1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá tình hình chế biến, kinh doanh gỗ trên địa bàn hà tĩnh và đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững

111 191 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC HÌNH 1.1 Vị trí phân bố các nhà máy chế biến gỗ quy mô lớn theo các vùng 12 1.2 Diễn đàn Lâm nghiệp Việt Nam “Phát triển chế biến và thương mại lâm sản gắn với quản lý rừng

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu theo chương trình đào tạo sau đại học, chuyên ngành Kỹ thuật máy và công nghệ gỗ, giấy, khóa học 2009 – 2011 tại trường Đại học Lâm Nghiệp Đến nay tôi đã hoàn thành khóa học và thực hiện

thành công đề tài “Đánh giá tình hình chế biến, kinh doanh gỗ trên địa bàn tỉnh

Hà Tĩnh và đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững”

Nhân dịp hoàn thành luận văn thạc sỹ, tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn

sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Văn Thiết đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong

suốt thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Lâm nghiệp, khoa Sau Đại học - Trường Đại học Lâm nghiệp và các thầy giáo, cô giáo giảng dạy các môn trong chương trình đào tạo thạc sỹ của nhà trường

Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo và tập thể cán bộ UBND tỉnh Hà Tĩnh,

Sở NN&PTNT, Chi cục Kiểm Lâm, Chi cục Lâm nghiệp, Chi cục Phát triển nông thôn, Cục Thống kê, Cục Hải quan, Sở Tài chính, Sở Công thương, Cục Thuế tỉnh

Hà Tĩnh; UBND các huyện, thị, thành phố thuộc tỉnh Hà Tĩnh; UBND các xã thuộc các huyện; Huyện ủy Thạch Hà, cùng toàn thể bạn bè, đồng nghiệp và người thân

đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin cam đoan số liệu điều tra, khảo sát và thu thập, xử lý trong đề tài là trung thực và được trích dẫn rõ ràng

Hà Nội, ngày 29 tháng 9 năm 2010

Tác giả

Nguyễn Bá Hà

Trang 3

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt i

Danh mục các bảng iii

Danh mục các hình iv

Đặt vấn đề 1

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam 4

1.1.1 Sơ lược về công nghiệp chế biến gỗ ở Việt Nam qua các thời kỳ 4

1.1.2 Tình hình phát triển cơ sở chế biến gỗ 9

1.1.3 Tình hình cung ứng nguyên liệu gỗ 13

1.1.4 Hiện trạng về sản phẩm và thị trường tiêu thụ 15

1.1.5 Hiệu quả sản xuất kinh doanh 23

1.1.6 Hiện trạng về khoa học công nghệ 24

1.1.7 Hiện trạng quản lý nhà nước 28

1.1.8 Ngành công nghiệp chế biến gỗ của tỉnh Hà Tĩnh 29

1.1.9 Tổng quan các công trình đã công bố liên quan đến nội dung đề tài 31 1.2 Cơ sở lý luận của đề tài 33

1.2.1 Khái niệm về công nghiệp chế biến gỗ 33

1.2.2 Khái niệm về chiến lược 34

1.2.3 Phương pháp phân tích SWOT 35

1.2.4 Một số tiêu chuẩn và chứng chỉ đối với sản phẩm gỗ 39

1.3 Phương pháp xử lý kết quả 43

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44

2.1 Đối tượng nghiên cứu 44

Trang 4

2.2 Phạm vi nghiên cứu 44

2.3 Mục tiêu nghiên cứu 44

2.4 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 44

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 45

3.1 Đánh giá tình hình chế biến, kinh doanh gỗ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 45

3.1.1 Điều tra, khảo sát tình hình nguyên liệu, chế biến, kinh doanh gỗ 45

3.1.2 Đánh giá 64

3.2 Đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững ngành công nghiệp chế biến, kinh doanh gỗ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 68

3.2.1 Các căn cứ xây dựng định hướng 68

3.2.2 Quan điểm và mục tiêu phát triển 71

3.2.3 Một số dự báo cơ bản 73

3.2.4 Nội dung định hướng phát triển 75

3.2.5 Các giải pháp thực hiện 77

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 96 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

UBND Ủy ban nhân dân

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

SWOT

Tập hợp những chữ cái đầu tiên của các từ tiếng Anh: Strengths (Điểm mạnh), Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities (Cơ hội) và Threats (Thách thức)

FSC Tên viết tắt chữ cái đầu của các từ tiếng Anh: Forest Stewardship

Council - Hội đồng quản trị rừng quốc tế

COC Tên viết tắt chữ cái đầu của các từ tiếng Anh: Chain of Custody -

Chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm

ISO

Tên viết tắt chữ cái đầu của các từ tiếng Anh: (International Organization for Standardization) - Là tên viết tắt của Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hoá

FDI Tên viết tắt chữ cái đầu của các từ tiếng Anh: Foreign Direct

Investment - Là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 100%

USD Tên viết tắt chữ cái đầu của các từ tiếng Anh: United States dollar

- Là đồng đô la Mỹ

ODA

Tên viết tắt chữ cái đầu của cụm từ tiếng Anh: Official Development Assistance - Hỗ trợ phát triển chính thức của nước ngoài

Trang 6

EU Từ viết tắt chữ cái đầu của cụm từ tiếng Anh (Europe Union) -

Liên minh các nước Châu Âu

CNH Công nghiệp hóa

HĐH Hiện đại hóa

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.1 Khối lượng gỗ khai thác phục vụ sản xuất qua các năm 15

1.2 Khối lượng gỗ khai thác phục vụ sản xuất qua các năm theo từng

1.3 Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ trong những năm gần đây 16

1.4 Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ sang các thị trường chính, giai

1.5 Cơ cấu và chất lượng lao động tại các doanh nghiệp khảo sát 20

3.3 Diện tích rừng trồng và khối lượng gỗ rừng trồng khai thác qua

3.9 Tổng hợp kết quả kinh doanh của các cơ sở chế biến gỗ 60 3.10 Tổng hợp khối lượng các loại sản phẩm gỗ từ năm 2006 – 2010 61

3.11 Dự báo nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế biến gỗ giai

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

1.1 Vị trí phân bố các nhà máy chế biến gỗ quy mô lớn theo các vùng 12

1.2

Diễn đàn Lâm nghiệp Việt Nam “Phát triển chế biến và thương

mại lâm sản gắn với quản lý rừng bền vững” tại tỉnh Bình Định,

năm 2011

33

3.1 Nguyên liệu gỗ tròn tại Công ty Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương

3.2 Cung cấp nguyên liệu cho sản xuất dăm gỗ tại Công ty Liên doanh

3.3 Sản phẩm dăm gỗ tại Công ty Trồng rừng và sản xuất nguyên liệu

3.5 Dây chuyền sản xuất đồ mộc xuất khẩu của công ty CP Việt Hà 57 3.6 Tàu du lịch được sản xuất tại cơ sở đóng tàu Hải Long 58

3.7 Hiện trạng phân bố các cơ sở chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Hà

3.8 Bản đồ quy hoạch mạng lưới chế biến gỗ tỉnh Hà Tĩnh 82

3.9 Quy hoạch mạng lưới chế biến gỗ tại Khu công Công nghiệp Hạ

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hà Tĩnh là tỉnh thuộc vùng Duyên hải Bắc Trung bộ, có toạ độ địa lý từ

17053'50'' đến 18045'40'' vĩ độ Bắc và 105005'50'' đến 106030'20'' kinh độ Đông; phía Bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía Nam giáp tỉnh Quảng Bình, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp tỉnh Bôlikhămxay và Khămmuộn của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; có 10 huyện, 01 thị xã và 01 thành phố, trong đó có 4 huyện và 1 thị

xã miền núi; diện tích đất tự nhiên 5.997 km2, dân số 1.289.058 người, có 127 km đường Quốc lộ 1A, 87 km đường Hồ Chí Minh và 70km đường sắt Bắc - Nam, có đường Quốc lộ 8A chạy sang Lào qua cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo với chiều dài 85

km, Quốc lộ 12 dài 55 km đi từ cảng Vũng Áng qua Quảng Bình đến cửa khẩu Cha

Lo sang Lào và Đông Bắc Thái Lan Ngoài ra Hà Tĩnh còn có 137 km bờ biển có cảng nước sâu Vũng Áng, cảng Xuân Hải, nhiều cảng và cửa sông lớn cùng với hệ thống đường giao thông rất thuận lợi cho phát triển các khu công nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội Hà Tĩnh có diện tích rừng tự nhiên, rừng sản xuất và rừng phòng hộ gần 80% diện tích đất tự nhiên, rất thuận lợi cho việc khai thác, chế biến

gỗ và trồng nguyên liệu gỗ Với vị trí địa lý như vậy, Hà Tĩnh có điều kiện thuận lợi trong giao lưu, thông thương hàng hóa và phát triển kinh tế - xã hội

Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông thôn, nông dân, xác định nhiệm

vụ và giải pháp “Phát triển lâm nghiệp toàn diện từ quản lý, bảo vệ, trồng, cải tạo, làm giàu rừng đến khai thác, chế biến lâm sản, bảo vệ môi trường cho du lịch sinh thái”; Quyết định số 69/2007/QĐ-TTg, ngày 18 tháng 5 năm 2007 của Thủ trướng Chính phủ về phê duyệt Đề án phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, khẳng định quan điểm: “Phát triển công nghiệp chế biến phải gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, phù hợp với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; phải gắn với thị trường tiêu thụ

Trang 10

trong nước, thế giới và vùng nguyên liệu để phát triển những mặt hàng có lợi thế so sánh và khả năng cạnh tranh”…

Để phát huy những tiềm năng thế mạnh, trong những năm qua, tỉnh Hà Tĩnh

đã từng bước ổn định phát triển kinh tế - xã hội đem lại hiệu quả tích cực Tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách phù hợp để khuyến khích phát triển sản xuất, chế biến và kinh doanh lâm sản Nghị quyết số 08-NQ/TU, ngày 19 tháng 5 năm 2009 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XXVI) đã xác định mục tiêu đến năm 2020: tốc độ tăng trưởng lâm sản đạt 3,5 – 4%/năm; giá trị sản xuất lâm sản đạt trên 45%; giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn, các làng nghề; phát huy lợi thế về nguồn nguyên liệu, các sản phẩm lâm nghiệp đặc thù, phát huy và gìn giữ các giá trị văn hóa; 50% lao động được đào tạo nghề, chú trọng thợ kỹ thuật Nghị quyết đưa ra nhiệm vụ và giải pháp, trong đó “tập trung rà soát, điều chính, bổ sung và xây dựng mới các quy hoạch, chương trình, đề án phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển mạnh công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịnh vụ nông thôn” [4] Đây là chủ trương đúng, kịp thời để tỉnh để từng bước khôi phục và phát triển ngành công nghiệp chế biến, kinh doanh gỗ Hằng năm doanh số tiêu thụ sản phẩm gỗ trên địa bàn hàng trăm tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước hàng chục tỷ đồng, giải quyết công ăn việc làm và thu nhập ổn định cho hàng ngàn lao động

Tuy nhiên, trong những năm qua, ngành công nghiệp chế biến gỗ của tỉnh Hà Tĩnh vẫn chậm phát triển, quy hoạch vùng, cụm công nghiệp còn thiếu cụ thể, chưa tập trung; máy móc, công nghệ lạc hậu, trình độ tay nghề thấp; mẫu mã sản phẩm chưa phong phú, đa dạng, thiếu tính cạnh tranh, các sản phẩm truyền thống chưa được phát huy; chưa chủ động nguồn nguyên liệu; các cơ sở chế biến chưa có tính liên kết chặt chẽ, phát triển còn manh mún, nhỏ lẻ, tự phát, thiếu quy hoạch và chiến lược cụ thể… dẫn đến hiệu hiệu quả kinh tế không cao, không bền vững Mặc dù UBND tỉnh, Sở NN&PTNT đã có một số công trình nghiên cứu và giải pháp thực hiện khắc phục những hạn chế trên nhưng công tác tổ chức thực hiện thiếu đồng bộ, chưa hiệu quả, hạn chế trong kiểm tra, giám sát thực hiện; cơ chế chính sách chưa thực sự thuận lợi cho các cơ sở chế biến gỗ

Trang 11

Để ngành chế biến gỗ của tỉnh Hà Tĩnh thực sự là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn và trọng điểm, đem lại lợi ích về kinh tế và xã hội cao, đòi hỏi tỉnh

Hà Tĩnh phải có nhiều giải pháp hữu hiệu, nhiều đề tài và công trình nghiên cứu khoa học mang tính chiến lược, thiết thực, có lộ trình, quy hoạch và thực hiện quy hoạch cụ thể Từ thực trạng và những yêu cầu thực tế trên, chúng tôi nghiên cứu và

thực hiện đề tài “Đánh giá tình hình chế biến, kinh doanh gỗ trên địa bàn tỉnh

Hà Tĩnh và đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững”

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam

1.1.1 Sơ lược về công nghiệp chế biến gỗ ở Việt Nam qua các thời kỳ

1.1.1.1 Thời kỳ Pháp thuộc 1858 – 1945

Theo tài liệu Lâm nghiệp Đông Dương của Paul Maurand, năm 1943 diện tích rừng nước ta chiếm 14.352.000 ha trên tổng diện tích lãnh thổ 33.090.000 ha, đạt độ che phủ là 43,7% Tuy nước ta có nhiều rừng, nhiều gỗ và lâm sản nhưng chính sách lâm nghiệp của Pháp trong thời kỳ này chủ yếu là quản lý rừng để thu thuế và khai thác rừng ở thuộc địa đem về phục vụ nhu cầu chính quốc, không đầu

tư vào công nghiệp chế biến Pháp đã ban hành các quy chế lâm nghiệp, khai thác

gỗ ở Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ Năm 1909 số lượng khai thác gỗ tròn là 786.896m3

Thời kỳ này, công nghiệp chế biến gỗ ở Việt Nam khai thác chậm, số cơ sở

ít, quy mô nhỏ, kỹ thuật thô sơ, chủ yếu là cưa xẻ bằng máy, ở Hà Nội có công ty cưa máy Đông Dương, ở Biên Hòa Đồng Nai có công ty BIF Ngoài các cơ sở xẻ gỗ còn có một số nhà máy Diêm ở Hà nội, Thanh Hóa, Nghệ An, 02 nhà máy ở Việt Trì (Phú Thọ), Đáp Cầu (Bắc Ninh) Ở nông thôn đã hình thành các làng nghề mộc truyền thống nổi tiếng ở Phù Khê, Đồng Kỵ, Từ Sơn (Bắc Ninh), La Xuyên (Nam Định) [15]

1.1.1.2 Giai đoạn kháng chiến chống pháp 1945 – 1954

Giai đoạn này chủ trương của Đảng và Chính phủ tập trung lực lượng toàn quốc vừa kháng chiến vừa kiến quốc, tích cực xây dựng kinh tế Tuy nhiên thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, ngành chế biến gỗ chỉ hạn chế mức tự cung

tự cấp cho nhu cầu vùng tự do Năm 1947 khai thác gỗ ở Bắc Bộ chỉ có 4.698m3, nhưng kháng chiến ngày càng đẩy mạnh, ngành lâm nghiệp phải tăng cường khai thác, chế biến gỗ để phục vụ nhu cầu cho các chiến dịch, nhu cầu quốc phòng, giao thông, công nghiệp, thủ công nghiệp, thương mại và sau này cả xuất khẩu Năm

Trang 13

1952, tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn đã tổ chức sản xuất 230.000 thanh tà vẹt xuất khẩu sang Trung Quốc [15]

Sau hòa bình lặp lại chỉ có một vài xưởng chế biến gỗ của các nhà tư sản Hà Nội, Hải Phòng… Sau này được cải tạo theo hình thức công ty hợp doanh Mãi đến năm 1957 mới hình thành một số xí nghiệp quốc doanh như K42 (Quân đội), X85

Hà Bắc, xẻ mộc Bắc Giang, xẻ gỗ xây dựng Hà Nội… Đến năm 1959 được sự giúp

đỡ của Tiệp Khắc và Trung Quốc, Bộ Công nghiệp nhẹ đã xây dựng và đưa vào sản xuất 03 nhà máy chế biến gỗ là: nhà máy gỗ Dán Cầu Đuống, nhà máy gỗ Vinh và nhà máy Diêm Thống Nhất

Tháng 4/1960 Quốc hội đã ban hành Nghị quyết tách Bộ Nông lâm thành Bộ Nông nghiệp, Bộ Nông trường, Tổng cục Lâm nghiệp và Tổng cục Thủy sản Trong

bộ máy tổ chức của Tổng cục Lâm nghiệp có Cục Chế biến lâm sản với chức năng quản lý, chỉ đạo các cơ sở chế biến gỗ và lâm sản [15]

* Thời kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) và chống chiến tranh phá hoại miền Bắc (1965-1975)

Trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965), Đảng và Chính phủ rất coi trọng trong việc phát triển nông, lâm nghiệp Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 khóa III đã xác định “Phải đưa công nghiệp gỗ lên thành công nghiệp quan trọng nhất” Thời gian này nhiều nông, lâm trường được thành lập Sản lượng gỗ khai thác, chế biến tăng liên tục, năm 1964 đạt sản lượng cao nhất thời kỳ là 1,1 triệu m3 gỗ

Từ năm 1965 miền Bắc bước vào thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ, ngành Lâm nghiệp chuyển hướng sản xuất sang cung cấp đủ gỗ cho quốc

Trang 14

phòng Do lượng gỗ khai thác hằng năm lớn, bình quân 800.000m3/năm, nên các cơ

sở chế biến gỗ cũng phát triển, đến năm 1969 đã có 56 cơ sở Các sản phẩm chủ yếu

là tà vẹt làm đường sắt, đóng tàu thuyền, hòm đựng vũ khí, cầu đường…

Đến năm 1975 ở miền Bắc đã có 135 xí nghiệp chế biến gỗ, nghề mộc đã được chú ý phát triển, nhiều xí nghiệp đã có phân xưởng sản xuất đồ mộc Quy mô

xí nghiệp chế biến gỗ nước ta chủ yếu là vừa và nhỏ, trong 135 xí nghiệp trên có 8

xí nghiệp chế biến từ 20.000 - 50.000m3 gỗ tròn/năm, 35 xí nghiệp có quy mô 5.000

- 10.000m3 gỗ tròn/năm, 66 xí nghiệp có quy mô 1.500 - 3.000m3 gỗ tròn/năm, 23 xí nghiệp có quy mô dưới 1.000m3 gỗ tròn/năm,

* Chế biến gỗ ở vùng thuộc quyền kiểm soát của chính quyền Sài Gòn 1975)

(1955-Với diện tích rừng là 8 triệu ha, sản lượng khai thác gỗ cao nhất đạt 750.000m3, công nghiệp chế biến gỗ ở vùng thuộc quyền kiểm soát của Chính quyền Sài Gòn phát triển chưa mạnh, chỉ có hệ thống trại cưa phát triển tại các khu rừng, đến năm 1975 có 542 trại cưa hoạt động, đa số là xưởng cưa có quy mô nhỏ,

có 4 trại cưa đạt công suất trên 10.000m3 gỗ tròn/năm Tổng công suất các trại cưa khoảng 600.000m3 gỗ tròn/năm Ở các khu vực thành thị có một số nhà máy chế biến gỗ theo công nghệ tiên tiến tập trung ở Khu công nghiệp Biên Hòa Đồng Nai,

là nhà máy gỗ Dán Đồng Nai, nhà máy ván Dăm Tân Mai; xí nghiệp Liên hiệp gỗ Diêm Hòa Bình (Sài Gòn) Ngoài ra còn có 2 nhà máy ngâm tẩm gỗ Thông làm cột điện ở Phan Rang, Ninh Thuận, công suất 10.000m3/năm và nhà máy ngâm tẩm bảo quản gỗ ở Long Bình (Đồng Nai) công suất 38.000m3/năm

Trong những năm 70 của thế kỷ 20, hằng năm miềm Nam chế biến xuất khẩu

gỗ Thông 3 lá sang Nhật khoảng 200.000m3/năm [15]

1.1.1.4 Giai đoạn 1975 - 1986

Từ năm 1976 đánh dấu một bước phát triển mới của ngành khai thác, chế biến gỗ (công nghiệp rừng) với nhiệm vụ nặng nề phục vụ đắc lực cho các kế hoạch phát triển kinh tế thời kỳ 1976 - 1985 Lúc đầu là các công ty chế biến, cung ứng lâm sản theo miền, sau đó chuyển thành các Liên hiệp chế biến, cung ứng lâm sản

Trang 15

vùng Đầu những năm 80 Bộ Lâm nghiệp đã nhập một số dây chuyền thiết bị về chế biến gỗ như: 3 nhà máy gỗ lạng KonTum, Buôn Mê Thuột, Sông Bé, nhà máy ván Dăm Việt Trì Số lượng gỗ khai thác, chế biến xuất khẩu cũng tăng lên, đặc biệt cung cấp đầy đủ tà vẹt để hoàn thiện tuyến đường sắt Thống Nhất [15]

1.1.1.5 Giai đoạn 1986 đến nay

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, phát triển kinh tế nhiều thành phần Bộ Lâm nghiệp đã chỉ đạo toàn ngành chuyển từ nền kinh tế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần được quản

lý theo nguyên tắc kế hoạch hóa định hướng và hạch toán kinh doanh Bộ đã hợp nhất với các liên hợp chế biến cung ứng lâm sản vùng tổ chức thành các Tổng công

ty dịch vụ sản xuất và nhập khẩu I, II, III, ngoài ra còn có các cơ sở chế biến ở các liên hiệp công nghiệp ở các vùng có nhiều rừng như: Kông Hà nừng, Gia Nghĩa, EaSúp… nhờ vậy chế biến đã được kết hợp với khai thác và xuất nhập khẩu Theo thống kê đến ngày 1/1/1990 cả nước có 62 xí nghiệp chế biến gỗ (23 xí nghiệp thuộc Trung ương, 39 xí nghiệp thuộc địa phương)

Đến năm 1995, chủ trương của Nhà nước là giảm sản lượng khai thác rừng

tự nhiên, đến năm 2000 giảm mạnh, chỉ khai thác 300.000m3/năm, đồng thời khuyến khích nhập khẩu gỗ nguyên liệu, đẩy mạnh xuất khẩu gỗ mỹ nghệ và sản phẩm chế biến từ rừng trồng, đẩy mạnh sản xuất ván nhân tạo [15]

Từ năm 2000 đến nay công nghiệp chế biến gỗ của Việt Nam phát triển mạnh mẽ, ngành gỗ đã vươn lên vị trí thứ 4 trong khối các nước Đông Nam Á (sau Malaysia, Indonesia và Thái Lan) Các doanh nghiệp chế biến gỗ đang hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất đồ gỗ nội thất, ngoại thất và đồ gỗ mỹ nghệ phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu Sản phẩm gỗ của Việt Nam đã có mặt trên thị trường của 120 quốc gia và vùng lãnh thổ thông qua hơn gần 1.000 doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp và gián tiếp, sự hiện diện của sản phẩm gỗ tại thị trường ngoài nước đã mang lại kết quả sản phẩm gỗ là 1 trong 10 mặt hàng đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu cao nhất Việt Nam

Trang 16

Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ đứng vị trí số một trong các mặt hàng lâm sản xuất khẩu của nước ta Năm 2007 đạt 2,4 tỷ USD, tăng gấp 11 lần so với năm

2000 (219 triệu USD) Theo thống kê cho thấy tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu năm sau cao hơn so với năm trước, luôn đạt mức tăng xấp xỉ 500 triệu USD/năm Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ các năm gần đây là:

- 2004: 1.154 triệu USD; - 2007: 2.400 triệu USD;

- 2005: 1.562 triệu USD; - 2008: 2.650 triệu USD;

- 2006: 2.000 triệu USD; - 2009: 2.620 triệu USD

Tuy nhiên, cùng với sự tăng trưởng và thuận lợi của ngành, hiện nay, lĩnh vực chế biến gỗ cũng đang gặp rất nhiều khó khăn và bộc lộ những điểm yếu kém từ khi chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung mệnh lệnh sang cơ chế thị trường Những năm gần đây, ngành công nghiệp chế biến gỗ phát triển mang tính tự phát, chưa vững chắc, thiếu quy hoạch và tầm nhìn chiến lược, tính cạnh tranh chưa cao, sự liên kết và phân công sản xuất chưa tốt (chưa có sự chuyên môn hoá, chưa có phân công sản xuất theo vùng, tiểu vùng…), chưa xây dựng được thương hiệu trên thị trường thế giới, thiếu vốn đầu tư cho phát triển và hiện đại hoá công nghệ

Việc cung ứng và sử dụng nguyên liệu gỗ còn bất hợp lý Hằng năm Việt Nam xuất khẩu một lượng lớn gỗ rừng trồng dưới dạng dăm gỗ ảnh hưởng đến kế hoạch phát triển nguồn nguyên liệu gỗ lớn và phát triển công nghiệp ván nhân tạo Trong khi đó, Việt Nam phải nhập khẩu 80% nguyên liệu gỗ để sản xuất sản phẩm đồ mộc, kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu gỗ hằng năm tương đương khoảng 40 - 45% kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ Cụ thể:

- Năm 2005: 667 triệu USD; - Năm 2008: 1.107 triệu USD;

- Năm 2006: 760 triệu USD; - Năm 2009: 1.134 triệu USD

- Năm 2007: 1.080 triệu USD;

Nguồn nhân lực cho công nghiệp chế biến gỗ còn yếu, hiện chưa có chính sách thu hút lao động đúng mức để ổn định sản xuất Đội ngũ chuyên gia và công nhân kỹ thuật chưa đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao của ngành [6]

Trang 17

Trong cuộc cạnh tranh mạnh mẽ của ngành chế biến gỗ Việt Nam trên thị trường chế biến gỗ thế giới hiện nay, sau khi hội nhập WTO, ngành chế biến gỗ Việt Nam đã bộc lộ nhiều yếu kém và hạn chế về mẫu mã, chất lượng, thương hiệu, pháp luật thương mại quốc tế, tiêu chuẩn, chứng chỉ quốc tế, thương mại điện tử…

Đó là chưa kể đến những cạnh tranh (kể cả cạnh tranh không lành mạnh) trong nội

bộ các doanh nghiệp trong nước, cũng là một trong số các nguyên nhân làm cho các doanh nghiệp Việt Nam chỉ gia công sản phẩm gỗ xuất khẩu mà không mang thương hiệu của mình trên thị trường quốc tế

1.1.2 Tình hình phát triển cơ sở chế biến gỗ

1.1.2.1 Số lượng cơ sở chế biến và năng lực chế biến gỗ

Theo thống kê của Cục Chế biến, Thương mại nông lâm thủy sản và nghề muối và Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, hiện nay cả nước có khoảng 2.500 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến gỗ, với công suất hoạt động tối thiểu 200.000 m3 gỗ tròn/năm

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, trong bối cảnh bùng nổ số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ, công nghiệp chế biến gỗ đã có những thay đổi đáng kể trong vòng 10 năm qua Năm 2000, cả nước có khoảng 1.200 doanh nghiệp chế biến

gỗ, đến 2005 có khoảng 1.500 cơ sở chế biến gỗ, đến 2007 có khoảng 2.000 cơ sở chế biến gỗ, đến 2009 có khoảng 2.500 cơ sở chế biến gỗ

Sự phát triển công nghiệp chế biến gỗ được nhìn nhận qua việc tăng số lượng

cơ sở chế biến; tăng công suất (bao gồm việc mở rộng công suất thiết kế của nhiều doanh nghiệp) và tăng trưởng nhanh của giá trị kim ngạch xuất khẩu

Năng lực sản xuất công nghiệp ước đạt hơn gần 15 triệu m3 gỗ tròn Trong

đó năng lực của các nhà máy băm dăm mảnh khoảng 6,3 triệu m3 gỗ tròn rừng trồng/năm (tương đương 3,15 triệu tấn dăm khô/năm); năng lực sản xuất ván nhân tạo ước đạt hơn 1 triệu m3 gỗ tròn/năm; năng lực sản xuất gỗ xẻ khoảng 3 triệu m3

và tổng công suất thiết kế sản phẩm gỗ khoảng 2 – 2,5 triệu m3 sản phẩm

Hiện tại, năng lực sản xuất ván nhân tạo các loại ước đạt khoảng 500.000 m3

sản phẩm/năm, trong đó chủ yếu là ván sợi MDF, ván dăm (quy mô nhỏ), còn lại là

Trang 18

các sơ sở sản xuất ván dán và ván ghép thanh quy mô nhỏ Các nhà máy sản xuất ván dăm và ván sợi MDF hiện đang hoạt động gồm: Nhà máy ván sợi Việt Trì: 2.000 m3 sản phẩm/năm; Nhà máy MDF Quảng Ninh: 5.000 m3 sản phẩm/năm; Nhà máy MDF liên doanh Việt Trung (Nghĩa Đàn - Nghệ An): 15.000 m3 sản phẩm/năm; Nhà máy gỗ MDF COSEVCO - Quảng Trị (Công ty xây dựng và sản xuất gỗ MDF): 60.000 m3 sản phẩm/năm; Nhà máy MDF Gia Lai: 54.000 m3 sản phẩm/năm)

Hiện nay một số Nhà máy MDF có quy mô lớn hơn đang được xây dựng: tại ĐăkNông có Nhà máy MDF Long Việt và Khải Vy (tổng công suất hơn 100.000 m3

sản phẩm/năm); tại Bình Phước có Nhà máy MDF Việt Nam và MDF Thiên Sơn (tổng công suất khoảng 160.000 m3 sản phẩm/năm); tại Hoà Bình có Nhà máy MDF liên doanh của Tổng Công ty Lâm nghiệp Việt Nam với công suất 54.000 m3 sản phẩm/năm; tại tỉnh Hà Giang một Công ty tư nhân đang lập dự án đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất MDF với công suất 100.000 m3 sản phẩm/năm; Liên doanh giữa Tập đoàn Dongwha và Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam đang chuẩn bị xây dựng nhà máy MDF (gọi là Công ty cổ phần MDF VRG Dongwha) tại huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước với công suất 300.000 m3 sản phẩm/năm [6]

1.1.2.2 Cơ cấu cơ sở chế biến gỗ theo loại hình doanh nghiệp

- Số Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: 421

- Hình thức khác (bao gồm cơ sở hộ gia đình): 687 cơ sở

(Nguồn: Bộ Kế hoạch và đầu tư – 2008)

1.1.2.3 Hiện trạng phân bố các cơ sở chế biến gỗ theo các Vùng, Tiểu Vùng Các nhà máy chế biến gỗ, sản xuất giấy quy mô lớn được mô tả tại hình 1.1 Các cơ sở chế biến gỗ có quy mô lớn tập trung chủ yếu tại các tỉnh Đông Nam Bộ, như: Bình Dương khoảng 370 cơ sở quy mô lớn trong tổng số khoảng 650 cơ sở,

Trang 19

trong đó hơn 50% là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai (khoảng 219 cơ sở quy mô lớn (trong tổng số 706 cơ sở), trong

đó có khoảng 50 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) và Bình Định

Các nhà máy băm dăm mảnh (dăm gỗ) nằm tập trung tại Bắc Trung Bộ; vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ, giáp các cảng biển nước sâu và vùng rừng trồng, hoặc ở vị trí có hệ thống đường thuỷ thuận lợi, cự ly vận chuyển khoảng

200 km

Ngành giấy và bột giấy chủ yếu nằm ở miền Bắc và miền Nam

1 Tiểu Vùng Đông bắc

Tổng số cơ sở chế biến gỗ: 216, trong đó:

- 3 nhà máy sản xuất ván dăm với tổng công suất thiết kế: 24.500 m3 sản phẩm/năm

- 2 nhà máy sản xuất MDF với tổng công suất thiết kế: 7.000 m3 sản phẩm/năm

- 7 cơ sở sản xuất ván ghép thanh với tổng công suất thiết kế: 123.000 m3 sản phẩm/năm

- 4 cơ sở sản xuất ván dán với tổng công suất thiết kế: 8.500 m3 sản phẩm/năm

- 4 nhà máy băm dăm gỗ với tổng công suất thiết kế: 300.000 tấn sản phẩm khô/năm Các nhà máy này đều được đặt tại Quảng Ninh, nơi có cảng Cái Lân

2 Tiểu vùng Tây Bắc

Tổng số cơ sở chế biến gỗ: 19, trong đó:

- 2 cơ sở sản xuất ván dăm với tổng công suất thiết kế: 3.000 m3 sản phẩm/năm

- 2 cơ sở sản xuất ván ghép thanh với tổng công suất thiết kế: 6.000 m3 sản phẩm/năm

- 1 cơ sở băm dăm gỗ quy mô nhỏ, với tổng công suất thiết kế: 5.000 tấn khô/năm

3 Đồng bằng sông Hồng

- Tổng số cơ sở chế biến gỗ: 135, trong đó, có 4 cơ sở sản xuất ván ghép thanh với tổng công suất thiết kế: 4.300 sản phẩm/năm

Trang 20

Tổng số cơ sở chế biến gỗ: 127, trong đó:

- 4 cơ sở sản xuất ván dăm với tổng công suất thiết kế: 6.000 m3 sản phẩm/năm

- 2 nhà máy sản xuất MDF với tổng công suất thiết kế: 75.000 m3 sản phẩm/năm

- 4 cơ sở sản xuất ván dán với tổng công suất thiết kế: 2.000 m3 sản phẩm/năm

- 11 nhà máy băm dăm gỗ với tổng công suất thiết kế: 670.000 tấn khô/năm

5 Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ

Tổng số cơ sở chế biến gỗ: 221, trong đó:

Trang 21

- 17 nhà máy băm dăm gỗ với tổng công suất thiết kế: 1.010.000 tấn khô/năm

- 5 làng nghề chế biến gỗ

6 Vùng Tây Nguyên

Tổng số cơ sở chế biến gỗ: 185, trong đó:

- 2 nhà máy sản xuất ván dăm với tổng công suất thiết kế: 3.000 m3 sản phẩm/năm

- 1 nhà máy sản xuất MDF với tổng công suất thiết kế: 54.000 m3 sản phẩm/năm

- 3 cơ sở sản xuất ván ghép thanh với tổng công suất thiết kế: 10.000 sản m3 phẩm/năm

- 1 cơ sở sản xuất ván dán với tổng công suất thiết kế: 3.000 m3 sản phẩm/năm

7 Vùng Đông Nam Bộ

Tổng số cơ sở chế biến gỗ: 1.467 (trong đó 2 tỉnh Bình Dương và Đồng Nai

có khoảng 767 cơ sở quy mô nhỏ và các hộ cá thể có công suất hoạt động tối thiểu 200.000 m3 gỗ tròn/năm), trong đó:

- Tổng sản lượng ván dăm ước khoảng: 20.000 m3

- Tổng sản lượng ván ghép thanh ước khoảng: 45.000 m3

- Tổng sản lượng ván dán ước khoảng: 30.000 m3

- 12 nhà máy băm dăm mảnh gỗ với tổng công suất thiết kế: 470.000 tấn khô/năm

8 Vùng đồng bằng sông Cửu Long

- Tổng số cơ sở chế biến gỗ: 166, trong đó:

- 05 Nhà máy băm dăm gỗ với tổng công suất thiết kế: 330.000 tấn khô/năm

1.1.3 Tình hình cung ứng nguyên liệu gỗ

Năm 2009, tổng sản lượng khai thác gỗ là 3.766.000 m3/4.300.000 m3, đạt 86% kế hoạch và tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước Trong đó khai thác chính gỗ rừng tự nhiên là 150.800 m3/200.000 m3, đạt 75,4 % kế hoạch Khai thác gỗ rừng

Trang 22

trồng: 3.626.000 m3/4.000.000 m3, đạt 90,60% so với kế hoạch (Nguồn: Tổng Cục Lâm nghiệp)

Năm 2009, giá trị kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu gỗ khoảng 1,134 tỷ USD, tăng 3,56% so với cùng kỳ năm 2008

Đến nay, trữ lượng gỗ rừng trồng đạt khoảng 60 triệu m3, sản lượng gỗ rừng trồng được khai thác đạt trên 3,2 triệu m3/năm và khoảng 1 triệu ste củi Đây là nguồn nguyên liệu chủ yếu cung cấp cho công nghiệp giấy, gỗ trụ mỏ, ván nhân tạo, dăm gỗ xuất khẩu Phần lớn gỗ rừng trồng (chủ yếu là Keo và Bạch đàn) được khai thác ở độ tuổi từ 6-10 năm, đường kính nhỏ, chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất sản phẩm gỗ Vì vậy, phần lớn nguyên liệu gỗ rừng trồng được dùng để sản xuất dăm mảnh xuất khẩu, phần còn lại được sử dụng làm các sản phẩm ván nhân tạo, gỗ xẻ xây dựng cơ bản, mộc dân dụng và sản xuất sản phẩm gỗ xuất khẩu

Việc áp dụng công nghệ, thiết bị chế biến phù hợp gỗ rừng trồng đường kính nhỏ như công nghệ bóc ván mỏng không trấu kẹp, công nghệ sản xuất ván ghép thanh đã mở rộng khả năng sử dụng gỗ rừng trồng đường kính nhỏ để phục vụ sản xuất đồ mộc Do đó, tỷ lệ sử dụng gỗ rừng trồng trong nước cho sản xuất đồ mộc ngày càng tăng lên

Để đáp ứng nhu cầu sản xuất, xuất khẩu sản phẩm gỗ, Việt Nam đang phải nhập khẩu khối lượng lớn nguyên liệu gỗ, khoảng 70 - 80% nhu cầu nguyên liệu mỗi năm

Theo thống kê của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, mỗi năm Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 1 triệu m3 ván nhân tạo các loại, trong đó MDF chiếm khoảng 60% Tổng kim ngạch nhập khẩu ván nhân tạo chiếm khoảng 25% tổng kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu gỗ

Nguyên liệu gỗ được nhập khẩu chủ yếu từ các nước Đông Nam Á, Châu

Mỹ, Châu Phi, Châu Đại Dương và Châu Âu Các nước xuất gỗ cho Việt Nam với lượng lớn trong thời gian gần đây gồm Malaysia, Trung Quốc, Mỹ, Lào, Newzilan, Braxin… Nguồn cung cấp nguyên liệu gỗ qua các năm đươc thể hiện ở Bảng 1.1; Khối lượng gỗ khai thác phục vụ sản xuất được thể hiện ở Bảng 1.2

Trang 23

Bảng 1.1 Khối lượng gỗ khai thác phục vụ sản xuất qua các năm

Danh mục

Đơn

vị tính

ngạch nguyên

liệu gỗ nhập

khẩu

Triệu USD 78 667 760 1.022 1.095 1.134 1.200

(Nguồn: Theo thống kê của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam)

Bảng 1.2 Khối lượng gỗ khai thác phục vụ sản xuất qua các năm theo từng vùng

bằng sông Cửu Long

648,4 700,2 701,9 753,6 760,5 621,0

(Nguồn: Tổng Cục Thống kê năm 2009)

1.1.4 Hiện trạng về sản phẩm và thị trường tiêu thụ

1.1.4.1 Thị trường

Trong những năm qua, ngành chế biến và xuất khẩu sản phẩm gỗ đã có những bước phát triển vượt bậc, với kim ngạch xuất khẩu luôn tăng trưởng cao, năm 2009 đạt 2,6687 tỷ USD, vượt xa mục tiêu đạt 750 triệu USD kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ năm 2004 và đạt 2 tỷ USD năm 2010 đã được đặt ra tại Chỉ thị số 19/2004/CT-TTg ngày 01/6/2004 của Thủ tướng Chính phủ Theo đó, sản phẩm gỗ

đã trở thành một trong những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ được thể hiện ở Bảng 1.3; kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ sang các thị trường chính được thể hiện ở Bảng 1.4

Trang 24

Bảng 1.3 Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ trong những năm gần đây

Đơn vị tính: triệu USD

Thị trường xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam không ngừng được mở rộng Năm 2003 sản phẩm gỗ Việt Nam xuất khẩu đến hơn 60 quốc gia thì đến hết năm

2008, đã có mặt tại trên 120 quốc gia Trong đó, 3 thị trường chính chiếm tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu lớn nhất là Hoa Kỳ (chiếm 38 – 44%), EU (chiếm 28 – 30%) và Nhật Bản (chiếm 12 – 15%)

Năm 2009, tuy nền kinh tế thế giới gặp khó khăn nhưng thị trường tiêu thụ sản phẩm gỗ của Việt Nam vẫn được giữ vững, tuy giá trị kim ngạch xuất khẩu có giảm so với năm 2008 là 7% trong khi đó: tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước năm 2009 so với năm 2008 giảm khoảng 9,5%

Ngoài việc duy trì khả năng tiêu thụ trên các thị trường lớn đã có, các doanh nghiệp Việt Nam cần đẩy mạnh phát triển các thị trường mới như: Các Quốc gia vùng Tây Á, Khu vực Đông Âu… và quan tâm hơn đến thị trường nội địa

1.1.4.2 Sản phẩm

Chủng loại sản phẩm đa dạng hơn, trước năm 2003, sản phẩm gỗ của Việt Nam xuất khẩu sang các nước chủ yếu là ván sàn, bàn ghế ngoài trời Đến những năm gần đây, sản phẩm gỗ nội thất tăng trưởng mạnh và đang được các doanh

Trang 25

nghiệp ngày càng quan tâm hơn Theo cách phân loại quốc tế, sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu thuộc nhóm HS 94 gồm: ghế ngồi đệm, ghế ngồi loại khác, nội thất văn phòng, nội thất nhà bếp, nội thất phòng ngủ và các loại khác

Hiện có nhiều cách phân loại các sản phẩm gỗ dựa trên các quan điểm về ngành sản xuất, theo công dụng, theo cấu tạo sản phẩm Thực tế, sản phẩm gỗ thường được phân thành các nhóm sau:

(1) Nhóm đồ gỗ mỹ nghệ: Bao gồm các sản phẩm chế biến có hàm lượng mỹ

thuật cao được chế biến từ gỗ rừng tự nhiên, gỗ nhập khẩu và gỗ rừng trồng Đồ gỗ

mỹ nghệ thường được chế biến bằng máy móc kết hợp công nghệ thủ công như chạm, khắc, khảm sơn mài Đồ gỗ mỹ nghệ bao gồm các loại sản phẩm sau đây:

- Các sản phẩm sơn mài

- Các loại tượng bằng gỗ, các sản phẩm bằng gốc và rễ cây

- Các lọai tranh gỗ: tranh chạm khắc, tranh khảm trai, tranh ghép gỗ

- Các sản phẩm trang trí lưu niệm, quảng cáo như: cốc, chén, đĩa, khay, thìa (muỗng), quạt, lọ, bình cung kiếm, đế lọ, guốc bài vị, thảm hạt, chuỗi hạt, hộp các loại, huy hiệu, biểu tượng, biểu trưng khung tranh, khung ảnh, phào mỹ nghệ, thuyền buồm mỹ nghệ các loại, mành trang trí, giá đỡ hàng mỹ nghệ

- Nhạc cụ, đồ chơi trẻ em, vợt cầu lông, vượt bóng bàn, gậy chơi bi-da, gậy chăn cừu, ót giầy (cái đón gót), chân tay giả, dù cán gỗ, cán dù, chổi cán gỗ, cán chổi sơn

- Bàn ghế giường tủ các loại, đôn kỷ, án thư, bàn trà, tủ chè, tủ chùa, tủ đồng

hồ, tủ gương, bàn thờ, tủ cao cấp

- Sản phẩm gỗ mỹ nghệ kết hợp song, mây, tre, trúc, gốm sứ, vật liệu khác

(2) Nhóm đồ gỗ nội thất: Bao gồm các loại sản phẩm đồ mộc dùng trong nhà

như: bàn ghế các loại, giường tủ, giá kê sách, ván sàn… làm từ gỗ tự nhiên, gỗ rừng trồng và ván nhân tạo

(3) Nhóm đồ gỗ ngoài trời: Bao gồm các loại sản phẩm đồ mộc kiểu Châu

Âu, thường dùng để ngoài vườn như: bàn ghế, vườn, ghế băng, ô che nắng, ghế xích

đu, cầu trượt được sản xuất từ các loại gỗ rừng trồng

Trang 26

(4) Nhóm sản phẩm gỗ kết hợp với các loại vật liệu khác

Bao gồm các sản phẩm gỗ được chế biến kết hợp với các loại vật liệu khác như: song mây, kim lọai, nhựa, vải, giả da, gốm sứ không những làm cho sản phẩm có tính thẩm mỹ, tăng độ bền chắc mà còn có ý nghĩa tiết kiệm gỗ

(5) Nhóm sản phẩm gỗ ván nhân tạo

Bao gồm các sản phẩm dạng tấm được sản xuất từ nguyên liệu gỗ và vật liệu

xơ sợi, được trộn keo và dán ép trong những điều kiện áp suất, nhiệt độ và thời gian nhất định Các loại ván nhân tạo chủ yếu gồm: ván ghép thanh, ván dán, ván dăm, ván sợi

1.1.4.3 Hiện trạng lao động trong công nghiệp chế biến gỗ

Theo số liệu tổng hợp của Cục Chế biến, Thương mại nông lâm thủy sản và nghề muối và theo tính toán của các chuyên gia, hiện tại công nghiệp chế biến gỗ đang thu hút khoảng 250.000 lao động trực tiếp và gián tiếp

Lực lượng lao động có trình độ cao từ đại học trở lên được đào tạo chủ yếu

từ các trường Đại học Lâm nghiệp, Đại học Nông lâm Thủ Đức Các bộ kỹ thuật và công nhân lao động trực tiếp được đào tạo từ các trường công nhân kỹ thuật lâm nghiệp tại Lạng Sơn, Hà Nam, Phú Yên, Đồng Nai Hiện nay, các trường này đã được nâng cấp thành trường Cao đẳng nghề

Với quy mô, năng lực và chất lượng đào tạo hiện có của hệ thống cơ sở đào tạo chế biến gỗ, số lượng công nhân kỹ thuật chế biến gỗ không đủ đáp ứng nhu cầu của công nghiệp chế biến gỗ Vì vậy, hiện nay nhiều doanh nghiệp đang lựa chọn hình thức đào tạo tại chỗ hoặc gửi công nhân đi đào tạo theo nhu cầu Chỉ có một số doanh nghiệp lớn tự thiết lập được các tổ chức đào tạo trực thuộc doanh nghiệp

Trên thực tế, phần lớn sản phẩm gỗ của Việt Nam được sản xuất theo đơn đặt hàng của khách hàng nước ngoài Vì vậy, công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam hiện nay cơ bản được coi là một ngành gia công phục vụ thị trường thế giới Nguyên nhân chủ quan là do bản thân các doanh nghiệp chế biến gỗ Việt Nam chưa thật sự

đủ năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu Theo đó, chính các doanh nghiệp chưa tạo ra nhu cầu đủ mạnh để thúc đẩy phát triển đội ngũ chuyên gia thiết kế vốn được

Trang 27

đạo tạo chưa phù hợp thực tế như đã nêu trên đây Tổng số lao động của 120 doanh nghiệp là 36.890 người, trong đó, cơ cấu và chất lượng lao động được mô tả theoBảng 1.5

Lao động có trình độ đại học còn ít, chỉ đạt dưới 10% Thực tế số lao động

có trình độ, có tay nghề cao chỉ tập trung ở một số doanh nghiệp nhà nước và các công ty lớn, còn ở các doanh nghiệp, cơ sở nhỏ, số lao động đã qua đào tạo rất thấp,

có trường hợp cả công ty không có ai có trình độ trung cấp trở lên và cũng chưa từng tham gia các lớp đào tạo chuyên môn nào

Bảng 1.5: Cơ cấu và chất lượng lao động tại một số doanh nghiệp khảo sát

Tình hình lao động

120 doanh nghiệp khảo sát

Đồng bằng sông Hồng

và miền núi phía Bắc

Bắc Trung bộ

và Duyên hải miền Trung

Tây nguyên

Đông Nam bộ, Đồng bằng sông Cửu Long

Tổng số lao động 36.890 2.866 10.725 3.760 19.545

Lao động theo hợp đồng

không xác định thời hạn (%) 37,5 33 30 48 39 Lao động theo hợp đồng 1-

Đại học và trên đại học (%) 9,1 10,3 10,1 5 11

Công nhân kỹ thuật/đào tạo

Lao động phổ thông chưa

qua đào tạo (%) 59 66,7 73 62 35

Tỷ lệ lao động nữ (%) 42,5 42 41 47 40

Lương trung bình 1,74

tr/tháng

1,66 tr/tháng

1,88 tr/tháng

1,95 tr/tháng

1.1.4.4 Hiện trạng trang thiết bị và công nghệ chế biến

Qua số liệu phân tích trên đây cho thấy, về cơ bản công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam 10 năm qua đã phát triển theo mô hình chiều rộng Trong tổng số khoảng 2.500 doanh nghiệp chế biến gỗ hiện có thì khoảng hơn 50% số cơ sở chế biến có

Trang 28

quy mô nhỏ, trang thiết bị đơn giản phục vụ sơ chế và sản xuất các sản phẩm có chất lượng thấp, phục vụ tiêu thụ nội địa hoặc làm gia công (sơ chế) nguyên liệu phục vụ các doanh nghiệp lớn hơn

Hiện có khoảng 970 doanh nghiệp chế biến xuất khẩu sản phẩm gỗ (bao gồm doanh nghiệp trực tiếp xuất khẩu và các doanh nghiệp vệ tinh) Trong đó, chỉ với khoảng hơn 400 doanh nghiệp FDI đã tạo ra khoảng hơn 50% giá trị kim ngạch xuất khẩu

Qua phân tích và kết quả khảo sát bổ sung cho thấy, trình độ công nghệ thiết

bị và đầu tư cơ sở hạ tầng có sự khác nhau theo vùng [6]

1 Hiện trạng công nghệ, thiết bị Vùng Đông bằng Bắc bộ và Trung du miền núi phía Bắc

Kết quả khảo sát 15 doanh nghiệp tại các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Yên Bái, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hòa Bình cho thấy: có 10 doanh nghiệp sản xuất gỗ xẻ (trong đó có đơn vị kết hợp sản xuất ván dán, ván sàn, gỗ xây dựng); 3 cơ sở sản xuất đồ nội thất; 2 cơ sở sản xuất ván nhân tạo (tại Thái Nguyên và Yên Bái) Trong

15 cơ sở này, chỉ có Nhà máy ván dăm Thái Nguyên được đầu tư thiết bị ở quy mô công nghiệp với công suất thiết kế 16.500 m3 sản phẩm/năm Công ty Cổ phần Lâm sản Thái Nguyên có chủng loại sản phẩm đa dạng nên doanh nghiệp rất quan tâm đến đầu tư và đổi mới thiết bị, đồng thời Công ty còn có năng lực tự chế tạo thiết bị chế biến như hệ thống thiết bị ép để sản xuất ván dán, lò sấy Còn lại, các cơ sở sản xuất gỗ xẻ có quy mô không lớn, công suất thiết kế trung bình từ 3.000 - 5.000

m3 sản phẩm/năm Qua theo dõi và phân tích cho thấy, khu vực này đang hình thành mạng lưới các các cơ sở vệ tinh chuyên sơ chế và cung cấp bán sản phẩm từ nguyên liệu gỗ rừng trồng cho các cơ sở sản xuất đồ mộc nội ngoại thất ở khu vực Đồng bằng Trang thiết bị ở mức trung bình, được mua sắm khoảng 5 - 15 năm trở lại đây

Có một số cơ sở sản xuất đồ nội thất thì thiết bị tinh chế được mua sắm từ 1-5 năm trở lại đây

2 Hiện trạng công nghệ, thiết bị Vùng Đồng bằng Sông Hồng,

Kết quả khảo sát 15 doanh nghiệp tại các tỉnh, thành phố Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng, Bắc Ninh, Quảng Ninh cho thấy: Sản phẩm chủ yếu là sản phẩm mộc

Trang 29

(nội thất và ngoại thất); gỗ xẻ và ván sàn Trong đó, tỉnh Bắc Ninh có làng nghề truyền thống sản xuất đồ mộc mỹ nghệ cao cấp tiêu thụ nội địa và xuất khẩu chủ yếu sang Trung quốc với phần lớn nguyên liệu từ gỗ rừng tự nhiên Thực tế cho thấy, trang thiết bị sử dụng ở làng nghề đều ở mức trung bình và thấp, rất ít cơ sở đầu tư lò sấy, chỉ có một số cơ sở đầu tư lò sấy hơi đốt Hiện nay, đã có một số đối tác Trung quốc đầu tư thiết bị chạm khắc tự động để làm dịch vụ cho làng nghề

3 Hiện trạng công nghệ, thiết bị Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ

Kết quả khảo sát 10 doanh nghiệp Vùng Bắc Trung Bộ từ Thanh Hóa và đến Huế cho thấy, phần lớn các doanh nghiệp có công nghệ thiết bị trung bình, thời gian

sử dụng thiết bị từ 6 - 15 năm

Kết quả khảo sát 20 doanh nghiệp Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ cho thấy, phần lớn các doanh nghiệp sản xuất đồ sản phẩm gỗ ngoại thất và gỗ xẻ với công suất thiết kế trung bình từ 5.000 m3 sản phẩm/năm trở lên Về công suất hoạt động

có khoảng 30 % cơ sở đạt so với công suất thiết kế

Theo đánh giá của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam và các chuyên gia, công nghiệp chế biến gỗ Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ chủ yếu tập trung vào sản phẩm gỗ ngoại thất phục vụ xuất khẩu Nhìn chung, phần lớn (khoảng 80 %) thiết bị

xẻ gỗ, lò sấy gỗ, thiết bị phụ trợ và dây chuyền hoàn thiện sản phẩm được chế tạo trong nước Các thiết bị khác được nhập khẩu chủ yếu từ các nước Đài Loan (chủ yếu), Italia, Trung Quốc, Đức Tuy nhiên thiết bị phụ trợ được sản xuất trong nước

Kết quả khảo sát cho thấy, 100% dây chuyền sản xuất của các doanh nghiệp được khảo sát là bán tự động Khoảng 30% trong số đó trình độ công nghệ đạt tiên tiến, còn lại 70% có trình độ công nghệ ở mức trung bình Công tác xử lý môi trường đã được các doanh nghiệp quan tâm, khoảng 80% số doanh nghiệp được khảo sát có hệ thống thiết bị xử lý môi trường, đảm bảo sức khỏe cho người lao động

Trang 30

4 Hiện trạng công nghệ, thiết bị Vùng Tây Nguyên

Kết quả khảo sát 20 doanh nghiệp chế biến gỗ khu vực Tây Nguyên cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp có công nghệ thiết bị trung bình Nhiều doanh nghiệp đầu tư thiết bị không đồng bộ có nguồn gốc khác nhau Hiện tại, có khoảng 57% số doanh nghiệp được khảo sát có hệ thống thiết bị xử lý môi trường, đảm bảo sức khỏe cho người lao động

5 Hiện trạng công nghệ, thiết bị Vùng Đông Nam Bộ

Đây là vùng có công nghiệp chế biến gỗ phát triển cả về số lượng doanh nghiệp, quy mô, công nghệ thiết bị và có tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu chiếm tỷ

lệ lớn so với cả nước Các tỉnh, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai đã trở thành trung tâm chế biến gỗ của Việt Nam Vùng này tập trung nhiều doanh nghiệp lớn, bao gồm các doanh nghiệp FDI

Theo đánh giá của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, nhiều doanh nghiệp tại đây đã đầu tư và đổi mới thiết bị hiện đại để sản xuất đồ mộc nội thất, ngoại thất xuất khẩu, chủ yếu phục vụ xuất khẩu Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư mua sắm thiết

bị công nghệ đồng bộ, có thể tổ chức sản xuất khép kín, hiện đại từ các nước Đài Loan, Trung Quốc, Đức, Nhật Bản, Italia… Nhiều dây chuyền công nghệ thiết bị đước đánh giá tương đương trình độ trong khu vực

Đây là khu vực tập trung nhiều doanh nghiệp có khả năng giao dịch thương mại quốc tế, vì vậy công tác xử lý ô nhiễm môi trường công nghiệp đã được nhiều doanh nghiệp quan tâm giải quyết để đảm bảo sức khỏe người lao động

6 Hiện trạng công nghệ, thiết bị Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long

Theo kết quả khảo sát và đánh giá của các chuyên gia, phần lớn doanh nghiệp chế biến gỗ tại Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long có công nghệ thiết bị cũ, lạc hậu

Nhận xét chung về công nghệ, thiết bị:

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp trong nước sản xuất đồ gỗ xuất khẩu sử dụng công nghệ thiết bị trung bình và tiên tiến

Trang 31

Hầu hết các doanh nghiệp nhỏ sản xuất đồ gỗ tiêu thụ nội địa với khối lượng nhỏ sử dụng thiết bị lạc hậu có tuổi đời trên 10 năm Các doanh nghiệp này gặp khó khăn về tài chính và chưa có khả năng tìm kiếm thị trường là những nguyên nhân chính kìm hãm khả năng đổi mới công nghệ, thiết bị

Theo kết quả khảo sát và đánh giá của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, hiện tại các doanh nghiệp chưa đầu tư nhiều cho công tác nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ Tuy nhiên, công nghiệp chế biến gỗ hiện tại được đánh giá là lĩnh vực kỹ thuật tương đối đơn giản, chưa đòi hỏi kỹ thuật, công nghệ cao… Thực

tế có ít doanh nghiệp nghiên cứu cải tiến công nghệ thiết bị để cải thiện chất lượng dây chuyền sản xuất, đồng thời góp phần giảm chi phí đầu tư thiết bị nhằm nâng cao khả năng cạnh trạnh

Đến nay, rất ít kết quả nghiên cứu khoa học của các đơn vị nghiên cứu, đào tạo được áp dụng vào thực tế sản xuất do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chưa theo kịp hoặc chưa đáp ứng nhu cầu thực tế sản xuất

1.1.5 Hiệu quả sản xuất kinh doanh

Theo tính toán của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, chi phí nguyên liệu

gỗ nhập khẩu chiếm khoảng hơn 40% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu sản phẩm

gỗ Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, hiện tại chi phí vốn sản xuất kinh doanh tại Việt Nam là khá cao so với các nước trong khu vực, trong đó lãi xuất vay vốn khá cao, khoảng 15-17%/năm

Là ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động và lao động chưa qua đào tạo, với khoảng 250.000 lao động nhưng chỉ tạo ra giá trị kim ngạch xuất khẩu khoảng 3 tỷ USD cho thấy hiệu quả sản xuất vẫn còn hạn chế Tính toán sơ bộ cho thấy, hiện nay ngành chế biến gỗ Việt Nam trung bình chỉ tạo ra giá trị xuất khẩu khoảng 10.000 USD/công nhân/năm, trong khi tại Trung quốc là 16.000 USD/công nhân/năm, tại Malaysia là 17.500 USD/công nhân/năm, tại Đức khoảng 70.000 USD/công nhân/năm

Theo kết quả khảo sát tổng thể công nghiệp chế biến gỗ tỉnh ĐakLak, không

có liên hệ rõ ràng giữa quy mô vốn đầu tư nói chung, đầu tư vào tài sản cố định nói

Trang 32

riêng với tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu Các doanh nghiệp quy mô nhỏ, ít đầu tư vào tài sản cố định (không quá 2 tỷ) đa số có lãi nhưng tỷ suất lợi nhuận thấp Thực tế nhiều doanh nghiệp tư nhân và cơ sở sản xuất có hệ thống báo cáo kế toán, thống kê rất kém

Có sự khác biệt lớn về hiệu quả kinh doanh của các cơ sở đầu tư tài sản cố định vừa phải từ 2 - 5 tỷ đồng, có doanh nghiệp lãi gần 20% trên vốn chủ sở hữu, cũng có doanh nghiệp báo cáo mức lỗ trên 20% Các doanh nghiệp này đều thuộc nhóm sản xuất đồ gỗ và các sản phẩm khác, có mức đầu tư khá vào nhà xưởng và máy móc thiết

bị (từ 1 - 3 tỷ đồng) Xem xét thêm về năng suất lao động cũng không thấy có sự khác biệt đáng kể ở nhóm các doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn vào máy móc thiết bị so với các doanh nghiệp ít đầu tư vào máy móc thiết bị Nguyên nhân có thể là do một số doanh nghiệp có thiết bị đã cũ, lạc hậu, không được đầu tư nâng cấp hoặc thiếu nguồn nguyên liệu Các doanh nghiệp nhỏ ít đầu tư vào máy móc thiết bị có năng suất lao động thấp hơn, nhưng đa số đều có lãi nhờ linh hoạt hơn trong hoạt động kinh doanh,

và tận dụng được nguồn lao động rẻ

Các doanh nghiệp FDI và một số ít doanh nghiệp trong nước là lực lượng chính tạo ra giá trị kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ, trong đó, chỉ với khoảng hơn

400 doanh nghiệp FDI đã tạo ra khoảng hơn 50% giá trị kim ngạch xuất khẩu Hiện tại, nhiều doanh nghiệp chế biến gỗ sản xuất theo đơn đặt hàng của khách hàng nước ngoài (gia công cho người nước ngoài) Theo đánh giá của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, hiện tại hiệu quả của ngành chế biến gỗ chưa cao

1.1.6 Hiện trạng về khoa học công nghệ

Nhìn lại quá trình phát triển của ngành chế biến lâm sản nói chung, chế biến

gỗ nói riêng, chúng ta nhận thấy: các sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam trong những năm gần đây đã có sự thay đổi căn bản về chất lượng, nhờ thế hàng hóa đồ

gỗ của Việt Nam đã có mặt trên 120 quốc gia và vùng lãnh thổ, giá trị kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng trưởng trong các năm 2006 - 2009

Từ năm 1961, hệ thống tổ chức ngành Lâm nghiệp được thành lập, trong đó

có Viện nghiên cứu Lâm nghiệp (tiền thân của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt

Trang 33

Nam) Các hoạt động nghiên cứu lâm nghiệp trong đó có nghiên cứu khoa học công nghệ chế biến gỗ mới thực sự được triển khai rộng rãi và có hệ thống Hiện nay, công tác nghiên cứu khoa học công nghệ về chế biến gỗ được thực hiện phần lớn tại Viện Khoa học Lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thủ Đức Ngoài ra, các Trung tâm nghiên cứu khoa học của các địa phương, một số tổ chức xã hội nghề nghiệp và doanh nghiệp có quy mô lớn cũng tiến hành nghiên cứu công nghệ chế biến gỗ, nhưng với số lượng đề tài không nhiều

Trước năm 1990, nguồn nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến gỗ chủ yếu từ rừng tự nhiên Các cơ sở chế biến gỗ có số lượng ít, trang thiết bị và công nghệ đơn giản, sản phẩm chế biến phần lớn để tiêu thụ nội địa Sản phẩm gỗ xuất khẩu chủ yếu là gỗ tròn, gỗ xẻ và ván sàn Công tác nghiên cứu khoa học trong giai đoạn này đạt kết quả nổi bật là xác định tính chất cơ vật lý, độ bền tự nhiên và đặc điểm cấu tạo các loại gỗ rừng tự nhiên Kết quả nghiên cứu đã là cơ sở của Nghị định 10 CP (1960) và Quy định tạm thời về phân loại gỗ thương phẩm (1976) Hơn

200 loài gỗ thương phẩm của Việt Nam đã được phân thành 8 nhóm Bảng phân nhóm gỗ đã là căn cứ quan trọng cho công tác tác quản lý, thương mại và sử dụng

gỗ Trong giai đoạn này, lĩnh vực nghiên cứu bảo quản gỗ có nhiều kết quả được áp dụng triển khai rộng rãi vào sản xuất như công nghệ phòng chống mốc cho ván sàn xuất khẩu, công nghệ bảo quản gỗ làm tà vẹt, trụ mỏ, xà điện, bảo quản gỗ đóng tàu thuyền đi biển Nhiều loại thuốc bảo quản đã được nghiên cứu thành công và được chuyển giao công nghệ sản xuất với khối lượng lớn như thuốc BQG1, LN1, LN2,

LN3

Từ những năm 1990 trở lại đây, nội dung nghiên cứu chế biến gỗ tập trung vào đối tượng nguyên liệu gỗ rừng trồng Các đề tài đã đi sâu nghiên cứu về đặc điểm, tính chất công nghệ của một số loại gỗ cây mọc nhanh như Keo, Bạch đàn, Thông, Bồ đề, Mỡ, Hông ; cây gỗ rừng ngập mặn, đất phèn như gỗ Đước, Tràm Các nghiên cứu này đã bổ sung thêm cơ sở khoa học để phân loại và định phẩm cho các loại gỗ thông dụng của Việt Nam Các nghiên cứu về công nghệ sử dụng gỗ, bao gồm công nghệ xẻ, sấy và tạo các sản phẩm ván nhân tạo như ván dăm, ván

Trang 34

ghép thanh, ván dán từ gỗ rừng trồng Cải tiến các thiết bị xẻ, băm dăm, lò sấy phù hợp với đối tượng gỗ rừng trồng đường kính nhỏ Hướng nghiên cứu công nghệ xử

lý biến tính gỗ và tạo các vật liệu composite gỗ nhằm khắc phục các nhược điểm của gỗ rừng trồng và nâng cao hiệu quả dụng gỗ đã bước đầu được thực hiện và có triển vọng Đây cũng là xu thế phát triển các giải pháp công nghệ chế biến gỗ trên thế giới hiện nay

Về thiết bị và dây chuyền công nghệ chế biến gỗ chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức Công việc nghiên cứu chế tạo thiết bị chỉ được tập trung thực hiện tại các nhà máy cơ khí chế tạo chuyên ngành như Công ty FORMACH, Công ty thương mại và Cơ khí Hùng Ký, Công ty Đồng Tháp và Trung tâm Thực nghiệm & Chuyển giao công nghệ Công nghiệp rừng (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) Tuy nhiên các máy móc, thiết bị được chế tạo chủ yếu để chế biến gỗ cơ giới như cưa xẻ, mộc và dây chuyền sản xuất ván dán, ván ghép thanh Nhìn chung thiết bị được nghiên cứu, chế tạo trong nước có chất lượng trung bình khá, đã phần nào đáp ứng được yêu cầu của khách hàng Nhược điểm chủ yếu là tính đồng bộ, độ chính xác chưa cao

Việc ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và thực tiễn sản xuất còn có những khó khăn không nhỏ Do có những đặc thù riêng, ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam thời gian qua đã phát triển đồng thời theo 2 hướng: phát triển tập trung và phát triển phân tán

Theo hướng phát triển tập trung, đã hình thành các tập đoàn chế biến gỗ sản xuất một số mặt hàng có chất lượng cao, đáp ứng các yêu cầu xuất khẩu hoặc cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu ở thị trường trong nước Theo hướng phát triển phân tán đã hình thành hệ thống các cơ sở chế biến đến hầu hết các quận, huyện trên

cả nước Các cơ sở này chủ yếu sản xuất các sản phẩn chất lượng không cao cung cấp cho thị trường nội địa, hoặc là vệ tinh cung cấp các sản phẩm là nguyên liệu cho các công ty, tập đoàn sản xuất các sản phẩm chất lượng cao

Với đặc thù phát triển như vậy, thực tế ứng dụng khoa học công nghệ có sự khác nhau rất rõ nét:

Trang 35

- Các tập đoàn công ty lớn (bao gồm các tập đoàn tư nhân, các công ty cổ phần, các công ty có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài) có đủ điều kiện tài chính

đã nhập khẩu đồng bộ công nghệ và dây chuyền thiết bị của các nước phát triển như Nhật Bản, Đức, Italia, Hoa Kỳ Mặc dù các sản phẩm nhập khẩu chưa đạt trình độ tiên tiến hiện nay trên thế giới, nhưng cũng đã đạt trình độ cơ giới hóa và tự động hóa cao, đủ điều kiện sản xuất các sản phẩm chất lượng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế Các chủng loại thiết bị nhập khẩu tùy thuộc nhu cầu sản xuất, nhưng nhìn chung việc đầu tư tự động hóa chỉ tập trung vào một công đoạn của sản xuất, các phần còn lại trong dây chuyền chủ yếu ở mức cơ giới hóa Đồng thời với việc nhập khẩu thiết

bị, công nghệ các công nhân, người lao động của các tổ chức này có cơ hội được đào tạo, nâng cao trình độ tay nghề, kỹ năng sản xuất, vận hành và cả kỹ năng về quản lý, tổ chức sản xuất Lực lượng lao động chủ chốt trong các công ty này hầu hết được đào tạo cơ bản vì thế việc tiếp cận công nghệ mới và nghiên cứu cải tiến trong quá trình sản xuất cũng như việc thiết lập quan hệ với các tổ chức nghiên cứu rất thuận lợi Như vậy, vai trò của các tập đoàn, doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu trong giai đoạn này rất lớn trong việc nhập và tiếp thu, ứng dụng công nghệ sản xuất các sản phẩm trên dây chuyền, thiết bị hiện đại, tỷ lệ cơ giới hóa và tự động hóa cao đã và đang làm thay đổi sâu sắc trình độ công nghệ chế biến gỗ của các doanh nghiệp

Đánh giá lại thực trạng nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ trong chế biến gỗ cho thấy các nghiên cứu về công nghệ chế biến gỗ giai đoạn gần đây đã phong phú hơn, có phần chuyển hướng gắn với sản xuất và nhu cầu của thị trường Các công trình nghiên cứu đã giải quyết được một phần những yêu cầu cấp thiết của sản xuất Tuy nhiên, nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực chế biến gỗ vẫn còn nhiều hạn chế Các nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu chưa nhiều Số công trình nghiên cứu ít, manh mún, tản mạn, chưa có công trình lớn, mức độ nghiên cứu chưa sâu, chưa có bước đi cụ thể cho sự phát triển bền vững của lĩnh vực chế biến gỗ Các cơ

sở nghiên cứu chưa gắn kết với doanh nghiệp chế biến, chưa giải quyết được những vấn đề khó khăn cho doanh nghiệp, nhiều đề tài được nghiên cứu xong nhưng chậm

Trang 36

áp dụng hoặc không được áp dụng vào thực tế sản xuất Công nghệ chế biến hóa học gỗ còn chưa được quan tâm nghiên cứu

Nguyên nhân của thực trạng trên, một phần do đội ngũ cán bộ nghiên cứu về lĩnh vực này còn mỏng, số lượng cán bộ khoa học trình độ cao không nhiều, có thời gian dài ít được quan tâm, cơ sở vật chất (đặc biệt là thiết bị máy móc) của các cơ

sở nghiên cứu cũng còn hạn chế, kinh phí nghiên cứu của các đề tài thuộc mảng chế biến còn thấp, kết quả nghiên cứu chưa cao, chưa đáp ứng kịp các yêu cầu đòi hỏi thực tế của doanh nghiệp, của sản xuất Còn thiếu các sản phẩm đón đầu để hỗ trợ doanh nghiệp, nên sản phẩm nghiên cứu ít được doanh nghiệp chế biến áp dụng Việc chuyển giao công nghệ từ kết quản nghiên cứu sản phẩm đến nhà sản xuất còn đang ít, thiếu sự gắn kết giữa cơ quan nghiên cứu và các nhà sản xuất, hầu như doanh nghiệp chế biến gỗ còn ít nhận được sự hỗ trợ từ các công trình nghiên cứu khoa học về lĩnh vực này trong thời gian qua Công tác khuyến công trong chế biến

gỗ do cơ chế ràng buộc, không khuyến khích được công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất

1.1.7 Hiện trạng quản lý nhà nước

Công nghiệp chế biến, thương mại lâm sản là lĩnh vực quan trọng của kinh tế lâm nghiệp, liên quan đến nhiều chuyên ngành hẹp như: sản xuất lâm nghiệp, công nghiệp rừng (bao gồm quản lý sử dụng rừng), phân phối lưu thông, lao động, xuất - nhập khẩu… Vì vậy, hiện có nhiều bộ, ngành cùng quản lý lĩnh vực này, trong phạm

vi chuyên ngành hẹp được phân công

Nghị định số 01/2008/NĐ-CP ngày 03/01/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có chức năng thống nhất quản lý lĩnh vực chế biến lâm sản

Hiện nay, ở Trung ương có hai cơ quan quản lý nhà nước thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng quản lý các lĩnh vực chuyên ngành hẹp của công nghiệp chế biến, thương mại lâm sản: Tổng Cục Lâm nghiệp (quản lý lĩnh vực sản xuất lâm nghiệp và sử dụng rừng; bảo vệ rừng và kiểm soát lưu thông lâm sản); Cục

Trang 37

Chế biến, Thương mại nông lâm thuỷ sản và nghề muối (quản lý lĩnh vực chế biến và thương mại lâm sản) Theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được phân công, các

cơ quan này thường xuyên theo dõi, cập nhật thông tin và xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp để quản lý điều chỉnh công nghiệp chế biến thương mại lâm sản

Ở cấp tỉnh, hiện có các Chi Cục Lâm nghiệp, Chi Cục Kiểm lâm thuộc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn là các cơ quan chịu sự chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ từ Tổng Cục Lâm nghiệp và Cục Kiểm lâm Đối với lĩnh vực chế biến, thương mại lâm sản, hiện ở cấp tỉnh (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) hầu như chưa có Phòng hoặc Chi Cục chuyên ngành phụ trách lĩnh vực chế biến, thương mại lâm sản Lĩnh vực này hiện được các Phòng, Ban, Chi Cục (có thể là Chi Cục Lâm nghiệp, Chi Cục Kiểm, Chi Cục Kinh tế và Hợp tác) Ở một số tỉnh, Sở Công thương cũng theo dõi lĩnh vực chế biến, thương mại lâm sản

1.1.8 Ngành công nghiệp chế biến gỗ của tỉnh Hà Tĩnh

1.1.8.1 Giai đoạn 1958 – 1975

Trong thời kỳ Pháp thuộc, Hà Tĩnh dưới sự cai trị của chế độ Thực dân, phong kiến nên ngành công nghiệp chế biến gỗ chưa phát triển Gỗ rừng tự nhiên chủ yếu khai thác để phục vụ cho Pháp Một số vùng quê tại các huyện như Đức Thọ, Hương Sơn, Hương Khê đã hình thành các làng nghề mộc tại địa phương, chủ yếu để phục

vụ nhu cầu về nhà ở và mộc dân dụng

Sau khi được giải phóng (1954) Hà Tĩnh cùng với một số tỉnh có trữ lượng gỗ lớn đã tăng cường khai thác gỗ tự nhiên để phục vụ cho việc khôi phục đất nước và chống chiến tranh phá hoại Từ năm 1964 Lâm trường Hương Sơn, Lâm trường Hương Khê được thành lập, là đơn vị trực thuộc Tổng cục Lâm nghiệp, nhận nhiệm

vụ khai thác rừng để sản xuất tà vẹt làm đường sắt và làm cầu đường phục vụ chiến tranh và xây dựng đất nước Trong thời gian này, mỗi năm Hà Tĩnh cung cấp gỗ cho

cả nước khoảng 30.000m3 sản phẩm gỗ tròn và gỗ xẻ/năm; tạo việc làm cho trên 10.500 lao động tại các lâm trường Các xưởng cưa phát triển, nhiều xưởng cưa được đặt tại các bìa rừng Thời điểm này công nghiệp rừng phát triển mạnh, phong trào thi đua sản xuất rất lớn Sản phẩm chủ yếu là xẻ gỗ hộp và ván xây dựng, phần còn lại

Trang 38

làm đồ gỗ nội thất và hình thành nhiều làng nghề mộc nổi tiếng đến hôm nay như: Thái Yên, Trường Sơn (Đức Thọ); Yên Lộc (Can Lộc); Đức Bồng (Vũ Quang); Sơn Long (Hương Sơn)…[16]

1.8.1.2 Từ năm 1975 lại nay

Sau khi đất nước thống nhất, công cuộc tái thiết đất nước đòi hỏi nhiều sự phấn đấu của mỗi đơn vị, đặc biệt là các đơn vị sản xuất như các lâm trường trực thuộc Bộ Tỉnh Hà Tĩnh được giao nhiệm vụ là khai thác, chế biến gỗ cho xây dựng tuyến đường sắt Thống Nhất; cầu đường và xây dựng nhà kho, trường học, bệnh viện trong tỉnh và cung cấp gỗ cho Thủ đô Hà Nội [16] Các huyện được giao chỉ tiêu lớn như Hương Sơn, Hương Khê, Kỳ Anh Công nghiệp chế biến gỗ của tỉnh phát triển

về chiều rộng lẫn chiều sâu Các máy móc thiết bị chế biến được Nhà nước đầu tư Các công ty nhà nước phát triển như: Lâm trường Hương Sơn, Lâm trường Hương Khê, Lâm trường Kỳ Anh Các lâm trường này cung cấp nguyên liệu gỗ trong cho các cơ quan vật liệu xây dựng tại các huyện, do vậy mạng lưới chế biến gỗ tại các huyện phát triển, mặc dù hình thức chế biến chủ yếu là cơ giới và thủ công Các sản phẩm như: tủ, giường, bàn ghế, gỗ xây dựng được sản xuất cho các cơ quan nhà nước và các đơn vị hành chính, trường học, bệnh viện Các sản phẩm từ gỗ đã có vai trò to lớn trong nền kinh tế quốc dân và công cuộc tái thiết và xây dựng đất nước [9]

Từ năm 2000 đến nay, ngành chế biến gỗ của Hà Tĩnh đã có những thay đổi tích cực, trước hết là số lượng các doanh nghiệp chế biến gỗ tăng lên Năm 2000, toàn tỉnh có khoảng 210 cơ sở chế biến, kinh doanh gỗ; năm 2003 có trên 360 cơ sở chế biến, kinh doanh gỗ; đến năm 2010 toàn tỉnh có trên 760 cơ sở chế biến kinh doanh

gỗ, trong đó 732 cơ sở chế biến và 28 cơ sở kinh doanh gỗ, phân bố các cơ sở chủ yếu tại huyện Hương Khê, Đức Thọ, Hương Sơn, Kỳ Anh; có 2 doanh nghiệp nhà nước, 01 công ty có vốn đầu tư nước ngoài, 01 công ty liên doanh với nước ngoài, 11 công ty cổ phần, 6 công ty TNHH, 20 doanh nghiệp tư nhân, còn lại các cơ sở là các

hộ gia đình

Trang 39

Các cơ sở chế biến phát triển chủ yếu tại các vùng có nguồn nguyên liệu gỗ rừng tự nhiên dồi dào và một số vùng khu kinh tế mới; sản phẩm phần lớn là sơ chế dạng xẻ thô hoặc ăm dăm mảnh (93,1%), tiêu thụ gỗ tròn, còn lại là tinh chế (6,99%)

Công nghệ và máy nóc, thiết bị đa số đã lạc hậu, cũ kỹ, chắp vá, không đồng

bộ, thiếu đầu tư Một số cơ sở mới đầu tư xây dựng thì công nghệ khá hiện đại, được nhạp khẩu từ các nước Đài Loan, Italia, Hàn Quốc, Trung Quốc, như: các nhà máy sản xuất dăm gỗ tại huyện Kỳ Anh; Công ty TNHH Hoàng Anh (Hương Khê) sản xuất ván sàn xuất khẩu; một số cơ sở chế biến sản phẩm mộc nội thất tại huyện Nghi Xuân, Thị xã Hồng Lĩnh Các nhà máy chế biến tinh chế sử dụng nguyên liệu đa số nhập khẩu, ít sử dụng nguyên liệu trong tỉnh

Đến nay, tỉnh Hà Tĩnh chưa có quy hoạch cụ thể mạng lưới chế biến gỗ của tỉnh, mà chỉ có quy hoạch một số cơ sở chế biến gỗ vào các Khu kinh tế của tỉnh như Khu kinh tế Vũng Áng (Kỳ Anh), Khu Công nghiệp Gia Lách (Nghi Xuân), Khu kinh tế Cầu treo

- Chưa có các công trình nghiên cứu sâu về điều tra, khảo sát tình hình chế biến, kinh doanh gỗ cũng như thiết kế trồng rừng nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế biến gỗ; mà chỉ có một số công trình nghiên cứu chung với phát triển các ngành nghề nông thôn, nên việc nghiên cứu chưa sâu, thiếu cụ thể và tầm nhìn chiến lược đối với ngành chế biến gỗ Do vậy trong những năm qua, ngành chế biến gỗ tỉnh

Hà Tĩnh vẫn chậm phát triển, chưa tương xứng với lợi thế và tiềm năng của địa phương

1.1.9 Tổng quan các công trình đã công bố liên quan đến nội dung đề tài

Trong những năm qua đã có một số công trình nghiên cứu, các cuộc hội thảo cấp quốc tế, cấp quốc gia và cấp bộ về đánh giá thực trạng, phân tích những cơ hội, thách thức và tiềm năng, lợi thế của ngành công nghiệp chế biến gỗ để tìm những giải pháp, hướng đi cho ngành công nghiệp chế biến phát triển bền vững Tỉnh Hà Tĩnh có một số công trình nghiên cứu để phát triển các cơ sở chế biến nông - lâm - thủy sản và nghề muối trên toàn tỉnh, trong đó có nghiên cứu đến lĩnh vực chế biến, kinh doanh gỗ

Trang 40

Hình 1.2 Diễn đàn Lâm nghiệp Việt Nam “Phát triển chế biến và thương mại lâm

sản gắn với quản lý rừng bền vững” tại tỉnh Bình Định, năm 2011

- Hội thảo Diễn đàn Lâm nghiệp Việt Nam năm 2011 với chủ đề Phát triển chế biến thương mại với quản lý rừng bền vững do Hiệp hội Gỗ và lâm sản Việt Nam, Bộ NN&PTNT, Dự án EU - Việt Nam MUTRAP III phối hợp tổ chức tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

- Báo cáo cơ hội, thách thức và khuyến nghị về hoàn thiện chính sách và các giải pháp thúc đẩy sự phát triển bền vững ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam của Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam (Viforest) năm 2007

- Hội thảo Đánh giá hiện trạng sử dụng năng lượng ngành chế biến gỗ và giới thiệu một số giải pháp tiết kiệm năng lượng Do Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ tổ chức tại Hà Nội, ngày 28 /02/2011

- Báo cáo tổng hợp Quy hoạch công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam đến năm

2015 và định hướng đến năm 2020 của Cục Chế biến, thương mại nông lâm thủy sản và nghề muối năm 2010

Ngày đăng: 29/08/2017, 14:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Chính trị (2004), Nghị quyết số 39/NQ - TW ngày 16/8/2004 về phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng Vùng Bắc Trung bộ và duyên hải Trung bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 39/NQ - TW ngày 16/8/2004 về phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng Vùng Bắc Trung bộ và duyên hải Trung bộ
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2004
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2008), Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2008
3. Bộ nông nghiệp và Phát triển nông (2006), Thông tư số 116/2006/TT- BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 116/2006/TT- BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn
Tác giả: Bộ nông nghiệp và Phát triển nông
Năm: 2006
4. Ban chấp hành Đảng bộ Hà Tĩnh (2009), Nghị quyết 08-NQ/TU ngày 19/5/2009 về nông nghiệp, nông dân và nông thôn giai đoạn 2009-2015, định hướng đến năm 2020, Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 08-NQ/TU ngày 19/5/2009 về nông nghiệp, nông dân và nông thôn giai đoạn 2009-2015, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ Hà Tĩnh
Năm: 2009
5. Ban Chấp hành Đảng bộ Hà Tĩnh (2010), Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2010 – 2015, Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2010 – 2015
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ Hà Tĩnh
Năm: 2010
7. Cục Thống kê Hà Tĩnh (2010), Niên giám thống kê tỉnh Hà Tĩnh năm 2010, Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Hà Tĩnh năm 2010
Tác giả: Cục Thống kê Hà Tĩnh
Năm: 2010
9. Công ty Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương Sơn (2001), Lịch sử Lâm trường Hương Sơn hình thành và phát triển, Hương Sơn, Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Lâm trường Hương Sơn hình thành và phát triển
Tác giả: Công ty Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương Sơn
Năm: 2001
10. Nguyễn Thị Xuân Chiên (2007), Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, Trường Đại học Lâm Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Nguyễn Thị Xuân Chiên
Năm: 2007
11. Hà Chu Chử (1999), “Ván nhân tạo - loại vật liệu cần được đẩy mạnh sản xuất”, Tạp chí công nghệ và kinh tế lâm nghiệp, số 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ván nhân tạo - loại vật liệu cần được đẩy mạnh sản xuất
Tác giả: Hà Chu Chử
Năm: 1999
12. Hoàng Hữu Nguyên (1999), Một số định hướng phát triển ngành chế biến lâm sản Việt Nam trong những năm tới, Báo cáo chuyên đề lớp cao học ngành chế biến lâm sản số 10/2001, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số định hướng phát triển ngành chế biến lâm sản Việt Nam trong những năm tới
Tác giả: Hoàng Hữu Nguyên
Năm: 1999
13. Nguyễn Phan Thiết (2010), Phương pháp nghiên cứu khoa học, Bài giảng cao học - Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học
Tác giả: Nguyễn Phan Thiết
Năm: 2010
14. Mộc Quế (2010), Đi ̣nh hướng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020, Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi ̣nh hướng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020
Tác giả: Mộc Quế
Năm: 2010
15. Nguyễn Tôn Quyền và các cộng sự (2006), Cẩm nang ngành Lâm nghiệp - Chương công nghiệp Chế biến gỗ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang ngành Lâm nghiệp - Chương công nghiệp Chế biến gỗ
Tác giả: Nguyễn Tôn Quyền và các cộng sự
Năm: 2006
17. Thủ tướng Chính phủ (2000), Quyết định 132/2000/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 132/2000/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2000
18. Thủ tướng Chính phủ (2006), Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 về phát triển ngành nghề nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 về phát triển ngành nghề nông thôn
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2006
19. Thủ tướng Chính phủ (2006), Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2006
20. Thủ tướng Chính phủ (2007), Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 về việc ban hành Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006- 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 về việc ban hành Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2007
21. Thủ tướng Chính phủ (2007), Quyết định số 69/2007/QĐ-TTg, ngày 18/5/2007 về phê duyệt Đề án phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn đến 2010 và định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 69/2007/QĐ-TTg, ngày 18/5/2007 về phê duyệt Đề án phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn đến 2010 và định hướng đến năm 2020
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2007
22. Thủ tướng Chính phủ (2010), Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 04/6/2010 về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 04/6/2010 về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2010
23. Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh (2008), Báo cáo tóm tắt thực trạng và định hướng phát triển công nghiệp bảo quản, chế biến, kinh doanh nông – lâm sản tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2008-2015, tầm nhìn đến năm 2020, Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tóm tắt thực trạng và định hướng phát triển công nghiệp bảo quản, chế biến, kinh doanh nông – lâm sản tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2008-2015, tầm nhìn đến năm 2020
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN