563.1 Xu hưóng phát triển của hoạt động thông tin khoa học - công nghệ 56 3.2 Những giải pháp thúc đẩy hoạt động thông tin khoa học – công nghệ trong các tổ chức xã hội dân sự 57 Một là,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THÀNH KHÔI
HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ TẠI CÁC TỔ CHỨC DÂN SỰ (KHẢO SÁT TẠI MỘT SỐ TỔ CHỨC DÂN SỰ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ
NỘI)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60 34 72
Người hướng dẫn khoa học: GS, TS Dương Xuân
Ngọc
Hà Nội – 2010
Trang 2đã có những hướng dẫn quý báu trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài
Lãnh đạo Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, Hội Thông tin - Tư liệu Việt Nam đặc biệt là các anh chị cán bộ ban Thông tin đã cung cấp cho tôi những thông tin chính xác và kịp thời để tôi có căn cứ tiến hành đề tài luận văn này
Tác giả: Lê Thành Khôi
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BKHCN: Bộ Khoa học và Công nghệ
CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa
CSO: Tổ chức xã hội dân sự
KH-CN: Khoa học – Công nghệ
KH&KT: Khoa học và kỹ thuật
KT - XH: Kinh tế xã hội
NGO: Tổ chức phi chính phủ
TTKH - CN: Thông tin khoa học – Công nghệ
VUSTA: Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam XHDS: Xã hội dân sự
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC 4
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 13
9 Kết cấu của luận văn 15
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ HOẠT ĐỘNG
THÔNG TIN KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ TRONG CÁC TỔ CHỨC DÂN
SỰ 171.1 Xã hội dân sự 17
1.1.1 Khái niệm 17
1.1.2 Bản chất của XHDS 20
1.1.3 Đặc điểm của XHDS 22
1.1.4 Chức năng của XHDS 23
1.1.5 Quá trình hình thành XHDS ở Việt Nam 23
1.2 Hoạt động thông tin khoa học – công nghệ trong các tổ chức dân sự
29
1.2.1 Thông tin 29
1.2.2 Thông tin khoa học – công nghệ 30
1.2.3 Hoạt động thông tin khoa học – công nghệ 30
1.2.4 Hành lang pháp lý cho hoạt động thông tin khoa học của các tổ
1.4.1 Coi thông tin là hàng hóa 33
1.4.2 Quyền tiếp cận và truy cập thông tin là quyền cơ bản của mọi tổ
chức, mọi thành phần xã hội, mọi tầng lớp dân cư 33
1.4.3 Coi tổ chức dân sự là một tác nhân gắn kết giữa hệ thống thông tin
khoa học - công nghệ quốc gia và đối tượng sử dụng thông tin 33
1.4.4 Xã hội hóa thông tin khoa học - công nghệ và hoạt động thông tin
khoa học - công nghệ 34
Trang 51.4.5 Coi thông tin là tiền đề nhằm tiến tới xã hội thông tin và xã hội tri
thức, khẩn trương ban hành và thực thi Luật tiếp cận thông tin 34
Kết luận Chương 1 35
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN KHOA HỌC –
CÔNG NGHỆ CỦA VUSTA 362.1 Bối cảnh mới và những thách thức của hoạt động thông tin khoa học -
công nghệ36
2.1.1 Bối cảnh mới của hoạt động thông tin khoa học - công nghệ 36
2.1.2 Nhiệm vụ của VUSTA tham gia hoạt động thông tin khoa học –
2.2.1 Hình thức hoạt động thông tin khoa học - công nghệ 43
2.2.2 Nội dung hoạt động thông tin khoa học – công nghệ của VUSTA
46
Kết luận Chương 2 55
CHƯƠNG 3: XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP THÚC
ĐẨY HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ TRONG
CÁC TỔ CHỨC DÂN SỰ 563.1 Xu hưóng phát triển của hoạt động thông tin khoa học - công nghệ
56
3.2 Những giải pháp thúc đẩy hoạt động thông tin khoa học – công nghệ
trong các tổ chức xã hội dân sự 57
Một là, thay đổi nhận thức căn bản về tính chất của thông tin khoa học
nói chung và hoạt động thông tin khoa học - công nghệ nói riêng 57
Hai là, tạo lập và phát triển nguồn tin khoa học - công nghệ 58
Ba là, phát triển khả năng truy nhập và sử dụng thông tin thông qua
nghiên cứu nhu cầu của đối tượng dùng tin 58
Bốn là, hiện đại hóa các công nghệ ứng dụng trong hoạt động thông tin
khoa học - công nghệ 58
Năm là, số hóa hệ thống cơ sở dữ liệu hiện có 59
Sáu là, tiếp tục phát triển các cổng thông tin điện tử (Portal) 59
Bảy là, phát triển cơ quan chuyên trách tham gia hoạt động thông tin
khoa học – công nghệ tại Liên hiệp hội 59
Tám là, quy hoạch, quản lý và phát triển tổ chức Liên hiệp hội 60
Kết luận Chương 3 61
PHẦN KẾT LUẬN 61KHUYẾN NGHỊ 63
Trang 6MỞ ĐẦU
1 1 Lý do chọn đề tài
Hoạt động thông tin KH-CN trong các tổ chức dân sự nhằm nâng cao vai trò của
các tổ chức dân sự được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Các tổ chức dân
sự hợp thành XHDS là một vấn đề mới và hiện đang gây ra được sự chú ý rất cao ở
Việt Nam trong giới khoa học cũng như trong giới các nhà quản lý
Trong điều kiện xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN
và Nhà nước pháp quyền XHCN, các tổ chức xã hội và cơ sở pháp lý của XHDS đã
từng bước được thiết lập, kể cả việc khôi phục truyền thống tự quản của làng như
hương ước, các loại quỹ, hội tương thân tương ái Hiện nay có 6 loại tổ chức xã hội
đăng ký chính thức để hoạt động, đó là:
- Các tổ chức chính trị - xã hội: Gồm 5 tổ chức quần chúng: Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam; Hội nông dân; công đoàn; Hội phụ nữ; Đoàn thanh niên, Hội cựu chiến bình
với hơn 31 triệu hội viên và với 29 tổ chức thành viên
- Các hiệp hội nghề nghiệp - xã hội trung ương: Liên hiệp các hội khoa học và kỹ
thuật Việt Nam (VUSTA), Liên hiệp Văn học và nghệ thuật Việt Nam và Liên hiệp
các Hiệp hội Hòa bình, Hữu nghị và Đoàn kết Việt Nam, Hội Chữ thập đỏ, Hội
người cao tuổi, Hội kinh doanh, v.v…gồm hàng trăm hội thành viên và hàng chục
triệu hội viên
- Các hiệp hội địa phương chỉ hoạt động trong một địa phương: năm 2005, có
khoảng 2150 hội với hàng triệu hội viên
- Các hiệp hội nghiên cứu và phát triển khoa học, công nghệ, bảo tồn di sản văn hóa
truyền thống và môi trường thiên nhiên gồm hơn trăm tổ chức với hàng chục nghìn
thành viên
- Các tổ chức dân lập, tự quản gồm hàng chục nghìn quỹ, hội tín dụng, tiết kiệm, hỗ
trợ người nghèo, tàn tật… và các tổ, đội, câu lạc bộ văn hóa - nghệ thuật, thể dục -
thể thao v.v…với sự tham gia của hàng triệu người
- Các tổ chức tôn giáo (Phật Giáo, Thiên Chúa giáo, Tin lành, Hòa Hảo, Cao Đài,
Hồi giáo) với khoảng 18 triệu tín đồ
Bên cạnh đó, tại nước ta hiện nay có khoảng 530 tổ chức phi chính phủ đang hoạt
động Các tổ chức này có 150 văn phòng trên cả nước và thu hút sự tham gia của
nhiều tổ chức và công dân Việt Nam1
Cho đến nay, trong tổng số trên 85,7 triệu dân, ước tính có 65 - 70 triệu người tham
gia từ một đến nhiều tổ chức xã hội Các tổ chức xã hội (cả chính thức và không
chính thức) tạo thành lực lượng XHDS thực sự rộng lớn và đi liền với đó là những
khuynh hướng hoạt động đúng định hướng, theo qui định của pháp luật, hoặc hoạt
động một cách tự phát, vô chính phủ
Điều này cho thấy tính khách quan của sự tồn tại và phát triển của XHDS trong một
đất nước đang xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và phát triển nền kinh tế thị
Trang 7Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, XHDS nói chung và hoạt động cụ thể của các tổ chức thuộc XHDS vẫn đang thiếu một hành lang pháp lý thực sự - một bộ Luật về hoạt động của Hội thực sự thuận lợi để phát triển
Hiện nay, luật về các hiệp hội đang được soạn thảo để trình lên Quốc hội Bộ luật này đã được tiến hành thảo luận, đã qua 12 lần dự thảo từ nhiều năm nay nhưng chưa thể hoàn tất, mặc dù hai kỳ Đại hội IX và X của Đảng đều xác định phải ban hành Luật về hội Nghị quyết Đại hội IX của Đảng theo tinh thần Hiến pháp năm
1946 đã nêu vấn đề soạn thảo Luật trưng cầu ý dân Nhưng việc soạn thảo luật này cũng như Bộ luật về các hiệp hội đang vấp phải nhiều vấn đề phức tạp, như phạm
vi, nội dung các vấn đề cần trưng cầu dân ý; cơ chế tài chính và quản lý hoạt động của các hội…
Về mặt lý luận, những vấn đề đặt ra từ thực tiễn triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng phản ánh nhận thức lý luận của chúng ta về XHDS còn bất cập, yếu kém ở các phương diện sau:
- Bất cập trong nhận thức về khái niệm, đặc điểm, vai trò của XHDS trong mối quan hệ với gia đình, kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước pháp quyền XHCN, kiến trúc thượng tầng tư tưởng và một Đảng Cộng sản cầm quyền Chẳng hạn, chỉ riêng tính thống nhất và khác biệt giữa khái niệm “xã hội công dân” và “Xã hội dân sự” đã là một chủ đề còn đang gây tranh cãi ở nước ta
- Nhận thức lại, vận dụng, phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác về XHDS, có chú ý kế thừa tư tưởng truyền thống dân tộc về tự quản và tham khảo quan điểm tiến bộ của nhân loại, nhất là quan điểm của chủ nghĩa Mác phương Tây,
về XHDS
- Nhận thức, vận dụng, phát triển sáng tạo kinh nghiệm và không lặp lại bài học thất bại trong xây dựng xã hội của một số nước trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường, đặc biệt là của Liên Xô cũ và các nước XHCN cũ ở Đông Âu Tiếp thu kinh nghiệm của một số nước, đặc biệt là Trung Quốc trong việc tiếp tục xây dựng thể chế “một đảng chấp chính, nhiều đảng phái tham chính” và phát triển hợp lý các
“tổ chức trung gian” - tức các tổ chức xã hội, nhằm xây dựng xã hội hài hóa Đây có thể là một bài học tốt cho Việt Nam trong quá trình xây dựng XHDS
Bài học “đa nguyên, đa đảng” đến mức XHDS, đặc biệt là các tổ chức phi chính phủ, chi phối quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền còn non yếu bằng thực tế và nguy cơ các “cuộc cách mạng sắc màu” tại Liên Xô và các nước XHCN cũ ở Đông
Âu luôn cảnh tỉnh chúng ta phải xây dựng mối quan hệ phân công, hợp tác giữa Nhà nước pháp quyền XHCN và XHDS trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật
Nhìn chung, ở nước ta các tổ chức dân sự đã, đang hình thành và trong chừng mực
đã phát huy vai trò to lớn của mình Tuy nhiên, do một phần, hoạt động thông tin KH-CN trong các tổ chức dân sự chưa được thúc đẩy tương xứng với chức năng, nhiệm vụ, nhất là trong điều kiện cách mạng KH-CN mà nòng cốt là công nghệ thông tin có bước phát triển vượt bậc như hiện nay nên dường như có một khoảng cách cả trong nhận thức cũng như thực tiễn hoạt động khu vực XHDS với nhà nước pháp quyền XHCN
Tất cả những vấn đề thực tiễn - lý luận trên đây đang đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu đề tài này một cách cơ bản, hệ thống, trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
Trang 8tưởng Hồ Chí Minh, để đề xuất được những quan điểm, giải pháp chính trị - xã hội
thúc đẩy xây dựng XHDS dưới sự lãnh đạo của Đảng
Vấn đề đặt ra là cần phải nhận thức đúng và nên chủ động xây dựng và phát huy vai
trò của XHDS ở Việt Nam Chính vì lý do đó, tác giả mạnh dạn chọn đề tài “Hoạt
động thông tin khoa học – công nghệ tại các tổ chức dân sự (khảo sát tại một số
tổ chức dân sự trên địa bàn Hà Nội)” làm đề tài luận văn cho mình
2 2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, vấn đề XHDS thực sự nổi lên và được nghiên cứu từ khoảng năm
2000, từ đó đến nay có thể kể ra một số hướng đi chính:
- Giai đoạn 1986 - 1995:
Khi mới chuyển sang kinh tế thị trường và chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã
hội, đã có những công trình nghiên cứu liên quan đến XHDS
Đề tài cấp Bộ: Cơ cấu xã hội và chính sách xã hội trong thời kỳ quá độ lên CNXH
của Viện Mác - Lênin - Hồ Chí Minh (1989 - 1992), do PGS.TS Hoàng Chí Bảo
làm chủ nhiệm, thư ký khoa học: Nguyễn Thanh Tuấn, công trình đã được xuất bản
thành hai cuốn sách “Cơ cấu xã hội - giai cấp ở nước ta”, Nxb Thông tin lý luận, Hà
Nội, 1992 và “Một số vấn đề về chính sách xã hội ở nước ta hiện nay”, Nxb CTQG,
Hà Nội,1993 Trong cuốn sách “Cơ cấu xã hội - giai cấp ở nước ta” có dự báo:
“Nếu xu hướng đổi mới được kiên trì và thắng thế thì các nhóm xã hội lớn ngày
càng được định hình ổn định, để cấu thành xã hội công dân Việt Nam XHCN…”
Chương trình khoa học - công nghệ cấp nhà nước: Cơ cấu xã hội và chính sách xã
hội ở nước ta hiện nay, mã số KX04 (1991 - 1995), do GS.TS Phạm Xuân Nam làm
chủ nhiệm Chương trình nghiên cứu này đã nghiên cứu cơ cấu xã hội - giai cấp,
dân cư, dân tộc …và đề xuất các chính sách xã hội đối với các giai cấp, tầng lớp dân
cư và dân tộc trong thời kỳ đổi mới
Chương trình khoa học - công nghệ cấp nhà nước: Hệ thống chính trị trong thời kỳ
quá độ lên CNXH ở nước ta, mã số KX05 (1991 - 1995) do GS Nguyễn Đức Bình
làm chủ nhiệm, có đề tài nhánh: Vị trí và những đặc trưng về hoạt động của các tổ
chức quần chúng và xã hội trong hệ thống chính trị, mã số KX05.10, do TS Nguyễn
Viết Vượng làm chủ nhiệm Đề tài đã phân tích, đánh giá hoạt động của các tổ chức
quần chúng và xã hội, chủ yếu là các tổ chức chính trị - xã hội thuộc hệ thống chính
trị trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường2
- Giai đoạn 1996 - 2000:
Trong điều kiện thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và bước vào đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có một số công trình nghiên cứu trực tiếp các tổ
chức xã hội, không thuộc hệ thống chính trị; đăng ký hoạt động chính thức hoặc
không đăng ký chính thức, là thành viên hoặc không là thành viên Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam Trong giai đoạn này, không có đề tài cấp nhà nước nghiên cứu trực tiếp
XHDS, mặc dù có chương trình khoa học - công nghệ cấp nhà nước nghiên cứu về
Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân Nhưng lại có không ít công
trình, đặc biệt là của cá nhân, tổ chức nước ngoài nghiên cứu về các tổ chức xã hội
nói riêng và XHDS nói chung ở nước ta
2
Formatted: Bullets and Numbering
Trang 9Năm 1996, tác giả Nguyễn Khắc Mai đã xuất bản cuốn sách Vị trí vai trò của các
hiệp hội quần chúng ở nước ta 3
Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã đánh
giá tình hình hoạt động của các tổ chức xã hội ngoài hệ thống chính trị Ngoài các tổ chức quần chúng hay tổ chức chính trị - xã hội thuộc hệ thống chính tị, theo tác giả
có 7 loại tổ chức dân sự, đó là: hiệp hội khoa học công nghệ; hiệp hội văn học và nghệ thuật; hiệp hội nhân đạo và từ thiện; liên đoàn thể thao; hiệp hội văn hóa và các hiệp hội nghề nghiệp khác; hiệp hội hữu nghị và hòa bình; và các tôn giáo Ngoài ra, tác giả cũng đã đề cập đến các hội quần chúng không đăng ký và hoạt động không chính thức
Các tổ chức NGO quốc tế hoạt động tại Việt Nam cũng được quan tâm nghiên cứu,
ví dụ qua công trình của tác giả Nguyễn Văn Thanh trong năm 19984
Các tác giả nước ngoài tập trung bàn về sự phát triển của các tổ chức phi chính phủ như là biểu hiện của sự hình thành XHDS ở Việt Nam Thí dụ công trình của
C.Beaulien về mối quan hệ giữa tổ chức phi chính phủ, XHDS và đa nguyên trá hình5; công trình của Mark Sidel về sự nổi lên của khu vực phi lợi nhuận về tổ chức
từ thiện6; Mark Sidel đưa ra 9 loại tổ chức xã hội ở Việt Nam gồm: các nhóm nghiên cứu phát triển, các nhóm nghiên cứu xã hội phía Nam, các tổ chức giáo dục tư nhân
và bán công, các nhóm dịch vụ xã hội do những người có uy tín thành lập; các hiệp hội kinh doanh và nghề nghiệp, các nhóm hợp tác xã nông dân chính thức và tự phát, các nhóm tôn giáo, các tổ chức quần chúng chính thức, các tổ chức đang hoạt động chính trị
Năm 1999, một nhóm nhà khoa học Đức hợp tác với một số nhà khoa học Việt Nam thực hiện dự án COHH điều tra các tổ chức xã hội chính thức tại Hà Nội, thành phố
Hồ Chí Minh đã phân các tổ chức xã hội thành 3 loại: tổ chức chính trị - xã hội (hay
tổ chức quần chúng), các hiệp hội nghề nghiệp, các tổ chức theo vấn đề 7
- Giai đoạn 2001 đến nay:
Trong điều kiện xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và đẩy mạnh hội nhập quốc tế - đã xuất hiện khá nhiều đề tài, luận văn, dự án của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước nghiên cứu về XHDS ở Việt Nam, cụ thể:
Về đề tài nghiên cứu:
Đề tài: Cơ chế quan hệ của Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân với các định chế xã hội ở Việt Nam hiện nay, thuộc chương trình khoa học - công nghệ cấp nhà nước mang mã số 04.07, do GS.TS Lê Văn Quang làm chủ nhiệm
Đề tài cấp bộ Vai trò của các đoàn thể nhân dân trong việc bảo đảm dân chủ ở cơ sở (xã) hiện nay (2000 - 2001) của Học viện CTQG Hồ Chí Minh, do TSKH Phan Xuân Sơn làm chủ nhiệm
3 Nguyễn Khắc Mai: Vị trí, vai trò các hiệp hội quần chúng ở nước ta, Nxb Lao động, Hà Nội 1996
4 Nguyễn Văn Thanh: Nhìn nhận lại vai trò của các tổ chức phi chính phủ quốc tế tại Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, số 17 (9/1998)
5 C.Beaulien : Đó có phải là một tổ chức phi chính phủ? đó là một xã hội dân sự? đó là sự đa nguyên trá hình? Báo cáo CB-26 đến Viện các vấn đề hiện hành của thế giới, 1994
Trang 10G.Sabharval và Trần Thị Thiên Hương: XHDS Việt Nam: chuyển từ bên lề sang xu thế chủ đạo, do cơ quan phát triển Quốc tế Anh (DFID) tài trợ nghiên cứu (2005) Dalton Russll J và Ông Thị Như Ngọc: XHDS và vốn xã hội tại Việt Nam, Xã hội học so sánh, (2002) Hannah, Joe: Các nhân tố và hành động XHDS tại Việt Nam
do Quỹ Heinrich Boll, Berlin tài trợ (2005) Dự án: Đánh giá nhanh các chỉ số
XHDS ở Việt Nam của Viện Những vấn đề phát triển thuộc Liên hiệp các Hội khoa
học và kỹ thuật Việt Nam (2005 - 2006)…
Về luận văn:
Ala Rantala, Anu: Các tổ chức phi chính phủ quốc tế tại Việt Nam - Người thúc đẩy
cho dân chủ, luận văn thạc sĩ, thực hiện tại Trung tâm nguồn lực về tổ chức phi
chính phủ năm 2002; Bùi Việt Hương: Xã hội công dân trong lịch sử tư tưởng chính trị phương Tây, luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, thực hiện tại Học viện CTQG
Hồ Chí Minh, năm 2005…
Về các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố:
Thang Văn Phúc: Vai trò của các Hội trong đổi mới và phát triển đất nước, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002;
Phan Xuân Sơn: Các đoàn thể nhân dân với việc bảo đảm dân chủ ở cơ sở hiện nay, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002;
Bạch Tân Sinh ; XHDS và các tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam, một số suy nghĩ ban đầu về phát triển và những trở ngại, Viện Chiến lược và Chính sách khoa học công nghệ, Hà Nội, 2001;
Bùi Thế Cường: Chính sách xã hội và công tác xã hội ở Việt Nam thập niên 1990, Nxb KHXH, Hà Nội, 2001;
Bùi Thế Cường: Trong miền an sinh xã hội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2005;
Lê Bạch Dương, Khuất Thu Hồng, Bạch Tân Sinh và Nguyễn Thanh Tùng: XHDS tại Việt Nam, Trung tâm nghiên cứu phát triển xã hội, Hà Nội, 2003;
Trần Minh Vĩ: Một số quy định pháp luật về quản lý, tổ chức và hoạt động của các hội và đoàn thể xã hội, Nxb Lao động, Hà Nội, 2002;
Lê Văn Quang, Văn Đức Thanh: Quan hệ giữa Nhà nước và XHDS Việt Nam, lịch
sử và hiện tại, Nxb CTQG, Hà Nội, 2003; và một số bài tạp chí khác…
Khái quát nội dung các công trình trong giai đoạn từ 2001 đến nay: Có thể thấy
rằng, kết quả của đề tài khoa học - công nghệ cấp nhà nước do GS.TS Lê Văn Quang làm chủ nhiệm đã được công bố thành sách chủ yếu bàn về mối quan hệ giữa Nhà nước và XHDS trong lịch sử Việt Nam Công trình đề tài cấp Bộ của TSKH Phan Xuân Sơn đã được công bố thành sách mà nội dung chủ yếu bàn về hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội trong việc bảo đảm dân chủ ở cơ sở
Cần nhấn mạnh rằng cho đến nay, ở Việt Nam các công trình khoa học trong khuôn khổ quản lý Nhà nước như đề tài các cấp (Nhà nước, Bộ, cơ sở), nhất là của các cơ quan Đảng, chủ yếu bàn về các tổ chức chính trị - xã hội hoặc mối quan hệ giữa Nhà nước với XHDS trong lịch sử nước ta, hay tư tưởng xã hội công dân phương Tây, mà chưa có các công trình nghiên cứu có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động thông tin khoa học - côn nghệ tại các tổ chức dân sự hiện nay ở Việt Nam Những bài viết trên tạp chí thường dừng lại ở mức thông tin, tổng quan
Trang 11một số khía cạnh chung, như khái niệm về xã hội công dân, sự phát triển của các tổ chức chính trị - xã hội…
