26-Những năm gần đây, nhiều chương trình, dự án nhằm phát triển khu vực nông nghiệp, nông thôn đã được thực hiện, như: Chương trình khoa học công nghệ, chương trình khuyến nông, chương t
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS.NGUYỄN PHÚC THỌ
Hà Nội, 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một đề tài nghiên cứu nào
Tôi cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Tác giả
Đoàn Tố Oanh
Trang 4đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Đặc biệt tôi bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Phúc Thọ đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Xin trân trọng cảm ơn tới: Phòng Tài nguyên và môi trường, phòng Kinh tế, Chi cục thống kê huyện Cẩm Khê UBND các xã: Phương Xá, Sai Nga, Yên Tập, cùng chính quyền, ban, ngành, các bà con nông dân, các thành phần lao động trên địa bàn huyện đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cung cấp số liệu, tài liệu giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp, đã quan tâm, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
TÁC GIẢ
Đoàn Tố Oanh
Trang 5MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ NGƯỜI DÂN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 5
1.1 Cơ sở lý luận 5
1.1.1 Một số lý luận về nông thôn, nông thôn mới 5
1.1.2 Mục tiêu, căn cứ và tiêu chí xây dựng NTM của Bộ Nông nghiệp & PTNT 9
1.1.3 Những nội dung chủ yếu về xây dựng nông thôn mới 13
1.1.4 Vấn đề tam nông trong xây dựng nông thôn mới 15
1.1.5 Vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới 17
1.1.6 Quan điểm nâng cao vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới 23
1.2 Cơ sở thực tiễn 28
1.2.1 Kinh nghiệm về sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới của một số nước trên thế giới 28
1.2.2 Kinh nghiệm từ xây dựng mô hình thí điểm NTM ở Việt Nam 31
1.2.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới 33
1.3 Bài học kinh nghiệm sau khi nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới 37
1.3.1 Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ 37
1.3.2 Bài học về quy hoạch 37
Trang 61.3.3 Bài học về công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm xây dựng NTM 38
1.3.4 Bài học về huy động các nguồn lực cho xây dựng NTM 38
1.3.5 Bài học về phát triển sản xuất, tăng thu nhập, cải thiện đời sống 38
1.3.6 Bài học về cơ chế quản lý đầu tư trên địa bàn 39
1.3.7 Bài học về cách làm chủ động, sáng tạo, phù hợp với điều kiện và đặc điểm cụ thể của từng xã, tránh rập khuôn, máy móc 40
1.3.8 Bài học trong xây dựng, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong xây dựng NTM 40
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
2.1 Đặc điểm địa bàn của huyện Cẩm Khê 41
2.1.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Cẩm Khê 41
2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 46
2.1.3 Kinh tế, cơ cấu kinh tế của huyện Cẩm Khê 53
2.2 Khung phân tích và Phương pháp nghiên cứu 55
2.2.1.Khung phân tích vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới 55 2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 56
Chương 3 THỰC TRẠNG VAI TRÒ NGƯỜI DÂN TRONG TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ 60
3.1 Khái quát kết quả triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Cẩm Khê 60
3.1.1 Mục tiêu 61
3.1.2 Nội dung triển khai 63
3.1.3 Kết quả đạt được 68
3.2 Thực trạng vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Cẩm Khê 72
3.2.1 Vai trò của người dân trong quyết định các vấn đề xây dựng NTM 77
Trang 73.2.2 Vai trò của người dân trong phát triển kinh tế, các hình thức tổ chức sản xuất 83 3.2.3 Vai trò của người dân trong đóng góp nguồn lực cho xây dựng NTM 89 3.2.4 Vai trò của người dân trong giám sát xây dựng các công trình NTM 92 3.2.5 Vai trò của người dân trong nghiệm thu, quản lý, khai thác sử dụng các công trình NTM 94 3.2.6 Vai trò của người dân trong việc bảo vệ tài nguyên môi trường 97 3.3 Những kết quả đạt được và những khó khăn hạn chế vai trò của người dân trong xây dựng NTM 98 3.3.1 Kết quả đạt được 98 3.3.2 Những hạn chế đối với vai trò người dân trong việc tham gia xây dựng NTM 100 3.4 Định hướng, giải pháp nâng cao vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới 101 3.4.1 Định hướng nâng cao vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới 102 3.4.2 Giải pháp về đẩy mạnh vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo địa phương
và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới 103 3.4.3 Giải pháp về tăng cường sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM 104 3.4.5 Giải pháp gắn quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường ở nông thôn trong xây dựng nông thôn mới 106 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 107 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Một số đặc trưng khí hậu của vùng năm 2012 43 2.2 Tình hình sử dụng đất huyện Cẩm Khê giai đoạn 2010-2012 45 2.3 Dân số và lao động của huyện Cẩm Khê qua các năm 2010 - 2012 47 2.4 Cơ sở hạ tầng huyện Cẩm Khê trong giai đoạn 2010 - 2012 49 2.5 Kết quả phát triển kinh tế huyện Cẩm Khê các năm 2010-2012 54 3.1 Vốn hỗ trợ của doanh nghiệp bằng công trình tại các xã 70
3.3 Người dân tham gia thành lập tiểu ban xây dựng NTM 80 3.4 Người dân tham gia lập kế hoạch xây dựng NTM 81
3.6 Người dân tham gia các lớp tập huấn, đào tạo ứng dụng kỹ thuật
3.7 Sự tham gia các lớp tập huấn, đào tạo ứng dụng kỹ thuật trong
3.8 Người dân tham gia đóng góp kinh phí thực hiện các vùng sản
3.9 Mức đóng góp kinh phí của các hộ điều tra để xây dựng vùng
3.10 Người dân tham gia các hình thức tổ chức sản xuất 88 3.11 Người dân tham gia đóng góp công lao động xây dựng công trình 90 3.12 Người dân tham gia đóng góp kinh phí xây dựng công trình 91 3.13 Người dân tham gia giám sát công trình NTM năm 2012 93 3.14 Các công trình cơ sở hạ tầng được xây dựng tại các xã giai đoạn
Trang 91.6 Mô hình quy hoạch đô thị làng quê tại Hà Nam 35
3.1 Các hoạt động phát triển bền vững kinh tế - xã hội trong các mô
hình nông thôn mới thông qua vai trò của người dân 76 3.2 Mối quan hệ giữa BCĐ, tiểu ban xây dựng NTM và các tổ chức 82
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Định hướng phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 của Đảng, Nhà
nước ta là “cơ bản đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại” đã
càng đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa Quá trình ấy đã gặt hái được nhiều thành quả to lớn trong phát triển kinh tế, nhưng cũng đã để lại không ít những hậu quả, trong đó phải để đến một số điểm đáng chú ý như: Đất sản xuất nông nghiệp ngày càng giảm, số người nông dân mất đất ngày càng tăng lên, khu vực sản xuất nông nghiệp đã bị thu hẹp, ô nhiễm do chất thải các khu công nghiệp, khu đô thị Xác định nông nghiệp, nông thôn và
nông dân là vấn đề “có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng ” trong quá trình
phát triển kinh tế, ổn định chính trị và an ninh quốc phòng, Nghị quyết số NQ/TW ngày 05/8/2011 Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã được ban hành; tiếp sau đó nhiều văn bản pháp lý khác liên quan tới vấn đề này cũng đã ra đời nhằm thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW
26-Những năm gần đây, nhiều chương trình, dự án nhằm phát triển khu vực nông nghiệp, nông thôn đã được thực hiện, như: Chương trình khoa học công nghệ, chương trình khuyến nông, chương trình 135 hay chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và việc làm, chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường… Những chương trình này hoặc chỉ mới giải quyết một số khía cạnh riêng rẽ (như về cơ sở hạ tầng, nước sạch sinh hoạt) hoặc nhằm mục tiêu xóa đói giảm nghèo cho những vùng đặc biệt khó khăn, vùng nghèo Từ năm 2001 - 2009 cả nước đã triển khai Đề án thí
điểm “Xây dựng mô hình nông thôn mới cấp xã theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa” do Ban Kinh tế Trung ương và Bộ Nông nghiệp & PTNT chỉ
đạo ở trên 200 điểm ở các địa phương với hướng tiếp cận từ cộng đồng
Trang 11Chương trình đã được thực hiện thắng lợi, tạo bước đột phá trong phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống cho người dân Ngày 16/4/2009 Thủ tướng ký quyết định số 491/2009/QĐ-TTg về ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; Quyết định số 800/2010/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020; ngày 8/6/2010 Thủ tướng Nguyễn Tấn
Dũng đã phát động thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”
Cùng với không khí chung của cả nước xây dựng nông thôn mới, huyện Cẩm Khê nói riêng tỉnh Phú Thọ nói chung đã và đang tiến hành thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới theo chủ trương của Đảng và Nhà nước Nhiều năm qua, Cẩm Khê luôn đi đầu tỉnh trong việc đạt các chỉ tiêu kinh tế; cơ cấu kinh tế đa dạng về nông - lâm nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Những mô hình kinh tế mới, hiệu quả ở Cẩm Khê đã được bà con vùng khác biết đến, như: Mô hình nuôi cá nước ngọt (xã Tuy Lộc), mô hình trồng nấm rơm (xã Đồng Cam), mô hình trồng rau sạch ( xã Sai Nga) … Huyện cũng luôn quan tâm đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở cho nông nghiệp,
nông thôn (đường giao thông nội đồng trên 27 km, kênh mương nội đồng 42
km) Năm 2012, Cẩm Khê có một xã duy nhất là Phương Xá được huyện
chọn làm xã điểm về xây dựng nông thôn mới Cùng với Phương Xá, nhiều xã trên địa bàn huyện cũng đang ra sức xây dựng, phấn đấu đạt tiêu chuẩn nông thôn mới đến 2015 như: Sai Nga, Hương Lung, Yên Tập… Tuy nhiên, cũng còn có những hạn chế và bất cập như: Năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở chưa cao, việc sử dụng nguồn vốn hỗ trợ của nhà nước cho địa phương đã thực sự hiệu quả hay chưa? Vai trò của người dân vào việc xây dựng và phát triển nông nghiệp, nông thôn vẫn còn nhiều điều đáng nói Xoay quanh vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới hiện nay, một số vấn đề về lý luận, thực tiễn được đặt ra, như sau:
1 Nông thôn là gì? Tại sao cần xây dựng nông thôn mới?
Trang 122 Thực trạng xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Cẩm Khê?
3 Vai trò của người dân trong thực hiện xây dựng nông thôn mới là gì?
4 Những vấn đề gì nảy sinh trong quá trình tham gia xây dựng nông thôn mới của người dân Cẩm Khê? Bài học kinh nghiệm từ xây dựng nông thôn mới có
sự tham gia của người dân trên địa bàn huyện Cẩm Khê?
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Giải pháp nâng cao vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện trong giai đoạn tiếp theo
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Quá trình triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ
- Vai trò của người dân tại địa bàn nghiên cứu
Trang 133.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ NGƯỜI DÂN
TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số lý luận về nông thôn, nông thôn mới
Để tìm hiểu các quan điểm về nông thôn mới, chúng ta đi tìm hiểu một
số khái niệm sau:
Nông thôn
Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn Khi nhắc tới khu vực nông thôn, người ta thường so sánh với thành thị Có quan điểm cho rằng, khi xem xét nông thôn dùng chỉ tiêu mật độ dân số, số lượng dân cư ở nông thôn thấp hơn thành thị
Ý kiến khác lại cho rằng, dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển cơ sở hạ tầng thì vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng thành thị
Nhưng một quan điểm khác lại cho rằng, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chính của cư dân trong vùng là từ hoạt động sản xuất nông nghiệp Những ý kiến này chỉ đúng trong từng khía cạnh cụ thể và từng nước nhất định, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế áp dụng cho từng nền kinh tế Khái niệm nông thôn cũng mang tính chất tương đối, nó có thể thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới Ở đây, chúng tôi xin đưa ra 2 khái niệm:
- Nông thôn :Là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất
nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn (Giáo trình KTCT Mác-Lenin, Dùng cho khối
ngành kinh tế, quản trị kinh doanh trong các trường ĐH, CĐ - NXB Chính trị quốc gia , 2005)
Trang 15- Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ
chức khác (Giáo trình PTNT, trường ĐHNN Hà Nội, trang 11, 2005)
Phát triển nông thôn (PTNT)
Khác với phát triển và phát triển kinh tế, PTNT là chỉ sự phát triển ở khu vực nông thôn, có thể hiểu rằng PTNT chỉ sự phát triển kinh tế - xã hội phạm vi hẹp hơn phát triển và phát triển kinh tế Chúng tôi xin đưa ra một số quan điểm về PTNT:
- PTNT là những thay đổi cần thiết ở vùng nông thôn Tuy nhiên, những gì coi là cần thì lại khác nhau ở từng nước, từng vùng, từng địa phương; theo quan điểm thông thường, bản chất của phát triển là tăng trưởng
và hiện đại hóa mang lại cho người nghèo chút lợi nho nhỏ
- Có quan điểm lại cho rằng: PTNT nhằm nâng cao về vị thế kinh tế -
xã hội cho người dân nông thôn thông qua việc sử dụng có hiệu quả cao các nguồn lực của địa phương bao gồm nhân lực, vật lực và tài lực
- Theo Ngân hàng thế giới (WB) đã đưa ra định nghĩa (1975): “PTNT là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng nông thôn Nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng nông thôn được hưởng lợi
ích từ sự phát triển” (Giáo trình PTNT, trường ĐHNN Hà Nội, trang 19, 2005)
- PTNT bền vững là sự phát triển kinh tế - xã hội nông thôn với tốc độ cao, là quá trình làm tăng mức sống của người dân nông thôn PTNT phù hợp với nhu cầu của con người, đảm bảo sự tồn tại bền vững và sự tiến bộ lâu dài trong nông thôn Sự phát triển đó dựa trên việc sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên mà vẫn đảm bảo giữ gìn môi trường sinh thái nông thôn PTNT đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay nhưng không làm cạn kiệt tài nguyên, không
Trang 16để lại hậu quả cho thế hệ tương lai (Mối quan hệ giữa các biến kinh tế và
biến dân số trong phát triển các vùng nông thôn Việt Nam, Hoàng Văn Cường, Luận án tiến sĩ kinh tế, trường ĐHKTQD, Hà Nội, 2002)
PTNT có tác động theo nhiều chiều cạnh khác nhau PTNT là quá trình thực hiện hiện đại hóa nền văn hóa nông thôn nhưng vẫn bảo tồn được những giá trị truyền thống thông qua việc ứng dụng khoa học và công nghệ Đồng thời, đây là quá trình thu hút mọi người dân tham gia vào các chương trình phát triển, đặc biệt là nhóm người nghèo ở nông thôn - những người đang tìm
kế sinh nhai, những tiểu nông, tá điền và những người không có đất, nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của các cư dân nông thôn
Từ các quan điểm trên, theo chúng tôi: “PTNT là một quá trình cải
thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác” (Giáo trình PTNT, trường ĐHNN Hà Nội, trang 20, 2005)
Nông thôn mới (NTM)
NTM không còn là tên gọi mới ở nước ta trong vài năm trở lại đây mô hình PTNT đã góp phần quan trọng trong việc phát triển và cải thiện nông thôn nước ta Để đáp ứng nhu cầu về đời sống vật chất và tinh thần ngày càng cao của người dân nông thôn, yêu cầu PTNT theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hợp tác hóa, dân chủ hóa, Nghị quyết 06/NQ-TW ngày 10/11/1998 của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 49/2001/CT-BNN/CS ngày 27/4/2001 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT đã ban hành về việc “Xây dựng mô hình PTNT mới”, nhằm định hướng rõ trong chỉ đạo thực hiện Việc xây dựng mô hình PTNT mới là một quá trình chuyển đổi căn bản chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam từ hướng cung sang hướng cầu thị trường Đồng thời, đảm bảo sự tham gia tối đa của người dân vào quá trình phát triển
Trang 17theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra,
dân quản lý và dân hưởng lợi” Đây là cơ sở để phát huy nội lực, hướng vào
xây dựng tính bền vững cho việc phát triển
“Nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một
kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng tiên tiến về mọi mặt so với mô hình nông thôn cũ (truyền thống, đã có)” (Xây dựng nông
thôn mới ở nước ta hiện nay - Phan Xuân Sơn, Nguyễn Cảnh - HV Chính trị hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2011)
Có thể thấy, đặc điểm chung nhất của mô hình PTNT mới là gắn với nông nghiệp, nông thôn và nông dân
Tính ưu việt của nông thôn mới theo Đề án của Bộ NN & PTNT
Xây dựng NTM chính thức trở thành chương trình mục tiêu quốc gia
Mô hình NTM có nhiều đặc điểm ưu việt tạo nên nét riêng biệt, mới chưa từng có trước kia, đó là:
+ Được xây dựng trên đơn vị cơ bản là cấp làng - xã
+ Vai trò của người dân được nâng cao, nêu cao tính tự chủ của người dân, đặc biệt của nông dân
+ Người dân chủ động tham gia việc xây dựng kế hoạch phát triển, thảo luận, đóng góp ý kiến, giám sát quá trình thực hiện… nhằm đạt mục tiêu đề ra với kết quả, hiệu quả cao nhất
+ Việc thực hiện xây dựng NTM nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn, từng bước nâng cao đời sống nông dân là quá trình thực hiện dựa trên nền tảng huy động mọi nguồn lực: Ngân sách Nhà nước từ trung ương tới địa phương, nguồn lực các tổ chức kinh tế, xã hội, nguồn lực trong nhân dân… thay cho việc dựa vào sự hỗ trợ từ bên ngoài là chủ yếu
Trang 18+ Kích thích các tổ chức kinh tế, xã hội của nông dân hoạt động phát triển mạnh và có hiệu quả
1.1.2 Mục tiêu, căn cứ và tiêu chí xây dựng NTM của Bộ Nông nghiệp & PTNT
1.1.2.1 Mục tiêu của việc xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới nhằm đạt được các mục tiêu tổng thể về kinh
tế, chính trị, văn hóa - xã hội Để đạt được các mục tiêu này, quá trình xây dựng NTM phải được thực hiện trong mối quan hệ tác động qua lại, gắn kết nhau tạo nên một hệ thống hoàn chỉnh
- Về kinh tế
+ Nông thôn có nền sản xuất hàng hóa, hướng đến thị trường để giao lưu, hội nhập Đáp ứng được nền sản xuất hàng hóa thì kết cấu hạ tầng nông thôn phải đồng bộ, hiện đại
+ Thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh, bền vững, khuyến khích mọi người tham gia vào thị trường, hạn chế rủi ro cho nông dân, điều chỉnh, giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo, chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị
+ Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, đa dạng hình thức sở hữu; trong đó chú ý xây dựng mới, củng cố và phát triển các HTX theo mô hình kinh doanh đa ngành Hỗ trợ các HTX ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ phù hợp với các phương án sản xuất kinh doanh, phát triển ngành nghề ở nông thôn Sản xuất hàng hóa có chất lượng cao, mang nét độc đáo, đặc sắc của từng vùng, địa phương Tập trung đầu tư vào những trang thiết bị, công nghệ sản xuất, bảo quản, chế biến nông sản sau thu hoạch
Trang 19+ Phát huy tối đa quy chế dân chủ ở cơ sở, tôn trọng hoạt động của các đoàn hội, đoàn thể, các tổ chức hiệp hội vì lợi ích cộng đồng, nhằm huy động tổng lực vào xây dựng nông thôn mới
- Về văn hóa - xã hội
+ Xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, giúp nhau xóa đói giảm
nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng
- Về con người
+Chú trọng nâng cao trình độ dân, trí, nhằm phát huy nội lực của người dân, tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật vận dụng vào sản xuất Mặt khác, cần khuyến khích người dân tích cực tham gia các hoạt động lập kế hoạch, giám sát, điều chỉnh và đánh giá các công trình phát triển thôn, xóm Xây dựng hình mẫu người nông dân sản xuất giỏi, là người kết tinh các tư cách: công dân, thể nhân, dân của làng, người con của các dòng họ, gia đình
- Về môi trường
+ Xây dựng, củng cố, bảo vệ môi trường, du lịch sinh thái Bảo vệ rừng
đầu nguồn, chống ô nhiễm nguồn nước, môi trường không khí và chất thải từ các khu công nghiệp để PTNT bền vững
+ Để đạt được các mục tiêu nói trên, Nhà nước đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức điều hành quá trình hoạch định và thực thi chính sách, xây dựng đề án,
cơ chế, tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện, động viên tinh thần Nhân dân tự nguyện tham gia, chủ động trong thực thi và hoạch định chính sách Trên tinh thần đó, các chính sách kinh tế - xã hội sẽ tạo hiệu ứng tổng thể nhằm xây dựng mô hình NTM
1.1.2.2 Các căn cứ xác định tiêu chí xây dựng nông thôn mới
Cấp tỉnh, thành phố
UBND cấp tỉnh, thành phố xác định tiêu chí và chỉ tiêu phấn đấu cụ thể như sau:
- Tỉnh nông nghiệp: GDP nông nghiệp chiếm > 30%
- Tỉnh nông - công nghiệp: GDP nông nghiệp chiếm 10 - 30%
- Tinh công nghiệp: GDP nông nghiệp chiếm < 10%
Trang 20Ngoài các tiêu chí trên, để đạt tiêu chuẩn nông thôn mới, tỉnh phải có 80% số huyện trong tỉnh đạt tiêu chí (TC) NTM
Cấp huyện
UBND huyện chịu trách nhiệm trong lĩnh vực xây dựng NTM ở huyện Huyện cử cán bộ có trình độ am hiểu nông dân, nông thôn phối hợp với tư vấn của Bộ tham gia xây dựng kế hoạch phát triển xã Bên cạnh đó, thẩm định
