Tính cấp thiết của đề tài Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X năm 2006 đã xác định: “Hiện nay và nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt qua
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-
TRƯƠNG HOÀNG THUẬN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA NGƯỜI DÂN TRONG CHƯƠNG TRÌNH 135 Ở
HUYỆN NHO QUAN - TỈNH NINH BÌNH
Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp
Mã số: 60.31.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THỊ XUÂN HƯƠNG
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-
TRƯƠNG HOÀNG THUẬN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA NGƯỜI DÂN TRONG CHƯƠNG TRÌNH 135 Ở
HUYỆN NHO QUAN - TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Hà Nội, 2012
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X năm 2006 đã xác định: “Hiện nay
và nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng”, là vấn đề chiến lược trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, là cơ sở ổn định chính trị và an ninh quốc phòng; là yếu tố quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững của Đất nước trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa; nhưng trước hết phải xuất phát từ lợi ích của nông dân, phát huy vai trò của giai cấp nông dân, cùng với giai cấp công nhân
và giai cấp trí thức trở thành chỗ dựa chính trị vững chắc của Đảng và Nhà nước; tạo điều kiện thuận lợi giúp nông dân nâng cao trình độ về mọi mặt, có đời sống vật chất và tinh thần ngày càng cao Phát triển nông nghiệp, nông thôn hướng tới chủ động giải quyết thiết thực các vấn đề về đời sống và đáp ứng nhu cầu của nông dân trong đó chú trọng tạo điều kiện cho các vùng khó khăn, hộ nghèo vươn lên có cuộc sống tốt hơn, phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
Khu vực nông thôn, miền núi hiện vẫn đang giữ một vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong quá trình phát triển KT-XH của nước ta Hiện nay nông thôn vẫn chiếm phần lớn dân số và diện tích của cả nước và kinh tế nông nghiệp đang đóng góp khoảng 24% tổng thu nhập quốc dân, 30% giá trị xuất khẩu
Xuất phát từ vị trí chiến lược của nông thôn và miền núi, trong quá trình đổi mới và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước chủ trương đẩy mạnh CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân, trong đó trọng tâm là chăm lo đời sống của người nông dân Vì vậy, Đảng và Nhà nước đã có nhiều nỗ lực huy động cho
sự phát triển của nông thôn và miền núi, như nguồn lực về vốn, phương tiện vật chất - kỹ thuật, đặc biệt là việc phát huy nguồn lực con người Đối với miền núi, Đảng và Nhà nước đã triển khai thực hiện nhiều chương trình phát
Trang 3triển KT-XH như: Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg về Phê duyệt chương trình phát triển KT-XH các xã miền núi và vùng sâu, vùng xa (Chương trình 135); Nghị quyết số 37-NQ/TW về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội
và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng trung du miền núi Bắc Bộ đến năm 2010; việc triển khai thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia như: chương trình xoá đói giảm nghèo, chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn Những quyết sách hết sức sáng suốt đó đã mở đường cho
sự phát triển vượt bậc, khá toàn diện của nông nghiệp và nông thôn Việt Nam trong những năm qua, mà nổi bật là sự tăng trưởng liên tục với nhịp độ cao về sản xuất lương thực và xuất khẩu gạo Thành tựu về phát triển nông nghiệp đã góp phần quan trọng tạo nên thành tựu chung của công cuộc đổi mới, sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam
Huyện Nho Quan là một huyện miền núi của tỉnh Ninh Bình, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, các cấp bộ Đảng, chính quyền và nhân dân trong huyện đã có nhiều cố gắng và đã đạt được những kết quả quan trọng Kinh tế duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được quan tâm đầu tư xây dựng; bộ mặt nông thôn đã có nhiều đổi mới Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có chuyển biến tích cực, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được nâng lên Trong quá trình thực hiện các chương trình, dự án phát triển KT-XH của huyện, vai trò của người dân địa phương rất quan trọng, nhất là việc người dân cùng tham gia vào góp vốn, tham gia xây dựng, quản lý, sử dụng và bảo
vệ Nhờ vậy mà các công trình, dự án phát triển kinh tế xã hội được sử dụng
và phát huy một cách có hiệu quả và lâu dài Tuy nhiên, cho đến nay Nho Quan vẫn còn là một huyện nghèo, kém phát triển, tỷ lệ hộ nghèo còn khá cao Tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa đạt kế hoạch đề ra; nhiều chỉ tiêu trên bình quân đầu người còn thấp Chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm; hiệu quả sản xuất, khả năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa còn thấp; chưa phát huy được lợi thế về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý và nhất là nguồn lực con người
Trang 4để phát triển nhanh và bền vững Sự phát triển giữa các xã trong huyện còn có
sự chênh lệch lớn, nhiều xã miền núi vẫn còn nhiều khó khăn
Để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng cao và phát triển bền vững, huyện Nho Quan phải tiếp tục nâng cao vai trò của người dân trong việc thực hiện các chương trình, dự án phát triển KT-XH của huyện Đó là điều kiện để thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước trên địa bàn huyện một cách đúng đắn, hiệu quả và thiết thực
Xuất phát từ thực tế đó mà tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của người dân trong chương trình 135 ở huyện Nho Quan - tỉnh Ninh Bình”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá và đề xuất được những giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia của người dân trong các chương trình phát triển nông thôn tại địa bàn huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá được cơ sở lý luận và thực tiễn Việt Nam về chương trình phát triển nông thôn và vai trò của người dân trong phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn
- Giới thiệu tổng quan về chương trình phát triển kinh tế xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn ( chương trình 135 ) và đặc thù chương trình 135 ở huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình
- Đánh giá được vai trò của người dân trong quá trình thực hiện chương trình 135 tại địa bàn huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò và sự tham gia của người dân trong quá trình thực hiện chương trình 135 tại huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình
Trang 53 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các hoạt động của
người dân trong việc xây dựng kế hoạch, thực hiện và giám sát thực hiện chương trình 135 tại huyện Nho Quan
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu vai trò và sự tham gia của người dân trong chương trình 135, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của người dân trong chương trình
+ Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu các hoạt động của người dân trong chương trình 135 trên địa bàn huyện Nho Quan - tỉnh Ninh Bình
+ Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu sự tham gia của người dân trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến năm 2010
4 Nội dung nghiên cứu
- Hệ thống cơ sở lý luận về chương trình phát triển nông thôn và vai trò của người dân trong phát triển nông thôn tại Việt Nam
- Giới thiệu tổng quan về chương trình 135 và đặc thù chương trình
135 ở huyện Nho Quan- Ninh Bình
- Đánh giá sự tham gia của người dân trong việc thực hiện chương trình xây dựng nông thôn tại địa bàn huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình
- Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia và phát huy vai trò của người dân trong chương trình 135 tại địa bàn huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình
- Đề xuất các giải pháp nâng cao vai trò và sự tham gia của người dân trong các chương trình xây dựng nông thôn tại huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình
Trang 6Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHƯƠNG TRÌNH 135 1.1 Cơ sở lý luận về chương trình phát triển nông thôn và vai trò của người dân trong phát triển nông thôn
1.1.1 Một số khái niệm về nông thôn, phát triển nông thôn
1.1.1.1 Nông thôn
- Nông thôn: Là khái niệm dùng để chỉ những khu vực dân cư sinh sống có hoạt động nông nghiệp, dựa trên hoạt động nông nghiệp, thích ứng với hoạt động nông nghiệp là kiểu tổ chức sinh hoạt quần cư của người dân dưới hình thức đặc thù theo xóm, bản, làng, phun, sóc… khu vực nông thôn
có cơ sở hình thành và trình độ tiếp cận thị trường, trình độ sản xuất hàng hóa còn thấp so với thành thị ,diện tích rộng, mức đầu tư cho nông thôn không lớn Thu nhập và đời sống của người dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo đói thì cao Khu vực nông thôn trải dài trên địa bàn rộng lớn nên chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội
- Nông thôn được quan niệm khác nhau ở mỗi nước vì điều kiện kinh
tế - xã hội, điều kiện tự nhiên ở mỗi nước khác nhau Cho đến nay chưa có một khái niệm nào được chấp nhận một cách rộng rãi về nông thôn Để có được khái niệm nông thôn, thông thường người ta so sánh nông thôn và thành thị Trong khi so sánh:
