Cho đến nay, cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thônchuyển dịch còn chậm; việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong sảnxuất còn nhiều hạn chế; khả năng cạnh tranh của hàng hóa nông
Trang 1Trờng đại học nông nghiệp hà nội
Khoa kinh tế & ptnt
= = = = = = = =
ơ
luận văn tốt nghiệp
Đề tài:
“ Nõng cao vai trũ của người dõn trong Chương trỡnh 135
ở huyện Như Thanh - tỉnh Thanh Hoỏ”
Giáo viên hớng dẫn : Pgs.ts quyền đình hà
Sinh viên thực hiện : Nguyễn văn dũng
Hà nội – 2008 2008
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn làtrung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõnguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Dũng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tôi đã được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể và cá nhân Nhân đây tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến:
UBND huyện, UBND xã Thanh kỳ, Xuân Thọ, Xuân Thái cùng tập thể phòng Dân tộc huyện Như Thanh đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu tại cơ sở.
Bà con trong ba xã Thanh Kỳ, Xuân Thái, Xuân Thọ của huyện Như Thanh đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn.
Tập thể các thầy, cô giáo trong Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn
đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới thầy giáo PGS.TS.Quyền Đình Hà người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
-Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè đã chia sẻ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình.
Một lần nữa tôi xin chân thành cám ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu của các tập thể và cá nhân đã dành cho tôi.
Tác giả luận văn
Nguyễn văn Dũng
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU 2
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 5
1.2.1 Mục tiêu chung 5
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 5
1.3 Đối tượng nghiên cứu 6
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 6
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 6
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 7
2.1 Cơ sở lý luận 7
2.1.1 Các khái niện cơ bản 7
2.1.2 Đặc điểm và vai trò của chương trình phát triển kinh tế - xã hội miền núi… 6
2.1.3 Phương pháp tiếp cận trong các chương trình phát triển nông thôn 13
2.1.4 Một số đặc điểm của người dân miền núi 15
2.1.5 Vai trò của người dân trong các chương trình phát triển kinh tế xã hội 16
2.1.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc phát huy vai trò của người dân 19
2.2 Cơ sở thực tiễn 21
2.2.1 Khái quát về chương trình 135 21
2.2.2 Một số kết quả và kinh nghiệm nâng cao vai trò của người dân trong chương trình 135 ở một số địa phương 25
2.2.3 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong việc nâng cao vai trò của người dân trong các dự án phát triển 28
PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 35
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 35
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 40
3.1.3 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện Như Thanh 44
3.2 Phương pháp nghiên cứu 47
3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 47
Trang 53.2.2 Điều tra thu thập số liệu 47
3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 47
3.2.4 Phương pháp phân tích 47
3.2.5 Phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân (PRA) 47
3.2.6 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 48
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 49
4.1 Giới thiệu chung về chương trình 135 ở huyện Như Thanh 49
4.1.1 Nội dung chương trình 135 ở huyện 49
4.1.2 Một số kết quả đạt được từ chương trình 135 của huyện Như Thanh 50
4.2 Một số khó khăn và hạn chế của chương trình 55
4.2.1 Một số khó khăn và hạn chế của Chương trình 55
4.2.2 Các nguyên nhân chính 56
4.3 Vai trò của người dân trong Chương trình 135 58
4.3.1 Đặc điểm vai trò của người dân trong CT-135 58
4.3.2 Vai trò của người dân trong Chương trình 135 tại huyện Như Thanh 62
4.4 Một số khó khăn và hạn chế đến vai trò của người dân đến vai trò của người dân trong chương trình 135 tại huyện Như Thanh 81
4.4.1 Một số khó khăn của chương trình 81
4.4.2 Nguyên nhân hạn chế việc nâng cao vai trò của người dân 82
4.5 Đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của người dân .84
4.5.1 Định hướng nhằm nâng cao vai trò của người dân 84
4.5.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của người dân trong CT-135 tại huyện Như Thanh 85
PHẦN V: KẾT LUẬN 89
5.1 Kết luận 89
5.2 Kiến nghị 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC……… 95
Trang 6GTNT Giao thông nông thôn
HĐND Hội đồng dân nhân
Trang 7DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
Bảng 3.1: Tình hình khí hậu thời tiết huyện Nh Thanh 2006 35
Bảng 3.2: Tỡnh hỡnh phõn bổ và sử dụng đất của huyện qua 3 năm 38
Bảng 3.3: Tình hình dân số và lao động của huyện qua 3 năm 41
Bảng 3.4: Kết quả sản xuất nụng nghiệp của huyện qua 3 năm 44
Bảng 4.1: Kết phõn bổ vốn của hạng mục thuộc CT-135 50
Bảng 4.2: Tỷ lệ người tham gia của người dõn trong CT-135 52
Bảng 4.3: Kết quả đào tạo và tập huấn cỏn bộ cơ sở 53
Bảng 4.4: Một số chỉ tiờu kinh tế - xó hội của 3 xó nghiờn cứu 61
Bảng 4.5: Người dõn tham gia lập kế hoạch và quy chế hoạt động 64
Bảng 4.6: Tổng hợp Chương trỡnh 135 thực hiện tại ba xó 66
Bảng 4.7: Người dõn tham gia lao động xõy dựng cụng trỡnh 69
Bảng 4.8: Đúng gúp xõy dựng cụng trỡnh bằng vật liệu của người dõn 71
Bảng 4.9: Tổng hợp cụng trỡnh người dõn thực hiện thụng qua cỏc đoàn thể 73
Bảng 4.10: Quy ước quản lý, bảo vệ cụng tỡnh 135 tại ba xó nghiờn cứu 80
Sơ đồ 2.1: Phương phỏp tiếp cận thuyền thống 12 Sơ đồ 2.2 : Phương phỏp tiếp cận từ dưới lờn 13
Sơ đồ 2.3: Mụ tả vai trũ của người dõn trong cỏc hoạt động 17
Sơ đồ 4.4: Cõy mục tiờu nhằm phỏt triển bền vững KT – XH miền nỳi thụng qua việc nõng cao vai trũ của người dõn 60
Sơ đồ 4.5: Sơ đồ tổ chức giỏm sỏt cụng trỡnh 135 76
Sơ đồ 4.6: Cõy vấn đề nguyờn nhõn hạn chế vai trũ của người dõn 84
Sơ đồ 4.7: Cõy vấn đề nõng cao vai trũ của người dõn tại huyện Như Thanh 87
Trang 8PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông thôn (bao gồm cả miền núi) đang giữ một vị trí chiến lược hết sứcquan trọng trong quá trình phát triển KT-XH của nước ta Hiện nay nông thônvẫn chiếm phần lớn dân số và diện tích của cả nước và kinh tế nông nghiệp đangđóng góp khoảng 24% tổng thu nhập quốc dân, 30% giá trị xuất khẩu
Xuất phát từ vị trí chiến lược của nông thôn và miền núi, trong quátrình đổi mới và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước chủ trương đẩy mạnhCNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nôngnghiệp, nông thôn và nông dân, trong đó trọng tâm là chăm lo đời sống củangười nông dân Vì vậy, Đảng và Nhà nước đã có nhiều nỗ lực huy động cho
sự phát triển của nông thôn và miền núi, như nguồn lực về vốn, phương tiệnvật chất - kỹ thuật, đặc biệt là việc phát huy nguồn lực con người Đối vớimiền núi, Đảng và Nhà nước đã triển khai thực hiện nhiều chương trình pháttriển KT-XH như: Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg về Phê duyệt chươngtrình phát triển KT-XH các xã miền núi và vùng sâu, vùng xa; Nghị quyết số37-NQ/TW về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốcphòng, an ninh vùng trung du miền núi Bắc Bộ đến năm 2010; việc triển khaithực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia như: chương trình xoá đói giảmnghèo, chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn Nhữngquyết sách hết sức sáng suốt đó đã mở đường cho sự phát triển vượt bậc, khátoàn diện của nông nghiệp và nông thôn Việt Nam trong những năm qua, mànổi bật là sự tăng trưởng liên tục với nhịp độ cao về sản xuất lương thực vàxuất khẩu gạo Thành tựu về phát triển nông nghiệp đã góp phần quan trọngtạo nên thành tựu chung của công cuộc đổi mới, sự ổn định và phát triển kinh
tế - xã hội của Việt Nam
Trang 9Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam đã là thành viên của Tổ chứcThương mại thế giới (WTO), thì nông nghiệp và nông thôn còn phải phấn đấuvươn lên rất nhiều Cho đến nay, cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thônchuyển dịch còn chậm; việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong sảnxuất còn nhiều hạn chế; khả năng cạnh tranh của hàng hóa nông sản yếu; côngnghiệp chế biến và ngành nghề kém phát triển; lao động ở nông thôn dư thừanhiều; cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống ở một số vùng còn rất thấp;tiềm năng về đất đai, rừng, biển nhiều vùng chưa được khai thác có hiệu quả;đời sống của một bộ phận nông dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa còn nhiềukhó khăn Quá trình CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn cho đến nay đang ởgiai đoạn đầu.