kỹ thuật các công trình xây dựng cơ bản trong kế hoạch của xã có vốn lớn theo quy định hiện hành
Tiêu chí NTM phụ thuộc đặc điểm, điều kiện tự nhiên của từng vùng; Trung du, miền núi hay các huyện đồng bằng, hải đảo
Ngoài ra, huyện phải có 75% số xã trong huyện đạt tiêu chí xã NTM
Cấp xã
Chịu trách nhiệm chỉ đạo trực tiếp xây dựng NTM ở các thôn, xã Kết hợp với tư vấn của Bộ, tham gia xây dựng kế hoạch tổng thể của thôn và giúp cho cộng đồng thôn lựa chọn kế hoạch năm phù hợp quy hoạch lớn của xã
Thẩm định các kế hoạch phát triển và kỹ thuật các công trình xây dựng
cơ bản của thôn TC xã NTM phụ thuộc vào đặc điểm tự nhiên của mỗi xã: xã ven đô, đồng bằng, miền núi, hải đảo
Ngoài ra, xã phải có 90% số thôn, bản trong xã đạt TC NTM
1.1.2.3 Các tiêu chí (nội dung) về xây dựng nông thôn mới
Bộ TC quốc gia về xây dựng mô hình NTM được Thủ tướng Chính phủ
ký quyết định số 491/2009/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 bao gồm 19 tiêu chí và được chia thành 5 nhóm, cụ thể các nhóm tiêu chí:
- Về quy hoạch
Trang 21- Về hạ tầng xã hội
- Về kinh tế và tổ chức sản xuất
- Về văn hóa - xã hội - môi trường
- Về hệ thống chính trị
19 tiêu chí để xây dựng mô hình NTM: Quy hoạch và thực hiện quy
hoạch, giao thông, thủy lợi, điện, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, chợ nông thôn, bưu điện, nhà ở dân cư, thu nhập, hộ nghèo, cơ cấu lao động, hình thức tổ chức sản xuất, giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường, hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh, trật tự xã hội
(Nguồn: Viện QH &TKNN)
Hình 1.1: Sơ đồ Quy trình thực hiện dự kiến
Xây dựng, báo cáo
KH, TKKT, dự toán
Ban PT thôn, bản (tư vấn, UBND xã)
- Xây dựng kế hoạch dài hạn
- Xây dựng kế hoạch hàng năm
- Tổ chức họp dân, lựa chọn nội dung
- Tổ chức thực hiện, giám sát, quyết toán
- Tiêu chuẩn kỹ thuật
- Phê duyệt dự toán, TKKT
- Kiểm tra đôn đốc
Cấp kinh phí và giám sát thực hiện, quyết toán kinh phí
Trang 221.1.3 Những nội dung chủ yếu về xây dựng nông thôn mới
Xây dựng NTM là biểu hiện cụ thể của PTNT nhằm tạo ra một nông thôn có kinh tế phát triển cao hơn, có đời sống về vật chất và tinh thần tốt hơn, có bộ mặt nông thôn hiện đại bao gồm cả cơ sở hạ tầng phục vụ tốt cho sản xuất, đời sống tinh thần và văn hóa của người dân Đẩy mạnh dân chủ hóa
ở nông thôn và tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong những quyết định
về phát triển sản xuất, văn hóa và xã hội trên địa bàn
Căn cứ vào điều kiện thực tế của từng xã về tiềm năng, lợi thế, năng lực của cán bộ, khả năng đóng góp của nhân dân… hướng dẫn để người dân bàn bạc
đề xuất các nhu cầu và nội dung hoạt động của đề án Xét trên khía cạnh tổng thể, những nội dung sau đây cần được xem xét trong xây dựng mô hình NTM
Đào tạo nâng cao năng lực phát triển cộng đồng
- Nâng cao năng lực cộng đồng trong việc quy hoạch, thiết kê, triển khai thực hiện, quản lý, điều hành các chương trình, dự án trên địa bàn xã
- Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở và đội ngũ cán bộ các cấp về PTNT bền vững
- Nâng cao trình độ dân trí của người dân
- Phát triển mô hình câu lạc bộ khuyến nông để giúp nhau ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, phát triển ngành nghề, dịch vụ để giảm lao động trong nông nghiệp, tăng lao động trong các ngành thương mại, dịch vụ
Phát triển kinh tế nông thôn
- Trong sản xuất nông nghiệp: khuyến khích người dân trồng trọt, chăn nuôi những cây, con giống có giá trị kinh tế cao, khối lượng hàng hóa lớn, tạo
ra thị trường tiêu thụ rộng lớn Đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp, phát huy những tiềm năng của địa phương
- Tăng cường các hoạt động dịch vụ thúc đẩy sản xuất và đời sống: cung ứng vật tư, hàng hóa, nước sạch cho sản xuất và sinh hoạt, điện, tư vấn
kỹ thuật và chuyển giao tiến bộ khoa học, công nghệ, tín dụng
Trang 23- Hỗ trợ trang thiết bị và kỹ thuật phục vụ cho sản xuất nhằm thúc đẩy
cơ cấu cây trồng, vật nuôi
- Tăng cường củng cố quan hệ sản xuất, các hoạt động tư vấn, hỗ trợ: khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư
Xây dựng NTM gắn với phát triển làng nghề, tạo việc làm phi nông nghiệp
- Với những xã có ngành nghề truyền thống: khôi phục và củng cố, tăng cường tay nghề cho người lao động, hỗ trợ xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa, quảng bá công nghệ, xử lý môi trường và phát triển bền vững
- Với những xã chưa có ngành nghề phi nông nghiệp: tiến hành đưa các ngành nghề mới vào xã và tăng cường chuyển giao kỹ thuật, tạo việc làm tăng thêm thu nhập cho nông dân
Hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng nông thôn
- Tư vấn hỗ trợ quy hoạch giao thông, thủy lợi nội đồng Khuyến khích dồn điền đổi thửa, tích tụ ruộng đất để phát triển quy mô trang trại
- Hỗ trợ xây dựng các cụm, khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, chế biến sau thu hoạch, tăng cường tiêu thụ sản phẩm
- Hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất cho hoạt động văn hóa, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở nông thôn: nhà văn hóa làng, thư viện, bưu điện thôn, xã
Xây dựng NTM gắn với bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên ở nông thôn
- Vận động xây dựng một nông thôn mới xanh - sạch - đẹp, không có rác thải vứt bừa bãi, không có phế thải của sản xuất và sinh hoạt thải thẳng ra cánh đồng, hệ thống ao hồ… mà không được xử lý
- Quản lý nguồn nước cấp, thoát nước, thu gom rác thải Hiện nay, vấn
đề này ở nông thôn đang phần nào làm ảnh hưởng lớn tới môi trường bởi sự xuất hiện của các làng nghề, các khu tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp mới gây ô nhiễm môi trường và nguồn nước Vì vậy các địa phương cần chú ý xây dựng các hệ thống xử lý rác thải, tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người dân
Trang 241.1.4 Vấn đề tam nông trong xây dựng nông thôn mới
Trong thời kỳ phát triển kinh tế nước ta hiện nay, quá trình xây dựng NTM, vấn đề tam nông luôn chiếm vị trí quan trọng, quyết định cho những chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế nông thôn trong thời kỳ CNH - HĐH
Nông nghiệp và nông thôn là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Nông nghiệp đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp; xuất khẩu nông sản đem lại nguồn thu ngoại tệ quan trọng cho nền kinh tế; tạo việc làm và thu nhập cho đa số người dân Nông thôn là nơi sinh sống của đa số nhân dân, nơi bảo tồn và phát triển các truyền thống văn hóa dân tộc
Quan tâm tới vấn đề tam nông, tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X, đã ban hành Nghị quyết 26-NQ/TW về nông nghiệp - nông thôn - nông dân, với mục tiêu đến năm 2010 tạo chuyển biến mạnh
mẽ trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân Chương trình hành động sẽ tập trung vào một số nội dung chính như:
- Tổ chức quán triệt sâu rộng trong các ngành, các cấp và nhân dân từ Trung ương đến cơ sở để có nhận thức đúng đắn về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở nước ta