Trong khi đó, các công trình (đề tài, dự án) do các tổ chức phi chính phủ của Việt Nam thực hiện với nguồn kinh phí của nước ngoài hoặc các công trình do tổ chức,
cá nhân nước ngoài thực hiện, thì không né tránh, mà bàn trực tiếp về XHDS hiện tại Việt Nam
Một thí dụ rõ nhất là so sánh cuốn sách của tác giả Thang Văn Phúc, thứ trưởng Bộ
Nội vụ với tài liệu của nhóm tác giả Bạch Tân Sinh và tài liệu của dự án Đánh giá
nhanh các chỉ số XHDS của Viện những vấn đề phát triển thuộc Liên hiệp các Hiệp
hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam do GS.VS Đặng Hữu, nguyên Trưởng ban Khoa giao Trung ương, làm chủ tịch
Cuốn sách của tác giả Thang Văn Phúc đã nêu ở trên tập trung vào các tổ chức quần chúng và phân theo 3 loại: Tổ chức chính trị quần chúng trong tổ chức chính trị - xã hội (6 tổ chức); hiệp hội chính trị - xã hội (Liên hiệp các Hiệp hội khoa học và kỹ thuật và Liên hiệp các Hiệp hội Văn học và Nghệ thuật …) và các hiệp hội này được thành lập trong quá trình đổi mới chủ yếu thông qua sáng kiến của các nhóm
Có thể hiểu loại tổ chức thứ ba là các tổ chức dân lập, tự quản Công trình nghiên cứu này, chủ yếu bàn về bản chất, chức năng và vị trí của các tổ chức trong hệ thống chính trị và vai trò của chúng đối với sự phát triển xã hội
Trong khi đó, tài liệu của nhóm tác giả Bạch Tân Sinh (2001) nêu ở trên về XHDS
và các tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam của Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học công nghệ (NISTPASS) thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, đã phân tích đánh giá trực tiếp mối quan hệ giữa XHDS và các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam trên các phương diện: tình hình phát triển và những trở ngại, rào cản đối với các tổ chức dân sự
Báo cáo của dự án Đánh giá nhanh các chỉ số XHDS có tiêu đề Đánh giá ban đầu
về XHDS tại Việt Nam (1.2006) của Việ Những vấn đề phát triển thì đã đi vào đánh
giá một cách khá toàn diện - mặc dù được gọi là “ban đầu” - về XHDS Việt Nam, như: bối cảnh lịch sử của XHDS, XHDS được khôi phục và mở rộng, phác đồ XHDS tại Việt Nam, cấu trúc, môi trường, giá trị và tác động của XHDS Việt Nam Qua so sánh như vậy, có thể thấy rằng, XHDS Việt Nam đã là một chủ đề nghiên cứu khá sâu sắc trong các công trình được tài trợ từ các tổ chức quốc tế, mặc dù vậy
nó vẫn chưa được nghiên cứu trực tiếp, có qui mô và hệ thống trong các chương trình KHCN tại các cơ quan khoa học của Đảng, Nhà nước Nhận định này không hàm ý rằng các cơ quan khoa học của Đảng, Nhà nước sẽ “phấn đấu” để có công trình nghiên cứu về XHDS Việt Nam “sánh ngang” với các công trình có kinh phí đầu tư nước ngoài vốn là kết quả của phương pháp luận không hoặc ít phù hợp với đường lối, tư tưởng, chính trị của Đảng, Nhà nước ta
Một ví dụ là định nghĩa của dự án Đánh giá nhanh các chỉ số XHDS trong báo cáo
được nhắc ở trên, đã phần nào hàm chứa phương pháp luận, và do đó là hệ quả chính trị - xã hội không phù hợp với thể chế của Đảng Cộng sản cầm quyền đối với nền kinh tế thị trường XHCN, Nhà nước pháp quyền XHCN và xã hội giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh ở nước ta Cụ thể định nghĩa XHDS của dự án này là:
Trang 12“Diễn đàn giữa gia đình, nhà nước và thị trường, nơi mà mọi con người bắt tay
nhau để thúc đẩy quyền lợi chung”8
Theo chúng tôi, phải thừa nhận đây là một định nghĩa có nhiều ưu điểm; rõ nhất là
nó xác định phạm vi của XHDS là giữa Nhà nước, gia đình, thị trường và không gợn lên sự phân cách giữa các yếu tố đó của đời sống xã hội; nói cách khác, nó nhìn nhận ranh giới giữa các yếu tố đó là mờ nhạt Nhưng cũng chính ở điểm này đã dẫn đến vấn đề: Cái lĩnh vực giữa gia đình, Nhà nước và thị trường phải chăng là một
“khoảng trống” hay khu vực “chân không” của những diễn đàn rất dễ rơi vào trạng thái tự phát, vô chính phủ; và do đó, liệu có thể “bắt tay nhau để thúc đẩy quyền lợi chung” như định nghĩa này mong đợi
Trong khi đó, ở luận văn thạc sĩ chính trị học bàn về “Xã hội công dân trong lịch sử
tư tưởng chính trị phương Tây”, (Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội 2005) có
quan niệm: “Xã hội công dân là lĩnh vực đời sống xã hội được tổ chức một cách tự
nguyện, tự trị, tự quản, tự chủ, độc lập với Nhà nước và được ràng buộc bởi nội quy hoặc hệ thống những luật lệ chung”9 Quan niệm xã hội công dân “độc lập với Nhà nước” là không chính xác, đặc biệt trong trường hợp Việt Nam; hơn nữa, đã độc lập
“thì không thể hoặc khó có thể” được ràng buộc bởi hệ thống những luật lệ chung như định nghĩa xác định
Xem thế đủ thấy rằng, vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng XHDS ở nước ta hiện nay còn không ít khía cạnh phải tiếp tục trao đổi và giải quyết Chính vì vậy,
đề tài này cần thiết phải được thực hiện dưới góc độ chính trị - xã hội, để với chức năng của Học viện CTQG Hồ Chí Minh phải xác định được những quan điểm xây dựng XHDS trong điều kiện một Đảng cộng sản cầm quyền ở nước ta hiện nay; xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn giải quyết vấn đề XHDS trong mối quan hệ với nhà nước pháp quyền XHCN và nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Đối với hoạt động thông tin khoa học trong các tổ chức dân sự giai đoạn gần đây, các nhà khoa học đã tiến hành các đề tài:
TS Hoàng Ngọc Kim (Chủ nhiệm đề tài), Thông tin khoa học với việc tổ chức thực
hiện nghị quyết của Đảng hiện nay - Các chuyên đề, Học viện CTQG Hồ Chí Minh,
2003 Báo cáo gồm 16 chuyên đề nghiên cứu về tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng nói chung xét trên quan điểm thông tin học nói riêng Nêu mối quan hệ giữa hoạt động thông tin khoa học với việc tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng những năm qua Vai trò của thông tin khoa học trong tổ chức thực hiện các Nghị quyết của Đảng qua một số địa bàn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, khu vực miền Trung, Tây Nguyên Trên cơ sở đó, đưa ra một số giải pháp nhằm đảm bảo cho thông tin khoa học phục vụ quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng
TS Phạm Hữu Tiến (Chủ nhiệm đề tài), Lại Văn Toàn; Nguyễn Hữu Hùng; Hoàng
Ngọc Kim, Thông tin học với đối tượng đào tạo hệ cử nhân chính trị tại Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - Tuyển tập chuyên đề, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, 2002 Đề tài nêu sự hình thành, vai trò và nội dung cơ bản của thông tin học; Phân tích thực trạng việc giảng dạy và học tập bộ môn thông tin học ở nước ta và
8 Xem Viện những vấn đề phát triển (VIDS): Dự án CIVICUS, tlđd tr.9
9
Bùi Việt Hương : Xã hội công dân trong lịch sử tư tưởng chính trị phương Tây, luận văn thạc sĩ Khoa học chính trị, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội 2005, tr.4
Trang 13nhu cầu về thông tin học của hệ cử nhân chính trị ở Học viện những năm qua Xây
dựng môn thông tin học vào chương trình đào tạo của Học viện Đề xuất một số giải
pháp xây dựng bộ môn thông tin học
TS Trương Văn Tú (Chủ nhiệm đề tài), TS Lê Văn Năm; TS Bùi Khắc Sơn, TS
Nguyễn Ngọc Thúy, Đoàn Quốc Tuấn; Nguyễn Văn Thư; Nguyễn Hồng Anh với đề
tài Xây dựng hệ thống thông tin học hóa phục vụ quản lý doanh nghiệp Việt nam
hiện nay, Trường ĐH Kinh tế quốc dân Phân loại những lý luận cơ sở về hệ thống
thông tin phục vụ quản lý doanh nghiệp Phương pháp tính toán và đánh giá hiệu
quả kinh tế của hệ thống thông tin phục vụ quản lý doanh nghiệp Hệ thống các
nguyên tắc xây dựng hệ thống thông tin phục vụ quản lý doanh nghiệp Hệ thống
chỉ tiêu thông tin phục vụ quản lý doanh nghiệp ở Việt Nam Các phương pháp tính
toán các chỉ tiêu thông tin quản lý doanh nghiệp Hệ thống các chương trình máy
tính dự báo cung cầu theo phương pháp bình phương tối thiểu hai giai đoạn Hệ
quản lý tiêu thụ và hệ quản lý nguyên vật liệu
Phạm Văn Vu, (Chủ nhiệm đề tài), Mạng thông tin tin học hóa về giáo dục, nghiên
cứu và triển khai - VARDNET,Hà nội: Ban Chỉ đạo Chương trình quốc gia về công
nghệ thông tin, 1995 Đề tài đã xây dựng mô hình thử nghiệm trên máy vi tính
mạng tra cứu thông tin và dịch vụ E - mail vốn quốc tế và đưa ra kiến nghị một đề
án mạng lưới thông tin máy tính diện rộng, mạng thông tin kinh tế - khoa học - công
nghệ và môi trường Việt Nam - VESTENET
Có thể thấy, các đề tài đã triển khai trên dù theo hướng nào thì cũng có một đặc
điểm chung, đó là tập trung sự quan tâm đến hoặc là các vấn đề về XHDS hoặc là
các vấn đề về hoạt động thông tin khoa học Chưa có tác giả nào tìm hiểu về hoạt
động thông tin trong các tổ chức dân sự
3 3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về XHDS và hoạt động thông tin khoa học - công
nghệ trong các tổ chức dân sự mà cụ thể ở đây là Liên hiệp các hội khoa học và kỹ
thuật Việt Nam, luận văn nhận diện thực trạng hoạt động, và đề xuất giải pháp nâng
cao hiệu quả hoạt động thông tin khoa học - công nghệ tại các tổ chức dân sự ở Việt
Nam trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về XHDS và hoạt động thông tin khoa học - công
nghệ trong tổ chức dân sự
- Đánh giá thực trạng hoạt động thông tin khoa học - công nghệ trong các
tổ chức dân sự
- Đề xuất những giải pháp, khuyến nghị nâng cao chất lượng hoạt động
thông tin khoa học – công nghệ của các tổ chức dân sự
II 4 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Trên địa bàn thành phố Hà Nội
Formatted: Bullets and Numbering
Formatted: Bullets and Numbering
Trang 14- Phạm vi thời gian: từ 2008 đến 2010
III 4 Mẫu khảo sát
- Khảo sát đối với Cơ quan hoạt động trong lĩnh vực thông tin khoa học –
công nghệ của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
- Các văn bản chính sách pháp luật liên quan đến lĩnh vực thông tin khoa
học – công nghệ và lĩnh vực quản lý các tổ chức dân sự
IV 5 Vấn đề nghiên cứu
Giải pháp nào để nâng cao hiệu quả quản lý các tổ chức dân sự hoạt động trong lĩnh vực
thông tin khoa học – công nghệ?
V 6 Giả thuyết nghiên cứu
Hợp thức hóa hoạt động của các tổ chức dân sự bằng văn bản pháp luật có thể
thúc đấy hoạt động thông tin khoa học - công nghệ tại các tổ chức dân sự tổ chức này
hoạt động mọi mặt hiệu quả hơn
Ứng dụng các thành tựu của công nghệ thông tin có thể nâng cao hiệu quả hoạt
động thông tin khoa học - công nghệ tại các tổ chức dân sự tại Việt Nam
VI 7 Phương pháp chứng minh
- Phương pháp luận:
Đề tài nghiên cứu dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử, cách tiếp cận hệ thống, tiếp cận lịch sử, các quan điểm phát triển hiện đại
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
+ Phương pháp phân tích tài liệu
Thu thập, tổng hợp và phân tích các nguồn tài liệu trong nước và quốc tế khác nhau liên
quan đến đề tài nghiên cứu, phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cơ sở lý luận,
phương pháp luận và những vấn đề thực tiễn mà đề tài đặt ra
+ Phương pháp phỏng vấn sâu
Để làm rõ những vấn đề chuyên sâu trong nội dung nghiên cứu, đề tài dự kiến sẽ tiến hành
phỏng vấn sâu, lấy ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách,
những người làm công tác quản lý hoạt động thông tin khoa học – công nghệ thông qua các
tổ chức dân sự
+Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát được kết hợp trong quá trình phỏng vấn, nhận diện thái độ hành vi
của nhóm đối tượng nghiên cứu, kiểm tra tính trung thực của thông tin, minh họa thêm cho
quá trình thực hiện nghiên cứu
VII 8 Luận cứ
Luận cứ lý thuyết: lý thuyết quản lý, lý thuyết truyền thông, lý thuyết thông tin…
Luận cứ thực tiễn: các số liệu báo cáo về tình hình phát triiển của các tổ chức dân sự tham
gia hoạt động thông tin khoa học – công nghệ, số liệu thống kê, số liệu điều tra…
Formatted: Bullets and Numbering
Formatted: Bullets and Numbering
Formatted: Bullets and Numbering
Formatted: Bullets and Numbering
Formatted: Bullets and Numbering
Trang 159 Kết cấu của luận văn
LUẬN VĂN BAO GỒM NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH NHƯ SAU:
Phần mở đầu, 3 chương, phần kết luận và khuyến nghị, phần phụ lục và danh mục tài liệu
1.1.3.1.1.5 Quá trình hình thành XHDS ở Việt Nam
1.2.1.2 Hoạt động thông tin khoa học – công nghệ trong các tổ chức dân sự
1.2.1 Thông tin
1.2.1.1.2.2 Thông tin khoa học – công nghệ
1.2.2.1.2.3 Hoạt động thông tin khoa học – công nghệ
1.3.1.2.4 Hành lang pháp lý cho hoạt động thông tin khoa học của các tổ chức
dân sự
1.3 Vai trò của thông tin KH-CN trong giai đoạn hiện nay
1.4 Yêu cầu về nguyên tắc trong hoạt động thông tin KH-CN
1.4.1 Coi thông tin là hàng hóa
1.4.2 Quyền tiếp cận và truy cập thông tin là quyền cơ bản của mọi tổ chức,
mọi thành phần xã hội, mọi tầng lớp dân cư
1.4.3 Coi tổ chức dân sự là một tác nhân gắn kết giữa hệ thống thông tin khoa
học - công nghệ quốc gia và đối tượng sử dụng thông tin
1.4.4 Xã hội hóa thông tin khoa học - công nghệ và hoạt động thông tin khoa
học - công nghệ
1.4.5 Coi thông tin là tiền đề nhằm tiến tới xã hội thông tin và xã hội tri thức,
khẩn trương ban hành và thực thi Luật tiếp cận thông tin
2.Chương 2: Thực trạng hoạt động thông tin khoa học – công nghệ của VUSTA
2.1 Bối cảnh mới và những thách thức của hoạt động thông tin khoa học - công
nghệ
2.1.1 Bối cảnh mới của hoạt động thông tin khoa học - công nghệ
2.1.2 Nhiệm vụ của VUSTA tham gia hoạt động thông tin khoa học – công
2.2.1 Hình thức hoạt động thông tin khoa học - công nghệ
2.2.2 Nội dung hoạt động thông tin khoa học – công nghệ của VUSTA
Chương 3: Xu hướng phát triển và những giải pháp nâng cao chất lượng hoạt
Formatted: Bullets and Numbering
Formatted: Bullets and Numbering
Formatted: Bullets and Numbering
Formatted: Bullets and Numbering
Trang 16động thông tin khoa học – công nghệ của các tổ chức dân sự
3.1 Xu hướng phát triển của hoạt động thông tin khoa học - công nghệ 3.2 Những giải pháp thúc đẩy hoạt động thông tin khoa học – công nghệ trong các tổ chức xã hội dân sự
- Phần kết luận và khuyến nghị
Trang 17Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ
HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ
Thực tế, ở Việt Nam đến nay chưa có một văn bản pháp lý nào trực tiếp đưa ra định nghĩa về XHDS hay XHCD Tuy nhiên, dù vẫn được diễn đạt theo hai cách nhưng hiện nay khuynh hướng sử dụng XHDS trở nên phổ biến hơn Theo đánh giá của Liên minh Thế giới Vì sự tham gia của công dân - CIVICUS, trường hợp tương tự cũng diễn ra ở nhiều nước khác
Nghiên cứu này thống nhất sử dụng cả hai cách gọi trên để chỉ XHDS
Một số điểm khác biệt cơ bản giữa 2 khái niệm:
- Là một khái niệm pháp lý luôn gắn
liền với khái niệm Nhà nước pháp
quyền
- Biểu thị mặt đối lập biện chứng của
khái niệm nhà nước pháp quyền
- Chủ yếu biểu thị cộng đồng xã hội,
bao gồm tất cả các công dân (từ 18 hoặc
21 tuổi trở lên) tồn tại với tư cách pháp
nhân trong một quốc gia dân tộc nhất
- Là một khái niệm mở, không chỉ gắn với Nhà nước mà còn gắn với khu vực gia đình và tư nhân
- Biểu thị mặt đối lập biện chứng của khái niệm chính trị xã hội - một khái niệm rộng hơn rất nhiều so với khái niệm nhà nước pháp quyền
- Không những dùng để chỉ cộng đồng XHCD với tư cách pháp nhân do Nhà nước quy định, mà còn dùng để chỉ tất
cả mọi người và mọi tổ chức, mọi nhóm
Trang 18định; các pháp nhân khác như tổ chức xã
hội, tổ chức cộng đồng, tổ chức tôn
giáo…bao giờ cũng là những thể tập hợp
pháp nhân của công dân
xã hội tồn tại và hoạt động trong cộng đồng
Như vậy, khái niệm XHDS rộng hơn khái niệm XHCD
Khái niệm XHDS đã được các triết gia thời kỳ Khai Sáng ở Âu châu sử dụng Các
tư tưởng gia như Hobbes, Locke, Rousseau dùng XHDS (civil society) để chỉ một trạng thái xã hội khi con người đã bắt đầu sống quần tụ với nhau, khác với trạng thái thiên nhiên (state of nature) Xã hội càng phát triển thì lại càng nẩy nở thêm nhiều sắc thái và bộ phận khác nhau Do đó, các nhà tư tưởng thuộc thế kỷ 19 và thế
kỷ 20 như Hegel, Marx, Gramsci, Diamond đều có những khái niệm không giống nhau, và không thể thống nhất về một định nghĩa cho XHDS Tuy nhiên, các học giả thuộc thế kỷ 20 đều đồng ý: XHDS là sự hiện hữu của một lãnh vực công nằm giữa nhà nước, thị trường, và cá nhân Chính trong lãnh vực công này
(Publicsphere) mà các công dân hoạt động "nhằm biểu tỏ các mối quan tâm, tư tưởng, trao đổi thông tin, thực hiện các mục tiêu chung có tính chất tương hỗ, kiến nghị với nhà nước và buộc các viên chức nhà nước phải chịu trách nhiệm trong công vụ"
"XHDS là khái niệm xuất hiện sớm nhất ở nước Anh (1594) Nó được hiểu là những con người sống trong cộng đồng Sau đó, khái niệm này có hai nghĩa Trong
lý thuyết của các nhà triết học Scottish (thế kỷ XVIII), XHDS có nghĩa là xã hội văn minh với một Nhà nước không độc đoán Đến thế kỷ XIX, ở nước Đức, trong các trước tác chính trị của Hêgen, thuật ngữ XHDS phân biệt với Nhà nước Hêgen
mô tả XHDS như là một phần của đời sống đạo đức, bao gồm ba yếu tố gia đình, XHDS và Nhà nước, khái niệm hàm nghĩa lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó các cá nhân theo đuổi những lợi ích riêng trong giới hạn đã được pháp luật thừa nhận Nhà triết học này nhấn mạnh rằng, một XHDS tự tổ chức cần phải do Nhà nước cân nhắc và đặt trật tự cho nó, nếu không xã hội đó sẽ trở thành tư lợi và không đóng góp gì cho lợi ích chung
Xét về những điều kiện lịch sử của XHDS, nó có thể được coi là một thành quả của
sự phát triển lịch sử nhân loại XHDS xuất hiện lần đầu tiên tại một số nơi ở châu
Âu vào cuối thế kỷ XVIII Các giai cấp trung lưu mới cùng với giới hữu sản đang thương mại hóa, đòi hỏi những điều kiện khuyến khích sự phát triển của tích luỹ tư nhân, trong khi Nhà nước vẫn duy trì trật tự và tính ổn định hợp pháp nhưng không còn có thể áp đặt những trật tự tôn giáo trung cổ Đây là giai đoạn Nhà nước phát triển mạnh để duy trì luật pháp và trật tự mới dựa trên những nguyên lý của triết học Khai sáng
Bốn nguyên lý sau của triết học Khai sáng được coi là gắn liền với sự xuất hiện của XHDS trong thời đại này:
- Sự thay thế cái siêu nhiên bằng tự nhiên, tôn giáo bằng khoa học, quyết định của thần thánh bằng quy luật của tự nhiên
Trang 19- Đề cao vai trò của lý tính dựa trên kinh nghiệm, coi đó là công cụ giải quyết các vấn đề xã hội
- Lòng tin vào tính thiện của con người và do đó, vào tiên bộ của nhân loại
- Sự quan tâm tới những quyền con người, đặc biệt là quyền tự do
Từ quan điểm này, các nhà triết học Khai sáng nhìn XHDS như là một sự thay thế
về mặt xã hội cho trạng thái tự nhiên, cho việc đề cao tính cá nhân và tinh thần hiệp hội đang nổi lên ở thời kỳ đó
Khái niệm XHDS còn được đặc trưng bằng tinh thần cộng đồng Các nhà xã hội học, đặc biệt là Tocqueville, coi nước Mỹ thế kỷ XIX là điển hình về mặt này Giải thích về tinh thần hiệp hội ở Mỹ thế kỷ XIX, giới phân tích nhấn mạnh vào sự tự nguyện, tinh thần cộng đồng và đời sông hiệp hội độc lập như là những cơ chế đảm bảo sự cố kết xã hội đặc thù tại một xã hội đa sắc tộc Sự tự nguyện và tinh thần cộng đồng của các công dân theo nghĩa đó là đặc trưng cho "bản chất" của khu vực dân sự và nó góp phần vào họat động có hiệu quả của Nhà nước Về sau này, nhiều phân tích đều nhấn mạnh tới tính đặc thù này và coi đó là cái tạo nên sự năng động của xã hội Mỹ
Khái niệm XHDS:
Định nghĩa của Liên minh Thế giới Vì sự tham gia của công dân:
XHDS là “Diễn đàn giữa gia đình, nhà nước và thị trường, nơi mà mọi con người bắt tay nhau để thúc đẩy quyền lợi chung” (CIVICUS 2005)
Định nghĩa này khác với hầu hết các khái niệm XHDS ở phương Tây:
- Thứ nhất, nó thể chế hóa, ghi nhận các điều kiện và các nhóm không chính thống trong XHDS
- Thứ hai, XHDS được coi là một “diễn đàn”, một không gian nơi mà mọi người có thể đến với nhau và tìm cách gây ảnh hưởng với xã hội lớn hơn Hơn nữa, người ta nhận thấy rằng các ranh giới giữa XHDS, thị trường, Nhà nước và gia đình là mờ nhạt
- Thứ ba, khái niệm này căn cứ theo “chức năng” hơn là theo “hình thức” tổ chức Trong bối cảnh Việt Nam, cách tiếp cận như của CIVICUS là bổ ích cho việc phân biệt giữa các tổ chức quần chúng trong vai trò thực hiện các chính sách của Đảng và các hoạt động ở cấp cơ sở nơi mà mọi người hỗ trợ nhau trong cuộc sống và các hoạt động văn hóa Cuối cùng, định nghĩa của CIVICUS bỏ ngỏ khả năng cho sự khác biệt giữa các địa phương do tính cởi mở của tổ chức này Thay vào đó nó cho rằng XHDS không có điều gì khác biệt hơn chính bản thân nó, làm cho nó ít thiên
về phương Tây hơn so với hầu hết các định nghĩa về XHDS, và không gây ra đối đầu giữa Nhà nước và XHDS Tại Việt Nam, Nhà nước có vai trò quan trọng hơn đối với các CSO so với nhiều nước khác, ranh giới giữa XHDS và Nhà nước chắc chắn là không rõ ràng, nhưng ranh giới giữa XHDS liên quan đến gia đình và thị trường cũng mờ nhạt
Theo Viện Những vấn đề Phát triển Việt Nam - VIDS:
Tổ chức dân sự là các tổ chức xã hội nằm ngoài nhà nước, nằm ngoài các hoạt động của doanh nghiệp (thị trường), nằm ngoài gia đình để liên kết người dân với nhau vì mục đích chung
Trang 20Thành phần quan trọng của tổ chức dân sự là các hội, hiệp hội trong dân chúng, trong làng xóm, mang tính chất liên kết cộng đồng Theo đó thì ở Việt Nam, MTTQ
là CSO lớn nhất, bao gồm các đoàn thể (công đoàn, phụ nữ, thanh niên, nông dân…), hội nghề nghiệp, các NGO…
Mặt khác có thể coi XHDS là diễn đàn, là nơi mọi người bắt tay nhau để thúc đẩy quyền lợi chung XHDS hỗ trợ người dân thực thi luật pháp, đồng thời phản ánh nguyện vọng người dân Nếu thể chế nhà nước hoạt động dựa vào luật, thể chế thị trường hoạt động dựa vào lợi nhuận thì XHDS vẫn tuân theo pháp luật, tuân theo thị trường, nhưng thúc đẩy khía cạnh đạo đức, khai thác tính nhân văn, tính cộng đồng
Cách hiểu khái niệm tổ chức dân sự sử dụng trong luận văn:
Như vậy, các định nghĩa phổ biến về " tổ chức dân sự” hiện nay đều nhấn mạnh tới tinh thần tự nguyện của công dân trong việc bảo vệ các quyền lợi hợp pháp và giá trị của mình Theo tinh thần này, tổ chức dân sự được tạo thành bởi một loạt các đoàn thể nhằm kết nối giữa những nhóm quyền lợi hiện đại (công đoàn và các đoàn thể có tính chuyên nghiệp) và những tổ chức truyền thống dựa trên mối quan hệ họ hàng, dân tộc, văn hóa và khu vực, giữa các tổ chức chính thức và phi chính thức Những đoàn thể tự nguyện làm việc vì quyền lợi chung Chúng định hình thành và khuyến khích phát triển bởi các cộng đồng địa phương Nói một cách đơn giản, các
tổ chức dân sự thể hiện nguyện vọng và nhu cầu của người dân Người dân tự tổ chức lại căn cứ theo các nhu cầu, nguyện vọng hay tín ngưỡng chung và thể hiện thành các loại hình họat động
Kế thừa những hạt nhân cơ bản của các định nghĩa và khái niệm trên, bản chất của
tổ chức dân sự hiểu một cách chung nhất: bao gồm tổng thể các tổ chức xã hội và các mối quan hệ xã hội được hình thành theo nguyên tắc tự nguyên, tự quản trong khuôn khổ pháp lý và đạo lý, độc lập tương đối với nhà nước nhằm bảo vệ lợi ích của mỗi người dân và của toàn xã hội
1.1.2 Bản chất của XHDS
Khi bàn về bản chất của XHDS, một mặt, C.Mác cho rằng bản chất của con người là ích kỷ, tư lợi Nhưng mặt khác, ông khẳng định rằng con người cũng mang bản chất cộng đồng và chính bản chất cộng đồng này mới là cấu thành nên bản chất thật sự của XHDS C.Mác khẳng định: “Rốt cuộc, con người với tư cách là thành viên
của XHCD, có nghĩa là con người theo đúng nghĩa của nó, đó là homme khác biệt với
citoyen, bởi vì nó là con người trong sự tồn tại cảm tính, cá nhân, trực tiếp của nó, còn
con người chính trị thì chỉ là con người trừu tượng, nhân đạo, con người với tư cách là nhân vật ẩn dụ, nhân vật pháp lý”10 Và “Kỳ thực, chỉ với tư cách pháp nhân, tức hội, gia đình v.V Thì con người trừu tượng mới nâng con người của mình lên tới trình độ
sự tồn tại chân chính”11 Một khi vấn đề công dân trở thành vấn đề chung của mỗi cá nhân, và chức năng chính trị trở thành chức năng chung của các cá nhân, XHDS được giải phóng khỏi chính trị - cùng lúc đó tính ích kỷ ràng buộc, cản trở XHDS được xoá
Trang 21Mặc dù theo đuổi lợi ích cá nhân và tìm cách để thoả mãn nhu cầu cá nhân, nhưng con người tồn tại và phát triển không phải trong một môi trường tách biệt mà trong mối quan hệ với những cá nhân khác C.Mác viết: “Nhưng bản chất của con người không phải là một cái trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội”12 Sự tương tác về lợi ích và nhu cầu, sự phụ thuộc lẫn nhau của các cá nhân trong cuộc sống cộng đồng, nhằm đạt được những mục đích của các cá nhân trong cuộc sống chung
đã quy định bản chất cộng đồng của XHDS
Về quyền bình đẳng, tự do và an ninh về tài sản trong “Tuyên ngôn về quyền con người và quyền công dân” (năm 1793), C.Mác viết: “Như vậy, tự do là quyền được làm tất cả những gì, được thi hành tất cả những gì không phương hại đến người… Nhưng quyền con người được hưởng tự do được xây dựng không phải trên cơ sở kết hợp con người với con người, mà ngược lại, trên cơ sở tách con người khỏi con người…”13 Ông không ngừng nhấn mạnh rằng “cái gọi là nhân quyền, the
droits de l’homme, khác với the droits du citoyen chẳng qua chỉ là những quyền của
thành viên XHCD, nghĩa là con người vị kỷ tách khỏi bản chất con người và tính cộng đồng của con người”14 Ông ghi nhận rằng, tự do cá nhân cũng như việc sử dụng tự do này, tạo ra cơ sở của XHDS Và khi con người được tự do thực sự, họ sẽ coi mình là các công dân của cả cộng đồng chính trị, không tách ra thành những vai trò khác nhau, không phổ biến như thương gia và nhà khoa học… Mỗi người sẽ là con người chung liên kết với các công dân khác, và nhà nước không còn được coi là một công cụ bảo vệ các quyền nữa; do đó các cá nhân có thể đạt được mục tiêu ích
kỷ của mình, nhưng với tư cách một thực thể thông qua XHDS
Trong “Bàn về vấn đề Do Thái”, C.Mác dành một đoạn dài để phân tích cái
riêng và những lợi ích riêng biệt (dựa trên quyền sở hữu - không phải với tư cách phương tiện sản xuất) quyết định đời sống của XHDS Nhà nước không giải quyết được cũng không vượt qua được những lợi ích mâu thuẫn đó Hơn nữa, nhà nước hiện đại lại hợp pháp hoá chúng thông qua sự bất khả xâm phạm về sở hữu và các quan hệ của nó Vì vậy, ông viết: “Nhu cầu thực tiễn, chủ nghĩa vị kỷ - đó là nguyên tắc của XHCD, và nguyên tắc này xuất hiện dưới dạng thuần tuý một khi XHCD dứt khoát đẻ ra nhà nước chính trị từ trong lòng bản thân nó”15 C.Mác chỉ ra rằng, các cá nhân trở nên xa lạ với nhau vì họ ích kỷ và tham lam Sự ích kỷ và tham lam này không phải là bản chất của con người, mà chính do các quan hệ xã hội tư sản, đặc biệt là nhà nước tư sản, chủ động tạo ra và nuôi dưỡng nó
Chính vì vậy, C.Mác khẳng định trong Hệ tư tưởng Đức: XHCD như vậy
chỉ có thể phát triển cùng với giai cấp tư sản
Sự phân biệt tồn tại của con người thành hai lĩnh vực riêng biệt là XHDS và đời sống chính trị xác định đặc tính của xã hội hiện đại với tư cách là một nền văn minh Việc Xoá bỏ chế độ phong kiến đã Xoá bỏ đặc tính chính trị của XHDS và lúc đó chia tách XHDS thành các yếu tố cá nhân, và bên kia là lĩnh vực cộng đồng
Trang 22chính trị Kết quả là hành động riêng biệt của mỗi cá nhân trong những hoàn cảnh riêng của đời sống chỉ quan trọng đối với người đó Chúng không còn tạo ra quan
hệ chung của cá nhân đối với nhà nước nói chung Tồn tại trong XHDS do đó trở thành vấn đề xung đột các lợi ích cá nhân không có sự phụ thuộc vào cộng đồng XHDS ra đời chính là do sự giao tiếp trong quá trình sản xuất và do phân công lao động xã hội Bản thân sự sản xuất ấy cũng là sự giao tiếp giữa các cá nhân với nhau Hình thức của sự giao tiếp ấy, đến lượt nó lại do sản xuất quy định Phương thức tồn tại của XHDS chính là giao tiếp và đó là điều kiện để sản xuất tạo
ra của cải cho xã hội và hình thành nên các chuẩn mực xã hội hay cái gọi là văn hoá Trong lúc đó, XHDS chính là nơi lưu giữ các kỹ năng sản xuất và tổ chức đời sống xã hội dưới các hình thức văn hoá C.Mác viết: “Vì lao động riêng lẻ (giả sử những điều kiện vật chất của nó là có đủ) cũng có thể tạo ra những giá trị sử dụng nhưng lại không tạo ra của cải, cũng không thể tạo ra văn hoá được”16
Khi bàn về bản chất của XHDS, C.Mác cho rằng XHDS là một hình ảnh sống động mà thông qua việc nghiên cứu nó, người ta hiểu được tại sao thế giới này lại mang bản chất xã hội Với C.Mác, tính cộng đồng được tìm thấy trong lĩnh vực chính trị của quyền công dân, chứ không phải trong XHDS, nơi các cá nhân tồn tại như những chủ thể ích kỷ và độc lập tìm kiếm lợi ích của mình Trong số những quyền được gọi là của con người, không có quyền nào vượt ra ngoài giới hạn con người vị kỷ, con người với thành viên của XHDS với những lợi ích và sự tuỳ tiện riêng tách khỏi cộng đồng Vấn đề là cá nhân và thành viên của xã hội thực ra là một Nơi nhà nước chính trị đã đạt được độ phát triển thực sự, con người - không chỉ trong tư tưởng, trong lý trí mà trong hiện thực, trong đời sống - sống một cuộc sống gồm hai phần, một trên thiên đường và một dưới mặt đất: cuộc sống trong cộng đồng chính trị, trong đó anh ta coi mình là một con người công cộng, và cuộc sống trong XHDS, nơi anh ta hành động như một cá nhân riêng lẻ
Tóm lại, có thể khẳng định theo quan niệm của C.Mác, con người và XHDS đều mang bản chất xã hội và cộng đồng
1.1.3 Đặc điểm của XHDS
- Chỉ ra những danh giới rõ rệt, một bên là những hoạt động kinh tế tư nhân hướng theo lợi nhuận, bên kia là những hoạt động chính trị hướng vào việc chiếm lãnh và thực thi quyền lực nhà nước;
- Định ra một khu vực đa dạng gồm những hội nhóm và tổ chức khác nhau Những thành tố này có thể sẽ trở thành những đảm bảo quan trọng cho một chính sách phát triển bền vững và trong khuôn khổ hợp tác của các cơ quan nước ngoài, cần phải được ưu tiên trợ giúp tùy theo thực chất của từng cơ quan, tổ chức;
- Cần phải tiến tới tầm cỡ độc lập về mặt chính trị xã hội, và qua đó, các tổ chức có một tiềm năng quan trọng phục vụ cho tiến trình phát triển dân chủ;
- Miêu tả vai trò các thành tố "dân chủ tham gia" như là một bổ khuyết cho các cơ quan "dân chủ đại diện";
- Có khả năng tiến tới tầm cỡ toàn cầu thông qua việc nối kết với những tổ chức dân sự khác trên thế giới
16
Trang 231.1.4 Chức năng của XHDS
Một là, thực hiện xã hội hóa cá nhân, hình thành và hiện thực hóa nhân cách của
con người Cùng với gia đình và trước hết là gia đình, XHDS có chức năng và vai trò to lớn trong việc xã hội hóa cá nhân, biến con người cá thể thành con người xã hội Đồng thời, cũng thông qua những hoạt động trong các tổ chức dân sự, nhân cách con người được hình thành, khẳng định, thể hiện và phát huy
Hai là, xác định tính chính đáng và sự hoàn thiện của nhà nước pháp quyền
Nhà nước pháp quyền chỉ thực sự có được và được thừa nhận trên thực tế một khi
có XHDS XHDS vừa với tính cách là mặt đối lập của nhà nước pháp quyền trong một thể thống nhất của xã hội dân chủ, vừa với tính cách là thể chế bổ sung cho sự hoàn thiện của nhà nước pháp quyền Bởi vậy trình độ phát triển của XHDS phản ánh sự hoàn thiện của nhà nước pháp quyền
Ba là, là diễn đàn phối hợp hoạt động chung của cá nhân và cộng đồng;
XHDS là nơi để cho những cá nhân và cộng đồng, nhất là những cá nhân và tổ chức không thuộc nhà nước và các đơn vị kinh tế, thể hiện và thực hiện nguyện vọng, lợi ích của mình và xã hội Hơn thế nữa, XHDS còn là nơi phối hợp hành động của cá nhân và cộng đồng vì mục tiêu chính trị, hoàn thiện nhà nước pháp quyền; phối hợp cùng nhà nước thúc đẩy phát triển kinh tế; giải quyết những vấn đề xã hội, đặc biệt
là vấn đề xóa đói, giảm nghèo; đấu tranh chống tham nhũng
Bốn là, XHDS thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội đối với nhà nước,
đảng chính trị, khắc phục sự khiếm khuyết của nhà nước, duy trì bảo đảm sự ổn định, cân bằng giữa nhà nước và xã hội
Năm là, XHDS là thước đo trình độ dân chủ của xã hội, sự phát triển tự do của mỗi
cá nhân
Cùng với nhà nước pháp quyền, XHDS tạo nên hành lang đạo lý, diễn đàn và điều kiện xã hội cần thiết để mỗi cá nhân bộc lộ, thực hiện nhân cách, tham gia tích cực vào đời sống xã hội Hơn thế nữa, XHDS còn cho phép ngăn ngừa những mặt trái của bộ máy công quyền trong việc thực hiện quyền lực, cũng như ngăn chặn, khắc phục mặt trái của nền kinh tế thị trường tạo cơ hội, điều kiện cho xã hội dân chủ phát huy vai trò động lực của phát triển
1.1.5 Quá trình hình thành XHDS ở Việt Nam
Ở nước ta với đặc thù là tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, bởi vậy, ngoại trừ những hạn chế do chủ nghĩa tư bản sinh ra, còn lại nhiều những giá trị của văn minh nhân loại trong chủ nghĩa tư bản chúng ta không có cơ hội kế thừa mà chỉ có thể tiếp thu Một trong những "thiệt thòi" lớn nhất đối với chúng ta là quan hệ phong kiến, những quan hệ này đáng lý đã bị chế độ tư bản chủ nghĩa loại bỏ, vẫn tồn tại dai dẳng và níu kéo, cản trở chúng ta trên con đường phát triển và hội nhập quốc tế Bởi thế, từ Trong nhận thức và trong thực tiễn, quá trình xây dựng chế độ nhà nước pháp quyền còn gặp nhiều trở ngại, khó khăn Tương ứng với nó là việc nhận thức và xây dựng XHDS (XHDS) cũng không ít những cản trở Tuy nhiên, cùng với những thành tựu của công cuộc đổi mới có ý nghĩa lịch sử
và mang tầm vóc thời đại, trên cơ sở xác lập tư duy mới, tầm nhìn mới, chúng ta đã
Trang 24ngày càng nhận thức và có thái độ đúng hơn về việc xây dựng và phát triển XHDS ở nước ta
Hơn nữa với từ một đất nước chỉ thực sự thống nhất từ sau chiến thắng mùa xuân năm 1975, bởi vậy, việc nhận diện và bắt tay vào việc xây dựng XHDS Việt Nam chỉ thực sự có ý nghĩa từ sau khi nước nhà thống nhất và cùng đi lên chủ nghĩa
xã hội
Với cách đặt vấn đề như vậy có thể khái quát quá trình xây dựng XHDS Việt Nam qua các thời kỳ sau:
a Giai đoạn trước năm 1945
Là một đất nước với mấy ngàn năm lịch sử, trong đó gần một nửa thời gian
là chiến tranh bảo vệ tổ quốc, với hàng ngàn năm đấu tranh chống đồng hoá, bởi vậy truyền thống cộng đồng làng, xã đã tạo nên đời sống tự quản, tự chủ cao của các cộng đồng dân cư, thậm Chí đối lập với nhà nước xâm lược với phương châm
"Phép vua thua lệ làng" Mặc dù thuật ngữ XHDS chưa được các nhà tư tưởng chính trị Việt Nam đề cập tới, song trong thực tế XHDS đã hình thành cùng với các cộng đồng cư dân và đóng một vai trò hết sức quan trọng trong lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước và tạo nên những nét đặc sắc trong văn hoá chính trị, trong các sinh hoạt vật chất và đời sống tinh thần của dân tộc ta
Con người Việt Nam truyền thống được xã hội hoá qua thiết chế nhà- làng- nước Đây cũng là nét đặc trưng trong quan hệ giữa một bên là nhà nước và một bên
là con người trong các cộng đồng của làng- XHDS Mối quan hệ Nhà nước và XHDS được biểu hiện rõ nét nhất qua sự giao thoa giữa "lệ làng" và "phép nước Một mặt, "lệ làng" và "phép nước" thống nhất với nhau Mặt khác, cũng có không ít những quy định của "lệ làng" trái với "phép nước", và như vậy, trong nhiều trường hợp lệ làng đã trở thành tác nhân làm vô hiệu hoá các qui định pháp luật, điều này
đã được nhân dân ta truyền lại qua câu thành ngữ: Phép vua thua lệ làng, Trăm lý
không bằng tý tình.…Những xung đột này là hệ quả tất yếu, trước hết bởi sự mâu
thuẫn về lợi ích giữa một bên là triều đình thực dân- phong kiến với bên kia là nhân dân,; đồng thời cũng phản ánh sự biệt lập, cát cứ và tính tự chủ của làng xã Việt Nam truyền thống , tuy nhiên nó cũng phản ánh được lợi ích nhóm, có tính hiệu lực
và hiệu quả cao, tạo được sự đồng thuận trong cộng đồng dân cư
Qua hai lần khai thác thuộc địa của Pháp, cùng với sự du nhập, ảnh hưởng của những trào lưu tư tưởng mới, đã dẫn tới sự phân hoá xã hội hết sức sâu sắc Các giai cấp, tầng lớp xã hội mới xuất hiện, họ đã nhanh chóng đi đầu trong việc tiếp thu
và truyền bá tư tưởng yêu nước theo nhiều khuynh hướng và hình thức tổ chức đấu tranh chính trị khác nhau Đây là thời kỳ xuất hiện nhiều CSO, và các CSO này đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc truyền bá tư tưởng yêu nước; tập hợp, đoàn kết nhân dân đấu tranh với Chính quyền thực dân, phong kiến; tổ chức các phong trào như xây dựng đời sống mới; giúp đỡ nhau trong kinh doanh; tương thân, tương ái; phát triển, gìn giữ thuần phong mỹ tục…Trong quá trình phát triển của mình, đã có không ít CSO phát triển các đảng chính trị, giữ một vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc
Trang 25Nhiều SCO hoạt động theo khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa ra đời và nhiều phong trào đã tập hợp được đông đảo người dân tham gia, trong đó, tiêu biểu phải
kể đến: Duy Tân Hội, do Phan Bội Châu thành lập năm 1904 ở Quảng Nam với phong trào Đông Du; phong trào Duy Tân do Phan Chu Trinh khởi xướng; hoạt động giáo dục của trường Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can, Nguyễn Quyền…; sự ra đời của các tổ chức hội kín ở Nam Kỳ như: Thiên Địa Hội, Nghĩa Hoà Hội, Thái Bình Hội, Phục Hưng Hội, Ái Quốc Hội…
Trong thời kỳ này, có thể kể đến các hoạt động của giai cấp tư sản dân tộc như: Phong trào "Chấn hưng hàng nội, bài trì hàng ngoại", chống quyền xuất khẩu lúa gạo tại Nam Kỳ; thành lập Đảng Lập hiến của Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long…; sự ra đời và hoạt động của các CSO theo khuynh hướng yêu nước như: Tân Việt Thanh niên Đoàn (1923), Việt Nam Nghĩa Đoàn (1925), Hội Phục Việt (1925), Đảng Thanh Niên (1926), Đảng An Nam độc lập (1926)…Các CSO này đã nhiều tờ báo, lập các nhà xuất bản tiến bộ và phát động nhiều phong trào đấu tranh như đòi thả Phan Bội Châu, Nguyễn An Ninh, để tang Phan Chu Trinh…
Đặc biệt đây là giai đoạn hoạt động hết sức sôi nổi của phong trào công dân, với các hình thức đấu tranh lần đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam như: Bãi công của công nhân, viên chức các cơ sở tư nhân ở Bắc Kỳ đòi nghỉ ngày chủ nhật có lương; của 600 công nhân nhuộm tại Chợ Lớn phản đối cắt lương; các cuộc bãi công của công nhân nhà máy xay, nhà máy rượu tại Sài Gòn, Hà Nội, Nam Định, Vinh - Bến Thuỷ, Hải Dương…Năm 1920, công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn đã lập ra Công hội đỏ
do Tôn Đức Thắng đứng đầu, đánh dấu giai cấp công nhân Việt Nam đã tham gia vào đấu tranh chính trị chống lại giới chủ và nhà cầm quyền Quá trình trưởng thành của giai cấp công nhân Việt Nam có sự đóng góp rất lớn của Nguyễn ái Quốc, người đã tích cực truyền bá chủ nghĩa Marx – Lênin, nhân tố quan trọng đưa các CSO phát triển thành đảng chính trị Marxist, kể cả sự ra đời của Đảng Cộng sản
Việt Nam (2/1930) (khi chưa nắm được chính quyền thì Đảng Cộng Sản Việt Nam
cũng là một CSO - TG) Năm 1942, tại Quảng Châu, Nguyễn ái Quốc đã thành lập
Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và cho ra mắt tờ Thanh niên - cơ quan ngôn luận của Hội, hoạt động của Hội đã lớn mạnh, số hội viên tăng từ 300 (1928) lên 1.700 (5/1929), địa bàn liên tục được mở rộng
Các hình thức hoạt động của các CSO giai đoạn 1930 - 1945 hết sức đa dạng nhưng đều có chung mục tiêu chống lại chính quyền phong kiến, thực dân và phát xít Một trong những hình thức tổ chức của các CSO mà Đảng Cộng sản sử dụng để tập hợp lực lượng tồn tại cho đến ngày nay đó là Mặt trận dân tộc thống nhất Đảng Cộng sản lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc thông qua Mặt trận mà nòng cốt là các hội, đoàn thể quần chúng Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản thông qua công tác mặt trận, các CSO đã tổ chức nhiều phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân - phong kiến, chống phát - xít, đòi các quyền tự do, dân chủ, dân quyền…Tiêu biểu trong giai đoạn này có thể kể đến các hoạt động của các tổ chức đoàn thể như: Nông hội, Đoàn thanh niên cộng sản, Phụ nữ Giải phóng, Hội Cứu tế
đỏ, Tổng Công hội Đông Dương vào những năm 1930 - 1931 ở Nghệ An, Hà Tĩnh; của Mặt trận Dân chủ Đông Dương giai đoạn 1936 - 1939 và của Mặt trận Việt
Trang 26Minh (mà nòng cốt là các Hội cứu quốc như: Phụ nữ Cứu quốc, Thanh niên Cứu quốc…) những năm 1944 - 1945…
Có thể nói rằng, XHCD Việt Nam có quá trình lịch sử phát triển lâu dài và ảnh hưởng xã hội hết sức sâu rộng, song cho đến thời điểm này vẫn chưa có một lực lượng xã hội đủ mạnh, có đủ uy tín và năng lực để tập hợp các nguồn lực xã hội cho công cuộc giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước Các hoạt động của XHCD từ chỗ mang tính chất "dân sự " thuần tuý đã chuyển sang màu sắc chính trị rõ nét, các hội, đoàn đã phát triển thành các tổ chức chính trị, hoạt động hết sức đa dạng dưới hình thức Mặt trận dân tộc thống nhất
b Giai đoạn 1945 đến những năm 1990
Để xây dựng khối đoàn kết toàn dân, tháng 5 năm 1946, Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam được thành lập, sau đó Hội đã sáp nhập với Việt Nam độc lập của Mặt trận Liên Việt và các CSO khác, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tham gia một cách tích cực và góp phần không nhỏ vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp
Tại miền Bắc, năm 1955, Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc họp và đã thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhằm mục đích xây dựng khối đoàn kết toàn dân tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc, thống nhất nước nhà Tiếp
đó, Quốc hội khoá I đã thông qua Hiến pháp 1959 và nhiều đạo luật, sắc luật quan trọng liên quan đến quyền tự do của công dân và sự phát triển của các CSO, đó là: Luật số 101-SL/L003 quy định quyền tự do lập hội, Luật 102-SL/L004 quy định quyền lập hội, Luật về Công đoàn, Luật 100-SL/L100 quy định về chế độ Báo chí…Hoạt động của các CSO ở miền Bắc gắn liền với các hoạt động do Đảng và Nhà nước khởi xướng, và các CSO này đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc khuyến khích người dân thi đua sản xuất; động viên, giúp đỡ các gia đình
có con em đi bộ đội; phối hợp, tham gia xây dựng chính quyền nhà nước, cấp cứu nạn nhân chiến tranh…
Ở miền Nam, các CSO phát triển hết sức đa dạng và đã góp phần không nhỏ trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành độc lập, thống nhất nước nhà Ngay từ những năm 1954 - 1955, các CSO yêu nước đã phát động nhiều phong trào đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Geneva, giữ gìn hoà bình, thống nhất nước nhà, tiêu biểu là "Phong trào hoà bình"; phong trào đấu tranh đòi cải thiện đời sống, cải cách chế độ thuế khoá; chống "tố cộng", "diệt cộng" …Sau thắng lợi của Đồng Khởi Bến Tre, ngày 12/12/1960, các lực lượng yêu nước miền Nam, bao gồm đại biểu của các đảng phái, các tổ chức quần chúng, đại diện của các sắc tộc, tôn giáo và các tầng lớp nhân dân đã đứng ra đại hội thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam
Dưới sự lãnh đạo của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ, hoà bình Việt Nam và sau này là chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, các CSO yêu nước ở miền Nam đã phát động nhiều phong trào đấu tranh với chính quyền Mỹ nguỵ như: phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên, trí thức yêu nước; phong trào "Ký giả đi ăn mày" đòi quyền tự do Báo chí, các hoạt động tương thân, tương ái…Mặc dù bị đàn áp, cấm
Trang 27đoán, song những hoạt động này đã góp phần không nhỏ gây áp lực lên chính quyền, buộc chính quyền phải nhượng bộ thi hành những chính sách tự do, dân chủ
ở miền Nam
Bên cạnh các CSO yêu nước, ở miền Nam còn tồn tại không ít các CSO được tài trợ bởi chính quyền Mỹ - Nguỵ Các CSO này có nhiều hoạt động chống phá phong trào yêu nước thông qua việc tài trợ cho các hoạt động chống phá cách mạng, ru ngủ thanh niên miền Nam, có thể kể đến các CSO tiêu biểu như: Hội Việt
- Mỹ, Hội văn hoá Việt Nam (do Ngô Đình Nhu làm chủ tịch), Hội nạn nhân cộng sản, Mặt trận bảo vệ văn hoá tự do, Liên đoàn chống cộng sản châu á…Có thể nói rằng, XHCD ở miền Nam trong giai đoạn này phát triển hết sức mạnh mẽ và phức tạp, với nhiều xu hướng thậm Chí đối lập nhau; tuy nhiên, hoạt động của các CSO yêu nước vẫn là chủ yếu, thu hút được đông đảo người dân tham gia và chiếm một
vị trí hết sức quan trọng trong tiến trình đấu tranh đi đến độc lập, thống nhất nước nhà
Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 1980 là bản Hiến pháp đầu tiên quy định vai trò của các CSO như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (điều 9), Tổng Công đoàn Việt Nam (điều 10) Sự ghi nhận này đánh dấu một bước phát triển mới của các CSO Việt Nam, các CSO Việt Nam được Nhà nước xem là những thực thể hợp pháp tồn tại trong cơ cấu hệ thống chính trị, có mối quan hệ hết sức mật thiết với nhà nước Đây cũng là thời kỳ ra đời của các CSO quan trọng như: Hội Khoa học và
Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), Liên hiệp Hội Văn học và Nghệ thuật Việt Nam (VW) và Liên hiệp các Hiệp hội Hoà bình, Hữu nghị và Đoàn kết Việt Nam
(VUPSFO) Tuy nhiên, cùng với sự ghi nhận này và thực tiễn kinh tế - xã hội của đất nước đang rất khó khăn lúc bấy giờ, hoạt động của các CSO ở giai đoạn này hết sức nghèo nàn, xơ cứng, mà một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là
do Đảng Cộng sản và Nhà nước làm thay, can thiệp quá sâu vào công việc của các CSO
c Giai đoạn từ những năm 1990 đến nay
Bước vào những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, những thay đổi xã hội ở Liên Xô, Đông Âu đã tác động không nhỏ tới Việt Nam Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI và VII đều khẳng định xu hướng mở rộng dân chủ, tôn trọng quyền tự do của công dân là một trong những nguyên tắc quan trọng trong thời kỳ đổi mới, cam kết chính trị này đã được thể chế bằng Hiến pháp 1992 và các luật quan trọng như Bộ Luật Dân sự (1995), Luật Tố tụng Hình sự (1992), Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2003), Luật Báo chí (2004), Luật Công đoàn (2005)…
Sự phát triển của CSO ở giai đoạn này gắn liền với những cải cách về kinh
tế và chính trị Nếu như ở giai đoạn trước đó, các CSO chủ yếu là các tổ chức quần chúng thường được gọi là "các tổ chức chính trị - xã hội", thì vào những năm đầu của thập niên 90, các CSO đã được thành lập theo hướng mở rộng hơn cả về quy
mô, thành phần và lĩnh vực hoạt động Sự lớn mạnh của XHCD được đánh dấu bằng sự xuất hiện của các CSO quan trọng, hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Theo phân loại của Viện những vấn đề phát triển (VIDS) thì đến giữa những năm 90, các CSO được chia thành 5 loại:
Trang 281) Các tổ chức quần chúng
2) Các hiệp hội nghề nghiệp xã hội Trung ương
3) Các hiệp hội địa phương
4) Các hiệp hội nghiên cứu và phát triển khoa học và kỹ thuật
5) Các nhóm không chính thức
Công cuộc cải cách và mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế đã làm thay đổi phương thức tổ chức và hoạt động của các CSO đặc biệt là các CSO truyền thống Theo đó, các CSO ngày càng có nhiều hội viên hơn, hoạt động theo hướng ngày càng đi vào chiều sâu và thực tế hơn, cụ thể hơn
Các hoạt động của Công đoàn ngày càng hướng tới mục tiêu vì người lao động, phạm vi hoạt động được mở rộng sang các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân…
Hoạt động của Hội Liên hiệp phụ nữ đã đi vào thực chất hơn thông qua các chương trình như giúp đỡ phụ nữ nghèo vay vốn sản xuất kinh doanh, vận động thực hiện kế hoạch hoá gia đình, bảo vệ sự bình đẳng giới…
Hoạt động của Đoàn thanh niên Cộng sản ngày càng trở nên phong phú, với các phong trào tình nguyện về nông thôn, vùng sâu, vùng xa (chiến dịch Mùa Hè Xanh); hỗ trợ sinh viên nghiên cứu khoa học; trao học bổng cho học sinh, sinh viên nghèo có hoàn cảnh khó khăn…ở địa bàn nông thôn
Hội Nông dân giữ một vị trí hết sức quan trọng trong việc giúp đỡ nông dân sản xuất nông nghiệp, thông qua các hoạt động như khuyến nông, cho hộ nông dân vay vốn sản xuất…
Hoạt động của Hội Cựu chiến binh ngày càng trở nên đa dạng hơn, thông qua các hoạt động như giám sát việc thực hiện chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng, Nhà nước, giúp đỡ hội viên trong đời sống và sản xuất kinh doanh…
Có thể nói rằng, từ năm 1990 trở lại đây, đặc biệt trong những năm gần đây, hoạt động của các CSO truyền thống đã đi vào chiều sâu Các CSO này đã đóng một vai trò tích cực trong việc giải quyết nhiều vấn đề vượt ra khỏi phạm vi nhà nước, huy động được nguồn lực toàn dân vào giải quyết các vấn đề xã hội, đó là các hoạt động như quên góp giúp đỡ đồng bào bị thiên tai, đồng bào nghèo, trẻ em thất học, hỗ trợ vì sự tiến bộ của phụ nữ…Bên cạnh đó, các CSO này cũng đã góp phần tạo nên sự ổn định về chính trị xã hội thông qua việc tổ chức hoà giải các mâu thuẫn trong dân cư, thực hiện dân chủ ở cơ sở, vận động người dân chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, tham gia tích cực vào việc xây dựng chính quyền, thực hiện giám sát và phản biện xã hội với Đảng Cộng sản và Nhà nước
Cũng theo điều tra của Viện những vấn đề phát triển (VIDS), năm 1995 có khoảng 143 hiệp hội quốc gia chuyên ngành trong các lĩnh vực xã hội, chuyên môn
và kỹ thuật, các tổ chức này hoạt động theo quy định của Luật số 101- SL/L003 quy định quyền tự do lập hội, Luật 102- SL/L004 quy định quyền lập hội từ năm 1957
và theo các quy chế mới
Đây là giai đoạn phát triển hết sức mạnh mẽ của các CSO ở quy mô vừa và nhỏ, theo tính toán, vào giữa năm 1995 người ta không biết được con số chính thức, nhưng ước tính có khoảng từ 600 đến 1000, năm 2001 có khoảng 1400 và năm 2005
có khoảng 2150 hội thuộc dạng này Có thể nói rằng xu thế mở rộng dân chủ và xã
Trang 29hội hoá các hoạt động xã hội đã thu hút được sự tham gia đông đảo của người dân vào các hoạt động của các CSO Không chỉ dừng lại ở các cam kết mang tính chính trị, sự phát triển của chính sách CSO ở giai đoạn này đã được nhà nước luật hoá, đây là một điều kiện hết sức quan trọng đối với sự phát triển của các CSO
Mặc dù có vai trò và quy mô tổ chức khác nhau, song những CSO này đã đóng vai trò quan trọng trong việc phối hợp với nhà nước huy động nguồn lực trong dân cư để giải quyết các vấn đề xã hội và tham gia một cách tích cực vào quá trình xây dựng chính quyền vững mạnh, thông qua các hoạt động như giám sát, tư vấn và phản biện xã hội
Nếu như trước thập niên 90, các NGO hoạt động ở Việt Nam chủ yếu trên lĩnh vực nhân đạo, quan hệ của họ đối với nhà nước Việt Nam của một số NGO tỏ
ra thiếu thiện chí, thì những năm sau thập niên 90, các NGO này đã mở rộng sang nhiều lĩnh vực hoạt động như tài trợ phát triển, giới thiệu cách tiếp cận mới, tài trợ cho các sáng kiến của tổ chức, cá nhân; hỗ trợ các dự án giáo dục, đào tạo, môi trường, bình đẳng giới…và họ đã có một cái nhìn thiện chí, hợp tác và đối thoại nhiều hơn đối với nhà nước Việt Nam Với xu hướng mở cửa hợp tác và hội nhập, các NGO quốc tế cũng đã phát triển hết sức mạnh mẽ ở Việt Nam Các NGO đã góp phần quan trọng vào nỗ lực thực hiện thành công chiến lược xoá đói giảm nghèo của chính phủ; hỗ trợ một cách tích cực vào công tác phòng chống HIV/AIDS, kế hoạch hoá gia đình, vệ sinh, nước sạch, môi trường…
Cho đến nay, trong tổng số 84 triệu người dân Việt Nam, ước tính có khoảng 65 – 70 triệu người tham gia từ một đến nhiều tổ chức Mật độ thành viên của các CSO rất cao, tính bình quân mỗi người tham gia 2,33 tổ chức, cao hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực như Trung Quốc (0,39) hay Singapore (0,86) Nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó chính là do ranh giới mờ nhạt giữa XHDS và Nhà nước, giữa các tổ chức dân sự với các tổ chức chính trị – xã hội v.v…
Sự mở rộng dân chủ và quá trình hoàn thiện các thể chế cho sự phát triển của XHDS đã thúc đẩy sự phát triển của các CSO, cũng như thu hút người dân tham gia các CSO Tuy nhiên, hiện nay đang có một thực trạng là người dân tham gia vào các CSO thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đang có xu hướng giảm, và thành viên của các CSO phi chính thức phát triển không ngừng, đặc biệt là sự tham gia của giới trẻ trên nhiều lĩnh vực như công tác xã hội, bảo vệ môi trường, xoá đói giảm nghèo, bình đẳng giới v.v…
Tóm lại, ở Việt Nam hiện nay, các tổ chức xã hội (cả chính thức và không chính thức) tạo thành lực lượng XHDS thực sự rộng lớn và đi liền với đó là những khuynh hướng hoạt động đúng định hướng, theo quy định của pháp luật, hoặc hoạt động một cách tự phát, vô chính phủ
1.2 Hoạt động thông tin khoa học – công nghệ trong các tổ chức dân sự
1.2.1 Thông tin
Khái niệm thông tin trong các góc độ điều khiển học, triết học, sinh học, tin học, xã hội học …được đề cập khác nhau
Trang 30Khái niệm thông tin liên quan chặt chẽ đến khái niệm tri thức Tri thức là những
hiếu biết có hệ thống về sự vật, hiện tượng tự nhiên hay xã hội (Từ điển Tiếng Việt,
NXB Đà Nẵng, 1997, tr 998)
Thuật ngữ “Thông tin” tiếng Anh “Information” có nguồn gốc từ tiếng Latin, là “sự
giải thích, trình bày” Theo quan niệm phổ thông là sự truyền tin, là sự chuyển tải tri
thức trong xã hội
Như vậy, ta có thể hiểu khái niệm thông tin với những bản chất sau:
Thứ nhất, thông tin là một phạm trù nhận thức, nó thông qua việc sử dụng các công
cụ đặc trưng để nhận thức thế giới khách quan
Thứ hai, nội dung thông tin là tri thức (bao gồm tri thức cũ và tri thức mới), tri thức
mới là đối tượng đặc biệt quan trọng Đó là sự phản ánh thế giới hiện thực bằng
hình thức thông tin được con người thu nhận được Tri thức là chủ thể đích thực của
thông tin, là sản phẩm của ý thức con người Vì thế, thông tin phụ thuộc vào hoạt
động ý thức của con người
1.2.2 Thông tin khoa học – công nghệ
Nghị định 159/2004/NĐ-CP, ngày 31 tháng 8 năm 2004 về hoạt động thông tin
khoa học định nghĩa “Thông tin khoa học và công nghệ là các dữ liệu, số liệu, dữ
kiện, tin tức, tri thức khoa học và công nghệ (bao gồm khoa học tự nhiên, khoa học
công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn) được tạo lập, quản lý và sử dụng nhằm
mục đích cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước hoặc đáp ứng nhu cầu
của tổ chức, cá nhân trong xã hội”
1.2.3 Hoạt động thông tin khoa học – công nghệ
Cũng theo Nghị định 159/2004/NĐ-CP thì “Hoạt động thông tin khoa hoc và công
nghệ” là hoạt động nghiệp vụ và tìm kiếm, thu thập, xử lý, lưu trữ, phổ biến thông
tin khoa học và công nghệ; các hoạt động khác có liên quan trực tiếp và phục vụ
cho các hoạt động nghiệp vụ thông tin khoa học công nghệ
Các cơ quan thực hiện “dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ” là đơn vị sự
nghiệp thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ do
cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức cá nhân thu thập
1.2.4 Hành lang pháp lý cho hoạt động thông tin khoa học của
các tổ chức dân sự
a Các văn bản quy định hoạt động của tổ chức dân sự
- Trong năm 1989, các Quy chế về các tổ chức quần chúng đã được đưa vào một
Thông tư và một Chỉ thị (Thông tư 07, ngày 6/1/1989 của Ban Tổ chức Chính phủ
(sau này là Bộ Nội Vụ - MOHA); và Chỉ thị 01 ngày 5/2/1989) Cùng năm 1989,
Ban Điều phối Viện trợ Nhân dân (PACCOM), một tổ chức đặc biệt của Hội các Tổ
chức Hữu nghị Việt Nam (VUFO, một tổ chức thuộc Mặt trận Tổ quốc) được thành
lập nhằm phối hợp với các NGO quốc tế (Chỉ thị 01 ngày 5/2/1989 của Chủ tịch
Hội đồng Bộ trưởng)
- Bộ Luật Dân sự được ban hành năm 1995 Bộ Luật này đã được sử dụng như là
khuôn khổ cho các nhóm nhỏ tại cấp cơ sở khi không có khuôn khổ quy định khác
Comment [Mr1]: Cần kiểm tra lại
Trang 31Bộ Luật Dân sự được sửa đổi năm 2005 (Quốc hội, 28/10/1995)
- Năm 1992, Nghị định 35/HĐBT đã được Hội đồng Bộ trưởng ban hành, về việc thành lập các tổ chức khoa học và công nghệ phi lợi nhuận, sau này đã trở thành khuôn khổ quan trọng nhất cho việc đăng ký các NGO Việt Nam, chủ yếu gồm các việc nghiên cứu và các tổ chức phi lợi nhuận, cho phép các cá nhân thành lập tổ chức khoa học và kỹ thuật cho riêng mình
- Luật Hợp tác xã được ban hành năm 1996, là một khuôn khổ cho các hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới sau khi rất nhiều hợp tác xã từ thời kỳ kế hoạch hoá tập trung
bị giải thể Luật này được sửa đổi năm 2003 (Luật 18/QH11, Quốc hội, ngày 26/11/2003)
- Năm 1996, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 340/TTg, ngày
24/5/1996 về hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam (Quyết định), và tiếp đó trong cùng năm là những quy định hướng dẫn cho các NGO quốc tế (UB-PCPNN, ngày 7/8/1996)
- Năm 1998, các quy chế về tổ chức và hoạt động của các Hiệp hội nghề nghiệp được Bộ Chính trị phê duyệt bằng một thông báo (Thông báo 143/TB-TW, ngày 5/6/1998)
- Năm 1999, Nghị định 177 quy định về các Quỹ xã hội và Quỹ từ thiện đã được Thủ tướng Chỉnh phủ ban hành (Nghị định 177/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ, ngày 22/12/1999)
- Năm 2001, Thủ tướng Chỉnh phủ ban hành các quyết định và quy chế về việc quản
lý và sử dụng viện trợ từ các NGO quốc tế (Quyết định số 64/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 26/4/2001)
- Nghị định số 29/NĐ- CP, ngày 15/5/1998 về nâng cao dân chủ cơ sở được ban hành năm 1998 và được sửa đổi năm 2003 trong Nghị định 79/2003/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 7/6/2003, trong đó bao gồm quy định về vai trò của các tổ chức quần chúng ở cấp làng xã
- Năm 2003, Nghị định 88/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ, ngày 30/6/2003 về tổ chức và hoạt động của các Hiệp hội của Thủ tướng Chính phủ và các Quy định hướng dẫn nghị định 88 của Bộ Nội vụ được ban hành Trên nguyên tắc, Nghị định này mở đường cho Luật về Hội sắp được ban hành và đã được bắt đầu thảo luận từ đầu thập kỷ 1990 Nghị định này là một bước tiến tạo ra một khuôn khổ pháp lý, nhưng không thông thoáng trong việc thành lập các tổ chức, và hầu hết các NGO Việt Nam thường bám vào những quy định trước đó hơn Ví dụ như yêu cầu của Nghị định này về số lượng người tham gia để có đủ điều kiện lập ra một tổ chức theo từng cấp
- Năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định 28 về tổ chức và hoạt động của các Định chế tài chính quy mô nhỏ tại Việt Nam Nghị định này khuyến khích các chương trình tín dụng (Nghị định 28/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ , ngày 9/3/2005)
- Năm 2006, Luật về Hội và Hiệp hội - dự thảo Luật được đưa ra thảo luận tại kỳ họp Quốc hội tháng 5 Tuy nhiên kể từ lần Dự thảo thứ nhất (năm 2006) đến nay là
Dự thảo lần thứ 11 (năm 2009), Luật về hoạt động của Hội vẫn chưa được ban hành
Trang 32Có thể nói, văn bản pháp lý cao nhất quản lý hoạt động của các tổ chức dân sự hiện nay tại Việt Nam là Nghị định 88/2003/NĐ-CP về tổ chức, hoạt động và quản lý Hội
Với 7 chương, 38 điều, Nghị định này đã quy định khá rõ ràng về nguyên tắc thành lập hội, nguyên tắc tổ chức, hoạt động của hội cũng như trách nhiệm của cơ quan nhà nước đối với hội…
b Các văn bản về hoạt động thông tin khoa học – công nghệ
- Luật Khoa học và Công nghệ được Quốc hội thông qua năm 2000, ở điều 7 nêu rõ: Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân đối với hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm:
Mọi tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia phát triển sự nghiệp khoa học và công nghệ; phổ biến kiến thức, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài về khoa học và công nghệ; phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất; ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ vào việc phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh
Về phạm vi đối tượng điều chỉnh (tức là đối tượng được phép tham gia hoạt động thông tin khoa học - công nghệ), điều 1 ghi bao gồm “Tổ chức, cá nhân Việt Nam hoạt động thông tin khoa học công nghệ trên lãnh thổ nước cộng hoà XHCN Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoạt động thông tin khoa học và công nghệ trên lãnh thổ nước cộng hoà XHCN Việt Nam
Các hội khoa học và công nghệ có trách nhiệm tổ chức, động viên các thành viên tham gia tư vấn, phản biện, giám định xã hội và tiến hành các hoạt động khoa học
và công nghệ trong đó có hoạt động thông tin khoa học - công nghệ
- Nghị định 159/2004/NĐ-CP, ngày 31 tháng 8 năm 2004 về hoạt động thông tin khoa học
Điều 5.2 trong Nghị định này ghi rõ: “Nhà nước khuyến khích và hỗ trợ các hoạt động thông tin khoa học và công nghệ nhằm mục đích tuyên truyền, phổ biến tri thức khoa học và công nghệ cho người lao động, đồng bào vùng sâu, vùng xa; tạo điều kiện cho tổ chức cá nhân có cơ hội dễ dàng tiếp cận thông tin khoa học và công nghệ nhằm nâng cao nhận thức, tự bồi dưỡng trình độ khoa học và công nghệ”
1.3 Vai trò của thông tin khoa học – công nghệ trong giai đoạn hiện nay
Trong thời đại ngày nay, thông tin nói chung và thông tin khoa học - công nghệ nói riêng đang ngày càng tỏ rõ là một nguồn lực và là nhân tố quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội Có thể nêu ra một số vai trò của thông tin khoa học - công nghệ như sau:
- Thông tin KH - CN giúp ích cho hình thành tư duy kinh tế tư duy sáng tạo
- Thông tin KH - CN là phương tiện để sử dụng vốn thông tin, giúp tiết kiệm nguồn lực
- Phổ cập hóa kiến thức khoa học - công nghệ nói chung và kiến thức khoa học kinh
tế nói riêng cho những người tham gian hoạt động kinh tế
- Thông tin khoa học - công nghệ là cầu nối giữa khoa học với thực tiễn đời sống
- Thông tin khoa học góp phần quan trọng trong việc tạo ra động lực tinh thần cho phát triển kinh tế - xã hội
Trang 331.4 Yêu cầu về nguyên tắc trong hoạt động thông tin khoa học – công nghệ
1.4.1 Coi thông tin là hàng hóa
Kết quả của hoạt động thông tin, với tư cách là một hoạt động dịch vụ khoa học, tác động vào các đối tượng nguồn tin thực để chúng được biến đổi và chuyển sang các dạng sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học (ấn phẩm, cơ sở dữ liệu, bảng tra, danh mục, tổng luận, tìm tin, phản biện thông tin, đánh giá thông tin… ) Như vậy, các sản phẩm thông tin và dịch vụ thông tin được coi là một phương thức để tạo lập tài nguyên thông tin và hàng hoá thông tin trong xã hội
1.4.2 Quyền tiếp cận và truy cập thông tin là quyền cơ bản của mọi tổ chức, mọi thành phần xã hội, mọi tầng lớp dân cư
Tự do thông tin là quyền của công chúng Để đảm bảo quyền tự do thông tin, cần có các quy định điều khoản miễn trừ trách nhiệm hình sự của công chức khi cung cấp thông tin, nếu không phải là thông tin mật
Tự do thông tin là trách nhiệm của Nhà nước và các cơ quan chức trách (cơ quan của Chính phủ, chính quyền địa phương, toà án, doanh nghiệp…) Tuy nhiên, đối tượng áp dụng lại phải tuân thủ theo pháp luật hiện hành của từng nước Thông tin cần được mở, dễ tiếp cận hay công khai bằng nhiều phương thức: lưu trữ, tạo nguồn
mở, xuất bản, truyền thông để đảm bảo quyền "thu thập và truyền tải" thông tin của công chúng Trách nhiệm của cơ quan Nhà nước không những phải cung cấp thông tin theo yêu cầu, mà còn chủ động truyền tải thông tin ra công chúng bằng nhiều phương tiện Đồng thời cơ quan Nhà nước cũng cần cung cấp những sự hỗ trợ cần thiết cho chủ thể yêu cầu, để chủ thể có thể truy cập và thu nhận được thông tin từ những nguồn khác nhau
1.4.3 Coi tổ chức dân sự là một tác nhân gắn kết giữa hệ thống thông tin khoa học - công nghệ quốc gia và đối tượng sử dụng
thông tin
Trong đời sống xã hội, các tổ chức dân sự được hình thành ngày càng nhiều, hoạt động trên nguyên tắc tự nguyện, tự quyết và tự chủ về kinh phí Các tổ chức này chia sẻ với Nhà nước, hỗ trợ cho Nhà nước trong việc đáp ứng nhu cầu đa dạng của các thành viên trong xã hội mà cơ quan Nhà nước không đủ sức làm hoặc làm không hiệu quả
Với những hiện trạng như hiện nay, theo TS Nguyễn Hữu Hùng “hạn chế của hoạt
động thông tin là giá thành cao do sự áp đặt, độc quyền của nhà cung cấp thông tin, thiếu môi trường cạnh tranh trong hệ thống; Khó tiếp cận, không gian thông tin
bị cắt sẻ”17 thì sự tham gia của các tổ chức quần chúng càng cần thiết
Các thành viên trong các tổ chức quần chúng thông qua tác động của các thành quả thông tin khoa học - công nghệ sẽ có điều kiện giúp nhau xoá đói, giảm nghèo, vươn lên khá giả, tham gia các hoạt động từ thiện, hỗ trợ nhân đạo, giáo dục con cháu, đấu tranh với các tệ nạn xã hội, tệ quan liêu, tham nhũng
17
Trang 34Đồng thời các tổ chức quần chúng còn đảm nhận chức năng phản biện xã hội, giám sát xã hội đối với hoạt động của bộ máy nhà nước, là diễn đàn tập hợp, phản ánh mong muốn, yêu cầu, đề nghị của các tầng lớp dân cư với Đảng, với Nhà nước; là cầu nối giữa Dân với Đảng, Dân với Nhà nước, thúc đẩy thiết chế bảo đảm dân chủ trong mọi hoạt động của đời sống xã hội đất nước
Sự phát triển kinh tế tri thức đang kéo theo những thay đổi về nhân sinh quan, thế giới quan của con người; những thay đổi về cơ cấu xã hội - dân cư; những thay đổi trong nhu cầu đời sống vật chất và tăng nhanh nhu cầu văn hoá tinh thần của dân cư; sự thay đổi về vai trò cá nhân trong phát triển nhờ công nghệ thông tin lan toả khắp nơi
Là đối tượng được hưởng lợi từ hoạt động thông tin khoa học - công nghệ, các tổ chức dân sự lại tiếp tục phổ biến chúng đến các thành viên khác tạo ra môt chu trình không ngừng phát triển và thâm nhập sâu trong xã hội
1.4.4 Xã hội hóa thông tin khoa học - công nghệ và hoạt động
thông tin khoa học - công nghệ
Cách đây hơn 20 năm (năm 1986), khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới, mặc
dù cơ sở vật chất của Việt Nam nói chung và ngành thông tin còn nghèo nàn, nhu cầu thông tin chưa phải là bức bách vì nền kinh tế còn nặng bao cấp, song không ít các nhà thông tin học nước ta đã kiên quyết khẳng định: lối thoát duy nhất khỏi sự trì trệ trong hoạt động thông tin là "phải chuyển từ bao cấp sang lấy thu bù chi, tự cấp vốn hoạt động và tiến tới hạch toán kinh doanh trong hoạt động thông tin" Tuy nhiên, hoạt động thông tin rất đa dạng, với nhiều lĩnh vực khác nhau Vì vậy, tuỳ theo lĩnh vực và trường hợp cụ thể, nhà nước nên áp dụng cơ chế hỗ trợ cho phù hợp Nguyên tắc chung là, nhà nước chỉ hỗ trợ cho các sản phẩm và dịch vụ thông tin phục vụ cho những lĩnh vực về chính trị, chiến lược, chính sách, quản lý nhà nước, lĩnh vực nghiên cứu cơ bản và số ít các ngành công nghệ mũi nhọn, mang tính đột phá Hoạt động thông tin phục vụ cho nhu cầu sử dụng trực tiếp nhằm đổi mới công nghệ, phát triển sản xuất kinh doanh đều phải chuyển sang cơ chế tự trang trải theo thị trường với đúng nghĩa là một loại sản phẩm hàng hoá
1.4.5 Coi thông tin là tiền đề nhằm tiến tới xã hội thông tin và xã hội tri thức, khẩn trương ban hành và thực thi Luật tiếp cận
thông tin
Trong hoạt động quản lý xã hội, bất kỳ lĩnh vực nào cũng đều cần có những chính sách cụ thể nhằm khuyến khích, thúc đẩy hoạt động đó nhằm góp phần vào phát triển kinh tế xã hội, giữ vững an ninh chính trị,… Nhà nghiên cứu chính sách nổi tiếng của Hoa Kỳ Peter Hernon trong công trình "Chính sách thông tin quốc gia"18
năm 1989 đã xác định "Chính sách thông tin là tập hợp các luật, văn bản quy phạm
và các hướng dẫn trực tiếp tác động và quản lý tới vòng đời của thông tin Vòng đời này bao gồm các quá trình lập kế hoạch, tạo lập, sản xuất, thu thập, phân phối, phổ biến và tìm kiếm thông tin" Như vậy, chính sách thông tin là lĩnh vực rộng của
18