Có nhiều nguyên nhân để chúng ta đạt được những thành tựu và nhữnghạn chế trong việc triển khai thực hiện các chương trình phát triển KT-XH ởnông thôn và miền núi Nhưng nguyên nhân sâu xa là việc phát huy nhưngyếu tố thuộc về việc phát huy nội lực của từng địa phương, trong đó đặc biệt
là việc xác định và nâng cao được vai trò của người dân tại địa phương Quántriệt các quan điểm của Đảng ta và tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trongviệc triển khai thực hiện các chương trình phát triển KT-XH, đặc biệt là pháthuy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, đây là vấn đề chiến lược của cáchmạng trong giai đoạn đẩy mạnh CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn
Huyện Như Thanh là một huyện miền núi của tỉnh Thanh Hoá, thựchiện đường lối đổi mới của Đảng, các cấp bộ Đảng, chính quyền và nhân dântrong huyện đã có nhiều cố gắng và đã đạt được những kết quả quan trọng.Kinh tế duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúnghướng Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được quan tâm đầu tư xây dựng; bộmặt nông thôn đã có nhiều đổi mới Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có chuyểnbiến tích cực, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước đượcnâng lên Trong quá trình thực hiện các chương trình, dự án phát triển KT-XHcủa huyện, vai trò của người dân địa phương rất quan trọng, nhất là việc
Trang 10người dân cùng tham gia vào góp vốn, tham gia xây dựng, quản lý, sử dụng
và bảo vệ Nhờ vậy mà các công trình được sử dụng một cách có hiệu quả vàlâu dài Tuy nhiên, cho đến nay Như Thanh vẫn còn là một huyện nghèo Tốc
độ tăng trưởng kinh tế chưa đạt kế hoạch đề ra; nhiều chỉ tiêu trên bình quânđầu người còn thấp Chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm; hiệu quả sản xuất,khả năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa còn thấp; chưa phát huy được lợithế về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý và nhất là nguồn lực con người để pháttriển nhanh và bền vững Sự phát triển giữa các xã trong huyện còn có sựchênh lệch lớn, nhiều xã miền núi vẫn còn nhiều khó khăn
Để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng cao và phát triển bền vững, huyệnNhư Thanh phải tiếp tục nâng cao vai trò của người dân trong việc thực hiệncác chương trình, dự án phát triển KT-XH của huyện Đó là điều kiện để thựchiện các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước trên địa bàn huyệnmột cách đúng đắn, hiệu quả và thiết thực
Xuất phát từ thực tế đó mà chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nâng cao vai trò của người dân trong chương trình 135 ở huyện Như
Thanh - tỉnh Thanh Hoá”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
- Đánh giá và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò củangười dân trong các dự án thuộc chương trình 135 tại huyện Như Thanh -Tỉnh Thanh Hoá
Trang 11- Đề xuất một giải pháp nhằm nâng cao vai trò của người dân đối vớiChương trình 135 trên địa bàn huyện Như Thanh trong thời gian tới.
1.3 Đối tượng nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai tròcủa người dân thông qua các hoạt động trong chương trình 135 tại huyện NhưThanh
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu vai trò của người dân trongchương trình 135, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của ngườidân trong chương trình
- Thời gian: 18/1/2008 đến 30/4/2008
Về không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn huyện Như Thanh tỉnh Thanh Hoá
Trang 12-PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Các khái niện cơ bản
* Nông thôn và phát triển nông thôn
Xây dựng và phát triển nông thôn là một vấn đề phức tạp và rộng lớn,liên quan đến các mặt như khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và khoa học
xã hội
- Nông thôn: Là một khái niệm dùng để chỉ những khu vực dân cư sinhsống có hoạt động nông nghiệp, dựa trên hoạt động nông nghiệp Thích ứngvới hoạt động nông nghiệp là kiểu tổ chức sinh hoạt quần cư của người dândưới hình thức đặc thù theo bản, làng, phun, sóc…[1]
- Phát triển nông thôn: Được quan niệm khác nhau ở từng nước, ngàynay đã có một khái niệm phát triển nông thôn tương đối thống nhất về ý tưởngcủa Ngân hàng thế giới: “ Phát triển nông thôn là một chiến lược được vạch ranhằm cải thiện đời sống kinh tế và xã hội của một nhóm người riêng biệt,người nghèo ở nông thôn Nó đòi hỏi phải mở rộng lợi ích của sự phát triểnvới những người nghèo nhất trong số những người đang tìm kế sinh nhai ởcác vùng nông thôn Nhóm này gồm những tiểu nông, tá điền và những ngườikhông có đất ” [2]
* Tăng trưởng và phát triển
- Tăng trưởng là sự gia tăng về quy mô (quy mô sản xuất, quy mô sảnphẩm xã hội…) hay trong lĩnh vực kinh tế là sự tăng thêm về tổng sản phẩmquốc nội (GDP) hay tổng thu nhập quốc dân (GNP) [2]
- Phát triển là quá trình thay đổi liên tục làm tăng mức sống của conngười, phân phối công bằng những thành quả đạt được và nâng cao giá trị
Trang 13cuộc sống Như vậy phát triển bao hàm: Tăng trưởng kinh tế để tăng mứcsống vật chất và tinh thần của con người; thay đổi cơ cấu kinh tế xã hội,hướng tới cơ cấu kinh tế xã hội tiến bộ; phân phối công bằng thu nhập quốcdân cho mọi người; nâng cao giá trị cuộc sống, gia đình, niềm tin, tự do, côngbằng xã hội, bình đẳng [2]
* Khái niệm về dự án phát triển nông thôn
- Dự án: Theo nghĩa chung nhất là tập hợp các hoạt động qua lại để bốtrí sử dụng các nguồn lực khan hiếm, nhằm tạo ra sản phẩm hay dịch vụ,trong thời gian xác định nhằm thoã mãn mục tiêu nhất định và đầu tư một lần
có tác dụng lâu dài Dự án bao gồm đầu vào (kinh phí, thời gian, nhân lực, vậtlực…), các hoạt động dự án được thực hiện trong môi trường (tự nhiên, xãhội, chính trị và kinh tế), các đầu ra (sản phẩm và dịch vụ) để thoả mãn nhucầu mong muốn Tuỳ theo mục đích, dự án có thể chia thành 3 loại: Dự ánđầu tư kinh doanh; dự án nghiên cứu; dự án phát triển [3]
2.1.2 Đặc điểm và vai trò của chương trình phát triển kinh tế - xã hội miền núi
2.1.2.1 Đặc điểm của chương trình phát triển kinh tế - xã hội miền núi
* Đặc điểm của chương trình phát triển kinh tế - xã hôi
Trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước, nông thôn Việt Nam
có một chiến lược quan trọng thể hiện qua các mặt: Nông thôn là địa bàn sảnxuất những sản phẩm thiết yếu (hiện nay nông nghiệp chiếm khoảng 24%tổng thu nhập quốc dân, 30% giá trị xuất khẩu); khu vực nông thôn bao gồm75% dân cư, gần 70% lực lượng lao động xã hội, là nguồn cung cấp lao độngcho nghành công nghiệp và dịch vụ, là thị trường rộng lớn cho nghành côngnghiệp; nông thôn nước ta có 54 dân tộc khác nhau gồm nhiều tầng lớp Mỗi
sự biến động nhỏ ở nông thôn sẽ gây ra tác động mạnh đến tình hình kinh tế,chính trị, xã hội của một nước Ổn định nông thôn đảm bảo đảm bảo ổn địnhtình hình đất nước Do đó mà các chương trình phát triển kinh tế - xã hội củamiền núi đều có một số đặc điểm như sau:
Trang 14- Nhằm giải quyết các vấn đề phát triển với 3 mục tiêu đan xen nhau đólà: Mục tiêu kinh tế, mục tiêu xã hội, mục tiêu môi trường.
- Nông thôn là đối tượng chính của quá trình phát triển
- Sự thành công của dự án phụ thuộc vào môi trường tự nhiên, kinh tế,
xã hội của người hưởng lợi
- Dự án phát triển nông thôn có nhiều rủi ro Khó hình thành chỉ sốgiám sát
- Dự án phàt triển nông thôn là dự án lồng ghép đa mục tiêu
- Cộng đồng nông thôn vừa là người xây dựng, thực hiện và là ngườihưởng lợi
- Dự án phát triển nông thôn được triển khai trong thời gian ít hạn hẹp
và không gian lớn
- Dự án phát triển nông thôn có tác dụng lâu dài nếu như duy tu, quản
lý và bảo dưỡng tốt
* Những khó khăn trước mắt trong phát triển nông thôn ở Việt Nam
Kinh tế nông thôn mang nặng tính thuần nông, cơ cấu sản xuất nôngnghiệp chiếm tỷ trọng cao, cơ cấu công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng bé,sản xuất còn mang nặng tính tự cấp tự túc, năng xuất đất đai, năng xuất laođộng, thu nhập và đời sống còn thấp Khả năng tiếp cận thị trường kém, hầuhết người dân nông thôn vẫn sản xuất theo kiểu tự cấp tự túc chưa căn cứ vàothị trường
Cơ sở hạ tầng quá yếu kém, giao thông, nhất là vùng xâu, vùng xa còngặp nhiều khó khăn gây trở ngại cho tổ chức sản xuất và giao lưu hàng hoá,mạng lưới thuỷ lợi tuy đã được xây dựng nhưng không đồng bộ, kỹ thuật lạchậu hiệu quả thấp Công nghiệp nông thôn chưa phát triển, kỹ thuật thấp,không đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất theo hướng chuyên môn, tập trung
Trang 15hoá (hiện nay còn trên 500 xã chưa có đường giao thông tới xã, 2362 xã đặcbiệt khó khăn, 13% xã chưa có điện, 58% có nhà tốt…) [1]
Rừng bị tàn phá nặng nề, đất đai bị sói mòn và có nguy cơ bị huỷ hoạinghiêm trọng, độ che phủ của rừng hiện còn 38%, hiện có hơn 10 triệu ha đấttrống đồi núi trọc gây cản trở đến môi trường sinh thái và chống úng hạn,nhiều nơi thiếu nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt
Tốc độ tăng dân số cao (dân số nước ta tăng bình quân khoảng 1,3%,năm 2000 là 77,6 triệu người, đến nay khoảng 84 triệu người) gây khó khăn
và sức ép nhiều mặt về sản xuất, nhà ở, việc làm, trường học, tình trạng bánthất nghiệp ở nhiều nơi nhất là các vùng sâu vùng xa Tình trạng thiếu việclàm đang là vấn đề bức xúc Hiện nay nông thôn mới chỉ sử dụng 50 đến 60%quỹ thời gian, có 6 đến 7 triệu người đang cần việc làm
Đời sống nhân dân đã được cải thiện trong thời gian vừa qua, song vẫncòn rất nhiều khó khăn, thiếu thốn, mức sống của nhân dân thấp, tỷ lệ hộnghèo đói còn rất cao, nhất là vùng trung du miền núi Chênh lệch giàu nghèogiữa các vùng ngày càng tăng, hiện nay thu nhập của nông thôn có khoảngcách rất xa so với thu nhập ở thành thị và có nguy cơ ngày càng tăng lên
* Quan điểm phát triển nông thôn của Đảng và Nhà nước ta
Trong những năm gần đây trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước.Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề phát triển nông thôn Một sốquan điểm về phát triển nông thôn cuả Đảng và Nhà nước ta là:
- Phát triển nông thôn phải đảm bảo đồng bộ cả về mặt kinh tế, xã hội
và môi trường Phát triển nông thôn là một vấn đề phức tạp và rộng lớn, đầu
tư nhiều nguồn lực do đó phải làm sao có hiệu quả
Hiệu quả kinh tế: Phát triển nông thôn nhằm đảm bảo sản xuất ngàycàng nhiều nông sản phẩm với giá thành hạ, chất lượng sản phẩm tăng, năngxuất lao động cao Trên cơ sở hiệu quả để thực hiện phát triển sản xuất vànâng cao thu nhập cho người dân
Trang 16Hiệu quả xã hội: Phát triển nông thôn nhằm tạo việc làm, tạo cơ hội đểmọi người dân có thu nhập, để không ngừng nâng cao mức sống của nhân dân
cả về mặt vật chất lẫn tinh thần Trên cơ sở đó thực hiện công bằng, dân chủ,văn minh xã hội, đẩy lùi các tệ nạn xã hội, phát huy những truyền thống tốtđẹp của cộng đồng nông thôn
Hiệu quả môi trường sinh thái: Bảo vệ và cải thiện môi trường sinh tháinông nghiệp, bảo vệ nguồn nước, rừng và các tài nguyên, bảo vệ và cải tạođất, xây dựng cảnh quan và môi trường sống lành mạnh
- Phát triển nông thôn theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhànước, phát triển nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá, do đó đi đôi vớiphát triển sản xuất phải mở rộng thị trường nông thôn Bao gồm thị trườngsản phẩm, thị trường vốn, thị trường vật tư, thị trường lao động và dịch vụkhoa học kỷ thuật… mở rộng tự do cạnh tranh theo quy luật cung cầu và giá
cả, chống ép giá, ép cấp, ngăn cách thị trường
Khuyến khích các thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể, tư nhân cáthể hộ gia đình, khai thác đầy đủ các nguồn lực bao gồm: đất đai, lao động,tiền vốn và cơ sở vật chất kỷ thuật hiện có của các thành phần kinh tế làmđộng lực phát triển kinh tế nông thôn
Quan tâm đến các lợi ích của các nông hộ, biến họ thực sự trở thànhđơn vị tự chủ trong sản xuất kinh doanh, đây là nhân tố quyết định đến sựphát triển nông thôn Mặt khác, khuyến khích các hình thức hợp tác nhằm pháthuy thế mạnh của các thành phần kinh tế Phát triển nông thôn phải trên cơ sởtôn trọng pháp luật, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, đảm bảo lợiích của từng hộ từng doanh nghiệp gắn liền với lợi ích chung của cộng đồng
- Phát triển nông thôn toàn diện có tính đến lợi thế so sánh
Phát triển nông thôn không chỉ về mặt kinh tế mà còn bao gồm toàndiện về các mặt như: Văn hoá, y tế, giáo dục, an ninh quốc phòng, phát triển
Trang 17nông nghiệp đi đôi với phát triển công nghiệp và dịch vụ Thực hiện chuyểndịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH khu vực nông thôn.
Phát triển nông thôn toàn diện phải tính đến lợi thế so sánh của cácngành, các vùng nông thôn nhằm xây dựng một cơ cấu kinh tế tiến bộ, đồng
bộ có hiệu quả theo hướng chuyên môn hoá, phối hợp thế mạnh của các vùngtrong tổng thể chung của cả nước
- Phát triển nông thôn theo hướng CNH-HĐH
Nông thôn không thể phát triển nếu chỉ chú trọng phát triển nôngnghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng bỏ dần tính thuầnnông, phát triển công nghiệp và dịch vụ, đặc biệt là công nghịêp chế biếnnông, lâm, thuỷ sản phục vụ xuất khẩu Chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở hạtầng giao thông, điện, thông tin liên lạc, các công trình văn hoá, y tế, giáo dụclàm thay đổi bộ mặt nông thôn Khuyến khích đầu tư xây dựng các doanhnghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ ở địa phương
CNH-HĐH nông thôn đòi hỏi ngày càng phải áp dụng các tiến bộ kỷthuật về giống cây trồng vật nuôi thích hợp với vùng sinh thái Cho phép tăngnăng xuất, tăng chất lượng sản phẩm, áp dụng các công nghệ đặc biệt là côngnghệ sinh học về phân bón, về bảo vệ thực vật, về thú y, về thức ăn gia súc,vừa cho phép tăng năng xuất, tiết kiệm chi phí vừa giảm việc sử dụng phânbón hoá học, thuốc trừ sâu, bảo vệ môi trường sinh thái bền vững, lâu dài
2.1.2.2 Vai trò của chương trình phát triển kinh tế - xã hội miền núi
Hiện nay ở nước ta, trình độ lực lượng sản xuất còn thấp nên phân cônglao động chưa phát triển và không đồng đều giữa các vùng, khoảng cáchchênh lệch giàu nghèo giữa miền xuôi và miền núi rất lớn Thêm vào đó, nôngthôn miền núi mang nhiều tính đa dạng về yếu tố tự nhiên, khác biệt về tậpquán canh tác, thói quen, lối sống và đặc biệt là điều kiện khả năng thích nghicác yếu tố thị trường, tạo nên khoảng cách chênh lệch Phân phối giàu nghèokhông chỉ diễn ra ở một vùng mà cả giữa các vùng với nhau Mục tiêu của
Trang 18Đảng và Nhà nước ta là công bằng xã hội cho đồng bào các dân tộc thiểu số.Một số dự án đã đưa ra: [4]
- Dự án định canh định cư: Mục tiêu đưa ra là ổn định nơi ở, nơi sảnxuất và bảo vệ rừng đối với những nơi đồng bào còn du canh, du cư Hoạtđộng của dự án gồm xây dựng các cơ sở sản xuất như khai hoang, làm ruộngthâm canh, thuỷ lợi nhỏ, trồng cây công nghiệp, trồng rừng, xây dựng cơ sở
hạ tầng như điện, đường, trường, trạm, nhà trẻ, di chuyển và ổn định làng bản
- Dự án quy hoạch sắp xếp lại dân cư: Mục tiêu của dự án là điều chỉnhmật độ dân số, phát triển kinh tế, ổn định xã hội Đây là một chương trìnhquan trọng nhằm tạo điều kiện phát triển một số vùng, nhất là vùng dân cưthưa thớt, vùng xâu, vùng xa, vùng hải đảo khó khăn hoặc những vùng cóđiều kiện sống khó khăn cần phải di chuyển người dân đến nơi ở mới để cóđiều kiện sống và sản xuất tốt hơn
- Dự án khuyến lâm miền núi: Dự án khuyến lâm tạo điều kiện và tổchức cho hộ nông dân tham gia vào các mục tiêu phát triển rừng Hoạt độngcủa dự án tập trung cho việc xây dựng các mô hình trình diễn ở các tỉnh vàhình thành đội ngũ cán bộ khuyến lâm từ tỉnh đến xã
- Hỗ trợ người nghèo về y tế: Mục tiêu của dự án là chữa bệnh chongười nghèo Các biện pháp như cấp thẻ khám chữa bệnh miễn phí, cấp thẻbảo hiểm y tế, khám chữa bệnh từ thiện, khám chữa bệnh lưu động, tăngcường cơ sở vật chất, bác sỹ tuyến xã, huyện…
Như vậy, trong những năm qua các chương trình, dự án phát triển nôngthôn nói chung và phát triển miền núi nói riêng Đã góp phần quan trọng vàoviệc phát triển và cải thiện miền núi nước ta
2.1.3 Phương pháp tiếp cận trong các chương trình phát triển nông thôn
2.1.3.1 Phương pháp tiếp cận truyền thống
Đây là một trong những phương pháp tiếp cận người dân trong nhữngnăm 80 Hậu quả của những năm 80 đã chỉ ra những hạn chế của cách tiếp
Trang 19cận thuyền thống về phát triển đó là cách tiếp cận dựa trên cơ sở chính sách
“từ trên xuống” và áp dụng trong hầu hết các trường hợp
Phương pháp này có đặc điểm là các ý tưởng đều do các cơ quan Nhànước đề ra, người dân đóng vai trò thụ động, trông đợi và thiếu sự hợp táctrong phát triển, các chương trình này đều làm theo số lượng không có sựđồng tình của người dân và thường làm theo kế hoạch, do đó mà xa rời vớinhu cầu mà người dân đòi hỏi, không đem lại kết quả cao [5]
Sơ đồ 2.1: Phương pháp tiếp cận thuyền thống [6]
2.1.3.2 Phương pháp tiếp cận từ dưới lên
Đặc điểm của quan điểm này là các ý tưởng phát triển là do cơ quan Nhànước đề xướng, được dân đồng thuận và trở thành quyết định cuả dân, cácchương trình này được tiến hành trên chính quê hương của họ, người dân đóngvai trò chủ động, là trung tâm của sự phát triển, là người hưởng lợi chính, làngười tham gia chủ yếu trong các chương trình phát triển, họ là cơ sở cho sựphát triển vì hơn ai hết họ bíêt rất rõ những khó khăn và nhu cầu của mình vàchính họ là những người quản lý các công trình đó Một cộng đồng càng pháttriển và năng động càng có khả năng thu hút người dân ở lại [5]
Phương pháp này cho phép người dân có thể tham gia vào việc xem xét,cân nhắc đến thực trạng cụ thể của địa phương mình Cho phép các nhà đầu tư
Nhận biết
vấn đề
Nhà nước, các tổ chức tài trợ
Cộng đồng địa phương
Xác định chiến lược
Thực hiện quản
lý
Trang 20và giúp cho chúng ta có thể nhận thấy những điểm mạnh, điểm yếu, thách thức
và cơ hội của địa phương mình và qua đó có thể biết được cái gì có thể ảnhhưởng tới việc xác định mục tiêu, việc thực hiện các hoạt động, và dự đoán kếtquả sẽ đạt được khi thực hiện các chương trình đó [7]
Phương pháp tiếp cận từ dưới lên nhằm mục đích quá trình tham gia củacác cộng đồng trong tất cả các khía cạnh cuả chính sách phát triển Sự tham giacủa người dân địa phương được thể hiện ở tất cả các cấp hoặc là thông qua sựbàn bạc của người dân hoặc bằng cách đưa họ trở thành các bên tham gia Sựtiếp cận từ dưới lên dựa vào hai quan niệm chính đó là “lòng nhiệt tình” và “đàotạo cộng đồng địa phương”
Sơ đồ 2.2 : Phương pháp tiếp cận từ dưới lên [6]
2.1.4 Một số đặc điểm của người dân miền núi
Người dân sinh sống tại miền núi của nước ta chủ yếu là tham gia vào sảnxuất nông nghiệp, nên mang bản chất của người nông dân Việt Nam đó là bảnchất yêu nước, cần cù, thông minh và sáng tạo Từ khi có sự lãnh đạo Đảng thìvai trò của người dân đã dần dần được nâng lên rõ nét, đồng bào các dân tộcmiền núi đã một lòng đi theo Đảng, hăng say lao động và giám nhìn thẳng vàonhững khó khăn và thách thức để vươn lên Nông dân đã góp sức với các tầnglớp trong xã hội để phát triển kinh tế xã hội của đất nước, người nông dân đãmạnh dạn hơn, có điều kiện hơn trong việc tiếp thu và áp dụng những tiến bộ kỹ
Nhận biết
vấn đề
Nhà nước, các tổ chức tài trợ
Cộng đồng địa phương
Xác định chiến lược
Thực hiện quản lý
Trang 21thuật vào trong quá trình sản xuất, xây dựng cuộc sống của mình Đặc biệt, từkhi chủ trương dân chủ cơ sở ngày một hoàn thiện thì người nông dân đượctham gia vào các hoạt động phát triển kinh tế xã hội tại thôn bản mình ngày càngnhiều hơn.
