1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu hệ sinh thái vườn nhà ở thị xã đồng xoài, tỉnh bình phước và đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững

69 1,2K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu hệ sinh thái vườn nhà ở thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước và đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững
Tác giả Nguyễn Bích Liên
Người hướng dẫn TS. Phạm Văn Ngọt
Trường học Trường Đại học Sư phạm TP.Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Sinh thái học, Nông nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 7,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thị xã đang trong quá trình phát triển, đô thị hóa nhưng nhìn chung nông nghiệp vẫn là thế mạnh ở Đồng Xoài, trong đó các vườn nhà với diện tích nhỏ lẻ đã hình thành từ lâu đời cùng một

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN BÍCH LIÊN

NGHIÊN CỨU HỆ SINH THÁI VƯỜN NHÀ Ở THỊ

XÃ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN:

TS PHẠM VĂN NGỌT

TP HỒ CHÍ MINH - 2010 THƯ

VIỆN

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Bình Phước là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có nền kinh tế nông nghiệp phát triển với cơ cấu kinh tế nông nghiệp – công nghiệp – dịch vụ, có diện tích đất nông – lâm nghiệp và mặt nước nuôi trồng thuỷ sản chiếm 82,5% tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh Đó

là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nông - lâm nghiệp ở Bình Phước

Thị xã Đồng Xoài được thành lập năm 1999, thuộc tỉnh Bình Phước, có 16.957 ha diện tích tự nhiên và 50.758 nhân khẩu Thị xã Đồng Xoài gồm 8 đơn vị hành chính cơ sở Đó là các phường Tân Đồng, Tân Xuân, Tân Bình, Tân Phú, Tân Thiện và các xã Tiến Thành, Tân Thành, Tiến Hưng Thị xã đang trong quá trình phát triển, đô thị hóa nhưng nhìn chung nông nghiệp vẫn là thế mạnh ở Đồng Xoài, trong đó các vườn nhà với diện tích nhỏ lẻ đã hình thành từ lâu đời cùng một số trang trại xuất hiện gần đây trồng các loài cây công nghiệp như Điều, Tiêu, Cà phê, Nhãn, Cam, Xoài,…

là nguồn thu nhập chính của người lao động Vườn nhà ở Đồng Xoài không những mang lại nguồn lợi kinh tế cho người dân bằng nguồn thu từ sản phẩm nông nghiệp, mà còn kéo theo các dịch vụ chế biến sản phẩm như bóc tách vỏ hạt, phơi sấy, đóng gói … tạo công việc làm cho nhiều người Tuy nhiên, giá các mặt hàng nông sản không ổn định, nhiều hộ dân vẫn còn nghèo khổ Bên cạnh đó, trình độ thâm canh không đồng đều đưa đến chất lượng nông sản chưa được qui chuẩn; thiếu sự liên kết tiểu vùng, liên kết vùng; chi phí sản xuất cao; đầu ra nông sản bấp bênh; điệp khúc trúng mùa - mất giá luôn là nỗi lo của bà con

Cây trồng ở Đồng Xoài chủ yếu là cây công nghiệp lâu năm Những năm gần đây vì chạy theo giá cả thị trường nên nhiều hộ nông dân đã chặt bỏ những vườn cây hàng chục năm tuổi để thay bằng cây trồng khác có giá hơn cũng là cây lâu năm Chi phí chuyển đổi rất tốn kém nhưng có thực

sự hiệu quả và lâu dài không thì còn tùy thuộc vào nhu cầu của thị trường

Ngoài ra, do chưa có mô hình vườn nhà thích hợp nên các vườn nhà hiện nay tuy phát triển nhanh nhưng thiếu bền vững Đó cũng là ý kiến đánh giá chung cho mô hình vườn nhà ở tỉnh Bình Phước hiện nay

Vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hệ sinh thái vườn nhà ở thị xã Đồng

Xoài, tỉnh Bình Phước và đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững” hy vọng đóng góp một

phần nhỏ cho sự phát triển nông nghiệp của thị xã Đồng Xoài nói riêng và tỉnh Bình Phước nói

chung

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng hệ sinh thái vườn nhà ở thị xã Đồng Xoài – tỉnh Bình Phước

Trang 3

- Đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững và tăng hiệu quả kinh tế trong việc canh tác các kiểu sinh thái vườn nhà

3 Nội dung nghiên cứu

Một số nội dung chính được đặt ra trong đề tài này là:

- Tìm hiểu một số điều kiện tự nhiên ở thị xã Đồng Xoài có ảnh hưởng đến sự phân bố và hiệu quả sử dụng các kiểu sinh thái vườn: diện tích, địa hình, hệ thống tưới tiêu

