Thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan khác đang gia tăng ở hầu hết các nơi trên thế giới, nhiệt độ và mực nước biển trung bình toàn cầu tiếp tục tăng hiện là mối lo nga
Trang 1BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
NGUYỄN THI ̣ THU HƯƠNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN HUYỆN ĐẢO PHÚ QUỐC VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI
PHÁP ỨNG PHÓ
HẢI PHÒNG - 2015
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG i
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ i
DANH MỤC VIẾT TẮT i
1 TÍNH CẤP THIẾT ii
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỒ ÁN ii
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU iii
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ ĐẢO PHÚ QUỐC 1
1.1.Điều kiện tự nhiên , kinh tế xã hô ̣i đảo Phú Quốc 1
1.1.1.Đặc điểm địa lí tư nhiên khu vực đảo Phú Quố c 1
1.1.1.1.Vị trí địa lí 1
1.1.1.2.Đặc điểm địa hình 3
1.1.1.3.Đặc điểm thủy văn 4
1.1.2.Đặc điểm kinh tế xã hội khu vực đảo Phú Quốc 5
1.2 Tổng quan về biến đổi khí hâ ̣u và ki ̣ch bản biến đổi khí hâ ̣u cho khu vực đảo Phú quốc 6
1.2.1 Tổng quan về BĐKH trên thế giớ i và ở Viê ̣t N am 6
1.2.1.1 Biểu hiện của BĐKH trên thế giới 6
1.2.1.2.Biểu hiện của BĐKH ở Viê ̣t Nam 7
1.2.1.3 Kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam 17
1.2.2.Biểu hiện của BĐKH và ki ̣ch bản BĐKH của khu vực đảo Phú Quốc 19
1.2.2.1.Biểu hiện của BĐKH ở khu vực đảo Phú Quốc 19
1.2.2.2.Kịch bản BĐKH của khu vực đảo Phú Quốc 19
CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BĐKH ĐẾN KHU VỰC ĐẢO PHÚ QUỐC 14
2.1 Tác động đến môi trường khí hậu 21
2.2 Tác động đến thủy văn 15
2.2.1 Tác động đến chế độ dòng chảy 15
Trang 32.2.1.2 Dòng chảy mùa 15
2.3 Tác động đến tài nguyên sinh vật 16
2.3.1 Tác động đến rừng ngâ ̣p mă ̣n 16
2.3.2 Tác động đến hệ sinh thái cỏ biển 17
2.3.3 Tác động đến hệ sinh thái san hô 18
2.4 Tác động đến địa hình địa mạo 19
2.4.1 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu nước biển dâng tới độ sâu, độ cao vùng biển đảo Phú Quốc 26
2.4.2 BĐKH NBD làm thay đổi dạng địa hình này bằng dạng địa hình khác tại vùng biển đảo Phú Quốc 27
2.5 Tác động của BĐKH đến xâm nhập m ặn 23
2.6 Tác động đến nông nghiệp thủy sản 25
2.7 Tác động đến du lịch và dịch vụ 26
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI BĐKH KHU VỰC ĐẢO PHÚ QUỐC 29
3.1 Đề xuất giải pháp kĩ thuâ ̣t cho ngành nông , lâm nghiê ̣p đảo Phú Quốc 29
3.1.1 Giải pháp kĩ thuật cho ngành trồng trọt và chăn nuôi 29
3.1.1.1 Kĩ thuật chọn giống cây trồng và vật nuôi 29
3.1.1.2 Xây dựng và phát triển các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến phù hợp với BĐKH 29
3.1.1.3 Áp dụng khoa học kỹ thuật mới cho việc đa dạng hóa hoạt động xen canh, luân canh, kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến 36
3.1.1.4 Xây dựng thủy lợi, hồ chứa tưới tiêu nông nghiê ̣p 37
3.1.1.5 Xây dựng đô ̣i ngũ kĩ thuâ ̣t 33
3.1.1.6 Kĩ thuật khi thu hoạch nông sản 33
3.1.2 Giải pháp kĩ thuật cho ngành lâm nghiệp 34
3.2 Giải pháp kĩ thuật cho nuôi trồng thủy hải sản 35
3.2.1 Giải pháp kĩ thuật về con giống 35
3.2.2 Giải pháp kĩ thuật về phòng trừ bệnh 36
3.2.3 Giải pháp kĩ thuật về phương pháp chăm sóc , nuôi trồng thủ y hải sản 37
Trang 43.2.4 Giải pháp kĩ thuật về đào tạo chuyên môn 37
3.3 Giải pháp kĩ thuật cho xây dựng đê chắn sóng ở đảo Phú Quốc 38
3.4 Giải pháp về tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân cư đảo Phú Quốc 39
3.4.1 Xây dựng chương trình nâng cao nhận thức của toàn cộng đồng về biến đổi khí hậu 39
3.4.2 Hoạt động tập huấn 46
3.4.3 Hoạt động giáo dục 47
3.4.4 Hoạt động tuyên truyền 47
3.4.5 Hoạt động phong trào 44
KẾT LUẬN 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Toạ độ vùng biển Phú Quốc - Hà Tiên 1
Bảng 1.2 Mức tăng nhiệt độ và mức thay đổi lượng mưa
ở các vùng khí hậu của Việt Nam trong 50 năm qua 9
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 2.1
Hồ Dương Đông ở đảo Phú Quốc cũng cạn trơ
Hình 3.1 Nông trại sinh thái – Ecofarm ở đảo Phú Quốc 30
Hình 3.2 Kiểm tra chất lượng giống trước khi cung cấp cho bà
Hình 3.3 Tuyên truyền nhận thức về biến đổi khí hậu 41
DANH MỤC VIẾT TẮT
IPCC Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu
Trang 61 TÍNH CẤP THIẾT
Trong thế kỷ 21, biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại Thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan khác đang gia tăng ở hầu hết các nơi trên thế giới, nhiệt độ và mực nước biển trung bình toàn cầu tiếp tục tăng hiện là mối lo ngại của các quốc gia trên thế giới Theo tính toán của Bộ Tài nguyên và Môi trường (MONRE, 2012), ở Việt Nam, trong khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm đã tăng khoảng 0,5 đến