Tuy nhiên, do xuất phát điểm về kinh tế thấp, địa bàn bị chia cắt, giaothông đi lại khó khăn, thời tiết khắc nghiệt, điều kiện sản xuất khó khăn, cùngvới phong tục tập quán sản xuất một số nơi còn lạc hậu nên đời sống vật chất,tinh thần của đồng bào các dân tộc còn rất nhiều khó khăn, tỉ lệ hộ đói nghèocòn cao; mặt bằng dân trí thấp, kiến thức về kỹ thuật, công nghệ rất hạn hẹp; các
tệ nạn xã hội như: nghiện hút các chất ma tuý, di cư tự do, truyền đạo tráipháp luật vẫn còn diễn biến phức tạp; tư tưởng trông chờ, ỷ lại, cam chịu vớiđói nghèo, lạc hậu vẫn còn khá nặng nề Chất lượng đội ngũ cán bộ và hoạtđộng của một số cấp uỷ, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể chính trị cònnhiều bất cập
Những vấn đề trên đã làm ảnh hưởng đến việc nâng cao vao trò của ngườidân trong các chương trình, dự án phát triển của miền núi
2.1.5 Vai trò của người dân trong các chương trình phát triển kinh tế xã hội
2.1.5.1 Khái niệm vai trò
Theo từ điển tiếng việt, (năm2005) thì vai trò là tác dụng, chức năngtrong sự hoạt động, phát triển của cái gi đó [8]
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin coi sự nghiệp cách mạng là củaquần chúng nhân dân, chính "quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra lịchsử" Lịch sử phát triển của xã hội cho thấy, quần chúng nhân dân không chỉ lànhân tố quyết định cho sự phát triển của xã hội mà còn cả tiềm năng to lớntrong việc giữ gìn và phát triển mọi giá trị truyền thống cho những thế hệ kếtiếp nhau từ thời đại này tới thời đại khác
Quan điểm xuyên suốt trong đường lối cách mạng của Đảng ta và tưtưởng Hồ Chí Minh coi "Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng"; "Tất cảquyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam không phân biệt
Trang 22nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo"; nhà nước của ta là "Nhànước của dân, do dân , vì dân"; Đảng ta "vừa là người lãnh đạo, vừa là ngườiđầy tớ thật trung thành của nhân dân".[9]
Hơn lúc nào hết, để đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đượcđúng đắn, chính xác; bằng những hình thức, biện pháp thích hợp, cần tổ chứccho quần chúng tham gia ý kiến, thực hiện lời dạy của Bác Hồ: " việc gìcũng phải hỏi ý kiến dân chúng, cùng dân chúng bàn bạc, " Quần chúngnhân dân hoạt động trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Trí tuệ và kinhnghiệm của họ là vô cùng phong phú Họ không những có quyền mà còn cókhả năng tham gia đóng góp vào việc hoạch định đường lối, chủ trương, chínhsách của Đảng có quan hệ đến vận mệnh quốc gia, dân tộc, đến mỗi địaphương, mỗi chương trình, mỗi người dân và đến chính vận mệnh của Đảng.Thực tiễn đã minh chứng nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nướcđược hoạch định từ sáng kiến, đề xuất của quần chúng
2.1.5.2 Nội dung vai trò của người dân trong các hoạt động của chương trình phát triển kinh tế xã hội
Việt nam ta có câu: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó nghìn lầndân liệu cũng xong” [8] Từ ngạn ngữ trên ta hiểu rằng mọi việc của bản làngnếu dân đồng lòng cùng tham gia thì sẽ thành công, nếu dân không tham giathì việc dù dễ đến đâu, được hổ trợ, đầu tư trợ giúp đến đâu cũng khó thànhcông hoặc có thành công thì cũng không lâu dài Xác định được vai trò to lớncủa người dân mà Đảng và Nhà nước ta luôn nhấn mạnh phương châm “Dânbiết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân hưởng lợi” và luôn đề cao vai tròcủa người dân lấy nhân dân làm gốc [10]
- Dân biết là những kiến thức vốn có của người dân có vai trò quantrọng trong các chương trình phát triển ở địa phương, và các quá trình lập kếhoạch, khảo sát thiết kế Vậy dân được biết những gì? Mọi người dân tronglàng bản phải biết rõ hai điểm:
Trang 23Thứ nhất, những gì mà làng bản cùng thống nhất, ưu tiên giải quyết,phải làm Bên cạnh đó người dân cần phải biết được mục đích của việc xâydựng là gì, yêu cầu những đóng góp từ phía họ, trách nhiệm và quyền lợi củacộng đồng.
Thứ hai, những gì mà Nhà nước, các tổ chức bên ngoài có thể hổ trợ vàgiúp đỡ
- Dân bàn là thể hiện quyền dân chủ của người dân được tham gia xâydựng chương trình, kế hoạch hành động, các quy định của cộng đồng pháthuy được trí tuệ tính tích cực sáng tạo Mọi người dân trong cộng đồng cầnđược cùng nhau bàn bạc về các việc sau: bàn kế hoạch thực hiện làm cái gi, ởđâu, khi nào; bàn về nghĩa vụ đóng góp của mỗi người, mỗi nhà, mỗi tổ chứctrong làng bản, xã; bàn về cách tổ chức, quản lý như thế nào; bàn về chia sẻlợi ích ra sao; bàn về quy chế thực hiện thưởng phạt của làng bản; bàn vềthống nhất cam kết thực hiện…
- Dân làm những người dân, hộ gia đình hay các tổ chức trong các làngbản có thể làm các việc như sau để thực hiện các hoạt động chung của làngbản: đóng góp ngày công lao động; đóng góp vật tư, vật liệu mà địa phươnghoặc gia đình có như: đất, đá, cát sỏi, cây cối, cây giống, con giống…có thểđóng góp bằng tiền (nếu có); đóng góp kiến thức và kinh nghiệm thông quaviệc tham gia vào nhóm quản lý hay chỉ đạo thực hiện; sự tham gia trực tiếpcủa người dân và các hoạt động xây dựng các công trình, quản lý sử dụng cáccông trình; người dân tham gia trực tiếp vào quá trình lập kế hoạch, tham giavào các công đoạn của các công trình như: xây dựng, thi công, quản lý, bảodưỡng và vận hành các công trình một cách có hiệu quả
- Dân kiểm tra mọi người dân đều có thể kiểm tra, giám sát các hoạtđộng chung của làng bản mà họ đã được bàn, đã được đóng góp và đã làmnhư: kiểm tra quản lý, sử dụng các vốn đầu tư và chi tiêu; kiểm tra chất lượngcác công trình, các hoạt động đã đang thực hiện; kiểm tra việc đóng góp vàphân chia lợi ích
Trang 24- Dân quản lý các thành quả hoạt động, các công trình sau khi xây dựngxong cần được quản lý trực tiếp của các đối tượng hưởng lợi để tránh tìnhtrạng không rõ ràng về chủ sỡ hữu Việc duy tu, quản lý, bảo vệ nhằm nângcao tuổi thọ phát huy tối đa hiệu quả của việc sử dụng công trình.
- Dân hưởng lợi, đây là lợi ích mà các hoạt động của chương trình, dự
án mang lại cho người dân
Sơ đồ 2.3: Mô tả vai trò của người dân trong các hoạt động phát triển KT-XH
2.1.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc phát huy vai trò của người dân
2.1.6.1 Các chủ trương đường lối chính sách của Đảng
Đường lối, quan điểm của Đảng ta và tư tưởng Hồ Chí Minh đặc biệtcoi trọng vấn đề dân chủ, nhất là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ
sở, việc phát huy dân chủ ở nông thôn nước ta có một ý nghĩa sâu sắc và là vấn
đề chiến lược của cách mạng trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiệnđại hoá nông nghiệp và nông thôn
Nông dân
Trang 25Triển khai thực hiện Chỉ thị 30-CT/TW, ngày 18-02-1998 của BộChính trị (khoá VIII); Chỉ thị số 10-CT/TW, ngày 28-3-2002 của Ban Bí thư(khoá IX) về tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở
cơ sở; nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước đã được ban hành, bổsung, sửa đổi Việc triển khai thực hiện đã đạt được nhiều kết quả tốt Chủtrương thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở được nhân dân đồng tình, thể hiện "ýĐảng hợp với lòng dân", quyền làm chủ và không khí dân chủ trong xã hội tiếptục được mở rộng và không ngừng nâng cao Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ
sở là bước tiến cụ thể mở rộng dân chủ trực tiếp, nâng cao chất lượng dân chủđại diện; góp phần ổn định chính trị, đẩy mạnh các cuộc vận động, các phongtrào thi đua yêu nước, tập trung phát triển kinh tế, xây dựng môi trường vănhoá, xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòng; đồng thời góp phần xây dựng hệthống chính trị ở cơ sở, tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhândân, nâng cao hiệu quả KT-XH của các chương trình, dự án [11]
Tuy nhiên, trong những năm qua cùng với quá trình hội nhập phát triểncủa đất nước, cơ chế thị trường đã bộc lộ những mặt yếu của nó, đó là: Nềnkinh tế phát triển thì sự phân hoá giàu nghèo càng diễn ra sâu sắc ở các vùng,miền, đặc biệt là ở miền núi núi và vùng cao, việc đầu tư không đồng bộ giữamiền xuôi với miền núi, chênh lệch về thu nhập giữa người dân miền núi vớikhu vực thành thị và nông thôn ngày càng gia tăng Quyền làm chủ của dân
cư miền núi một số nơi bị hạn chế Nghị định 79/2003/NĐ-CP của chính phủban hành quy chế dân chủ ở xã, đã khẳng định vai trò, trách nhiệm của ngườidân, những điều phải được dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân đónggóp, dân hưởng lợi… Đã khơi dậy vai trò của người dân, nhất là đối với dântộc miền núi, vùng sâu, vùng xa chủ động trong sản xuất và trong cuộc sống
Do đó chủ trương, chính sách sẽ có thể làm tăng hoặc giảm đi vai trò và tínhsáng tạo của người dân
Trang 262.1.6.2 Sự tham gia của người dân trong các hoạt động của chương trình
Sự tham gia của người dân là nhân tố quan trọng trong các hoạt độngphát triển vì ngày càng có nhiều lĩnh vực đòi hỏi có sự tham gia của ngườidân Tiếng nói của người dân, nhu cầu và tiềm năng của họ đã trở thành điểmxuất phát của mọi cố gắng trong quá trình phát triển ở địa phương Vì vậy, sựthành công hay thất bại của chương trình, những hoạt động phụ thuộc rất lớnvào sự tham gia của người dân
Khi khuyến khích sự tham gia của người dân chính là làm cho ngườidân phát huy tính sáng tạo, sự thông minh trong việc huy động và sử dụng cácnguồn lực Qua đó làm giảm lãng phí, chống tham nhũng, nạn nghèo đói bịđẩy lùi vì không có cách gì hơn là bản thân người trong cộng đồng tự lo toanvới sự đầu tư của Nhà nước
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Khái quát về chương trình 135
*Khái quát về Chương trình 135:
Chương trình 135 là chương trình phát triển KT-XH ở các xã đặc biệtkhó khăn, miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa Chương trình được phêduyệt theo Quyết định 135/1998/QĐ-TTg, ngày 31/7/1998 của Thủ tướngChính phủ Đây là chương trình có quy mô rộng lớn với hơn 2.362 xã Trong
đó có 1.907 xã miền núi, vùng sâu, vùng xa và vùng dân tộc ở đồng bằng, 388
xã biên giới và 67 xã an toàn khu; tác động đến hơn 1.100.000 hộ, trên 6 triệungười [12]
CT-135 có 5 nhiệm vụ chính là: Quy hoạch bố trí lại dân cư ở nhữngnơi cần thiết, từng bước tổ chức hợp lý đời sống sinh hoạt của đồng bào cácbản, làng, phum, soóc ở những nơi có điều kiện, nhất là những xã vùng biêngiới và hải đảo, tạo điều kiện để đồng bào nhanh chóng ổn định sản xuất vàđời sống Đẩy mạnh phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, gắn với chế biến,tiêu thụ sản phẩm để khai thác nguồn tài nguyên và sử dụng lao động tại chỗ,tạo thêm nhiều cơ hội về việc làm và tăng thu nhập, ổn định đời sống, từng
Trang 27bước phát triển sản xuất hàng hóa Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn phù hợpvới quy hoạch sản xuất và bố trí lại dân cư, trước hết là hệ thống đường giaothông; nước sinh hoạt; hệ thống điện ở những nơi có điều kiện, kể cả thủyđiện nhỏ Quy hoạch và xây dựng các trung tâm cụm xã, ưu tiên đầu tư xâydựng các công trình về y tế, giáo dục, dịch vụ thương mại, cơ sở sản xuất tiểuthủ công nghiệp, cơ sở phục vụ sản xuất và phát thanh truyền hình Đào tạo cán
bộ xã, bản, làng, phum, soóc, giúp cán bộ cơ sở nâng cao trình độ quản lý hànhchính và kinh tế để phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội tại địa phương
CT-135 có 5 chính sách chủ yếu là: Chính sách đất đai; Chính sách đầu
tư, tín dụng; Chính sách phát triển nguồn nhân lực; Chính sách thuế; Qui địnhnhiệm vụ của các cấp, các ngành và sự ủng hộ, đóng góp của các tổ chức, cánhân trong và ngoài nước để thực hiện Chương trình
Vốn đầu tư cho thực hiện Chương trình được huy động từ các nguồnsau: vốn ngân sách Nhà nước (kể cả vốn của các chính phủ và các tổ chứcquốc tế tài trợ); vốn vay tín dụng; vốn huy động từ các tổ chức và các cộngđồng dân cư [13]
* Kết quả thực hiện chương trình phát triển KT-XH khu vực miền núi tỉnh Thanh Hoá
Tỉnh Thanh Hoá có địa bàn miền núi phía Tây rộng lớn (8.500 km2),bằng 3/4 diện tích toàn tỉnh, số dân 1.044.092 người, bao gồm 7 dân tộc anhem: Thái, Mường, Kinh, Dao, Thổ, Khơ Mú, Mông Tỉnh có 11 huyện miềnnúi và 7 huyện giáp ranh có miền núi với tổng số 220 xã, trong đó có 105 xãvùng cao, 102 xã nghèo đặc biệt khó khăn Trước đây, kinh tế xã hội ở miềnnúi Thanh Hoá kém phát triển, tự cung tự cấp, sản xuất độc canh cây lươngthực, bình quân lương thực đầu người chỉ được 160-180 kg/năm; các côngtrình thuộc kết cấu hạ tầng hầu như chưa có gì; văn hoá xã hội chậm pháttriển, nhiều tập tục lạc hậu đè nặng bao đời; số người mù chữ nhiều, nạn đóitriền miên và dịch bệnh tràn lan,
Trang 28Trong những năm qua, Thanh Hoá coi việc ưu tiên phát triển kinh tế xãhội miền núi là một nội dung trọng yếu trong nhiệm vụ chính trị của các cấp
uỷ Đảng, chính quyền, các đoàn thể, các ngành trong toàn tỉnh Đặc biệt làđầu tư xây dựng các công trình thuộc cơ sở hạ tầng như đường giao thông,cầu, trường học, trạm y tế, chợ nông thôn, mạng lưới điện quốc gia Thôngqua việc triển khai thực hiện CT-135 và các chương trình mục tiêu quốc gia,bằng việc triển khai các dự án như: xây dựng cơ sở hạ tầng; xây dựng trungtâm xã; quy hoạch và sắp xếp lại dân cư; ổn định và phát triển sản xuất nông,lâm nghiệp; chế biến tiêu thụ sản phẩm; đào tạo cán bộ xã, bản, làng,v.v Đến nay nông thôn miền núi Thanh Hoá đã có nhiều thay đổi tiến bộ, đờisống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc được cải thiện và nânglên, khoảng cách sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa miền núi với cácvùng trong tỉnh và cả nước đang được rút ngắn Tỷ lệ hộ nghèo các huyệnmiền núi giảm nhanh, năm 2006 là 53,38%, đến năm 2007 còn 44,79%; phấnđấu năm 2008 giảm còn 33,7% và đến năm 2010 tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 20%
Tốc độ tăng trưởng kinh tế khu vực miền núi đạt khá: năm 2005 đạt10%, năm 2006 đạt 12,8%, năm 2007 đạt 13,1% (kế hoạch đề ra là tăngtrưởng bình quân 15%/năm trở lên) Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theohướng tích cực; tỷ trọng nông, lâm, thuỷ sản năm 2004 là 50,3%, năm 2007giảm xuống còn 46%; công nghiệp, xây dựng năm 2004 là 19,4%, năm 2007tăng lên 22,9%; dịch vụ năm 2004 là 30,3%, năm 2007 tăng lên 31,1% Nông,lâm nghiệp phát triển tương đối toàn diện, diện tích, năng suất, sản lượng vàchất lượng nhờ việc tăng cường đầu tư giống, thủy lợi và các tiến bộ kỹ thuật;năm 2007 lương thực bình quân đầu người đạt 353,9 kg/năm, tăng 33,9kg/người/năm so với năm 2004 Vùng nguyên liệu mía tiếp tục phát triển ổnđịnh từ 18.700 - 19.000 ha, chiếm 60% diện tích mía toàn tỉnh; sắn nguyên liệunăm 2007 đạt trên 13.700 ha; cây cao su đang là thế mạnh của tỉnh (nhất là ởcác huyện miền núi), từ 2005 đến 2007 đã trồng mới được 1.200 ha, nâng tổngdiện tích cây cao su toàn tỉnh lên 7.993 ha, trong đó có 4.200 ha đã đưa vào khai
Trang 29thác Chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển khá: đàn trâu tăng 11,6% so vớinăm 2004, đàn bò tăng 62,3% so với năm 2004; đàn lợn tăng 3,8% so với năm2004; đàn dê có 50 ngàn con, chiếm 70% đàn dê toàn tỉnh, Công tác trồngrừng, khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ rừng đạt kết quả khá; trồng rừng tập trungđến năm 2007 tăng 1,48 lần so với năm 2004; khoanh nuôi tái sinh, tăng 1,3lần so với năm 2004; góp phần đưa tỷ lệ độ che phủ rừng toàn tỉnh từ 41,1%năm 2004 lên 44,2% năm 2006 Công tác phòng, chống cháy rừng được triểnkhai tích cực, hạn chế số vụ cháy rừng và giảm thiệt hại do cháy rừng Công
nghiệp - xây dựng phát triển khá, toàn vùng có 6.658 cơ sở sản xuất
CN-TTCN, chiếm 12,3% số cơ sở toàn tỉnh, hàng năm tạo việc làm cho trên 12ngàn lao động; nhiều ngành nghề truyền thống được khôi phục và phát triểnnhư: dệt thổ cẩm, chế biến lâm sản …Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 23,5%
so với năm 2005 Thương mại - dịch vụ phát triển rộng khắp, đáp ứng cơ bản
nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân; đã xây dựng 21 cửa hàng và khothương mại; có 113 chợ ở khu vực miền núi, cung ứng kịp thời các mặt hàngthiết yếu, hàng chính sách cho nhân dân trong vùng 11/11 huyện đã có cápquang, phủ sóng điện thoại di động ở trung tâm huyện; 99,37% số xã đượcđọc báo phát hành trong ngày; toàn vùng có 34.000 thuê bao điện thoại, đạtmật độ 3,72 máy/100 dân, tăng hơn 3 lần so với năm 2004; 100% số xã cóbưu điện văn hóa xã
Kết cấu hạ tầng KT-XH được tăng cường, tổng vốn ngân sách nhà nướchuy động cho đầu tư phát triển trong 3 năm khoảng 8.307 tỷ đồng, chiếm34,6% tổng vốn đầu tư toàn tỉnh, trong đó: ngân sách địa phương chiếm17,9%; ngân sách Trung ương chiếm 33,7%; vốn ODA chiếm 3,6%; vốn dân
cư và các thành phần kinh tế khác chiếm 44,8 % Chương trình 135, tổng đầu tư
là 213.371 triệu đồng, đã có 27/102 xã cơ bản hoàn thành mục tiêu chươngtrình 135 Hỗ trợ sản xuất cho 2.410 hộ đặc biệt khó khăn (giống cây, con,phân bón, ) Dự án định canh, định cư: tổng vốn đầu tư 3.371 triệu đồng, chủyếu cho xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi và khoanh nuôi, bảo vệ
Trang 30rừng Chương trình 661: suất đầu tư cho trồng rừng và bảo vệ rừng được nânglên đã tạo điều kiện cho nhân dân có thêm thu nhập và yên tâm gắn bó với
rừng; tổng đầu tư là 69.152 triệu đồng Chương trình nước sạch VSMT tổng
đầu tư 11.385 triệu đồng Chương trình 159 về kiên cố hóa trường đã thựchiện được 3.102/3.668 phòng học (chỉ tiêu kế hoạch), với tổng đầu tư 382.772triệu đồng Chương trình 174 có tổng đầu tư là 41.700 triệu đồng, tập trung hỗtrợ cho các lĩnh vực: về giáo dục, tổng kinh phí 32,243 triệu đồng, hỗ trợ giấy,
vở, sách giáo khoa cho học sinh dân tộc và làm 1.145 phòng ở cho giáo viên
Về y tế, hỗ trợ 300 phòng ở cho cán bộ y tế xã miền núi, tổng kinh phí 6.043triệu đồng Về văn hóa, phát thanh, truyền hình, hỗ trợ 3.314 triệu đồng đểbảo tồn và phát huy văn hóa phi vật thể, xây dựng các trạm truyền thanh códây, Chương trình 134 đã giải quyết đất sản xuất 978,3 ha cho 3.932 hộ, đạt32,7% diện tích, cho 33,3% số hộ thiếu đất; đã giải quyết 52,3 ha đất ở cho3.419 hộ, đạt 74,7% về diện tích và số hộ thiếu đất ở; đã đầu tư hỗ trợ cho25.188 hộ làm nhà ở; tổng kinh phí thực hiện dự án là 520.805 triệu đồng, nhànước đã hỗ trợ 126.039 triệu đồng; đến cuối năm 2007 hoàn thành chỉ tiêu hỗtrợ cho 27.051 hộ khó khăn về nhà ở Trong 3 năm đã tổ chức dạy nghề cho11.945 người; các trung tâm giáo dục cộng đồng ở các xã, làng nghề đã mởcác lớp bồi dưỡng, tập huấn, chuyển giao công nghệ mới cho hơn 40.000 lượtngười; giải quyết việc làm cho 42.800 người Triển khai thực hiện dự án ổnđịnh, phát triển kinh tế - xã hội đồng bào Mông, huyện Mường Lát, tổng mứcđầu tư là 299 tỷ đồng.[14]
2.2.2 Một số kết quả và kinh nghiệm nâng cao vai trò của người dân trong chương trình 135 ở một số địa phương
* Kết quả thực hiện chương trình 135 của tỉnh Quảng Nam [15]
Để thống nhất và triển khai thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ củachương trình 135 giai đoạn II, Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Nam đa giao BanDân Tộc - Thường trực Ban chỉ đạo chương trình 135 của tỉnh phối hợp với
Trang 31các ngành liên quan ban hành cuốn sổ tay “Hướng dẫn quản lý và tổ chứcthực hiện Chương trình 135 giai đoạn II trên địa bàn tỉnh Quảng Nam”.
Trong năm 2007 tỉnh Quảng Nam đã triển khai thực hiện: Dự án hỗ trợphát triển sản xuất: Tỉnh Quảng Nam đã quy định 10 loại mô hình để các địaphương lựa chọn áp dụng nhân rộng mô hình Giao các huyện hướng dẫn cácchủ đầu tư thực hiện theo hướng dẫn của Trung ương và của tỉnh, phấn đấuhoàn thành chỉ tiêu cả năm giải ngân hết 11.900 triệu đồng
Dự án Đào tạo nâng cao năng lực cán bộ cơ sở và cộng đồng: Trongnăm 2007, nguồn kinh phí đào tạo là 2.650 triệu đồng; Uỷ ban nhân dân tỉnh
đã giao 530 triệu đồng cho Ban Dân tộc là cơ quan thường trực Chương trinh
135 để mở các lớp đào tạo chuyên sâu về phân cấp xã làm chủ đầu tư, đã mởlớp kế toán cho 50 học viên của 50 xã đặc biệt khó khăn và tập huấn cho Chủtịch và Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các xã đặc biệt khó khăn Nội dung tậphuấn gồm các chuyên đề: Hệ thống chính trị cơ sở xã, phường; Thực hiện quichế dân chủ cơ sở; Lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trinh cơ sở hạtầng thuộc Chương trình 135 giai đoạn hai; Quản lý Nhà nước đối với hệthống hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn xã; Công tác giám sát của cộng đồng trongChương trình 135 giai đoạn II… Qua tập huấn trình độ quản lý điều hành củacán bộ được nâng lên rõ rệt, góp phần thực hiện chương trình hiệu quả Ngoàinội dung tập huấn ở tỉnh, các huyện còn tổ chức tập huấn cho 2 nhóm cán bộ
xã, thôn và cộng đồng với các chuyên đề: Nội dung, nhiệm vụ, đối tượng đầu
tư của CT-135 giai đoạn II; Phổ biến những chủ trương, chính sách mới củaĐảng và Nhà Nước đối với vùng dân tộc và miền núi; Nêu rõ sự cần thiết phảiphối hợp giữa các Phòng ban trong huyện trong việc thực hiện 4 dự án thànhphần của Chương trình và chú trọng phổ biến kiến thức, kỹ năng sản xuấtnông lâm ngư nghiệp; Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất.Nội dung tập huấn ở huyện do huyện quyết định thêm bớt một số chuyên đềnhưng không quá 1/3 nội dung chuyên đề do tỉnh qui định Trong qua trình
Trang 32tập huấn, các học viên còn tham quan các mô hình tiên tiến, hiệu quả, đạt giátrị kinh tế cao để áp dụng vào thực tế của địa phương.
Dự án phát triển cơ sở hạ tầng: Năm 2007, được chương trình đầu tư47.700 triệu đồng để xây dựng 97 công trình; trong đó có 39 công trình giaothông các loại; 5 công trình điện; 18 công trình trường học; 20 công trình thuỷlợi; 11 công trình nước sinh hoạt; 3 công trình trạm xá Các địa phương cócông trình đều quyết tâm hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch và chú trọng đảm bảochất lượng công trình, tránh thất thoát tiền vốn và công sức của nhân dân
* Thực hiện Chương trình 135 ở huyện Điện Biên [16]
Năm 2006, huyện Điện Biên chỉ có 7 xã đặc biệt khó khăn được hưởngChương trình 135 của Chính phủ Theo kế định phê duyệt kế hoạch xây dựng
cơ sở hạ tầng từ 2006 đến 2010 của Uỷ ban nhân dân huyện, toàn tỉnh sẽ xâydựng 32 công trình, với tổng kinh phí 21 tỷ 350 triệu đồng Sau hơn một nămthực hiện CT-135 giai đoạn II, toàn huyện đã hoàn thành 5 công trình Năm
2007, Ban Quản lý dự án huyện đã kiểm tra 13 công trình, trong đó đã có 1công trình đã hoàn thành, còn lại là chờ thẩm định, phê duyệt Theo chủtrương của Chính phủ thì Ban Quản lý dự án của huyện đã đầu tư một cáchtập trung không dàn trải nhờ đó mà các công trình của huyện đã phát huy hếtđược hiệu quả Mặt khác, để các công trình có hiệu quả trong đời sống xã hộithì các địa phương nghiêm túc thực hiện quy chế dân chủ trong quá trình lựachọn dự án, thong qua ý kiến của nhân dân Nhìn chung các dự án đều donhân dân lựa chọn, chính quyền đề nghị, trong quá trình xây dựng công trình
có sự giám sát của Ban giám sát do địa phương bầu chọn
Bước sang giai đoạn II của CT-135, Ban quản lý dự án huyện khuyếnkhích các địa phương làm chủ dự án những công trình từ 500 triệu đồng trởxuống, theo sự chỉ đạo của Chính phủ
Trang 332.2.3 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong việc nâng cao vai trò của người dân trong các dự án phát triển
* Phong trào “Làng mới” ở Hàn Quốc [17]
- Khái quát: Hàn Quốc là một trong những nước chịu nhiều ảnh hưởngcủa hậu quả chiến tranh và chế độ thực dân Là một nước nghèo nàn về tàinguyên và kém thuận lợi về khí hậu cho sản xuất nông nghiệp Phần lớn đấtnước là đồi núi hiểm trở Xét về tiềm năng công nghiệp thì tài nguyên tựnhiên về khoáng sản và năng lượng thua kém nhiều so với Bắc Triều Tiên.Lợi thế thấp kém ít nước ngoài muốn đầu tư trực tiếp vào Hàn Quốc Vàocuối thập kỷ 50 và đến tận những năm đầu thập kỷ 60 là một nước chậm pháttriển Nông nghiệp là hoạt động kinh tế chủ yếu với khoảng 2/3 dân số ở khuvực nông thôn Chế độ thực dân và hậu quả chiến thanh góp phần làm nặngthêm tâm lý cam chịu của người dân Nông dân quen sống trong cảnh nghèonàn và an phận thủ thường Họ cho rằng nghèo là số phận của mình, do kếtquả lao động của ông cha để lại, do đất nước ít tài nguyên thiên nhiên, dothiên tai sâu bệnh, do hậu quả chiến tranh… Nhìn chung, nông dân thiếu tinhthần tự chịu trách nhiệm về hoàn cảnh khó khăn của mình ỷ lại và đổ tại chonhững yếu tố bên ngoài
Mục tiêu của chính sách mới là làm cho nông dân có niềm tin và trởnên tích cực đối với sự nghiệp phát triển nông thôn, làm việc chăm chỉ, độclập và cộng đồng Ngày 22/4/1970, Tổng thống Hàn Quốc phát biểu: “Nếuchúng ta có thể tạo ra hay khai thác được tinh thần chăm chỉ, tự vượt khókhăn và hợp tác tiềm ẩn trong mỗi thành viên trong khu vực nông thôn, tôi tintưởng rằng tất cả các làng, xã nông thôn sẽ trở thành nơi thịnh vượng đểsống… Chúng ta có thể gọi đó là phương hướng hành động của mô hình “Làng mới” Như vậy, Phong trào “Làng mới” nhấn mạnh đến yếu tố quantrọng nhất đó là tạo động lực cho phát triển là “phát triển tinh thần của nhândân”, lấy kích thích vật chất nhỏ và chính sách để kích thích mạnh tinh thần
và qua đó phát huy nội lực tiềm tàng to lớn của nông dân
Trang 34- Một số hoạt động của mô hình “Làng mới” trong việc phát huy vai tròcủa người dân
Phối hợp chặt chẽ giữa các cán bộ, quan trọng nhất là cấp cơ sở: Tổchức chương trình từ cơ sở lên trung ương, phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ.Cấp được coi là quan trọng nhất là cấp cơ sở, mỗi làng bầu ra “Uỷ ban pháttriển làng mới” gồm từ 5 đến 10 người để vạch kế hoạch và tiến hành dự ánphát triển nông thôn của làng mình Ngoài ra, Uỷ ban còn được thiết lập ởmọi cấp của chính quyền địa phương (cấp tỉnh, thành phố, quận huyện) để cốvấn và hướng dẫn uỷ viên các làng lập và lựa chọn dự án, quyết định nhữngvấn đề ưu tiên và huy động lao động, vật tư và tiền Khác với các nước khácchương trình này do Tổng thống trực tiếp lãnh đạo Bộ trưởng Bộ Nội vụđứng đầu Uỷ ban phối hợp trung ương với 12 điều phối viên là Thứ trưởngcác Bộ Kế hoạch Kinh tế, Ngoại giao, Giáo dục, Nông nghiệp, Thuỷ sản,Thương mại và Công nghiệp, Xây dựng, Y tế và các vấn đề xã hội, Thông tin
và Văn hoá
Xây dựng đội ngủ lãnh đạo ở nông thôn làm nòng cốt cho chương trìnhphát triển: Mỗi làng dân nhân tự bầu ra người lãnh đạo cho phong trào củamình Tạo điều kiện đảm bảo bình đẳng nam nữ một cách thực sự, mỗi làngchọn ra một lãnh đạo nam và một lãnh đạo nữ, cả hai làm việc phối hợp vớinhau và có quyền lực như nhau Để những người lãnh đạo phong trào ở cấp
xã thực sự của dân, vì dân, Tổng thống Hàn Quốc chủ trương để những ngườilãnh đạo này độc lập với hệ thống hành chính và chính trị ở nông thôn, vàkhông dành cho họ bất kỳ một khoản trợ cấp vật chất nào Động lực chính củatinh thần hy sinh cao độ này là sự động viên tinh thần từ Chính phủ cũng như
sự kính trọng của người dân Bởi không bị phụ thuộc một sức ép chính trị hayảnh hưởng kinh tế nào, những người lãnh đạo dân cử chỉ chịu sự phán xét củadân và được nhân dân tin tưởng
Đào tạo cán bộ các cấp, gắn cả nước với phong trào phát triển nôngthôn: Nhằm giảm khoảng cách giữa dân thường và quan chức Chính phủ, thực
Trang 35sự gắn bó cán bộ nhà nước với dân, các quan chức của phòng ban trung ươngđược đưa về cùng sống và theo học với nông dân Người lãnh đạo các cấpchính quyền cùng sống chung với lãnh đạo nông dân tại ký túc xá nhà trường,cùng nhau tham gia thảo luận, bàn bạc tìm cách xây dựng và lập kế hoạchthực hiện chương trình phát triển nông thôn, nhờ đó, các quan chức cấp caohiểu được, thông cảm được với những khó khăn của người nông dân và tintưởng tinh thần của nông dân có thể vượt qua những thách thức của dân tộc.Chính phủ mở các khoá đào tạo ngắn ngày khoảng từ một đến hai tuần, nộidung tuỳ theo nhu cầu của từng giai đoạn phát triển Đào tạo chủ yếu học theocác mô hình, rút kinh nghiệm từ các mô hình.
Phát huy dân chủ, đưa nhân dân tham gia vào quá trình ra quyết định:Chương trình Làng mới của Hàn Quốc đã áp dụng thành công một cách làmkhác: Mang cả nước đến với nông dân, giao quyền, hướng dẫn và hỗ trợ đểnông dân tự quyết định và tổ chức chương trình phát triển nông thôn Mọihoạt động của Chương trình đều được tiến hành thông qua các cuộc họp đểnông dân tự ra quyết định lựa chọn Chọn ưu tiên cho mọi hoạt động trong đóhoạt động nào được tiến hành trước và hoạt động nào được tiến hành sau,phương thức đóng góp, giải pháp thi công, họ tự chịu trách nhiệm trong việclựa chọn, thực thi, giám sát công trình Để hình thành tác phong dân chủ vàđưa dân vào tham gia quản lý, phong trào tập trung xây dựng các hội trườnglàng Các cuộc họp bàn thực hiện dự án được tổ chức tại hội trường, đâu trởthành địa điểm thực hiện quyền làm chủ của nông dân Qua hàng loại cáccuộc họp hội đồng, nông dân đã học cách thực hiện dân chủ bằng hành độngxây dựng một cộng đồng tốt đẹp hơn
Phát huy tinh thần thi đua, khơi dậy lòng nhiệt tình hăng hái trong cáclàng xã: Hàng năm đánh giá hiệu qủa tham gia chương trình của mỗi làng rấtnghiêm túc theo những tiêu chí rõ ràng và công khai, chỉ thực sự nơi nào thựchiện thành công chương trinh thì mới được trực tiếp hỗ trợ các đầu tư kháccủa chính phủ Chủ trương này được Tổng thống chính thức công bố cho nhân
Trang 36dân, tạo nên một khí thế thi đua sôi nổi giữa các địa phương để dành được ưutiên đầu tư Thưởng phạt công minh đã kích thích lòng tự hào, tự tin trongtừng cộng đồng làng xã, tạo nên sự cạnh tranh mạnh mẽ hướng về xây dựngnông thôn mới, thi đua làm giàu, làm đẹp quê hương Thái độ ỷ lại, tự ty bịloại bỏ ngay từ cách tiến hành chương trình Địa phương nào cũng muốnvươn lên thành điển hình tốt, tự hào về sự đổi thay và giàu có của làng mình.
Nguyên tắc hoạt động trong phòng trào “Làng mới” là Nhà nước vànhân dân cùng làm: Nhà nước hỗ trợ vật tư, nhân dân đóng góp công của Sựgiúp đỡ của nhà nước trong năm đầu chiếm tỷ lệ cao, dần dần các năm sau tỷ
lệ này giảm trong khi đó quy mô địa phương và nhân dân tham gia tăng dần.Ngoài ra, Nhà nước tiến hành nghiên cứu và phát hành rộng rãi các tiêu chuẩn
kỹ thuật, ban hành thiết kế mẫu các công trình cơ sở hạ tầng để nhân dân ápdụng dễ dàng Hàng năm, Nhà nước tổ chức các cuộc họp toàn quốc cho lãnhđạo cộng đồng làng xã tham dự Những người thực hiện dự án thành côngđược trao giải thưởng và tuyên dương rộng rãi Huân chương “Saemaul” đượctrao cho những người lãnh đạo cộng đồng xuất sắc hoặc những anh hùng củaphòng trào và trở thành phần thưởng cao quý của quốc gia
- Một số kết quả đạt được từ phong trào “Làng mới”:
Bộ mặt nông thôn đổi thay một cách nhanh chóng Sau 8 năm, từ năm
1970 đến năm 1978, các dự án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn cơ bản đượchoàn thành Dễ thấy nhất là công trình kiên cố hoá nhà ở, năm 1970, 80% hộgia đình nông thôn phải sống trong nhà lá, đến giữa năm 1975 toàn bộ nhàcửa của nông dân trên khắp nông thôn bao la đã được ngói hoá Trong vòng
20 năm rừng đã che phủ khắp nước và khoảng 84% cây rừng của Hàn Quốchiện nay là số cây được trồng vào những năm đó Các dự án trong phong tràoLàng mới đã giải quyết được phần lớn những nhân tố gây cản trở cho quá trìnhhiện đại hoá nông thôn, như xây dựng cơ sở hạ tầng (đường làng, nhà xưởng,
hệ thống cung cấp nước, điện), chuyển giao công nghệ, tích luỹ vốn, đào tạonhân lực và bảo vệ môi trường (giới thiệu giống cao sản, tạo quỹ tiết kiệm
Trang 37trong gia đình, đào tạo cán bộ trong làng…) Có thể nói rằng phong tràoSaemaul là một mô hình phát triển nông thôn cho phép hạn chế tối đa thời gianchuyển hoá nông thôn truyền thống thành một nông thôn hiện đại.
Nhờ chương trình trong vòng 6 năm, thu nhập bình quân các nông hộtăng gần gấp 3 lần, từ 1025 USD năm 1972 lên 2961 USD năm 1977, và thunhập bình quân của các hộ gia đình nông thôn trở nên cao tương đương thunhập bình quân của các hộ ở thành phố Nông thôn trở thành xã hội năngđộng, tự tích luỹ, tự đầu tư và tự phát triển
Sau hơn 30 năm thực hiện phong trào, môi trường sống và cuộc sốngvật chất của người dân nông thôn đã được cải thiện đáng kể, sản xuất mangtính thương mại đã phát triển Trên hết là những người dân đói nghèo bắt đầutrở nên tự tin Khu vực nông thôn trở thành xã hội năng động, có khă năng tựtích luỹ, tự đầu tư, và nhờ đó mà có khă năng tự phát triển Lao động nôngthôn được đào tạo từ chương trình khi ra thành phố kiếm việc làm đã có sẵn
kỹ năng và tác phong hiện đại Do có đủ phẩm chất và khả năng đáp ứng nhucầu cho ngành công nghiệp đòi hỏi kỹ thuật cao hơn
Với chiến lược phát triển nông thôn của nhiều nước khác, đầu tư pháttriển nông thôn là một sự nghiệp lâu dài tốn kém thiên về hiệu quả xã hội hơn
là hiệu quả kinh tế Để tìm ra một biện pháp phát triển trong một khoảng thờigian ngắn, nguồn kinh phí hạn hẹp thì quy mô phong trào “Làng mới” củaHàn Quốc là những gợi ý quý báu để chúng ta nghiên cứu tìm ra giải phápphù hợp cho công cuộc phát triển nông thôn Việt Nam
* Công nghiệp Hương trấn của Trung Quốc [18]
Trung Quốc là nước có dân số lớn nhất thế giới, năm 1992 dân số 1.2 tỷ
và tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn Những năm gần đây, Trung Quốc đãgiải quyết được vấn đề chủ động lương thực Tuy nhiên, việc phát triển nôngthôn cần được quan tâm giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề khác nhau như tăngthu nhập, giải quyết việc làm cho 200 triệu lao động, nâng cao tính tự chủ chonông dân, giải quyết được sức ép của làn sóng di dân từ nông thôn ra thành thị
Trang 38để kiếm việc làm Vấn đề đặt ra cho Chính phủ Trung Quốc là phải áp dụngđồng bộ các biện pháp như kiềm chế tăng dân số, Trung Quốc cần tìm mộthướng đi mới nhằm thu hút lao động ở nông thôn, nâng cao thu nhập cho ngườidân, khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên để từng bước đưa nôngthôn đến văn minh, phồn thịnh Trung Quốc đã tìm cho mình một cách giảiquyết vấn đề kinh tế xã hội nông thôn theo con đường hiện đại hoá, thành thị hoánông thôn, đó là phát triển nông thôn theo kiểu xí nghiệp hương trấn.
Xí nghiệp hương trấn là một loại xí nghiệp kinh tế do nông dân tựnguyện thành lập ngay tại quê hương mình trên cơ sở sử dụng lợi thế về nguồntài nguyên, lao động và các nguồn lực kinh tế khác dưới sự quản lý của các cấpchính quyền, sự lãnh đạo của Đảng và sự quan tâm giúp đỡ của Nhà nước
Xí nghiệp hương trấn Trung Quốc là đường đi phù hợp với quy luật vậnđộng khách quan Điểm mấu chốt trong phát triển kinh tế là kích thích đượclợi ích cá nhân, phát huy tính năng động, nâng cao đời sống của nông dân vàtạo sản phẩm cho xã hội Hiện nay, mức thu nhập của các tầng lớp ngườitrong xã hội được xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp thuộc các lĩnh vực kinh
tế như: Cá thể, dịch vụ, giáo dục, xí nghiệp quốc doanh, nông nghiệp hợp tác
xã Mức thu nhập 180 nhân dân tệ/khẩu/tháng là thuộc nhóm nghèo Phần lớncác vùng nông thôn Trung Quốc trước đây là nghèo đói, lạc hậu; nhưng đếnnăm 1995, thu nhập ở xí nghiệp hương trấn là 2500NDT/lao động/tháng Việcphát triển xí nghiệp hương trấn đã thu hút trên 120 triệu lao động chiếm26,9% lao động cả nước Đây là kết quả to lớn của một nước đông dân nhấtthế giới Mặt khác, ý nghĩa to lớn về mặt xã hội là hạn chế nông dân vàothành phố kiếm sống và đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá nông thôn Đây là hìnhthức phát triển có tính dây chuyền Khi các nhà sản xuất, chế biến hình thànhthì kéo theo hình thành các thị trường Xí nghiệp hương trấn Trung Quốc trởthành những “vệ tinh kinh tế” cuối cùng trong hệ thống các thành phố, thịtrấn Xí nghiệp hương trấn là cầu nối giữa nông thôn và thành thị Năm 1994,Trung Quốc đã có 24.945.980 xí nghiệp hương trấn Xí nghiệp hương trấn đã
Trang 39đóng góp tích cực trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn Mặt khác, xínghiệp hương trấn đã góp vốn cho sản xuất nông nghiệp Đây là lợi thế cơ bảnlàm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, đưa nông nghiệp phát triển theo hướngcông nghiệp hoá hiện đại hoá.
Như vậy, có thể nói rằng, xí nghiệp hương trấn là mô hình đặc biệt củaTrung Quốc và nó đã được nhân rộng ra nhiều vùng ở nông thôn, tạo nên sứcmạnh kinh tế to lớn, giải quyết những vấn đề xã hội gay cấn và mang ý nghĩakinh tế xã hội sâu sắc Xí nghiệp hương trấn đã tạo cho nông dân tự lập trongthu nhập, ổn định đời sống vật chất và tinh thần cho nông dân Trung Quốc
Trang 40PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên [19]
3.1.1.1V ị trí địa l ý
Như Thanh là một trong 11 huyện miền núi của tỉnh Thanh Hoá, thuộcvùng Bắc Trung Bộ, có toạ độ địa lý từ 19022’45’’ - 19045’45’’ vĩ độ Bắc từ
105027’30’’ - 105050’ kinh độ Đông
Phía Bắc giáp huyện Triệu Sơn
Phía Nam giáp tỉnh Nghệ An
Phía Đông giáp huyện Nông Cống và huyện Tĩnh Gia
Phía Tây giáp huyện Như Xuân và huyện Thường Xuân
Diện tích tự nhiên của huyện là: 58.712,11 ha, bao gồm 17 đơn vị hànhchính, trong đó có một thị trấn (Bến Sung) và 16 xã Trung tâm huyện cáchthành phố Thanh Hoá 38 km về hướng Nam
Tuy là một huyện miền núi mới được thành lập từ năm 1996 (tách ra từhuyện Như Xuân) nhưng huyện có một vị trí địa lý rất thuận lợi cho việc pháttriển kinh tế xã hội Quốc lộ 45 nối quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh chạyxuyên qua lãnh thổ huyện với tổng chiều dài là 18 km, là cầu nối quan trọngcho việc giao lưu phát triển kinh tế, xã hội trong vùng
3.1.1.2 Địa hình
Như Thanh là huyện có địa hình tương đối phức tạp với 3/4 diện tích tựnhiên thuộc miền núi đồi phía Nam Thanh Hóa, địa hình thấp và lượn sóng Ở đây,các dãy núi nhìn chung đều chạy theo hướng từ Tây Bắc xuống Đông Nam, độ caotrung bình của huyện so với mặt nước biển là 90m, địa hình huyện có thể chia thànhhai tiểu vùng khác nhau:
- Vùng có địa hình tương đối bằng phẳng, gồm 3 xã và một thị trấn(Yên Thọ, Hải Vân, Phú Nhuận và thị trấn Bến Sung) với diện tích tự nhiên