- Nghiên cứu thành phần nông hóa thổ nhưỡng của một số loại đất trồng cây ở vườn nhà (đất đỏ bazan, đất xám bạc màu… )

- Phân tích hiện trạng các kiểu sinh thái vườn nhà: diện tích, cơ cấu cây trồng và cây dại, tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, hiệu quả kinh tế của các vườn

4 Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu từ tháng 5/2009 đến tháng 2/2010

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vườn nhà (trừ các vườn Cao su) được thành lập từ 5 năm trở lên ở thị xã Đồng Xoài Đề tài nghiên cứu trong phạm vi 8 xã, phường thuộc thị xã Đồng Xoài đó là: Tân Phú, Tân Bình, Tân Đồng, Tân Thiện, Tân Xuân, Tiến Thành, Tiến Hưng, Tân Thành

Không nghiên cứu về tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trong đất, trong rau quả… cũng như sự ảnh hưởng của nó đến sức khỏe của người nông dân trong quá trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

6 Ý nghĩa của đề tài

Những kết quả nghiên cứu được của đề tài có thể làm cơ sở để xây dựng và nhân rộng những

mô hình sinh thái vườn nhà bền vững, hiệu quả kinh tế cao cho thị xã Đồng xoài nói riêng và toàn tỉnh Bình Phước nói chung Từ đó, góp phần chuyển dịch và thay đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, tăng hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững các kiểu sinh thái vườn nhà ở tỉnh Bình Phước

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 Một số khái niệm liên quan

1.1.1 Hệ sinh thái

Hệ sinh thái được nghiên cứu từ lâu, vì thế khái niệm này đã có từ thế kỷ XIX dưới các tên khác nhau như “Sinh vật quần lạc” (Dukachaev,1846; Mobius,1877) Sukachaev (1944) mở rộng khái niệm “Sinh vật quần lạc” thành khái niệm “Sinh vật địa quần lạc” (biogeocenose) Khái niệm “Hệ sinh thái” (ecosystem) được Tansley nêu ra vào năm 1935 và trở thành phổ biến, được sử dụng rộng rãi nhất vì nó không chỉ bao hàm các hệ sinh thái tự nhiên mà cả các hệ sinh thái HST nhân tạo, kể

cả con tàu vũ trụ

Hệ sinh thái là một tập hợp của quần xã sinh vật với môi trường vật lý xung quanh nơi mà quần

xã đó tồn tại, trong đó các sinh vật, môi trường tương tác với nhau để tạo nên chu trình vật chất và

sự chuyển hóa năng lượng Nói cách khác, hệ sinh thái bao gồm các loài sinh vật và các điều kiện tự nhiên (môi trường vật lý) như ánh sáng, nước, nhiệt độ, không khí…Điều quan trọng là tất cả các nhân tố hữu sinh (biotic component) và nhân tố vô sinh (abiotic component) tác động tương hỗ với nhau và giữa chúng luôn xảy ra quá trình trao đổi năng lượng, vật chất và thông tin

Các hệ sinh thái có thể có những qui mô lớn nhỏ khác nhau Tansley (1935) đã đưa ra các khái niệm về hệ sinh thái cực bé (microecosystem) như một bể nuôi cá chẳng hạn; đến các hệ sinh thái vừa (middleecosystem) như một hồ chứa nước; một cánh rừng trồng và một hệ sinh thái lớn (macroecosystem) như một đại dương, một châu lục Tập hợp tất cả các hệ sinh thái có độ lớn khác nhau trên Quả Đất làm thành một hệ sinh thái khổng lồ và được gọi là sinh thái quyển (ecosphere).[22]

Trang 5

Hình 1.1 Sơ đồ một hệ sinh thái

(Nguồn:Lê Văn Khoa, 2006) [22]

1.1.2 Vườn

- Từ điển Bách khoa Nông nghiệp của Trung tâm Quốc gia biên soạn từ điển Bách khoa Việt Nam (1991) định nghĩa: “ Vườn - khu đất thường có rào giậu dùng vào mục đích sản xuất nông lâm nghiệp hoặc các mục đích khác (văn hóa, phúc lợi v.v…) với những đặc điểm và chức năng như sau: [14] [32]

- Tổng diện tích vườn chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng diện tích đất nông nghiệp (khoảng 10%)

- Khác với đồng ruộng, trồng cây ngắn ngày theo thời vụ, sau khi thu hoạch để lại khoảng đất trống, vườn tạo nên một thảm thực vật che phủ quanh năm, cải thiện môi trường sống của nông dân, tạo nên cảnh quan vườn và đồng ruộng của nông thôn, đóng góp vào hệ sinh thái chung trên lãnh thổ

- Vườn là mô hình sản xuất bổ sung cho ruộng đồng Đồng ruộng trồng cây hàng năm ngắn ngày, số loài cây trồng hạn chế: cây lương thực, thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, cây công nghiệp hàng năm, rau quả Các loài cây vườn nhiều hơn gấp bội, rất phong phú, phần lớn là cây lâu năm…, rau và một số cây thực phẩm ngắn ngày chịu bóng có thể trồng xen trong vườn Sản phẩm vườn là một hợp phần quan trọng và không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp, cung cấp nhiều mặt hàng cho thị trường Ngoài chức năng kinh tế, một vài kiểu vườn phục vụ các mục tiêu văn hóa, xã hội, phúc lợi công cộng, nghiên cứu tài nguyên, bảo vệ sinh thái và tài nguyên (công viên, vườn cây gỗ, vườn quốc gia)

Trang 6

- Hệ thống canh tác vườn Việt Nam là một kiểu vườn nhiệt đới hỗn loài, tập hợp nhiều loài cây trồng trên một đơn vị diện tích, tận dụng ánh sáng với những tầng tán khác nhau, yêu cầu ánh sáng khác nhau, tận dụng diện tích với phương thức tăng vụ, trồng xen Vườn gia đình hay công viên là một tổ hợp nhiều loài cây, khác với đồng ruộng, trên mỗi mảnh đất ở từng thời vụ chỉ trồng một thứ cây Vườn là một phương thức canh tác đạt hiệu quả sử dụng tài nguyên môi trường ( đất, nước, ánh sáng), áp dụng một kỹ thuật thâm canh cao

- Vườn là trung tâm điều chỉnh và phối hợp giữa 2 thành phần vườn - ruộng đồng trong hệ thống sản xuất của nông dân Những gì cần cho gia đình, thị trường yêu cầu mà đồng ruộng không sản xuất được thì phải sản xuất ở vườn Vườn phải tạo công ăn việc làm để sử dụng nhân lực trong những thời vụ và thời gian nghỉ việc đồng ruộng, là điều kiện thuận lợi để sử dụng lao động phụ trong gia đình… Nhiều vườn còn là nơi gây giống, giữ giống cây trồng

- Căn cứ vào chức năng và mục tiêu, vườn có thể phân loại:[14]

+ Vườn sản xuất nông lâm nghiệp (kể cả vườn giống) Vườn thường kết hợp với ao nuôi cá (hoặc mương nuôi tôm, cá đào trong vườn ở đồng bằng sông Cửu Long) và chuồng trại chăn nuôi gia súc gia cầm, tạo thành một hệ thống tương hỗ đạt hiệu quả kinh tế cao

+ Vườn phúc lợi công cộng, vườn cảnh: tạo một hệ sinh thái hài hòa làm nơi nghỉ ngơi, giải trí cho dân đô thị

+ Vườn nghiên cứu cây rừng

+ Vườn bảo vệ, nghiên cứu hệ sinh thái nguyên thủy và tài nguyên Ngoài ra còn có vườn đồi, vườn rừng v.v…

1.1.3 Vườn nhà

Vườn nhà được tác giả Đường Hồng Dật (1999) gọi là vườn gia đình Tác giả cho rằng vườn gia đình có nhiều quy mô và mức độ phát triển khác nhau Phần lớn các hộ nông dân ở nước ta có vườn gia đình là mảnh đất không lớn, thường ở kề bên nhà ở Những sản phẩm thu được từ vườn chỉ là bổ sung cho bữa ăn và góp thêm thu nhập của gia đình Tuy nhiên, bên cạnh các hộ nông dân coi vườn

là sản xuất phụ, ở một số vùng, nhất là ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ, nhiều hộ gia đình coi sản xuất vườn là nguồn thu nhập chính Những hộ này thường có diện tích vườn khá lớn [14]

Theo Nguyễn Văn Mấn, Trịnh Văn Thịnh (1995), vườn nhà “là nơi gần nhà ở nhất, được chăm sóc thường xuyên và là nơi thực hiện thâm canh cao độ” [24]

Theo Trần Thế Tục (2008), sở dĩ gọi là vườn nhà vì trên đất vườn tọa lạc ngôi nhà, nơi sinh sống của nhiều thế hệ Tùy theo điều kiện của từng nơi mà vườn có thể bao quanh nhà, hoặc nhà đặt

ở trước vườn sau như ở đồng bằng sông Cửu Long hoặc nhà ở phía cuối vườn Tùy theo diện tích, điều kiện vùng sinh thái, kỹ năng lao động của mỗi thành viên trong gia đình ở mỗi nơi mà cơ cấu

Trang 7

cây trồng trong vườn rất khác nhau bao gồm: cây lương thực, các loại rau, cây ăn quả, cây công nghiệp, cây đặc sản, cây làm thuốc, cây rừng… Trong các loại hình vườn hiện nay của nước ta, vườn nhà là loại hình khá phổ biến trong các vùng kinh tế sinh thái, có vị trí quan trọng trong việc cải thiện dinh dưỡng trong gia đình và tăng thu nhập của từng hộ [32]

1.1.4 Phát triển bền vững

Thuật ngữ “Phát triển bền vững” (Sustainable development) lần đầu tiên xuất hiện vào năm

1980 trong ấn phẩm “Chiến lược bảo tồn thế giới” (Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên quốc tế- IUCN) với nội dung đơn giản là: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”.[8]

Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland còn gọi là Báo cáo “Tương lai của chúng ta” (Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED) (1987) Báo cáo này ghi rõ: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn các nhu cầu hiện tại của con người nhưng không tổn hại tới sự thỏa mãn các nhu cầu của các thế hệ tương lai” Năm 1992, tại Rio de Janeiro, các đại biểu tham gia Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên Hợp quốc đã xác nhận lại khái niệm này, và đã gửi đi một thông điệp rõ ràng tới tất cả các cấp của các chính phủ về sự cấp bách trong việc đẩy mạnh sự hòa hợp kinh tế, phát triển xã hội cùng với bảo vệ môi trường.[8]

Hội nghị thượng đỉnh Quả Đất lần thứ II về phát triển bền vững đã họp tại Johannesberg (Cộng hòa Nam Phi) (từ ngày 26/8 – 04/09/2002) để thảo luận về những gì đã làm được và chưa làm được trong 10 năm, kể từ sau Hội nghị Rio de Janeiro đến năm 2002 Đồng thời, Hội nghị này đã nêu ra những vấn đề bức xúc hiện nay là: nước sinh hoạt và sản xuất, tình hình năng lượng, sản xuất nông nghiệp, đa dạng sinh học, quản lý hệ sinh thái và sức khỏe con người [8]

1.1.5 Nông nghiệp bền vững

Định nghĩa “Nông nghiệp bền vững” được nhiều tác giả thừa nhận là “việc thiết kế những hệ thống cư trú lâu bền của con người; đó là một triết lý và một cách tiếp cận về việc sử dụng đất tạo ra mối liên kết chặt chẽ giữa tiểu khí hậu, cây hàng năm, cây lâu năm, súc vật, đất, nước và những nhu cầu của con người, xây dựng những cộng đồng chặt chẽ và có hiệu quả” (Mollison và Slay, 1994).[24]

Nông nghiệp bền vững có cơ sở nền tảng là Sinh thái học, mục tiêu là nhất thể hóa xã hội loài người vào các hệ sinh thái bền vững, do đó có tác giả còn gọi là Nông nghiệp sinh thái Trong vườn

và trang trại theo nông nghiệp bền vững, mục tiêu là sử dụng cho hết chất dinh dưỡng để không trở thành nguyên nhân gây ô nhiễm Thực hiện việc đó bằng trồng nhiều loại cây, mỗi loại sử dụng

Trang 8

những loại chất dinh dưỡng khác nhau, bón phân vào lúc mà cây có thể sử dụng được hết (thí dụ, bón vào từng giai đoạn sinh trưởng của cây: bón lót, bón thúc…) Trồng cây và cỏ dọc đường ranh giới khu đất, phủ mặt đất và ít cày xới bằng cách trồng cây phân xanh [24]

Những nguyên tắc xây dựng nông nghiệp bền vững:

- Tính đa dạng: trồng những loài, giống cây khác nhau; lai tạo giống; luân canh; trồng cây lưu niên và cỏ ở khu vực ráp gianh; bảo tồn và phát triển gia súc, gia cầm, ong, cá, thủy sản.[24]

- Đất là một vật thể sống: bón phân cho đất thường xuyên bằng chất hữu cơ; phủ cho đất thường xuyên để chống xói mòn; khử những yếu tố gây hại như các hóa chất dùng trong nông nghiệp.[24]

- Tái chu chuyển: tạo ra mối quan hệ đúng đắn giữa các thành phần nông nghiệp (cây trồng, vật nuôi, thủy sản, cây rừng…) để có lợi cho từng thành phần và cho toàn thể Tái chu chuyển là điểm mấu chốt trong việc sử dụng tài nguyên ngoài đồng, trong vườn và giảm bớt lệ thuộc vào bên ngoài.[24]

- Cấu trúc nhiều tầng: Thảm thực vật nhiều tầng có thể sử dụng tối đa ánh sáng mặt trời và nước mưa Có nhiều tầng sẽ giảm hạn hán, lũ lụt và xói mòn cho đất.[24]

1.1.6 Hệ sinh thái vườn nhà

Theo Đường Hồng Dật (1999) thì hệ sinh thái vườn nhà bao gồm các thành phần cấu tạo như sau:

- Sinh vật trung tâm: loài cây trồng, vật nuôi được gieo trồng hoặc nuôi dưỡng

- Các thành tố sinh vật: các loài sinh vật cùng tồn tại trong hệ sinh thái Trong đó có các loài gây hại cho sinh vật trung tâm, có các loài có ích, các loài cộng sinh, các loài bổ sung

- Các thành tố không phải sinh vật: đất, nước, ánh sáng, nhiệt độ, ẩm độ, không khí v.v…

Các thành tố sinh vật

Sinh vật

có ích

Sinh vật gây hại

Sinh vật trung tính

Sinh vật cộng sinh

Sinh vật

bổ sung

Cỏ và cây dại

Không khí Ánh sáng Đất Nước Nhiệt độ Ẩm độ

Các thành tố không phải sinh vật

Hình 1.2 Sơ đồ cấu trúc hệ sinh thái vườn nhà

Sinh vật trung tâm

Trang 9

(Nguồn: Đường Hồng Dật, 1999) [14]

1.2 Tổng quan tài liệu

1.2.1 Tài liệu nước ngoài

Các công trình về hệ sinh thái vườn nhà không phong phú như các tài liệu khoa học khác Năm

1990, Karyono, khảo sát cấu trúc vườn nhà trong diện tích đất nông thôn của lưu vực Citarum, Indonexia Tác giả mô tả sự phân bố các loài thực vật, sự phân tầng trong không gian, hệ thống canh tác…

Long Chun Lin, 1990, với “Diversification of homegardens as a subtainable agroecosystem in Xishuangbana, China” đã khảo sát về hệ sinh thái nông nghiệp và các dạng vườn nhà ở Xishuangbana của Trung Quốc Tác giả đã nghiên cứu và giới thiệu, mô tả vườn nhà dựa trên thành phần, cấu trúc của vườn nhà

Năm 1997, bài viết “A study on the home garden ecosystem in the Mekong river delta and the

Ho Chi Minh city” của Nguyễn Thị Ngọc Ẩn đã đề cập tới các yếu tố của vườn nhà ở miền Nam Việt Nam, cấu trúc phân tầng trong vườn, các loại đất, động vật và thực vật trong vườn và chỉ ra vai trò của vườn về văn hóa, xã hội, kinh tế.[37]

Pablo B Eyzaguirre và các cộng sự L.N Trinh, J.W Watson, N.N.Hue, N.N De, N.V.Minh, P.Chu, B.R Sthapit (2002), đã nghiên cứu về sự phát triển ở vườn nhà ở Việt Nam, nêu tầm quan trọng về các mặt xã hội và văn hóa của vườn nhà, cấu trúc vườn nhà ở Việt Nam, sự phân bố các loài ở một số vùng, kích thước các vườn khảo sát… Các tác giả kết luận vườn nhà ở Việt Nam là nơi đóng góp thiết yếu cho các dịch vụ xã hội và phát triển bằng cách cung cấp nguồn dinh dưỡng, nguồn lương thực thực phẩm ổn định và còn là nguồn thu nhập đáng kể cho các gia đình nông thôn Việt Nam.[38]

1.2.2 Tài liệu trong nước:

1.2.2.1 Nghiên cứu về vườn và hệ sinh thái vườn

Trần Văn Hòa (1994), nghiên cứu kỹ thuật thiết kế vườn ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long Tác giả trình bày cách lập vườn và trồng cây trên liếp đơn, liếp đôi [20]

Nguyễn Thị Ngọc Ẩn (1994), nghiên cứu hệ sinh thái và môi trường vườn với một số biện pháp xử lý và hướng phát triển Tác giả phân thành các biện pháp xử lý chất thải rắn bằng cách thu gom phân loại rác thải, chế tạo các loại xe chuyên dụng Đối với nước thải công nghiệp thì dùng than hoạt tính, xử lý sinh học hoặc dùng vôi bột

Nguyễn Thị Ngọc Ẩn (1996), nghiên cứu một số mô hình vườn nhà ở đồng bằng sông Cửu Long và thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt phân tích đặc điểm kinh tế xã hội, hiệu quả kinh tế và

Trang 10

điều kiện tự nhiên nhằm có cơ sở đề xuất một số biện pháp xử lý và phương hướng phát triển mô hình vườn thích hợp với từng vùng Tác giả đã phân tích những đặc điểm có liên quan đến vườn như khí hậu thủy văn, đất đai, giống, kỹ thuật, các điều kiện thuận lợi và khó khăn của từng vùng để dự kiến biện pháp phát triển vườn cho khu vực đồng bằng sông Cửu Long và thành phố Hồ Chí Minh Trong đó tác giả cũng lưu ý đến các giống cây trồng thích hợp, kháng được bệnh do sâu rầy

Đường Hồng Dật (1999), trong cuốn “Nghề làm vườn- cơ sở khoa học và hoạt động thực tiễn” đã

lý giải một số vấn đề của hoạt động làm vườn, phân biệt vườn với ruộng, phân biệt vườn nhà với các loại vườn khác, phân tích các mối liên hệ giữa các thành phần trong hệ sinh thái vườn, chủ yếu

là vườn nhà và kết luận vườn là một hệ sinh thái nông nghiệp tạo ra năng suất kinh tế cao Tác giả cũng nêu cách thiết kế các loại vườn, chia khu cho từng loại vườn (4 khu chính), mỗi khu có đặc điểm và cách thiết lập khác nhau.[14]

Trần Thị Phú (2004), nghiên cứu đa dạngthành phần loài cây trồng ở vườn nhà Huế Tác giả đã xác dịnh được 520 loài thuộc 311 chi trong 122 họ của 4 ngành thực vật trồng ở các vườn nhà Huế [28]

Thanh Hương (2005), nêu lên tầm quan trọng của vườn (rau) trong cuộc sống, hiện trạng vườn hiện nay của các gia đình, phân loại một số loại cây thường trồng

trong vườn và tập trung vào trồng rau để cải thiện bữa ăn gia đình [17]

Nguyễn Thị Ngọc Ẩn (2006), đã nêu lên khái niệm, cấu trúc hệ sinh thái vườn, tầm quan trọng

và vai trò của vườn đối với đời sống con người Tác giả cho biết có nhiều khái niệm khác nhau về vườn và có thể chia thành 3 loại: vườn hoa kiểng, vườn rau đậu và vườn cây ăn trái; một đặc điểm chính để phân biệt vườn nhà với vườn và vườn rừng là vườn nhà có thêm một căn nhà và công lao động thường do trong hộ gia đình thực hiện [2]

Trần Thế Tục (2008), nêu khái niệm và phân loại vườn tạp, những tiến bộ kỹ thuật có thể áp dụng để cải tạo vườn tạp mang lại hiệu quả kinh tế cao Đó là kỹ thuật chọn tạo nhân giống, kỹ thuật tạo tán, tỉa cành, kỹ thuật bón phân, bao quả, điều khiển ra hoa quả trái vụ, ứng dụng các thành tựu bảo vệ thực vật đối với cây ăn quả Ngoài ra tác giả còn đề ra hướng chọn lựa các giống tốt có thế cạnh tranh trên thị trường để cải tạo vườn tạp.[32]

Nguyễn Thanh Vũ, Nguyễn Thị Ngọc Ẩn (2008), nêu đặc điểm vườn nhà, các thành phần của

hệ sinh thái vườn, cấu trúc sinh thái vườn nhà theo không gian thẳng đứng ở các xã cù lao thuộc tỉnh Vĩnh Long Tác giả kết luận mô hình vườn cây ăn trái kết hợp du lịch đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho nhà vườn và tạo điều kiện nâng cao kiến thức cộng đồng về giữ gìn và bảo vệ môi trường tự nhiên [33]

Trang 11

1.2.2.2 Nghiên cứu về phát triển bền vững

Nguyễn Văn Mấn và Trịnh Văn Thịnh (1995), đã trình bày cơ sở của nông nghiệp bền vững về đạo đức, nguyên lý, môi trường sinh thái, nền tảng sinh thái học và thiết kế cũng như các hệ thống nông nghiệp bền vững Các tác giả nêu nguyên tắc xây dựng nông nghiệp bền vững hay còn gọi là nông nghiệp sinh thái: tính đa dạng, đất là một vật thể sống, tái chu chuyển và cấu trúc nhiều tầng.[24]

Nguyễn Thái Tự (2002), trình bày cơ sở để phát triển bền vững vườn nhà và trang trại trên nền

tảng đa dạng sinh học Từ những nghiên cứu về ưu điểm và qui luật cơ bản của thiên nhiên nước ta,

tác giả đưa ra những tiêu chí để vận dụng trong qui hoạch, xây dựng mô hình vườn nhà, trang trại góp phần tạo nên một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa bền vững [39]