- Phát động trong toàn quốc phong trào thi đua lao động xây dựng nông nghiệp hiện đại, xây dựng NTM
- Rà soát điều chỉnh quy hoạch, xây dựng và triển khai các chương trình kinh tế-xã hội, các chương trình mục tiêu quốc gia, các đề án chuyên ngành thuộc lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
Sau Nghị quyết 7, Chính phủ đã có “Chương trình Hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 về nông nghiệp - nông dân - nông thôn” với 3 chương trình quốc gia là xây dựng nông thôn mới, đào tạo nguồn nhân lực và chương trình mục tiêu thích ứng với sự biến đổi khí hậu Cùng với 3 chương trình quốc gia này, gần 50 đề án chuyên ngành cũng đã thể hiện khá rõ nội dung về phát
Trang 25triển nông nghiệp công nghệ cao trong phạm vi toàn quốc để phát triển nông nghiệp - nông dân - nông thôn theo Nghị quyết 7 Trung ương Theo đó, đến năm
2020, bằng mọi cách phải đầu tư cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn cứ 5 năm sau cao gấp đôi 5 năm trước
Đề án “Vấn đề nông nghiệp - nông dân - nông thôn”, dựa trên tư tưởng chỉ đạo của Đại hội Đảng X được đưa ra tập trung đáng giá thực trạng nông nghiệp, nông dân, nông thôn từ năm 2000 đến nay, làm rõ các quan điểm đề ra mục tiêu và các chủ trương, giải pháp lớn nhằm giải quyết các vấn đề này trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 Trong đề án, vấn đề xây dựng NTM là một trong
3 nội dung trọng tâm nhằm giải quyết các vấn đề đưa ra của đề án Với các nội dung như sau:
Mục tiêu xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại: cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; nâng cao sức mạnh của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng ở nông thôn; xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nông và đội ngũ trí thức, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc, đảm bảo thực hiện thành công CNH - HĐH đất nước theo định hướng XHCN
Nội dung triển khai chính:
- Quy hoạch các khu dân cư nông thôn và hướng dẫn cải tạo nơi ở dân cư
đảm bảo ăn ở văn minh nhưng vẫn giữ được nét bản sắc văn hóa đặc trưng của từng dân tộc, từng vùng quê Đến năm 2010, rà soát và điều chỉnh quy hoạch xây dựng 45% các xã, hoàn thành quy hoạch 42% các khu dân cư trung tâm xã, thị
tứ Đến năm 2020, 100% các xã có quy hoạch xây dựng và 50% xã có quy hoạch
chi tiết; 100% thị tứ và trung tâm cụm xã có quy hoạch xây dựng
- Quy hoạch phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội thôn,
xã, đáp ứng yêu cầu CNH – HĐH
Trang 26- Nâng cao kiến thức đời sống và kiến thức nghề nghiệp cho người dân;
nâng cao tinh thần tự lực tự cường vượt qua khó khăn, vươn lên xây dựng
cuộc sống mới tốt đẹp hơn trong các cộng đồng dân cư nông thôn
- Phát triên sản xuất hàng hóa gồm cả nông nghiệp và phi nông nghiệp
tạo điều kiện thực hiện “mỗi làng một nghề”
- Xây dựng đời sống văn hóa
- Xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất tiến bộ, phù hợp
- Nâng cao chất lượng dân chủ cơ sở
Phương châm chính của chương trình: Phát huy cao độ tinh thần sáng
tạo của người dân nông thôn tại từng cộng đồng Người dân tự bàn bạc lực chọn công việc ưu tiên, tự triển khai thực hiện và hưởng lợi Cấp ủy và chính quyền chọn hỗ trợ về tổ chức, về kỹ thuật và nguồn lực
Lấy xã, thôn, ấp làm địa bàn chính để chỉ đạo thực hiện Đổi mới phương pháp tiếp cận từ cơ sở, hỗ trợ của ngân sách nhà nước chủ yếu nhằm
“khuyến khích, thúc đẩy” và được phân phối theo nguyên tắc “hỗ trợ nơi làm tốt”, “hỗ trợ nhiều hơn cho nơi khó khăn” Xây dựng bộ tiêu chí để xác định chuản về làng, xã nông thôn mới Phấn đấu đến năm 2015 sẽ có 20%, tới năm
2020 có 50% xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới
Xây dựng các tổ chức tự chủ ở cấp cộng đồng thôn, bản nhằm huy động quan hệ cộng đồng cổ truyền, làm công tác tổ chức quản lý các hoạt động của chương trinhg, xây dựng các hệ thống hương ước, lệ làng để tham gia quản lý
xã hội và phát triển văn hóa nông thôn
1.1.5 Vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới
Khi tham gia vào quá trình PTNT mới với sự hỗ trợ của Nhà nước, người dân tại các cộng đồng dân cư nông thôn sẽ từng bước được tăng cường
kỹ năng, năng lực về quản lý nhằm tận dụng triệt để các nguồn lực tại chỗ và bên ngoài Khi xem xét quá trình tham gia của người dân trong các hoạt động
PTNT, vai trò của người dân ở đây được thể hiện: “Dân biết, dân bàn, dân
Trang 27đóng góp, dân làm, dân kiểm tra giám sát, dân quản lý, dân hưởng lợi” -
các nội dung ở đây hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Đảng ta là “lấy dân
làm gốc”, trong xây dựng NTM các nội dung vai trò người dân được hiểu:
- Dân biết: Là quyền lợi, nghĩa vụ và sự hiểu biết của người nông dân
về những kiến thức bản địa để có thể đóng góp vào quá trình quy hoạch nông thôn, quá trình khảo sát thiết kế các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn Mặt khác, người dân có điều kiện tham gia hiệu quả hơn vào các giai đoạn sau của quá trình xây dựng công trình, người dân nắm được thông tin đầy đủ về công trình mà họ tham gia như: mục đích xây dựng công trình, các yêu cầu đóng góp từ cộng đồng, trách nhiệm và quyền lợi của cộng đồng người dân được hưởng lợi
- Dân bàn: Bao gồm sự tham gia ý kiến của người dân liên quan đến kế
hoạch phát triển sản xuất, liên quan đến các giải pháp, mọi hoạt động của nông dân trên địa bàn như bàn luận mở ra một hướng sản xuất mới, đầu tư xây dựng công trình phúc lợi công cộng, các giải pháp thiết kế, phương thức khai thác công trình, tổ chức quản lý công trình, các mức đóng góp và các định mức chi tiêu từ các nguồn thu, phương thức quản lý tài chính,… trong nội bộ cộng đồng dân cư hưởng lợi
- Dân đóng góp: là một yếu tố không chỉ ở phạm trù vật chất, tiền bạc
mà còn ở cả phạm trù nhận thức về quyền sở hữu và tính trách nhiệm, tăng tính tự giác của từng người dân trong cộng đồng Hình thức đóng góp có thể bằng tiền, sức lao động, vật tư tại chỗ hoặc đóng góp bằng trí tuệ
- Dân làm: chính là sự tham gia lao động trực tiếp từ người dân vào các
hoạt động PTNT như: đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các hoạt động của các nhóm khuyến nông, khuyến lâm, nhóm tín dụng tiết kiệm và những công việc liên quan đến tổ chức tiếp nhận, quản lý và sử dụng công trình Người dân trực tiếp tham gia vào quá trình cụ thể trong việc lập kế hoạch có sự tham gia
Trang 28cho từng hoạt động thi công, quản lý, duy tu bảo dưỡng, từ những việc tham cho người dân có việc làm, tăng thu nhập cho người dân
- Dân kiểm tra: thông qua các chương trình, hoạt động có sự giám sát và
đánh giá cảu người dân, để thực hiện các quy chế dân chủ cơ sở của Đảng và Nhà nước nói chung và nâng cao hiệu quả chất lượng công trình Ở những công trình
