LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện đề tài: "Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam”, tôi đã nhận được sự hướng dẫ
Trang 1PHẠM THỊ MINH THỦY
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN TÍN DỤNG TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN
TÍN DỤNG QUỐC GIA VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học
Hà Nội, ngày 05 tháng 12 năm 2017
Tác giả
Phạm Thị Minh Thủy
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài: "Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam”, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của nhiều cá nhân
và tập thể Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân
và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, Phòng Quản lý Đào tạo Sau Đại học, các khoa, phòng của Trường Đại học Lâm Nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn
TS Bùi Thị Minh Nguyệt, các nhà khoa học, các thầy, cô giáo trong Khoa
Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Lâm nghiệp
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn được sự giúp đỡ và cộng tác của các đồng chí tại địa điểm nghiên cứu, tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam, cùng các anh/chị đồng nghiệp và quý khách hàng
Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè và gia đình đã giúp tôi thực hiện luận văn này
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Hà Nội, ngày 05 tháng 12 năm 2017
Tác giả
Phạm Thị Minh Thủy
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH x
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ x
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN TÍN DỤNG 5
1.1 Cơ sở lý luận về hoạt động Thông tin tín dụng 5
1.1.1 Khái niệm 5
1.1.2 Vai trò của hoạt động thông tin tín dụng 6
1.1.3 Đặc điểm và nội dung hoạt động thông tin tín dụng 7
1.1.4 Các nguyên tắc chung của hoạt động thông tin tín dụng 15
1.1.5 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động thông tin tín dụng 20
1.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động thông tin tín dụng 22
1.2 Cơ sở thực tiễn về nâng cao chất lượng hoạt động thông tin tín dụng 27
1.2.1 Kinh nghiệm về nâng cao chất lượng hoạt động TTTD của NHTW tại Mỹ 27
1.2.2 Kinh nghiệm về nâng cao chất lượng hoạt động TTTD của NHTW tại Đài Loan 28
1.2.3 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng hoạt động thông tin tín dụng của Trung Quốc 29
1.2.4 Một số bài học về nâng cao chất lượng hoạt động TTTD cho CIC 30
Trang 51.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu 31
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN TÍN DỤNG QUỐC GIA VIỆT NAM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.1 Đặc điểm cơ bản Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam 37
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 37
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm 38
2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Trung tâm 41
2.2 Phương pháp nghiên cứu 43
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát 43
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 43
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 45
2.2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu 45
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46
3.1 Thực trạng chất lượng hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam 46
3.1.1 Kết quả thực hiện các hoạt động chính của Trung tâm 46
3.1.2 Chất lượng hoạt động thông tin tín tín dụng tại Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam 60
3.1.3 Kết quả khảo sát về chất lượng hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm 67
3.2 Các nhân tô ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm 85
3.2.1 Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin 85
3.2.2 Khả năng chuyên môn và kinh nghiệm của cán bộ 87
3.2.3 Thị trường thông tin tín dụng đầu vào 88
3.2.4 Hệ thống pháp luật 89
3.2.5 Hội nhập, hợp tác quốc tế 90
Trang 63.3 Đánh giá chung 90
3.3.1 Thành tựu 90
3.3.2 Hạn chế, nguyên nhân 91
3.4 Giải pháp nâng cao chất lượng hệ thống thông tin tín dụng tại Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam 93
3.4.1 Định hướng nâng cao chất lượng hệ thống thông tin tín dụng tại Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam 93
3.4.2 Cơ sở đề xuất giải pháp 94
3.4.3 Nội dung giải pháp 96
KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ 104 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ TẮT
BCTC Báo cáo tài chính
CIC Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam CQTTGSNH Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng
TTTTTD Trung tâm thông tin tín dụng
WB World Bank – Ngân hàng thế giới
XLTD Xử lý tín dụng
XLTDDN Xử lý tín dụng doanh nghiệp
Trang 83.3 Phương pháp thu thập TTTD của CIC 50-51
3.5 Hồ sơ DN nước ngoài lưu trữ tại kho dữ liệu của CIC 56 3.6 Số lượng sản phẩm thông tin cung cấp qua các năm của CIC 58 3.7 Tỷ lệ HSKH CIC đang quản lý trên số lượng KH thực tế 62 3.8 Thời gian cập nhật thông tin tại CIC 63 3.9 Thời gian trả lời tin và SL bản tin có thông tin trả lời của CIC 64
3.11 Cơ cấu độ tuổi của đối tượng khảo sát năm 2017 67 3.12 Thâm niên công tác của đối tượng khảo sát năm 2017 67
3.13 Ý kiến của cán bộ tín dụng về các yếu tố ảnh hưởng đến chất
Trang 93.18 Ý kiến của cán bộ cung cấp dịch vụ TTTD về mức độ đồng ý
3.19 Mức độ đồng ý của cán bộ tín dụng về các nhân tố ảnh hưởng đến
chất lượng TTTD từ phía TCTD tại CIC
72
3.20 Mức độ đồng ý của cán bộ quản lý về các nhân tố ảnh hưởng
đến chất lượng TTTD từ phía TCTD tại CIC 72
3.21 Mức độ đồng ý của cán bộ cung cấp dịch vụ TTTD về các nhân
tố ảnh hưởng đến chất lượng TTTD từ phía TCTD tại CIC
3.24 Mức độ đồng ý của cán bộ cung cấp dịch vụ TTTD với các
nhân tố khách quan ảnh hưởng đến chất lượng TTTD tại CIC 75
3.25 Mức độ đồng ý của cán bộ tín dụng với những mặt hạn chế của
3.26 Mức độ đồng ý của cán bộ quản lý với những mặt hạn chế của
hoạt động TTTD tại CIC
77
3.27 Mức độ đồng ý của cán bộ cung cấp TTTD với những mặt hạn
3.28 Mức độ đồng ý của cán bộ tín dụng với nguyên nhân dẫn đến 78
Trang 10chất lượng TTTD còn nhiều hạn chế tại CIC
3.29
Mức độ đồng ý của cán bộ quản lý với nguyên nhân dẫn đến
chất lượng TTTD còn nhiều hạn chế tại CIC 79
3.30 Mức độ đồng ý của cán bộ cung cấp dịch vụ TTTD với nguyên
nhân dẫn đến chất lượng TTTD còn nhiều hạn chế tại CIC 79
3.31
Mức độ đồng ý của cán bộ tín dụng về các giải pháp phát triển
3.32 Mức độ đồng ý của cán bộ quản lý về các giải pháp phát triển
3.33 Mức độ đồng ý của cán bộ cung cấp dịch vụ TTTD về các giải
pháp phát triển hoạt động TTTD tại CIC 82
3.34
Mức độ đồng ý của cán bộ tín dụng với các kiến nghị đối với
3.35
Mức độ đồng ý của cán bộ quản lý với các kiến nghị đối với cơ
3.36 Mức độ đồng ý của cán bộ cung cấp dịch vụ TTTD với các
kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước 84 3.37 Hệ thống công nghệ, phần mềm phục vụ kinh doanh của CIC 85-86 3.38 Nguồn nhân lực tại CIC qua các năm 87 3.39 Hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động của CIC 89
3.40 Cơ sở đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động
Trang 11
DANH MỤC CÁC HÌNH
1.1 Quy trình hoạt động thông tin tín dụng 19
3.1 Nguồn thông tin thu thập từ Tổng cục Thống kê 48
3.2 Quy trình xử lý thông tin của CIC 52
3.3 Số lượng hồ sơ lưu trữ trong kho dữ liệu của CIC 55
3.4 Mạng lưới cung cấp thông tin tại CIC 60
3.5 Tỷ lệ số lượng tổ chức TD chia sẻ thông tin với CIC 61
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thông tin tín dụng (TTTD) có vai trò rất quan trọng trong hoạt động của các ngân hàng trong nền kinh tế thị trường, nó là căn cứ quan trọng và đáng tin cậy để các ngân hàng thực hiện các hợp đồng tín dụng hiệu quả Ở nước ta, một trong những tổ chức quan trọng nhất có thể giúp cho thị trường tín dụng hoạt động có hiệu quả là cơ quan Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam - National Credit Information Centre of Vietnam (CIC)
CIC được thành lập từ năm 1999, hoạt động của CIC đã có những đóng góp rất tích cực vào việc nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng tại các tổ chức tín dụng (TCTD), góp phần đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng Thông qua CIC, các TCTD có thể nhận được những thông tin cần thiết, có giá trị về khách hàng, đánh giá tốt hơn rủi ro tín dụng, giảm chi phí và thời gian xét duyệt cho vay CIC còn là nơi thu thập, lưu trữ và cung cấp thông tin từ các TCTD, các đối tượng khách hàng nhằm góp phần tăng trưởng tín dụng theo hướng an toàn - hiệu quả - bền vững, ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng
Cùng với những nỗ lực chung của cộng đồng tài chính quốc tế, Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC) đã có nhiều cố gắng trong việc nâng cao chất lượng hoạt động thông tin tín dụng với mục tiêu nhằm hạn chế rủi ro tín dụng, đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng góp phần phát triển kinh tế đất nước Tuy nhiên, do hoạt động thông tin tín dụng ở Việt Nam còn mới mẻ, nên dù đã có những đóng góp nhất định trong lĩnh vực thông tin tín dụng nhưng CIC vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động cung cấp thông tin tín dụng nói riêng Bên cạnh đó, theo đánh giá của NHNN, hoạt động thông tin tín dụng tại
CIC còn tồn tại rất nhiều hạn chế: Thứ nhất, các chỉ tiêu sử dụng để kiểm định
trong mô hình xếp hạng tín dụng của CIC mang tính chất lịch sử mà chưa có
Trang 13các chỉ tiêu dự báo cho tương lai Thứ hai, mặc dù quy trình chấm điểm tín
dụng của CIC khá chặt chẽ, thông tin của khách hàng được kiểm soát nhiều lần, song nếu khách hàng bị nghi ngờ, sai sót, thì việc điều chỉnh dữ liệu mất nhiều thời gian; CIC cũng chưa có luồng thông tin phản hồi lại cho tổ chức tín
dụng nếu khách hàng bị trả lời chậm Thứ ba, thông tin dữ liệu đầu của CIC
lấy từ nhiều nguồn, chủ yếu là thông tin về dư nợ, thông tin về tài sản và thông tin định danh khách hàng Tuy nhiên, nhiều thông tin gửi từ các ngân hàng thương mại về CIC chậm và chưa được cập nhật làm ảnh hưởng tới việc cập nhật thông tin của CIC
Xuất phát từ thực tiễn trên, để góp phần đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng; tăng cường quản lý nhà nước; hỗ trợ nâng cao chất lượng hoạt động thông tin tín dụng tại CIC đáp ứng yêu cầu vốn cho nền kinh tế trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, tác giả đã
lựa chọn nghiên cứu đề tài "Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam” làm đề
tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ với mong muốn áp dụng những kiến thức tiếp thu được trong chương trình học đóng góp một phần nhỏ bé vào sự phát triển của Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam - nơi tôi đang công tác
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát:
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng về hoạt động thông tin tín dụng làm
cơ sở đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam
2.2 Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động thông tin tín dụng và chất lượng hoạt động thông tin tín dụng
Trang 14- Đánh giá được thực trạng chất lượng hoạt động thông tin tín dụng tại CIC qua các năm 2014 đến 2016
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về nội dung: Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam
+ Phạm vi về không gian: Đề tài được nghiên cứu tại Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam
+ Phạm vi về thời gian: Đề tài này được thực hiện với bộ dữ liệu thứ cấp thu thập được trong khoảng thời gian từ năm 2014 đến 2016, dữ liệu sơ cấp được thu thập năm 2017
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động thông tin tín dụng và chất lượng hoạt động thông tin tín dụng
- Thực trạng hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam giai đoạn 2014 đến 2016
- Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam
- Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam
Trang 155 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Đặt vấn đề, Kết luận và khuyến nghị, Luận văn gồm các chương sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động thông tin tín dụng
- Chương 2: Đặc điểm, địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN TÍN DỤNG
1.1 Cơ sở lý luận về hoạt động thông tin tín dụng
Thông tin tín dụng là những thông tin về hồ sơ pháp lý, về tài chính, dư
nợ, bảo đảm tiền vay và tình hình hoạt động của khách hàng có quan hệ tín dụng, các thông tin tình hình kinh tế, thị trường trong nước và ngoài nước có liên quan đến hoạt động ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước, 2007)
* Hoạt động thông tin tín dụng
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Thông tư 03/2013/TT-NHNN quy định về hoạt động thông tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, hoạt động thông tin tín dụng được hiểu như sau:
Hoạt động thông tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là hoạt động cung cấp, xử lý, lưu giữ, bảo mật dữ liệu thông tin tín dụng và khai thác, sử dụng sản phẩm, dịch vụ thông tin tín dụng (Ngân hàng Nhà nước, 2013)
1.1.1.2 Khái niệm về chất lượng hoạt động thông tin tín dụng
Hiện nay chưa có khái niệm cụ thể nào về chất lượng hoạt động thông tin tín dụng Tuy nhiên, quan điểm về chất lượng thông tin tín dụng được sử dụng nhiều nhất trong các nghiên cứu trước là quan điểm của tác giả Nguyễn
Trang 17Hữu Đương (2011), tác giả cho rằng: “Chất lượng hoạt động thông tin tín dụng là những thông tin chính xác về các khách hàng vay vốn tại các tổ chức tín dụng được cung cấp thông qua quá trình đánh giá năng lực tài chính, tình hình hoạt động hiện tại và triển vọng phát triển trong tương lai của khách hàng từ đó xác định được mức độ rủi ro không trả được nợ và khả năng trả nợ trong tương lai nhằm giúp các tổ chức tín dụng có các quyết định đúng đắn trong giải ngân tín dụng” Trong nghiên cứu của mình, tác giả kế thừa quan điểm này để thực hiện nghiên cứu
1.1.2 Vai trò của hoạt động thông tin tín dụng
(i) Đối với phát triển kinh tế - xã hội: Hoạt động TTTD góp phần phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội Ông Glenn Hubbard, nguyên chủ tịch Hội đồng tư vấn kinh tế Mỹ dưới thời Tổng thống George W.Bush có kết luận: Kinh tế thế giới cần được tăng cường liên kết và phụ thuộc vào nhau hơn nữa
Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản đã từng có nhiều động lực phát triển kinh tế thế giới nhưng mức độ tiềm năng phát triển còn nhỏ hơn yêu cầu kinh tế Cải cách tài chính thông qua các Trung tâm TTTD và công nghệ chấm điểm tín dụng đang nổi lên trong thị trường có tiềm năng tiêu dùng rộng lớn Nhờ đó có thể hỗ trợ giảm sự phụ thuộc của kinh tế kế hoạch hóa tập trung để kinh tế phát triển và bền vững
(ii) Đối với hoạt động của ngân hàng và các tổ chức khác: Hạn chế rủi ro tín dụng: Hoạt động TTTD cung cấp cho các NHTM những thông tin về khách hàng vay vốn liên quan đến hồ sơ pháp lý, tình hình quan hệ tín dụng, tài sản thế chấp cầm cố…để NHTM đánh giá khách hàng của mình, sớm phát hiện ra các khách hàng xấu, từ đó hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng
(iii) Nâng cao chất lượng tín dụng: Hoạt động TTTD với việc chia sẻ thông tin tích cực đã tạo hiệu ứng đẩy giúp các khách hàng tốt có nhiều cơ hội tiếp cận với nguồn vốn tín dụng ngân hàng, với một mức lãi suất thấp hơn (do
Trang 18giảm chi phí tự điều tra thông tin) Việc lựa chọn được các khách hàng tốt giúp NHTM nâng cao chất lượng tín dụng và không bỏ lỡ thời cơ kinh doanh (iv) Mở rộng và tăng trưởng tín dụng hiệu quả: Từ việc thẩm định và quyết định cho vay đúng đã tạo điều kiện cho các NHTM nâng cao chất lượng khoản vay, hạn chế nợ quá hạn phát sinh, là cơ sở quan trọng để hoạt động tín dụng mở rộng và tăng trưởng an toàn, ổn định và hiệu quả
(v) Đối với cơ quan cung cấp thông tin tín dụng: Đối với cơ quan TTTD công, hoạt động TTTD không vì mục tiêu lợi nhuận, do vậy, hiệu quả hoạt động TTTD được đánh giá thông qua việc có hoàn thành chức năng, nhiệm vụ
của một cơ quan cung cấp thông tin công hay không Thứ nhất, hoạt động
TTTD sẽ cung cấp các thông tin cần thiết với yêu cầu của NHNN phục vụ cho
công tác quản lý, điều hành của NHNN Thứ hai, đối với các NHTM, hoạt
động TTTD góp phần hạn chế rủi ro tín dụng, giúp lựa chọn khách hàng tốt
để nâng cao chất lượng tín dụng và mở rộng tín dụng, làm dịch chuyển người vay từ khu vực tài chính không chính thức sang khu vực chính thức; góp phần nâng cao đạo đức người vay và văn hoá tín dụng từ đó sẽ góp phần thúc đẩy
kinh tế phát triển
1.1.3 Đặc điểm và nội dung hoạt động thông tin tín dụng
1.1.3.1 Đặc điểm hoạt động thông tin tín dụng
Hoạt động thông tin tín dụng sẽ do trung tâm thông tin tín dụng thực hiện Đây là những tổ chức đủ điều kiện về cơ sở vật chất, nguồn tài chính, nguồn nhân sự theo quy định của pháp luật
Sản phẩm của hoạt động thông tin tín dụng được sử dụng như một tài liệu tham khảo, bổ sung thông tin cho người sử dụng (các tổ chức tín dụng) Các tổ chức tín dụng tự chịu trách nhiệm về các quyết định của mình khi sử dụng sản phẩm thông tin tín dụng
Hoạt động thông tin tín dụng chỉ được thu thập, xử lý, phân tích và khai thác những loại thông tin sau:
Trang 19- Thông tin định danh của khách hàng vay và những người có quan hệ với khách hàng vay (nếu có), gồm: bố đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con
- Thông tin về lịch sử cấp tín dụng, thuê tài sản, mua hàng trả góp, trả chậm và các giao dịch khác có điều kiện về lãi suất, thời hạn phải trả, tiền thuê
- Thông tin về lịch sử trả nợ, số tiền đã đến hạn hoặc chưa đến hạn, thời hạn phải trả, hạn mức tín dụng của khách hàng vay
- Thông tin về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay
- Các thông tin khác liên quan nhưng phải bảo đảm không vi phạm quyền của khách hàng vay, không bao gồm những thông tin về tài khoản tiền gửi và thông tin thuộc phạm vi, danh mục bí mật của Nhà nước
1.1.3.2 Nôi dung hoạt động thông tin tín dụng
Hoạt động thông tin tín dụng bao gồm bốn nội dung: Thu thập thông tin;
xử lý và phân tích thông tin; lưu trữ thông tin; cung cấp thông tin và những nội dung này được thực hiện theo quy trình sau:
Hình 1.1: Quy trình hoạt động thông tin tín dụng
Nguồn đầu vào
Lưu trữ thông tin
Thu thập thông tin Xử lý và phân tích
thông tin
Cung cấp thông tin Người sử dụng thông tin
Trang 20Hoạt động thu thập thông tin
Những vấn đề cơ bản có liên quan trực tiếp đến hoạt động thu thập thông tin bao gồm: nguồn thu thập, cơ sở pháp lý của việc thu thập tin, phương pháp thu thập, trách nhiệm của người cung cấp tin, phí thu thập thông tin
* Nguồn thu thập thông tin
Nguồn TTTD được thu thập từ rất nhiều nơi, rải rác ở các cơ quan, đơn
vị khác nhau Để có thể thu thập, tổng hợp được, Trung tâm TTTD phải tổ chức điều tra hoặc xây dựng mạng lưới thu thập Nhưng nếu tự điều tra, thu thập thì sẽ rất khó khăn do phải tổ chức bộ máy cồng kềnh, tốn kém Do vậy, hoạt động thu thập thông tin thường từ các TCTD, cơ quan của Chính phủ và các cơ quan khác
Hoạt động thu thập thông tin có thể thu thập thông tin một cách hợp pháp từ các nguồn sau:
- Từ cơ quan Nhà nước: Cơ quan thành lập doanh nghiệp, cơ quan cấp giấy phép kinh doanh, cơ quan Thuế, Tòa án, Kiểm toán, Công an…việc thu thập được thực hiện theo Luật Thông tin
- Từ các TCTD nơi khách hàng mở tài khoản theo Luật Ngân hàng hoặc Luật Thông tin
- Từ các tổ chức tài chính phi ngân hàng
- Từ doanh nghiệp vay vốn
- Từ các phương tiện thông tin đại chúng: internet, sách, báo, tạp chí, các
ấn phẩm thông tin… đây là các nguồn tin công khai
- Từ các cơ quan thông tin trong và ngoài nước, theo thỏa thuận hoặc theo hợp đồng trao đổi thông tin phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế Dựa trên cơ sở pháp lý của hoạt động thu thập thông tin, người cung cấp tin phải có trách nhiệm cung cấp thông tin theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật Thông tin cung cấp phải đảm bảo trung thực, chính xác, kịp
Trang 21thời Người cung cấp tin phải chịu trách nhiệm về các thông tin của mình, được hưởng phí thu thập thông tin theo thỏa thuận trên cơ sở quy định của pháp luật
* Phương pháp thu thập thông tin
Đối với nguồn thông tin thường xuyên: Trung tâm TTTD có thể ký kết thỏa thuận hoặc hợp đồng thu thập thông tin với một số nguồn có thể cung cấp thông tin thường xuyên như: cơ quan thành lập doanh nghiệp, TCTD, các
cơ quan thông tin đại chúng…
Đối với nguồn thông tin không thường xuyên: Do khó có thể ký được hợp đồng cung cấp thường kỳ đối với các doanh nghiệp, tòa án, cơ quan thuế,
an ninh, kiểm toán, cơ quan thông tin nước ngoài, nên trung tâm TTTD chỉ có thể thỏa thuận hoặc hợp đồng cam kết sẵn sàng cung cấp thông tin cho trung tâm TTTD khi có yêu cầu Trong các trường hợp này có thể tổ chức thu tin qua mạng máy tính hoặc các hình thức văn bản, fax, điện thoại hoặc các nhân
viên thu tin phải đến tận nơi thu tin
Hoạt động xử lý và phân tích thông tin
Hoạt động xử lý và phân tích thông tin là hoạt động kiểm tra nguồn xác thực và tính chính xác, đúng đắn của thông tin thu thập được trước khi đưa vào phân tích, tổng hợp và lưu trữ, tránh hiện tượng sai xót ngay từ khâu thông tin đầu vào Việc kiểm tra có thể kết hợp bằng máy tính và bằng phương pháp chuyên gia
Hoạt động xử lý phân tích thông tin là khâu quan trọng, quyết định đến chất lượng thông tin cung cấp ra Cùng những thông tin đầu vào như nhau nhưng nếu khâu xử lý tốt thì có thể đưa ra nhiều sản phẩm thông tin khác nhau có giá trị với người sử dụng Hoạt động phân tích TTTD bao gồm các khía cạnh sau:
Trang 22- Phân tích tình hình hoạt động doanh nghiệp, trên cơ sở đó, đưa ra bảng đánh giá xếp loại doanh nghiệp theo từng thời kỳ
- Phân tích chất lượng tín dụng của từng khoản vay, đánh giá xếp loại khoản vay theo từng thời kỳ, đưa ra những cảnh báo sớm đối với những khoản vay có vấn đề
- Phân tích chất lượng tín dụng của từng TCTD và toàn hệ thống ngân hàng, đưa ra những đánh giá, dự báo về chất lượng tín dụng từng thời kỳ
- Phân tích tình hình kinh tế, thị trường, kinh tế vĩ mô trong nước, khu vực
và quốc tế có liên quan đến hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng
- Phân tích hoạt động tín dụng theo ngành kinh tế, theo thành phần kinh
tế, theo lãnh thổ…
Trong khâu xử lý thông tin, việc đưa ra danh sách xếp loại tín dụng doanh nghiệp là rất quan trọng, đòi hỏi Trung tâm TTTD phải đầu tư nhiều thời gian, nhân lực và kinh phí… nhưng ngược lại, nó giúp các TCTD, các nhà đầu tư, nhà quản lý đưa ra quyết sách đúng đắn và có hiệu quả hơn
Phương pháp đánh giá, xếp loại doanh nghiệp và các bước phân tích thông tin khác cũng tương đối khác nhau, tùy thuộc vào kinh nghiệm, yêu cầu của từng quốc gia hoặc từng chuẩn mực khu vực hay thế giới
Hoạt động lưu trữ thông tin
Hoạt động lưu trữ thông tin có chức năng như một ngân hàng dữ liệu về khách hàng vay của từng ngân hàng hoặc toàn bộ hệ thống ngân hàng Hoạt động lưu trữ phải đảm bảo an toàn, chính xác và dễ dàng thuận tiện cho việc tra cứu sử dụng thông tin Trong hoạt động thông tin tín dụng, tất cả các thông tin, dữ liệu thu thập được, sau khi đã xử lý, phân tích đều phải lưu trữ, bảo quản và bảo mật theo chế độ quy định, kể cả với dữ liệu gốc và với chương trình phần mềm Riêng với file dữ liệu phải lưu trữ bằng file nén có mã hoá ở
Trang 23ba vật mang tin và phải ở hai địa chỉ khác nhau để bảo đảm an toàn, an ninh
và tránh rủi ro Việc lưu trữ thông tin có ý nghĩa rất quan trọng:
Một là, tạo thành một cơ sở dữ liệu lớn, có lịch sử lâu dài, có đủ thông
tin để xem xét phân tích khách hàng vay theo quá trình, thông qua lịch sử để
dự đoán khả năng phát triển trong tương lai Mặt khác, thông qua các số liệu tích luỹ lịch sử để đưa ra được các số liệu thống kê về các chỉ số tài chính bình quân theo ngành, theo quy mô doanh nghiệp Đây là các chỉ số rất quan trọng không thể thiếu đối với việc xếp loại tín dụng và cho điểm tín dụng phục vụ cho hoạt động thông tin tín dụng và các tổ chức tín dụng (khi sử dụng phương pháp đánh giá nội bộ)
Hai là, nó tạo thành một cơ sở dữ liệu sẵn sàng phục vụ cho việc tự động
trả lời tin bằng máy tính Hiện nay, thông qua nối mạng trực tuyến, người hỏi tin có thể trực tiếp tra cứu trên mạng để nhận được các bản trả lời tin tự động, không có sự can thiệp của người trả lời tin Đây là một xu thế mới nhằm nâng cao hiệu quả khai thác sử dụng thông tin, nhưng nó chỉ có thể thực hiện được khi có một cơ sở dữ liệu đáp ứng sẵn sàng
Hoạt động cung cấp thông tin
Hoạt động cung cấp thông tin là nội dung cuối cùng trong quy trình hoạt động thông tin tín dụng Để đưa sản phẩm thông tin đến tay người sử dụng đảm bảo an toàn, nhanh chóng, chính xác, hoạt động cung cấp thông tin cần được áp dụng kỹ thuật tin học hiện đại như mạng máy tính, đường truyền file, internet,
+ Các sản phẩm thông tin cung cấp cho người sử dụng
Hoạt động thông tin tín dụng có thể cung cấp ra rất nhiều sản phẩm dịch
vụ thông tin, trong đó, có bốn dịch vụ chính là (1) báo cáo TTTD về doanh nghiệp, (2) báo cáo TTTD về cá nhân tiêu dùng, (3) xếp loại tín dụng doanh nghiệp, (4) cho điểm tín dụng đối với khách hàng cá nhân Ngoài ra, hoạt
Trang 24động thông tin tín dụng còn có thể thực hiện các dịch vụ khác như lập các báo cáo điều tra độc lập, phân tích kinh tế ngành, đánh giá dự án…Tuy nhiên, ranh giới giữa các dịch vụ TTTD không hoàn toàn rõ ràng, dù các dịch vụ có đặc trưng riêng, phương pháp thực hiện riêng nhưng chúng lại đan xen nhau trong quy trình thu thập, xử lý, phân tích thông tin
Các thông tin cung cấp của hoạt động thông tin tín dụng là kết quả của quá trình thu thập, phân tích, tổng hợp thông tin, có vai trò rất quan trọng, quyết định đến chất lượng hiệu quả hoạt động và sự tồn tại phát triển của hoạt động TTTD Yêu cầu với các sản phẩm đầu ra phải phong phú, đảm bảo chất lượng nội dung và kịp thời Về nội dung, thông tin đầu ra phải có các nội dung sau:
- Thông tin về doanh nghiệp: Hồ sơ pháp lý, tình hình tài chính, khả năng thanh toán, quan hệ tín dụng, tài sản đảm bảo…
- Thông tin về thể nhân: Hồ sơ pháp lý, quan hệ tín dụng, tài sản thế chấp…
- Thông tin kinh tế thị trường, kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước có liên quan đến hoạt động ngân hàng
- Thông tin về doanh nghiệp nước ngoài
- Danh sách xếp loại doanh nghiệp (DN) có quan hệ tín dụng
- Xếp loại chất lượng tín dụng đối với những khoản vay lớn, danh sách các khoản vay có vấn đề cần phải cảnh báo sớm
- Đánh giá chất lượng tín dụng của từng TCTD và toàn hệ thống ngân hàng
- Phân tích hoạt động tín dụng theo ngành kinh tế, thành phần kinh tế, lãnh thổ
+ Hình thức cung cấp thông tin cho người sử dụng
Đa dạng, có thể bằng văn bản, bằng các ấn phẩm thông tin, bằng nối mạng máy tính…
+ Thời hạn cung cấp thông tin:
Trang 25Do đặc thù của TTTD, ngoài thông tin định kỳ, phải đáp ứng kịp thời những yêu cầu đột xuất của người sử dụng tin Đối với dịch vụ báo cáo thông tin thì hầu hết các nước đều thực hiện trả lời tin trong ngày hoặc tức thời, với dịch vụ xếp loại tín dụng thì trả lời tin trong một vài ngày
+ Tổ chức mạng lưới cung cấp thông tin:
Việc xây dựng mạng lưới cung cấp thông tin cho người sử dụng là hết sức quan trọng Đây chính là việc tiêu thụ hay bán thông tin đến tay người sử dụng,
vì vậy cần phải triển khai tốt để tổ chức cung cấp thông tin phù hợp, cụ thể:
- Đối với các khách hàng thường xuyên: Phải nối mạng máy tính để truyền tin nhanh chóng, kịp thời, chính xác Đối với các khách hàng không thường xuyên: Có thể cung cấp bằng văn bản, fax, email, …
- Bố trí nhiều điểm cung cấp tin ở các khu vực trong cả nước để tạo thuận lợi trong việc phân phối tin đến người sử dụng, thông qua các trung gian cung cấp thông tin để vừa bán buôn vừa bán lẻ thông tin
- Chú trọng tận dụng các khả năng giao tiếp nhanh chóng, thuận tiện, giá thành thấp và độ an toàn cao của internet
+ Giá trị pháp lý của thông tin được cung cấp:
Tổ chức thực hiện hoạt động thông tin tín dụng phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin do mình cung cấp, tức là thông tin phải trung thực, đúng đắn, khách quan, không thiên vị hay vụ lợi Cơ sở đảm bảo là người cung cấp thông tin đầu vào phải chịu trách nhiệm về thông tin mà mình đã cung cấp cho trung tâm TTTD Trung tâm TTTD phải kiểm tra trước, xử lý thông tin phải đảm bảo chính xác Tuy nhiên, trung tâm TTTD không chịu trách nhiệm
về hậu quả kinh doanh khi sử dụng tin, vì thông tin là khách quan, còn quyền quyết định trong kinh doanh thuộc về người sử dụng tin Người sử dụng tin nếu biết kết hợp thông tin với hành động đúng đắn thì sẽ tạo ra sức mạnh to lớn, còn nếu có thông tin mà hành động sai lầm thì sẽ dẫn đến thất bại
Trang 261.1.4 Các nguyên tắc chung của hoạt động thông tin tín dụng
Nguyên tắc 1: Hoạt động thông tin tín dụng cần có dữ liệu chính xác,
kịp thời và đầy đủ - bao gồm cả tích cực và tiêu cực - thu thập một cách có hệ thống từ tất cả các nguồn có liên quan và có sẵn, nên lưu trữ các thông tin này trong một thời gian đủ dài
Tính kịp thời của dữ liệu
- Các nhà cung cấp dịch vụ thông tin tín dụng và các nhà cung cấp dữ liệu cần áp dụng các quy định rõ ràng và chi tiết cho việc cập nhật thông tin Những quy định này phải đảm bảo rằng việc cập nhật thông tin được thực hiện trên cơ sở lịch trình được xác định trước Ở mức tối thiểu, điều này bao gồm các hành động kịp thời trong trường hợp điều chỉnh sai sót và trong trường hợp có những thay đổi liên quan đến rủi ro tín dụng, nợ quá hạn, gian lận, vỡ nợ và phá sản
- Dữ liệu nên có sẵn cho người dùng của hoạt động thông tin tín dụng một cách nhanh chóng để họ có thể thực hiện chức năng của mình mà không
có sự chậm trễ không cần thiết
Tính đầy đủ dữ liệu - bao gồm cả tích cực và tiêu cực
- Các nhà cung cấp hoạt động thông tin tín dụng có thể thu thập và xử lý tất cả các thông tin liên quan cần thiết để thực hiện các mục đích hợp pháp của
họ Thông tin liên quan bao gồm cả dữ liệu tiêu cực và tích cực, cũng như bất
Trang 27kỳ các thông tin khác được coi là thích hợp đối với hệ thống thông tin tín dụng, phù hợp với những yếu tố được đề cập trong các nguyên tắc chung khác
- Các nhà cung cấp dịch vụ thông tin tín dụng cần thiết lập các quy tắc rõ ràng về dữ liệu đầu vào tối thiểu và các dữ liệu đầu vào các nhà cung cấp dịch
vụ thông tin tín dụng Ở mức tối thiểu, các yếu tố dữ liệu được thu thập bao gồm, thông tin nhận dạng, thông tin về tín dụng bao gồm cả số tiền ban đầu, ngày khởi xướng, ngày đến hạn, số tiền còn nợ, hình thức vay, thông tin vỡ
nợ, dữ liệu nợ quá hạn Lý tưởng nhất là bao gồm các công cụ giảm thiểu rủi
ro tín dụng như bảo lãnh, thế chấp và ước tính giá trị của chúng
- Thu thập dữ liệu trên cơ sở hệ thống từ tất cả các nguồn có liên quan và
- Số liệu thu thập bởi các hệ thống thông tin tín dụng nên có sẵn cho người
sử dụng trong một khoảng thời gian phù hợp với mục đích sử dụng của dữ liệu
- Có các quy định rõ ràng liên quan đến phương pháp xác định ngày hoặc sự kiện cụ thể khi việc cung cấp dữ liệu chấm dứt
Nguyên tắc 2: Hoạt động thông tin tín dụng cần có những tiêu chuẩn
nghiêm ngặt về an ninh, độ tin cậy, và có hiệu quả
Các biện pháp an ninh: Các thành viên của thực hiện hoạt động thông
tin tín dụng phải bảo vệ dữ liệu, chống thất thoát, sai lệch, tiêu hủy, lạm dụng hoặc truy cập phi pháp
Độ tin cậy: Các nhà cung cấp dịch vụ thông tin tín dụng phải thực hiện
các biện pháp kinh doanh liên tục thích hợp để đảm bảo rằng các dịch vụ của
Trang 28họ luôn ở tư thể sẵn sàng phục vụ cho người dùng mà không có bất kỳ sự gián đoạn đáng kể nào
Tính hiệu quả: Các nhà cung cấp dịch vụ thông tin tín dụng nên cố gắng
đạt hiệu quả cả từ triển vọng hoạt động cũng như từ góc độ chi phí, liên tục đáp ứng các nhu cầu của người sử dụng và tiêu chuẩn cao về trình độ phục vụ
Nguyên tắc 3: Cơ chế quản trị của các nhà cung cấp hoạt động thông tin
tín dụng và các nhà cung cấp dữ liệu phải đảm bảo trách nhiệm giải trình, tính minh bạch và hiệu quả trong việc quản lý các rủi ro liên quan đến việc kinh doanh và công bằng tiếp cận thông tin của người sử dụng
Trách nhiệm giải trình của cơ chế quản trị: Các nhà cung cấp hoạt động
thông tin tín dụng và các nhà cung cấp dữ liệu thông tin tín dụng cung cấp dữ liệu phải đảm bảo trách nhiệm giải trình của ban điều hành và của các thành viên hội đồng quản trị nếu có Điều này nên bao gồm kiểm toán hoặc đánh giá độc lập
Tính minh bạch của cơ chế quản trị: Cơ chế quản trị của các nhà cung
cấp dịch vụ thông tin tín dụng và các nhà cung cấp dữ liệu thông tin tín dụng phải đảm bảo công khai kịp thời và chính xác các vấn đề liên quan đến đơn vị
và hoạt động của đơn vị
Hiệu quả của cơ chế quản trị trong việc đảm bảo quản lý rủi ro liên quan đến việc kinh doanh một cách phù hợp
- Công tác quản lý của nhà cung cấp dịch vụ thông tin tín dụng và các nhà cung cấp dữ liệu cần nhận dạng tất cả các rủi ro có liên quan mà tổ chức
có thể đối mặt Các kết quả phân tích rủi ro này phải được báo cáo theo định
kỳ cho cơ quan lãnh đạo cao nhất của tổ chức
- Để giải quyết đúng cách và giảm thiểu rủi ro, các nhà cung cấp dịch vụ thông tin tín dụng và các nhà cung cấp dữ liệu thông tin tín dụng cần thành lập các cơ chế kiểm soát nội bộ và cơ chế quản lý rủi ro lành mạnh
Trang 29Cơ chế quản trị hiệu quả đảm bảo rằng tất cả người dùng có thể truy cập thông tin một cách công bằng
Cơ chế quản trị của các nhà cung cấp dịch vụ thông tin tín dụng cần thúc đẩy tất cả người dùng có quyền truy cập thông tin một cách công bằng Mục tiêu này không bị ảnh hưởng bởi cơ cấu sở hữu của các nhà cung cấp dịch vụ
Nguyên tắc 4: Khung pháp luật và quản lý chung đối với hoạt động thông
tin tín dụng phải rõ ràng, có thể dự đoán, không phân biệt đối xử, phù hợp và
hỗ trợ quyền của người tiêu dùng Khuôn khổ pháp luật và quản lý nên bao gồm các cơ chế giải quyết tranh chấp tố tụng hoặc ngoài tố tụng có hiệu quả
Tính rõ ràng và khả năng dự đoán
- Khung pháp luật và quản lý phải rõ ràng, đầy đủ, giúp các nhà cung cấp dịch vụ, các nhà cung cấp dữ liệu, người sử dụng và các chủ thể dữ liệu lường trước hậu quả mà hành động của họ có thể mang đến
- Các thuật ngữ sử dụng trong khuôn khổ pháp luật và quản lý, bao gồm
cả các quy tắc và tiêu chuẩn khác, phải nhất quán ở cấp độ trong nước
- Hiểu biết của cộng đồng về pháp luật và các quy định của hoạt động thông tin tín dụng góp phần tăng sự rõ ràng và khả năng dự đoán của khuôn khổ pháp luật và quản lý
Tính không phân biệt đối xử
- Việc cung cấp và truy cập dữ liệu nên được thiết lập một cách công bằng, đáp ứng quy tắc công bằng, không phụ thuộc vào bản chất của những người tham gia
- Nghĩa vụ về chất lượng dữ liệu, các biện pháp an ninh và quyền lợi người tiêu dùng nên được áp dụng như nhau cho tất cả các nhà cung cấp dịch
vụ thông tin tín dụng, các nhà cung cấp dữ liệu và người sử dụng
Tỷ lệ tương xứng
- Khung pháp luật và quản lý không nên quá hạn chế và cồng kềnh so với các vấn đề mà nó được thiết kế để giải quyết
Trang 30- Luật và các quy định quản lý cần có tính thực tiễn và hiệu quả để đảm bảo một mức độ tuân thủ cao
- Quyền của người tiêu dùng và bảo vệ dữ liệu
- Các quy định về bảo vệ chủ thể dữ liệu người tiêu dùng cần được xác định rõ ràng Ở mức tối thiểu, các quy định này bao gồm: (i) quyền phản đối
về việc thông tin của họ được thu thập vì các mục đích nhất định hoặc sử dụng cho mục đích nào đó; (ii) quyền được thông tin về các điều kiện thu thập, xử lý và sử dụng dữ liệu về họ; (iii) quyền truy cập dữ liệu về họ định kỳ với mức phí thấp hoặc miễn phí; và (iv) quyền nghi ngờ tính chính xác của thông tin về họ
- Khung pháp luật và quản lý của hoạt động thông tin tín dụng cần phải giải quyết tất cả các vấn đề có liên quan liên quan đến bí mật của chủ thể dữ liệu, đặc biệt là nếu các vấn đề đó không được điều chỉnh bởi một đạo luật bảo vệ dữ liệu cá nhân hoặc pháp luật tương tự khác
Nguyên tắc 5: Cần tạo điều kiện cung cấp dữ liệu xuyên quốc gia khi
đáp ứng đầy đủ các yêu cầu đưa ra và ở những nơi phù hợp
Điều kiện tiên quyết cho việc truyền dữ liệu tín dụng xuyên quốc gia:
- Tính khả thi hoặc mong muốn truyền dữ liệu xuyên quốc gia phải dựa trên phân tích chi phí - lợi ích có xem xét các điều kiện thị trường, mức độ hội nhập kinh tế và tài chính, các rào cản pháp lý và nhu cầu của người tham gia
- Tiêu chuẩn hóa định dạng dữ liệu và các thủ tục cần được đẩy mạnh để tạo điều kiện truyền dữ liệu tín dụng xuyên quốc gia
- Các yêu cầu truyền dữ liệu tín dụng xuyên quốc gia
- Khi thực hiện truyền dữ liệu xuyên quốc gia, các nguồn gốc rủi ro tiềm tàng có thể phát sinh nên được nhận dạng và quản lý thích hợp
- Cần có một khuôn khổ hợp tác và phối hợp giữa các cơ quan quản lý và giám sát có liên quan
Trang 311.1.5 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động thông tin tín dụng
(1) Số TCTD tham gia chia sẻ thông tin trên tổng số TCTD hiện có
Chỉ tiêu này thể hiện độ bao phủ thông tin của trung tâm TTTD, được tính dựa vào số TCTD mà trung tâm TTTD thu thập được thông tin trên tổng
số TCTD đang hoạt động trong nền kinh tế
Tỷ lệ TCTD tham gia chia sẻ TT =
Số TCTD chia sẻ TTTD
x 100 Tổng số TCTD hiện có
Chỉ tiêu này có giá trị từ 0 - 100%, càng cao càng tốt, thông thường từ 90% đến 100%
(2) Số hồ sơ khách hàng vay trên tổng số khách hàng vay thực tế
Số hồ sơ khách hàng vay trên tổng số khách hàng vay thực tế thể hiện mức độ bao quát của TTTD đối với các khoản vay Chỉ tiêu này có giá trị càng cao thì việc chia sẻ TTTD càng có ý nghĩa tích cực và tác dụng ngăn ngừa rủi ro tín dụng mới thực sự có hiệu quả, hoạt động của trung tâm TTTD càng được phát triển
Tỷ lệ hồ sơ khách hàng vay vốn =
Số hồ sơ khách hàng vay vốn
x 100 Tổng số khách hàng vay thực tế
Chỉ tiêu này đánh giá sự phát triển động của trung tâm TTTD theo chiều rộng, có giá trị từ 0 - 100%, càng cao càng tốt
(3) Dư nợ thu thập được trên tổng dư nợ thực tế
Dư nợ thu thập được trên tổng dư nợ thực tế thể hiện mức độ bao quát của TTTD, giá trị này càng cao thì việc chia sẻ TTTD càng có ý nghĩa tích cực và tác dụng ngăn ngừa rủi ro tín dụng mới thực sự có hiệu quả Chỉ tiêu này cho biết có bao nhiêu khách hàng được trung tâm TTTD thu thập thông tin trên 100 khách hàng có quan hệ tín dụng thực tế
Tỷ lệ dư nợ thu thập được = Dư nợ thu thập được tại CIC x 100
Tổng dư nợ thực tế
Trang 32Chỉ tiêu này cũng đánh giá sự phát triển hoạt động của trung tâm TTTD theo chiều rộng, có giá trị từ 0 - 100%, càng cao càng tốt
(4) Thời gian cập nhật thông tin
Thời gian cập nhật thông tin là thời gian mà thông tin về khách hàng của các trung tâm TTTD được cập nhật vào kho dữ liệu
Chỉ tiêu này được xác định dựa vào thời gian trung tâm TTTD cập nhật thông tin khi có sự thay đổi thông tin của khách hàng (bao gồm cả thông tin
về hồ sơ pháp lý và thông tin về dư nợ)
Thời gian cập nhật tin có thể tính bằng tháng, tuần, ngày, thậm chí có thể được tính bằng giờ Chỉ tiêu này có giá trị càng ngắn càng tốt
(5) Thời gian trả lời tin và số lượng bản tin trả lời theo yêu cầu
Thời gian trả lời tin là khoảng thời gian tính từ khi TCTD có yêu cầu hỏi tin khách hàng đến khi trung tâm TTTD có bản tin trả lời Chỉ tiêu này thể hiện sự hoàn hảo, độ sẵn sàng của thông tin đã được lưu trữ, thông thường trả lời trong ngày
Thời gian trả lời tin có thể tính bằng ngày, giờ Chỉ tiêu này có giá trị càng ngắn càng tốt, theo chuẩn quốc tế là trả lời tức thời (khi TCTD có yêu cầu hỏi tin thì lập tức nhận được bản tin về khách hàng từ trung tâm TTTD) Tăng trưởng số lượng bản trả lời tin được tính dựa trên sự gia tăng số lượng bản trả lời tin qua các năm Chỉ tiêu này thể hiện hiệu quả hoạt động về qui mô sản lượng dịch vụ cung cấp thông tin cho các đối tượng khách hàng, chỉ tiêu này có giá trị càng cao càng tốt
Tỷ lệ bản trả lời tin = Số lượng bản tin trả lời x 100
Tổng số yêu cầu nhận được
(6) Tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận
Tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận được tính dựa trên số liệu về doanh thu, lợi nhuận được lấy từ Bảng cân đối kế toán của trung tâm TTTD qua các năm
Trang 33Doanh thu của trung tâm TTTD chủ yếu có từ hoạt động cung cấp TTTD cho các đối tượng sử dụng, chỉ tiêu này có giá trị càng cao càng tốt
Tốc độ tăng trưởng doanh thu =
Doanh thu năm t – Doanh thu năm (t-1)
x 100 Doanh thu năm (t-1)
Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận =
Lợi nhuận năm t – Lợi nhuận năm (t-1)
x 100 Lợi nhuận năm (t-1)
(7) Khả năng phục hồi thông tin khi có sự cố
Khả năng phục hồi thông tin khi có sự cố thể hiện tính dự phòng đảm bảo thông tin liên tục trong mọi tình huống
Chỉ tiêu này được tính bằng số giờ hệ thống mạng bị trục trặc trong 1 năm, chỉ tiêu này có giá trị càng thấp càng tốt
1.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động thông tin tín dụng
1.1.6.1 Nhân tố chủ quan
Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin
Hiện nay, thông tin ngày càng nhiều về dung lượng và đa dạng về chủng loại, nếu thực hiện bằng thủ công thì sẽ tốn rất nhiều thời gian và chi phí nhân công mà không đảm bảo được nội dung, chất lượng, độ chính xác và an toàn của thông tin Vì thế, việc áp dụng công nghệ thông tin đối với hoạt động TTTD là một lẽ tất nhiên Ưu điểm của công nghệ thông tin ngày nay không chỉ ở chỗ xử lý thông tin nhanh nhẹn, chính xác, kịp thời, tốc độ cao mà nó còn có thể kết nối truyền tải thông tin từ nơi này đến nơi khác, ít bị trở ngại về khoảng cách và thời gian
Hơn nữa, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, thì quy mô khách hàng của các ngân hàng ngày càng tăng lên Điều đó đòi hỏi hoạt động thông tin tín dụng phải được thực hiện dựa trên những giải pháp công nghệ hiện đại nhất với sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ thông tin Vì sẽ không thể lưu trữ, xử lý
và bảo quản một hệ thống cơ sở dữ liệu to lớn đến như vậy nếu không có những giải pháp công nghệ thích hợp Tương tự như vậy, để tăng cường tốc
Trang 34độ và tính hiệu quả của việc thu thập thông tin, cả thông tin ban đầu và thông tin cập nhật định kỳ thì hoạt động TTTD phải áp dụng những phương pháp thu thập thông tin tự động, trực tuyến trên cơ sở công nghệ thông tin Trong công đoạn xử lý thông tin, xếp hạng tín dụng, chấm điểm tín dụng trên cơ sở phân tích, đối chiếu, so sánh một khối lượng lớn chỉ tiêu trong kho thông tin thì công nghệ thông tin lại càng không thể thiếu Nhu cầu tiếp cận khai thác
sử dụng kho thông tin của hoạt động TTTD cũng có yêu cầu tức thời, chính xác, an toàn càng nhấn mạnh thêm nhu cầu cần phải có những giải pháp công nghệ thông tin tiên tiến nhất
Như vậy, có thể nói công nghệ thông tin giúp hoạt động thông tin tín dụng đảm bảo thông tin nhanh nhạy, chính xác, kịp thời và giảm chi phí để hạ giá thành thông tin, cũng tức là hạ chi phí thông tin đầu vào cho hoạt động tín dụng
Khả năng chuyên môn và kinh nghiệm của cán bộ
Mặc dù, hoạt động thông tin tín dụng được sự hỗ trợ đắc lực từ nhân tố công nghệ song để sử dụng, vận hành hệ thống công nghệ phục vụ hoạt động thông tin tín dụng thì cần phải có đội ngũ chuyên viên chuyên nghiệp, có đạo đức, có trình độ chuyên môn sâu, có khả năng phân tích và xử lý thông tin độc lập
Đối với hoạt động TTTD, khối lượng thông tin xử lý rất lớn Trong quá trình xử lý có nhiều tình huống xảy ra, cần phải giải quyết dựa vào sự phán đoán của cán bộ đảm nhận mà không thể lập trình được Bên cạnh đó, yêu cầu của TTTD là phải đảm bảo tính chính xác, tính kịp thời, tính đầy đủ, tính pháp
lý, tính kinh tế, tính đảm bảo an toàn bí mật Vì vậy, với đội ngũ chuyên viên
có kinh nghiệm, am hiểu về pháp luật, về quy trình nghiệp vụ giúp cho hoạt động xử lý, phân tích thông tin đảm bảo chính xác hơn, chất lượng hơn; các thông tin đầu ra được nhanh chóng, kịp thời hơn đảm bảo chất lượng cho hoạt động thông tin tín dụng
Trang 351.1.6.2 Nhân tố khách quan
Thị trường TTTD ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đều phụ thuộc vào thị trường và phải tuân theo các quy luật của thị trường, đó là quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh và quy luật giá trị Các quy luật đó chi phối và quyết định đến sự tồn tại, phát triển của tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tế Đối với hoạt động TTTD cũng phải tuân theo các quy luật này
Thực chất thì thị trường TTTD ngân hàng là một thị trường không hoàn hảo, vì trong các chủ thể tham gia, có một số tổ chức không thực hiện kinh doanh TTTD như cơ quan TTTD công, thường trực thuộc NHNN, hoạt động
vì mục đích bảo đảm an toàn, ổn định hệ thống ngân hàng, có tính chất như bảo hộ cho kinh doanh ngân hàng, không nhằm kinh doanh, không vì mục tiêu lợi nhuận; hoặc các công ty TTTD cổ phần do các ngân hàng đứng ra kết hợp cùng thành lập cũng chủ yếu để có thông tin ngăn ngừa rủi ro, dù là công
ty nhưng không vì mục tiêu lợi nhuận, không nhằm mục đích kinh doanh Tuy vậy, đến nay tất cả các cơ quan TTTD ngân hàng trên thế giới đều bán thông tin, gần như không còn tổ chức nào cho không thông tin Các tổ chức TTTD công đang hoạt động như là DN công ích (hoặc đơn vị sự nghiệp như đối với VN) tự lo trang trải một phần chi phí, phần thiếu sẽ được cấp bù
Một vấn đề nữa cũng làm cho thị trường TTTD ngân hàng không hoàn hảo, đó là tính bắt buộc hoặc các ngân hàng phải báo cáo và khai thác TTTD
để phòng ngừa rủi ro đối với các tổ chức TTTD công, tức là pháp luật bắt buộc NHTM phải tham gia báo cáo cho hệ thống TTTD ngân hàng, hiện nay theo thống kê có khoảng 30% nước trên thế giới có tổ chức TTTD công Nhưng vấn đề bắt buộc này đến nay không còn quan trọng vì hầu hết các ngân hàng đều tự giác mua thông tin vì lợi ích trước hết của chính mình
Trang 36Thị trường TTTD ngân hàng có một số đặc điểm sau:
(i) Thị trường TTTD ngân hàng mang tính thương mại điện tử, chịu ảnh hưởng của mạng truyền thông, internet
(ii) Thị trường TTTD ngân hàng không giới hạn trong một quốc gia, mà
có tính liên kết trao đổi TTTD với toàn cầu
(iii) Hàng hóa TTTD ngân hàng khác các hàng hóa vật chất khác là cùng một thông tin có thể bán cho nhiều người, bán nhiều lần, nếu càng được sử dụng nhiều thì giá trị sử dụng của thông tin càng cao
Hiểu rõ hơn về thị trường TTTD ngân hàng sẽ giúp chúng ta có quan điểm, cách nhìn và đưa ra những giải pháp thực tế hơn cho phát triển thị trường, một nhân tố quan trọng cho phát triển hệ thống TTTD ngân hàng Thị trường TTTD ngân hàng của mỗi nước chủ yếu phụ thuộc quy mô các ngân hàng, các tổ chức tài chính khác và quy mô tín dụng Một số đối tượng chính sử dụng TTTD ngân hàng như sau:
(1) NHTM và các tổ chức tài chính: Đặc thù của NHTM là kinh doanh trong lĩnh vực phải đối mặt với nhiều rủi ro nhất trong nền kinh tế, và trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế tuy có nhiều thuận lợi nhưng các NHTM cũng phải đối mặt với nhiều thách thức như cạnh tranh ngày càng gay gắt, nguy cơ rủi ro ngày càng đa dạng Vì vậy, TTTD ngân hàng ngày càng trở nên cấp thiết và là vấn đề sống còn của các NHTM Các NHTM với tư cách là người cung cấp dữ liệu đầu vào chủ yếu lại vừa là người khai thác sử dụng thông tin đầu ra của hệ thống này
Các tổ chức tài chính phi ngân hàng như các công ty tài chính, công ty thuê mua tài chính, công ty bảo hiểm, các quỹ trợ cấp, quỹ hưu trí, quỹ đầu tư, quỹ hỗ trợ phát triển, quỹ hỗ trợ xuất khẩu,v.v giữ vai trò chia sẻ thông tin, vừa là nguồn cung cấp thông tin chủ yếu, vừa là người sử dụng thông tin
Trang 37(2) Các tổ chức khác, hiện nay, ngoài các tổ chức tài chính, ở nhiều nước còn cho phép các tổ chức khác được tham gia hệ thống TTTD như: các công
ty điện thoại, công ty cho thuê, bán hàng trả chậm …Các thành viên này cũng tham gia chia sẻ thông tin và được sử dụng TTTD để phục vụ cho hoạt động kinh doanh nhằm ngăn ngừa hạn chế rủi ro và bảo vệ người tiêu dùng
(3) Ngân hàng Trung ương cũng là người khai thác thông tin để phục vụ cho nhiệm vụ quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng và giám sát hoạt động của các NHTM
(4) Đối với doanh nghiệp, thông tin XLTD tạo cho các chủ thể kinh doanh đánh giá được năng lực, khả năng kinh doanh của mình, của đối tác, qua đó lựa chọn được đối tác và phương án đầu tư phù hợp, làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, đem lại nhiều lợi nhuận cho DN Vì lẽ đó, DN cũng chính là khách hàng tham gia trên thị trường TTTD ngân hàng
Hệ thống pháp luật
Các văn bản pháp luật có thể ảnh hưởng tốt hoặc không tốt đến chất lượng của hoạt động TTTD Một hệ thống văn bản pháp lý đồng bộ, đầy đủ thống nhất và ổn định sẽ nâng cao ý thức và trách nhiệm của các chủ thể tham gia hoạt động TTTD giúp hoạt động TTTD đảm bảo chất lượng theo đúng quy chuẩn
Ngược lại, các văn bản pháp lý chưa hoàn thiện, các quy định chồng chéo có thể gây khó khăn cho hoạt động TTTD hoặc các quy định thiếu chặt chẽ có thể tạo ra kẽ hở để các chủ thể tham gia luồn lách, trốn nghĩa vụ báo cáo TTTD làm ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động thông tin tín dụng
Hội nhập, hợp tác quốc tế
Trong thời kỳ bước vào nền kinh tế tri thức, tham gia vào siêu xa lộ thông tin trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế ngày nay thì một nhân tố không kém phần quan trọng đối với sự phát triển của các lĩnh vực kinh tế nói
Trang 38chung và cũng như đối với lĩnh vực TTTD ngân hàng nói riêng, đó là hợp tác quốc tế, liên kết quốc tế về thông tin Chính việc nối mạng quốc tế và trong nước theo xu thế “siêu xa lộ thông tin” đã góp phần rất lớn trong việc tập hợp, khai thác sử dụng tài nguyên về lao động, vốn và trí thức của nhân loại cho sự phát triển nền kinh tế thế giới trong thập kỷ vừa qua
Đối với hoạt động thông tin tín dụng cũng vậy, việc mở rộng hội nhập, hợp tác sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức khai thác, chia sẻ thông tin
Từ đó, nguồn thông tin thu thập được đảm bảo độ tin cậy cao, đa dạng đáp ứng nhu cầu người sử dụng và chất lượng hoạt động thông tin tín dụng được nâng cao và ngược lại
1.2 Cơ sở thực tiễn về nâng cao chất lượng hoạt động thông tin tín dụng
1.2.1 Kinh nghiệm về nâng cao chất lượng hoạt động TTTD của NHTW tại Mỹ
Quy mô hệ thống của NHTW BRASIL (Mỹ) rất lớn, ngân hàng có 1 tỷ
hồ sơ khách hàng, kích thước 300Gb, 800 màn hình, 120.000 số dòng lệnh mã phần mềm, 500 cán bộ nghiệp vụ, 400 cán bộ hỗ trợ thay thế, 200 người thuê ngoài Dữ liệu truyền bằng điện tử trực tuyến, thông tin từ 13 cơ sở dữ liệu của các ngân hàng Các File báo cáo được làm bởi các tổ chức tài chính, các sản phẩm báo cáo được làm bởi NHTW Các khuôn mẫu báo cáo do NHTW quy định thống nhất Để đảm bảo chất lượng hoạt động thông tin tín dung, NHTW BRASIL đặt mục tiêu trong hoạt động TTTD như sau:
- Tránh các sai lầm trong việc quyết định tín dụng, từ đó hạn chế, ngăn ngừa rủi ro tín dụng, tránh thiệt hại cho ngân hàng
- Tính toán chi phí đúng mức để phòng ngừa rủi ro: NHTW biên soạn một bản báo cáo về DN có thể cung cấp cho rất nhiều tổ chức tín dụng cần cùng lượng thông tin đó, do có chuyên môn hơn, cho nên sẽ giảm được giá thành thông tin rất nhiều
Trang 39- Luôn đáp ứng kịp thời thông tin: NHTW BRASIL lưu trữ hầu hết hồ sơ của các công ty lớn, nên khi cần thông tin thì chỉ cần trong vài phút là có ngay
1.2.2 Kinh nghiệm về nâng cao chất lượng hoạt động TTTD của NHTW tại Đài Loan
Bộ Tài chính và NHTW Đài Loan cùng công bố văn bản "Tổ chức lại hệ thống ngân hàng " vào năm 1975 Theo văn bản này, Hiệp hội ngân hàng Đài Loan được chỉ định đứng ra thành lập Trung tâm TTTD (gọi tắt là JCIC) cho các ngân hàng Theo văn bản "hướng dẫn thành lập Trung tâm TTTD của Hiệp hội Ngân hàng Đài Bắc "do Bộ Tài chính ban hành, JCIC được thành lập ngày 20/03/1975 với tư cách là một Vụ của Hiệp hội Ngân hàng Đài Loan Ngày 20/05/1992, JCIC được tách ra khỏi Hiệp hội ngân hàng, với tư cách một pháp nhân độc lập, hoạt động vì mục tiêu sinh lợi Thành viên của JCIC là các ngân hàng, các công ty đầu tư tín thác và một số chi nhánh ngân hàng nước ngoài Chức năng của JCIC là xây dựng cơ sở dữ liệu TTTD; khuyến khích việc điều tra tín dụng của các trung gian tài chính; cung cấp các thông tin về các ngành sản xuất chủ yếu, về các công ty và cá nhân Để đảm bảo chất lượng cho hoạt động thông tin tín dụng, NHTW Đài Loan thực hiện như sau:
- Trong hoạt động thu thập thông tin, JCIC chú trọng các nguồn thông tin từ: bộ kinh tế, cơ quan thuế, cơ quan kiểm toán, NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty tài chính, công ty đầu tư tín thác
- JCIC Đài Loan đã xây dựng chương trình phần mềm, tự động tạo ra các file đối với khách hàng thiếu thông tin để gửi lại TCTD, buộc các TCTD bổ sung; đồng thời xây dựng quy chế xử phạt hợp lý nếu không thực hiện thông qua các mức độ nặng nhẹ
- Trong công tác xử lý, phân tích thông tin JCIC Đài Loan thực hiện nhận file báo cáo và chuyển dữ liệu vào kho tạm- thực hiện xử lý dữ liệu -
Trang 40cập nhật vào kho chuẩn Trong mỗi một giai đoạn cần xây dựng được chuẩn các bước tiến hành để các cán bộ xử lý thực hiện tuần tự, tránh bỏ bước dẫn đến xử lý sai, nhầm lẫn
- Việc xử lý thông tin được phải JCIC Đài Loan tuân thủ nghiêm ngặt theo các bước đã quy định Thực hiện phân chia quyền đối với các tình huống
xử lý phức tạp Thiết kế chương trình duyệt cho các công ty liên quan, xây dựng chương trình duyệt để làm mới hồ sơ khách hàng
1.2.3 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng hoạt động thông tin tín dụng của Trung Quốc
Tháng 6/1982 một số ngân hàng lớn đã thành lập trung tâm báo cáo tín dụng Trung Quốc để cung cấp những yêu cầu thông tin và tư vấn Từ khi thực hiện chính sách mở cửa, sự phát triển ngành dịch vụ TTTD Trung Quốc được chia thành ba giai đoạn:
- Giai đoạn 1 từ 6/1982, ngân hàng nhân dân Trung Quốc (PBC) chấp nhận cho các công ty xếp loại tín dụng được phép bắt đầu hoạt động ở các tỉnh lớn và trung bình Hầu hết các công ty được thiết lập bởi các ngân hàng, một số bởi tổ chức phi ngân hàng
- Giai đoạn 2 từ sau khi khủng hoảng tài chính Châu Á Trong giai đoạn này, do phát triển việc xếp loại nội bộ của các NHTM nên nhu cầu thị trường đối với các TTTD bị giảm xuống
- Giai đoạn 3 từ khi bước ra khỏi khủng hoảng tài chính châu Á, nhận thức về các lĩnh vực tài chính, các rủi ro, những ảnh hưởng lớn của các nhà đầu tư đến dây truyền tín dụng Trong thời kỳ này, một mặt các quy định tài chính được tăng cường thắt chặt để làm giảm các khoản vay xấu của các ngân hàng, giảm rủi ro tin dụng Mặt khác, nhằm có giải pháp hiệu quả tăng tín dụng và ngăn ngưa rủi ro tín dụng, chính phủ Trung Quốc đã có những nỗ lực