Có ý kiến dùng chỉ tiêu mật độ dân số và số lượng dân cư
Có ý kiến dùng chỉ tiêu trình độ phát triển kết cấu hạ tầng để phân biệt thành thị và nông thôn
Có ý kiến dùng chỉ tiêu phát triển sản xuất hàng hoá tiếp cận thì trường
để phân biệt thành thị và nông thôn (điều này còn phụ thuộc vào cơ chế kinh
tế của mỗi nước)
Có ý kiến cho rằng vùng nông thôn là vùng mà dân cư ở đó làm nông nghiệp là chủ yếu (nó phụ thuộc vào cơ cấu kinh tế của vùng)
Qua một số ý kiến trên nếu dùng chỉ tiêu riêng lẻ thì chỉ thể hiện từng
Trang 7mặt của vùng nông thôn mà chưa thể hiện vùng nông thôn một cách đầy đủ
Theo ý kiến phân tích của các nhà kinh tế và xã hội học có thể đưa ra khái niệm tổng quát về nông thôn như sau: (1)
Nông thôn là vùng khác với thành thị, ở đó một cộng đồng chủ yếu là nông dân sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa kém hơn
Tuy nhiên khái niệm trên cần được đặt trong điều kiện thời gian và không gian nhất định của nông thôn mỗi nước, mỗi vùng và cần phải tiếp tục nghiên cứu để có khái niệm chính xác và hoàn chỉnh hơn
1.1.1.2 Kinh tế nông thôn
Là khu vực của nền kinh tế gắn liền với địa bàn nông thôn Kinh tế nông thôn vừa mang những đặc trưng chung của nền kinh tế về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, về cơ chế kinh tế…vừa có những đặc điểm riêng gắn liền với nông nghiệp và nông thôn Xét về mặt kinh tế nông thôn có thể bao gồm nhiều ngành: nông nghiệp, lâm nghiệp, tiêu thụ công nghiệp, dịch vụ…nhưng nếu xét về mặt kinh tế xã hội kinh tế nông thôn cũng bao gồm nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế hộ gia đinh, kinh tế tập thể…xét về không gian lãnh thổ bao gồm các vùng chuyên canh và vùng độc canh…
1.1.1.3 Phát triển nông thôn
Được quan niệm khác nhau ở từng nước, ngày nay đã có một khái niệm phát triển nông thôn tương đối thống nhất về ý tưởng của Ngân hàng thế giới:
“ Phát triển nông thôn là một chiến lược được vạch ra nhằm cải thiện đời sống kinh tế và xã hội của một nhóm người riêng biệt, người nghèo ở nông thôn
Nó đòi hỏi phải mở rộng lợi ích của sự phát triển với những người nghèo nhất
(1) PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông (chủ biên)- Giáo trình quy hoạch PTNT- Trường ĐH Thái Nguyên – NXB Nông Nghiệp, Hà Nội - 2004
Trang 8trong số những người đang tìm kế sinh nhai ở các vùng nông thôn Nhóm này gồm những tiểu nông, tá điền và những người không có đất ”
1.1.1.4 Khái niệm về dự án phát triển nông thôn
Theo nghĩa chung nhất là tập hợp các hoạt động qua lại để bố trí sử dụng các nguồn lực khan hiếm, nhằm tạo ra sản phẩm hay dịch vụ, trong thời gian xác định nhằm thoã mãn mục tiêu nhất định và đầu tư một lần có tác dụng lâu dài Dự án bao gồm đầu vào (kinh phí, thời gian, nhân lực, vật lực…), các hoạt động dự án được thực hiện trong môi trường (tự nhiên, xã hội, chính trị và kinh tế), các đầu ra (sản phẩm và dịch vụ) để thoả mãn nhu cầu mong muốn Tuỳ theo mục đích, dự án có thể chia thành 3 loại: Dự án đầu tư kinh doanh; dự án nghiên cứu; dự án phát triển
- Dự án phát triển nông thôn: Dự án phát triển nông thôn là một quá trình thay đổi có chủ ý về kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người dân địa phương Với khái niệm này, cả thế giới đã biết và đã thực hiện theo, họ công nhận phát triển nông thôn là một quá trình, có nghĩa là cần có thời gian, không thể một sớm một chiều mà đạt mục tiêu của phát triển nông thôn mới toàn diện, bền vững được.(1)
1.1.2.Tổng quan về các chương trình phát triển nông thôn
1.1.2.1 Quan điểm phát triển nông thôn của Đảng và Nhà nước ta
Trong những năm gần đây trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề phát triển nông thôn Quan điểm về phát triển nông thôn của Đảng và Nhà nước ta là:
- Phát triển nông thôn phải đảm bảo đồng bộ cả về mặt kinh tế, xã hội
và môi trường Phát triển nông thôn là một vấn đề phức tạp và rộng lớn, đầu
tư nhiều nguồn lực do đó phải làm sao có hiệu quả
+ Hiệu quả kinh tế: Phát triển nông thôn nhằm đảm bảo sản xuất ngày càng nhiều nông sản phẩm với giá thành hạ, chất lượng sản phẩm tăng, năng
(1) PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông (chủ biên)- Giáo trình quy hoạch PTNT- Trường ĐH Thái Nguyên – NXB Nông Nghiệp, Hà Nội - 2004
Trang 9xuất lao động cao Trên cơ sở hiệu quả kinh tế để thực hiện phát triển sản xuất
và nâng cao thu nhập cho người dân
+ Hiệu quả xã hội: Phát triển nông thôn nhằm tạo việc làm, tạo cơ hội
để mọi người dân có thu nhập, để không ngừng nâng cao mức sống của nhân dân cả về mặt vật chất lẫn tinh thần Trên cơ sở đó thực hiện công bằng, dân chủ, văn minh xã hội, đẩy lùi các tệ nạn xã hội, phát huy những truyền thống tốt đẹp của cộng đồng nông thôn
+ Hiệu quả môi trường sinh thái: Bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái nông nghiệp, bảo vệ nguồn nước, rừng và các tài nguyên, bảo vệ và cải tạo đất, xây dựng cảnh quan và môi trường sống lành mạnh
- Phát triển nông thôn theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, phát triển nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá, do đó đi đôi với phát triển sản xuất phải mở rộng thị trường nông thôn Bao gồm thị trường sản phẩm, thị trường vốn, thị trường vật tư, thị trường lao động và dịch vụ khoa học kỹ thuật… mở rộng tự do cạnh tranh theo quy luật cung cầu và giá
cả, chống ép giá, ngăn cách thị trường
Khuyến khích các thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể, tư nhân cá thể hộ gia đình, khai thác đầy đủ các nguồn lực bao gồm: đất đai, lao động, tiền vốn và cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có của các thành phần kinh tế làm động lực phát triển kinh tế nông thôn
Quan tâm đến các lợi ích của các nông hộ, biến họ thực sự trở thành đơn vị tự chủ trong sản xuất kinh doanh, đây là nhân tố quyết định đến sự phát triển nông thôn Mặt khác, khuyến khích các hình thức hợp tác nhằm phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế Phát triển nông thôn phải trên cơ sở tôn trọng pháp luật, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, đảm bảo lợi ích của từng hộ từng doanh nghiệp gắn liền với lợi ích chung của cộng đồng
- Phát triển nông thôn toàn diện có tính đến lợi thế so sánh
Phát triển nông thôn không chỉ về mặt kinh tế mà còn bao gồm toàn diện về các mặt như: Văn hoá, y tế, giáo dục, an ninh quốc phòng, phát triển
Trang 10nông nghiệp đi đôi với phát triển công nghiệp và dịch vụ Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH khu vực nông thôn
Phát triển nông thôn toàn diện phải tính đến lợi thế so sánh của các ngành, các vùng nông thôn nhằm xây dựng một cơ cấu kinh tế tiến bộ, đồng
bộ có hiệu quả theo hướng chuyên môn hoá, phối hợp thế mạnh của các vùng trong tổng thể chung của cả nước
- Phát triển nông thôn theo hướng CNH-HĐH
Nông thôn không thể phát triển nếu chỉ chú trọng phát triển nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng bỏ dần tính thuần nông, phát triển công nghiệp và dịch vụ, đặc biệt là công nghịêp chế biến nông, lâm, thuỷ sản phục vụ xuất khẩu Chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, điện, thông tin liên lạc, các công trình văn hoá, y tế, giáo dục làm thay đổi bộ mặt nông thôn Khuyến khích đầu tư xây dựng các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ ở địa phương
CNH-HĐH nông thôn đòi hỏi ngày càng phải áp dụng các tiến bộ kỷ thuật về giống cây trồng vật nuôi thích hợp với vùng sinh thái Cho phép tăng năng xuất, tăng chất lượng sản phẩm, áp dụng các công nghệ đặc biệt là công nghệ sinh học về phân bón, về bảo vệ thực vật, về thú y, về thức ăn gia súc, vừa cho phép tăng năng xuất, tiết kiệm chi phí vừa giảm việc sử dụng phân
bón hoá học, thuốc trừ sâu, bảo vệ môi trường sinh thái bền vững, lâu dài
1.1.2.2 Mục tiêu của các chương trình phát triển nông thôn
Các chương trình phát triển nông thôn đều nhắm tới mục tiêu là:
- Phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, sản xuất hàng hóa tập trung, có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao gắn với bảo vệ môi trường sinh thái
- Xây dựng nông thôn mới phát triển theo quy hoạch, có cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, môi trường sinh thái, cảnh quan sạch đẹp, gắn kết hợp lý giữa phát triển nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị
Trang 11- Từng bước nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của nông dân Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến để phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống văn minh, hạnh phúc; chú trọng giải quyết việc làm, giảm dần khoảng cách thu nhập, hưởng thụ văn hóa giữa nông thôn
cơ cấu nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, nâng cao chất lượng nông sản để tăng khả năng cạnh tranh Gắn sản xuất nguyên vật liệu với mở rộng chế bién bằng công nghệ thích hợp, tăng cường xúc tiến thương mại, thông tin thị trường nông sản để tăng khả năng tiêu thụ Tạo nhiều việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn để thu hút lao động mới chưa có việc làm, lao động nhàn rỗi thời vụ có thêm nguồn thu nhập góp phần giảm nhanh nghèo đói Tăng cường phúc lợi cho người dân nông thôn trên cơ sở mở rộng hệ thống dịch vụ
xã hội để người dân tiếp cận với các dịch vụ, đồng thời nâng cao dân trí cho dân cư đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa
1.1.2.3 Nội dung của các chương trình phát triển nông thôn
Qua nghiên cứu từ một số chương trình phát triển nông thôn tại Việt Nam, ta có thể khái quát một cách chung nhất những nội dung cơ bản như sau:
- Hỗ trợ các hoạt đ ộng khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư;
- Hỗ trợ xây dựng và phổ biến nhân rộng mô hình sản xuất mới: mô hình chuyển giao tiến bộ KH-KT vào sản xuất; mô hình sản xuất gắn với chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm; mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế xã;
- Hỗ trợ giống cây trồng; vật nuôi, vật tư sản xuất (áp dụng với hộ
Trang 121.1.2.4 Đặc điểm của các chương trình phát triển nông thôn
Trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước, nông thôn Việt Nam
có một chiến lược đặc biệt quan trọng thể hiện qua các mặt sau:
- Nông thôn là địa bàn sản xuất những sản phẩm thiết yếu: Giá trị sản lượng nông, lâm, ngư, nghiệp liên tục tăng trưởng, với tốc độ bình quân 5,4%/năm và tăng GDP là 3,36%/năm Đáp ứng đủ lương thực, thực phẩm cho nhu cầu trong nước với mức tăng dân số 1,2 triệu người/năm và xuất khẩu nông sản ngày càng tăng Nếu như kim ngạch xuất khẩu nông sản năm 1985 chỉ đạt 400 triệu USD thì đến năm 2003 đã đạt khoảng 3 tỷ USD, chiếm 15% tổng kim ngạch xuất khẩu, đứng thứ nhất về hồ tiêu (chiếm 14,3% thị phần)
và cà phê (chiếm 40% thị phần), thứ hai về lúa gạo (chiếm 12% thị phần) và hạt điều (chiếm 9,5% thị phần) Tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm sản năm
2005 đạt 5,8 tỷ USD, tăng 29% so với năm 2004 (1)
- Khu vực nông thôn có số lượng dân cư lớn chiếm 75% dân cư, gần 70% lực lượng lao động xã hội, là nguồn cung cấp lao động cho ngành công nghiệp và dịch vụ, là thị trường rộng lớn cho ngành công nghiệp; nông thôn nước ta có 54 dân tộc khác nhau gồm nhiều tầng lớp Mỗi sự biến động nhỏ ở nông thôn sẽ gây ra tác động mạnh đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của một nước Ổn định nông thôn sẽ đảm bảo ổn định tình hình đất nước Do đó
mà các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của miền núi đều có một số đặc điểm như sau:
- Nhằm giải quyết các vấn đề phát triển với 3 mục tiêu đan xen nhau đó là: Mục tiêu kinh tế, mục tiêu xã hội, mục tiêu môi trường
(1) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Trang 13- Nông thôn là đối tượng chính của quá trình phát triển
- Sự thành công của dự án phụ thuộc vào môi trường tự nhiên, kinh tế,
xã hội của người hưởng lợi
- Dự án phát triển nông thôn có nhiều rủi ro Khó hình thành chỉ số giám sát
- Dự án phàt triển nông thôn là dự án lồng ghép đa mục tiêu
- Cộng đồng nông thôn vừa là người xây dựng, thực hiện và là người hưởng lợi
- Dự án phát triển nông thôn được triển khai trong thời gian ít hạn hẹp
và không gian lớn
- Dự án phát triển nông thôn có tác dụng lâu dài nếu như duy tu, quản
lý và bảo dưỡng tốt
1.1.2.5 Phương pháp tổ chức các chương trình phát triển nông thôn
+ Phương pháp tổ chức truyền thống( từ trên xuống)
Đây là một trong những phương pháp tiếp cận người dân trong những năm 80 Hậu quả của những năm 80 đã chỉ ra những hạn chế của cách tiếp cận thuyền thống về phát triển đó là cách tiếp cận dựa trên cơ sở chính sách
“từ trên xuống” và áp dụng trong hầu hết các trường hợp
Phương pháp này có đặc điểm là các ý tưởng đều do các cơ quan Nhà nước đề ra, người dân đóng vai trò thụ động, trông đợi và thiếu sự hợp tác trong phát triển, các chương trình này đều làm theo số lượng không có sự đồng tình của người dân và thường làm theo kế hoạch, do đó mà xa rời với nhu cầu mà người dân đòi hỏi, không đem lại kết quả cao
Trang 14Hình 1.1: Sơ đồ phương pháp tiếp cận thuyền thống
+ Phương pháp tổ chức theo lối hiện đại ( từ dưới lên)
Đặc điểm của quan điểm này là các ý tưởng phát triển là do cơ quan Nhà nước đề xướng, được dân đồng thuận và trở thành quyết định cuả dân, các chương trình này được tiến hành trên chính quê hương của họ, người dân đóng vai trò chủ động, là trung tâm của sự phát triển, là người hưởng lợi chính, là người tham gia chủ yếu trong các chương trình phát triển, họ là cơ sở cho sự phát triển vì hơn ai hết họ bíêt rất rõ những khó khăn và nhu cầu của mình và chính họ là những người quản lý các công trình đó Một cộng đồng càng phát triển và năng động càng có khả năng thu hút người dân ở lại
Phương pháp này cho phép người dân có thể tham gia vào việc xem xét, cân nhắc đến thực trạng cụ thể của địa phương mình Cho phép các nhà đầu tư
và giúp cho chúng ta có thể nhận thấy những điểm mạnh, điểm yếu, thách thức
và cơ hội của địa phương mình và qua đó có thể biết được cái gì có thể ảnh hưởng tới việc xác định mục tiêu, việc thực hiện các hoạt động, và dự đoán kết quả sẽ đạt được khi thực hiện các chương trình đó
Phương pháp tiếp cận từ dưới lên nhằm mục đích quá trình tham gia của các cộng đồng trong tất cả các khía cạnh cuả chính sách phát triển Sự tham gia của người dân địa phương được thể hiện ở tất cả các cấp hoặc là thông qua sự
Nhận biết
vấn đề
Nhà nước, các tổ chức tài trợ
Cộng đồng địa phương Xác định chiến lược Thực hiện quản
lý
Trang 15bàn bạc của người dân hoặc bằng cách đưa họ trở thành các bên tham gia Sự tiếp cận từ dưới lên dựa vào hai quan niệm chính đó là “lòng nhiệt tình” và “đào tạo cộng đồng địa phương”
Hình 1.2: Sơ đồ phương pháp tiếp cận từ dưới lên
1.1.3 Vai trò của chương trình phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi
Hiện nay ở nước ta, trình độ lực lượng sản xuất còn thấp nên phân công lao động chưa phát triển và không đồng đều giữa các vùng, khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa miền xuôi và miền núi rất lớn Thêm vào đó, nông thôn miền núi mang nhiều tính đa dạng về yếu tố tự nhiên, khác biệt về tập quán canh tác, thói quen, lối sống và đặc biệt là điều kiện khả năng thích nghi các yếu tố thị trường, tạo nên khoảng cách chênh lệch Phân phối giàu nghèo không chỉ diễn ra ở một vùng mà cả giữa các vùng với nhau Mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta là công bằng xã hội cho đồng bào các dân tộc thiểu số Một số dự án đã đưa ra và vai trò của nó là rất lớn trong quá trình phát triển
và giảm nghèo tại địa bàn nông thôn Việt Nam như:
- Dự án định canh định cư: Mục tiêu đưa ra là ổn định nơi ở, nơi sản xuất và bảo vệ rừng đối với những nơi đồng bào còn du canh, du cư Hoạt động của dự án gồm xây dựng các cơ sở sản xuất như khai hoang, làm ruộng
Nhận biết
vấn đề
Nhà nước, các tổ chức tài trợ
Cộng đồng địa phương Xác định chiến lược Thực hiện quản
lý
Trang 16thâm canh, thuỷ lợi nhỏ, trồng cây công nghiệp, trồng rừng, xây dựng cơ sở
hạ tầng như điện, đường, trường, trạm, nhà trẻ, di chuyển và ổn định làng bản
- Dự án quy hoạch sắp xếp lại dân cư: Mục tiêu của dự án là điều chỉnh mật độ dân số, phát triển kinh tế, ổn định xã hội Đây là một chương trình quan trọng nhằm tạo điều kiện phát triển một số vùng, nhất là vùng dân cư thưa thớt, vùng xâu, vùng xa, vùng hải đảo khó khăn hoặc những vùng có điều kiện sống khó khăn cần phải di chuyển người dân đến nơi ở mới để có điều kiện sống và sản xuất tốt hơn
- Dự án khuyến lâm miền núi: Dự án khuyến lâm tạo điều kiện và tổ chức cho hộ nông dân tham gia vào các mục tiêu phát triển rừng Hoạt động của dự án tập trung cho việc xây dựng các mô hình trình diễn ở các tỉnh và hình thành đội ngũ cán bộ khuyến lâm từ tỉnh đến xã
- Hỗ trợ người nghèo về y tế: Mục tiêu của dự án là chữa bệnh cho người nghèo Các biện pháp như cấp thẻ khám chữa bệnh miễn phí, cấp thẻ bảo hiểm y tế, khám chữa bệnh từ thiện, khám chữa bệnh lưu động, tăng cường cơ sở vật chất, bác sỹ tuyến xã, huyện…
Theo báo cáo Nông nghiệp nông thôn năm 2011 tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực nông thôn ước tính giảm còn 15,5%, tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 83%, tỷ lệ hộ dân có nhà tiêu hợp vệ sinh ước đạt 58%
Như vậy, trong những năm qua các chương trình, dự án phát triển nông thôn nói chung và phát triển miền núi nói riêng Đã góp phần quan trọng vào việc phát triển và cải thiện nông thôn, miền núi nước ta
1.1.4 Những khó khăn trong quá trình phát triển nông thôn ở Việt Nam
Kinh tế nông thôn mang nặng tính thuần nông, cơ cấu sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao, cơ cấu công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng bé, sản xuất còn mang nặng tính tự cấp tự túc, năng xuất đất đai, năng xuất lao động, thu nhập và đời sống còn thấp Khả năng tiếp cận thị trường kém, hầu hết người dân nông thôn vẫn sản xuất theo kiểu tự cấp tự túc chưa căn cứ vào thị trường
Trang 17Cơ sở hạ tầng quá yếu kém, giao thông, nhất là vùng xâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn gây trở ngại cho tổ chức sản xuất và giao lưu hàng hoá, mạng lưới thuỷ lợi tuy đã được xây dựng nhưng không đồng bộ, kỹ thuật lạc hậu hiệu quả thấp Công nghiệp nông thôn chưa phát triển, kỹ thuật thấp, không đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất theo hướng chuyên môn, tập trung hoá (hiện nay còn trên 500 xã chưa có đường giao thông tới xã, 2362 xã đặc biệt khó khăn, 13% xã chưa có điện, 58% có nhà tốt…)
