Chính vì thế, TTĐN đã trở thành một trong những công cụ quan trọng, phổ biến được sử dụng trong quan hệ quốc tế và có ảnh hưởng lớn đến các hoạt động đối ngoại của các quốc gia trên thế
Trang 1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS TS PGS TS Nguyễn Thị Mai Hoa
Các số liệu trong luận án là trung thực, bảo đảm tính khách quan Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận án
Nguyễn Chí Thảo
Trang 4Tôi chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, nguyên là lãnh đạo, đồng nghiệp, bạn hữu ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Viện Lịch sử Đảng, Viện Quan hệ quốc tế), Ban Tuyên giáo Trung ương (Vụ Thông tin đối ngoại & Hợp tác quốc tế, Tạp chí Thông tin đối ngoại), Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, đã động viên, khuyến khích, trao đổi, góp ý, tạo điều kiện giúp đỡ về nguồn tài liệu qúy báu để tôi hoàn thành luận án này
Đặc biệt, tôi chân thành cảm ơn sự khích lệ, động viên từ đại gia đình nội - ngoại, đã luôn sát cánh, ủng hộ, giúp đỡ và dành cho tôi sự quan tâm nhất trong suốt quá trình thực hiện luận án!
Tác giả luận án
Nguyễn Chí Thảo
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN……… 6
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu tiêu biểu 6
1.1.1 Các công trình nghiên cứu chung về hoạt động thông tin đối ngoại 6 1.1.2 Các công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động thông tin đối ngoại 16
1.2 Những kết quả có thể kế thừa và những vấn đề luận án tập trung giải quyết 18
1.2.1 Những kết quả có thể kế thừa 18
1.2.2 Những vấn đề luận án tập trung giải quyết 20
Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2000 22
2.1 Những căn cứ xác định chủ trương và chủ trương của Đảng 22 2.1.1 Những căn cứ xác định chủ trương 22
2.1.2 Chủ trương của Đảng 29
2.2 Chỉ đạo hoạt động thông tin đối ngoại 36
2.2.1 Đổi mới cơ chế quản lý và phối hợp tổ chức hoạt động 36
2.2.2 Mở rộng lực lượng và phương thức thông tin đối ngoại 42
2.2.3 Đổi mới nội dung thông tin đối ngoại 46
Chương 3 SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2013 64 3.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động thông tin đối ngoại và chủ trương của Đảng 64
3.1.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng 64
3.1.2 Chủ trương của Đảng 68
3.2 Chỉ đạo thực hiện chủ trương 72
3.2.1 Tổ chức bộ máy, tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý 72
3.2.2 Tăng cường lực lượng và phương thức thông tin đối ngoại 79
3.2.3 Tiếp tục đổi mới nội dung thông tin đối ngoại 83
Chương 4 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 106
4.1 Nhận xét 106
Trang 64.1.1 Về ưu điểm, thành tựu 106
4.1.1.1 Nhận thức ngày càng rõ hơn tầm quan trọng của hoạt động thông
tin đối ngoại 106
4.1.1.2 Không ngừng hoàn thiện chủ trương về hoạt động thông tin đối
ngoại 108
4.1.1.3 Bảo đảm sự chủ động, thống nhất và hiệu quả trong chỉ đạo hoạt
động thông tin đối ngoại 110
4.1.1.4 Phát huy vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
trong hoạt động thông tin đối ngoại 114
4.1.2 Một số hạn chế 116
4.1.2.1
Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch hoạt động thông tin đối ngoại chưa đáp ứng được yêu cầu 116
4.1.2.2 Chậm kiện toàn bộ máy chỉ đạo, điều hành quản lý nhà nước về
thông tin đối ngoại 117 4.1.2.3 Phương thức thông tin đối ngoại khai thác chưa được hiệu quả 121
4.2 Một số kinh nghiệm 124 4.2.1
Hoạch định chủ trương về thông tin đối ngoại trên cơ sở phục vụ đường lối, chính sách đối ngoại và bám sát, gắn kết với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng 124 4.2.2 Thường xuyên hoàn thiện cơ chế phối hợp chặt chẽ, có chiều sâu
và tầm nhìn dài hạn 130 4.2.3 Chủ động cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời và hợp
đối tượng 134
4.2.4 Không ngừng đổi mới nội dung và hình thức thông tin, đa dạng
hóa phương thức thông tin đối ngoại 138
4.2.5 Khai thác thế mạnh của các loại hình thông tin trên Internet
trong hoạt động thông tin đối ngoại 142
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
Asia-Pacific Economic Cooperation
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Association of Southc - East Asia Nations
ASEM Diễn đàn hợp tác Á - Âu
The Asia-Europe Meeting
BCH Ban Chấp hành
CNXH Chủ nghĩa xã hội
EU Liên minh châu Âu
European Union
G20 Diễn đàn của 20 nền kinh tế lớn trên thế giới
Group of Twenty Finance Ministers and Central Bank Governors
KH-CN Khoa học - công nghệ
NVNONN Người Việt Nam ở nước ngoài
SNG Cộng đồng các quốc gia độc lập
Sodruzhestvo Nezavisimykh Gosudarstv
VTV Đài Truyền hình Việt Nam
VTV4 Kênh truyền hình đối ngoại, Đài Truyền hình Việt Nam
VOV Đài Tiếng nói Việt Nam
VOV5 Hệ Phát thanh đối ngoại, VOV
TTĐN Thông tin đối ngoại
TTXVN Thông tấn xã Việt Nam
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc
United Nations Educational Scientific and Cultural Organization
XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thời đại thông tin, bùng nổ thông tin, xa lộ thông tin, đó là những khái niệm còn khá mới nhưng chứng tỏ sức mạnh của thông tin trong đời sống xã hội quốc gia và quốc tế hiện nay Xã hội càng phát triển, yêu cầu thông tin càng đa dạng, phong phú và ngược lại, sự phát triển của thông tin thúc đẩy sự phát triển của xã hội Thông tin trở thành một nhu cầu thiết yếu trong đời sống xã hội, là công cụ điều hành, quản lý, chỉ đạo của mỗi quốc gia, là phương tiện hữu hiệu để
mở rộng giao lưu hiểu biết giữa các quốc gia, dân tộc, là nguồn cung cấp tri thức mọi mặt cho công chúng và là nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội Nước nào không vượt qua được những thách thức về thông tin, nước đó mất cơ hội phát triển và có nguy cơ mất khả năng tự chủ Thiếu thông tin, sẽ gặp khó khăn trong việc đưa ra các quyết định hoặc các quyết định sẽ bị sai lệch, thiếu cơ sở khoa học, không thực tiễn và trở nên kém hiệu quả Đầu tư cho thông tin từ chỗ được coi là đầu tư cho phúc lợi xã hội chuyển thành đầu tư cho sự phát triển
Chính vì vậy, chiến lược phát triển thông tin là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Thành công hay thất bại của một tổ chức, quốc gia tuỳ thuộc rất lớn vào khả năng làm chủ, chiếm được lợi thế thông tin Để bảo vệ quyền lợi thiết thực của mình trong các hoạt động chung trên thế giới, các quốc gia hay tổ chức quốc tế đang nỗ lực tìm kiếm những thông tin có giá trị nhất phục vụ cho mục tiêu hoạt động của mình
Toàn cầu hóa và cách mạng KH-CN phát triển mạnh mẽ thúc đẩy hình thành xã hội thông tin và kinh tế tri thức Hòa bình, hợp tác và phát triển trở thành
xu thế lớn và mỗi quốc gia muốn phát triển cần phải khai thác được các quan hệ giao lưu quốc tế Thông tin chính là một trong những chiếc cầu nối giao lưu giữa các quốc gia, là phương tiện giúp sự hiểu biết lẫn nhau giữa các cộng đồng, là nguồn lực để phát triển đất nước
Tuy nhiên, trong quan hệ quốc tế và hội nhập hiện nay, cuộc đấu tranh để bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia và bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc trở nên gay gắt, quyết liệt Các nước công nghiệp phát triển có tiềm lực kinh tế, khoa học, công nghệ đã và đang thực hiện chính sách bành trướng thông tin, độc quyền thông tin theo kiểu áp đặt, bắt các nước nhỏ hoặc kinh tế yếu hơn trở thành khách hàng tiêu thụ thông tin và lệ thuộc vào nguồn tin của họ Cuộc đấu tranh của các
Trang 9nước đang phát triển về một “trật tự thông tin quốc tế mới” đã trở thành một bộ phận của cuộc đấu tranh giành độc lập về kinh tế, chính trị, tiến bộ và công bằng
xã hội Chính vì thế, TTĐN đã trở thành một trong những công cụ quan trọng, phổ biến được sử dụng trong quan hệ quốc tế và có ảnh hưởng lớn đến các hoạt động đối ngoại của các quốc gia trên thế giới
TTĐN là một bộ phận quan trọng trong công tác đối ngoại và tư tưởng của Đảng, Nhà nước Trong những thời kỳ cách mạng trước đây, TTĐN đã thể hiện vai trò quan trọng trong việc phát huy sức mạnh tổng hợp của cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam, tối đa hóa nội lực, tranh thủ sức mạnh của sự hợp tác và hỗ trợ quốc tế để giành thắng lợi ngày càng to lớn hơn
Cho đến nay, công cuộc đổi mới đã giành được những thành tựu to lớn, có
ý nghĩa lịch sử Nếu như trong thời gian trước, Việt Nam vẫn còn trong tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng thì nay hướng tới cơ bản sớm trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại và đang trên con đường thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Hình ảnh của Việt Nam, từ một đất nước lạc hậu, khó khăn với những hậu quả nặng nề của chiến tranh, đã dần dần được thế giới biết đến như một quốc gia năng động, đang vươn lên mạnh mẽ, có chính sách đối ngoại hoà bình, hữu nghị, là bạn, là đối tác tin cậy
và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế Mặc dù còn không ít hạn chế trong quá trình phát triển, nhưng Việt Nam đã từng bước trở thành một địa chỉ thân thiện, một điểm đến hấp dẫn của du lịch và đầu tư nước ngoài
Thực tiễn công cuộc đổi mới thời gian qua cũng như yêu cầu phát triển của đất nước hiện nay cho thấy, TTĐN có tầm quan trọng đặc biệt Ngay từ những năm đầu tiến hành công cuộc đổi mới, cùng với quyết định chuyển hướng chính sách đối ngoại nói chung, Đảng chủ trương từng bước đổi mới, đẩy mạnh hoạt động TTĐN nhằm phục vụ hiệu quả các mục tiêu đối ngoại và phát triển của đất nước
Với ý nghĩa ấy, việc tìm hiểu, nghiên cứu quá trình Đảng lãnh đạo hoạt động TTĐN trong thời gian qua trở nên cần thiết, nhằm khẳng định tầm quan trọng của TTĐN và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động TTĐN, cũng như
từ yêu cầu của quá trình hội nhập khu vực và quốc tế ngày càng sâu rộng hơn
trong những năm tới đây Trên cơ sở đó, nghiên cứu sinh chọn chủ đề “Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động thông tin đối ngoại từ năm 1986 đến năm 2013” làm đề tài luận án tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng
sản Việt Nam
Trang 102 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trình bày quá trình lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động TTĐN từ năm 1986 đến năm 2013; đúc rút một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho hiện tại
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích, làm rõ những căn cứ xác định chủ trương và yếu tố tác động đến quá trình Đảng lãnh đạo hoạt động TTĐN từ năm 1986 đến năm 2013
- Nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với hoạt động TTĐN những năm 1986-2013
- Rút ra những nhận xét và kinh nghiệm trên cơ sở thực tiễn và khoa học từ
sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động TTĐN những năm 1986-2013
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hoạt động TTĐN, bao gồm chủ trương và sự chỉ đạo đối với hoạt động TTĐN từ năm
Mốc kết thúc nghiên cứu là năm 2013- năm ra đời Nghị quyết số 22-NQ/TW
ngày 10-4-2013 của Bộ Chính trị, BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Về hội
nhập quốc tế đặt ra yêu cầu đẩy mạnh hoạt động TTĐN phục vụ hội nhập quốc tế
Bên cạnh đó, để có cái nhìn tổng thể, liền mạch và xuyên suốt các vấn đề,
sự kiện lịch sử thuộc chủ đề của luận án, luận án mở rộng một cách tương đối phạm vi nghiên cứu về thời gian cả về trước và sau mốc bắt đầu và kết thúc nghiên cứu
Phạm vi khoa học
Luận án nghiên cứu và làm sáng tỏ sự lãnh đạo của Đảng, bao gồm những chủ trương và biện pháp, giải pháp mà Đảng đề ra đối với hoạt động TTĐN trên các phương diện thuộc về hoặc liên quan đến cơ chế quản lý - tổ chức các hoạt động TTĐN, lực lượng và phương thức TTĐN, nội dung TTĐN
Phạm vi không gian: Trên địa bàn Việt Nam và những quốc gia có liên quan
Trang 114 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
4.1 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận án sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic là chủ yếu
Luận án cũng sử dụng phương pháp phê phán sử liệu nhằm khai thác độ tin cậy, khách quan của tư liệu lịch sử liên quan đến nội dung nghiên cứu
Nhằm phân tích, trình bày rõ hơn quá trình Đảng lãnh đạo hoạt động TTĐN, luận án sử dụng các phương pháp so sánh, hệ thống hóa để xử lý các số liệu, sự kiện diễn ra trong phạm vi nghiên cứu
Việc quán triệt phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, đối chiếu, thống kê với mục đích phục dựng tương đối đầy đủ những sự kiện quan trọng, thể hiện quá trình không ngừng đổi mới các hoạt động TTĐN gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực này
Cách tiếp cận và diễn giải những kinh nghiệm chủ yếu của luận án được dựa trên việc sử dụng các phương pháp logic - lịch sử, phương pháp so sánh, hệ thống hóa và trừu tượng hóa
Ngoài ra, một số phương pháp khác như so sánh, đối chiếu, thống kê cũng được vận dụng phù hợp trong giải quyết những nội dung nghiên cứu cụ thể của luận
án
4.2 Nguồn tư liệu
Luận án được thực hiện trên cơ sở tham khảo, sử dụng, kế thừa và tiếp thu các nguồn tư liệu sau:
- Các văn kiện của Đảng qua các thời kỳ; những bài nói, bài viết của các lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Thông tin - Truyền thông, Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là tài liệu gốc trong quá trình thực hiện luận án
- Các tài liệu lưu trữ tại Văn phòng Trung ương Đảng, Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Ngoại giao, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch là những tư liệu quan trọng của luận án
- Những công trình nghiên cứu khoa học như sách, tạp chí trong và ngoài nước đã xuất bản, là nguồn tư liệu bổ trợ quan trọng trong nghiên cứu đề tài luận án
- Quá trình thực hiện luận án còn tham khảo nhiều số liệu, tài liệu thống kê của Tổng cục Thống kê nhằm làm rõ một số nội dung có liên quan
Trang 125 Đóng góp của luận án
- Hệ thống hóa các văn kiện, văn bản và hoạt động liên quan trực tiếp đến chủ trương và quá trình chỉ đạo của Đảng về hoạt động TTĐN trong giai đoạn 1986-2013
- Nghiên cứu, đánh giá, tổng kết thực tiễn lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hoạt động TTĐN từ năm 1986 đến năm 2013 dưới góc độ lịch
sử Đảng
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được vận dụng vào việc thúc đẩy hoạt động TTĐN phát triển ở thời kỳ hiện tại và sử dụng trong nghiên cứu, giảng dạy những vấn đề liên quan
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung của luận án bao gồm 4 chương, 8 tiết:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án
Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với hoạt động thông tin
đối ngoại từ năm 1986 đến năm 2000
Chương 3: Sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động thông tin đối ngoại từ
năm 2001 đến năm 2013
Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
Trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trên mọi lĩnh vực, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, thì nhiệm vụ đổi mới, tăng cường hoạt động TTĐN nhằm đáp ứng các yêu cầu mới là một đòi hỏi cấp thiết Những nghiên cứu về hoạt động TTĐN ở Việt Nam cũng như trên thế giới đã được quan tâm thúc đẩy và đạt được kết quả nhất định Đã có nhiều công trình khoa học, bài viết nghiên cứu, ấn phẩm và tài liệu dịch thuật về chủ đề này được nghiên cứu, xuất bản
Là một bộ phận quan trọng của công tác đối ngoại, do vậy khi nghiên cứu
về quá trình đổi mới TTĐN không thể không nghiên cứu về chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, cũng như việc phải đặt nó trong bối cảnh lịch sử cụ thể và các nhiệm vụ ngoại giao của từng thời kỳ nhất định Mặt khác, một số công trình có tính chuyên khảo về ngoại giao nói chung, hay những công trình trực tiếp nghiên cứu về chính sách ngoại giao của Đảng và Nhà nước cũng gián tiếp đề cập
đến hoạt động TTĐN ở những mức độ khác nhau
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu tiêu biểu
1.1.1 Các công trình nghiên cứu chung về hoạt động thông tin đối ngoại
Trên thế giới, vấn đề sử dụng thông tin và truyền thông trong hoạt động đối
ngoại phục vụ sự phát triển của đất nước không còn là một vấn đề mới, mà đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu Có thể nói, về chủ đề TTĐN với vai trò là một mảng hoạt động của công tác đối ngoại và truyền thông của các nước đã có nhiều công trình được xuất bản, trong đó có một số đã được dịch ra tiếng Việt
Hans N.Tuch and Marvin Kalb trong công trình Communicating with the
World: U S Public Diplomacy Overseas (Truyền thông với thế giới: Ngoại giao nhân dân Mỹ ở bên ngoài), Institute for the Study of Diplomacy, St Martin's Press
New York, Aug 15, 1990, đề cập đến khái niệm, nguồn gốc và quá trình thực hiện ngoại giao nhân dân của chính phủ Hoa Kỳ, trong đó nhiều hoạt động thuộc về lĩnh vực thông tin đối ngoại Tác giả cho rằng, ngoại giao đã thay đổi cơ bản so với 100 năm trước đây do sự phát triển của công nghệ thông tin, truyền thông Qua các hoạt động của phòng văn hóa - Cơ quan thông tin Mỹ (USIA - United States Information Agency) trụ sở tại Washington và cơ quan thông tin Mỹ (USIS - United Information Service) ở nước ngoài, một thế giới mới kết nối công nghệ, báo chí và ngoại giao thành một vòng tròn phụ thuộc lẫn nhau Để thực hiện tốt các mục tiêu đối ngoại
Trang 14của quốc gia, các chính phủ phải biết tận dụng sức mạnh của văn hóa và thông tin
tự do như những phương tiện mềm dẻo, nhanh, mạnh mẽ trong ngoại giao
Cuốn Global Journalism Global Journalism: Survey of International
Communication (Báo chí toàn cầu - Khảo sát truyền thông quốc tế), Longman
Publishing Group, April 28th 1995, của John Merill, đã nhận định: truyền thông toàn cầu cuối thế kỷ XX nằm trong sự thống trị của các hãng thông tấn, các tập đoàn báo chí lớn Những tên tuổi như General Electric, Time Warner, Disney Corp., Time Corp., Sony, Thomson Corp.,… cùng các hãng thông tấn như AP, Reuters, AFP không chỉ cung cấp thông tin, các chương trình truyền thông, giải trí, các dịch vụ tin tức cho toàn thế giới mà còn góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng
kỹ thuật cho truyền thông nhằm phục vụ các mục tiêu ngoại giao, thương mại của các cường quốc
Philipppe Breton và Serge Proulx trong cuốn sách Bùng nổ truyền thông:
Sự ra đời một ý thức hệ mới, Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội, 1996, tiếp cận ban
đầu từ khái niệm “thông tin” Theo đó, “thông tin” có hai hướng nghĩa: thứ nhất, nói về một hành động cụ thể để tạo ra một hình thái (frome); thứ hai, nói về sự
truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm hay biểu tượng Hai hướng nghĩa này cùng tồn tại, một nhằm vào sự tạo lập cụ thể, một nhằm vào sự tạo lập kiến thức và truyền đạt Nó thể hiện sự gắn kết của hai lĩnh vực kỹ thuật và kiến thức Nội dung của cuốn sách còn trình bày các kỹ thuật truyền thông trong lịch sử, các phương tiện truyền thông và kỹ thuật điện tử trong truyền thông, quảng cáo, tiêu thụ và các phương tiện truyền thông, kỹ thuật truyền thông hiện đại trên thế giới
và sự bùng nổ thông tin
Trong cuốn Mass Media, Mass Culture (Truyền thông đại chúng, truyền
thông văn hóa), Fourth Edition, McGraw-Hill, 1998, James Wilson, Stan Le Roy
Wilson khi nêu ra định nghĩa về truyền thông, giúp hiểu hơn về các vấn đề liên quan Nếu coi truyền thông như một vòng tròn lớn, thì trong vòng tròn lớn đó sẽ
có các vòng tròn nhỏ hơn xen và kết nối với nhau Đó là các “vòng tròn” truyền thông đại chúng, truyền thông đối ngoại, truyền thông quốc tế… với các phương tiện rất đa dạng như báo in, báo nói, báo hình, phim ảnh, internet, báo trực tuyến trên mạng và các phương thức hoạt động như thông tin đối ngoại, thông tin đối nội; truyền thông quản lý xã hội, truyền thông dân số, truyền thông môi trường, truyền thông du lịch…
Thussu, D K với công trình International Communication: Continuity and
Change (Truyền thông quốc tế: Liên tục và thay đổi), London, Arnold, 2000, cho
Trang 15biết, khái niệm “communication” có gốc Latin là “to share” Bởi vậy, truyền thông quốc tế hàm nghĩa là chia sẻ tri thức, tư tưởng và niềm tin giữa những người khác nhau trên khắp thế giới; và bởi vậy, nó có thể trở thành một trong các yếu tố đóng góp vào việc giải quyết xung đột ở cấp độ toàn cầu và tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc Tuy nhiên, hiện nay đa phần các kênh truyền thông quốc tế lại không được sử dụng vào những mục tiêu trên mà chủ yếu là tập trung vào thúc đẩy lợi ích kinh tế và chính trị của các cường quốc trên thế giới - những người đang nắm giữ và kiểm soát phần lớn các phương tiện truyền thông toàn cầu
Truyền thông quốc tế (còn gọi là thông tin liên lạc toàn cầu hoặc thông tin liên lạc xuyên quốc gia) được định nghĩa là “truyền thông xuyên biên giới” (the communication that occurs across international borders) Các nhu cầu thông tin liên lạc quốc tế là do những tác động ngày càng tăng và ảnh hưởng của toàn cầu hóa Là một lĩnh vực nghiên cứu, thông tin liên lạc quốc tế là một chi nhánh của nghiên cứu truyền thông, liên quan đến phạm vi của “chính phủ với chính phủ”, “kinh doanh-to-kinh doanh”, và “người-với-người” tương tác ở mức độ toàn cầu Cho đến nay, nội dung của khái niệm này đến nay đã rộng ra rất nhiều, từ chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và quân sự
Joseph S Nye Jr (2008), trong công trình “Public Diplomacy and Soft
Power” (Ngoại giao công chúng và sức mạnh mềm), The ANNALS of the
American Academy of Political and Social Science, 616, pp 94-109, đã đề cập đến những vấn đề cơ bản của ngoại giao công chúng, sức mạnh mềm và mối quan
hệ giữa chúng trong quan hệ quốc tế hiện đại
Tác giả cho rằng, thông tin là sức mạnh, và ngày nay loài người càng có nhiều cơ hội tiếp cận được sức mạnh này Những tiến bộ trong công nghệ đã giảm thiểu chi phí sản xuất và lưu hành thông tin Việc thúc đẩy các hình ảnh tích cực của một quốc gia là việc không mới nhưng các điều kiện triển khai sức mạnh mềm trong những năm gần đây đã thay đổi rất nhanh chóng Trong quan hệ giữa các quốc gia, các chính quyền cạnh tranh với nhau và với các tổ chức khác để tăng cường sự khả tín của họ và làm suy yếu sự khả tín của các đối thủ
Liên quan đến thông tin và tuyên truyền ra thế giới, tác giả nhấn mạnh vai trò của ngoại giao công chúng đối với sức mạnh mềm của mỗi quốc gia; việc sử dụng các hoạt động ngoại giao công chúng phải hết sức khôn khéo, phù hợp, để gia tăng sức mạnh mềm và sức mạnh thông minh, chứ không phải biến thành những điều tuyên truyền đơn thuần, mà như thế sẽ không thuyết phục được người khác
Trang 16Junhao Hong đã có nghiên cứu nhan đề From the World Largest
Propaganda Machine to a Multipurposed Global News Agency: Factors in and Implications of Xinhua’s Transformation since 1978 (Từ cỗ máy tuyên truyền lớn nhất thế giới trở thành Hãng Thông tấn toàn cầu đa mục đích: Những yếu tố ảnh hưởng và hệ quả trong sự cải cách của Tân Hoa Xã từ năm 1978), Taylor &
Francis Group publishes, online 4- 8-2011, http://www.tandfonline.com/doi/full/10.1080/10584609.2011.572487
Nghiên cứu này đánh giá những thay đổi theo hướng lớn mạnh và vươn ra thế giới của Tân Hoa Xã trong ba thập niên vừa qua dựa trên các tiền đề như chiến tranh lạnh kết thúc, những thay đổi lớn diễn ra ở các hãng thông tấn, các tập đoàn truyền thông lớn trên thế giới và tham vọng muốn trở thành một cường quốc của Trung Quốc Mô hình và phương thức hoạt động của Tân Hoa Xã gợi ý cho các
cơ quan báo chí truyền thông phải tích cực đổi mới, vừa là cơ quan ngôn luận của chính quyền, vừa cung cấp thông tin cho công chúng trong nước và trên thế giới, đồng thời làm ra lợi nhuận như một tập đoàn thương mại Kết quả này cũng cho thấy rằng một mẫu hình truyền thông mang tính chất “pha trộn” đang được triển khai một cách lặng thầm nhưng mạnh mẽ ở Trung Quốc thay cho mô hình báo chí
xã hội chủ nghĩa thuần túy trước đây
Hai tác giả William Hachten và James F.Scotton trong công trình The World
News Prism - Challenges of Digital Communication (Lăng kính tin tức thế giới - Những thách thức của truyền thông kỹ thuật số), Wiley-Blackwell Publishing , New
Jersey, USA, 8 edition, October 4-2011, khẳng định rằng: trong thời đại internet và
kỹ thuật số, lần đầu tiên trong lịch sử, tất cả các quốc gia, dù xa xôi và khác biệt cách mấy cũng đều có thể bước chân vào thế giới thông tin hiện đại, bởi sự phụ thuộc lẫn nhau của các dân tộc và các quốc gia trên thế giới đang gia tăng hơn bao giờ hết Internet và tiếng Anh trở thành phương tiện truyền thông quan trọng toàn cầu Các tác giả cho rằng hệ thống phân phối thông tin trên thế giới giống như một lăng kính thuỷ tinh, sự thật xuất phát cũng như ánh sáng trắng ban đầu, nhưng qua lăng kính, nó có thể chuyển thành rất nhiều màu sắc khác nhau Đây là bản chất của tin tức báo chí trên thế giới Việc các quốc gia cần tự phát triển hệ thống cung cấp thông tin riêng, tận dụng sức mạnh của internet để cung cấp tin tức cho thế giới là điều cần thiết
Nhìn chung, các công trình trên đi sâu phân tích những vấn đề chung về thông tin đối ngoại như vai trò trong mối quan hệ giữa các quốc gia, sự tương tác giữa các cá nhân, tổ chức với nhau, vị trí của thông tin đối ngoại trong chính sách
Trang 17đối ngoại và các cách thức khác nhau để tiến hành các hoạt động thông tin đối ngoại đem lại hiệu quả cao nhất Tuy nhiên, hầu hết ở các nước không có thuật ngữ TTĐN; vị trí, vai trò cũng như biểu hiện cụ thể cùng các mảng hoạt động của
nó thông qua các khái niệm có liên quan trực tiếp TTĐN là một thuật ngữ cần được hiểu theo các hàm nghĩa khác nhau và bao trùm hay thể hiện qua các hoạt động khác nhau của Chính phủ, tổ chức và cá nhân
Những ấn phẩm của các học giả trên thế giới đã dày công nghiên cứu về TTĐN - với tư cách là một thuật ngữ khoa học như đã đề cập ở trên - từ nhiều cách tiếp cận và phương diện khác nhau Một số cuốn sách, bài báo được in và lưu hành ở nước ngoài, một số được dịch ra tiếng Việt và lưu hành ở Việt Nam Những tài liệu này giúp tác giả có được nhận thức phong phú hơn, nhất là tiếp cận dưới góc nhìn của người nước ngoài về TTĐN và các hoạt động có liên quan trực tiếp như truyền thông đại chúng, truyền thông quốc tế, chính sách đối ngoại , tầm quan trọng của thông tin, của tuyên truyền trong quá trình thúc đẩy sự hội nhập, mối liên kết giữa quốc gia, tổ chức và cá nhân cũng như triển khai chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia Thông tin, tuyên truyền đối ngoại, truyền thông quốc tế trở thành yêu cầu khách quan trong sự phát triển của thế giới toàn cầu hóa ngày nay
Ở Việt Nam, TTĐN được triển khai rất sớm và mang tính hệ thống Dù
vậy, TTĐN gắn với và phục vụ mục tiêu đối ngoại trong quá trình hội nhập quốc
tế của Việt Nam được tiến hành chưa lâu và hoạt động TTĐN lại rộng lớn, bao trùm nhiều lĩnh vực, nên các công trình nghiên cứu về vấn đề này trong những giai đoạn trước năm 2000 chưa có nhiều
Trong cuốn Lược sử ngoại giao Việt Nam các thời trước (Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000) của tác giả Nguyễn Lương Bích và cuốn Ngoại giao Đại
Việt (Nxb Công an nhân dân Hà Nội, 2000) của tác giả Lưu Văn Lợi đều dẫn
chứng 2 sự kiện ngoại giao đầu tiên của Việt Nam với Trung Quốc: sự kiện thứ nhất diễn ra vào năm 2353 trước Công nguyên với việc sứ bộ ngoại giao đầu tiên của nước Việt Thường (Văn Lang) đến Trung Quốc và tặng vua Nghiêu một con rùa rất lớn; sự kiện thứ hai vào năm 1110 trước Công nguyên với việc vua Hùng
cử sứ giả sang tặng vua Chu Thành Vương một con chim trĩ trắng
Con rùa hay con chim trĩ trắng là những sản vật quý của Việt Nam Việc tặng các sản vật này mang thông điệp mong muốn của cha ông trong việc giao lưu, thúc đẩy mối quan hệ hòa hiếu, hữu nghị giữa Việt Nam với Trung Quốc nói riêng và các nước lân bang nói chung
Trang 18Bài viết Thông tin đối ngoại góp sức tích cực thúc đẩy hội nhập quốc tế, trong Tạp chí Thông tin đối ngoại, số 28, 7-2006 của tác giả Hồng Vinh đã nêu bật
vai trò của TTĐN trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam, đặc biệt là qua hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp trong tiến trình gia nhập các tổ chức
Từ thực tiễn của tỉnh Quảng Ninh, tác giả bài viết kiến nghị cần phải tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về TTĐN, xác định rõ cơ quan chủ trì, việc thành lập Phòng Thông tin đối ngoại cần quy định rõ về biên chế, nhằm khắc phục tình trạng kiêm nhiệm, làm giảm tính chuyên nghiệp trong hoạt động này
Tiếp tục đổi mới tư duy, cách thức, biện pháp triển khai công tác thông tin đối ngoại, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng của Phạm
Gia Khiêm, Tạp chí Thông tin đối ngoại, số (49) 4/2008 Trong bài viết này, tác
giả đã nêu những thành tựu nổi bật của hoạt động TTĐN sau 15 năm thực hiện Chỉ thị số 11-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VII) Trong bối cảnh mới, TTĐN của Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội song thách thức cũng rất lớn, cần phải bám sát vào bốn trụ cột chính của công tác đối ngoại: (1) chính trị đối ngoại, (2) kinh tế đối ngoại, (3) văn hóa đối ngoại, (4) công tác về người Việt Nam ở nước ngoài; và cho rằng, đó là những trọng tâm cần bám sát để không ngừng đổi mới cả về nội dung lẫn hình thức hoạt động của hoạt động TTĐN (tr 3-7) Bài viết cũng cũng đi sâu vào các nội dung cụ thể của TTĐN trên những trụ cột chính của công tác đối ngoại
Tiếp tục đổi mới công tác thông tin đối ngoại, của tác giả Đào Việt Trung,
Tạp chí Thông tin đối ngoại, số (49) 4/2008 Bài viết này tổng kết 15 năm thực
hiện Chỉ thị số 11-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VII) về TTĐN của Bộ Ngoại giao Những thành tựu đạt được thể hiện rõ trên các mặt cơ bản:
Trang 19một là, công tác phát ngôn và đấu tranh dư luận; hai là, công tác thông tin, tuyên
truyền; ba là, công tác phóng viên nước ngoài; bốn là, TTĐN ở ngoài nước Trên
cơ sở nhận định các hạn chế, tác giả đề xuất một số phương hướng để thúc đẩy hoạt động TTĐN, trong đó, đặc biệt cần tăng cường cơ chế phối hợp trong Ban Chỉ đạo công tác TTĐN, giữa các cơ quan, địa phương và xây dựng chiến lược quốc gia về TTĐN, nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình mới (tr 12-15)
Cuốn Định hướng chiến lược đối ngoại Việt Nam đến 2020, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2010, do Phạm Bình Minh làm Chủ biên, đã trình bày tư tưởng
Hồ Chí Minh về đối ngoại; đưa ra một số đánh giá và khuyến nghị khi nhìn lại quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam những năm qua, đặc biệt là hình ảnh, vị thế của Việt Nam sau 15 năm là thành viên ASEAN, đề ra một số biện pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả tham gia của Việt Nam tại các tổ chức, diễn đàn đa phương
Trên cơ sở nhìn lại bức tranh toàn cảnh thế giới trong những thập niên qua,
các tác giả của cuốn Cục diện thế giới đến 2020, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2010 do Phạm Bình Minh làm Chủ biên, đã phác họa rõ nét tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh… của thế giới biến động hằng ngày, cục diện thế giới cũng thay đổi không ngừng; đồng thời phân tích và dự báo sự phát triển của khoa học công nghệ trong cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa các quốc gia, về tương quan sức mạnh toàn cầu, về mối quan hệ giữa các trung tâm quyền lực lớn, về hệ thống thế giới cũng như tình hình và xu hướng phát triển của khu vực Đông Nam
Á Cục diện thế giới đến năm 2020 như thế nào sẽ tác động mạnh đến quá trình hội nhập vào đời sống quốc tế của Việt Nam và đặt ra nhiều vấn đề quan trọng trong đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam những năm tiếp theo
Tập thể tác giả do Phạm Minh Sơn làm Chủ biên trong Thông tin đối ngoại
Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà
Nội, 2011, đã làm rõ thực trạng hoạt động TTĐN của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động TTĐN của Việt Nam hiện nay Nội dung của công trình này tập trung nghiên cứu, phân tích, làm rõ hoạt động TTĐN từ năm 1992, sau khi Ban Bí thư Trung
ương Đảng ra Chỉ thị số 11/CT-TW về đổi mới và tăng cường công tác thông tin
đối ngoại; chú trọng phân tích, khảo sát những vấn đề trong những năm gần đây,
nhất là từ khi Việt Nam gia nhập WTO
Đối ngoại nhân dân góp phần nâng cao hình ảnh, vị thế của đất nước, của
Vũ Xuân Hồng, Tạp chí Cộng sản, số 821 (3-2011) Tác giả đã điểm lại hoạt động
Trang 20đối ngoại nhân dân của Việt Nam trong năm 2010, nhấn mạnh rằng, đây là một năm “sôi động” của đối ngoại nhân dân, Việt Nam có điều kiện đẩy mạnh hơn nữa việc tuyên truyền hình ảnh, vai trò và vị thế của mình không chỉ trong khu vực Đông Nam Á mà cả trên các diễn đàn quốc tế
Trên cơ sở đó, bước sang năm 2011, mặc dù tình hình diễn thế giới diễn biến phức tạp , để thúc đẩy đối ngoại nhân dân, cần tăng cường nắm bắt thông tin, mở rộng các kênh TTĐN, chú trọng việc tăng cường tính chính trị và hiệu quả thông tin của các hoạt động đối ngoại; tăng cường tiếp cận và thúc đẩy quan hệ với lực lượng cánh tả và Việt kiều ở Mỹ; đưa các quan hệ đi vào chiều sâu, trên cơ
sở phân loại, phân nhóm đối tác, đối tượng, cập nhật thông tin (tr 74-80)
Tổng quan truyền thông quốc tế - Dành cho người làm công tác thông tin đối ngoại, do Lê Thanh Bình làm Chủ biên, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà
Nội, 2012, khẳng định: TTĐN là nội dung cơ bản của hoạt động truyền thông quốc tế Truyền thông quốc tế có nhiệm vụ cơ bản trong việc thực hiện và triển khai đường lối đối ngoại về chính trị, phục vụ phát triển kinh tế đối ngoại, phục
vụ ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa Công trình này đề cập đến các khái niệm, cơ sở lý luận và thực tiễn của truyền thông quốc tế, các yêu cầu về phẩm chất nghề nghiệp, đạo đức, văn hóa chính trị của người làm công tác truyền thông quốc tế nói chung và nhà báo quốc tế nói riêng; đông thời giới thiệu sự đa dạng và phong phú các sản phẩm truyền thông quốc tế và các cơ quan làm nhiệm vụ truyền thông quốc tế tại Việt Nam; phân tích khả năng tác động trong nước và quốc tế của một số sản phẩm truyền thông quốc tế tiêu biểu Từ đó, đặt ra yêu cầu cho người làm truyền thông quốc tế, TTĐN cần có những phương pháp đánh giá hiệu quả, hiệu lực của công tác truyền thông quốc tế, TTĐN, việc này được dựa trên khá nhiều tiêu chí; cuốn sách còn giới thiệu các kỹ năng xây dựng các sản phẩm truyền thông quốc tế các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác truyền
thông quốc tế, TTĐN
Tập thể tác giả do Lê Thanh Bình chủ biên, trong cuốn sách Báo chí và
thông tin đối ngoại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015, cho rằng, trước bối
cảnh toàn cầu hóa, vì mục tiêu phát triển và hội nhập, công tác TTĐN ngày càng trở nên quan trọng trong việc quảng bá, nâng cao vị thế, vai trò của quốc gia trên trường quốc tế Để thực hiện được nhiệm vụ này, không thể không nói đến vai trò quan trọng của truyền thông và các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt
là báo chí Lực lượng báo chí có tác dụng tăng cường quan hệ hữu nghị giữa Việt
Trang 21Nam với các quốc gia, dân tộc trên thế giới, nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phục vụ yêu cầu phát triển thông tin đối ngoại trong tình hình mới, của Phạm Minh Sơn, Tạp chí Thông tin đối ngoại, số (111),
3/2013 Bài viết đã nêu chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với nhiệm vụ tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên ngành TTĐN
Trong bài viết này, tác giả cho biết tình hình đào tạo nhân lực phục vụ công tác thông tin đối ngoại tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền Học viện đưa môn TTĐN vào giảng dạy các chuyên ngành khác trong trường như: Quan hệ quốc tế, Chính trị học, Công tác tư tưởng, Quản lý xã hội, Văn hóa học Bài viết góp phần chỉ rõ yêu cầu, phẩm chất, tiêu chí của cán bộ TTĐN, đó là: có bản lĩnh, sắc sảo
về chính trị, hiểu biết sâu sắc về quan hệ quốc tế và đối ngoại, nhuần nhuyễn kỹ năng nghiệp vụ ngoại giao và nghiệp vụ báo chí, giỏi giang về ngoại ngữ Đó phải vừa là nhà chính trị, vừa là nhà ngoại giao và vừa là nhà báo (tr 24-27)
Nguyễn Thế Kỷ với bài Thông tin đối ngoại với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền
biển đảo Tổ quốc trên Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số 7-2013, đã
khái quát những thông tin cơ bản về biển, đảo của đất nước; vấn đề tranh chấp chủ quyền trên các đảo và biển Việc thông tin, truyên truyền đối ngoại cần chú ý những đặc điểm cụ thể liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển đang tranh chấp Nội dung bài viết còn đề cập một cách cụ thể đến phương thức, đối tượng, địa bàn thực hiện các hoạt động TTĐN, nhằm làm sao để góp phần hiệu quả trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (tr 3-5)
Trong công trình Truyền thông quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2014, tác giả Vũ Thanh Vân tiến hành tổng hợp và khái quát những vấn đề cơ bản
về báo chí và truyền thông, trình bày khái niệm, đặc điểm và các yếu tố thúc đẩy toàn cầu hóa thông tin, đồng thời cung cấp cái nhìn toàn cảnh về hiện trạng và đặc thù của ngành kinh doanh truyền thông trên thế giới hiện nay Ngoài ra, tác giả cũng làm rõ những thách thức trong việc quản lý cơ quan báo chí - truyền thông toàn cầu và trình bày những vấn đề cơ bản nhất về tập đoàn truyền thông như:
khái niệm, con đường hình thành và các loại hình tập đoàn truyền thông
Ngoại giao và công tác ngoại giao, của tác giả Vũ Dương Huân, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015 dành trọn một chương (chương VIII) đề cập về
“công tác thông tin, báo chí và TTĐN” Công trình cung cấp nhận thức chung về báo chí - TTĐN (khái niệm, nội dung, đối tượng, hình thức thông tin, tuyên truyền đối ngoại, lực lượng, chính sách) Tác giả nhận định rằng, việc thành lập Ban Chỉ
Trang 22đạo TTĐN, tuyên truyền đối ngoại là bước đi quan trọng nhằm thống nhất nâng cao hiệu quả TTĐN, song cơ chế hoạt động của Ban Chỉ đạo khá lỏng lẻo, chưa phải là cơ quan chuyên trách về TTĐN
Liên quan đến tổ chức thực hiện, tác giả cho rằng, sự phối hợp đưa tin trên báo chí Việt Nam còn chưa tốt Theo ước tính, khoảng 60% thông tin mà các hãng thông tấn nước ngoài cung cấp là khai thác trên báo chí Việt Nam Thông tin không nên phổ biến vẫn được đăng tải công khai là hiện tượng thường xuyên xảy ra Điều
đó bị báo chí nước ngoài khai thác trở lại tạo ra phản ứng từ chính giới nước liên
quan
Văn hoá đối ngoại Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2015 của hai tác giả Vũ Trọng Lâm và Lê Thanh Bình đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về văn hóa và văn hóa đối ngoại, trình bày kinh nghiệm của một số nước về phát triển văn hóa đối ngoại, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam; đi sâu phân tích thực tiễn hoạt động văn hóa đối ngoại ở Việt Nam trong thời gian qua; đề xuất phương hướng, giải pháp chủ yếu thúc đẩy sự phát triển nhanh hơn, bền vững hơn của văn hóa đối ngoại Việt Nam trên cơ sở vận dụng các quan điểm, đường lối, chính sách văn hóa đối ngoại của Đảng, Nhà nước và thực tiễn hoạt động đối ngoại ở Việt Nam
Trong nhiều công trình, các tác giả đã phân tích nội dung, cách thức tổ chức, những thuận lợi và khó khăn hoạt động TTĐN trên các lĩnh vực khác nhau
ở Việt Nam trong những năm qua Những công trình này giúp thấy rõ hơn thực trạng hoạt động TTĐN ở một số cơ quan, địa phương chủ yếu tập trung vào trong thời gian từ sau năm 2006 trở lại đây Hoạt động TTĐN trên nhiều khía cạnh khác nhau về nội dung, hình thức, cách thức tổ chức TTĐN ở các nước và những kinh nghiệm có giá trị mà Việt Nam có thể tham khảo để đẩy mạnh hơn nữa hoạt động
TTĐN của mình
Các bài viết đề cập ở trên cũng cho thấy công tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ làm TTĐN cán bộ làm công tác báo chí truyền thông nói chung, TTĐN nói riêng cũng là một mảng nghiên cứu Các bài viết đã phân tích nội dung, cách thức
tổ chức, những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động này Những nghiên cứu này
sẽ là cơ sở khoa học để đề ra giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động TTĐN của Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, số lượng các bài này không nhiều, chủ yếu là sau khi có Chỉ thị số 26-CT/TW, đặc biệt là từ năm 2010 với việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý Nhà nước về TTĐN
Trang 23Hoạt động TTĐN không phải là chủ đề mới, nhưng nghiên cứu nhằm đổi mới hoạt động này trong quá trình chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của Việt Nam vẫn còn là một hướng nghiên cứu cần phải tiếp tục nghiên cứu, vì trên thực
tế quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam được tiến hành chưa lâu và hoạt động TTĐN lại rộng lớn, bao trùm nhiều lĩnh vực
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động thông tin đối ngoại
Bải viết Công tác thông tin đối ngoại góp phần quan trọng trong việc thực
hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng X, của Phạm Gia Khiêm, đăng trên Tạp
chí Thông tin đối ngoại, số (81) 12/2010, đã đánh giá các mặt của công tác TTĐN
trong 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội của Đảng Trong những bài học kinh nghiệm được đúc kết, tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến nhân tố then chốt quyết định những thành công trong thời gian qua là sự chỉ đạo, quan tâm sâu sát của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, của các cấp ủy Đảng và chính quyền, sự nỗ lực của Ban Chỉ đạo công tác TTĐN, các bộ, ban ngành, địa phương, các cơ quan báo chí, các đơn
vị làm công tác TTĐN Từ những hạn chế tồn tại, tác giả đề xuất một số giải pháp cần thực hiện, trong đó cần tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo dư luận; tổ
chức tập huấn các các ngành, địa phương về công tác TTĐN (tr 7-10, 14)
Nhìn lại 6 năm thực hiện Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và những vấn đề đặt ra, của Nguyễn Thanh Sơn,
Tạp chí Thông tin đối ngoại, sô (81) 12/2010
Bài viết phân tích tồn tại trong hoạt động TTĐN, đó là chưa đủ mạnh để có thể vươn tới mọi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, có lúc thiếu nhạy bén, chồng chéo, thiếu chính xác; nhiều thông tin trong nước nhất là những vấn đề nhạy cảm đến với cộng đồng thường đi qua các luồng không chính thức hoặc bị các phần tử xấu xuyên tạc Do đó, đổi mới mạnh mẽ hoạt động TTĐN theo hướng nghiên cứu “biện pháp tích cực” từng bước chiếm lĩnh mặt trận truyền thông tiếng Việt ở ngoài nước (tr 15-18, 37)
Cuốn Đường lối, chính sách đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn mới, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, do Phạm Bình Minh làm Chủ biên là tập hợp các công trình của các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực đối ngoại nhằm luận giải nội hàm các chủ trương định hướng quan trọng của đường lối, chính sách đối ngoại thời kỳ đổi mới, đặc biệt là những phát triển mới trong tư duy về đối ngoại của Đảng qua những văn kiện của Đại hội XI; ngoài ra các tác giả còn đưa ra những cách tiếp cận
và phương pháp triển khai mới để đạt được các mục tiêu quốc gia về phát triển, an
Trang 24ninh và nâng cao vị thế đất nước; những chủ trương mới của hoạt động đối ngoại như xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hội nhập quốc tế… trong bối cảnh hiện nay
Từ đó các tác giả cũng đề xuất một số phương hướng, nhiệm vụ nhằm nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội XI
của Đảng
Trong bài viết Nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục của các sản phẩm
thông tin đối ngoại, đăng trên Tạp chí Thông tin đối ngoại, số (96) 3/2013, tác giả
Lê Hồng Anh từ nhận định về tình hình thế giới và khu vực trong những năm tới,
để triển khai đồng bộ, toàn diện các hoạt động TTĐN trong Chiến lược phát triển TTĐN giai đoạn 2011-2020, bài viết đề xuất một số nhiệm vụ trọng tâm trong
công tác TTĐN: thứ nhất, phải đổi mới nội dung tuyên truyền cho phù hợp với yêu cầu mới; thứ hai, kiện toàn cơ chế, chính sách, văn bản pháp quy về TTĐN;
thứ ba, đổi mới hơn nữa phương thức TTĐN; thứ tư, củng cố, kiện toàn đội ngũ
những người làm công tác TTĐN (tr 22-24)
Trong bài Huy động hiệu quả nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở
nước ngoài, Tạp chi Cộng sản, số (845) 3/2014, tác giả Nguyễn Thanh Sơn khẳng
định rõ quan điểm của Đảng về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; việc thu hút và phát huy hiệu quả nguồn lực của cộng đồng kiều bào sẽ những đóng góp to lớn đối với sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế
Bài viết đã thống kê và phân tích cụ thể về những nguồn lực cơ bản của cộng đổng người Việt Nam ở nước ngoài như tri thức, kinh tế Theo đó, với điều kiện hiện có của mình, với ảnh hưởng ngày càng tăng của cộng đồng đối với chính quyền sở tại, kiều bào tham gia vận động hành lang thúc đẩy quan hệ của các nước với Việt Nam; tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế đối với Việt Nam tại các diễn đàn quốc tế Do đó, mọi ngành, mọi cấp, từ Trung ương đến địa phương, cả ở trong và ngoài nước cần thường xuyên thông tin đến kiều bào về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và của các địa phương (tr 79-82)
Tác giả Nguyễn Phú Trọng trong bài viết Công tác đối ngoại phải lấy lợi
ích cơ bản, lâu dài của quốc gia dân tộc làm nền tảng, đăng trên Tạp chí Cộng sản, số (855) 1/2014, đã đánh giá toàn diện những thành tựu nổi bật mà Việt Nam
đạt được từ sau Đại hội XI của Đảng Trong 8 vấn đề đặt ra đối với công tác đối ngoại, tác giả cho rằng cần phải tiếp tục đẩy mạnh TTĐN, tăng cường phổ biến và
đề cao những giá trị văn hóa của dân tộc, góp phần nâng cao vai trò, uy tín và hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế Xây dựng và quảng bá hình ảnh đất nước
Trang 25và con người Việt Nam, chính sách đối ngoại hóa bình, hữu nghị và hợp tác thân thiện của Việt Nam; tranh thủ được thiện cảm và sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với một nước Việt Nam hòa bình, ổn định và phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các hoạt động đối ngoại (tr 6-12)
Công trình Nền ngoại giao toàn diện Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015, của tác giả Phạm Gia Khiêm là tập hợp những bài viết, phát biểu, trả lời phỏng vấn được chọn lọc về việc triển khai và thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam, cũng như công tác xây dựng ngành ngoại giao
Công trình này được sắp xếp theo từng lĩnh vực hoạt động, tương ứng với các trụ cột của nền ngoại giao hiện đại Việt Nam, đó là: ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế - nhiệm vụ trọng tâm của ngoại giao thời kỳ hội nhập, ngoại giao văn hóa và công tác TTĐN, công tác về người Việt Nam ở nước ngoài Đề cập đến vấn đề TTĐN, tác giả cho rằng, đây là một bộ phận rất quan trọng trong hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam Trong tình hình đất nước và quốc tế
có nhiều thay đổi, TTĐN đứng trước những cơ hội và thách thức mới, đòi hỏi phải
có những biện pháp nhằm tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động này
1.2 Những kết quả có thể kế thừa và vấn đề luận án tập trung giải
quyết
1.2.1 Những kết quả có thể kế thừa
Qua khảo sát những công trình khoa học ở trong nước và ngoài nước, có
thể thấy nổi bật lên một số điểm mà luận án có thể kết thừa:
Một là, những công trình nghiên cứu giúp nghiên cứu sinh thấy rõ là TTĐN
với tư cách là một hoạt động thực tiễn đã ra đời từ rất sớm Đó là công cụ quan trọng các quốc gia đều ra sức triển khai nhằm ảnh hưởng tới dư luận quốc tế phục
vụ cho những mục tiêu chung hay cụ thể của chính sách đối ngoại Nhiều tác giả nhấn mạnh về tính thiết yếu, không tách rời của TTĐN trong chính sách đối ngoại
và tầm quan trọng của nó cũng quan trọng như sức mạnh quân sự và kinh tế của
mỗi quốc gia
Hai là, qua các những ấn phẩm trên, nghiên cứu sinh nhận thấy rằng, cho
đến nay, trên thế giới, theo những lập luận khác nhau của từng cá nhân hoặc tập thể, có nhiều cách hiểu về thuật ngữ này Với nhiều nước, TTĐN không tồn tại như một thuật ngữ, mà nó thể hiện qua chính sách và các hoạt động liên quan đến ngoại giao nhà nước, văn hóa đối ngoại hoặc đối ngoại công chúng Gắn với mục đích của TTĐN, “đối ngoại hóa” và “đối tượng hóa” là vấn đề được đặc biệt quan
Trang 26tâm trong các hoạt động này Theo hướng tiếp cận đó, TTĐN được hiểu là “những hoạt động chủ động cung cấp thông tin có định hướng để giới thiệu, phổ biến, quảng bá, về một đối tượng cụ thể (một đất nước, một tổ chức, một nhóm người, hoặc một cá nhân, ) nhằm mục đích gây thiện cảm, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các nhân tố bên ngoài hoặc để đối phó, phản bác đối với những thông tin sai
lệch, gây bất lợi” [152, tr 24]
Ba là, những công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với
TTĐN phản ánh vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước đối với hoạt động TTĐN Đường lối đối ngoại, chủ trương về TTĐN trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế của Đảng được phân tích tương đối toàn diện, đầy đủ Hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và hiệu quả là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam Nhiều tác giả khẳng định tầm quan trọng của hoạt động TTĐN, đồng thời phân tích những thành tựu và yếu kém trong các đơn vị đang phụ trách lĩnh vực này Hoạt động TTĐN cho cộng đồng NVNONN ngày càng được tăng cường, đặc biệt là sau khi Bộ Chính trị (khóa IX) ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về vấn đề này
Nhìn chung, khối lượng công trình, bài viết nghiên cứu về hội nhập quốc tế
và TTĐN của các học giả trong và ngoài nước cho đến nay khá phong phú và đa dạng, tạo nên một bức tranh toàn cảnh, đa sắc màu với những nhận định dưới nhiều góc nhìn Đây là nguồn tư liệu quý đối với việc nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động TTĐN cũng như sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động TTĐN trong
tiến trình đổi mới, hội nhập quốc tế của Việt Nam
1.2.2 Những vấn đề luận án tập trung giải quyết
TTĐN là lĩnh vực hoạt động tổng hợp cao, với sự phối hợp từ các lực lượng trong và ngoài nước, trong đó chủ thể quan trọng nhất là một số đơn vị trực tiếp phụ trách và lực lượng báo chí truyền thông Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động TTĐN còn mới ở Việt Nam, là vấn đề lớn, phức tạp Vì thế, trong thực tiễn, việc triển khai các hoạt động TTĐN không dễ dàng, đòi hỏi sự thống nhất cao
Do đó, trong nội dung của từng chương, tiết, luận án tập trung trình bày những hoạt động chung gắn liền với một số cơ quan, đơn vị như đã nêu ở trên
Trên thực tế, hoạt động TTĐN không chỉ dừng ở lại việc truyền và nhận tin tức một cách thụ động, mà còn bao hàm cả việc phân tích, đánh giá, phát biểu quan điểm, định hướng xử lý về các thông tin liên quan đến những sự kiện trong nước và quốc tế nhằm đạt tới những mục đích cụ thể của đường lối đối nội và đối
Trang 27ngoại Những nội dung liên quan đến TTĐN khó định lượng một cách cụ thể, nhiều giá trị và lợi ích không thể nhìn thấy ngay được, phải trải qua thời gian mới đánh giá được mức độ nhất định Cho nên, bên cạnh việc tiếp cận để trình theo lịch sử các hoạt động TTĐN dưới sự lãnh đạo của Đảng khó giải quyết bao nhiêu, thì việc phân tích, xử lý, tổng hợp hay đối chiếu, so sánh để đúc rút ra những nhận xét hay kinh nghiệm sẽ khó bấy nhiêu
Thứ nhất, trong những năm trước đây, mặc dù theo yêu cầu xây dựng và
phát triển của đất nước, hoạt động TTĐN thường xuyên diễn ra, nhưng do nhiều lý
do trong đó có nhận thức và nguồn lực mà mảng hoạt động này ít được quan tâm nghiên cứu đầy đủ, thấu đáo so với các lĩnh vực khác trong công tác đối ngoại Các công trình khoa học nghiên cứu về TTĐN dưới nhiều góc độ, nhiều phương thức tiếp cận khác nhau, nhưng những công trình này chủ yếu tiếp cận trên khía cạnh truyền thông quốc tế, quan hệ quốc tế hoặc chính trị học Với đề tài này, luận án sẽ
giải quyết vấn đề dưới góc độ của chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Thứ hai, trước những biến đổi nhanh chóng và phức tạp, có yếu tố khó lường
của tình hình thế giới, khu vực, nhận thức về tầm quan trọng của TTĐN từng bước được nâng lên Một số công trình khoa học cũng đã đề cập đến sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động TTĐN nhưng còn chung chung, khái quát, chủ yếu tập trung trong khoảng thời gian từ sau năm 2008 Khắc phục vấn đề này, luận án sẽ nghiên cứu từ thời điểm Đảng quyết định chuyển hướng đổi mới đường lối, chính sách đối ngoại (năm 1986) cho đến năm 2013 Bên cạnh đó, luận án phân tích và trình bày theo hệ thống chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với hoạt động TTĐN trong giai
đoạn nói trên
Thứ ba, lịch sử nghiên cứu vấn đề vẫn chỉ dừng lại là những suy nghĩ, phân
tích về từng mảng, từng lĩnh vực, từng đối tượng của hoạt động TTĐN; thiếu một công trình nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu, có logic, có hệ thống về quá trình lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động TTĐN của Đảng Cộng sản Việt Nam Kế thừa những thành tựu của các công trình nghiên cứu đi trước, trên cơ sở khai thác nguồn tư liệu mới, luận án tập trung làm rõ những thách thức, yêu cầu của hoạt động TTĐN của Việt Nam qua từng bước đổi mới, hội nhập quốc tế Trên cơ sở nhìn nhận khách quan bối cảnh quốc tế, trong nước, luận án hệ thống hóa, phân tích chủ trương và quá trình chỉ đạo của Đảng về hoạt động TTĐN từ năm 1986 đến năm 2013 Từ đó, tiến hành nhận xét những kết quả đạt được và đúc kết một số kinh nghiệm chủ yếu từ thực tiễn lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động TTĐN những năm 1986-2013
Trang 28Như vậy, với cách tiếp cận và vấn đề đặt ra tiếp tục giải quyết nêu trên, đề tài không trùng lặp với những nghiên cứu trước đó và hoàn toàn có thể khai thác, tiếp thu nhiều nội dung, quan điểm, cách đánh giá từ các công trình đã công bố Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần thúc đẩy sự phát triển của hoạt động TTĐN ở Việt Nam trong những giai đoạn về sau
Trang 29Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2000 2.1 Những căn cứ xác định chủ trương và chủ trương của Đảng
2.1.1 Những căn cứ xác định chủ trương
* Bối cảnh quốc tế, trong nước
Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện trong điều kiện:
tình hình thế giới biến đổi hết sức nhanh chóng, sâu sắc, phức tạp và
có những đảo lộn lớn Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã làm tan rã trật tự thế giới hai cực hình thành
từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai và tồn tại trong gần nửa thế kỷ qua thế giới đang trải qua một thời kỳ chuyển tiếp từ trật tự cũ sang trật tự mới Thời kỳ chuyển tiếp có thể kéo dài, và cuộc đấu tranh nhằm thiết lập trật tự quốc tế mới diễn ra khá phức tạp, chứa đựng những yếu tố biến động chưa lường trước [145, tr 3]
Trong thời kỳ “quá độ”, “chuyển tiếp” này, trật tự thế giới vẫn đang bị các quốc gia phương Tây do Mỹ cầm đầu chi phối, ra sức lợi dụng để chống phá
CNXH và độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội Samuel Huntington trong tác phẩm Sự
va chạm giữa các nền văn minh, đã cho rằng:
phương Tây đang có ý đồ hội nhập các nền kinh tế của các xã hội ngoài phương Tây vào một hệ thống kinh tế toàn cầu do phương Tây chi phối Thông qua Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và một số tổ chức kinh tế quốc tế khác, phương Tây thúc đẩy các lợi ích kinh tế của mình và áp đặt các chính sách kinh tế mà phương Tây cho là phù hợp lên các quốc gia khác [137, tr 248]
và còn “thúc đẩy các giá trị và thể chế chính trị phương Tây bằng cách gây sức ép đòi các xã hội ngoài phương Tây tôn trọng nhân quyền theo cách hiểu của phương Tây và chấp nhận dân chủ theo đường lối phương Tây” [137, tr 251]
Trong quá trình đó, các nước lớn vừa “tiếp tục cuộc chạy đua quyền lực hòng áp đặt trật tự của mình cho người khác” [39, tr 4], kiềm chế lẫn nhau, cạnh tranh phức tạp; vừa hợp tác để tìm kiếm lợi ích chung và lợi ích của mỗi nước Quan hệ giữa các nước lớn cùng với các liên kết trong các thiết chế quốc tế của các nước lớn khác đang chi phối các quan hệ quốc tế đương đại Do đó, thế giới vẫn
Trang 30còn “chứa đựng những khả năng xung đột không nhỏ”, “không an toàn đối với các dân tộc và cả thế giới Các dân tộc đang điều chỉnh chiến lược của mình hướng vào việc góp phần bảo vệ hòa bình, củng cố độc lập dân tộc, chống lại âm mưu áp đặt trật tự của các cường quốc” [39, tr 4] Xu hướng đối thoại và thỏa thuận đẩy lùi dần sự đối đầu và áp đặt, song chưa loại trừ nguy cơ bùng nổ của các mâu thuẫn dân tộc, sắc tộc và tôn giáo, chưa hạn chế được sức ép và sự can thiệp của các nước lớn [129, tr 4] Phần đông các quốc gia trên thế giới đều mong muốn việc xây dựng một trật tự thế giới mới phải đảm bảo sự ổn định, bảo đảm hòa bình, hợp tác và phát triển, và do đó, không thể là một trật tự như nó đang tồn tại
Toàn cầu hóa trên thế giới diễn ra từ lâu, cho đến những thập niên cuối của thế kỷ XX, mối quan tâm và bàn luận về vấn đề này ngày càng trở nên sâu rộng
và phổ biến, lôi cuốn sự chú ý theo dõi của nhiều đối tượng, từ các học giả nghiên cứu, các chính khách, các doanh nhân đến các tổ chức quốc tế, các lực lượng xã hội Đây là điều tất yếu và tự nhiên, bởi toàn cầu hóa ngày càng diễn ra như một cơn lốc, một xu thế lớn trong đời sống quốc tế đương đại, tác động hàng ngày hàng giờ đến mọi hoạt động và các mối quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc Nó chứa đựng những cơ hội, đồng thời cũng đặt ra không ít thách thức đối với mọi
quốc gia Tác giả cuốn Thế giới phẳng - Tóm lược Lịch sử thế giới thế kỷ 21 (The
World is Fat: a brief history of the twenty-first century) - Thomas L.Friedman, đã cho rằng: Toàn cầu hóa đã làm cho thế giới co từ cỡ nhỏ xuống cỡ siêu nhỏ và đồng thời san bằng sân chơi toàn cầu! Các quốc gia, dân tộc tham gia vào toàn cầu hóa như một điều tất nhiên, không được phép chần chừ [146, tr 26]
Trên phương diện văn hóa, với những biến đổi, đặc biệt là về văn hóa tinh thần, làm nảy sinh nhiều phức tạp mới, bao hàm cả những yếu tố thống nhất và yếu tố mâu thuẫn, trong đó có vô số những sự khác biệt và sự xung đột, rõ nhất là vấn đề hệ tư tưởng, ý thức dân tộc, truyền thống và bản sắc văn hóa giữa các chủ thể khi thực hiện mở cửa hội nhập Nhưng cũng qua đó, các dân tộc, thuộc các khu vực khác nhau có thể làm phong phú, sống động đời sống văn hóa của dân tộc mình nói riêng, của nhân loại nói chung Hoạt động của các quốc gia trên trường quốc tế, do đó đòi hỏi cần phải chú trọng đến văn hóa, xem nó như chất xúc tác kết dính các quốc gia, các dân tộc lại với nhau
Cũng như quá trình toàn cầu hóa, cuộc cách mạng KH-CN tạo ra nhiều điều kiện để các nước đang phát triển như Việt Nam tận dụng cơ hội để phát triển
“rút ngắn”, hoàn toàn có thể tạo ra bước phát triển đột phá đối với nhiều quốc gia, dân tộc Tiến bộ của KH-CN đã phá vỡ sự ngăn cách giữa các quốc gia, dân tộc,
Trang 31mở rộng tầm nhìn, giúp các dân tộc hiểu và xích lại gần nhau Trong thực tế, khoa học, công nghệ, vốn đầu tư đều do các nước tư bản phát triển chi phối Tuy nhiên, nếu như việc hoạch định chính sách phát triển không gắn liền và không biết cách khai thác, sử dụng tiềm năng của những thành tựu KH-CN trong và ngoài nước thì nguy cơ tụt hậu về kinh tế càng ngày càng rõ ràng hơn và đáng lo lắng hơn Sự tụt hậu về kinh tế sẽ đẩy Việt Nam vào tình trạng bất ổn định trên tất cả các lĩnh vực, đời sống của người dân sẽ không được cải thiện và đương nhiên, khi đó càng không thể nói và bàn tới vấn đề củng cố vị trí, tăng cường ảnh hưởng của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế
Trong bối cảnh chung đó, cộng đồng NVNONN có những chuyển biến lớn, với sự phát triển nhanh về số lượng và ngày càng đa dạng về thành phần Luôn hướng về cội nguồn là nét nổi bật ở cộng đồng, thể hiện qua tâm tư, tình cảm, những đóng góp về vật chất, những cống hiến trí tuệ dành cho đất nước Số
lượng kiều bào về Việt Nam ngày càng tăng [Xem Phụ lục số 6] Có rất nhiều
dự án đầu tư của NVNONN vào trong nước Lượng kiều hối kiều bào gửi về
hàng năm năm sau cao hơn năm trước [Xem Phụ lục số 5] Dù sống ở xa quê, đa
số cộng đồng có tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, có ý thức giữ gìn truyền thống, bản sắc văn hóa và luôn hướng về Tổ quốc Phấn khởi và tin tưởng vào thành công của công cuộc đổi mới, các thế hệ kiều bào ngày càng mong muốn được gắn bó, đóng góp nhiều hơn với sự nghiệp phát triển của dân tộc
Tuy nhiên, cộng đồng NVNONN cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức Ở một số nước, địa vị pháp lý của người Việt Nam chưa vững vàng nên rất dễ bị tổn thương trước những hành động bài xích, phân biệt đối xử, kỳ thị chủng tộc Sự khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của kiều bào Ảnh hưởng của văn hóa bản địa và những yêu cầu của cuộc sống hàng ngày là những thách thức không nhỏ đối với việc giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống và tiếng Việt Tại một số địa bàn, kiều bào còn phải đối mặt với nguy cơ khủng hoảng, chiến tranh, xung đột Ngoài ra, một
số nhỏ lực lượng cực đoan, phản động vẫn đi ngược lại với lợi ích của cộng đồng và đất nước
Nếu như trước thời điểm năm 1986, Việt Nam vẫn còn đang trong tình trạng khủng hoảng một cách trầm trọng, thì chỉ sau mấy năm đã thu được những kết quả bước đầu, tạo cơ sở bước sang thời kỳ đẩy tới một bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa GS Jonathan H.Haughon nhận định rằng: “Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kinh ngạc trong những năm đầu của quá trình chuyển sang
Trang 32một nền kinh tế thị trường Trong vòng có bảy năm Việt Nam đã thực hiện được những bước chuyển to lớn…” và hoàn toàn “có thể tự hào về những thành quả đã đạt được” [164, tr 35] Dân chủ trong xã hội tiếp tục được mở rộng, chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững Trong giai đoạn đổi mới bắt đầu,
sự ổn định chính trị - xã hội là tiền đề quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế
và hội nhập quốc tế của đất nước Đó là một thắng lợi mà tầm quan trọng của nó không kém gì những thành tựu phát triển kinh tế [164, tr 114]
Vươn lên từ khó khăn, khủng hoảng, với những thành tựu đạt trong phát triển kinh tế, tình hình chính trị - xã hội ổn định tạo cho Việt Nam một hình ảnh
về một quốc gia đang đổi mới, hữu nghị và mến khách Nhiều nước xóa bỏ cấm vận phi lý và thiết lập, thúc đây quan hệ ngoại giao với Việt Nam Từ khép kín, Việt Nam mở rộng chào đón tất cả tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đến du lịch và đầu tư vào sản xuất kinh doanh Vào năm 2000, số lượng khách quốc tế vào Việt
Nam đã vượt trên 2,1 triệu khách [Xem Phụ lục số 9] Nhiều cá nhân, tổ chức
quốc tế nhận thấy “chính sách đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam xuất phát từ thực tế Việt Nam và được tiến hành từng bước phù hợp với hoàn cảnh và trình độ của bản thân mình, không chịu bất cứ sức một sức ép nào từ bên ngoài và nhất là không ảo tưởng vào một mô hình nào sẵn có” [164, tr 112] “Chính sách đổi mới
đã mang lại rất nhiều lợi ích” [164, tr 190]
Nhờ đổi mới mà nền kinh tế vốn khủng hoảng của Việt Nam đã được khôi phục, sự ổn định kinh tế vĩ mô được tái lập và duy trì một cách vững chắc trong khi
đa số các nền kinh tế chuyển đổi khác lâm vào tình trạng suy thoái và bất ổn định kéo dài Việt Nam đã thay đổi rất nhiều sau gần 20 năm đổi mới với thành tích tăng trưởng cao và rất nhiều người dân đã thoát cảnh đói nghèo Điều này giúp cho Việt Nam ngày càng nhận được sự nể trọng và có ảnh hưởng ngày càng lớn hơn trong cộng đồng quốc tế [66]
Những biến chuyển của bối cảnh quốc tế, trong nước tác động đến hoạt động TTĐN theo những chiều hướng:
Một là, do trật tự thế giới đến cuối thế kỷ XX vẫn trong quá trình thiết lập,
và vẫn do Mỹ và các nước công nghiệp phát triển khống chế, “cuộc chơi” vẫn chưa hoàn toàn công bằng Một số quốc gia mượn danh nghĩa toàn cầu hóa, nhân danh hợp tác, chia sẻ lợi ích để áp đặt, cưỡng bức hình ảnh, mô hình của quốc gia mình đối với các quốc gia khác Cho nên, quá trình thực thi đường lối đối ngoại của Việt Nam không hề dễ dàng Tuy nhiên, các quốc gia dù “nhỏ bé” đến
Trang 33đâu đều có tiếng nói riêng của bản thân mình và thực hiện chính sách ngoại giao
đa phương hóa, đa dạng hóa theo xu thế chung của thế giới - xu thế hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển Điều này càng đòi hỏi hoạt động TTĐN phải được tăng cường hơn nữa để cộng đồng thế giới thấy và hiểu rõ hơn về một Việt Nam đang đổi mới, phát triển và quá trình hội nhập quốc tế đồng nghĩa với những đóng góp có tinh thần trách nhiệm trong công việc chung của khu vực và thế giới, hướng đến hợp tác và phát triển
Hai là, quá trình toàn cầu hóa hiện nay như nhiều người nói chẳng qua là
quá trình chủ nghĩa tư bản hóa toàn cầu hay bi quan hơn, cũng chỉ là quá trình
“Mỹ hóa” thế giới, nhưng nhìn nhận thực chất, toàn cầu hóa chính là sự vận động mang tính quy luật của lịch sử xã hội, mang tính khách quan, sự phát triển của KH-CN là một nấc thang mới trong quá trình phát triển của sức sản xuất của con người Xuất phát từ quan điểm đó, cần thiết phải ra sức khai thác những điểm thuận lợi mà quá trình toàn cầu hóa và sự phát triển của KH-CN đem lại, dám vượt qua thách thức để đón lấy, tạo ra những cơ hội mới cho sự phát triển của đất nước Toàn cầu hóa là quá trình cạnh tranh hết sức gay gắt, quyết liệt, không phải ai tham gia cũng được lợi như nhau mặc dù nó dựa trên “những luật chơi công bằng” Phần lớn thành tựu KH-CN vẫn tập trung chủ yếu ở các nước công nghiệp phát triển Chính vì thế, hoạt động TTĐN hiệu quả hay không phản ánh qua cách thức kết hợp giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại Hoạt động TTĐN từng bước đẩy mạnh để các nước, các tổ chức quốc tế, các tập đoàn xuyên quốc gia biết rõ và tin tưởng vào Việt Nam - một đất nước đổi mới, năng động và phát triển, có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế, từ đó thu hút các nguồn lực đến du lịch, hợp tác đầu
tư, kinh doanh vào thị trường trong nước
Ba là, trong phạm vi trong nước cũng như trên bình diện quốc tế đặt ra vấn
đề cần phải ra sức tập hợp lực lượng, mà trước hết là xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc thành một thể thống nhất vì mục tiêu chung của cả dân tộc là vì một
nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Với ý
nghĩa đó, hoạt động TTĐN cho cộng đồng NVNONN cần được chú trọng, phải xem là một trong những nội dung quan trọng trong thực tiễn Nếu thực hiện tốt
vấn đề này sẽ góp phần đạt được mục tiêu nói trên
* Hoạt động thông tin đối ngoại trước năm 1986
Sau khi Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, ngày 15-9-1945, Tuyên
ngôn Độc lập được phát đi trên làn sóng của đài phát sóng Bạch Mai (Hà Nội)
Trang 34bằng hai thứ tiếng nước ngoài là tiếng Anh và tiếng Pháp Vì vậy, ngày 15-9-1945 được coi là ngày ra đời của TTĐN Việt Nam
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc, hoạt động TTĐN từng bước triển khai nhằm làm cho nhân dân yêu chuộng hòa bình, tự do ở các nước hiểu rõ hơn mục đích chính nghĩa cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam; qua đó, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ tối đa cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam Ngoài ra, từ sau năm 1954, các hoạt động TTĐN còn phản ánh những chính sách đoàn kết, giữ gìn hòa bình, ổn định đời sống của nhân dân của Đảng và Nhà nước Việt Nam Thông qua nhiều kênh khác nhau, TTĐN còn tiến hành giới thiệu mọi mặt thành tích của nhân dân Việt Nam và đường lối ngoại giao hòa bình của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra nước ngoài; phản ánh tình hình thời sự thế giới, góp phần giáo dục tinh thần quốc tế vô sản cho nhân dân và cho sự nghiệp củng cố phe XHCN, đấu tranh cho hòa bình, dân chủ và độc lập dân tộc
Từ sau năm 1975, nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập đã có một
vị thế mới trên trường quốc tế Việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Liên hợp quốc ngày 20-9-1977 và nhiều tổ chức quốc tế khác, yêu cầu mở rộng quan hệ ngoại giao, hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam với các nước trên thế giới,
đã đòi hỏi và tạo điều kiện cho TTĐN Việt Nam bước vào một thời kỳ phát triển mới Tuy nhiên, các lực lượng chống đối chế độ tìm nhiều cách tuyên truyền gây hoang mang, hòng làm lung lay niềm tin của nhân dân Việt Nam vào con đường tiến lên CNXH Lúc này, TTĐN Việt Nam đứng trước nhiều thuận lợi nhưng cũng đối mặt với rất nhiều thách thức mới
Sau chiến thắng hào hùng năm 1975, hình ảnh Việt Nam từ sự khâm phục của cộng đồng quốc tế dần chuyển sang là một đất nước bị sa lầy trong cuộc chiến tranh hao người tốn của tại Campuchia, kinh tế bị bao vây cấm vận, đời sống nhân dân xuống đến tận cùng khó khăn, nhiều người đã bỏ đất nước để vượt biên ra nước ngoài
Trước tình hình khó khăn, Đảng và Nhà nước xác định nhiệm vụ của công tác đối ngoại là tranh thủ sự giúp đỡ và hợp tác quốc tế trên lĩnh vực kinh tế, khoa học - kỹ thuật, viện trợ của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu, nêu cao danh nghĩa việc Việt Nam giúp Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, tích cực giải quyết vấn đề thuyền nhân, phá vỡ thế bao vây, cấm vận của phương Tây và Trung Quốc Mặc dù, hoạt động TTĐN vẫn được tiến hành thường xuyên nhưng thiếu sự
Trang 35định hướng và đường lối, thiếu sự chỉ đạo thống nhất, không kịp thời, chưa xác định chủ đề trọng tâm Về chủ quan, hoạt động TTĐN còn mang nặng “tư duy của thời kỳ chiến tranh lạnh”, quá chú trọng đến vấn đề ý thức hệ tư tưởng TTĐN giai đoạn này là thông tin một chiều, tô hồng thực trạng xã hội TTĐN chỉ hướng
về các nước XHCN, đồng thời thể hiện ranh giới bạn - thù rõ rệt với các nước không cùng chung quan điểm chính trị Thông tin không phong phú, nặng về tuyên truyền chính trị, tuyên truyền lập trường kiên định cứng rắn về con đường đi lên CNXH cũng như những ưu việt nổi bật của chế độ XHCN ở Việt Nam Thông tin chính trị chiếm dung lượng lớn, nổi bật nhất là những bài viết của các lãnh đạo Đảng và Nhà nước mang tính định hướng cao về con đường đi lên CNXH
Báo chí đối ngoại giai đoạn này chỉ có 29 tờ báo và tạp chí, kể cả 8 thứ tiếng khác nhau của báo ảnh Việt Nam (Trung, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Khơme, Espe’ranto, Nga, Lào), so với báo chí đối ngoại thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đã giảm 8 tờ [13, tr 272-276] Qua tìm hiểu 24 số báo trong 2 năm 1980-
1981 của tờ Vietnam Courier, những mảng thông tin chính trị chiếm từ 60-65%
diện tích các trang báo Do bối cảnh chính trị quốc tế lúc đó, mảng thông tin về đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam chủ yếu tập trung vào Trung Quốc và Campuchia; còn lại là liên quan đến quan hệ giữa Việt Nam với các nước trong khối XHCN, đặc biệt là với Liên Xô, Cuba, các nước không liên kết, nhất là Ấn Độ
Trước tình hình đó, hoạt động TTĐN được tiến hành, triển khai trong điều kiện phân tán, thiếu kinh phí, không tranh thủ được sự giúp đỡ của quốc tế như trước Về khách quan, các thế lực thù địch, đặc biệt là Mỹ và các nước phương Tây trong giai đoạn này sử dụng chiêu thức thổi phồng, bóp méo những vấn đề khó khăn như khủng hoảng kinh tế - xã hội, vấn đề thuyền nhân, vấn đề quân đội Việt Nam ở Campuchia, từ đó làm xấu hình ảnh của Việt Nam trong dư luận thế giới, tăng cường bao vây, cô lập Việt Nam trong quan hệ đối ngoại
Khác với những giai đoạn trước, hoạt động TTĐN đã chú ý nhiều hơn đến việc thông tin về tình hình kinh tế, xã hội của Việt Nam Tuy nhiên do “mắc bệnh” thông tin một chiều nên TTĐN Việt Nam giai đoạn 1975-1985 chưa phản ánh đúng mức thực tế những khó khăn mà Việt Nam gặp phải Phần lớn các bài viết đều đứng trên góc độ ngợi ca các thành tựu mà Việt Nam đạt được, ngợi ca sự
ưu việt của CNXH Vì thông tin không toàn diện, không phản ánh đúng thực trạng cuộc sống nên sức thuyết phục không cao, không hấp dẫn Hầu như không có các bài viết phản ánh thực trạng đời sống xã hội, khắc họa hình ảnh con người Việt
Trang 36Nam trong đời thường mà chủ yếu phản ánh hoạt động trong các xí nghiệp, nhà máy, trường học… với thành tích của tập thể là chính Bên cạnh đó, thông tin về văn hóa Việt Nam dần xuất hiện nhưng không nhiều Nhìn chung, hoạt động TTĐN giai đoạn này ngoài luồng dư luận thuận của báo chí các nước XHCN, dư
luận quốc tế về Việt Nam nhìn chung rất tiêu cực
2.1.2 Chủ trương của Đảng
Trước yêu cầu bức bách của cuộc sống, Đại hội VI của Đảng (12-1986) được tổ chức, đặt nền tảng cho quá trình đổi mới toàn diện đất nước trên cả hai bình diện lý luận và thực tiễn Tư duy đối ngoại được đổi mới thông qua quá trình xây dựng nhận thức mới về thời đại, về thế giới, xác định mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia và nghĩa vụ quốc tế cũng như mô hình tập hợp lực lượng phù hợp với bối cảnh quốc tế Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật về những nguy cơ đe dọa đất nước, Đại hội xác định mục tiêu hàng đầu của công tác đối ngoại là hòa bình và phát triển; nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới phương cách tập hợp lực lượng Đại hội chủ trương “Mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình Trên tinh thần bình đẳng, bảo đảm độc lập, chủ quyền và tôn
trọng lẫn nhau” [71, tr 225]
Mục tiêu của công tác đối ngoại là:
“giữ gìn an ninh chính trị, làm thất bại cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch… tranh thủ những điều kiện thuận lợi mới về hợp tác kinh tế và khoa học, kỹ thuật, tham gia ngày càng rộng rãi việc phân công và hợp tác trong Hội đồng Tương trợ kinh tế; đồng thời tranh thủ mở rộng quan hệ với các nước lớn khác” [71, tr 99] Điều này thể hiện nhận thức mới của Đảng về thế giới và khu vực: trước đó nhìn thế giới dưới góc độ một vũ đài đấu tranh Nghị quyết số 32-NQ/TW của Bộ Chính trị (7-1986) ghi nhận xu thế chuyển từ đối đầu sang đối thoại, đấu tranh trong cùng tồn tại hòa bình trong quan hệ quốc tế Sau Đại hội VI, với Hội nghị lần thứ ba BCH Trung ương Đảng (khóa VII), thế giới được nhìn nhận như môi trường cùng tồn tại và phát triển
Với những nội dung trên, Đại hội VI mở đầu quá trình đổi mới chiến lược
và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam, định hướng đúng đắn cho các hoạt động TTĐN trong các giai đoạn về sau
Sau Đại hội VI, tình hình thế giới biến động nhanh và phức tạp Cuộc khủng hoảng ở các nước XHCN Đông Âu và Liên Xô ác động xấu đến công cuộc đổi mới
Trang 37của Việt Nam Ở trong nước, cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội lên tới đỉnh điểm, đường lối đổi mới do Đại hội VI đề ra không thể ngay lập tức đi vào cuộc sống, đời sống nhân dân cực kỳ khó khăn, lạm phát vẫn ở mức ba con số, đạo đức xã hội bị suy giảm, tệ nạn xã hội tăng nhanh, trật tự an ninh lỏng lẻo, kỷ cương pháp luật bị
vi phạm… Lợi dụng những khó khăn về kinh tế - xã hội, các thế lực thù địch và nhiều phần tử bất mãn ở trong nước đã tăng cường hoạt động chống phá cách mạng, nhằm cản trở và làm chệch hướng XHCN của công cuộc đổi mới
Về mặt đối ngoại, Việt Nam cũng gặp không ít khó khăn Mỹ tiếp tục xiết chặt chính sách cấm vận và gây sức ép buộc các nước khác cô lập Việt Nam; đầu
tư một khối lượng lớn những phương tiện thông tin đại chúng và hoạt động tuyên truyền để chống phá Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế; nuôi dưỡng các tổ chức phản động lưu vong người Việt ở nước ngoài như Hoàng Cơ Minh ở California (Mỹ) trở về Việt Nam gây bạo loạn; lợi dụng “vấn đề Campuchia” để chống phá cách mạng Việt Nam… Bên cạnh đó, các sự kiện do Trung Quốc gây ra liên quan đến biên giới phía Bắc, quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa làm cho quan hệ Việt - Trung thêm căng thẳng
Để công cuộc đổi mới tiến hành thuận lợi, nhu cầu tạo ra một môi trường quốc tế thuận lợi, phá vỡ thế bị bao vây, cô lập trên trường quốc tế, làm thất bại
âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, góp phần tích cực vào sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân thế giới trở thành nhu cầu bức thiết
Tháng 5-1988, Bộ Chính trị (khóa VI) ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TW
Về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới Sau khi phân tích diễn
biến tình hình thế giới và khu vực, Bộ Chính trị chỉ rõ thách thức mà Việt Nam sẽ phải gặp phải khi thua kém về mọi mặt so với nhiều nước trên thế giới nếu như không tranh thủ cơ hội để giữ vững hòa bình, phát triển kinh tế:
Yếu kém về kinh tế, bị bao vây về kinh tế và cô lập về chính trị sẽ thành nguy cơ lớn đối với an ninh và độc lập của đất nước, sẽ ảnh hưởng xấu đến quan hệ giữa ta với Lào, Campuchia, với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác, đến vị trí và vai trò của nước ta, của chủ nghĩa xã hội ở Đông Nam Á [72, tr 3]
Đây là vấn đề thể hiện rõ vai trò quan trọng của công tác đối ngoại nói chung, TTĐN nói riêng trong việc góp phần phá vây và nâng cao thực lực của nền kinh tế, hóa giải và mở rộng về chính trị trên trường quốc tế Từ đó, Bộ Chính trị
Trang 38chủ trương vừa nâng cao quan hệ hợp tác với Liên Xô, Lào, Campuchia và các nước XHCN khác, vừa ra sức đa dạng hóa quan hệ, tăng cường quan hệ với các nước khác, chú trọng quan hệ với Ấn Độ, Inđônêxia, các nước Đông Nam Á, các nước Đông Á - Thái Bình Dương, các nước công nghiệp mới; từng bước giảm quân
số và giảm chi phí quốc phòng tới mức tối thiểu cần thiết nhằm biểu thị quyết tâm
giữ vững hòa bình, phát triển kinh tế Trong quan hệ quốc tế, phải “thêm bạn, bớt
thù”, ra sức tranh thủ các nước anh em bầu bạn và dư luận rộng rãi trên thế giới, phân hóa hàng ngũ đối phương, làm thất bại âm mưu bao vây, cô lập Việt Nam về kinh tế, chính trị, kiên quyết và chủ động chuyển cuộc đấu tranh từ tình trạng đối đầu sang đấu tranh và hợp tác trong cùng tồn tại hòa bình [72, tr 5]
Các quan điểm đối ngoại trên đây không chỉ thể hiện bước chuyển biến có
ý nghĩa chiến lược trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam,
mà còn bổ sung cơ sở cho việc đổi mới hoạt động TTĐN trong tình hình mới
Trong thực tiễn, Đảng và Nhà nước tiếp tục giải quyết những vấn đề tồn đọng về Campuchia sau khi Việt Nam rút hết quân tình nguyện, xúc tiến quá trình bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, khai thông đối thoại Việt - Mỹ… Kết quả là có thêm sự đồng thuận bên trong và làm giảm bớt áp lực chống đối từ bên ngoài Những thành tựu đối ngoại thời kỳ này đã “tạo môi trường quốc tế thuận lợi hơn cho công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy lùi một bước âm mưu bao vây, cô lập đối với nước ta, tăng thêm bầu bạn, nâng cao uy tín của nước
ta trên trường quốc tế, mở rộng quan hệ với các nước trong cộng đồng quốc tế” [73, tr 40-41], tạo tiền đề cho các bước phát triển tiếp theo
Đại hội VII của Đảng (6-1991) đề ra chủ trương hợp tác bình đẳng và cùng
có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau trên cơ sở nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình Điều này hoàn toàn thích ứng những diễn biến phức tạp và thay đổi sâu sắc trong quan hệ quốc tế, sự phát triển mạnh
mẽ của lực lượng sản xuất và xu hướng quốc tế hóa của nền kinh tế thế giới Đại hội yêu cầu:
Phát triển sự nghiệp thông tin, báo chí xuất bản theo hướng nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu thông tin và nâng cao kiến thức mọi mặt cho nhân dân… Coi trọng công tác tuyên truyền đối ngoại Quản lý chặt chẽ công tác xuất bản, thông tin, báo chí, phim ảnh Sắp xếp lại
tổ chức và cải tiến công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thông tin, báo chí, xuất bản [73, tr 85]
Trang 39Sau Đại hội VII, tình hình thế giới diễn biến ngày càng phức tạp Tháng
11-1991, Liên Xô tan rã, hệ thống CNXH thế giới sụp đổ Các thế lực thù địch ra sức tăng cường chống phá Việt Nam Nhận thức sâu sắc vị trí, tầm quan trọng của TTĐN trong việc triển khai đưuòng lối, chính sách đối ngoại trong giai đoạn mới, cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội VII ngày 13-6-1992, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VII) ra Chỉ thị số 11-CT/TW Đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại
Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, đây là Chỉ thị đầu tiên về TTĐN, ra đời trong bối cảnh tình hình đất nước nói chung và hoạt động TTĐN nói riêng đứng trước những chuyển biến hết sức to lớn Thuật ngữ TTĐN cũng được sử dụng lần đầu tiên trong văn kiện của Đảng
Chỉ thị xác định những vấn đề căn bản trong hoạt động TTĐN:
Thứ nhất, về nội dung: 1- Đường lối, chính sách và thành tựu đổi mới toàn
diện của Việt Nam, những chủ trương quan trọng nhằm giải quyết một số vấn đề
lớn hoặc đáng chú ý về kinh tế, chính trị, xã hội ; 2- Chính sách đối ngoại kể cả
chính sách kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam, những khả năng to lớn của Việt Nam trong quan hệ hợp tác với các nước; 3- Đất nước, con người, lịch sử và nền văn hóa lâu đời hết sức phong phú của các dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; 4- Phê phán, bác bỏ những thông tin xuyên tạc, sai lệch về tình hình Việt Nam, nhất là về tình hình dân chủ, nhân quyền, ngăn chặn việc truyền bá vào Việt Nam những quan điểm, tư tưởng, lối sống, văn hóa
phản động, đồi trụy, kích động bạo lực
Thứ hai, về địa bàn, thông tin sang các nước láng giềng và trong khu vực:
Trung Quốc, Lào Campuchia; các nước ASEAN; Nhật Bản, Đông Bắc Á, Ấn Độ, Australia Thông tin sang Mỹ, các nước Tây Âu, Bắc Âu, Đông Âu và Liên Xô (trước đây), châu Phi, châu Mỹ Latinh
Như vậy, địa bàn thông tin trải rộng trên các khu vực, các nước trên thế giới; trong đó có sự sắp xếp thứ tự ưu tiên trước hết là các nước láng giềng, các nước trong khu vực Điều này phù hợp, nhất quán với chính sách đối ngoại mà Việt Nam triển khai theo tinh thần của Đại hội VII
Về đối tượng, hướng vào chính giới, các nhà kinh doanh, trí thức, báo chí,
các tổ chức đoàn kết, hòa bình, hữu nghị phi chính phủ, các lực lượng tiến bộ Thông tin cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là ở Tây Âu, Bắc
Mỹ, Liên Xô (trước đây) và Đông Âu
Thứ ba, về phương châm tiến hành, tùy từng địa bàn, đối tượng và yêu cầu
của từng lúc mà xác định nội dung và hình thức thông tin cho thích hợp, có trọng
Trang 40tâm, trọng điểm đồng thời, tận dụng mọi khả năng và đa dạng hóa các phương thức hợp tác quốc tế
Thứ tư, về lực lượng, trong nước, bên cạnh các cơ quan chủ lực như VTV,
TTXVN, VOV, các cơ quan báo chí, xuất bản, cần mở rộng thêm ngành du lịch, hàng không; các đoàn ra - đoàn vào ở Trung ương và địa phương; các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài [86, tr 58]
Với những vấn đề quan trọng được đề cập ở trên, Chỉ thị số 11-CT/TW đặt nền tảng cho sự phát triển của hoạt động TTĐN trong thời kỳ đổi mới
Xuất phát từ việc nhìn nhận NVNONN là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, hoạt động TTĐN đối với kiều bào là một trong những nhiệm vụ cơ bản trong suốt tiến trình cách mạng Ngày 29-11-1993, Bộ
Chính trị (khóa VII) ra Nghị quyết số 08-NQ/TW Về chính sách và công tác đối
với người Việt Nam ở nước ngoài, nhấn mạnh vai trò của hoạt động TTĐN trong
việc “giúp kiều bào hiểu tình hình đất nước, phát huy khả năng góp phần xây dựng quê hương, đất nước trên nhiều lĩnh vực, bằng nhiều hình thức phù hợp với khả năng thực tế của mỗi người, kết hợp lợi ích của mình và của đất nước” [74]
Muốn vậy, một trong những chính sách quan trọng được đặt ra:
Cung cấp sách giáo khoa và các tài liệu cần thiết cho sự phát trào học và sử dụng tiếng Việt, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, duy trì các sinh hoạt văn hóa dân tộc trong cộng đồng, đặc biết là trong thế
hệ sinh trưởng ở nước ngoài dùng nhiều hình thức cung cấp thông tin về tình hình đất nước, phát hành văn hóa phẩm trong nước tới những nước có đông người Việt Nam, đưa các đoàn nghệ thuật đi biểu diễn đáp ứng nhu cầu của đồng bào Tạo thuận lợi, nhất là cho thế hệ trẻ về thăm quê hương tìm hiểu cội nguồn, biết thực tế của đất nước [74]
Những hoạt động thông tin cụ thể trên cũng là một trong những phương sách quan trọng nhằm gắn kết kiều bào với Tổ quốc; đồng thời, đáp ứng nhu cầu thông tin của cộng đồng về tình hình đất nước, gia đình và người thân, những thay đổi càng ngày càng tích cực của Việt Nam cả ở trong nước và trên trường quốc tế
Trong những năm cuối thế kỷ XX, cách mạng KH-CN trên thế giới tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao, lực lượng sản xuất tăng nhanh, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hóa nền kinh tế và đời sống xã hội Ở trong nước, với thành tựu qua 10 năm đổi mới, đối ngoại Việt Nam chuyển sang một tình thế hoàn toàn mới: bình thường hóa với Trung Quốc