1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng và đề xuât một số giải pháp phát triển cây xanh đường phố tại thành phố lào cai, tỉnh lào cai

131 158 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên so với các loại cây xanh khác trong hệ thống cây xanh đô thị, thì cây xanh đường phố tiêu chuẩn chọn cây trồng phải thể hiện được những đặc điểm riêng về chủng loại, cải thiện

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PHAN NGỌC TÁM

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÂY XANH ĐƯỜNG PHỐ TẠI THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

Chuyên ngành: Lâm học

Mã số: 60.62.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Võ Đại Hải

THÁI NGUYÊN - 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Người cam đoan

Phan Ngọc Tám

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn “Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển cây

xanh đường phố tại thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai ” được hoàn thành theo

chương trình đào tạo cao học Lâm nghiệp, chuyên ngành Lâm học, khóa học k19

Trường Đại học Thái Nguyên

Trong quá trình học tập cũng như hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được

sự quan tâm, giúp đỡ của Ban giám hiệu, Khoa Đào tạo sau đại học và các thầy, cô giáo Trường Đại học Thái Nguyên Nhân dịp này tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó

Trước hết tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Võ Đại Hải, người trực tiếp hướng dẫn khoa học đã tận tình truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho tác giả trong quá trình hoàn thành luận văn này

Tác giả cũng xin cảm ơn Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lào Cai, Hạt Kiểm lâm TP Lào Cai

đã tạo mọi điều kiện về thời gian để tác giả theo học và hoàn thành luận văn

Tác giả xin cảm ơn Công ty TNHH Một thành viên môi trường đô thị tỉnh Lào Cai; đặc biệt là phòng Kế hoạch - Kỹ thuật, Xí nghiệp công viên cây xanh và Chi cục Thống kê TP Lào Cai đã cung cấp các tài liệu, số liệu cần thiết cho luận văn Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian theo học và hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2013

Tác giả

Phan Ngọc Tám

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU i

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3

ạ ủa đề tài 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

4.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3

4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 4

1.1.1 Nghiên cứu về cây xanh đường phố trên thế giới 4

1.1.2 Nghiên cứu về cây xanh đường phố ở Việt Nam 10

1.1.3 Nhận xét, đánh giá chung 15

1.2 Tổng quan điều kiện tự nhiên, Kinh tế - Xã hội khu vực nghiên cứu 16 1.2.1 Điều kiện tự nhiên 16

1.2.3 Nhận xét, đánh giá chung 20

Chương 2: 21

2.1 Nội dung nghiên cứu 21

2.2 Phương pháp nghiên cứu 21

2.2.1 Phương pháp luận 21

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 23

2.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 28

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29

3.1 Đánh giá thành phần loài cây xanh đường phố và các biện pháp kỹ thuật đã áp dụng tại thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai 29

3.1.1 Hiện trạng đường phố tại thành phố Lào Cai 29

3.1.2 Hệ thống các biện pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng trong trồng cây xanh đường phố tại thành phố Lào Cai 32 3.1.3 Điều tra thành phần loài cây xanh đường phố tại thành phố Lào Cai 39

Trang 5

3.2 Đánh giá sinh trưởng và chất lượng sinh trưởng của cây xanh đường

phố tại thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai 47

3.2.1 Môi trường sinh trưởng của cây xanh đường phố 47

3.2.2 Đặc điểm sinh trưởng của cây xanh đường phố 48

3.2.3.Chất lượng cây xanh đường phố và những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cây xanh đường phố 51

3.2.4 Khả năng phù hợp không gian cảnh quan của cây xanh đường phố 54

3.3 Đánh giá công tác tổ chức, quản lý cây xanh đường phố tại thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai 59

3.3.1 Hệ thống các văn bản pháp luật về tổ chức, quản lý cây xanh đường phố được áp dụng tại thành phố Lào Cai 59

3.3.2 Hiện trạng tổ chức trồng cây xanh đường phố 65

3.3.3 Đánh giá công tác quản lý, duy trì cây xanh đường phố 66

3.4 Phân tích SWOT và bài học kinh nghiệm trong quản lý và phát triển cây xanh đường phố tại thành phố Lào Cai 70

3.4.1 Phân tích SWOT 70

3.4.2 Bài học kinh nghiệm 74

3.5 Đề xuất một số giải pháp phát triển cây xanh đường phố tại thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai 75

3.5.1 Giải pháp quy hoạch phát triển tổng thể cây xanh đường phố 75

3.5.2 Giải pháp chọn loài cây trồng đường phố 77

3.5.3 Giải pháp về quản lý, duy trì cây xanh đường phố 83

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 85

1 Kết luận 85

2 Tồn tại 88

3 Khuyến nghị 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Trang 6

TCXDVN : Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam

TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam

TNHN : Trách nhiệm hữu hạn

TPHCM : Thành phố Hồ Chí Minh

UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Danh sách các tuyến đường phố điều tra cây xanh 25

Bảng 2.2 Loài cây và tuổi điều tra sinh trưởng của một số loài cây chủ yếu 26

Bảng 3.1: Hiện trạng 30 tuyến phố ở thành phố Lào Cai 30

Bảng 3.2 Kích thước dải cây xanh đường phố 34

Bảng 3.3 Tổng hợp số lượng của 25 loài cây trồng chủ yếu trên các tuyến đường phố tại thành phố Lào Cai 39

Bảng 3.4 Loài cây và tần suất xuất hiện của các loài cây trên 30 tuyến phố điều tra ở thành phố Lào Cai 40

Bảng 3.5 Thành phần các họ cây trồng bóng mát đường phố 44

Bảng 3.6 Thành phần loài thực vật trồng trên giải phân cách, đảo giao thông 45

Bảng 3.7 Các nhóm dạng sống của cây xanh đường phố 46

Bảng 3.8 Phân loại cây xanh bóng mát theo các nhóm loài cây 47

Bảng 3.9 Các hoạt động ảnh hưởng đến không gian sinh trưởng của cây xanh đường phố 48

Bảng 3.10 Bảng đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng của cây xanh đường phố 50

Bảng 3.11 Chất lượng cây xanh đường phố tại thành phố Lào Cai 51

Bảng 3.12: Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cây xanh đường phố 52

Bảng 3.13 Bảng phân loại cây bóng mát và các yêu cầu kỹ thuật 63

Bảng 3.14 Hiện trạng tổ chức cây xanh đường phố 65

Bảng 3.15 Tổng hợp số lượng cây xanh trồng trên đường phố năm 2011 và 2012 tại thành phố Lào Cai 67

Bảng 3.16 Phân tích SWOT đối với công tác tổ chức, quản lý cây xanhđường phố tại thành phố Lào Cai 71

Bảng 3.17 Đề xuất cây trồng trên các loại đường phố 81

Bảng 3.18 Các tuyến đường ưu tiên cải tạo trồng cây xanh đến năm 2020 82

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ các bước tiến hành của đề tài 22

Hình 3.1: Lấn chiếm vỉa hè bán hàng tại đường Hồng Hà 31

Hình 3.2 Các vấn đề tồn tại về gốc, rễ cây xanh đường phố 52

Hình 3.3 Các vấn đề về tồn tại về thân cây xanh đường phố 53

Hình 3.4 Các vấn đề về tồn tại về tán cây xanh đường phố 53

Hình 3.5 Cây bị đóng đinh treo biển quảng cáo trên đường Mỏ Sinh (B6) 56

Hình 3.6 Cây Sưa bị cắt trộm ở đường Thanh Niên 70

Trang 9

, cây xanh cung cấp cho chúng ta khí O2 để thở và hấp thụ khí CO2 Vì thế mà cây xanh rất cần thiết và là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của con người Trong những năm gần đây, các nghiên cứu về lâm nghiệp đô thị cho thấy cây xanh đô thị nói chung và cây xanh đường phố nói riêng có giá trị gấp nhiều lần không chỉ là những vật chất hữu hình mà còn là vật chất vô hình Trong đó cây xanh đường phố là một bộ phận trong

hệ thống cây xanh và cảnh quan đô thị cần được coi trọng, hệ thống này mang những ý nghĩa đặc thù khác với các yếu tố cảnh quan khác ở chỗ, đây là một hệ sinh thái nhân tạo, có sự sinh trưởng và phát triển, có tác dụng làm sạch môi trường, giảm nhiệt độ, tiếng ồn, tăng cường sức khỏe và chất lượng cuộc sống của cư dân, duy trì các hệ sinh thái, cải thiện tiểu khí hậu Nhờ hệ thống cây xanh trên các đường phố đã góp phần làm cho bộ mặt của thành phố trở nên sinh động và mang tính bền vững hơn Tổ chức dải cây xanh cho các tuyến phố và các không gian xanh

đô thị như công viên cây xanh, vườn hoa, dải cây xanh cách ly… sẽ khai thác được tối đa vẻ đẹp cảnh quan thiên nhiên của đô thị Tuy nhiên so với các loại cây xanh khác trong hệ thống cây xanh đô thị, thì cây xanh đường phố tiêu chuẩn chọn cây trồng phải thể hiện được những đặc điểm riêng về chủng loại, cải thiện môi trường sống, hình dáng và kích thước,…

Nhiều nghiên cứu đã khẳng định, ô nhiễm môi trường không khí trên các tuyến đường phố là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến ô nhiễm môi trường

Trang 10

không khí đô thị, gây ảnh hưởng đến sức khỏe cho cư dân đô thị Trong số các giải pháp kỹ thuật nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường đường phố thì giải pháp trồng cây xanh là ít tốn kém, phát huy tác dụng lâu dài và mang lại những hiệu quả rõ rệt về nhiều mặt Từ các vấn đề nêu trên cho thấy, việc nghiên cứu nhằm tìm các giải pháp tốt để phát triển hệ thống cây xanh đường phố là cần thiết, không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có tính thực tiễn cao Tuy nhiên, có nhiều lý do khác nhau, công tác nghiên cứu về hệ thống cây xanh đô thị nói chung và cây xanh đường phố nói riêng ở nước ta vẫn còn hạn chế cả về quy mô lẫn chất lượng Những tồn tại đó có thể dễ dàng nhận thấy thông qua hiện trạng cây xanh đường phố ở các

đô thị trong cả nước và cây xanh đô thị của thành phố Lào Cai cũng không ngoại lệ, trong đó có cây xanh đường phố

Cai, được điều chỉnh nâng cấp thành đô thị loại III từ

2015 Nhờ có những chính sách mở cửa về phát triển kinh tế của Đảng và nhà Nước, thuận lợi về vị trí địa lý nên tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Lào Cai nói chung và thành phố Lào Cai nói riêng trong những năm vừa qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực Qua đó cho thấy, cùng với những thuận lợi trong phát triển kinh tế, tốc độ đô thị hóa khu vực thành phố Lào Cai gần đây diễn ra khá nhanh Công tác đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông đô thị được chú trọng, nhiều tuyến phố mới được hình thành, các tuyến phố cũ được điều chỉnh đã trở nên khang trang hơn, nhưng đó mới chỉ là những cảnh quan mang tính chất kiến trúc công trình Về cảnh quan xanh, đặc biệt là cảnh quan cây xanh đường phố vẫn còn nhiều hạn chế Việc trồng cây xanh đường phố ở thành phố Lào Cai trong những năm qua tuy đã được quan tâm và tiến hành ngay sau khi tách tỉnh, nhưng còn thiếu quy hoạch, tổ chức thực hiện còn nhiều bất cập, cây trồng trên đường phố hiện nay chủ yếu là do người dân tự trồng nên rất lộn xộn, một số chủng loại không phù hợp nên khả năng phát huy tác dụng kém, chưa tạo được vẻ đẹp mĩ quan đô thị và thiếu tính bền vững Mặt khác, việc đánh giá thực trạng cây xanh đường phố để từ đó tìm ra được những điểm mạnh, điểm yếu, rút ra được bài học kinh nghiệm để đề xuất các giải pháp phát triển còn chưa được quan tâm, tới nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu

có hệ thống về vấn đề này Xuất phát từ những nhu cầu thực tiễn đó, đề tài: “Đánh

giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển cây xanh đường phố tại thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai” được đặt ra là thực sự cần thiết

Trang 11

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Đánh giá được thực trạng, rút ra được ưu, nhược điểm và những bài học kinh nghiệm trong việc phát triển trồng cây xanh đường phố tại thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

- Đề xuất được một số giải pháp phát triển trồng cây xanh đường phố phù hợp với yêu cầu phát triển của thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

3.1 Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài

Đề tài nghiên cứu về hệ thống cây xanh thân gỗ trồng trên các tuyến đường phố tại thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

ản lý cây xanh

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

4.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài

4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Đề xuất được một số giả

triển của thành phố Lào Cai

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Nghiên cứu về cây xanh đường phố trên thế giới

Cây xanh đường phố là một phần của cây xanh đô thị, có vị trí rất quan trọng đối với nền văn minh nhân loại từ thời cổ đại Các quốc gia như Ai Cập, Trung Hoa,

La Mã, Hy Lạp,…đã xem cây xanh như là biểu tượng cho các vị thần và thờ cúng chúng Họ sử dụng cây xanh trong việc trang trí ngoại thất cho các tượng đài, xây dựng các vườn tín ngưỡng trong các đền thờ Thời kỳ Hi Lạp cổ đại, từ thế kỉ VII trước Công nguyên đến thế kỉ IV sau công nguyên, người ta thấy hai bên các đường dạo phía trước các sân thi vận động (Stadium) và quảng trường (Forum) trước các đền thờ đều có trồng cây Ngô đồng Pháp [15] Còn ở những tuyến đường chính trong các khu thành cổ La mã thì lại chủ yếu trồng Bách Italia Tiếp đến thời kỳ từ thế kỉ V cho đến thế kỉ XIV, nhiều quốc gia châu Âu cũng đã trồng Bách Italia trên các tuyến đường hành lễ

Cùng với việc trồng cây, kiến thức liên quan tới chăm sóc cây trồng cũng đã xuất hiện khoảng 1.500 năm trước Công nguyên ở Ai Cập (Winter, 1974) (dẫn theo Trần Viết Mỹ, 2001) [8], kiến thức này được tiếp tục phát triển khi nền văn minh nhân loại ngày một thăng tiến Vườn thực vật ra đời và phát triển trong thời kỳ trung cổ Khi thương mại và giao thông phát triển, cây trồng được chuyển từ nước này đến nước khác Điều này góp phần làm gia tăng chủng loại cây trồng, kiến thức

về trồng và chăm sóc cây ngày càng phong phú hơn

Khái niệm lâm nghiệp đô thị được xây dựng dựa trên một lịch sử hơn 45 năm

và có nguồn gốc từ Bắc Mỹ Thế nhưng lịch sử trồng cây dọc theo các tuyến đường

đã có từ thế kỉ X trước Công nguyên Tuyến đường được trồng cây trong giai đoạn này là nối từ Kolkata của Ấn độ đến Afghanistan nằm ở chân dãy Himalaya, mục đích của việc trồng cây xanh trên tuyến đường này xuất phát vì mục đích quân sự Cây trên đường được trồng thành 3 hàng, một hàng chính giữa trung tâm đường và hai hàng cây hai bên đường Vào thời kỳ đó đường còn có một tên gọi khác là đường cây lớn “Grand trunk road” [27] Sau đó đến khoảng giữa thế kỉ VIII trước Công nguyên vùng Lưỡng hà (Mesopotania), khi xây dựng cung điện người ta đã

Trang 13

trồng các hàng cây Tùng, Bách Italia (Italian crypress) thành hàng đối xứng dọc theo các tuyến đường trong khu vực cung điện Đây cũng được xem là mốc lịch sử trồng cây xanh đường phố của các quốc gia vùng châu Âu [29]

Nowak và Dwyer (2000) đưa ra các mục tiêu phát triển lâm nghiệp đô thị và kết quả từ việc duy trì hệ thống cây xanh đến việc tạo lập một thành phố tán cây che phủ bởi một tỷ lệ cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định [23] Trên cơ sở hoạt động, lâm nghiệp đô thị chủ yếu là chăm sóc, bảo vệ và thay thế cây xanh [24]

Ở châu Âu, sau thời kỳ văn nghệ phục hưng, một số quốc gia vùng châu Âu công tác trồng cây đường phố phát triển khá nhanh Điển hình là ở nước Pháp, năm

1552 Henri 2 đã từng công bố pháp lệnh trồng cây ngay từ năm 1552, phát động nhân dân trong cả nước trồng cây trên các tuyến đường chính trong các khu ở và trồng cây trên các tuyến đường quốc lộ Cũng trong thời kỳ này Đế chế Áo - Hung (Austro - hungarian empire) cũng đưa ra kế hoạch trồng cây Ngô đồng Pháp dọc theo các tuyến đường chính trong cả nước với mục đích là bổ sung nguồn gỗ cung cấp cho các hoạt động quân sự [15]

Năm 1647, ở Đức đã xây dựng tuyến đại lộ bóng mát tại thành phố Beclin với mỗi bên đường trồng 4 - 6 hàng cây bóng mát lớn Tuyến đường này, đã được các nhà quy hoạch đô thị Pháp nghiên cứu và ứng dụng xây dựng loại hình đường Boulvars tại thành phố Pari sau này [18]

Năm 1652, ở Anh các tuyến đường phía Tây và Bắc của công viên St.Jame,

s Park vùng Moore Phils thủ đô Luân đôn được thiết kế thành các đường dạo bóng mát công cộng có độ dài khoảng 1 km, mỗi bên đường trồng 4 - 6 hàng cây Ngô đồng Pháp tạo bóng mát để phục vụ Nữ Hoàng đi dạo trên xe ngựa [18] Mô hình dạng đường bóng mát này còn được mở rộng ứng dụng tạo các đường bóng mát trong các đô thị ở nước Anh

Năm 1825 Chính phủ Pháp đã công bố pháp lệnh về việc bắt buộc phải trồng cây xanh bóng mát trên các tuyến đường phố Pháp lệnh này chính là cơ sở để xây dựng những quy phạm kỹ thuật về tuyển chọn cây trồng, kiểm nghiệm chất lượng cây giống đưa trồng, cắt tỉa và duy trì cây xanh trên các tuyến đường đô thị (dẫn theo Nguyễn Thị Bích Thu, 2011) [14]

Năm 1858 kiến trúc sư Georges E.H Smann chủ trì thiết kế xây dựng tuyến đường bóng mát Champs Elysees ở thành phố Senna, sau này tuyến đường này đã

Trang 14

trở thành mẫu đường bóng mát điển hình thời kỳ cận đại và có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển mô hình đường bóng mát ở các thành phố của Mỹ và các nước khu vực châu Âu Năm 1872, kiến trúc sư người Pháp Pierre Charles L.Enfant thiết kế các tuyến đường bóng mát tại thành phố Washington cũng đa số là áp dụng các mô hình đường bóng mát của Pháp Đặc biệt để chọn loài cây trồng cho các tuyến đường thiết kế ở Mỹ, nhà thiết kế đã tiến hành thử nghiệm 30 loài cây và chọn ra được 12 loài cây thích hợp nhất dùng cho trồng đường phố [17]

Mặc dù châu Âu đã có một lịch sử lâu dài và phong phú của các thiết kế không gian xanh, quản lý cây xanh [18] nhưng lâm nghiệp đô thị chính thức là một lĩnh vực khoa học được nghiên cứu ở châu Âu trong thập niên 1980 đầu tiên tại Vương quốc Anh Jorgensen giới thiệu các khái niệm về lâm nghiệp đô thị tại Đại học

Toronto, Canada vào năm 1965 [22] “Lâm nghiệp đô thị không chỉ liên quan đến

cây xanh thành phố hay quản lý cây cá thể, mà còn quản lý cây xanh trong toàn bộ khu vực chịu ảnh hưởng và sử dụng bởi cư dân đô thị”

Anh Quốc là một trong những quốc gia từ thủa sơ khai đã có nhiều đóng góp cho nhân loại về các vấn đề có liên quan tới cây xanh độ thị Jame Lyte (1578)

trong cuốn Dodens đã sử dụng thuật ngữ “Nhà trồng cây” (Chadwich, 1970) Năm

1618, William Lawson đã viết khá chi tiết về chăm sóc cây đô thị trong cuốn sách

“Vườn và vườn giống mới” John Evelyn, năm 1662 đã đề cập đến tất cả các lãnh vực cây trồng (cây ăn trái, cây lâm nghiệp) trong một cuốn sách có tên là Sylva

((Eve, 1970) Trong cuốn sách này ông chú trọng đến việc nghiên cứu cây trồng đường phố, cây cảnh Như vậy, từ thế kỷ 17, 18 đã có nhiều nghiên cứu và sách viết

về cây xanh trên nhiều lĩnh vực như: trồng, chăm sóc và phát triển ở các đô thị Châu

Âu Đầu thế kỷ 19, nhiều không gian xanh được hình thành xung quanh các khu nhà

ở đô thị, hình thành các khu cư trú tiện nghi và yên tĩnh (Zube, 1973) (dẫn theo Trần Viết Mỹ, 2001) [8] Cây xanh trong thời kỳ này là một trong các yếu tố kiến trúc cảnh quan và cũng chỉ giới hạn ở nội đô, nơi tập trung dân cư đông đúc mà chưa gắn được với hệ thống công viên, rừng ở ngoại vi Đến cuối thế kỷ 19, dân cư

đô thị ngày càng đông đúc hơn và phạm vi cư trú không còn giới hạn ở nội đô mà được mở rộng ra ngoại vi, đô thị ngày càng phát triển Nhu cầu nghỉ ngơi giải trí cho cư dân đô thị ngày càng tăng cao, điều này đòi hỏi các nhà quản lý đô thị phải tính đến việc xây dựng thêm nhiều mảng xanh hơn, không những chỉ ở nội đô - nơi

Trang 15

đất chật người đông, mà phải mở rộng ra ngoại vi - nơi đất đai còn nhiều Đến giữa thập niên 60 của thế kỷ 20, việc thống nhất quan niệm về sự quản lý cây xanh nội

đô và hệ thống ngoại vi vẫn chưa được thừa nhận, phải đến những năm cuối thập niên 70, đầu những năm 80, khi khái niệm mảng xanh đô thị, lâm nghiệp đô thị đã được thừa nhận thì các công trình liên quan đến cây xanh đô thị trên thế giới ở nhiều khía cạnh khác nhau mới được quan tâm

Ở Liên Xô cũ (trước khi giải thể năm 1991) công tác phát triển cây đường phố cũng đạt được nhiều thành tựu, cả về lý luận lẫn thực tiễn đều rất phát triển, đặc biệt vào những năm sau cách mạng tháng 10 Nga thành công [24] Trong hệ thống cây đường phố, nhấn mạnh việc kết hợp giữa những đường bóng mát, các dải rừng phòng hộ để tạo thành những hành lang xanh trong đô thị Số lượng đường bóng mát tại thành phố Mát xít Cơ Va đã tăng lên đáng kể, từ 40 tuyến đường vào năm

1957 lên 100 tuyến đường vào năm 1973 [18] Những tuyến đường này đã góp phần đáng kể bảo hộ và cải thiện môi trường của thành phố

Ở Mỹ, theo Nowak (1994) đưa ra diện tích phủ xanh ở Mỹ từ 55% ở Baton Rouge, Louisiana tới 1% ở Lancaster, California, tỷ lệ phủ xanh lớn nhất là ở những vùng đất trống, công viên và khu dân cư Cây xanh đường phố chiếm 1/10 số cây trong đô thị Riêng thành phố Chicago nơi có cây xanh bóng mát phát triển mạnh nhất ở các tuyến đường phố Toàn thành phố có khoảng 3,1 triệu cây xanh, trong đó 10% là cây xanh đường phố chiếm 24% tổng diện tích phủ xanh của thành phố [26]

Ở khu vực châu Á, nước có lịch sử trồng cây đường phố sớm nhất là Trung Quốc Theo tác giả Wang Hao, thì lịch sử trồng cây trên các tuyến đường giao thông ở Trung Quốc có cách đây khoảng 3500 năm Nhật Bản cây xanh đường phố phát triển từ những năm đầu của thế kỉ 17 [30] Điển hình thành phố Sendai bắt đầu được biết tới là một thành phố của cây xanh từ trước chiến tranh thế giới lần thứ hai Các lãnh chúa của Sendai đã khuyến khích dân trồng cây xanh trong sân nhà và ngoài đường phố Kết quả mọi ngôi nhà, ngôi đền và điện thờ, trên đường phố ở trung tâm thành phố đều có những khu rừng gia đình được sử dụng với mục đích nguồn cung cấp gỗ và nguyên liệu hàng ngày Những cuộc oanh tạc trong Thế chiến thứ hai đã phá huỷ gần hết mọi thứ nhưng Sendai vẫn được biết đến như "Thành phố của cây xanh"

Trang 16

Các công trình nghiên cứu về giá trị, chủng loại cây trồng đô thị, các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây trồng, vai trò cũng như lợi ích của cây xanh đô thị cũng được quan tâm nghiên cứu Các công trình nghiên cứu về vai trò của cây xanh trong điều hòa khí hậu, ngăn cản gió, hạn chế tiếng ồn,… đã được nhiều nhà khoa học như: Rowntree và Nowal (1991) [28]; Heisler (1986, 1989) [20], [21],… đề cập tới

Tuy nhiên, một số tác giả không dừng lại ở các nghiên cứu riêng lẻ về cây xanh đô thị mà nghiên cứu rất tổng hợp từ khâu chọn loài cây trồng, môi trường đô thị đến lợi ích kinh tế, quản lý cây xanh đô thị,… (Grey G.W và Deneke F.J, 1978) [19] Một số tác giả khác như Rowntree R.A và Nowal D.J (1991) [28] hoặc Bouvarel P (1989) [16] đã nghiên cứu vai trò của cây xanh đô thị trong việc giảm lượng C02 do con người thải ra trong quá trình sinh hoạt và sản xuất đã góp phần xác định hiệu quả của việc trồng cây xanh đô thị phục vụ cho việc cân bằng nhu cầu sinh thái trong quá trình đô thị hóa mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu hiện nay

Từ các công trình nghiên cứu về vai trò của cây xanh đường phố của các tác giả đối với việc bảo vệ môi trường sinh thái, cải thiện tiểu khí hậu, ngày nay chúng

ta đã có một cái nhìn tương đối đầy đủ về vai trò của cây xanh trong việc:

1) Điều hòa nhiệt độ: Ở các vùng đô thị có xu hướng nóng hơn vùng ngoại ô

xung quanh trung bình 0,5 - 1,5 0C (Federer, 1970) hoặc 3 - 50C (Moll, 1991) (dẫn

theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2007) [8]

2) Ngăn chặn gió và sự di chuyển của không khí: Những hàng cây xanh đường

phố vuông góc với hướng gió chính có thể làm giảm tốc độ gió từ 2 - 5 lần chiều

cao của cây cao nhất ở phía trước hàng cây [9]

3) Tăng độ ẩm, tác động tích cực vào chu kỳ tuần hoàn nước: Vào mùa hè trên

các đường phố có cây xanh, ở công viên, vườn thực vật,… độ ẩm tương đối thường cao hơn những nơi bên ngoài khoảng trống từ 7 - 12%, đôi khi lên đến 20%, tăng dần từ trên xuống [9]

4) Cung cấp khí O 2 và giảm tích lũy khí CO 2 : Căn cứ vào tính toán của các nhà

khoa học, lượng O2 do 1ha rừng tạo ra có thể cung cấp đủ cho sự hô hấp của 1000 người, mỗi người dân đô thị chỉ cần 10 m2

diện tích cây xanh là có thể hấp thụ toàn

bộ lượng CO2 thải ra do quá trình hô hấp Trên thực tế, ở các đô thị có lượng sinh ra

CO2 cao hơn nên mỗi người phải cần đến diện tích cây xanh khoảng 30 - 40m2

Trang 17

5) Hạn chế tiếng ồn: Cây xanh có tác dụng ngăn cản được tiếng tiếng ồn Hiệu

quả đó biểu hiện rất rõ rệt khi các đường phố trồng nhiều cây xanh thì có thể làm giảm trên 50% tiếng ồn so với đường phố không trồng cây (dẫn theo Nguyễn Thị Bích Thu) [9]

6) Hạn chế ô nhiểm không khí: Các loại khí gây ô nhiễm môi trường do quá

trình sản xuất công nghiệp tạo ra có rất nhiều chủng loại, trong đó loại khí có lượng lớn nhất là CO2, các loại khí phổ biến khác là HF, NOx, Cl2, HCl, CO, SOx và hơi

Hg, Pb… Nhiều nghiên cứu khoa học đã chứng minh, trong một phạm vi nồng độ nhất định, thực vật có tác dụng hấp thu và làm sạch nhất định đối với các loại khí

độc hại nói trên (dẫn theo Nguyễn Thị Bích Thu) [9]

7) Hấp thu các chất có tính phóng xạ: Căn cứ thử nghiệm của các nhà khoa

học Mỹ, khi sử dụng hỗn hợp bức xạ Nơtron và tia gama với liều lượng khác nhau chiếu xạ lên 5 khoảnh rừng, đã phát hiện ra rằng khi liều lượng dưới 15 Gy (Gray-đơn vị phóng xạ) cây rừng có thể hấp thu mà không ảnh hưởng đến phát triển của

cành nhánh (dẫn theo Nguyễn Thị Bích Thu) [9]