0,7°C, mực nước biển đã dâng khoảng 20cm Hiện tượng El-Nino, LaNina ngày càng tác động mạnh mẽ đến Việt Nam Biến đổi khí hậu thực sự đã làm cho thiên tai, đặc biệt là bão, lũ, hạn hán ngày càng nghiêm trọng Nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng lên 3°C và mực nước biển có thể dâng 1m vào năm
2100
Đảo Phú Quốc là nơi đã, đang và có thể phải hứng chịu những tác động của biến đổi khí hậu, điều này có thể ảnh hưởng lớn đến kinh tế xã hội và đa dạng sinh học ở đây Do đó, cần phải có những nghiên cứu, đánh giá định lượng, từ đó đưa ra các giải pháp ứng phó kịp thời Nội dung của luận văn sẽ đề cập đến vấn đề: “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến đến huyện đảo Phú Quốc và đề xuất mô ̣t số giải pháp ứng phó ”
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỒ ÁN
Chỉ ra sự thay đổi về các đặc trưng của đảo Phú Quốc dưới ảnh hưởng của BĐKH
Đánh giá được mức đô ̣ tác đô ̣ng của BĐKH đến huyê ̣n đào Phú Quốc Đưa ra đươ ̣c 1 số giải pháp hữu hiê ̣u ứng phó với BĐKH cho huyê ̣n đảo Phú Quốc
Trang 73 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp thu thập, thống kê, tổng hợp tài liệu:
+ Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở kế thừa, phân tích và tổng hợp các nguồn tài liệu, tư liệu, số liệu thông tin có liên quan một cách có chọn lọc, từ đó, đánh giá chúng theo yêu cầu và mục đích nghiên cứu
+ Thống kê là phương pháp xử lý số liệu một cách định lượng Ở giai đoạn đầu, tiến hành thống kê, thu thập các số liệu, các kết quả nghiên cứu của các chương trình, dự án đã được thực hiện có liên quan Đồng thời, thống kê, thu thập các số liệu đo đạc, khảo sát ngoài thực địa, tính toán trên bản đồ
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐẢO PHÚ QUỐC
1.1 Điều kiê ̣n tự nhiên , kinh tế xã hô ̣i đảo Phú Quốc
1.1.1 Đặc điểm địa lí tư nhiên khu vực đảo Phú Quốc
1.1.1.1 Vị trí địa lí
Đảo Phú Quốc nằm trong Vịnh Thái Lan, với diện tích 567,29 km2
và là đảo lớn nhất của Việt Nam Khí hậu trên đảo ôn hòa vì nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa mang tính chất xích đạo được chi phối mạnh bởi các quy luật của biển
Dân số của đảo 92.574 người và chủ yếu vùng ven biển (>80%) Các công trình hạ tầng kỹ thuật, đô thị, du lịch, dịch vụ,… phân bố ở độ cao từ 2-5 m so với mực nước biển Do vậy, những hiện tượng tự nhiên như bão, xói lở bờ biển, mực nước biển dâng có thể gây ảnh hưởng đáng kể đời sống trên đảo
Vùng biển nghiên cứu Phú Quốc- Hà Tiên thuộc vùng biển Kiên Giang,
có diện tích 2816 km2, được giới hạn bởi đường bờ biển và các điểm có tọa độ được trình bày ở bảng 1.1 Vùng nghiên cứu thuộc phạm vi quản lý của thị xã
Hà Tiên, huyện Kiên Lương, Hòn Đất và 2 huyện đảo Phú quốc và Kiên Hải của tỉnh Kiên Giang-nơi có vùng biển-đảo và đất liền nằm ở tận cùng phía Tây Nam của Việt Nam tiếp giáp với nước láng giềng Campuchia
Bảng 1.1 Toạ độ vùng biển Phú Quốc - Hà Tiên
Trang 9Hình 1.1 Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu
Trang 101.1.1.2 Đặc điểm địa hình
a Địa hình lục địa ven biển và đảo
Phần lục địa ven biển của vùng nghiên cứu là đồng bằng thấp xen đồi và núi thấp Đồng bằng có xu hướng nghiêng thoải từ đất liền ra biển và từ bắc (0,8-1,2 mét) xuống nam (0,2-0,4 mét) được cấu tạo bởi trầm tích hỗn hợp sông-biển tuổi Holocen giữa-muộn Đồi núi thấp tạo thành các mũi nhô ra biển như: mũi Nai, mũi Dừa, mũi Hòn Chông, v.v Chính điều này đã làm cho phần đất phía sau trở thành vùng trũng thấp Đáng kể nhất là núi Hòn Chông có độ cao tuyệt đối là 201 mét, cấu tạo bởi các đá cát kết, phiến sét và phiến silic của hệ tầng Hòn Chông Địa hình đồi phân bố rải rác trên bờ biển từ Bắc Hòn Chông đến Hà Tiên cấu tạo bởi đá trầm tích cacbonat thuộc hệ tầng Hà Tiên và đá phun trào xen các lớp bột kết, sét kết mỏng thuộc hệ tầng Hòn Ngang
Địa hình đảo
Kiên Giang là tỉnh có nhiều đảo nhất trong số các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long Trong phạm vi nghiên cứu có 2 quần đảo là Bà Lụa và Hà Tiên (trước đây gọi là Hải Tặc) Quần đảo Hà Tiên là một xã thuộc thị xã Hà Tiên, quần đảo Bà Lụa là một xã thuộc huyện Kiên Lương Các đảo thuộc 2 quần đảo này đều thấp và diện tích nhỏ và được phát triển chủ yếu trên các đá thuộc hệ tầng Hòn Ngang
* Đường bờ: Đường bờ biển khu vực Phú Quốc - Hà Tiên được chia
thành 3 kiểu như sau:
- Bờ biển mài mòn trên đá bền vững do sóng
Kiểu bờ này thấy được ở tất cả các khối đá gốc trước Đệ tứ lộ ra ở bờ biển
Hà Tiên, Phú Quốc và các đảo bao gồm các đá trầm tích lục nguyên và đá
magma xâm nhập, đường bờ có độ ổn định rất cao
- Bờ biển mài mòn-hoà tan
Kiểu bờ này chỉ phát triển trên các khu vực lộ đá vôi trên bờ biển và trên các đảo đá vôi ở phía Bắc Hà Tiên, Hòn Chông Nét đặc biệt của kiểu bờ này là các ngấn nước biển được hình thành do sự kết hợp cả mài mòn do tác động của sóng lẫn hoà tan do nước biển Kiểu bờ này có độ ổn định cao
Trang 11- Bờ biển xói lở-tích tụ trên trầm tích bở rời do sóng
Trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam đây là kiểu khá phổ biển trên các bờ cấu tạo bởi vật liệu bở rời (cát, bùn-sét) Có thể gặp kiểu bờ này ngay trên rìa của các châu thổ lớn-nơi được xem là có cường độ tích tụ cao nhất và rất thường xuyên Dấu hiệu rõ rệt nhất của hiện tượng xói lở là vách xói có độ cao thay đổi từ vài chục cm đến 1,5-2,0 mét tuỳ thuộc vào độ cao của bờ và tác động của sóng Đối với các bờ cấu tạo bởi bùn-sét, thì bên cạnh vách xói lở là bề mặt mài mòn do sóng có thể gọi là “bench bùn” Đặc điểm này quan sát thấy rất rõ ở nhiều nơi thuộc bờ biển Hà Tiên - Rạch Giá
b Địa hình đáy biển
Nhìn chung đáy biển khá bằng phẳng và có cấu tạo phân bậc Bậc từ 0 đến 3-4 mét, bậc từ 3-4 đến 10 mét, bậc từ 10 đến 15 mét và bậc có độ sâu trên 15 mét Trong đó bậc địa hình thứ 2 có cấu tạo tương đối phức tạp
1.1.1.3 Đặc điểm thủy văn
Hệ thống sông Phần lục địa của vùng biển nghiên cứu có 3 sông tự
nhiên chính chảy qua Đó là sông Cái Lớn (dài 60 km), sông Cái Bé (dài 70km)
và sông Giang Thành (dài 27,5 km) Sông Cái Lớn và Cái Bé đều đổ vào vịnh Rạch Giá, còn sông Giang Thành đổ vào vụng Hà Tiên Các sông này chủ yếu để tiêu nước vào mùa lũ và tưới trong mùa khô cũng như để đi lại Ngoài ra trong vùng còn có hệ thống kênh rạch nhân tạo rất phong phú Đó là kênh Vĩnh Tế (được thực hiện vào đầu thế kỷ XIX với mục đích vì sự an ninh của vùng biên giới), Kênh Sán, các kênh Rạch Giá-Long Xuyên, Rạch Giá-Hà Tiên Hệ thống kênh này có ý nghĩa rất quan trọng trong giao thông, thủy lợi, thủy sản và phục vụ dân sinh
Chế độ thủy văn ở đây cũng chịu ảnh hưởng của chế độ lũ sông Mê
Kông Ngoài ra, chế độ dòng chảy sông còn bị ảnh hưởng của mưa tại chỗ và của thủy triều Mùa lũ ở đây thường đến chậm hơn so với mùa mưa khoảng 3 tháng và kéo dài trong 5 tháng (từ tháng 7 đến tháng 11) Với đặc điểm thủy văn như vậy, nên nguồn nước mặn của Kiên Giang rất dồi dào Tuy nhiên, vào mùa mưa phần lớn nước mặt đều bị nhiễm phèn-mặn do là vị trí cuối của nguồn nước ngọt sông Hậu và lại là đầu nguồn nước mặn của vịnh Rạch Giá
Trang 121.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội khu vực đảo Phú Quốc
a Đặc điểm dân cư
Dân số năm 2013 của huyện đảo Phú Quốc là 86.908 người Mật độ dân số khoảng 147,47 người/km2 Dân số tập trung tại các thị trấn và các xã phía tây nam đảo Riêng hai thị trấn Dương Đông, An Thới và xã Dương Tơ nằm về phía tây nam đảo có diện tích tự nhiên chiếm 20,8% nhưng dân số chiếm trên 65% của toàn đảo Dân cư Phú Quốc chủ yếu là người Kinh có khoảng 97%, người Hoa 2%, người Khơ Me và dân tộc khác khoảng 1%
Lao động trong độ tuổi có 50.102 người chiếm 54% dân số; lao động đang làm việc khoảng 34.747 người Ngành có nhiều lao động nhất là thủy sản với 11.934 lao động, nông lâm nghiệp trên 6.000 lao động, công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp khoảng 3.000 lao động Lao động trong ngành dịch vụ gần 8.000 lao động Hiện có trên 2.000 lao động trực tiếp phục vụ trong các cơ sở khách sạn, nhà nghỉ
b Đặc điểm kinh tế và cơ sở hạ tầng
Kinh tế: Từ khi thực hiện quyết định 178 của Thủ tướng chính phủ tình
hình kinh tế - xã hội luôn được giữ vững ổn định và phát triển đúng hướng Kinh tế phát triển cao, bình quân hàng năm tăng trên 24,5 % gấp 2,5 lần so với năm
2004, cao hơn 1,9 lần so với kinh tế của tỉnh Nhiều chỉ tiêu kinh tế chủ yếu đều đạt khá và tăng so với năm trước như: du lịch, dịch vụ, thương mại, khai thác và nuôi trồng thủy sản
Cơ sở hạ tầng:Hệ thống giao thông Phú Quốc phát triển khá toàn diện và
nhanh chóng Các tuyến vận chuyển hành khách từ đất liền ra đảo bằng cả đường hàng không lẫn hàng hải rất thuận tiện Sân bay Phú Quốc hiện tại mỗi ngày trung bình có 5 chuyến bay đi TP.HCM và 1 chuyến đi Rạch Sỏi (Rạch Giá)
Đường giao thông nội bộ quanh đảo chủ yếu rải đất đỏ, chỉ có nâng cấp một số đường trong thị trấn Dương Đông.Ngoài đường nhựa nối An Thới - Dương Đông - Hàm Ninh - Bãi Vòng, còn có các tuyến đường đất khác và một
số tuyến đường đất khác đang được mở ra quanh đảo Phú Quốc Đảo cũng có các cảng biển: An Thới và Dương Đông, vịnh Đầm, Đất Đỏ Ngoài ra còn có các cảng cá đánh bắt hải sản tại Hàm Ninh, Cửa Cạn, Bãi Thơm, Gành Dầu
Trang 131.2 Tổng quan về biến đổi khi ́ hâ ̣u và ki ̣ch bản biến đổi khí hâ ̣u cho khu vực đảo Phú quốc
1.2.1 Tổng quan về BĐKH trên thế giơ ́ i và ở Viê ̣t Nam
1.2.1.1 Biểu hiê ̣n của BĐKH trên thế giới
Sự nóng lên của khí hậu toàn cầu là rất rõ ràng với biểu hiện của sự tăng nhiệt độ không khí và đại dương, sự tan băng diện rộng và qua đó là mức tăng mực nước biển trung bình toàn cầu
Các quan trắc cho thấy rằng nhiệt độ đang tăng trên toàn cầu và tăng nhiều hơn ở các vĩ độ cực Bắc Trong 100 năm qua (1906 – 2005), nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng khoảng 0,74oC, tốc độ tăng của nhiệt độ trong 50 năm gần đây gần gấp đôi so với 50 năm trước đó
Thời kỳ 1901–2005 trên phạm vi toàn cầu lượng mưa tăng lên ở các đới phía Bắc vĩ độ 30o N và giảm đi ở các vĩ độ nhiệt đới, kể từ giữa những năm
1970 Ở khu vực nhiệt đới, ở Nam Á và Tây Phi mưa giảm đi với trị số xu thế là 7,5% cho cả thời kỳ 1901–2005 Ở đới vĩ độ trung bình và vĩ độ cao, như miền, Đông Bắc Mỹ, Trung Bắc Mỹ, Bắc Á,Trung Á, Bắc Âu lượng mưa tăng lên rõ
rê ̣t Tần số mưa lớn tăng lên trên nhiều khu vực, kể cả những nơi lượng mưa có
xu thế giảm đi
Trên phạm vi toàn cầu, biến đổi của xoáy thuận nhiệt đới (XTNĐ) chịu sự chi phối của nhiệt độ nước biển, của hoạt động ENSO và sự thay đổi quỹ đạo của chính XTNĐ Ở Bắc, Tây Nam Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương có xu thế tăng cường hoạt động của XTNĐ rõ rệt nhất
Trong thế kỷ 20 cùng với sự tăng lên của nhiệt độ mặt đất có sự suy giảm khối lượng băng trên phạm vi toàn cầu Lượng băng trung bình hàng năm ở Bắc Băng Dương giảm 2,7 (2,1–3,3)% mỗi thập kỷ từ năm 1978 đến nay
Sự nóng lên của hệ thống khí hậu đã rõ ràng được minh chứng thông qua
số liệu quan trắc ghi nhận sự tăng lên của nhiệt độ nước biển trung bình toàn cầu và nhiệt độ không khí, sự tan chảy nhanh của lớp băng và tuyết phủ đã làm tăng mực nước biển trung bình toàn cầu Mực nước biển tăng phù hợp với xu thế nóng lên do có sự đóng góp của: (a) hiện tượng giãn nở nhiệt của đại dương; (b)
Trang 14tan băng ở Greenland và Nam Cực và các khu vực khác; (c) thay đổi khả năng
giữ nước ở đất liền
Theo các nhà khoa học về biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu và nước biển dâng cho thấy từ cuối thập kỷ 1950 đại dương đã nóng lên đáng kể Các nghiên cứu từ số liệu quan trắc trên toàn cầu cho thấy trong thời kỳ 1961 – 2003, mực nước biển trung bình toàn cầu đã dâng với tốc độ 1,8 0,5 mm/năm Trong đó, đóng góp do tan băng khoảng 0,70 0,50 và gián nở nhiệt khoảng 0,42 0,12 mm/năm Nghiên cứu cập nhật năm 2009 cho rằng tốc độ mực nước biển trung bình toàn cầu dâng khoảng 1,8 mm/năm (Chuch và White, 2009)
Từ năm 1992, mực nước biển trung bình toàn cầu được tính toán, cập nhật theo chu kỳ 10 ngày từ và vệ tinh JASON từ 66° Nam đến 66° Bắc (Nerem và Mitchum, 2001) vệ tinh TOPEX/Poseidon (T/P) Theo số liệu đo đạc được tổng hợp và hiệu chỉnh từ các vệ tinh (Topex/Poisedon, ERS - ½, Jason - 1/2, Envisat) cho rằng mực nước biển đã dâng với tốc độ là 3,27 mm/năm (CNES, LEGOS, CLS) từ tháng 10/1992 đến 12/2010
Trên quy mô toàn cầu, xu thế biến đổi của mực nước biển giảm ở bờ Đông Thái Bình Dương và tăng mạnh ở ven bờ Tây Thái Bình Dương
1.2.1.2 Biểu hiê ̣n của BĐKH ở Viê ̣t Nam
Ở Việt Nam, trong 50 năm qua xu thế biến đổi của nhiệt độ và lượng mưa
là rất khác nhau trên các vùng Nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,5oC trên phạm vi cả nước và lượng mưa có xu hướng giảm ở nửa phần phía Bắc, tăng ở phía Nam
Nhiệt độ tháng I (tháng đặc trưng cho mùa đông), nhiệt độ tháng VII (tháng đặc trưng cho mùa hè) và nhiệt độ trung bình năm trong 50 năm qua tăng trên phạm vi cả nước Nhiệt độ vào mùa đông tăng nhanh hơn so với vào mùa hè
và nhiệt độ vùng sâu trong đất liền tăng nhanh hơn nhiệt độ vùng ven biển và hải đảo
Vào mùa đông, nhiệt độ tăng nhanh hơn cả là Đông Bắc Bộ, Tây Bắc Bộ, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ (khoảng 1,3 - 1,5oC/50 năm) Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ có nhiệt độ tháng I tăng chậm hơn so với các vùng khí hậu phía Bắc (khoảng 0,6-0,9OC/50 năm) Tính trung bình cho cả nước, trong 50
Trang 15năm qua nhiệt độ mùa đông ở nước ta đã tăng lên 1,2o
C Nhiệt độ tháng VII tăng khoảng 0,3-0,5oC/50 năm trên tất cả các vùng khí hậu của nước ta
Xu thế chung của nhiệt độ là tăng trên hầu hết các khu vực trên cả nước, tuy nhiên có những khu vực nhỏ thuộc vùng ven biển Trung Bộ và Nam Bộ như Thừa Thiên – Huế, Quảng Ngãi, Tiền Giang có xu hướng giảm của nhiệt độ
Mức thay đổi nhiệt độ cực đại nhìn chung dao động trong khoảng từ -3oC đến 3o
C trên toàn Việt Nam Mức thay đổi nhiệt độ cực tiểu chủ yếu dao động trong khoảng -5oC đến 5o
C Xu thế chung của nhiệt độ cực đại và cực tiểu là tăng, tốc độ tăng của nhiệt độ cực tiểu nhanh hơn nhiều so với nhiệt độ cực đại,
phù hợp với xu thế chung của biến đổi khí hậu toàn cầu
Lượng mưa mùa khô (tháng XI-IV) trong 50 năm qua tăng lên chút ít hoặc không thay đổi đáng kể ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng mạnh mẽ ở các vùng khí hậu phía Nam Lượng mưa mùa mưa (tháng V-X) trong 50 năm qua giảm từ 5 đến trên 10% trên đa phần diện tích phía Bắc nước ta và tăng
khoảng 5 đến 20% ở các vùng khí hậu phía Nam
Trong những năm gần đây, lượng mưa ngày cực đại tăng lên ở hầu hết các vùng khí hậu Ở khu vực miền Trung số ngày mưa lớn cũng có xu thế tăng lên tương ứng, nhiều biến động mạnh xảy ra Tồn tại mối tương quan khá rõ giữa sự nóng lên toàn cầu và nhiệt độ bề mặt biển khu vực Đông xích đạoThái Bình dương với xu thế biến đổi của số ngày mưa lớn trên các vùng khí hậu phía Nam
Trang 16Bảng1.2: Mức tăng nhiệt độ và mức thay đổi lượng mưa ở các vùng khí hậu của Việt Nam trong 50 năm qua (Nguồn: IMHEN/2010)
Thời
kỳ V-X
trung bình mỗi năm Khu vực bờ biển miền Trung từ 16 đến 180N và khu vực bờ biển Bắc Bộ từ 200N trở lên
có tần suất hoạt động của bão, áp thấp nhiệt đới cao nhất trong cả dải ven biển nước ta, cứ khoảng 2 năm lại có 1 cơn bão, áp thấp nhiệt đới đi vào khu vực 1 vĩ
độ bờ biển
Khu vực đổ bộ của các cơn bão và áp thấp nhiệt đới vào Việt Nam có xu hướng lùi dần về phía Nam Có xu hướng gia tăng số lượng các cơn bão rất mạnh Trong thời gian gần đây mùa bão có dấu hiệu kết thúc muộn hơn Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của bão đến nước ta có xu hướng mạnh lên
Trang 17Hạn hán, bao gồm hạn tháng và hạn mùa có xu thế tăng lên nhưng với mức độ không đồng đều giữa các vùng và giữa các trạm trong từng vùng khí
hậu Hiện tượng nắng nóng có dấu hiệu gia tăng rõ rệt ở nhiều vùng trong cả
nước, đặc biệt là ở Trung Bộ và Nam Bộ
1.2.1.3 Kịch bản biến đổi khi ́ hậu cho Viê ̣t Nam
Kịch bản biến đổi khí hậu , nước biển dâng cho Việt Nam đươ ̣c xây dựng dựa trên những phương pháp sau:
Kịch bản phát thải khí nhà kính (KNK): BĐKH phụ thuộc chủ yếu vào
mức độ phát thải KNK, nghĩa phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội Do đó, dựa trên các kịch bản phát triển kinh tế - xã hội toàn cầu mà các kịch bản BĐKH được xây dựng Các kịch bản phát thải KNK được xây dựng dựa trên các
cơ sở: (1) Sự phát triển kinh tế ở quy mô toàn cầu; (2) Dân số thế giới và mức
độ tiêu dùng; (3) Chuẩn mực cuộc sống và lối sống; (4) Tiêu thụ năng lượng và tài nguyên năng lượng; (5) Chuyển giao công nghệ; (6) Thay đổi sử dụng đất;…
Ủy ban liên chín h phủ về BĐKH (IPCC) khuyến nghị sử dụng các kịch bản phát thải sắp xếp từ thấp đến cao , cụ thể: kịch bản thấp (B1, A1T), kịch bản trung bình (B2, A1B) và kịch bản cao (A2, A1FI)
Phương pháp xây dựng kịch bản BĐKH bao gồm phương pháp chi tiết
hóa thống kê được dùng để tính toán về lượng mưa và nhiệt độ trung bình mùa , trung bình năm đối với các kịch bản phát thải KNK thấp , trung bình và cao Mô hình AGCM của Viện Nghiên cứu khí tượng Nhật Bản được dùng để tính toán về lượng mưa và nhiệt độ trung bình mùa, năm đối với kịch bản phát thải trung bình Mô hình khí hậu khu vực PRECIS của Vương quốc Anh được dùng để tính toán về lượng mưa và nhiệt độ trung bình mùa, năm và cực trị đối với kịch bản phát thải khí trung bình
Phương pháp xây dựng kịch bản nước biển dâng: Kịch bản mực nước
biển dâng được xây dựng bằng phương pháp chi tiết hóa thống kê, trên cơ sở mối quan hệ thống kê giữa mực nước biển thực đo, số liệu từ vệ tinh trong quá khứ ở từng khu vực của Việt Nam với mực nước biển toàn cầu
Thời kỳ cơ sở để so sánh sự thay đổi của khí hậu trong tương lai với khí hậu ở hiện tại là giai đoạn 1980 - 1999, đây cũng là giai đoạn được IPCC dùng trong báo cáo lần thứ 4
Trang 18Vớ i những phương pháp nghiên cứu trên , mô ̣t số kết quả chính về BĐKH
ở Việt Nam có thể được tóm tắt như sau:
Về nhiệt độ trung bình: Theo kịch bản phát thải trung bình , trên đa phần
diện tích nước ta, nhiệt độ trung bình năm có mức tăng từ 1,20
- 1,6oC vào giữa thế kỷ XXI Khu vực từ Hà Tĩnh đến Quảng Trị có nhiệt độ tăng từ 1,60
- trên 1,8oC Đa phần diện tích Tây Nguyên, cực nam Trung Bộ và Nam Bộ có từ dưới
10 - 1,2oC
Đến cuối thế kỷ XXI, ở hầu khắp diện tích cả nước nhiệt độ tăng từ 1,90 3,1oC Nơi có mức tăng cao nhất là khu vực từ Hà Tĩnh đến Quảng Trị với mức tăng trên 3,1oC Một phần diện tích Tây Nguyên và Tây Nam Bộ có mức tăng thấp nhất, từ 1,60
- 1,9oC
Về lượng mưa năm: Theo kịch bản phát thải trung bình, trên lãnh thổ Việt
Nam có mức tăng phổ biến của lượng mưa năm từ 1 - 4% (vào giữa thế kỷ) và từ 2 - 7% (vào cuối thế kỷ) Khu vực có mức tăng thấp hơn so với các khu vực khác trên cả nước là Tây Nguyên , với mức tăng khoảng dưới 1% vào giữa thế
kỷ và từ dưới 1 đến gần 3% vào cuối thế kỷ XXI
4) Về mực nước biển dâng: Theo kịch bản phát thải trung bình, vào cuối
thế kỷ XXI, mực nước biển dâng cao nhất ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 62 - 82 cm; thấp nhất ở khu vực Móng Cái trong khoảng từ 49 - 64cm Trung bình toàn Việt Nam, mực nước biển dâng trong khoảng từ 57 - 73cm
Từ kết quả tính toán, nếu mực nước biển dâng 1 m sẽ có khoảng 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, trên 10% diện tích vùng đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, trên 2,5% diện tích thuộc các tỉnh ven biển miền Trung và trên 20% diện tích thành phố Hồ Chí Minh có nguy cơ bị ngập ; nghĩa là gần 35% dân số thuộc các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, trên 9% dân số vùng đồng bằng sông Hồng, Quảng Ninh, gần 9% dân số các tỉnh ven biển miền Trung và khoảng 7% dân số thành phố Hồ Chí Minh sống trong tình tra ̣ng ngâ ̣p úng
Trang 191.2.2 Biểu hiê ̣n của BĐKH và ki ̣ch bản BĐKH của khu vực đảo Phú Quốc
1.2.2.1 Biểu hiê ̣n của BĐKH ở khu vực đảo Phú Quốc
- Nhiệt đô ̣ tăng cao hơn
- Mùa khô lại càng rõ rệt hơn, hạn hán trong vụ đông – xuân trở lên khốc liệt hơn
- Lượng bốc hơi có thể tăng lên với mức không quá mức tăng của lượng mưa, độ ẩm tương đối giảm đi và kết quả là chỉ số khô hạn cao hơn, nhất là trong mùa khô
- Chế độ mưa thất thường hơn
- Nhiệt độ cao và bốc hơi mạnh
- Nước biển dâng làm giảm diện tích rừng ngập mặn, tác động xấu đến nhiều loài động thực vật trong Vườn quốc gia Phú Quốc Các hệ sinh thái rạn san hô, cỏ biển cũng bị ảnh hưởng
- Hạn hán gia tăng cùng với ngập lụt
1.2.2.2 Kịch bản BĐKH của khu vực đảo Phú Quốc
Theo kịch bản nước biển dâng 50cm
Nếu như nước biển dâng lên khoảng 50cm, mức độ tổn thương cơ
sở hạ tầng trên đảo Phú Quốc như sau:
- Vùng tổn thương cao nhất nhất là xã Cửa Cạn với chỉ số dễ bị tổn thương V=0,420
- Vùng tổn thương trung bình là thị trấn Dương Đông và xã Dương
Tơ với chỉ số dễ bị tổn thương V= 0,363
- Vùng tổn thương thấp nhất là thị trấn An Thới, xã Hàm Ninh, xã Bãi Thơm và xã Gành Dầu với chỉ số dễ bị tổn thương V= 0,220
- Vùng tổn thương rất thấp là xã Cửa Dương
Như vậy khi mực nước biển dâng 50cm khu vực bị tổn thương cao nhất là ở xã Cửa Cạn và tổn thương ít nhất là xã Cửa Dương
Trang 20 Theo kịch bản nước biển dâng 100cm
Nếu như nước biển dâng lên khoảng 100cm, mức độ tổn thương cơ sở hạ tầng trên đảo Phú Quốc như sau:
- Vùng tổn thương cao nhất nhất là thị trấn Dương Đông và xã Dương Tơ với chỉ số dễ bị tổn thương V=0,420
- Vùng tổn thương trung bình là thị trấn An Thới, xã Hà Ninh và xã Cửa Cạn với chỉ số dễ bị tổn thương V= 0,363
- Vùng tổn thương thấp nhất là xã Bãi Thơm và xã Gành Dầu với chỉ
số dễ bị tổn thương V= 0,220
- Vùng tổn thương rất thấp là xã Cửa Dương
Như vậy khi mực nước biển dâng 100cm khu vực bị tổn thương cao nhất là ở thị trấn Dương Đông và xã Dương Tơ và tổn thương ít nhất là xã Cửa Dương
Trang 21CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BĐKH ĐẾN KHU VỰC ĐẢO PHÚ QUỐC
sẽ tăng lên không đáng kể Ngược lại, mùa khô lại càng rõ rệt hơn, hạn hán trong vụ đông – xuân trở lên khốc liệt hơn
- Lượng bốc hơi có thể tăng lên với mức không quá mức tăng của lượng mưa, độ ẩm tương đối giảm đi và kết quả là chỉ số khô hạn cao hơn, nhất là trong mùa khô
Biến đổi của các yếu tố khí hậu như trên dẫn đến những tác động đối với tài nguyên nước, tài nguyên đất và các lĩnh vực kinh tế - xã hội
- Lượng mưa tuy không thay đổi nhiều nhưng chế độ mưa thất thường hơn, do đó nguồn nước mùa khô trở nên khan hiếm hơn nhất là những năm mùa mưa trước đó chấm dứt và mùa mưa đến muộn Hạn hán không những tăng cường trong mùa khô mà còn có khả năng phát sinh trong một số thời điểm nhất định của mùa mưa
- Nhiệt độ cao và bốc hơi mạnh góp phần thúc đẩy quá trình bốc thoát hơi nước trên các ruộng lúa, làm tăng nhu cầu về nước cũng như chi phí sản xuất của từng vụ và do đó, giá thành của một đơn vị sản phẩm lên cao
- Nước biển dâng làm giảm diện tích rừng ngập mặn, tác động xấu đến nhiều loài động thực vật trong Vườn quốc gia Phú Quốc Các hệ sinh thái rạn san hô, cỏ biển cũng bị ảnh hưởng
- Thời tiết khắc nghiệt hơn, hạn hán gia tăng cùng với ngập lụt góp phần làm tăng đáng kể dịch bệnh Đặc biệt là bệnh truyền nhiễm và bệnh nhiệt đới
Trang 222.2 Tác động đến thủy văn
2.2.1 Tác động đến chế độ dòng chảy
Đối với đảo Phú Quốc có hệ thống sông suối khá phong phú nên khi chịu tác động của BĐKH; khiến cho tổng dòng chảy năm trên toàn lưu lượng hệ thống sông suối toàn khu vực tăng Dòng chảy đến tăng về mùa lũ và giảm rõ rệt vào mùa kiệt Tuy nhiên sự biến thiên không lớn, song xu thế dòng chảy ảnh hưởng đến việc đánh giá tác động của BĐKH tính cân bằng nước và hạn hán
2.2.1.1 Dòng chảy năm
Khu vực đảo Phú Quốc có 8 hệ thống sông, rạch với diện tích lưu vực từ 10km2 trở lên Phía Bắc đảo có rạch Tràm, rạch Vũng Bầu, sông Cửa Cạn, khu vực trung tâm đảo có sông Dương Đông, rạch Cửa Lấp, rạch Hàm Ninh, phía Nam đảo có rạch Đầm Ngoài ra xung quanh đảo còn có nhiều suối nhỏ khác nhau chỉ có nước vào mùa mưa Nhìn chung sông suối trên đảo Phú Quốc đều thuộc loại nhỏ, ngắn Trong số các sông suối chính, đóng vai trò quan trọng nhất là sông Cửa Cạn (lưu vực 150km2), sông Dương Đông (lưu vực 60km2).Theo số liệu của tỉnh Kiên Giang thì tổng lưu lượng các dòng chảy của các sông suối trên đảo Phú Quốc khoảng 400.000.000m3/ năm.Các sông suối trong mùa mưa có lưu lượng rất lớn nhưng vào mùa khô, phần lớn suối bị khô cạn
Mức thay đổi trong thời kì 2080 - 2099 được nhận định là cao nhất khoảng 5.5 – 7.5% Khu vực đảo Phú Quốc là sự tập hợp của nhiều lưu vực sông khác nhau nên sự biến thiên dòng chảy trên các lưu vực là khác nhau; nhưng có thế nhận thấy rằng xu thế dòng chảy trung bình năm tăng lên so với thời kì nền và thời kì sau lớn hơn thời kì trước phù hợp với sự thay đổi lượng mưa và bốc hơi trên lưu vực theo các kịch bản khác nhau
2.2.1.2 Dòng chảy mùa
a Dòng chảy mùa lũ:
Theo kịch bản biến đổi khí hậu, dòng chảy mùa lũ nói chung các vùng có
xu hướng tăng lên Dòng chảy mùa lũ theo kịch bản A2 có mức độ gia tăng lớn nhất so với thời kì nền Trong khi đó, dòng chảy lũ được tính toán theo các chuyên gia thì kịch bản B1 cho thấy mức tăng thấp nhất trong 3 kịch bản
Trang 23b Dòng chảy mùa kiệt:
Đối với đảo Phú Quốc mùa khô bắt đầu vào tháng 12 và kết thúc vào tháng 3 năm sau Tuy với tổng lượng mưa trong mùa khô khá thấp chỉ khoảng 198mm nhưng vùng còn có hệ thống sông suối có tổng chiều dài lên đến 281,5km và có tổng trữ lượng nước ở sông suối khoảng 931.106m3 nên vào mùa kiệt dưới sự tác động của biến đổi khí hậu xảy ra cũng làm cho tổng lưu lượng trung bình sụt giảm ảnh hưởng một phần đến sinh hoạt và các hoạt động khác
2.3 Tác động đến tài nguyên sinh vật
2.3.1 Tác đô ̣ng đến rừng ngập mặn
Kết quả nghiên cứu về sự biến đổi khí hậu đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn ở nước ta cho thấy có sáu yếu tố ảnh hưởng trực tiếp Nhiệt độ, không khí; lượng mưa; gió mùa đông bắc; bão; triều cường; hoạt động của con người Gió mùa đông bắc góp phần quan trọng làm tăng mực nước biển ở Việt Nam Gió mùa xuất hiện vào mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, vào thời kỳ thủy triều cao nhất trong năm (tháng 10 đến tháng 12) Kết quả là nước mặn xâm nhập sâu vào đất liền
Theo các tài liệu của Ủy ban sông Mê Kông (1993) nước biển tăng cao
10 cm khi tốc độ gió là 5 m/s Nước biển tăng lên 20 cm khi tốc độ gió tới 10 m/s, nếu nước biển chỉ tăng 4 cm khi không có gió Nước mặn, lợ vào đến đâu thì các loài cây ngập mặn theo dòng nước vào sâu trong nội địa đến đó Sự tăng dòng chảy của sông cũng là một nguyên nhân chính nhưng thường chỉ xảy ra vào mùa mưa và chỉ ảnh hưởng ngắn hạn Nước biển dâng cao nhất trong những ngày có mưa bão kết hợp triều cường, gây ra thiệt hại to lớn về tài sản của cộng đồng ven biển, làm cho bờ biển bị xói lở, kể cả những vùng có các dải RNM phòng hộ
Nước biển dâng đã tạo điều kiện cho một số loài cây ngập mặn xâm lấn đất nội địa, đất sản xuất nông nghiệp từ đó ảnh hưởng đến sản lượng lương thực và đa dạng sinh học Số loài động, thực vật nước ngọt biến mất và thay thế vào đó là các loài nước lợ Nước biển dâng cũng ngăn cản sự bồi tụ các bãi triều, ngăn cản sự tái sinh tự nhiên của các loài cây ngập mặn tiên phong như mắm, bần chua…
Biến đổi khí hậu toàn cầu là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21 và hiện đang đe dọa toàn bộ các hệ sinh thái trên trái
Trang 24đất Rừng ngập mặn (RNM) là một trong những hệ sinh thái bị đe dọa nghiêm trọng nhất bởi tính nhạy cảm của chúng đối với mực nước biển dâng
Biến đổi khí hậu toàn cầu, đặc biệt là những biến đổi về nhiệt độ, nồng độ CO2, trầm tích, cường độ bão và mực nước biển sẽ đe dọa khả năng sống sót của RNM Mực nước biển dâng được cho là nguy cơ lớn nhất trong những nhân
tố kể trên Cần phải lưu ý rằng khi những nhân tố này tác động cộng gộp với nhau sẽ gây ra những hậu quả lớn hơn nhiều so với từng tác động riêng lẻ
2.3.2 Tác động đến hệ sinh thái cỏ biển
Cỏ biển hiện đang sống trong một môi trường có lương CO 2 và nhiệt độ trung bình thấp Tuy nhiên xu hướng thay đổi khí hậu như nhiệt độ, mực nước biển và hàm lượng CO2 tăng sẽ gây ra những áp lực đối với nhiều loài cỏ biển Kèm theo đó là những tác động của con người đến các hệ sinh thái ven bờ làm thay đổi chất lượng nước biển nhanh hơn thời gian thích nghi của cỏ biển
Những tác động của con người làm tổn thương và giảm đa dạng cỏ biển Con người thay đổi cấu trúc bờ biển ngăn cản sự di trú của cỏ biển khi mực nước biển tăng bởi những hoạt động xây dựng cảng, dịch vụ ven biển Thêm vào đó, các thảm cỏ biển tiếp tục bị mất để phát triển vùng ven biển dẫn đến những hậu quả khó lường trong tương lai
Cùng với các hoạt động khai thác dưới biển là các hoạt động chặt phá rừng đầu nguồn, đổ trực tiếp nước thải sinh hoạt và công nghiệp ra biển làm cho chính con người và các hệ sinh thái tự nhiên đang phải đối mặt với hiện tượng thay đổi khí hậu toàn cầu Sự thay đổi khí hậu toàn cầu đang ngày càng tăng dự báo sự biến động lớn sắp xảy ra sẽ tác động mạnh đến dại dương của toàn trái đất và cùng ảnh hưởng đến cỏ biển
Vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình toàn cầu sẽ tăng 1-3,5oC Nhiệt độ tăng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình trao đổi chất của cỏ biển và khả năng cân bằng các bon, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phân bố của cỏ biển Thêm vào đó, hiện tượng phì dinh dưỡng trong nước cũng phá hỏng sự cân bằng giữa thực vật biểu sinh và cỏ làm giảm sự quang hợp của cỏ biển, sinh trưởng
cỏ biển suy giảm Như vậy, tác động lâu dài của sự thay đổi khí hậu tăng ưu dưỡng làm mất các thảm cỏ biển ở vùng nước nông ven biển Các trận bão, gió lốc gây nhiễu loạn và làm suy giảm các thảm cỏ biển ở nhiều vùng trên thế giới
và Việt Nam Bão tăng làm tăng các trận mưa lớn gây ra lũ lụt, xáo trộn trầm
Trang 25tích Những yếu tố trên làm thay đổi chất lượng biển, sóng lớn nhổ bật rễ cỏ là nguyên nhân gây hại cho thảm cỏ biển
Mực nước biển tăng làm tăng độ sâu của nước biển làm giảm ánh sáng khuyếch tán xuống nền đáy Nơi sinh cư của cỏ biển giảm và sinh sản cũng giảm, giá trị và chức năng của chúng cũng giảm theo
Tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) lên hệ sinh thái (HST) thảm cỏ biển được ghi nhận ở nhiều khía cạnh như nước biển dâng, thay đổi nhiệt độ, bão lũ và lượng mưa Trong đó, bão lũ và sự thay đổi của lượng mưa là những yếu tố quan trọng gây tác động lớn lên sự sinh trưởng và phát triển của HST cỏ biển cũng như các loại nguồn lợi thủy sản liên quan đến HST này Tại Việt Nam, đã ghi nhận nhiều tác động của các yếu tố này lên HST thảm cỏ biển
2.3.3 Tác động đến hệ sinh thái san hô
Nhiệt độ đại dương tăng lên, một số loài san hô có khả năng phát triển trong khi nhiều loài khác bị suy giảm, theo báo cáo được công bố trực tuyến vào ngày 12/4 trong tạp chí Cell Press Current Biology (Sinh học hiện nay) Báo cáo cung cấp chi tiết ban đầu của cuộc điều tra quy mô lớn về các hiệu ứng thay đổi khí hậu đối với san hô
Nhiều rạn san hô sẽ tồn tại và phát triển trong điều kiện biến đổi khí hậu khi đại dương ấm lên và tăng nồng độ axit, bằng cách thay đổi sự pha trộn của các loài san hô ", ông Terry Hughes của Đại học James Cook ở Úc cho biết "Đó là điều rất quan trọng đối với những người sinh sống và kinh doanh thủy sản, du lịch và các nghề khác dựa vào các rạn san hô phong phú và tuyệt đẹp hôm nay."
Nhiệt độ bề mặt nước biển cao hơn và sự axit hóa đại dương sẽ làm gia tăng rủi ro và làm cho San hô chết trắng
Đảo Phú Quốc: Nguyên nhân do sự gia tăng nhiệt độ nước biển bất thường, trong đó khu vực phía tây Hòn Thơm và Gành Dầu tỷ lệ tẩy trắng cao nhất, khoảng 90% Vùng lõi bảo tồn biển gồm Hòn Vông, Gầm Ghì, hòn Xưởng
và hòn Móng Tay, san hô bị tẩy trắng tỷ lệ 20 - 40% diện tích
Trang 262.4 Tác động đến địa hình địa mạo
2.4.1 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu nước biển dâng tới độ sâu, độ cao vùng biển đảo Phú Quốc
Khu vực mũi Gành nước lấn sâu vào khoảng 50cm với diện tích ngập là 0.1886km2, ở đây ngập ảnh hưởng đến nơi cư trú của người dân Do đường bờ biển cũng ăn sâu vào trong đất liền 1 khoảng tương đương
Ở khu Suối Giữa, Bãi Dài có diện tích ngập khá rộng 1.662km2, đường bờ biển lấn sâu vào đảo dao động từ 20-50cm Bãi Vũng Bầu nước lấn sâu gây ngập khu vực rừng cây bụi rải rác , các suối nhỏ và khu vực chùa chiền với diện tích khoảng 0.75km2, đường bờ biển lấn sâu từ 30-50cm Khu vực xã Cửa Cạn
có diện tích ngập khá lớn khoảng 1.347km2, đường bờ biển lấn đảo khá sâu từ 60-170cm gây ảnh hưởng đến dân cư, cây rừng và hệ thống sông suối bị thu hẹp
Mũi Gành Lớn có vùng trải dài mức độ ngập hơn nhưng đường bờ biển lấn sâu chỉ dao động trong khoảng 40-50cm, diện tích ngập 1.318km2; phía bắc mũi Gành Gió có diện tích ngập rải rác 0.07km2
– 0.09km2 ảnh hưởng đến nơi sinh sống, khu vực nhà nghỉ, khách sạn
Đặc biệt khu vực TT Dương Đông có diện tích ngập khá lớn khoảng 1.674km2, đường bờ biển lấn sâu đến 170cm gây ảnh hưởng nặng nề nhất vì nơi đây dân cư sinh sống rất đông đúc lại có cảng hàng không Phú Quốc và hệ thống kênh rạch chằng chịt nên cần có các biện pháp để hạn chế sự tác động xấu của nước biển dâng
Phía Nam dãy Dương Đông, khu vực khu phố có diện tích ngập dự báo 0.227km2, cửa suối Thay (xã Dương Tơ) có mức ngập khoảng 30cm, kéo dài 240cm và tổng diện tích ngập là 0.8km2; khu vực đường Bào kéo dài đến khu vực phía tây Đài tượng niệm liệt sĩ nhà tù Phú Quốc có các vùng ngập rải rác với tổng diện tích ngập khoảng 1.755km2, ở đây đường bờ biển lấn sâu vào đảo dao động 20-30cm ảnh hưởng chủ yếu đến dân cư, cây trồng, khách sạn và các suối nhỏ ven bờ
Khu vực phía nam xã An Thới nơi tập trung dân cư đông đúc cũng có mức diện tích ngập khá lớn khoảng 0.312km2; khu vực Bãi Khem có ít dân cư hơn nhưng ảnh hưởng đến cây trồng rừng khoảng 0.247km2
Có một số nơi có các điểm ngập rải rác với diện tích khá nhỏ như Mũi Bãi Sao, Mũi Chùa, Mũi Ông Thượng