Rừng bị tàn phá nặng nề, đất đai bị sói mòn và có nguy cơ bị huỷ hoại nghiêm trọng, độ che phủ của rừng hiện còn 38%, hiện có hơn 10 triệu ha đất trống đồi núi trọc gây cản trở đến môi trường sinh thái và chống úng hạn, nhiều nơi thiếu nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt
Tốc độ tăng dân số cao (dân số nước ta tăng bình quân khoảng 1,3%, năm 2000 là 77,6 triệu người, đến nay khoảng 84 triệu người) gây khó khăn
và sức ép nhiều mặt về sản xuất, nhà ở, việc làm, trường học, tình trạng bán thất nghiệp ở nhiều nơi nhất là các vùng sâu vùng xa Tình trạng thiếu việc làm đang là vấn đề bức xúc Hiện nay người dân nông thôn mới chỉ sử dụng
50 đến 60% quỹ thời gian, và có 6 đến 7 triệu người đang cần việc làm.(1)
Đời sống nhân dân đã được cải thiện trong thời gian vừa qua, song vẫn còn rất nhiều khó khăn, thiếu thốn, mức sống của nhân dân thấp, tỷ lệ hộ nghèo đói còn rất cao, nhất là vùng trung du miền núi Chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng ngày càng tăng, hiện nay thu nhập của nông thôn có khoảng cách rất xa so với thu nhập ở thành thị và có nguy cơ ngày càng tăng lên
1.2 Tổng quan về chương trình 135
Chương trình 135 là chương trình phát triển KT-XH ở các xã đặc biệt khó khăn, miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa Chương trình được phê duyệt theo Quyết định 135/1998/QĐ-TTg, ngày 31/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ Đây là chương trình có quy mô rộng lớn, tính đến cuối năm 2007
(1) Nguồn: Tổng Cục thống kê
Trang 18có 1799 xã thuộc 46 tỉnh, thành được đưa vào danh sách các xã thuộc diện chương trình 135 Bao gồm những nội dung chủ yếu như sau:
1.2.1 Mục tiêu chương trình
1.2.1.1 Mục tiêu tổng quát
Nâng cao nhanh đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc ở các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa; tạo điều kiện để đưa nông thôn các vùng này thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển, hoà nhập vào sự phát triển chung của cả nước; góp phần bảo đảm trật tự
an toàn xã hội, an ninh quốc phòng
Tạo sự chuyển biến nhanh về sản xuất, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất gắn với thị trường; cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn một cách bền vững, giảm khoảng cách phát triển giữa các dân tộc và giữa các vùng trong cả nước
Phấn đấu đến năm 2010, trên địa bàn cơ bản không còn hộ đói, giảm hộ nghèo xuống còn dưới 30% theo chuẩn nghèo quy định tại Quyết định số 170/2005/Qð-TTg ngày 08 tháng 7 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ
1.2.1.2 Mục tiêu cụ thể
a) Giai đoạn từ năm 1998 đến 2000:
- Về cơ bản không còn các hộ đói kinh niên, mỗi năm giảm được 4 - 5% hộ nghèo
- Bước đầu cung cấp cho đồng bào có nước sinh hoạt, thu hút phần lớn trẻ em trong độ tuổi đến trường; kiểm soát được một số loại dịch bệnh hiểm nghèo; có đường giao thông dân sinh kinh tế đến các trung tâm cụm xã; phần lớn đồng bào được hưởng thụ văn hoá, thông tin
b) Giai đoạn từ năm 2000 đến 2005:
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn xuống còn 25% vào năm 2005
Trang 19- Bảo đảm cung cấp cho đồng bào có đủ nước sinh hoạt; thu hút trên 70% trẻ em trong độ tuổi đến trường; đại bộ phận đồng bào được bồi dưỡng, tiếp thu kinh nghiệm sản xuất, kiến thức khoa học, văn hóa, xã hội, chủ động vận dụng vào sản xuất và đời sống; kiểm soát được phần lớn các dịch bệnh xã hội hiểm nghèo; có đường giao thông cho xe cơ giới và đường dân sinh kinh
tế đến các trung tâm cụm xã; thúc đẩy phát triển thị trường nông thôn
c) Giai đoạn 2006- 2010
- Về phát triển sản xuất: nâng cao kỹ năng và xây dựng tập quán sản xuất mới cho đ ồng bào các dân tộc, tạo sự chuyển dịch về cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững
- Phấn đấu trên 70% số hộ đạt được mức thu nhập bình quân đầu người trên 3,5 triệu đồng/năm vào năm 2010
- Về phát triển cơ sở hạ tầng: các xã có đủ cơ sở hạ tầng thiết yếu phù hợp quy hoạch dân cư và quy hoạch sản xuất bảo đảm phục vụ có hiệu quả nâng cao đời sống và phát triển sản xuất tăng thu nhập
Các chỉ tiêu cụ thể: phấn đấu trên 80% xã có đường giao thông cho xe
cơ giới (từ xe máy trở lên) từ trung tâm xã đến tất cả thôn, bản; trên 80% xã
có công trình thủy lợi nhỏ bảo đảm năng lực phục vụ sản xuất cho trên 85% diện tích đất trồng lúa nước; 100% xã có đủ trường, lớp học kiên cố, có lớp bán trú ở nơi cần thiết; 80% số thôn, bản có đện ở cụm dân cư; giải quyết và đáp ứng yêu cầu cơ bản về nhà sinh hoạt cộng đồng; 100% xã có trạm y tế kiên cố đúng tiêu chuẩn
- Về nâng cao đời sống văn hóa, xã hội cho nhân dân ở các xã đặc biệt khó khăn Phấn đấu trên 80% số hộ được sử dụng nước sinh hoạt hơp vệ sinh, trên 80% số hộ được sử dựng điện sinh hoạt; kiểm soát, ngăn chặn các bệnh dịch nguy hiểm; tăng tỷ lệ hộ có hố xí hợp vệ sinh lên trên 50%; trên 95% số học sinh tiểu học, 75% học sinh trung học cơ sở trong độ tuổi đến trường; trên 95% người dân có nhu cầu trợ giúp pháp lý được giúp đỡ pháp luật miễn phí
Trang 20- Về phát triển nâng cao năng lực: trang bị, bổ sung những kiến thức
về chuyên môn nghiệp vụ, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao nhận thức pháp luật, nâng cao kiến thức quản lý đầu tư và kỹ năng quản lý điều hành để hoàn thành nhiệm vụ cho cán bộ, công chức cấp xã và trưởng thôn, bản Nâng cao năng lực của cộng đồng, tạo điều kiện cộng đồng tham gia có hiệu quả vào việc giám sát hoạt động về đầu tư và các hoạt động khác trên địa bàn
1.2.2 Nguyên tắc chỉ đạo
+ Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa, trước hết phải dựa trên cơ sở phát huy nội lực của từng hộ gia đình và sự giúp đỡ của cộng đồng, đồng thời có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước để khai thác nguồn lực tại chỗ về đất đai, lao động và các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trong vùng, tạo ra bước chuyển biến mới về sản xuất và đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào
+ Nhà nước tạo môi trường pháp luật và các chính sách phát triển kinh
tế - xã hội, ưu tiên đầu tư vốn ngân sách, nguồn vốn thuộc các chương trình,
dự án trên địa bàn và nguồn vốn viện trợ của các nước, các tổ chức quốc tế đầu tư cho vùng các xã đặc biệt khó khăn
+ Việc thực hiện chương trình phải có giải pháp toàn diện, trước hết là tập trung phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp; xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; đồng thời thúc đẩy phát triển giáo dục, y tế, văn hoá xã hội trong vùng
+ Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các bộ, ngành có trách nhiệm giúp các xã thuộc phạm vi chương trình; khuyến khích các tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang, các tổ chức xã hội- nghề nghiệp, các doanh nghiệp, các tầng lớp nhân dân trong cả nước, đồng bào Việt Nam ở nước ngoài tích cực đóng góp, ủng hộ thực hiện chương trình
1.2.3 Nhiệm vụ của chương trình
+ Quy hoạch bố trí lại dân cư ở những nơi cần thiết, từng bước tổ chức hợp lý đời sống sinh hoạt của đồng bào các bản, làng, phum, soóc ở những
Trang 21nơi có điều kiện, nhất là những xã vùng biên giới và hải đảo, tạo điều kiện để đồng bào nhanh chóng ổn định sản xuất và đời sống
+ Đẩy mạnh phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm để khai thác nguồn tài nguyên và sử dụng lao động tại chỗ, tạo thêm nhiều cơ hội về việc làm và tăng thu nhập, ổn định đời sống, từng bước phát triển sản xuất hàng hóa
+ Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn phù hợp với quy hoạch sản xuất và
bố trí lại dân cư, trước hết là hệ thống đường giao thông; nước sinh hoạt; hệ thống điện ở những nơi có điều kiện, kể cả thủy điện nhỏ
+ Quy hoạch và xây dựng các trung tâm cụm xã, ưu tiên đầu tư xây dựng các công trình về y tế, giáo dục, dịch vụ thương mại, cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, cơ sở phục vụ sản xuất và phát thanh truyền hình
+ Đào tạo cán bộ xã, bản, làng, phum, soóc, giúp cán bộ cơ sở nâng cao trình độ quản lý hành chính và kinh tế để phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế
xã hội tại địa phương
1.3 Vai trò của người dân trong các chương trình phát triển nông thôn
1.3.1 Khái niệm vai trò
Theo từ điển tiếng Việt có định nghĩa: Vai trò thường là tính từ tính chất của sự vật, sự việc hiện tượng, dùng để nói về vị trí chức năng, nhiệm vụ mục đích của sự vật, sự việc, hiện tượng trong một hoàn cảnh, bối cảnh và mối quan hệ nào đó.(1)
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin coi sự nghiệp cách mạng là của quần chúng nhân dân, chính "quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử" Lịch sử phát triển của xã hội cho thấy, quần chúng nhân dân không chỉ là nhân tố quyết định cho sự phát triển của xã hội mà còn đóng vai trò to lớn trong việc giữ gìn và phát triển mọi giá trị truyền thống cho những thế hệ kế tiếp nhau từ thời đại này tới thời đại khác
(1) Từ điển Tiếng Việt
Trang 22Quan điểm xuyên suốt trong đường lối cách mạng của Đảng ta và tư tưởng Hồ Chí Minh coi "Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng"; "Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo"; nhà nước của ta là "Nhà nước của dân, do dân , vì dân"; Đảng ta "vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân".(1)
Hơn lúc nào hết, để đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước được đúng đắn, chính xác; bằng những hình thức, biện pháp thích hợp, cần tổ chức cho quần chúng tham gia ý kiến, thực hiện lời dạy của Bác Hồ: " việc gì cũng phải hỏi ý kiến dân chúng, cùng dân chúng bàn bạc, " Quần chúng nhân dân hoạt động trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Trí tuệ và kinh nghiệm của họ là vô cùng phong phú Họ không những có quyền mà còn có khả năng tham gia đóng góp vào việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng có quan hệ đến vận mệnh quốc gia, dân tộc, đến mỗi địa phương, mỗi chương trình, mỗi người dân và đến chính vận mệnh của Đảng Thực tiễn đã minh chứng nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được hoạch định từ sáng kiến, đề xuất của quần chúng
1.3.2 Nội dung vai trò của người dân trong các hoạt động chương trình phát triển nông thôn
Việt nam ta có câu: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó ngàn lần dân liệu cũng xong” Từ ngạn ngữ trên ta hiểu rằng mọi việc của bản làng nếu dân đồng lòng cùng tham gia thì sẽ thành công, nếu dân không tham gia thì việc dù dễ đến đâu, được hổ trợ, đầu tư trợ giúp đến đâu cũng khó thành công hoặc có thành công thì cũng không lâu dài Xác định được vai trò to lớn của người dân mà Đảng và Nhà nước ta luôn nhấn mạnh phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân hưởng lợi” và luôn đề cao vai trò của người dân lấy nhân dân làm gốc Như vậy, nội dung vai trò của người dân trong các chương trình phát triển nông thôn là:
(1) Hồ Chí Minh toàn tập
Trang 23- Dân biết là những kiến thức vốn có của người dân có vai trò quan trọng trong các chương trình phát triển ở địa phương, và các quá trình lập kế hoạch, khảo sát thiết kế Vậy dân được biết những gì? Mọi người dân trong làng bản phải biết rõ hai điểm:
Thứ nhất, những gì mà làng bản cùng thống nhất, ưu tiên giải quyết, phải làm Bên cạnh đó người dân cần phải biết được mục đích của việc xây dựng là gì, yêu cầu những đóng góp từ phía họ, trách nhiệm và quyền lợi của cộng đồng
Thứ hai, những gì mà Nhà nước, các tổ chức bên ngoài có thể hổ trợ và giúp đỡ
- Dân bàn là thể hiện quyền dân chủ của người dân được tham gia xây dựng chương trình, kế hoạch hành động, các quy định của cộng đồng phát huy được trí tuệ tính tích cực sáng tạo Mọi người dân trong cộng đồng cần được cùng nhau bàn bạc về các việc sau: bàn kế hoạch thực hiện làm cái gi, ở đâu, khi nào; bàn về nghĩa vụ đóng góp của mỗi người, mỗi nhà, mỗi tổ chức trong làng bản, xã; bàn về cách tổ chức, quản lý như thế nào; bàn về chia sẻ lợi ích
ra sao; bàn về quy chế thực hiện thưởng phạt của làng bản; bàn về thống nhất cam kết thực hiện…
- Dân làm những người dân, hộ gia đình hay các tổ chức trong các làng bản có thể làm các việc như sau để thực hiện các hoạt động chung của làng bản: đóng góp ngày công lao động; đóng góp vật tư, vật liệu mà địa phương hoặc gia đình có như: đất, đá, cát sỏi, cây cối, cây giống, con giống…có thể đóng góp bằng tiền (nếu có); đóng góp kiến thức và kinh nghiệm thông qua việc tham gia vào nhóm quản lý hay chỉ đạo thực hiện; sự tham gia trực tiếp của người dân và các hoạt động xây dựng các công trình, quản lý sử dụng các công trình; người dân tham gia trực tiếp vào quá trình lập kế hoạch, tham gia vào các công đoạn của các công trình như: xây dựng, thi công, quản lý, bảo dưỡng và vận hành các công trình một cách có hiệu quả
Trang 24- Dân kiểm tra mọi người dân đều có thể kiểm tra, giám sát các hoạt động chung của làng bản mà họ đã được bàn, đã được đóng góp và đã làm như: kiểm tra quản lý, sử dụng các vốn đầu tư và chi tiêu; kiểm tra chất lượng các công trình, các hoạt động đã đang thực hiện; kiểm tra việc đóng góp và phân chia lợi ích
- Dân quản lý các thành quả hoạt động, các công trình sau khi xây dựng xong cần được quản lý trực tiếp của các đối tượng hưởng lợi để tránh tình trạng không rõ ràng về chủ sỡ hữu Việc duy tu, quản lý, bảo vệ nhằm nâng cao tuổi thọ phát huy tối đa hiệu quả của việc sử dụng công trình
- Dân hưởng lợi, đây là lợi ích mà các hoạt động của chương trình, dự
án mang lại cho người dân
Hình 1.3: Sơ đồ mô tả vai trò của người dân trong các hoạt động phát triển
KT-XH
1.3.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc phát huy vai trò của người dân 1.3.3.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
Nông dân
Hưởng
lợi
Biết
Bàn Quản
lý
Kiểm tra
Làm
Trang 25Đường lối, quan điểm của Đảng ta và tư tưởng Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vấn đề dân chủ, nhất là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ
sở, việc phát huy dân chủ ở nông thôn nước ta có một ý nghĩa sâu sắc và là vấn
đề chiến lược của cách mạng trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn
Triển khai thực hiện Chỉ thị 30-CT/TW, ngày 18-02-1998 của Bộ Chính trị (khoá VIII); Chỉ thị số 10-CT/TW, ngày 28-3-2002 của Ban Bí thư (khoá IX) về tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở
cơ sở; nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước đã được ban hành, bổ sung, sửa đổi Việc triển khai thực hiện đã đạt được nhiều kết quả tốt Chủ trương thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở được nhân dân đồng tình, thể hiện "ý Đảng hợp với lòng dân", quyền làm chủ và không khí dân chủ trong xã hội tiếp tục được mở rộng và không ngừng nâng cao Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ
sở là bước tiến cụ thể mở rộng dân chủ trực tiếp, nâng cao chất lượng dân chủ đại diện; góp phần ổn định chính trị, đẩy mạnh các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, tập trung phát triển kinh tế, xây dựng môi trường văn hoá, xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòng; đồng thời góp phần xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân, nâng cao hiệu quả KT-XH của các chương trình, dự án
Tuy nhiên, trong những năm qua cùng với quá trình hội nhập phát triển của đất nước, cơ chế thị trường đã bộc lộ những mặt yếu của nó, đó là: Nền kinh tế phát triển thì sự phân hoá giàu nghèo càng diễn ra sâu sắc ở các vùng, miền, đặc biệt là ở miền núi núi và vùng cao, việc đầu tư không đồng bộ giữa miền xuôi với miền núi, chênh lệch về thu nhập giữa người dân miền núi với khu vực thành thị và nông thôn ngày càng gia tăng Quyền làm chủ của dân
cư miền núi một số nơi bị hạn chế Nghị định 79/2003/NĐ-CP của chính phủ ban hành quy chế dân chủ ở xã, đã khẳng định vai trò, trách nhiệm của người dân, những điều phải được dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân đóng góp, dân hưởng lợi… Đã khơi dậy vai trò của người dân, nhất là đối với dân
Trang 26tộc miền núi, vùng sâu, vùng xa chủ động trong sản xuất và trong cuộc sống
Do đó chủ trương, chính sách sẽ có thể làm tăng hoặc giảm đi vai trò và tính
sáng tạo của người dân
1.3.3.2 Nhận thức và tổ chức thực hiện của các cấp các ngành
Tính tới thời điểm này, Đảng và Nhà nước ta đã đầu tư vào rất nhiều chương trình, dự án phát triển nông thôn nhằm mục đích nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân nông thôn, vùng sâu, miền núi, hải đảo Nhìn chung, các dự án trên đều đạt những kết quả rất đáng khích lệ Tuy nhiên, xét trên từng khía cạnh chúng ta thấy rằng sự thành công của các chương trình vẫn chưa thực sự tương xứng với các nguồn lực mà Nhà nước đã
bỏ ra Nguyên nhân chủ yếu là quá trình tổ chức thực hiện, cách thức tổ chức tiếp cận với nông dân , người dân miền núi còn nhiều hạn chế Việc tổ chức thiếu tính đồng bộ, thiếu tính phối hợp sáng tạo từ cấp trên xuống vẫn là những trở ngại trong suốt quá trình thực hiện chương trình Như vậy, chúng ta
có thể thấy rằng, vai trò của người dân phụ thuộc rất nhiều vào nhân tố tổ chức Thông qua một chương trình, dự án, công tác tổ chức ở các cấp, các ngành tốt, đặc biệt ở cấp cơ sở sẽ phát huy được vai trò của người dân ở mức cao nhất và người dân sẽ có cơ hội phát huy bản thân, phát huy những sáng kiến, những động lực thúc đẩy họ hơn Vì vậy, một quá trình tổ chức tốt cộng với phương pháp phù hợp là động lực để người dân bày tỏ quan điẻm, đưa ra những khó khăn và hướng khắc phục, nhờ đó các ý kiến đưa ra được tôn trọng hơn và vai trò của ngưòi dân không ngừng được đề cao
1.3.3.3 Trình độ nhận thức của người dân
Đây là một nhân tố ảnh hưởng đáng kể đến vai trò của người dân trong
sự tham gia phát triển nông thôn Vì nước ta phải trải qua những năm tháng kháng chiến đầy gian khổ, cuộc sống vô cùng khó khăn Bác Hồ từng nói: chúng ta phải chiến đấu với giặc đói, giặc dốt đây cũng là mặt trận đầy gian khổ và vô cùng gian lao Đó cũng là xuất phát từ điều kiện địa lý và lịch sử,
đa số bộ phận người dân là nông thôn, dân tộc thiểu số vùng sâu vùng xa còn
Trang 27đang ở thang bậc phát triển vào loại thấp Sự phát triển về mặt xã hội là nguyên dân dẫn đến khả năng nhận thức còn hạn chế của người dân Điều này theer hiện đa dạng và ở nhiều góc độ, nhưng rõ nét nhất là tư duy cụ thể là phổ biến, tư duy theo lối trừu tượng còn đang mờ nhạt Vì vậy, trình độ nhận thức của người dân rất quan trọng, khi người dân có trình độ họ sẽ chứng tỏ được khả năng, trách nhiệm và vai trò to lớn của mình trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội
1.3.3.4 Sự tham gia của người dân trong các hoạt động của chương trình
Sự tham gia của người dân là nhân tố quan trọng trong các hoạt động phát triển vì ngày càng có nhiều lĩnh vực đòi hỏi có sự tham gia của người dân Tiếng nói của người dân, nhu cầu và tiềm năng của họ đã trở thành điểm xuất phát của mọi cố gắng trong quá trình phát triển ở địa phương Vì vậy, sự thành công hay thất bại của chương trình, những hoạt động phụ thuộc rất lớn vào sự tham gia của người dân
Khi khuyến khích sự tham gia của người dân chính là làm cho người dân phát huy tính sáng tạo, sự thông minh trong việc huy động và sử dụng các nguồn lực Qua đó làm giảm lãng phí, chống tham nhũng, nạn nghèo đói bị đẩy lùi vì không có cách gì hơn là bản thân người trong cộng đồng tự lo toan với sự đầu tư của Nhà nước
1.3.3.5 Những nhân tố huy động các nguồn lực
Khi nói đến nguồn lực là nói đến vốn, lao động, tài nguyên, công nghệ Quá trình phát triển miền núi chịu nhiều sức ép bởi các nhân tố đó Ngoài những yếu tố nguồn lực về lao động thì khu vực nông thôn, miền núi hiện nay còn đang đứng trước thách thức rất lớn về vốn và công nghệ đặc biệt là về cơ sở hạ tầng kỹ thuật Mặc dù, trong những năm qua sự quan tâm đầu tư của Nhà nước và của các tổ chức phi chính phủ cho miền núi là không nhỏ, song sự thiếu hụt, sự trì trệ, lạc hậu chậm phát triển là rất lớn Trong khi đó những hỗ trợ của Nhà nước chỉ đáp ứng được những mặt thiết yếu mang tính trọng điểm Cho đến nay các dự án đầu tư vào miền núi đã có những đóng góp đáng kể đối với sự phát triển kinh tế miền núi, đồng thời nó tạo nên một
Trang 28diện mạo mới cho cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng cao Khi
mà vai trò của người dân được tôn trọng, đề cao thì người dân có cơ hội phát huy khả năng của mình, đồng thời có cơ hội phát huy thế mạnh của mình cho công cuộc phát triển nông thôn, thôn bản, thực hiện tố chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
1.4 Kinh nghiệm về vai trò và sự tham gia của người dân trong chương trình phát triển nông thôn
1.4.1 Kinh nghiệm phát triển nông thôn trên thế giới
1.4.1.1 Kinh nghiệm xây dựng, phát triển nông thôn ở Đài Loan
Cơ quan Hợp tác Tái thiết Nông thôn, là cơ quan đầu não của chính phủ lập kế hoạch phát triển và điều hành đầu tư cho nông thôn Hiệp hội nông dân
có nhiệm vụ chuyển thông tin về nhu cầu phát triển nông thôn lên Trung Ương và hướng dẫn Nhà nước đưa vật tư nông nghiệp, tín dụng và các phương tiện tiếp thị về nông thôn đúng chỗ, đúng lúc
Một vấn đề cải thiện kinh tế nông nghiệp đã được Chính phủ thực hiện
là "Chương trình phát triển nông thôn tăng tốc", "Tăng thu nhập của nông trại
và tăng cường chương trình tái cấu trúc nông thôn", "Chương trình cải cách ruộng đất giai đoạn 2" Từ các chương trình này nhiều đầu tư đã được đưa vào
cơ sở hạ tầng nông thôn và được cụ thể hoá bằng 10 nội dụng cụ thể:
- Cải cách ruộng đất
- Quy hoạch và bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên
- Tăng cường nghiên cứu nông nghiệp và đổi mới kỹ thuật
- Chuyển giao công nghệ mới
- Tập huấn các nông dân hạt nhân
- Cung cấp các đầu vào hiện đại
- Tín dụng nông nghiệp
- Mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp tương ứng với sự thay đổi lao động và đầu tư
- Dịch chuyển cơ cấu thị trường
- Cải thiện phúc lợi xã hội cho nông dân
Trang 291.4.1.2 Phong trào “Làng mới- Saemaul Undong” ở Hàn Quốc
- Khái quát: Trong những năm 1950, Hàn Quốc là một trong những nước nghèo nhất trên thế giới Từng bị thuộc địa của Nhật Bản đến tận cuối thế kỷ 19, Trải quả 3 năm chiến tranh từ 1949-1952, Hàn Quốc bị phá hủy hoàn toàn, đi lên từ đói nghèo, Hàn Quốc đã chứng tỏ tiềm năng to lớn của mình
Đến nay nền kinh tế của Hàn Quốc đã vươn lên đứng thứ 12 trên thế
giới, thu nhập bình quân/đầu người là 20.600 USD (năm 2010) Bí quyết tạo nên sự thành công đó là sự tận tâm và sáng kiến của các nhà lãnh đạo đã đưa
ra các chính sách cạnh tranh đúng đắn và sự hợp tác, sự phát huy nội lực từ cộng đồng nông thôn thông qua mô hình phát triển làng mới - Saemaul Undong
Là một nước nghèo nàn về tài nguyên và kém thuận lợi về khí hậu cho sản xuất nông nghiệp Phần lớn đất nước là đồi núi hiểm trở Xét về tiềm năng công nghiệp thì tài nguyên tự nhiên về khoáng sản và năng lượng thua kém nhiều so với Bắc Triều Tiên Lợi thế thấp kém ít nước ngoài muốn đầu tư trực tiếp vào Hàn Quốc Vào cuối thập kỷ 50 và đến tận những năm đầu thập kỷ
60 là một nước chậm phát triển Nông nghiệp là hoạt động kinh tế chủ yếu với khoảng 2/3 dân số ở khu vực nông thôn Chế độ thực dân và hậu quả chiến thanh góp phần làm nặng thêm tâm lý cam chịu của người dân Nông dân quen sống trong cảnh nghèo nàn và an phận thủ thường Họ cho rằng nghèo là
số phận của mình, do kết quả lao động của ông cha để lại, do đất nước ít tài nguyên thiên nhiên, do thiên tai sâu bệnh, do hậu quả chiến tranh… Nhìn chung, nông dân thiếu tinh thần tự chịu trách nhiệm về hoàn cảnh khó khăn của mình ỷ lại và đổ tại cho những yếu tố bên ngoài
Lũ lụt năm 1969, người dân phải tu sửa lại nhà cửa và đường xá mà không có sự hỗ trợ từ chính phủ điều này làm tổng thống Park Chung Hee suy nghĩ rất nhiều là làm sao tìm ra cách để phát triển kinh tế vùng nông thôn, tổng thống nhận ra rằng sự trợ giúp của Chính phủ cũng vô nghĩa nếu người
Trang 30dân không tự giúp chính mình, hơn nữa khuyến khích nội lực trong cộng đồng nông thôn và mở rộng hợp tác là chìa khóa phát triển nông thôn, ý tưởng này chính là nền tảng của phong trào Saemaul Undong Mục tiêu của chính sách mới là làm cho nông dân có niềm tin và trở nên tích cực đối với sự nghiệp phát triển nông thôn, làm việc chăm chỉ, độc lập và cộng đồng Ngày 22/4/1970, Tổng thống Hàn Quốc Park Chung Hee phát biểu: “Nếu chúng ta
có thể tạo ra hay khai thác được tinh thần chăm chỉ, tự vượt khó khăn và hợp tác tiềm ẩn trong mỗi thành viên trong khu vực nông thôn, tôi tin tưởng rằng tất cả các làng, xã nông thôn sẽ trở thành nơi thịnh vượng để sống… Chúng ta
có thể gọi đó là phương hướng hành động của mô hình “ Làng mới” Như vậy, Phong trào “Làng mới” nhấn mạnh đến yếu tố quan trọng nhất đó là tạo động lực cho phát triển là “phát triển tinh thần của nhân dân”, lấy kích thích vật chất nhỏ và chính sách để kích thích mạnh tinh thần và qua đó phát huy nội lực tiềm tàng to lớn của nông dân
- Một số hoạt động của mô hình “Làng mới” trong việc phát huy vai trò của người dân
Phối hợp chặt chẽ giữa các cán bộ, quan trọng nhất là cấp cơ sở: Tổ chức chương trình từ cơ sở lên trung ương, phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ Cấp được coi là quan trọng nhất là cấp cơ sở, mỗi làng bầu ra “Uỷ ban phát triển làng mới” gồm từ 5 đến 10 người để vạch kế hoạch và tiến hành dự án phát triển nông thôn của làng mình Ngoài ra, Uỷ ban còn được thiết lập ở mọi cấp của chính quyền địa phương (cấp tỉnh, thành phố, quận huyện) để cố vấn và hướng dẫn uỷ viên các làng lập và lựa chọn dự án, quyết định những vấn đề ưu tiên và huy động lao động, vật tư và tiền Khác với các nước khác chương trình này do Tổng thống trực tiếp lãnh đạo Bộ trưởng Bộ Nội vụ đứng đầu Uỷ ban phối hợp trung ương với 12 điều phối viên là Thứ trưởng các Bộ Kế hoạch Kinh tế, Ngoại giao, Giáo dục, Nông nghiệp, Thuỷ sản, Thương mại và Công nghiệp, Xây dựng, Y tế và các vấn đề xã hội, Thông tin
và Văn hoá
Trang 31Xây dựng đội ngủ lãnh đạo ở nông thôn làm nòng cốt cho chương trình phát triển: Mỗi làng dân nhân tự bầu ra người lãnh đạo cho phong trào của mình Tạo điều kiện đảm bảo bình đẳng nam nữ một cách thực sự, mỗi làng chọn ra một lãnh đạo nam và một lãnh đạo nữ, cả hai làm việc phối hợp với nhau và có quyền lực như nhau Để những người lãnh đạo phong trào ở cấp
xã thực sự của dân, vì dân, Tổng thống Hàn Quốc chủ trương để những người lãnh đạo này độc lập với hệ thống hành chính và chính trị ở nông thôn, và không dành cho họ bất kỳ một khoản trợ cấp vật chất nào Động lực chính của tinh thần hy sinh cao độ này là sự động viên tinh thần từ Chính phủ cũng như
sự kính trọng của người dân Bởi không bị phụ thuộc một sức ép chính trị hay ảnh hưởng kinh tế nào, những người lãnh đạo dân cử chỉ chịu sự phán xét của dân và được nhân dân tin tưởng
Đào tạo cán bộ các cấp, gắn cả nước với phong trào phát triển nông thôn: Nhằm giảm khoảng cách giữa dân thường và quan chức Chính phủ, thực
sự gắn bó cán bộ nhà nước với dân, các quan chức của phòng ban trung ương được đưa về cùng sống và theo học với nông dân Người lãnh đạo các cấp chính quyền cùng sống chung với lãnh đạo nông dân tại ký túc xá nhà trường, cùng nhau tham gia thảo luận, bàn bạc tìm cách xây dựng và lập kế hoạch thực hiện chương trình phát triển nông thôn, nhờ đó, các quan chức cấp cao hiểu được, thông cảm được với những khó khăn của người nông dân và tin tưởng tinh thần của nông dân có thể vượt qua những thách thức của dân tộc Chính phủ mở các khoá đào tạo ngắn ngày khoảng từ một đến hai tuần, nội dung tuỳ theo nhu cầu của từng giai đoạn phát triển Đào tạo chủ yếu học theo các mô hình, rút kinh nghiệm từ các mô hình
Phát huy dân chủ, đưa nhân dân tham gia vào quá trình ra quyết định: Chương trình Làng mới của Hàn Quốc đã áp dụng thành công một cách làm khác: Mang cả nước đến với nông dân, giao quyền, hướng dẫn và hỗ trợ để nông dân tự quyết định và tổ chức chương trình phát triển nông thôn Mọi hoạt động của Chương trình đều được tiến hành thông qua các cuộc họp để
Trang 32nông dân tự ra quyết định lựa chọn Chọn ưu tiên cho mọi hoạt động trong đó hoạt động nào được tiến hành trước và hoạt động nào được tiến hành sau, phương thức đóng góp, giải pháp thi công, họ tự chịu trách nhiệm trong việc lựa chọn, thực thi, giám sát công trình Để hình thành tác phong dân chủ và đưa dân vào tham gia quản lý, phong trào tập trung xây dựng các hội trường làng Các cuộc họp bàn thực hiện dự án được tổ chức tại hội trường, đâu trở thành địa điểm thực hiện quyền làm chủ của nông dân Qua hàng loại các cuộc họp hội đồng, nông dân đã học cách thực hiện dân chủ bằng hành động xây dựng một cộng đồng tốt đẹp hơn
Phát huy tinh thần thi đua, khơi dậy lòng nhiệt tình hăng hái trong các làng xã: Hàng năm đánh giá hiệu qủa tham gia chương trình của mỗi làng rất nghiêm túc theo những tiêu chí rõ ràng và công khai, chỉ thực sự nơi nào thực hiện thành công chương trinh thì mới được trực tiếp hỗ trợ các đầu tư khác của chính phủ Chủ trương này được Tổng thống chính thức công bố cho nhân dân, tạo nên một khí thế thi đua sôi nổi giữa các địa phương để dành được ưu tiên đầu tư Thưởng phạt công minh đã kích thích lòng tự hào, tự tin trong từng cộng đồng làng xã, tạo nên sự cạnh tranh mạnh mẽ hướng về xây dựng nông thôn mới, thi đua làm giàu, làm đẹp quê hương Thái độ ỷ lại, tự ty bị loại bỏ ngay từ cách tiến hành chương trình Địa phương nào cũng muốn vươn lên thành điển hình tốt, tự hào về sự đổi thay và giàu có của làng mình
Nguyên tắc hoạt động trong phòng trào “Làng mới” là Nhà nước và nhân dân cùng làm: Nhà nước hỗ trợ vật tư, nhân dân đóng góp công của Sự giúp đỡ của nhà nước trong năm đầu chiếm tỷ lệ cao, dần dần các năm sau tỷ
lệ này giảm trong khi đó quy mô địa phương và nhân dân tham gia tăng dần Ngoài ra, Nhà nước tiến hành nghiên cứu và phát hành rộng rãi các tiêu chuẩn
kỹ thuật, ban hành thiết kế mẫu các công trình cơ sở hạ tầng để nhân dân áp dụng dễ dàng Hàng năm, Nhà nước tổ chức các cuộc họp toàn quốc cho lãnh đạo cộng đồng làng xã tham dự Những người thực hiện dự án thành công được trao giải thưởng và tuyên dương rộng rãi Huân chương “Saemaul” được
Trang 33trao cho những người lãnh đạo cộng đồng xuất sắc hoặc những anh hùng của phòng trào và trở thành phần thưởng cao quý của quốc gia
- Một số kết quả đạt được từ phong trào “Làng mới”:
Bộ mặt nông thôn đổi thay một cách nhanh chóng Sau 8 năm, từ năm
1970 đến năm 1978, các dự án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn thành Dễ thấy nhất là công trình kiên cố hoá nhà ở, năm 1970, 80% hộ gia đình nông thôn phải sống trong nhà lá, đến giữa năm 1975 toàn bộ nhà cửa của nông dân trên khắp nông thôn bao la đã được ngói hoá Trong vòng
20 năm rừng đã che phủ khắp nước và khoảng 84% cây rừng của Hàn Quốc hiện nay là số cây được trồng vào những năm đó Các dự án trong phong trào Làng mới đã giải quyết được phần lớn những nhân tố gây cản trở cho quá trình hiện đại hoá nông thôn, như xây dựng cơ sở hạ tầng (đường làng, nhà xưởng,
hệ thống cung cấp nước, điện), chuyển giao công nghệ, tích luỹ vốn, đào tạo nhân lực và bảo vệ môi trường (giới thiệu giống cao sản, tạo quỹ tiết kiệm trong gia đình, đào tạo cán bộ trong làng…) Có thể nói rằng phong trào Saemaul là một mô hình phát triển nông thôn cho phép hạn chế tối đa thời gian chuyển hoá nông thôn truyền thống thành một nông thôn hiện đại
Nhờ chương trình trong vòng 6 năm, thu nhập bình quân các nông hộ tăng gần gấp 3 lần, từ 1025 USD năm 1972 lên 2961 USD năm 1977, và thu nhập bình quân của các hộ gia đình nông thôn trở nên cao tương đương thu nhập bình quân của các hộ ở thành phố Nông thôn trở thành xã hội năng động, tự tích luỹ, tự đầu tư và tự phát triển
Sau hơn 30 năm thực hiện phong trào, môi trường sống và cuộc sống vật chất của người dân nông thôn đã được cải thiện đáng kể, sản xuất mang tính thương mại đã phát triển Trên hết là những người dân đói nghèo bắt đầu trở nên tự tin Khu vực nông thôn trở thành xã hội năng động, có khă năng tự tích luỹ, tự đầu tư, và nhờ đó mà có khă năng tự phát triển Lao động nông thôn được đào tạo từ chương trình khi ra thành phố kiếm việc làm đã có sẵn
Trang 34kỹ năng và tác phong hiện đại Do có đủ phẩm chất và khả năng đáp ứng nhu cầu cho ngành công nghiệp đòi hỏi kỹ thuật cao hơn
Với chiến lược phát triển nông thôn của nhiều nước khác, đầu tư phát triển nông thôn là một sự nghiệp lâu dài tốn kém thiên về hiệu quả xã hội hơn
là hiệu quả kinh tế Để tìm ra một biện pháp phát triển trong một khoảng thời gian ngắn, nguồn kinh phí hạn hẹp thì quy mô phong trào “Làng mới” của Hàn Quốc là những gợi ý quý báu để chúng ta nghiên cứu tìm ra giải pháp phù hợp cho công cuộc phát triển nông thôn Việt Nam
1.4.1.4 Kinh nghiệp phát triển nông thôn tại Trung Quốc
Trung Quốc là nước có dân số lớn nhất thế giới, năm 1992 dân số 1.2 tỷ
và tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn Những năm gần đây, Trung Quốc đã giải quyết được vấn đề chủ động lương thực Tuy nhiên, việc phát triển nông thôn cần được quan tâm giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề khác nhau như tăng thu nhập, giải quyết việc làm cho 200 triệu lao động, nâng cao tính tự chủ cho nông dân, giải quyết được sức ép của làn sóng di dân từ nông thôn ra thành thị
để kiếm việc làm Vấn đề đặt ra cho Chính phủ Trung Quốc là phải áp dụng đồng bộ các biện pháp như kiềm chế tăng dân số, Trung Quốc cần tìm một hướng đi mới nhằm thu hút lao động ở nông thôn, nâng cao thu nhập cho người dân, khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên để từng bước đưa nông thôn đến văn minh, phồn thịnh Trung Quốc đã tìm cho mình một cách giải quyết vấn đề kinh tế xã hội nông thôn theo con đường hiện đại hoá, thành thị hoá nông thôn, đó là phát triển nông thôn theo kiểu xí nghiệp hương trấn
Xí nghiệp hương trấn là một loại xí nghiệp kinh tế do nông dân tự nguyện thành lập ngay tại quê hương mình trên cơ sở sử dụng lợi thế về nguồn tài nguyên, lao động và các nguồn lực kinh tế khác dưới sự quản lý của các cấp chính quyền, sự lãnh đạo của Đảng và sự quan tâm giúp đỡ của Nhà nước
Xí nghiệp hương trấn Trung Quốc là đường đi phù hợp với quy luật vận động khách quan Điểm mấu chốt trong phát triển kinh tế là kích thích được lợi ích cá nhân, phát huy tính năng động, nâng cao đời sống của nông dân và
Trang 35tạo sản phẩm cho xã hội Hiện nay, mức thu nhập của các tầng lớp người trong xã hội được xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp thuộc các lĩnh vực kinh
tế như: Cá thể, dịch vụ, giáo dục, xí nghiệp quốc doanh, nông nghiệp hợp tác
xã Mức thu nhập 180 nhân dân tệ/khẩu/tháng là thuộc nhóm nghèo Phần lớn các vùng nông thôn Trung Quốc trước đây là nghèo đói, lạc hậu; nhưng đến năm 1995, thu nhập ở xí nghiệp hương trấn là 2500NDT/lao động/tháng Việc phát triển xí nghiệp hương trấn đã thu hút trên 120 triệu lao động chiếm 26,9% lao động cả nước Đây là kết quả to lớn của một nước đông dân nhất thế giới Mặt khác, ý nghĩa to lớn về mặt xã hội là hạn chế nông dân vào thành phố kiếm sống và đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá nông thôn Đây là hình thức phát triển có tính dây chuyền Khi các nhà sản xuất, chế biến hình thành thì kéo theo hình thành các thị trường Xí nghiệp hương trấn Trung Quốc trở thành những “vệ tinh kinh tế” cuối cùng trong hệ thống các thành phố, thị trấn
Xí nghiệp hương trấn là cầu nối giữa nông thôn và thành thị Năm 1994, Trung Quốc đã có 24.945.980 xí nghiệp hương trấn Xí nghiệp hương trấn đã đóng góp tích cực trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn Mặt khác, xí nghiệp hương trấn đã góp vốn cho sản xuất nông nghiệp Đây là lợi thế cơ bản làm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, đưa nông nghiệp phát triển theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá
Như vậy, có thể nói rằng, xí nghiệp hương trấn là mô hình đặc biệt của Trung Quốc và nó đã được nhân rộng ra nhiều vùng ở nông thôn, tạo nên sức mạnh kinh tế to lớn, giải quyết những vấn đề xã hội gay cấn và mang ý nghĩa kinh tế xã hội sâu sắc Xí nghiệp hương trấn đã tạo cho nông dân tự lập trong thu nhập, ổn định đời sống vật chất và tinh thần cho nông dân Trung Quốc
1.4.2 Kinh nghiệm phát huy vai trò của người dân tham gia các chương trình phát triển nông thôn tại Việt Nam
1.4.2.1 Một số kết quả đạt được từ chương trình phát triển nông nghiệp nông thôn
Trang 36Cho tới nay, nước ta vẫn còn là một nước nghèo, nhưng trong những năm qua nước ta đã cố gắng trong công cuộc xoá đói giảm nghèo, nỗ lực tìm mọi cách cải thiện đời sống cho người dân Các chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển nông thôn đã có nhiều đóng góp tích cực trong công cuộc đổi mới, nâng cao thu nhập cho người dân, xoá đói giảm nghèo cho người nông dân đặc biệt là những người dân ở vùng sâu vùng xa, vùng miền núi Chương trình cũng được cộng đồng các nhà tài trợ đánh giá cao việc thực hiện chiến lược xoá đói giảm nghèo và phát triển bền vững tại Việt Nam, góp phần thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hiệp quốc đề ra Trước khi có những chương trình phát triển nông thôn, tỷ lệ hộ đói nghèo bình quân là hơn 60%, nhưng đến hết năm 2004, tỷ lệ này chỉ còn có 23%, bình quân mỗi năm giảm 3-4 %, Khoảng cách giàu nghèo chênh lệch là 12,5lần, bình quân thu nhập đầu người (GDP đầu người) của Việt Nam đã tăng từ mức 114 đô la năm
1991 lên 1.061 đô la năm 2010 Đến năm 2011, công tác thuỷ lợi, tưới tiêu cho 1,76 triệu ha đất nông nghiệp, góp phần làm ngăn mặn cho 0,87 triệu ha, cải tạo chua phèn 1,6 triệu ha, duy trì cấp nước sinh hoạt và sản xuất trên 5,65
tỷ m3/năm Công tác xây dựng đề điều thực hiện hoàn thành 80-90% ở một số tỉnh như: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thanh Hoá, Hà Tĩnh…Các cơ quan, đơn vị trong toàn ngành nông nghiệp đã bám sát, triển khai đồng bộ các chương trình xoá đói, giảm nghèo, phát triển nông thôn theo phân công gồm: chương trình
135, chương trình 30a, chương trình bố trí sắp xếp dân cư, chương trình xoá
bỏ, thay thế cây trồng có chứa chất ma tuý, chương trình nước sạch và VSMTNT…góp phần xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống của người dân ở các vùng nông thôn, miền núi Năm 2011, tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực nông thôn ước tính giảm còn 15,5%( theo tiêu chí mới giai đoạn 2011-2015); tỷ lệ dân
số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh ước đạt 83%, tỷ lệ hộ dân có nhà tiêu hợp vệ sinh ước đạt 58% ( theo tiêu chí mới) (1)
(1) Báo cáo NNNT năm 2011 của Bộ nông nghiệp & PTNT
Trang 37Đối với chương trình 135, sau nhiều năm thực hiện thì hợp phần xây dựng cơ sở hạ tầng đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ Trước năm 1999 không có kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng, đến năm 2004 tổng kinh phí là 5.194,1 tỷ đồng chiếm tới 70% vốn đầu tư chương trình 135 từ ngân sách Trung ương Đến nay các địa phương đã xây dựng và đưa vào sử dụng trên 22 ngàn công trình cơ sở hạ tầng Về xây dựng trung tâm cụm xã, các địa phương
đã xây dựng được 528 trung tâm cụm xã, với kinh phí xây dựng là 1.731 tỷ đồng Hiện nay đã cơ bản hoàn thành và bàn giao đưa vào sử dụng 193 trung tâm cụm xã; Về đào tạo cán bộ bản làng, phum, soóc chương trình đã dành 53,6 tỷ đồng và có trên 141 ngàn cán bộ xã, thôn, bản đã qua đào tạo Do vậy,
đã có tới trên 800 xã đã tự làm chủ được chương trình 135; Đến nay hầu như các xã đặc biệt khó khăn không còn hộ đói kinh niên, đều có trường tiểu học
và phổ thông cơ sở kiên cố, thu hút trên 90% trẻ trong độ tuổi đến trường; Quy hoạch dân cư, rút kinh nghiệm từ những hạn chế trước, chương trình 135 nghiên cứu kỹ phong tục tập quán, truyền thống văn hoá, tính cộng đồng của từng dân tộc trước khi lập dự án quy hoạch dân cư…
1.4.2.2 Kinh nghiệm phát huy vai trò của người dân trong các chương trình phát triển nông thôn
+ Kết quả thực hiện chương trình 135 của tỉnh Quảng Nam (2)
Để thống nhất và triển khai thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ của chương trình 135 giai đoạn II, Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Nam đa giao Ban Dân Tộc - Thường trực Ban chỉ đạo chương trình 135 của tỉnh phối hợp với các ngành liên quan ban hành cuốn sổ tay “Hướng dẫn quản lý và tổ chức thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II trên địa bàn tỉnh Quảng Nam”
Trong năm 2007 tỉnh Quảng Nam đã triển khai thực hiện: Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất: Tỉnh Quảng Nam đã quy định 10 loại mô hình để các địa phương lựa chọn áp dụng nhân rộng mô hình Giao các huyện hướng dẫn các
(2) Báo cáo thực hiện chương trình 135 của UBND tỉnh Quảng Nam
Trang 38chủ đầu tư thực hiện theo hướng dẫn của Trung ương và của tỉnh, phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu cả năm giải ngân hết 11.900 triệu đồng
Dự án Đào tạo nâng cao năng lực cán bộ cơ sở và cộng đồng: Trong năm 2007, nguồn kinh phí đào tạo là 2.650 triệu đồng; Uỷ ban nhân dân tỉnh
đã giao 530 triệu đồng cho Ban Dân tộc là cơ quan thường trực Chương trinh
135 để mở các lớp đào tạo chuyên sâu về phân cấp xã làm chủ đầu tư, đã mở lớp kế toán cho 50 học viên của 50 xã đặc biệt khó khăn và tập huấn cho Chủ tịch và Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các xã đặc biệt khó khăn Nội dung tập huấn gồm các chuyên đề: Hệ thống chính trị cơ sở xã, phường; Thực hiện qui chế dân chủ cơ sở; Lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trinh cơ sở hạ tầng thuộc Chương trình 135 giai đoạn hai; Quản lý Nhà nước đối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn xã; Công tác giám sát của cộng đồng trong Chương trình 135 giai đoạn II… Qua tập huấn trình độ quản lý điều hành của cán bộ được nâng lên rõ rệt, góp phần thực hiện chương trình hiệu quả Ngoài nội dung tập huấn ở tỉnh, các huyện còn tổ chức tập huấn cho 2 nhóm cán bộ
xã, thôn và cộng đồng với các chuyên đề: Nội dung, nhiệm vụ, đối tượng đầu
tư của CT-135 giai đoạn II; Phổ biến những chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà Nước đối với vùng dân tộc và miền núi; Nêu rõ sự cần thiết phải phối hợp giữa các Phòng ban trong huyện trong việc thực hiện 4 dự án thành phần của Chương trình và chú trọng phổ biến kiến thức, kỹ năng sản xuất nông lâm ngư nghiệp; Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất Nội dung tập huấn ở huyện do huyện quyết định thêm bớt một số chuyên đề nhưng không quá 1/3 nội dung chuyên đề do tỉnh qui định Trong qua trình tập huấn, các học viên còn tham quan các mô hình tiên tiến, hiệu quả, đạt giá trị kinh tế cao để áp dụng vào thực tế của địa phương
Dự án phát triển cơ sở hạ tầng: Năm 2007, được chương trình đầu tư 47.700 triệu đồng để xây dựng 97 công trình; trong đó có 39 công trình giao thông các loại; 5 công trình điện; 18 công trình trường học; 20 công trình thuỷ lợi; 11 công trình nước sinh hoạt; 3 công trình trạm xá Các địa phương có
Trang 39công trình đều quyết tâm hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch và chú trọng đảm bảo chất lượng công trình, tránh thất thoát tiền vốn và công sức của nhân dân
+ Thực hiện Chương trình 135 ở huyện Điện Biên (1)
Năm 2006, huyện Điện Biên chỉ có 7 xã đặc biệt khó khăn được hưởng Chương trình 135 của Chính phủ Theo kế định phê duyệt kế hoạch xây dựng
cơ sở hạ tầng từ 2006 đến 2010 của Uỷ ban nhân dân huyện, toàn tỉnh sẽ xây dựng 32 công trình, với tổng kinh phí 21 tỷ 350 triệu đồng Sau hơn một năm thực hiện CT-135 giai đoạn II, toàn huyện đã hoàn thành 5 công trình Năm
2007, Ban Quản lý dự án huyện đã kiểm tra 13 công trình, trong đó đã có 1 công trình đã hoàn thành, còn lại là chờ thẩm định, phê duyệt Theo chủ trương của Chính phủ thì Ban Quản lý dự án của huyện đã đầu tư một cách tập trung không dàn trải nhờ đó mà các công trình của huyện đã phát huy hết được hiệu quả Mặt khác, để các công trình có hiệu quả trong đời sống xã hội thì các địa phương nghiêm túc thực hiện quy chế dân chủ trong quá trình lựa chọn dự án, thong qua ý kiến của nhân dân Nhìn chung các dự án đều do nhân dân lựa chọn, chính quyền đề nghị, trong quá trình xây dựng công trình
có sự giám sát của Ban giám sát do địa phương bầu chọn
Bước sang giai đoạn II của CT-135, Ban quản lý dự án huyện khuyến khích các địa phương làm chủ dự án những công trình từ 500 triệu đồng trở xuống, theo sự chỉ đạo của Chính phủ
+ Thực hiện chương trình 135 tại tỉnh Phú Thọ (2)
Sau 7 năm được thực hiện, tổng số vốn đầu tư trên địa bàn các xã ĐBKK là: 540.717,8 triệu đồng, chưa kể vốn do nhân dân đóng góp từ việc ủng hộ tài sản, sức lao động, giải phóng mặt bằng… và các nguồn vốn lồng ghép khác trên địa bàn CT 135 tỉnh Phú Thọ đã thực hiện tương đối tốt 5 nhiệm vụ của chương trình Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng và trung tâm cụm
xã miền núi, đã xây dựng 448 công trình hạ tầng thiết yếu, quy hoạch cơ sở hạ
(1) ) Báo cáo thực hiện chương trình 135 của UBND tỉnh Điện Biên
(2) Báo cáo thực hiện chương trình 135 của UBND tỉnh Phú Thọ
Trang 40tầng cho 50 xã, ổn định định canh định cư cho 895 hộ, 4.800 nhân khẩu, tập huấn cho 3491 lượt cán bộ và cộng đồng về quản lý hành chính, quản lý kinh
tế, giám sát thi công công trình Việc người dân đóng vai trò trực tiếp vào các khâu của chương trình đã tạo ra động lực quan trọng, có tác động tích cực đến sản xuất và đời sống của nhân dân các dân tộc thiểu số, diện mạo các xã thay đổi một cách rõ rệt Tỷ lệ hộ đói nghèo giảm từ trên 50% xuống dưới 20%, bình quân lương thực đầu người tăng từ 230kg/người/năm lên gần 400kg/người/năm Để có những thành quả đó hàng năm, UBND tỉnh giao kế hoạch từ rất sớm, công tác chuẩn bị đầu tư được triển khai chủ động, việc lựa chọn công trình, danh mục đầu tư được bàn bạc dân chủ công khai từ cấp cơ
sở Công tác quản lý đầu tư, kiểm tra, giám sát được tiến hành thường xuyên, liên tục và sâu sát của nhân dân địa phương, thông qua Ban giám sát xã của từng công trình cụ thể đã ngăn chặn kịp thời những tiêu cực có thể xảy ra Vì vậy, bộ mặt nông thôn, miền núi các xã ĐBKK đã được thay đổi, trình độ nhận thức của người dân được nâng lên một bước thông qua đào tạo, bồi dưỡng và tham gia quản lý, giám sát các công trình, hạng mục đầu tư trên địa bàn
Trên đây là những kinh nghiệm trên thế giới cũng như thực tiễn đã thực hiện tại một số địa phương ở Việt Nam Đề tài cũng chỉ ra được một số khó khăn, thuận lợi của các địa phương, với hy vọng các ngành, các cấp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình cùng chung tay giúp sức xây dựng nông nghiệp nông thôn tỉnh phát triển nhanh và bền vững