8) Hút giữ bụi: Nhiều thành phố công nghiệp, mỗi một km2 mỗi năm lượng bụi bình quân vào khoảng 500 tấn, những thành phố tập chung nhiều nhà mày xí nghiệp lượng bụi lắng đọng thậm chí còn có thể lên tới trên 1000 tấn Ở những khu công nghiệp nồng độ bụi lơ lửng trong không khí ở khu vực có trồng cây xanh so với khu đối chứng không trồng cây xanh thì hàm lượng bụi ở khu vực có trồng cây xanh

thấp hơn khu không trồng cây xanh từ 10% - 50%

9) Cây gỗ có tác dụng giảm bớt lượng vi khuẩn trong không khí: Theo quan

trắc của Pháp, mỗi m3 không khí ở khu vực của hàng bách hoá có chứa 4000.000 con vi khuẩn, trong khi đó mỗi m3 trong công viên chỉ có khoảng 100 con Có những nghiên cứu, theo dõi chứng minh rằng nhiều loài thực vật trong họ Myrtaceae, Moraceae, Aceraceae, Caprifoliaceae, Magnoliaceae, Cupressaceae,

Pinaceae,… có tác dụng ức chế đối với khuẩn que gây bệnh lao

Việc ứng dụng các kiến thức trong lâm nghiệp truyền thống, các ứng dụng của máy tính vào công tác điều tra, quản lý cây xanh đô thị cũng được quan tâm nghiên cứu Một số kết quả về lưu trữ và ứng dụng công nghệ GIS vào việc quản lý cây xanh đô thị của Pherson (1985), Weistein (1983),…đã mở ra một hướng đi mới trong việc quản lý hệ thống cây xanh đô thị (dẫn theo Trần Viết Mỹ, 2001) [10]

Trang 18

Bên cạnh đó, quá trình đô thị hóa ngày càng nhanh đòi hỏi các nhà quy hoạch phải tính đến việc khai thác cảnh quan thiên nhiên và nhân tạo không những có giá trị làm trong lành môi trường mà còn nâng cao giá trị thẩm mỹ đô thị Cảnh quan thiên nhiên và nhân tạo gồm cả hệ thống cây xanh, mảng xanh, nhưng nếu quan niệm cảnh quan chỉ có cây xanh thì không đúng mà mảng xanh là thành phần không thể thiếu được trong cảnh quan đô thị Dựa trên quan điểm đó, nhiều công trình nghiên cứu liên quan về quy hoạch, thiết kế cảnh quan, kiến trúc phong cảnh của nhiều tác giả như: Merlin (1993), Miller (1988) [25], Brenda & Robert (1996), Laurie (1969), Ingel (1986), Mc Harg (1969), đã được triển khai và rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vườn, công viên, nghệ thuật trang trí hoa viên, Các công trình về quy hoạch và quản lý cây xanh đô thị ngày càng được quan tâm nghiên cứu và khuyến khích phát triển, đặc biệt là công tác tuyển chọn tập đoàn cây xanh đô thị nói chung và cây xanh đường phố nói riêng đã tìm ra được những tập đoàn cây trồng thích nghi nhất với điều kiện cụ thể của từng đô thị Các phương pháp truyền thống để lựa chọn loài cây trồng bóng mát đã sử dụng là: Phương pháp điều tra sinh cảnh, phương pháp điều tra dã ngoại đánh giá cây xanh đường phố, phương pháp đa tiêu chuẩn, Với những nhận thức về vai trò của cây xanh với môi trường đô thị ngày càng rõ rệt như hiện nay, thiết kế cây xanh đã trở thành một nội dung quan trọng của quy hoạch và phát triển đô thị

1.1.2 Nghiên cứu về cây xanh đường phố ở Việt Nam

Ở Việt Nam công tác phát triển cây xanh đô thị hiện đã được các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm Diện tích cây xanh đô thị từng bước tăng dần cả về số lượng, chất lượng; đặc biệt ở các đường phố lớn ngày càng đa dạng và phong phú

Từ sau ngày miền Bắc được giải phóng, công tác trồng cây làm xanh tươi lại đất nước đã được Trung ương Đảng, Chính phủ và đặc biệt Hồ Chủ Tịch hết sức quan tâm Đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị vạch ra phương hướng và nhiệm vụ cho công tác trồng cây, gây rừng thực hiện trong cả nước Trong hoàn cảnh đất nước trải qua cuộc chiến tranh phá hoại tàn khốc của giặc Mỹ, công tác cải tạo và xây dựng

đô thị bị đình đốn, công tác cây xanh không phát triển Nơi nào nhận thức được lợi ích của cây xanh đô thị và quan tâm chỉ đạo thì phong trào trồng cây đường phố thực hiện tốt, điển hình là Hà Nội, Hải Phòng Nhiều nơi công tác trồng cây xanh không được chú ý, tổ chức không chuyên trách, thiếu kế hoạch ươm và trồng cây

Trang 19

Nhiều nơi đã trồng cây một cách tuỳ tiện và không đúng tiêu chuẩn quy phạm xây dựng đô thị; đã làm hư hỏng nhà cửa, hệ thống các công trình ngầm, hạn chế ánh sáng và gió mát Nhưng từ những nỗ lực ban đầu đó, kết quả đã trồng được nhiều cây bóng mát đường phố, khu nhà ở, nơi sinh hoạt văn hoá công cộng và đai cây

xanh ngoại ô thành phố

Tại Hà Nội phần lớn cây xanh trên đường phố, công viên và trong các vườn Bách thảo được người Pháp trồng vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX Như có hơn 1.400 cây Sấu cổ thụ, trồng ở khắp nơi trong thành phố và nhiều nhất ở phố Phan Đình Phùng Hồ Gươm trước đây khá rộng, nhà dân ở ra sát mép hồ, thì vào tháng 11 năm 1885 đã giải tỏa các hộ dân sống xung quanh hồ và khởi công đổ đất cạp hố Đến đầu năm 1893, con đường nhựa chạy quanh Hồ Gươm được khánh thành, thì thảm cây xanh quanh Hồ Gươm cũng được trồng với nhiều loài cây được đưa từ nhiều miền của đất nước Vì vậy thảm cây xanh ở đây hoàn toàn là cây nội địa, khác với thảm cây xanh ở khu vực Bách thảo Có thể nói đây là thảm cây xanh quý nhất của thủ đô Hà Nội và ít chịu tác động nhất bởi quá trình đô thị hóa

Ở thành phố Hồ Chí Minh, vào những năm đầu khi Sài Gòn vừa bị đánh chiếm

và còn nằm dưới quyền cai trị của các đô đốc, thì Hải quân Pháp đã bắt đầu cho trồng hàng loạt cây Me ven các đường phố vào khoảng 1863-1865, cứ 5m một cây dọc theo vệ đường Ở hai bên bờ kênh Charner (nay là đại lộ Nguyễn Huệ), kể từ năm 1870 cây Me được trồng lấn ra dần dần theo nhịp độ lấp từng đoạn con "kênh lớn" này Hiện nay ở khu vực nội thành và nội thành mở rộng, đường phố đang trong thời kỳ chỉnh trang nên các dãy cây xanh đường phố không đều và không liên tục Chỉ có các dãy cây xanh trồng trên đường phố ở khu vực nội thành liên tục trên một số tuyến ở Quận 1, 3 và một số các trục đường lớn ở các Quận khác có từ trước năm 1975 đã tạo được dãy cây bóng mát Thống kê mới nhất của Phòng Quản lý công viên – cây xanh, Sở Giao thông vận tải TPHCM, đến nay toàn bộ diện tích công viên, vườn hoa và cây xanh dải phân cách trên địa bàn thành phố chỉ còn khoảng 535 héc ta, giảm gần 50% so với năm 1998

Tại thành phố Huế, vào thời kỳ triều Nguyễn cây xanh đã được chú trọng trồng trên các con đường, trong mỗi vườn nhà Nay cây xanh ở Huế được trồng nhiều ở các điểm công cộng, công viên, đường phố, vườn đồi, ven sông, góp phần quan trọng để tạo nên một nét Huế riêng Đến thời điểm này, ở Huế có 43 loài thực vật

Trang 20

quý hiếm, 170 loài cây cho bóng mát và cây cảnh, nếu tính cả các loài cây nhỏ thì hơn 300 loài, đủ màu, đủ chủng loại và kiểu dáng Theo Trưởng phòng Kế hoạch Trung tâm Công viên cây xanh Huế khẳng định, Huế đã đạt 80-100m2 cây xanh/người Trong khi đó 3 thành phố của Pháp được chọn là thành phố xanh sạch gồm Besancon, Amiens và Mans cũng chỉ có tỷ lệ 60m2 cây xanh/người

Như vậy, vấn đề về phát triển cây xanh đường phố ở Việt Nam có lịch sử hơn

100 năm và nay nó được thể hiện trong các văn bản pháp quy dưới đây:

Khi nghiên cứu, đánh giá và xây dựng tiêu chuẩn cây xanh đô thị của các nước trên thế giới và vận dụng vào Việt Nam, trong quy phạm thiết kế xây dựng đô thị số 20TCVN-82-81, Bộ Xây dựng đã ban hành tiêu chuẩn cây xanh cho các thành phố Việt Nam như sau:

- Đô thị nhỏ: 8 m2 cây xanh/người

- Đô thị trung bình: 11 m2 cây xanh/người

- Đô thị lớn: 13 m2 cây xanh/người

Công tác phát triển cây xanh đô thị cũng đã được các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm, diên tích cây xanh đô thị từng bước tăng dần cả về số lượng, chất lượng, cây trồng đặc biệt ở các đô thị lớn ngày càng phong phú Tuy nhiên, hiện nay tỷ lệ diện tích đất xanh trung bình ở các đô thị còn rất thấp và khác nhau theo nhóm đô thị [1]

- Đối với đô thị loại đặc biệt như thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh có tỷ lệ diện tích đất xanh chiếm khoảng 5 m2/người

- Đối với đô thị loại I, tỷ lệ này rất khác nhau, thành phố Đà Nẵng hiện nay bình quân mới đạt 0,5 m2/người, trong khi thành phố Huế có tỷ lệ đất xanh đạt tương đối cao khoảng 10,2 m2/người

- Các đô thị loại II, tỷ lệ diện tích đất xanh trung bình chỉ khoảng 3 - 5

m2/người (Nha Trang: 4,7 m2/người; Nam Định: 3,13 m2/người)

- Các đô thị loại III và IV như thị xã Vĩnh Yên, thành phố Bắc Giang, thị xã Bến Tre tỷ lệ diện tích đất xanh trung bình khoảng 4,3 m2/người

- Các đô thị loại V tỷ lệ này rất thấp hầu như không đáng kể [1]

Theo kết quả nghiên cứu của Ủy ban kiến thiết cơ bản Nhà nước Việt Nam đã cho thấy nhiệt độ không khí trong vùng có cây xanh thấp hơn những nơi không có cây xanh Ở vườn Bách Thảo Hà Nội, nhiệt độ nơi không có cây là 32,30C, dưới tán cây là 28,290C Nhiệt độ trên mặt đường nhựa là 39,50C và dưới tán cây bóng mát là

Trang 21

34,30C Lượng bụi trung bình khu vực không có cây xanh là 0,9 mg/m3, dưới tán cây gỗ là 0,52 mg/m3 không khí Như vậy, cây xanh có khả năng làm giảm lượng bụi 42% Với âm thanh, cây lá rộng hấp thụ được 26% âm lượng, còn 74% phản xạ

và khuếch tán Độ ồn nơi đường phố không trồng cây xanh gấp 5 lần ở nơi có trồng cây xanh

- Bộ Xây dựng ban hành theo Quyết định số 01/QĐ-BXD ngày 05 tháng 01 năm 2006 về TCVN 362 : 2005 - “Quy hoạch cây xanh sử dụng công cộng trong các đô thị - Tiêu chuẩn thiết kế” quy định các chỉ tiêu diện tích cây xanh sử dụng công cộng trong các đô thị và các nguyên tắc thiết kế, được đã xác định cây xanh trong đô thị bao gồm: cây xanh công cộng, cây xanh sử dụng hạn chế, cây xanh chuyên dụng [2]

Theo Nguyễn Danh và cộng sự (2010) [3], tại thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai hiện có 165 loài cây xanh đô thị thuộc 140 chi của 69 họ trong 3 ngành thực vật bậc cao Trong đó, cây xanh đường phố có 57 loài thuộc 28 họ, cây xanh công viên có

130 loài, với 45 loài cây bóng mát thuộc 21 họ Hệ thống cây xanh đô thị còn tương đối trẻ Diện tích đất cây xanh sử dụng công cộng ở thành phố Pleiku theo đầu người là 1,48 m2/người (chỉ đạt tỷ lệ 21,14% so với TCXDVN 362:2005) Cây xanh

ở đường phố được bố trí khác nhau trên các hoàn cảnh đường phố khác nhau, gồm các mô hình đường phố 1 hàng cây, 2 hàng cây và 4 hàng cây Mô hình trồng cây trong các công viên ở thành phố Pleiku tương đối đa dạng: gồm các mô hình công viên hành lang kỹ thuật giao thông như vòng xoay, băng két và các mô hình bồn hoa trang trí trong các công viên nghỉ ngơi - giải trí

Tác giả Vũ Xuân Đề (1993) [4] đã vạch ra kế hoạch tổng thể cho việc phát triển mảng xanh ngoại thành nhằm bổ sung cho lượng khoảng xanh thiếu hụt ở nội thành trên cơ sở phương pháp luận “cân bằng sinh thái đô thị giản đơn” tức cân bằng giữa nhu cầu sinh thái của con người với lượng mảng xanh tiêu chuẩn tối thiểu

và dùng phương pháp “cân bằng dần” từ ngoại thành vào nội đô làm cơ sở định lượng phân bố diện tích đất đâi cho mảng xanh Ngoài ra, Vũ Xuân Đề còn có một

số công trình nghiên cứu liên quan đến việc quy hoạch mảng xanh bảo vệ môi trường cảnh quan đô thị (1995) [5]; xác định các chỉ số khoảng xanh đô thị cho từng khu chức năng như: Khu công nghiệp, chung cư, trường học,… (1998) [6] Các nghiên cứu này cũng như đề tài phân vùng đất đã dựa trên nhu cầu sinh thái con

Trang 22

người trong mối quan hệ với các hoạt động kinh tế xã hội của thành phố,… đề xuất các chỉ số khoảng xanh và căn cứ vào tiềm năng quỹ đất dành cho cây xanh để bố trí, quy hoạch Tuy nhiên, các chỉ số khoảng xanh cho từng quận, huyện, khu chức năng,… chưa nói lên được hết sự khác biệt về nhu cầu khoảng xanh từng nơi dựa trên các hoạt động kinh tế xã hội (số lượng nhà máy, xí nghiệp, chung cư,…) vốn không đồng nhất cho từng địa bàn

- Luật quy hoạch đô thị “điều 68” Quản lý cây xanh, công viên, cảnh quan tự nhiên và mặt nước [7]

Nghiên cứu của tác giả Trần Viết Mỹ (2001) [10] đã cho thấy mức độ ô nhiễm môi trường thành phố Hồ Chí Minh ngày càng trở nên nghiêm trọng, đặc biệt là ở khu vực nội thành Đến năm 2010, các hoạt động sản xuất, giao thông, sinh hoạt sẽ thải vào bầu khí quyển thành phố hơn 5.000 tấn bụi và bụi chì, 2.850.000 tấn CO2

và khí thải khác, tiếng ồn vào giờ cao điểm lên đến 90 - 91dB Để đảm bảo cân bằng sinh thái, điều hòa khí hậu, cải thiện môi trường, về số lượng thành phố cần 15.000 - 18.000 ha diện tích xanh, trong đó nội thành cần 7.500 ha, nội thành mở rộng cần 4.100 - 5.500 ha Tác giả đã dựa vào hiện trạng, dự báo tổng lượng khí thải đến năm 2010 và khả năng hấp thụ các chất này của cây xanh tính toán nhu cầu diện tích xanh bình quân đầu người nội thành là 25 m2/người, tỷ lệ che phủ 53,5 - 54,0%, nhưng tiềm năng quỹ đất tối đa chỉ có thể giải quyết 10,2 m2/người và tỷ lệ che phủ 21,9%; nội thành mở rộng 18,5 - 20 m2/người; tỷ lệ che phủ 13,9 - 18,4% nhưng tiềm năng quỹ đất tối đa có thể giải quyết đến 56,6 m2/người và tỉ lệ che phủ 41,0%; diện tích khuôn viên đạt 3180 - 3680 ha Bên cạnh đó, dựa vào đặc điểm sinh học loài cây và sử dụng ngôn ngữ lập trình Pascal tác giả đã bước đầu sắp xếp lại các loài cây trồng hiện hữu ở thành phố Hồ Chí Minh theo từng nhóm phù hợp với từng khu vực cụ thể (đường phố, vườn hoa công viên, trường học, công sở, bệnh viện, đình chùa,…) và bổ sung thêm 22 loài cây trồng mới dự kiến dẫn nhập từ rừng và nhập nội để làm phong phú thêm tập đoàn cây trồng đô thị, đồng thời đưa ra khuyến

- Thông tư của Bộ xây dựng số 20/2005/TT-BXD ngày 20 tháng 12 năm 2005 hướng dẫn quản lý cây xanh độ thị [11]

- TCVN4449:1987 Quy hoạch xây dựng đô thị - Tiêu chuẩn thiết kế [12]

- Nghị định 08/2005/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 24/01/2005 về Quy hoạch Xây dựng [13]

Trang 23

- Nghị định số 64/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ

về “quản lý cây xanh đô thị”, theo đó, Chính phủ thống nhất quản lý cây xanh đô thị, có phân công, phân cấp trách nhiệm theo quy định của pháp luật; nhà nước có trách nhiệm đầu tư, phát triển cây xanh đô thị nhằm mục đích phục vụ lợi ích cộng đồng; khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức, cá nhân tham gia quy hoạch, trồng, chăm sóc, ươm cây, bảo vệ cây xanh đô thị [14]

Từ việc xác định rõ vai trò quan trọng của cây xanh đô thị nói chung và cây xanh đường phố nói riêng nhiều công trình nghiên cứu và bài viết liên quan đến quy hoạch xây dựng đô thị, phát triển cây xanh và quản lý trong môi trường đô thị, kiến trúc cảnh quan đô thị, chủng loại cây xanh đô thị,… đã được nghiên cứu, có thể kể tới một số công trình tiêu biểu như:

Các tác giả như Hàn Tất Ngạn, Phạm Kim Giao, Nguyễn Thị Thanh Thủy,…

đã nghiên cứu và biên soạn nhiều tài liệu về quy hoạch xây dựng đô thị, phát triển cây xanh và quản lý cây xanh đô thị,… Phần lớn các nghiên cứu này đều xem cây xanh như một thành phần hữu cơ trong cấu thành của đô thị, một bộ phận không thể tách rời của cảnh quan thiên

Công tác tuyển chọn chủng loại cây xanh đô thị, nghệ thuật vườn - công viên,

bố cục vườn,… đã được các tác giả Hà Tất Ngạn, Trần Hợp, Phương Thảo,… quan tâm nghiên cứu Các công trình nghiên cứu này giới thiệu khá chi tiết về chủng loại loài cây, mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái loài nên có ý nghĩa rất lớn trong việc gây trồng và phát triển cây xanh đô thị ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố

Hồ Chí Minh,… góp phần quan trọng trong phát triển cảnh quan đô thị của nước ta cáo không nên trồng một số loài cây làm cảnh quan đô thị

1.1.3 Nhận xét, đánh giá chung

Trên thế giới công tác nghiên cứu về cây xanh đô thị nói chung và cây xanh đường phố nói riêng đã thu hút được sự chú ý của các nhà lâm nghiệp từ rất sớm Các công trình nghiên cứu đã chỉ rõ được vai trò, chức năng, tầm quan trọng của cây xanh đường phố trong việc cải thiện môi trường cũng như trong đời sống hàng ngày của con người Công tác quy hoạch và quản lý cây xanh đường phố ngày càng được quan tâm chú trọng, từ kỹ thuật chọn loại cây, nguyên tắc bố trí cây, kỹ thuật gây trồng và chăm sóc các loại cây xanh đường phố,…Với nhận thức ngày càng cao

Trang 24

về vai trò của cây xanh đường phố, ở nhiều nước đã phát triển hệ thống cây xanh trở thành một trong những nội dung quan trọng của xây dựng và phát triển đô thị

Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về cây trồng phân tán, chủ yếu tập trung nghiên cứu ở các mặt: lựa chọn loài cây, biện pháp kỹ thuật trồng, cơ chế hưởng lợi ích và chính sách phát triển cây trồng phân tán,…Nghiên cứu về cây xanh đường phố ở nước ta còn khá mới mẻ, các công trình nghiên cứu còn rất ít, phạm vi nghiên cứu còn hẹp và chưa có hệ thống; hiệu quả ứng dụng trong quy hoạch, thiết kế cải tạo cây xanh không cao, chưa đưa ra được các giải pháp đồng bộ cho việc phát triển cây xanh đường phố

Ở thành phố Lào Cai trong những năm qua cây xanh đường phố cũng được phát triển cùng với quá trình mở rộng thành phố, đã góp phần cung cấp các giá trị dịch vụ môi trường, cảnh quan cho thành phố Mặc dù vậy, việc quản lý và phát triển cây xanh đô thị ở đây vẫn còn nhiều bất cập, từ việc quy hoạch, chọn loài cây, thiết kế, trồng và chăm sóc cây xanh,… gây ảnh hưởng không nhỏ đến mỹ quan thành phố và môi trường sống của người dân đô thị

1.2 Tổng quan điều kiện tự nhiên, Kinh tế - Xã hội khu vực nghiên cứu

1.2.1 Điều kiện tự nhiên

1.2.1.1 Vị trí địa lý

Thành phố Lào Cai là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Lào Cai; có cửa khẩu quốc tế nối liền với tỉnh Vân Nam - Trung Quốc Là thành phố biên giới nằm ở khu vực Tây Bắc của Việt Nam, nên có một vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về an ninh quốc phòng cấp quốc gia

- Phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam, Trung Quốc

- Phía Nam giáp huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai

- Phía Đông giáp huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai

- Phía Tây giáp huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai

Trang 25

- Dạng địa hình đồi núi, độ dốc lớn, đặc trưng >350

- Dạng địa hình chân đồi và ven suối, độ dốc biến động từ 15 - 250

- Dạng địa hình tương đối bằng phẳng, độ dốc dưới 150

1.2.1.3 Đất đai, thổ nhưỡng

Có tổng diện tích tự nhiên là: 22.967,2ha, bao gồm các nhóm đất sau:

- Đất mùn Alit trên núi cao (HA) diện tích: 2.587 ha, chiếm 11,3% tổng diện tích

- Đất mùn thô than bùn trên núi cao (HT) diện tích: 1.465ha, chiếm 6,4% tổng diện tích

- Đất mùn vàng đỏ trên núi cao (HF) diện tích: 5.436ha, chiếm 23,6% tổng diện tích

- Đất Feralít đỏ vàng trên núi thấp và trung bình (F) diện tích: 4.480ha, chiếm 19,5% tổng diện tích

- Đất Feralít đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước (FL) diện tích: 6.676ha, chiếm 29% tổng diện tích

- Đất thung lũng và sản phẩm dốc tụ (D) diện tích: 2.323,2ha, chiếm 10,2% tổng diện tích

- Chế độ mưa:

+ Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10

+ Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 04 năm sau

+ Lượng mưa bình quân năm: 119,04mm

Trang 26

+ Lượng mưa trung bình tháng cao nhất: 216,46mm (tháng 7); Lượng mưa trung bình tháng thấp nhất: 12,13mm (tháng 12)

- Chế độ ẩm:

+ Ẩm độ trung bình năm: 83,09%

+ Ẩm độ trung bình mùa khô: 81,5%; Ẩm độ trung bình mùa mưa: 84,7% + Ẩm độ bình quân tháng cao nhất: 88,97% (tháng 6); Ẩm độ bình quân tháng thấp nhất: 79,08% (tháng 12)

- Chế độ nắng:

+ Số giờ nắng trung bình năm: 130,06 giờ, tập trung nhiều nhất vào các tháng mùa khô, nhất là vào (tháng 11: 192,18 giờ; tháng 12: 179,69 giờ)

+ Số giờ nắng trung bình ở các tháng mùa khô: 168,21 giờ

+ Số giờ nắng trung bình ở các tháng mùa mưa: < 130 giờ

- Chế độ gió:

+ Gió thịnh hành vào mùa khô là gió Đông Nam với tần suất 40 - 70%

+ Gió thịnh hành vào mùa mưa là gió Tây Nam với tần suất 85%

- Lượng nước bốc hơi:

+ Lượng nước bốc hơi chủ yếu tập trung vào mùa khô, đạt cao nhất vào tháng

m3, cao trình 466m; lưu lượng nước của các hồ và suối cũng thay đổi theo mùa

1.2.2 Điều kiện Kinh tế - Xã hội

1.2.2.1 Diện tích, dân số và dân tộc

* Diện tích và hành chính

Thành phố Lào Cai có diện tích khoảng gần 222 km², trong đó diện tích đã đô thị hóa khoảng gần 100 km2; có 17 xã, phường gồm: 416 thôn, tổ dân phố, trong đó

có 79 thôn, 337 tổ dân phố

Trang 27

Theo Quyết định số 09/QĐ-UBND ngày 06/01/2002 của UBND tỉnh Lào Cai V/v phân định thành phố Lào Cai như sau:

- Khu trung tâm gồm các phường: Cốc Lếu, Duyên Hải, Kim Tân, Phố Mới, Lào Cai

- Khu cận trung tâm gồm các phường: Bắc Cường, Nam Cường, Bắc Lệnh, Bình Minh và Pom Hán

- Khu ven đô gồm các xã, phường: Vạn Hòa, Đồng Tuyển, Thống Nhất, Xuân Tăng, Cam Đường, Tả Phời và Hợp Thành

* Dân số, dân tộc

Tổng dân số thành phố là 105.834 người, gồm 27.938 hộ, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số có 6.868 hộ, 18.760 người, chiếm tỷ lệ 17% dân số toàn thành phố

Có gần 80% dân số sống tại khu vực nội thành; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là: 1,2%

1.2.2.2 Tình hình phát triển kinh tế trong khu vực

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm bình quân: 22,5%

- Tổng thu ngân sách Nhà nước: 455,1 tỷ đồng

- Tổng vốn thu hút đầu tư trên địa bàn thành phố: 5.153,9 tỷ đồng

- Thu nhập bình quân đầu người: 35,2 triệu đồng/người/năm

- Tỷ trọng các ngành: 40% công nghiệp - xây dựng, 52% thương mại - dịch vụ, 8% nông lâm nghiệp

- Tỷ lệ hộ nghèo: 2,2%

1.2.2.3 Cơ sở hạ tầng

* Giao thông, thông tin liên lạc

- Về giao thông: Thành phố đã có 97% đường bộ nội thành được nhựa hóa là đầu mối giao thông cấp vùng và cấp quốc gia Có hệ thống đường sắt được bắt đầu

từ ga Lào Cai đi qua 4 tỉnh đến ga Hà Nội chiều dài trên 350km và sang châu Hồng

Hà tỉnh Vân Nam Trung Quốc với chiều dài gần 60km

- Về thông tin liên lạc: Thành phố đã có 193 máy điện thoại/100 dân

Trang 28

* Văn hóa - Giáo dục

100% các xã, phường trong thành phố đã hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở; Ngoài ra còn có hệ thống giáo dục các trường chuyên nghiệp như: Cao đẳng Sư phạm, Cao đẳng văn hóa nghệ thuật, Cao đẳng nghề, Trung cấp kinh tế, Trung cấp y

* Y tế

100% các xã, phường trong thành phố đã xây dựng trạm y tế đặt ở trung tâm

để khám chữa bệnh cho nhân dân trong địa bàn

1.2.3 Nhận xét, đánh giá chung

1.2.3.1 Thuận lợi

- Thành phố Lào Cai không chỉ là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh Lào Cai, mà còn là một thành phố đặc trưng của khu vực Tây Bắc, có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng của vùng và cả nước nên rất được quan tâm đầu tư phát triển; trong đó việc gây trồng cây xanh đường phố để đảm bảo mỹ quan và bảo

vệ môi trường cho đô thị đặc biệt được chú trọng phát triển

- Khí hậu ôn hòa, đất đai màu mỡ phù hợp với sự phát triển của nhiều loại cây trồng Hệ thống giao thông thuận tiện cho việc kinh doanh, trao đổi hàng hóa trong thành phố, tỉnh và khu vực

- Thành phố đang trong quá trình quy hoạch, nâng cấp lên khu đô thị loại II nên việc quy hoạch phát triển trồng cây xanh đường phố là rất cần thiết

Trang 29

Chương 2

2.1 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá thành phần loài cây xanh đường phố và các biện pháp kỹ thuật đã

áp dụng tại thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

- Đánh giá sinh trưởng và chất lượng cây xanh đường phố tại thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

- Đánh giá công tác tổ chức, quản lý cây xanh đường phố tại thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

- Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và bài học kinh nghiệm trong quản lý và phát triển cây xanh đường phố tại thành phố Lào Cai

- Đề xuất giải một số pháp phát triển cây đường phố tại thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp luận

Thực vật nói chung và thực vật thân gỗ nói riêng khi tồn tại ngoài tự nhiên đều phải hình thành đặc điểm thích nghi với môi trường sống để có thể tồn tại và phát triển, đặc điểm thích nghi của loài được thể hiện thông qua tỷ lệ sống, khả năng sinh trưởng về đường kính, chiều cao, ra hoa, kết quả,…đây cũng là những tiêu chí cơ bản để đánh giá khả năng thích nghi của thực vật khi con người đem gây trồng chúng ở một khu vực nào đó

Tuy nhiên, điểm khác biệt của cây xanh đường phố so với cây xanh thông thường ở chỗ, ngoài việc phải mang đặc điểm thích nghi với điều kiện khu vực để phát huy vai trò phòng hộ môi trường và cảnh quan đô thị, thì cây xanh đường phố còn phải đáp ứng rất cao về mặt mỹ quan như: có hình dáng đẹp, hoa đẹp và không sinh ra các chất độc hại cho sức khỏe của con người Do đó, đây cũng là những tiêu chí cơ bản để đánh giá lựa chọn cây xanh đường phố cho phù hợp

Sự tồn tại và phát triển của cây xanh đường phố trong các khu đô thị chịu sự tác động rất lớn của yếu tố con người, do đó hiệu quả của những biện pháp quản lý cây xanh đường phố có ý nghĩa rất lớn trong việc duy trì một hệ thống cây xanh, tạo cảnh quan đẹp và phát huy vai trò phòng hộ môi trường cao nhất

Trang 30

Để giải quyết được những nội dung nghiên cứu trên, đề tài tiến hành đánh giá hiện trạng cây xanh đường phố một cách tổng hợp, đa chiều thông qua việc kế thừa các số liệu, công trình nghiên cứu đã có; Mặt khác tiếp cận phỏng vấn cơ quan quản

lý cây xanh đường phố và người dân trong việc lựa chọn loài cây trồng, cũng như công tác chăm sóc, bảo vệ cây xanh đường phố; từ đó phân tích những điểm đã đạt được và còn tồn tại trong việc phát triển hệ thống cây xanh đường phố tại thành phố Lào Cai, để làm căn cứ đề xuất một số giải pháp phát triển

Từ những vấn đề lý luận và cách tiếp cận trên, các bước giải quyết vấn đề của

đề tài được thể hiện theo sơ đồ sau:

Hình 2.1 Sơ đồ các bước tiến hành của đề tài

Thu thập các tài liệu, số

liệu, thông tin liên quan

Điều tra, khảo sát sơ bộ khu vực nghiên cứu

Đánh giá công tác

tổ chức quản lý cây xanh đường phố trên địa bàn nghiên

cứu

Phân tích SWOT và bài học kinh nghiệm

Đề xuất giải pháp phát triển Đánh giá cây xanh đường phố

Trang 31

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

2.2.2.1 Phương pháp kế thừa số liệu

- Đề tài kế thừa các thông tin, tài liệu, số liệu, công trình nghiên cứu đã công

bố có liên quan tới phát triển cây xanh đô thị trên thế giới và ở Việt Nam

- Kế thừa các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

- Kế thừa các báo cáo, cơ sở dữ liệu về công tác quản lý và phát triển cây xanh đường phố của Công ty TNHH một thành viên môi trường đô thị tỉnh Lào Cai

- Các thông tin, văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, của Bộ và của UBND tỉnh Lào Cai về thiết kế, quy hoạch trồng và quản lý cây xanh đô thị

2.2.2.2 Phương pháp điều tra, đánh giá cụ thể

* Phương pháp điều tra, đánh giá thành phần loài cây xanh đường phố và các biện pháp kỹ thuật đã áp dụng tại thành phố Lào Cai:

Các phương pháp được đề tài sử dụng là kế thừa số liệu, tài liệu đã có kết hợp với việc phỏng vấn các đối tượng có liên quan và điều tra, khảo sát ngoài thực địa Trước tiên, đề tài tiến hành làm việc với lãnh đạo và cán bộ phòng Kế hoạch -

Kỹ thuật của Công ty TNHH một thành viên môi trường đô thị tỉnh Lào Cai để nắm tình hình chung Số người phỏng vấn là 3 người (1 lãnh đạo và 2 cán bộ) Nội dung làm việc tập trung vào các vấn đề sau:

- Các đơn vị chịu trách nhiệm về quản lý cây xanh đường phố

- Tình hình phát triển cây xanh đường phố

- Các loài cây trồng và biện pháp kỹ thuật đã áp dụng

- Công tác quản lý cây xanh đô thị trong thời gian qua

- Những khó khăn, tồn tại và bài học kinh nghiệm,

Chi tiết, xem phụ biểu 1

Tiếp đó, đề tài làm việc với Xí nghiệp công viên cây xanh để nắm chi tiết về công tác quản lý và phát triển cây xanh trên địa bàn thành phố Lào Cai Số người

Trang 32

phỏng vấn 5 người (2 lãnh đạo và 3 cán bộ kỹ thuật) Nội dung làm việc tập trung vào các vấn đề sau:

- Các tuyến đường có trồng cây xanh của thành phố Lào Cai

- Thành phần loài cây trồng, số lượng cây trồng của 25 loài cây chủ yếu, năm trồng, biện pháp kỹ thuật gây trồng

- Các báo cáo về tình hình thực hiện trồng, chăn sóc, bảo vệ cây xanh đường phố của Xí nghiệp công viên cây xanh

Trên cơ sở đó, đề tài tiến hành điều tra, khảo sát 30 tuyến đường phố có trồng cây xanh, trong đó chia ra:

+ Đường phố hẹp: Là tuyến đường phố có tổng bề rộng của lòng đường, vỉa hè

và dải phân cách từ < 13,5 m Tổng số điều tra 10 đường phố

+ Đường phố trung bình: Là đường tuyến phố có tổng bề rộng của lòng đường, vỉa hè và dải phân cách từ 13,5 - 19 Tổng số điều tra 10 phố

+ Đường phố rộng: Là tuyến đường phố có tổng bề rộng của lòng đường, vỉa

hè và dải phân cách từ > 24 m Tổng số điều tra 10 phố

Các tuyến đường phố điều tra được lựa chọn bao gồm cả các tuyến đường phố

cũ và đường phố mới Trong 30 tuyến đường phố điều tra có 22 đường phố cũ và 8 đường phố mới

Trên mỗi tuyến đường phố, tiến hành điều tra các thông tin sau:

- Tên phố điều tra

- Mô tả đặc điểm đường phố

- Loài cây trồng trên đường phố

- Đặc điểm cây trồng đường phố

- Tình hình quản lý cây xanh đường phố

Chi tiết, xem từ phụ biểu 2 đến phụ biểu 31

Danh sách các tuyến đường phố đã điều tra được trình bày ở bảng 2.1

Trang 33

Bảng 2.1 Danh sách các tuyến đường phố điều tra cây xanh

Tên đường

phố

Rộng mặt đường, vỉa

hè và dải phân cách (m)

Tên đường phố

Rộng mặt đường, vỉa

hè và dải phân cách (m)

Tên đường phố

Rộng mặt đường, vỉa

hè và dải phân cách (m)

Các chỉ tiêu cơ bản cần đo đếm là: đường kính ngang ngực D1.3 (m); chiều cao vút ngọn Hvn (m) Các chỉ tiêu sinh trưởng được đo đếm bằng các dụng cụ đo chuyên dùng trong lâm nghiệp như:

- Đo chiều cao bằng thước đo cao Blumleiss (m)

- Đo đường kính bằng thước đo vanh (cm) để xác định chu vi cây sau đó thực hiện chuyển đổi về đường kính thông qua công tác nội nghiệp

Do cây xanh đường phố bao gồm thành phần loài rất đa dạng, năm trồng khác nhau dẫn tới kích thước của các cây cũng khác nhau Do vậy, để có thể đánh giá

Trang 34

được sinh trưởng của cây xanh đường phố, đề tài tiến hành điều tra phân loại loài cây, năm trồng mà chọn tuổi điều tra sinh trưởng cho phù hợp, kết qua ở bảng 2.2

Bảng 2.2 Loài cây và tuổi điều tra sinh trưởng của một số loài cây chủ yếu

2 Sấu Dracontomelon duperreanum Pierre 9

4 Phượng vĩ Delonix regia (W J Hook) Raf 17

5 Bằng lăng tím Lagerstroemia speciosa (L.) Pers 15

Đề tài tiến hành đánh giá chất lượng sinh trưởng của 12 loài cây trồng chủ yếu ở thành phố Lào Cai theo 3 cấp sinh trưởng: Tốt, trung bình, xấu

- Cây tốt: Là những cây sinh trưởng khỏe mạnh, thân thẳng, cân đối, tròn đều, tán lá cân đối không bị sâu bệnh

- Cây trung bình: Là những cây sinh trưởng bình thường, tán nhỏ hoặc hơi lệch, phân cành sớm

- Cây xấu: Là những cây thân cong queo, tán lệch, bị sâu bệnh

Sau khi đánh giá về thành phần loài cây trồng, sinh trưởng, chất lượng cây trồng,…đề tài tiến hành đánh giá khả năng đáp ứng cảnh quan môi trường của cây xanh đường phố theo các tiêu chí sau:

Trang 35

- Khả năng phù hợp về điều kiện sinh thái: Thông qua đánh giá sinh trưởng, chất lượng cây trồng, sự phù hợp về nhu cầu sinh thái của loài cây với lập địa trồng,

- Khả năng đáp ứng yêu cầu cảnh quan được đánh giá dựa trên 2 tiêu chí: + Khả năng đáp ứng yêu cầu cảnh quan của bản thân loài: Loài được chọn để trồng cây xanh đường phố phù hợp phải là những loài cây thường xanh, có hoa quả đẹp, cây có hình dáng đẹp,…

+ Khả năng đáp ứng cảnh quan của cách thiết kế, bố trí loài cây: Đánh giá mức độ phù hợp về cảnh quan của cách bố trí, thiết kế loài cây xanh đường phố

- Khả năng đáp ứng yêu cầu về môi trường: Cây xanh đường phố đáp ứng tốt yêu cầu về môi trường phải là loài ít rụng lá, hoa, quả gây ô nhiễm môi trường, không sinh ra các chất độc hại cho sức khỏe con người, cây có khả năng tạo bóng mát, ngăn cản bụi, tiếng ồn và ô nhiễm trong không khí,…

* Phương pháp đánh giá công tác tổ chức, quản lý cây xanh đường phố trên địa bàn thành phố Lào Cai:

Phương pháp chủ đạo được đề tài sử dụng là phương pháp đánh giá nhanh có

sự tham gia PRA với bộ câu hỏi bán định hướng để điều tra, phỏng vấn các đối tượng có liên quan và các vấn đề cần làm rõ là:

- Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH một thành viên môi trường đô thị tỉnh Lào Cai: Tổng số cán bộ nhân viên, chia thành các phòng ban và đội, số lượng người ở các bộ phận, trình độ, chuyên môn đào tạo?

- Kinh phí hoạt động hàng năm về mảng cây xanh đường phố?

- Công tác trồng cây xanh đường phố được thực hiện như thế nào? Những đơn

vị nào thực hiện? Thiết kế ai làm, ai phê duyệt?

- Công tác chăm sóc, bảo vệ cây xanh thực hiện như thế nào? Lực lượng chuyên trách là ai? Số lượng người tham gia thực hiện?

- Công tác quản lý cây xanh: Cơ sở dữ liệu xây dựng từ năm nào? Ai quản lý

dữ liệu này? Các biện pháp quản lý cây xanh đã thực hiện là gì?

- Khối lượng công việc thực hiện trong 3 năm gần đây từ 2010 - 2012? Số lượng cây xanh đã trồng?

- Số lượng các vụ vi phạm chặt phá cây xanh trong những năm qua? Đã xử lý được bao nhiêu vụ? Hình thức xử lý? Cấp xử lý?

Trang 36

Dựa trên các thông tin thu thập được, đề tài tiến hành phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong việc tổ chức, quản lý, phát triển và duy trì cây xanh đường phố để làm cơ sở đề xuất một số giải pháp phát triển cây xanh đường phố tại thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

2.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

- Xử lý các số liệu điều tra phỏng vấn, thu thập thông tin bằng phương pháp phân tích xã hội học

- Sử dụng ma trận SWOT (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức) để phân tích và đánh giá vấn đề Việc lập một ma trận SWOT bao gồm các bước như sau: 1) Liệt kê các điểm mạnh chủ yếu bên trong

2) Liệt kê các điểm yếu bên trong

3) Liệt kê các cơ hội lớn bên ngoài

4) Liệt kê các thách thức (các đe dọa) quan trọng bên ngoài

5) Kết hợp điểm mạnh bên trong với cơ hội bên ngoài và ghi kết quả chiến lược SO vào ma trận

6) Kết hợp điểm yếu bên trong với cơ hội bên ngoài và ghi kết quả của chiến lược WO vào ma trận

7) Kết hợp điểm mạnh bên trong với thách thức (mối đe dọa) bên ngoài và ghi kết quả của chiến lược ST

8) Kết hợp điểm yếu bên trong với nguy cơ bên ngoài và ghi kết quả của chiến lược WT vào ma trận

Mục đích kết hợp trong 4 bước cuối cùng là đề ra các chiến lược khả thi có thể lựa chọn để thực hiện

- Một số phần mềm chuyên môn đã được sử dụng để phân tích các số liệu trên như: SPSS, Excel

- Các kết quả phân tích trên sẽ được tổng hợp để đưa ra những đề xuất, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác trồng cây xanh đường phố tại thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

Trang 37

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Đánh giá thành phần loài cây xanh đường phố và các biện pháp kỹ thuật

đã áp dụng tại thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

3.1.1 Hiện trạng đường phố tại thành phố Lào Cai

Hệ thống đường phố ở thành phố Lào Cai bao gồm: đường khu vực trung tâm, khu vực cận trung tâm và khu ven đô Hầu hết trên các tuyến đường đã được thành phố quy hoạch hình thành các mảng xanh đem lại vẻ đẹp cảnh quan và góp phần hạn chế ô nhiễm môi trường đô thị

Trong quá trình hình thành và phát triển thành phố Lào Cai được chia ra một

số khu vực cơ bản như:

- Khu vực phố cũ: Là các khu nhà ở kết hợp cửa hàng, có chiều cao từ 2-5

tầng với mật độ xây dựng cao, đường phố hẹp và chiều rộng mặt đường dao động mạnh từ 6 - 18m, vỉa hè đường phố nhỏ Đây là khu tập trung các hoạt động thương mại dịch vụ của thành phố, đặc biệt khu vực chợ Cốc Lếu, Nguyễn Du và Kim Tân, chiều dài đường phố dao động trong khoảng từ 0,35 đến 3,5km

- Khu vực phố mới: Đây là các khu vực được thành phố nâng cấp và mởrộng,

bề rộng mặt đường dao động trong khoảng từ 15 - 58m, vỉa hè đường phố rộng Đây

là khu tập trung cơ quan hành chính của tỉnh; chiều dài đường phố dao động trong khoảng từ 0,39 - 9,44km

- Có một số tuyến đường của thành phố được đầu tư xây dựng khá khang trang như: Trần Hưng Đạo, Hoàng Liên đây là loại đường lớn, tầm nhìn rộng có khả năng tạo được những trục đường tiêu biểu cho thành phố Lào Cai

Đề tài đã tiến hành điều tra, thu thập số liệu về chiều dài, chiều rộng mặt đường, vỉa hè, dải phân cách của 30 tuyến đường phố thuộc các phường: Cốc Lếu, Duyên Hải, Kim Tân, Phố Mới, Bắc Cường, Nam Cường, Bắc Lệnh, Pom Hán Kết quả điều tra được tổng hợp ở bảng 3.1

Trang 38

Bảng 3.1: Hiện trạng 30 tuyến phố ở thành phố Lào Cai

Loại

Chiều dài (km)

Bề rộng lộ giới (m)

Diện tích (ha)

Mặt đường (m)

Vỉa hè hai bên (m)

Dải phân cách (m)

Từ kết quả bảng 3.1 có thể rút ra một số nhận xét sau đây:

- Các tuyến phố cũ có chiều dài dao động từ 0,35- 3,5km; tổng bề rộng lộ giới đường phố biến động khá mạnh từ 12 - 28m, trong đó bề rộng mặt đường từ 6-18m

và tổng bề rộng vỉa hè từ 6 - 10m

Trang 39

- Các tuyến phố mới có chiều dài dao động từ 0,39 - 9,44km; tổng bề rộng lộ giới đường phố biến động khá mạnh từ 25 - 83m, trong đó bề rộng mặt đường từ 15- 58m và tổng bề rộng vỉa hè từ 10 - 20m

Nhìn chung, các tuyến phố mới thường có chiều dài hơn so với các tuyến phố cũ; giữa các tuyến phố mới và các tuyến phố cũ cũng có sự biến động, chênh lệch

về độ rộng lòng đường và vỉa hè

Như vậy, dựa trên kết quả điều tra thực tế cho thấy, hầu hết các tuyến đường, tuyến phố đã hình thành nên những diện tích cụ thể phục vụ cho công tác xây dựng những mảng xanh cải thiện môi trường đô thị, đồng thời góp phần cải thiện khí hậu, cảnh quan cho thành phố Lào Cai Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay thành phố Lào Cai đang đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng để đến năm 2015 trở thành đô thị loại II; điều này góp phần thúc đẩy sự phát triển của công tác trồng cây xanh đường phố trên toàn địa bàn thành phố

Tuy nhiên, ở một số tuyến đường phố cũ mức độ biến động thực tế về bề rộng của vỉa hè là rất lớn, nguyên nhân chủ yếu là do người dân lấn chiếm làm hàng quán, nơi để xe máy, ô tô, biển quảng cáo (hình 3.1)Nhiều chỗ trên các tuyến phố đường điện và dây điện thoại nổi trên mặt đất, mật độ dây điện rất dày và chằng chịt trên các trụ điện, qua ngọn cây xanh nối vào nhà dân; hệ thống cấp thoát nước đã cũ

và xuống cấp; vỉa hè nhiều đoạn chưa có, do đang nâng cấp cải tạo mở rộng đường

Hình 3.1: Lấn chiếm vỉa hè bán hàng tại đường Hồng Hà

Trang 40

3.1.2 Hệ thống các biện pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng trong trồng cây xanh đường phố tại thành phố Lào Cai

3.1.2.1 Các quy định về công tác chọn loài cây trồng đường phố

Hiện nay, trong quá trình quy hoạch và phát triển đô thị, tỉnh Lào Cai nói chung và thành phố Lào Cai nói riêng đã áp dụng và cụ thể hóa các văn bản hướng dẫn về kỹ thuật trong việc chọn loài cây trồng đường phố do Trung ương và tỉnh Lào Cai ban hành, có thể điểm qua một số văn bản chính như sau:

 Nghị định số 64/2010/NĐ-CP ngày 11/6/2010 của Chính phủ về quản lý

cây xanh đô thị

Theo Nghị định này có 2 điểm chính liên quan đến chọn loài cây xanh trồng trên đường phố là:

- Cây xanh sử dụng công cộng đô thị là các loại cây xanh được trồng trên đường phố (gồm cây bóng mát, cây trang trí, dây leo, cây mọc tự nhiên, thảm cỏ trồng trên hè phố, dải phân cách, đảo giao thông); cây xanh trong công viên, vườn hoa; cây xanh và thảm cỏ tại quảng trường và các khu vực công cộng khác trong đô thị

- Loài cây được chọn phải phù hợp với yêu cầu và mục tiêu quy hoạch và phát triển của đô thị; phù hợp với điều kiện tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng, tính chất và truyền thống văn hóa, bản sắc của đô thị; kết hợp hài hòa với không gian mặt nước, cảnh quan và môi trường; đáp ứng các yêu cầu về quản lý và sử dụng

 Quyết định số 01/2006/QĐ-BXD ngày 05/01/2006 của Bộ Xây dựng

ban hành TCXDVN 362:2005 về Quy hoạch cây xanh sử dụng công cộng trong

các đô thị - tiêu chuẩn thiết kế Tiêu chuẩn này quy định các chỉ tiêu về cây xanh

sử dụng công cộng trong các đô thị như sau:

- Cây xanh đường phố: Bao gồm dải cây xanh ven đường (vỉa hè), dải cây xanh trang trí, dải cây xanh ngăn cách giữa các đường, hướng giao thông,…

- Khi thiết kế công viên, vườn hoa phải lựa chọn loại cây trồng thích hợp, nhằm tạo được bản sắc địa phương, dân tộc và hiện đại, không xa lạ với tập quán địa phương Ngoài ra lựa chọn cây trồng trên các vườn hoa nhỏ phải đảm bảo sự sinh trưởng, phát triển không ảnh hưởng đến tầm nhìn các phương tiện giao thông

Ngày đăng: 12/06/2018, 12:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w