có nhiều bên tham gia, sự kiểm tra, giám sát của cộng đồng hưởng lợi có tác động tích cực trực tiếp đến chất lượng công trình và tính minh bạch trong việc sử dụng các nguồn lực của Nhà nước và của người dân vào xây dựng, quản lý và vận hành công trình Việc kiểm tra có thể được tiến hành ở tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư trên các khía cạnh kỹ thuật cũng như tài chính
Bàn
Làm
Kiểm tra, giám sát
Quản lý,
sử dụng Đóng góp
Trang 29- Dân quản lý: thành quả của các hoạt động mà người dân tham gia: các
công trình sau khi xây dựng xong cần được quản lý trực tiếp của một tổ chức do nông dân hưởng lợi lập ra để tránh tình trạng không rõ ràng về chủ sở hữu công trình Việc tổ chức của người dân tham gia duy tu, bảo dưỡng công trình nhằm nâng cao tuổi thọ và phát huy tối đa hiệu quả trong việc sử dụng công trình
- Dân hưởng lợi: chính là lợi ích mà các hoạt động mang lại, tuy nhiên
cần chia ra các nhóm hưởng lợi ích trực tiếp và nhóm hưởng lợi ích gián tiếp Nhóm hưởng lợi ích trực tiếp là nhóm thụ hưởng các lợi ích từ các hoạt động như thu nhập tăng thêm của năng suất cây trồng do thực hiện thâm canh, tăng
vụ, áp dụng các giống mới, các kỹ thuật tiên tiến, phòng trừ dịch bệnh và các hoạt động tài chính, tín dụng… Nhóm hưởng lợi gián tiếp là nhóm thụ hưởng thành quả của các hoạt động đó, để hưởng lợi từ mức độ cải thiện môi trường sinh thái, học hỏi nhóm hưởng lợi trực tiếp từ các mô hình nhân rộng, mức độ tham gia vào thị trường để tăng thu nhập,…
Vai trò của người dân trong xây dựng NTM được hiểu như trên, và được thể hiện qua các nội dung sau
1.1.5.1 Vai trò của người dân trong quyết định các vấn đề xây dựng NTM
Sự tham gia quyết định các vấn đề xây dựng NTM được thể hiện qua
sự tham gia thành lập BCĐ, các tiểu ban xây dựng NTM thôn xóm; tham gia đóng góp ý kiến lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng NTM; quyết định lựa chọn phát triển vùng sản xuất (sản xuất cái gì, địa điểm xây dựng vùng sản xuất) thông qua hình thức họp, bàn, lấy ý kiến, biểu quyết theo tỷ lệ để lựa chọn các phương án Sự tham gia các lớp tập huấn phát triển sản xuất trên địa bàn…
Đây là nội dung quan trọng nhất và xuyên suốt quá trình xây dựng NTM, được coi như nhân tố quyết định sự thành bại của việc áp dụng phương pháp tiếp cận phát triển dựa vào nội lực và do cộng đồng làm chủ trong xây dựng thí điểm mô hình Từ việc biểu quyết thành lập BCĐ, tiểu ban NTM tại
Trang 30địa phương đến ý kiến lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng NTM của người dân thể hiện sự hiểu biết, bàn bạc, hành động (làm), quyết định của nhân dân
Sau khi đã họp, thảo luận, bàn bạc, khi triển khai, người dân quyết định cái
gì làm trước, cái gì làm sau, phù hợp với nguồn lực của chính họ, phù hợp với nguồn lực của địa phương và của Trung ương hỗ trợ cho họ để đạt hiệu quả nhất
1.1.5.2 Vai trò đóng góp nguồn lực cho xây dựng NTM
Phương châm xây dựng NTM là “Nhân dân làm, Nhà nước hỗ trợ”, do
đó, để thực hiện thành công xây dựng NTM, các địa phương cần làm tốt công tác huy động mọi nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực từ cộng đồng dân cư Nguồn lực xây dựng NTM bao gồm: nguồn vốn tiền mặt, hiện vật (vật liệu xây dựng), ngày công lao động, hiến đất… vốn tài trợ khác (tranh thủ sự ủng
hộ của con em thành đạt hướng về quê hương) để thực hiện các hoạt động xây dựng NTM Đây là sự thể hiện ở phạm trù vật chất lẫn phạm trù nhận thức về quyền sở hữu và tính trách nhiệm, tự giác của người dân
Trong xây dựng NTM, công trình nào mà người dân làm được thì để người dân làm, không phải tất cả các công trình đều phải thuê Làm như vậy vừa tăng thu nhập cho người dân, đồng thời để họ có thể đóng góp sức lực cho công cuộc xây dựng NTM thông qua việc xây dựng, cải tạo nâng cấp công trình đó Đồng thời, để người dân phải thực sự hiểu được, thấy được là họ làm cho chính mình, thực hiện theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, tự đóng góp, đầu tư nâng cao hiệu quả các công trình, các hoạt động trong xây dựng NTM để từng bước nâng cao đời sống của chính gia đình mình và làm giàu
1.1.5.3 Vai trò trong kiểm tra, giám sát các công trình xây dựng NTM
Vai trò của nhân dân trong việc kiểm tra, giám sát trong quá trình triển khai thực hiện xây dựng NTM thể hiện: kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch, quản lý và sử dụng các nguồn đầu tư, nguồn thu từ cộng đồng, các dự
án đầu tư vào cộng đồng, các công trình nhân dân đóng góp kinh phí; hay sự
Trang 31tham gia lao động trực tiếp, số ngày công kiểm tra thực tế vào các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng, các hoạt động của tổ, nhóm khuyến nông,… thông qua hoạt động của các ban thanh tra nhân dân hay ban giám sát cộng đồng
Thông qua việc kiểm tra, giám sát thể hiện vai trò của người dân trong xây dựng NTM đồng thời đảm bảo được chất lượng các công trình, các hoạt động của xây dựng NTM từ đó nâng cao chất lượng phục vụ của các công trình NTM, nâng cao thời gian hưởng lợi cho cộng đồng dân cư
1.1.5.4 Vai trò nghiệm thu, quản lý, khai thác sử dụng công trình xây dựng NTM
Nghiệm thu có nghiệm thu từng phần, từng giai đoạn và nghiệm thu tổng thể; được thể hiện qua biên bản có sự ký kết của các thành phần tham gia, trong đó có sự tham gia của người dân (ban thanh tra nhân dân, ban giám sát cộng đồng) Số lần nghiệm thu ở các hoạt động khác nhau cũng khác nhau,
để tham gia nghiệm thu được đòi hỏi cả quá trình tham gia lao động thực tế của người dân Sau nghiệm thu tổng thể, người dân tiếp nhận quản lý và khai thác sử dụng để phục vụ cho chính nhu cầu của họ Vừa khai thác vừa quản lý đồng thời nâng cao vai trò của người dân, để họ thấy rằng mình thực sự rất quan trọng trong các hoạt động phát triển của địa phương, từ đó tăng tính trách nhiệm của người dân mà lại nâng cao tuổi thọ cho các công trình
1.1.5.5 Vai trò của người dân trong việc bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên
Tốc độ phát triển CNH, ĐTH, khai thác tài nguyên và phát triển làng nghề
đã làm cho vấn đề ô nhiễm môi trường vùng NN - NT ngày càng cấp bách, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, đang triển khai thực hiện Chương trình xây dựng NTM Những năm gần đây, tình hình thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống kinh tế của người dân mà phần lớn là nông dân Nhiều vùng nông thôn bị ô nhiễm vượt quá mức cho phép nhiều lần, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí, ô nhiễm hữu cơ trên các vùng mà nguyên nhân chính là do chất thải sinh hoạt, chăn nuôi, chất thải sản xuất, đặc biệt tại các
Trang 32làng nghề… Để xây dựng thành công NTM cần gắn quy hoạch phát triển KT -
XH với bảo vệ tài nguyên môi trường
Để thực hiện thành công tiêu chí môi trường, cần thực hiện có hiệu quả quy hoạch bảo vệ môi trường; khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn, cải tạo, nâng cấp, xây dựng các công trình bảo vệ môi trường vùn NN -
NT, tăng cường năng lực quản lý môi trường cấp huyện, xã để bảo vệ môi trường; đặc biệt đẩy mạnh thông tin tuyên truyền, nâng cao nhận thức và sự tham gia của cộng đồng dân cư trong các hoạt động cải thiện và bảo vệ môi trường NN - NT, thông qua các hoạt động quét dọn đường làng, ngõ xóm; không thả gia súc, gia cầm trên đường làng, không phơi rơm rạ trên trục đường giao thôn liên xã, không xả rác bừa bãi, phân loại rác thải… Trong xây dựng NTM, từng người dân tự giác chỉnh trang nhà cửa, sân vường, cổng ngõ của từng nhà theo quy hoạch chung của xã, đóng góp cho văn minh sạch đẹp của làng, xã từ chính nhà mình, tránh tư tưởng sạch trong nhà, ngoài ngõ bẩn hay ngược lại
1.1.6 Quan điểm nâng cao vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới
PTNT mới được thực hiện trên cơ sở động viên toàn thể nhân dân, phát huy nội lực theo phương châm: dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý, dân hưởng lợi Bên cạnh đó, cần được sự hỗ trợ tích cực, có hiệu quả từ các ngành, các cấp từ trung ương đến địa phương về vốn,
kỹ thuật và cơ chế chính sách
Nâng cao vai trò của người dân là nâng cao thể chế quản lý, tự quản của cộng đồng người dân như xây dựng và thực hiện các hương ước, quy ước, nội quy,… Phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ và tổ chức tôn giáo tại địa phương; thực hiện đoàn kết trong toàn dân, xây dựng các mối quan hệ tình làng nghĩa xóm Phát huy tinh thần thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ nhau trong phát triển kinh tế, phòng chống và đấu tranh chống lại các
Trang 33tệ nạn xã hội; Đào tạo việc làm và thực hiện các dự án phát triển, cũng như việc vận hành và bảo dưỡng các công trình cơ sở hạ tầng nông thôn quy mô nhỏ; Quản lý, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; Hình thành các tổ nhóm tiết kiệm, tín dụng nông thôn
Việc xây dựng mô hình NTM dựa vào nội lực và do người dân làm chủ
và xuất phát từ:
- Nhu cầu thực tế đòi hỏi phải có mô hình PTNT
- Các bài học, những mô hình thành công trong và ngoài nước
- Các nguyên tắc cơ bản phát triển dựa vào nội lực và do người dân làm chủ Tinh thần chỉ đạo của Trung ương: “người dân địa phương chịu trách nhiệm chính, thực hiện việc xây dựng và phát triển, Trung ương, tỉnh, huyện và các đơn vị tư vấn, hỗ trợ và thúc đẩy”
Như trên, lực lượng tham gia vào hệ thống PTNT được chia ra làm 2 cấp: cấp được hỗ trợ từ trên xuống hay từ bên ngoài cộng đồng dân cư và cấp thực hiện là các cộng đồng dân cư (làng, bản, thôn, xóm) mà người dân tại đó là tác nhân chính của quá trình PTNT Vai trò của cấp hỗ trợ là xây dựng khung pháp
lý, hoạch định chính sách hỗ trợ cho PTNT, hỗ trợ về phương pháp PTNT và chuyển giao khoa học kỹ thuật tiên tiến, cung cấp thông tin phù hợp, kịp thời, để
hỗ trợ người dân nông thôn, khơi dậy và phát huy nội lực của người dân để họ có
đủ tự tin, năng lực tận dụng cơ hội phát triển, sử dụng nguồn hỗ trợ tài chính cho các hoạt động phát triển một cách có hiệu quả Cấp xã đóng vai trò cầu nối và là điểm giao thoa của các hỗ trợ từ trên xuống và phản ánh các nhu cầu về phát triển từ cộng đồng dân cư lên cấp hỗ trợ Vai trò của cán bộ phát triển là tư vấn:
tư vấn mục tiêu phát triển, tư vấn kế hoạch xây dựng phát triển, tư vấn phương pháp thực hiện… Ngược lại, người dân có thể phản hồi lại những nhu cầu, hiểu biết về địa phương để xây dựng kế hoạch PTNT tại địa phương phù hợp nhất
Trang 34Hình 1.3: Các lực lượng chính tham gia vào hệ thống PTNT
Người dân tại cộng đồng nông thôn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong các hoạt động PTNT Họ là người có nhu cầu nhưng không có điều kiện đáp ứng nhu cầu, là người phản ánh nhu cầu cần có sự hỗ trợ nhưng lại là người thực hiện, đánh giá, hưởng lợi… Do đó, cần thay đổi tư duy về PTNT
từ trong nhận thức, cách nghĩ và hoạt động PTNT trong tư tưởng người dân, hoạt động PTNT được khởi xướng và bắt đầu từ người dân, do dân đề xuất, thực hiện, nhân tố bên ngoài chỉ đóng vai trò hỗ trợ, tư vấn khi cần thiết để hoạt động PTNT mang lại hiệu quả thiết thực và bền vững
Cơ quan
tư vấn Cấp xã: Vai trò cầu nối
Trang 35Hình 1.4: Tam giác phối kết hợp 3 nguồn lực trong phát triển nông thôn
Nâng cao vai trò của người dân trong sự nghiệp CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó nông dân là một lực lượng sản xuất, là lực lượng lớn gìn giữ, bảo lưu và phát triển nền văn hóa dân tộc Với vai trò đó, nông dân là người trực tiếp than gia, đồng thời là đối tượng trực tiếp thụ hưởng thành quả Phát huy vai trò của người dân là “một quá trình động”, các yếu tố quyết định quá trình đó không thể tách rời sự quản
lý của Nhà nước
1.1.7 Những yếu tố tác động đến vai trò của người dân trong xây dựng NTM
Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của người dân trong xây dựng NTM theo các mức độ khác nhau, có yếu tố ảnh hưởng nhiều, có yếu tố ảnh hưởng
ít Sau đây là một số yếu tố chủ yếu ảnh hưởng tới vai trò của người dân trong xây dựng NTM:
Công tác tuyên truyền về xây dựng NTM
Công tác tuyên truyền về xây dựng NTM là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong việc tổ chức thực hiện chương trình, là nhiệm vụ của các cấp, các ngành từ trung ương tới cơ sở Vì vậy cần phải thống nhất xây dựng nội dung
2 Cơ chế, chính sách của Nhà
nước; Chính quyền địa phương
3 Hỗ trợ từ các tổ chức bên ngoài (kinh tế, chính trị, xã hội)
1 Động lực của người dân trong cộng đồng nông thôn
Trang 36tuyên truyền sâu rộng, thường xuyên, liên tục trên cơ sở bám sát mục tiêu, nhiệm vụ, nguyên tắc, nội dung xây dựng NTM và tình hình, kết quả, nhiệm
vụ, giải pháp thực hiện chương trình
Cần tuyên truyền để mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu về tầm quan trọng của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM; hiểu nội dung, phương pháp, cách làm, nghĩa vụ và trách nhiệm trong việc xây dựng NTM để tạo ra phong trào thi đua sâu rộng, sôi nổi trong xã hội, để cộng đồng chủ động hơn trong việc tham gia thực hiện chương trình; xóa bỏ tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào Nhà nước trong xây dựng NTM
Trình độ dân trí - nhận thức của người dân về vai trò của mình
trong xây dựng NTM
Đây là yếu tố được đánh giá là có ảnh hưởng lớn tới sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng NTM Bộ phận người dân vẫn còn tâm lý ỷ lại, trông chờ, coi xây dựng NTM là nhiệm vụ của chính quyền địa phương, của cán bộ, đảng viên… Đây là tâm lý chung của đại bộ phận người dân nông thôn, đặc biệt ở những vùng kinh tế chậm phát triển, vùng sâu, vùng xa
Hoạt động xây dựng NTM diễn ra và thu được kết quả là các công trình xây dựng, các tổ nhóm khuyến nông… tạo lợi ích cho mọi người dân nhưng
để thu hút toàn bộ người dân vào suốt quá trình hoạt động vẫn rất khó khăn
Điều kiện về kinh tế của địa phương, của người dân địa phương
Đối với những vùng kinh tế phát triển thì thu nhập của người dân cũng như trình độ dân trí sẽ cao hơn những vùng kinh tế kém phát triển Khi thực hiện một chương trình phát triển nhằm thúc đẩy kinh tế địa phương thì khả năng thu hút được sự tham gia của người dân cũng cao hơn do nhận thức, trình độ nên họ ý thức được ý nghĩa của các chương trình phát triển Do vậy, khi thực hiện chương trình xây dựng NTM tại những nơi có điều kiện kinh tế phát triển hơn thì thu hút được đông đảo sự tham gia của người dân hơn, vai
Trang 37trò của người dân ở những nơi này cũng được phát huy hơn so với những vùng kém phát triển
Tính minh bạch, dân chủ, công khai trong xây dựng NTM
Xây dựng NTM là một chương trình tổng thể về PTNT, bao gồm nhiều hoạt động từ xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển vùng sản xuất, phát triển hệ thống giáo dục, y tế, hệ thống chính trị… Để thực hiện được những hoạt động
đó đòi hỏi một nguồn lực tổng thể của toàn xã hội, trong đó nguồn lực cộng đồng giữ vai trò chủ yếu, nguồn lực từ Nhà nước chỉ đóng vai trò hỗ trợ, là động lực để kêu gọi, thu hút các nguồn lực khác trong xã hội Chính vì thế, vấn đề minh bạch, dân chủ, công khai trong việc thu hút, quản lý và sử dụng các nguồn lực đó vào công cuộc xây dựng NTM có ý nghĩa vô cùng quan trọng Ở đâu, địa phương nào mà sự minh bạch, dân chủ, công khai càng rõ ràng thì ở đó sự tham gia của cộng đồng càng lớn và tạo được niềm tin trong nhân dân và ngược lại
1.2.1.1 Xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc
Trung Quốc xuất phát từ một nước nông nghiệp, đại bộ phận người lao động sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp Nên cải cách kinh tế ở nông thôn là một khâu đột phá quan trọng trong cuộc cải cách kinh tế ở Trung Quốc
Ngay trong năm 1978, Trung Quốc đã quyết định xoá bỏ chế độ phân phối bình quân ở nông thôn, thực hiện nguyên tắc "làm hết năng lực, phân
Trang 38phối theo lao động", tăng cường quản lý định mức, trả thù lao cho người lao động căn cứ vào số lượng và chất lượng công việc hoàn thành
Từ năm 1980, Trung quốc bắt đầu thí điểm khoán sản lượng đến hộ và khoán toàn bộ đến hộ gia đình nông dân Đến năm 1982 các biện pháp này mới chính thức được thực hiện trên toàn quốc
Đến cuối năm 1984 đã có 98,2% số thôn; 96,3% số hộ và 98,6% đất canh tác trong cả nước thực hiện phương pháp khoán sản lượng đến hộ hoặc khoán toàn bộ đến hộ Việc giải phóng năng lực sản xuất cho hàng trăm triệu
hộ nông dân đã mang lại bước nhảy vọt trong kinh tế nông thôn Trung Quốc với tỷ lệ tăng trưởng bình quân của giá trị tổng sản lượng nông nghiệp là 11,5%/năm trong giai đoạn 1980 - 1985, cao gấp 3,5 lần tốc độ bình quân đạt được trong giai đoạn 1953 - 1980
Cho đến nay, tháng 3/2009 Trung ương Đảng Cộng sản và Quốc vụ viện Trung Quốc công bố Bản “tài liệu số 1” Trung Quốc quyết tâm giải quyết vấn đề nông thôn; chủ trương xây dựng “Nông thôn mới xã hội chủ nghĩa” là nhiệm vụ chính của kế hoạch 5 năm 2009 – 2010 Nội dung đề cập những chiến lược cơ bản trong đó chú trọng đến “Điều chỉnh mối quan hệ trong phân phối thu nhập, quy phạm, trật tự phân phối: thu nhập, tăng thu nhập cho tầng lớp người có mức sống trung bình và thấp Hưng chấn kiên trì “Cho nhiều, lấy ít, nuôi sống” đặc biệt là áp dụng nhiều biện pháp trong việc “cho nhiều” đối với nông dân; đồng thời đưa ra các giải pháp nhiều mặt về xây dựng nông thôn, vấn đề xã hội và dân chủ, khác với tài liệu các năm trước nói đến các vấn đề riêng biệt như sản xuất lương thực, thu nhập nông dân và khả năng sản xuất nông nghiệp Việc phát
triển kinh tế và xã hội của Trung Quốc đã vào một thời kỳ mới (TC Nông thôn
mới, Đào Thế Tuấn, số 175 + 176, tháng 5/2006, tr 53-54)
1.2.1.2 Xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc
Hàn Quốc là nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề, năm 1954 thực hiện
Trang 39cải cách ruộng đất, nền nông nghiệp ngày càng phát triển và biến đổi sâu sắc đạt được những thành tựu trong phát triển nông thôn, là những kinh nghiệm
và bài học sâu sắc cho nhiều nước nông nghiệp trên thế giới
Hàn Quốc đưa ra chương trình xây dựng phong trào “làng mới”, chú trọng vào vấn đề lấy người dân làm trọng tâm của cuộc vận động phát triển nông thôn, giúp họ có niềm tin và huy động được toàn bộ năng lực của mình
Tổ chức chương trình “làng mới” thành lập một hệ thống phát triển nông thôn chặt chẽ từ trung ương đến cơ sở Mỗi làng bầu ra từ 5 đến 10 người lập thành “Ủy ban Phát triển làng mới” để vạch kế hoạch và tiến hành dự án phát triển nông thôn
Với nguyên tắc cơ bản của chương trình là: “Nhà nước hỗ trợ vật tư, nhân dân đóng góp công của Nhân dân quyết định loại công trình nào ưu tiên xây dựng và chịu trách nhiệm quyết định toàn bộ thiết kế, chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình.” Nội dung thực hiện bao gồm các bước:
Bước 1, phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng nông
thôn (ngói hóa nhà ở, lắp đặt hệ thống thông tin…
phục vụ đời sống và sinh hoạt của nông dân)
Bước 2, Thực hiện các dự án nhằm tăng thu nhập cho nông dân (thúc
đẩy hợp tác sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, xây dựng các vùng chuyên canh, tăng năng suất cây trồng…)
Những kết quả đạt được, 12 loại dự án mở rộng đường nông thôn, thay mái lá cho nhà ở, lắp đặt cống và máy bơm, xây dựng các trạm giặt công cộng cho làng và sân chơi cho trẻ em bắt đầu được tiến hành
Sau 8 năm thực hiện, từ năm 1971-1978 tốc độ phát triển nông nghiệp tăng 6,9%; 3/5 đất hoang được nông hộ khai thác sử dụng có hiệu quả cao; toàn bộ nhà nông thôn được hóa ngói Sau 20 năm đã có 84% rừng được trồng trong phong trào phát triển làng mới Sau 6 năm thực hiện, thu nhập trung
Trang 40bình hộ tăng gấp 3 lần từ 1025 USD năm1972 lên 2061 USD năm1977 và thu nhập các hộ nông thôn cao tương đương với các hộ của thành phố
1.2.1.3 Phát triển nông thôn ở Đài Loan
Đài Loan là một nước thuần nông nghiệp Từ năm 1949 – 1953 bắt đầu thực hiện sách lược “lấy nông nghiệp nuôi công nghiệp, lấy công nghiệp phát triển nông nghiệp”
Bên cạnh đó Đài Loan đã xây dựng các chương trình phát triển kinh tế nông nghiệp được Chính phủ thực hiện như “Chương trình phát triển nông thôn tăng tốc”, “Tăng thu nhập của nông trại và tăng cường chương trình tái cấu trúc nông thôn”, “Chương trình cải cách giai đoạn II” Các chương trình này được cụ thể hóa bởi các nội dung:
- Cải cách ruộng đất
- Tập huấn các nông dân hạt nhân
- Mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp
- Tín dụng nông nghiệp
- Quy hoạch và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên
- Đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao công nghệ mới
- Chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế
- Tăng thêm phúc lợi cho nông dân
1.2.2 Kinh nghiệm từ xây dựng mô hình thí điểm NTM ở Việt Nam
- Đề án xây dựng NTM của Bộ
Đề án xây dựng NTM của Bộ thể hiện qua Bộ tiêu chí NTM gồm 19 tiêu chí, được chia ra các nhóm tiêu chí (TC) sau:
+ Nhóm TC quy hoạch (TC số 1) bao gồm: quy hoạch sử dụng đất và
hạ tầng thiết yếu cho sản xuất nông nghiệp hàng hóa, CN - TTCN, dịch vụ; quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường; quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp…