bệnh do vi khuẩn, vi rút, nấm, kí

sinh trùng, đơn bào và các nguyên nhân khác gây nên, chủ yếu lây truyền từ người này sang người khác qua quan hệ tình dục không được bảo vệ [29] Hiện có hơn 30 loại vi khuẩn, virus và ký sinh trùng lây truyền qua đường tình dục gây bệnh khác nhau Trong đó, những bệnh phổ biến nhất là giang mai, lậu, trùng roi Trichomonas Vaginalis, nấm Candida, Chlamydia, hạ cam, herpes sinh dục, sùi mào gà, và đặc biệt là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) [29]

1.2 Tình hình mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục nói chung

Theo thống kê của WHO, năm 2005, ước tính tổng số trường hợp mắc STIs trên thế giới là hơn 448 triệu trường hợp, với khoảng gần 204,7 triệu phụ nữ và 243,5 triệu nam giới [28] Mới đây nhất, tính đến năm 2013, WHO ước tính có khoảng 500 triệu người trưởng thành mắc một trong 4 STIs: giang mai, lậu, trùng roi Trichomonas vaginalis và Chlamydia mỗi năm trên thế giới, trong đó, khoảng 105,7 triệu trường hợp mắc Chlamydia, 106,1 triệu trường hợp mắc lậu, 10,6 triệu trường hợp mắc giang mai và 276 triệu trường hợp mắc trùng roi Tricomonas Vaginalis Có hơn 530 triệu người có virus gây herpes sinh dục [30]

Năm 2008, ở khu vực Đông Nam Á, trong tổng số 945,2 triệu người trưởng thành trong độ tuổi từ 15 đến 49, ước tính có khoảng 78,5 triệu người mới mắc 4 STIs phổ biến (Chlamydia, giang mai, lậu và trùng roi), tăng hơn 8,5 triệu người so với năm 2005 Trong đó, tỉ lệ mới mắc Chlamydia, giang mai, lậu và trùng roi âm đạo ở phụ nữ lần lượt là 9,2%; 3,2%; 16,2% và 40,3% [27]

Tại Việt Nam, số bệnh nhân mắc STIs theo báo cáo mà Viện Da liễu Quốc gia nhận được từ các cơ sở y tế công lập là trên 150.000 trường hợp mỗi năm, riêng năm 2006 là 202.856 trường hợp Tuy nhiên, theo ước tính của các chuyên gia thì hàng năm có xấp xỉ gần 1 triệu trường hợp mới mắc [4] Nguyên nhân làm số báo cáo thấp hơn số thực tế là do các cơ sở y tế công khám STIs không báo cáo đầy đủ,

Trang 13

và nhiều bệnh nhân còn đến khám tại các cơ sở y tế khác như bác sỹ tư, dược sỹ tư nhân Năm 2003, Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) cùng Viện Da liễu quốc gia tiến hành một cuộc điều tra về tỉ lệ lưu hành HIV/STIs của các nhóm quần thể dân cư khác nhau tại 5 tỉnh của Việt Nam Tỉ lệ mắc giang mai (cả giai đoạn sớm và muộn) là khoảng 4,5% trong nhóm bệnh nhân đến khám tại phòng khám STIs, PNMD và khoảng 0,5% trong nhóm khám tuyển nghĩa vụ quân sự và phụ nữ có thai Trong nhóm phụ nữ có thai, tỉ lệ mắc Chlamydia từ 1,5% đến 5,8% [4]

1.3 Tình hình mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục của phụ nữ mại dâm

PNMD là một trong những quần thể có nguy cơ cao nhiễm STIs Trên thế giới nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá thực trạng mắc STIs trong nhóm đối tượng này

Năm 2000-2002, một nghiên cứu cắt ngang tại 6 thành phố Argentina trên 625 PNMD cho thấy, giang mai là bệnh thường gặp nhất với tỉ lệ mắc là 10,2%, tiếp theo là viêm niệu đạo (3,4%) và lậu (3,2%) [22] Nghiên cứu của Rusch và cộng sự tại Tijuana, Mexico năm 2010 cho kết quả, tỉ lệ mắc STIs của PNMD là 36,4% [24] Năm 2011, nghiên cứu tại Agadir, Nam Morocco trên 372 PNMD cho thấy, tỉ lệ nhiễm STIs trong nhóm PNMD tại Agadir đã tăng đáng kể so với kết quả thu được trong một nghiên cứu tiến hành năm 2007 với 13,8% bị nhiễm giang mai và 11,6% phụ nữ nhiễm trùng roi âm đạo Tricomonas Vaginalis [13] Nghiên cứu của Bea Vuylsteke và cộng sự tiến hành năm 2007 và 2009 trên 1110 PNMD ở các thành phố khác nhau tại Bờ Biển Ngà cho thấy tỉ lệ đối tượng mắc một trong hai bệnh lậu

và Chlamydia cao (9,1%) [15]

Tại Ấn Độ, một nghiên cứu tiến hành tại khu vực “đèn đỏ” Surat năm 2000 cho kết quả, tỉ lệ PNMD mắc giang mai là 22,7%, tỉ lệ mắc lậu là 16,9%, có 14,4% mắc bệnh trùng roi và 8,5% đối tượng nhiễm Chlamydia sinh dục[19] A.Singh và cộng sự tiến hành nghiên cứu tại khu vực “đèn đỏ” lớn nhất Mumbai – Kamathipura

từ năm 2002 đến 2010 trên 19458 đối tượng PNMD Tỉ lệ trường hợp phát hiện

Trang 14

nhiễm giang mai là 4,4%, tỉ lệ nhiễm Tricmonas là 1,7%, tỉ lệ nhiễm nấm Candida

là 2,7%, tỉ lệ mắc STIs khác là 11,4% [25]

Một nghiên cứu tổng quan thực trạng mắc HIV/STIs trên PNMD dựa trên số liệu từ 1996 đến 2010 ở Trung Quốc cho kết quả tỉ lệ mắc STIs trong nhóm PNMD rất cao, cụ thể, trung bình tỉ lệ mắc herpes là 56,2%, tỉ lệ mắc Chlamydia là 25,7%,

tỉ lệ mắc lậu là 16,4%, tỉ lệ mắc giang mai là 6,9%, [23] Kết quả nghiên cứu cắt ngang trên 505 PNMD tại Côn Minh, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc năm 2005 cũng cho thấy tỉ lệ mắc STIs cao tương tự, phổ biến nhất là Chlamydia (58,6%), tiếp theo

là trùng roi Trichomonas vaginalis (43,2%) và lậu (37,8%), tỉ lệ mắc giang mai là 9,5% [18] Nghiên cứu khác trên PNMD tại Quảng Đông năm 2010 cho thấy, tỉ lệ mắc STIs nói chung là 19,7%, trong đó, tỉ lệ đối tượng mắc lậu, giang mai và Chlamydia lần lượt là 9,5%, 8,0% và 3,9% [33]

Tại Campuchia, trong nghiên cứu của Heng Sopheab và cộng sự (2005), tỉ lệ PNMD mắc ít nhất một STI là 24,4%, tỉ lệ mắc lậu là 13%, có 14% đối tượng mắc Chlamydia và 2% nhiễm giang mai [20] Kết quả nghiên cứu trên PNMD tại Lào năm 2010 cho thấy có 86,7% đối tượng báo cáo là có triệu chứng của STIs trong vòng 3 tháng qua [21]

Tại Việt Nam, kết quả Chương trình Giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STIs (IBBS) năm 2005-2006 cho thấy, tỉ lệ mắc STIs trong nhóm PNMD khá cao Trên 7 tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh, Cần Thơ, An Giang có từ 26,2% đến 44,8% PNMD báo cáo có triệu chứng tiết dịch niệu đạo và có 16,3% đến 21,3% báo cáo có đau loét sùi ở bộ phận sinh dục trong 12 tháng trước điều tra [1] Tỉ lệ nhiễm giang mai trong nhóm PNMD nhà hàng và đường phố ở Tp.Hồ Chí Minh lần lượt là 7,3% và 9,1%, tại Cần Thơ là 1,0% và 5,6%, tại An Giang là 5,5% và 5,8% Tỉ lệ nhiễm Chlamydia ở PNMD tại nhà hàng và đường phố lần lượt là 8,5% và 17,5% tại Hà Nội và 6,4% và 14,2% tại thành phố Hồ Chí Minh [1] Đến năm 2009, Chương trình Giám sát kết hợp hành vi

và các chỉ số sinh học IBBS vòng II cho thấy, tỉ lệ hiện nhiễm STIs có xu hướng giảm trong cả hai nhóm PNMD đường phố và nhà hàng tại Hà Nội; tỉ lệ nhiễm

Trang 15

Chlamydia có xu hướng tăng trong nhóm PNMD đường phố ở Hồ Chí Minh (10% năm 2009 so với 6% năm 2006) Tỷ lệ nhiễm lậu và giang mai ở mức thấp [2] Tại Hải Phòng, trong IBBS II, tỉ lệ PNMD đường phố tự báo cáo có triệu chứng chảy

mủ, dịch niệu đạo trong 12 tháng qua là 30,7%, tỉ lệ có triệu chứng đau, loét, sùi bộ phận sinh dục trong 12 tháng qua là 18,7% Tỉ lệ PNMD nhà hàng tự báo cáo có triệu chứng chảy mủ, dịch niệu đạo trong 12 tháng qua là 22,8%, tỉ lệ có triệu chứng đau, loét, sùi bộ phận sinh dục trong 12 tháng qua là 7,7% [1], [2] Tại Huế, nghiên cứu của Nguyễn Văn Quý (2005) trên 100 PNMD cho tỉ lệ mắc STIs là 66% [9] Nghiên cứu cắt ngang của Lý Văn Sơn và cộng sự (2008) tiến hành trên 665 PNMD tại các cơ sở dịch vụ giải trí Thành phố Huế cho thấy tỷ lệ 47,7% đối tượng nghiên cứu mắc STIs; trong đó, 31,9% nhiễm nấm Candida sinh dục; 30,6% mắc lậu cầu; 27,1% viêm âm đạo vi khuẩn; 8,8% trùng roi sinh dục; 8,2% mắc Chlamydia; 3,5% mắc Herpes sinh dục; 2,8% giang mai và 0,9% sùi mào gà [11] Tại Đà Nẵng, nghiên cứu năm 2005 trên 201 nữ nhân viên cơ sở vật lý trị liệu tại quận Hải Châu,

Đà Nẵng cho tỉ lệ mắc STIs là 27,9% [12] Tại Nha Trang, Khánh Hòa, năm 2005,

tỉ lệ PNMD tự báo cáo có biểu hiện STIs trong 12 tháng qua là 66,7% (theo Trần Thị Tuyết Mai và cộng sự) [6] Nghiên cứu của Bùi Thị Mậu tiến hành trên nhóm đối tượng PNMD tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục – Lao động Xã hội tỉnh Hòa Bình năm 2009 cho kết quả, trong 162 PNMD được khám và xét nghiệm, có 67% mắc STIs Viêm âm đạo và viêm cổ tử cung chiếm tỉ lệ cao, lần lượt là 85,8% và 58% STIs gặp nhiều nhất ở PNMD tham gia nghiên cứu này là lậu (24,1%), kế tiếp

là nấm candida (16,7%), chlamydia (9,9%), sùi mào gà (7,4%), herpes sinh dục (4,9%), trùng roi tricomonas (3,7%), giang mai (1,9%) [7]

1.4 Một số yếu tố liên quan đến mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục của phụ nữ mại dâm

 Tuổi

Tuổi là một trong những yếu tố được tìm thấy là có mối liên quan với mắc STIs ở PNMD trong một số nghiên cứu Trong nghiên cứu của Maria A Pando và cộng sự tại Argentina, những PNMD cao tuổi có nguy cơ mắc giang mai cao hơn so

Trang 16

với những PNMD trẻ hơn với CI 95% OR là 2,6-4,9 [22] Tại Surat, Ấn Độ, tỉ lệ mắc STIs ở nhóm trên 25 tuổi cao hơn so với nhóm <=25 tuổi (45,8 so với 42,5%) [19] Nghiên cứu tại Quảng Châu, Trung Quốc lại cho thấy, nhóm PNMD dưới 21 tuổi có nguy cơ mắc Chlamydia cao gấp 2 lần so với nhóm PNMD trên 30 tuổi (CI 95% OR là 1,2-3,4) [31] Tại Việt Nam, trong nghiên cứu của Bùi Thị Mậu năm

2009 [7], tỉ lệ PNMD mắc STIs cao đáng kể trong nhóm PNMD trẻ (dưới 30 tuổi)

so với nhóm từ 30 tuổi trở lên (70,7% so với 48,3%, p=0,02) Một nghiên cứu khác tại Hải Phòng, tiến hành trên một số nhóm người có nguy cơ cao với STIs trong đó

có PNMD cho thấy nhóm tuổi trên 40 là nhóm tuổi có tỉ lệ mắc giang mai cao nhất

là 5%; nhóm tuổi từ 30-39 có tỉ lệ mắc giang mai thấp nhất 0,2% Tỉ lệ mắc lậu có

xu hướng tăng dần theo độ tuổi, từ 2% ở nhóm dưới 20 tuổi lên 3% ở nhóm 20-29 tuổi và cao nhất ở nhóm trên 40 tuổi (4,1%) [5]

 Trình độ học vấn (TĐHV)

Trong nghiên cứu của Yan Li và cộng sự tại Quảng Đông, Trung Quốc, kết quả cho thấy, TĐHV của PNMD là yếu tố độc lập bảo vệ của tình trạng mắc STIs với OR = 0,8; CI 95% OR (0,7 – 1,0) TĐHV cũng được tìm thấy có mối liên quan

có ý nghĩa thống kê với mắc STIs của PNMD trong nghiên cứu của H Wang tại thành phố Khai Viễn, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc [26] Tại Campuchia, trong nghiên cứu của Heng Sopheab và cộng sự (2005), những PNMD có TĐHV dưới Trung học cơ sở (THCS) có nguy cơ mắc STIs cao gấp 2,36 lần so với những đối tượng có TĐHV từ THCS trở lên [20] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mậu tại Việt Nam cũng cho kết quả tương tự, tỉ lệ mắc STIs trong nhóm học vấn thấp (dưới THCS) cao hơn so với nhóm có TĐHV cao (từ THCS trở lên) (70,3% so với 45,8%,

p =0,019) [7] TĐHV cũng được tìm thấy có mối liên quan với mắc STIs trong nghiên cứu của Lý Văn Sơn và cộng sự trên đối tượng PNMD tại cơ sở giải trí ở

thành phố Huế (p<0,01) [11]

 Dân tộc

Trang 17

Trong nghiên cứu của Nguyễn Minh Quang [8], nhóm PNMD người dân tộc thiểu số có tỉ lệ mắc STIs cao hơn nhóm PNMD là người Kinh (70,1% so với 65%) Tuy nhiên, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê được tìm thấy Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mậu cũng cho thấy, tỉ lệ mắc STIs của PNMD phân bố như nhau trong các nhóm dân tộc [7]

 Thời gian sống tại địa bàn

Thời gian sống tại địa bàn đang cư trú đã được tìm thấy là yếu tố có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với mắc STIs tại Campuchia [20] Những PNMD sinh sống tại địa bàn dưới 1 năm có tỉ lệ mắc STIs cao gấp 1,36 lần những PNMD sinh sống tại địa bàn trên 1 năm (p=0,004)

 Thời gian làm nghề

Thời gian làm mại dâm cũng là một trong những yếu tố có mối liên quan chặt chẽ với mắc STIs Tại Argentina, những PNMD làm nghề mại dâm trên 10 năm có nguy cơ mắc giang mai cao gấp 2,2 lần so với những PNMD khác là kết quả được tìm thấy trong nghiên cứu của Maria A Pando và cộng sự [22] Trong một nghiên cứu tại Vĩnh Long [14], nhóm PNMD có thời gian làm nghề mại dâm từ 1 tháng trở lên có tỉ lệ mắc STIs cao hơn nhóm có thời gian làm nghề mại dâm dưới 1 tháng Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Mậu tại Việt Nam cho thấy những PNMD làm nghề mại dâm lâu năm có tỉ lệ mắc STIs cao hơn đáng kể so với những PNMD làm nghề dưới 1 năm (72% so với 43,3%, p = 0,003) [7] Tuy nhiên, tại Campuchia, những PNMD có thời gian làm mại dâm dưới 1 năm lại được tìm thấy có tỉ lệ mắc STIs cao gấp 2,14 lần so với những PNMD khác [20]

Trang 18

số lượng bạn tình ít Khả năng mắc STIs ở nhóm có nhiều bạn tình cao gần gấp 3 lần so với nhóm có bạn tình ít (CI 95% OR là 1,34-5,84) Nghiên cứu cũng cho thấy nhóm PNMD có khách hàng đa số là khách lạ có nguy cơ mắc STIs cao gấp 3,56 lần so với nhóm thường xuyên tiếp khách quen (CI 95% OR là 1,4 – 8,1) [7]

 Thu nhập của PNMD

Trong nghiên cứu của Yan Li và cộng sự tại Quảng Đông, Trung Quốc, thu nhập của PNMD được tìm thấy là có mối liên quan với mắc STIs Những PNMD có thu nhập cao có khả năng mắc STIs cao hơn so với những PNMD có thu nhập thấp hơn (OR = 1,2, p<0,01) [33] Tuy nhiên, nghiên cứu của Nguyễn Thị Mậu không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thu nhập của PNMD và mắc STIs [7]

 Kiến thức về STIs

Kiến thức về STIs là một trong những yếu tố liên quan đến mắc STIs Những đối tượng thiếu kiến thức về STIs có khả năng mắc STIs cao hơn so với những đối tượng có kiến thức Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Mậu [7], việc thiếu kiến thức

về STIs cũng làm tăng khả năng mắc STIs lên 3,5 lần

 Sử dụng bao cao su khi QHTD

Sử dụng BCS cho tất cả các lần QHTD là một trong những biện pháp dự phòng tốt nhất việc mắc STIs của PNMD Việc không thường xuyên sử dụng BCS được xác định là yếu tố có nguy cơ nhất làm lây nhiễm STIs trong nhóm PNMD kể

từ những năm 1980 Trong các nghiên cứu của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kì, có tới 80% trường hợp nhiễm STIs trong nhóm PNMD không sử dụng thường xuyên BCS so sánh với 2% nhiễm STIs trong nhóm thường xuyên sử dụng [16],[17] Trong nghiên cứu của Yan Li và cộng sự tại Quảng Đông, Trung Quốc, tần suất sử dụng BCS khi quan hệ tình dục với bạn tình thường xuyên được tìm thấy là yếu tố nguy cơ của mắc STIs (OR = 4,9 p<0,01) [33] Kết quả tương tự cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của H Wang và cộng sự tại Khai Viễn, Vân Nam, Trung Quốc [26] Tuy nhiên, trong nghiên cứu tại Campuchia năm 2005,

Trang 19

không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tần suất sử dụng BCS khi quan hệ tình dục trong tuần qua với mắc STIs [20] Tại Việt Nam, nghiên cứu của Bùi Thị Mậu năm 2009 cho thấy, việc không sử dụng BCS khi QHTD làm gia tăng nguy cơ mắc STIs lên hơn 5 lần so với nhóm sử dụng BCS thường xuyên (CI 95%

OR là 2,43 – 11,5) [7]

 Hút điều hòa kinh nguyệt/nạo phá thai

Hút điều hòa kinh nguyệt/Nạo phá thai cũng là một trong những yếu tố đã được một số nhà nghiên cứu quan tâm và đưa vào xem xét mối liên quan với tình trạng mắc STIs Kết quả nghiên cứu tại Côn Minh, Trung Quốc cho thấy, trong mô hình hồi quy logistic, những PNMD mắc STIs ít có khả năng đã từng nạo phá thai trước đó [32] Nghiên cứu khác của Heng Sopheab tại Campuchia năm 2005 cũng cho kết quả không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tiền sử nạo phá thai/hút điều hòa kinh nguyệt với mắc STIs [20]

Ngoài các yếu tố kể trên, một số yếu tố khác cũng được tìm thấy có yếu tố liên quan đến mắc STIs của PNMD trong một số nghiên cứu khác như tình trạng hôn nhân, số con, hành vi uống bia, rượu [11]

1.5 Giới thiệu về nghiên cứu gốc [10]

Năm 2014, UNFPA kết hợp với MOLISA đã triển khai một chương trình can thiệp thí điểm với mục tiêu tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS/phòng chống HIV/AIDS trong nhóm PNMD tại các cơ sở khách sạn, nhà hàng ở quận Đồ Sơn

Nghiên cứu gốc với thiết kế nghiên cứu cắt ngang đã được triển khai tại quận

Đồ Sơn (địa bàn can thiệp) và huyện Cát Bà (địa bàn chứng) là hai địa bàn du lịch nổi tiếng tại Việt Nam với lượng khách qua lại rất đông đúc, cũng là nơi tập trung lượng lớn các PNMD hoạt động dưới nhiều hình thức, nhằm cung cấp các thông tin cần thiết và các chỉ số đầu vào cũng như đánh giá chi phí hiệu quả của chương trình can thiệp này với các mục tiêu cụ thể: (1) Mô tả kiến thức, thái độ thực hành phòng HIV/AIDS; (2) Xác định thực trạng, tiếp cận và sử dụng các dịch vụ phòng chống

Trang 20

HIV/AIDS/chăm sóc SKSS; (3) Xác định mức độ hài lòng với các dịch vụ phòng chống HIV/AIDS/chăm sóc SKSS; (4) Xác định một số nhu cầu chưa được đáp ứng

về dịch vụ phòng chống HIV/AIDS/chăm sóc SKSS và một số yếu tố liên quan trong nhóm PNMD tại các cơ sở khách sạn, nhà hàng tại Đồ Sơn và Cát Bà, Hải Phòng

Nhóm tác giả của nghiên cứu này đã sử dụng phương pháp vẽ bản đồ nhằm xác định các điểm có PNMD cũng như ước tính số lượng PNMD Ban đầu, ước tính

số lượng PNMD tham gia nghiên cứu khoảng 800 người Tuy nhiên, trên thực tế nhóm nghiên cứu chỉ thu thập được thông tin từ 492 PNMD trong đó có 397 đối tượng ở Đồ Sơn và 95 đối tượng ở Cát Bà Các đối tượng này đã được lựa chọn vào nghiên cứu bằng kĩ thuật chọn mẫu hòn tuyết lăn Số mẫu nghiên cứu ở hai địa bàn khác nhau do số PNMD ở Đồ Sơn trên thực tế lớn hơn nhiều so với số PNMD ở Cát

Bà Các PNMD được chọn vào nghiên cứu đáp ứng các tiêu chí: từ 18 tuổi trở lên,

có quan hệ tình dục để kiếm tiền ít nhất 1 lần trong vòng 1 tháng trước điều tra, làm việc tại Đồ Sơn hoặc Cát Bà và đồng ý tham gia nghiên cứu Thời gian phỏng vấn PNMD trong tháng 4-5/2014 Các đối tượng tham gia nghiên cứu được phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu phỏng vấn có cấu trúc, nội dung phỏng vấn là kiến thức, thái

độ, thực hành phòng HIV/STIs, tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc SKSS, phòng HIV…

Trang 21

Qua tổng quan tài liệu và dựa trên bộ số liệu được cung cấp, tác giả đã tiến hành xây dựng khung lý thuyết như sau:

Sơ đồ 1: Khung lý thuyết

- Trình độ học vấn

- Dân tộc

- Nơi ở hiện tại

- Thời gian sống tại địa bàn

Phòng

- Tần suất sử dụng bao cao su trong tháng qua

- Sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất

- Hút điều hòa kinh nguyệt/nạo phá thai

- Số lượng STIs mà PNMD biết tên

Trang 22

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thời gian tiến hành đề tài phân tích số liệu thứ cấp

Từ 15/3/2015 đến 15/5/2015

2.2 Đối tượng nghiên cứu

PNMD làm việc trong các cơ sở khách sạn, nhà hàng của quận Đồ Sơn và huyện Cát Bà, Hải Phòng

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, sử dụng số liệu thứ cấp

2.4 Mẫu nghiên cứu

Mẫu sử dụng trong phân tích thứ cấp gồm toàn bộ 492 PNMD làm việc trong các cơ sở khách sạn, nhà hàng tại quận Đồ Sơn và huyện đảo Cát Bà đã tham gia vào nghiên cứu gốc

2.5 Trình tự tiếp cận nghiên cứu/bộ số liệu

Sinh viên đã xin phép nhóm nghiên cứu sử dụng bộ số liệu của nghiên cứu ban

đầu thông qua Giấy xin phép sử dụng bộ số liệu (Phụ lục 1 – trang 43) Sau khi

được tiếp cận bộ số liệu gốc và mục tiêu của nghiên cứu gốc, sinh viên đưa ra giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu riêng cho đề tài phân tích thứ cấp của mình sao cho có thể khai thác được bộ số liệu gốc theo một cách tiếp cận mới khác với mục tiêu của nghiên cứu ban đầu

2.6 Phương pháp quản lý, phân tích số liệu

Số liệu được quản lý và phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0 Dựa trên khung

lý thuyết đã được xây dựng cho báo cáo này, sinh viên đã chọn lọc giữ lại các biến

số phù hợp có trong bộ số liệu và thực hiện các bước phân tích để trả lời mục tiêu nghiên cứu

2.6.1 Thống kê mô tả

Sử dụng các giá trị mô tả phù hợp (tỉ lệ, giá trị trung bình cùng các giá trị 95% CI) để mô tả thông tin chung về đối tượng tham gia nghiên cứu và thực trạng mắc STIs

Trang 23

2.6.2 Thống kê suy luận

Sử dụng kiểm định Khi bình phương hoặc kiểm định chính xác Fisher (trong

trường hợp tần số mong đợi nhỏ hơn hoặc bằng 5) để so sánh sự khác biệt tỉ lệ trong

các yếu tố nhóm tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, thời gian sống tại địa bàn, thời gian làm mại dâm, số khách hàng trung bình/ngày, thu nhập trung bình/tháng giữa nhóm PNMD ở Đồ Sơn với nhóm PNMD ở Cát Bà Kiểm định Khi bình phương hoặc kiểm định chính xác Fisher cũng được sử dụng để xác định mối liên quan đơn biến của một số yếu tố (yếu tố dân số học, yếu tố nghề nghiệp, số lượng STIs mà PNMD biết tên, yếu tố hành vi lối sống) với thực trạng mắc STIs trong 12 tháng qua của PNMD tại Đồ Sơn và Cát Bà

Mô hình hồi quy đa biến logistic được sử dụng để xác định mối liên quan đa biến của một số yếu tố với thực trạng mắc STIs trong 12 tháng qua của PNMD tại

Đồ Sơn và Cát Bà Biến phụ thuộc là mắc STIs trong 12 tháng qua Sự lựa chọn

biến độc lập đưa vào mô hình hồi quy đa biến logistic dựa trên tổng quan tài liệu, khung lý thuyết, tính sẵn có của số liệu thu thập được trong nghiên cứu gốc, cũng như kết quả phân tích đơn biến Những biến độc lập được lựa chọn đưa vào mô hình

là những biến khi phân tích mối liên quan đơn biến với biến phụ thuộc là mắc STIs cho giá trị p-value của kiểm định Khi bình phương p<0,2 Ngoài ra, 2 biến nhóm tuổi và tần suất sử dụng BCS trong tháng qua của PNMD cũng được cân nhắc đưa vào mô hình dù kiểm định Khi bình phương mối liên quan đơn biến của 2 biến này với biến phụ thuộc cho giá trị p>0,2, do tác giả muốn xem xét sự tác động qua lại của 2 biến này với các biến độc lập khác trong mối liên quan với biến phụ thuộc

Phương pháp phân tích được sử dụng là phương pháp Enter Ban đầu, đưa tất

cả các biến độc lập được lựa chọn vào mô hình, sau đó, việc giữ lại hay loại bỏ khỏi

mô hình được thử tiến hành lần lượt với từng biến

Việc lựa chọn mô hình nào phù hợp được cân nhắc kĩ lưỡng dựa trên kiểm định khi bình phương với giá trị 2 là chênh lệch -2log likelihood (D) và bậc tự do chính là chênh lệch giữa 2 bậc tự do; đồng thời, dựa trên trị số R2 % khả năng ước

Trang 24

lượng dự đoán của mô hình Kết quả trình bày trong bảng số liệu chỉ là các biến còn lại trong mô hình phù hợp nhất

(*) Chú ý: Trong quá trình phân tích, các biến được tạo mới hoặc mã hóa lại

cho phù hợp và dễ dàng khi phiên giải (Xem chi tiết phụ lục 3 – Trang 46) Ngoài

ra, tác giả cũng đã tiến hành xét nhiễu, tương tác để đảm bảo kiểm soát chặt chẽ sự tác động qua lại của các biến độc lập trong mối liên quan với biến phụ thuộc

2.7 Các biến số đƣợc sử dụng trong phân tích

Các biến số mà sinh viên sử dụng trong phân tích số liệu thứ cấp gồm 16 biến

đã có sự chọn lựa, điều chỉnh và phân loại theo mục tiêu của đề tài phân tích số liệu

thứ cấp, được trình bày trong bảng biến số (Bảng 2.1)

Bảng 2 1 Các biến số của nghiên cứu gốc được chọn sử dụng trong phân tích số

liệu thứ cấp

THÔNG TIN CHUNG

1

của đối tượng tại thời điểm được phỏng vấn

tục

danh

6 Thời gian làm nghề Thời gian kể từ lúc đối tượng bắt

đầu làm nghề cho đến thời điểm

tục

Trang 26

2.8 Khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá

- Mắc STIs trong 12 tháng qua: trong nghiên cứu này, một PNMD được xác

định mắc STIs là đối tượng trả lời rằng mình bị viêm nhiễm đường sinh dục hoặc có vết loét/đau bộ phận sinh dục trong 12 tháng trước thời điểm phỏng vấn

- Thường xuyên sử dụng BCS trong 1 tháng qua: là những đối tượng trả lời rằng

trong 1 tháng qua họ sử dụng BCS tất cả các lần hoặc hầu hết các lần Không thường xuyên sử dụng BCS trong 1 tháng qua: là những đối tượng trả lời rằng trong 1 tháng qua họ thỉnh thoảng hoặc không bao giờ sử dụng BCS

2.9 Sai số có thể gặp phải trong nghiên cứu

- Sai số nhớ lại: Trong nghiên cứu này, khi phỏng vấn, có nhiều câu yêu cầu đối

tượng phải nhớ lại, dẫn tới đối tượng có thể không nhớ một cách chính xác dẫn tới khả năng gây sai số, ví dụ như tiền sử mắc STIs trong 12 tháng qua hoặc tần suất sử dụng BCS trong tháng qua

2.10 Vấn đề đạo đức nghiên cứu

- Đối với nghiên cứu gốc: Nghiên cứu gốc đã được hội đồng Đạo đức thông

qua trước khi triển khai tại thực địa Các PNMD được thông báo về mục đích và nội dung nghiên cứu Sự tham gia của PNMD là hoàn toàn tự nguyện Khi tham gia nghiên cứu, đối tượng có thể từ chối trả lời bất cứ câu hỏi nào hoặc dừng phỏng vấn bất kì lúc nào Cuộc phỏng vấn được nhóm nghiên cứu ban đầu thực hiện tại phòng ở/phòng làm việc của PNMD nhằm đảm bảo các thông tin của đối tượng nghiên cứu cung cấp được giữ bí mật Đối tượng nghiên cứu được trả một khoản tiền để bù đắp thời gian tham gia phỏng vấn Toàn bộ phiếu phỏng vấn

cũng như thông tin cá nhân của đối tượng đều được bảo mật đúng quy định

- Đối với đề tài phân tích số liệu thứ cấp: Việc sử dụng số liệu thứ cấp của sinh viên được sự đồng ý của đại diện nhóm nghiên cứu (Xem chi tiết phụ lục 1 – Trang 43) Bất kì sự sao chép nào khác đều cần sự cho phép của nhóm nghiên cứu

Trang 27

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Qua phân tích số liệu thứ cấp được thu thập từ 492 PNMD ở Đồ Sơn và Cát

Bà, Hải Phòng, tác giả thu được một số kết quả như sau:

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3 1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (N=492)

Đặc tính

Đồ Sơn (n=397)

Cát Bà (n=95)

Ngày đăng: 31/08/2017, 12:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Khung lý thuyết - THỰC TRẠNG MẮC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC CỦA PHỤ NỮ MẠI DÂM Ở ĐỒ SƠN, CÁT BÀ HẢI PHÕNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN NĂM 2014
Sơ đồ 1 Khung lý thuyết (Trang 21)
Bảng 2. 1. Các biến số của nghiên cứu gốc được chọn sử dụng trong phân tích số - THỰC TRẠNG MẮC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC CỦA PHỤ NỮ MẠI DÂM Ở ĐỒ SƠN, CÁT BÀ HẢI PHÕNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN NĂM 2014
Bảng 2. 1. Các biến số của nghiên cứu gốc được chọn sử dụng trong phân tích số (Trang 24)
Bảng 3. 2. Phân bố tỉ lệ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục của PNMD trong - THỰC TRẠNG MẮC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC CỦA PHỤ NỮ MẠI DÂM Ở ĐỒ SƠN, CÁT BÀ HẢI PHÕNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN NĂM 2014
Bảng 3. 2. Phân bố tỉ lệ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục của PNMD trong (Trang 30)
Bảng 3. 3. Mối liên quan giữa một số đặc điểm dân số học của PNMD với mắc bệnh - THỰC TRẠNG MẮC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC CỦA PHỤ NỮ MẠI DÂM Ở ĐỒ SƠN, CÁT BÀ HẢI PHÕNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN NĂM 2014
Bảng 3. 3. Mối liên quan giữa một số đặc điểm dân số học của PNMD với mắc bệnh (Trang 31)
Bảng 3. 4. Mối liên quan giữa một số đặc điểm nghề nghiệp của PNMD đến mắc - THỰC TRẠNG MẮC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC CỦA PHỤ NỮ MẠI DÂM Ở ĐỒ SƠN, CÁT BÀ HẢI PHÕNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN NĂM 2014
Bảng 3. 4. Mối liên quan giữa một số đặc điểm nghề nghiệp của PNMD đến mắc (Trang 32)
Bảng 3. 6. Mối liên quan giữa sử dụng bao cao su, nạo phá thai với mắc bệnh lây - THỰC TRẠNG MẮC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC CỦA PHỤ NỮ MẠI DÂM Ở ĐỒ SƠN, CÁT BÀ HẢI PHÕNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN NĂM 2014
Bảng 3. 6. Mối liên quan giữa sử dụng bao cao su, nạo phá thai với mắc bệnh lây (Trang 33)
Bảng 3. 5. Mối liên quan giữa số lượng bệnh lây truyền qua đường tình dục mà  PNMD biết tên với mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục trong 12 tháng qua - THỰC TRẠNG MẮC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC CỦA PHỤ NỮ MẠI DÂM Ở ĐỒ SƠN, CÁT BÀ HẢI PHÕNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN NĂM 2014
Bảng 3. 5. Mối liên quan giữa số lượng bệnh lây truyền qua đường tình dục mà PNMD biết tên với mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục trong 12 tháng qua (Trang 33)
Bảng 3. 7. Mô hình hồi quy đa biến logistic một số yếu tố liên quan đến mắc bệnh  lây truyền qua đường tình dục của PNMD trong 12 tháng qua (N=492) - THỰC TRẠNG MẮC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC CỦA PHỤ NỮ MẠI DÂM Ở ĐỒ SƠN, CÁT BÀ HẢI PHÕNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN NĂM 2014
Bảng 3. 7. Mô hình hồi quy đa biến logistic một số yếu tố liên quan đến mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục của PNMD trong 12 tháng qua (N=492) (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w