Nhìn chung, chưa có công trình nghiên cứu nào về hệ sinh thái vườn nhà và đề xuất những mô hình có hiệu quả, bền vững ở thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước

Trang 12

CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu là các vườn nhà ở thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước

2.1.1 Điều kiện tự nhiên của thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Thị xã Đồng Xoài nằm ở phía Đông - Nam tỉnh Bình Phước và ở giao điểm của hai tuyến giao thông quan trọng là quốc lộ 14 và tỉnh lộ ĐT741, cách thị xã Thủ Dầu Một 80 km, cách thành phố Hồ Chí Minh 120 km về phía Bắc

Toạ độ địa lý của thị xã Đồng Xoài:

- Từ 11o31’25” đến 11o33’36” vĩ độ Bắc

- Từ 106o53’36”đến 106o55’31” kinh độ Đông

Hình 2.1 Bản đồ thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (tỉ lệ 1/25.000)

(Nguồn: Ủy ban nhân dân thị xã Đồng Xoài) [34]

Thị xã Đồng Xoài có diện tích tự nhiên là 16.769,83 ha, chiếm 2,44% diện tích của cả tỉnh Bình Phước Toàn thị xã có 3 xã và 5 phường Trung tâm hành chính thị xã đặt tại phường Tân Phú Ranh giới hành chính của thị xã Đồng Xoài như sau:

- Phía Đông giáp huyện Đồng Phú

Trang 13

- Phía Tây giáp huyện Chơn Thành

- Phía Nam giáp huyện Đồng Phú

- Phía Bắc giáp huyện Đồng Phú

- Phía Tây Nam giáp tỉnh Bình Dương

Đến nay toàn thị xã có diện tích tự nhiên là 16.848 ha, gần bằng 2,46% diện tích cả tỉnh Bình Phước và bằng khoảng 0,05% diện tích toàn quốc Với dân số năm 2001 là 56.120 người, mật độ dân số khoảng 333 người/km2

- Địa hình: nằm ở độ cao trung bình 88,63 m so với mực nước biển, là vùng đất đồi tương đối

bằng phẳng, hơi lượn sóng Là một thị xã miền núi nhưng Đồng Xòai có địa hình tương đối bằng

phẳng so với các vùng khác Địa hình có độ dốc <15o, thuận lợi cho sử dụng đất trong nông nghiệp, trong đó địa hình < 3 o có 10.856 ha (64,44%), tương đối bằng phẳng chiếm gần 2/3 diện tích tự nhiên của thị xã Đồng Xoài, là yếu tố rất thuận lợi cho thị xã trong sử dụng đất

Bảng 2.1 Thống kê diện tích đất của thị xã Đồng Xoài theo địa hình

- Có cấu trúc đa dạng về thời tiết mùa

- Khí hậu có tính biến động rất cao do hệ quả của phức hệ gió mùa và quan hệ tương tác với cảnh quan địa hình

- Diễn thế khí hậu quan hệ với động lực gió mùa

Trang 14

Bảng 2.2 Nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm không khí ở thị xã Đồng Xoài

(Nguồn:Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn tỉnh Bình Phước) [31]

Nhiệt độ trung bình năm khoảng 26,7oC, không có sự chênh lệch lớn về nhiệt độ giữa các tháng trong năm Tháng tư và tháng năm nóng nhất lên đến 28,00C, tháng lạnh nhất là tháng 12 với nhiệt

độ 25,50C

Thị xã Đồng Xoài có bức xạ mặt trời cao trên 130 kcalo/cm2/năm Thời kỳ có cường độ bức xạ cao nhất vào tháng 3 & tháng 4, đạt 300 - 400 calo/cm2/ngày Trên nền đó cán cân bức xạ có trị số lớn 70 - 75 kcalo/ cm2/năm Từ nguồn năng lượng đó chế độ nhiệt cao và khá ổn định: nhiệt độ cao đều trong năm khoảng 26,6oC Nhiệt độ trung bình tối cao không quá 33oC (31,7 - 32,2oC) và nhiệt

độ trung bình tối thấp không dưới 20oC (21,5 - 22oC) Tổng giờ nắng trong năm trung bình 2.400 - 2.500 giờ Số giờ nắng bình quân trong ngày 6,2 - 6,6 giờ Thời gian nắng dài nhất vào các tháng ít mưa 2,3,4, thời gian ít nắng nhất vào các tháng mưa nhiều 7,8,9.[34]

Lượng mưa trung bình tương đối cao khoảng 2.632,2 mm/năm, nhưng phân hóa theo mùa, tạo

ra hai mùa rất ngược nhau: mùa mưa và mùa khô

Mùa khô kéo dài trong 6 tháng từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa rất thấp chỉ chiếm khoảng 10 -15% lượng mưa cả năm Trong khi đó lượng bốc hơi rất cao, chiếm khoảng 64 - 67% tổng lượng bốc hơi cả năm và cán cân ẩm rất cao Do lượng mưa ít và bức xạ mặt trời cao đã làm tăng quá trình bốc hơi nước một cách mãnh liệt Điều đó đẩy nhanh sự phá hủy chất hữu cơ, dung dịch đất hòa tan các Secquioxyt sắt nhôm ở dưới sâu dịch chuyển lên tầng đất trên và bị oxy hóa tạo thành kết von và đá ong rất phổ biến

Mùa mưa kéo dài trong 06 tháng từ tháng 5 đến tháng 11, mưa rất tập trung, lượng mưa trong

06 tháng mùa mưa chiếm 85 - 90% tổng lượng mưa cả năm, chỉ riêng 04 tháng mưa lớn nhất, lượng mưa đã chiếm 62 - 63% lượng mưa cả năm Ngược lại lượng bốc hơi và nền nhiệt thấp hơn mùa khô

và khi đó cán cân ẩm rất cao Lượng mưa lớn và tập trung đã xảy ra quá trình xói mòn, rửa trôi rất mạnh, lôi cuốn sét mùn từ nơi cao xuống nơi thấp, làm bất đồng hóa phẫu diện và dẫn tới nhiều biến đổi quan trọng trong phân hóa vỏ thổ nhưỡng

Lượng mưa phân hóa theo mùa đã chi phối mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp Vào mùa mưa cây cối sinh trưởng và phát triển rất tốt, là mùa sản xuất chính; ngược lại vào mùa khô cây cối khô

Trang 15

cằn, sinh trưởng và phát triển rất kém Khả năng cung cấp nước tưới của thị xã cho nông nghiệp rất khó khăn, chưa đầy 10% diện tích đất nông nghiệp có tưới tiêu, vì vậy trong sản xuất nông nghiệp cần phải chọn và đưa vào sử dụng những loại hình sử dụng đất ít hoặc không cần nước tưới Bên cạnh đó, nguồn nước sinh họat cũng gặp rất nhiều khó khăn do mùa nắng kéo dài mà các hồ, đập lại

Đất xám chủ yếu có địa hình bằng phẳng < 3o có diện tích bằng 94,18% diện tích đất xám

Trang 16

Nhóm đất xám ở thị xã Đồng Xòai hình thành chủ yếu trên mẫu chất phù sa cổ (Pleistocene) nghèo kiềm và thường có thành phần cơ giới nhẹ; phân bố trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm; khoáng sét đã bị biến đổi đáng kể; quá trình rửa trôi sét và các Cation kiềm thổ xảy ra mạnh mẽ Đất xám thường có thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình: thịt pha sét- cát đến thịt pha sét Đất xám nhìn chung rất nghèo mùn, đạm, lân và kali

- Nhóm đất đỏ vàng

Nhóm đất đỏ vàng có diện tích lớn 7.660,5ha, chiếm 45,47% diện tích tự nhiên Nó được hình thành trên 02 đá mẹ khác nhau: đá bazan và đá phiến sét Nhóm đất đỏ vàng được phân thành 3 loại: đất nâu đỏ và nâu vàng trên bazan, đất nâu vàng trên phù sa cổ và đất đỏ vàng hình hình thành trên

đá phiến sét

- Đất nâu đỏ và nâu vàng trên bazan: Có 3.343,5 ha, chiếm 19,85% diện tích tự nhiên toàn thị

xã và chiếm 0,84% qũy đất đỏ bazan toàn tỉnh Đất nâu đỏ và nâu vàng trên bazan có thành phần cơ giới nặng, cấu tượng viên hạt, tơi xốp: thịt pha sét tới sét Đất đỏ nhìn chung có độ phì tương đối cao

- Đất nâu vàng trên phù sa cổ: Có diện tích 2.188,6 ha, chiếm 12,99% diện tích tự nhiên Đất nâu vàng trên phù sa cổ có thành phần cơ giới thịt trung bình, cấu tượng viên hạt, khá tơi xốp, khả năng giữ nước, giữ phân khá hơn đất xám Đất nâu vàng trên phù sa cổ nhìn chung nghèo dinh dưỡng

- Đất đỏ vàng hình hình thành trên đá phiến sét: Có 32.812ha, chiếm 35,32% DTTN toàn thị

xã Đất đỏ vàng trên phiến sét nhìn chung có thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng tầng đất thường mỏng và hơi dốc Đất thường chua, có độ phì nhiêu thấp với mùn và đạm trung bình, nghèo lân và nghèo kali

- Nhóm đất dốc tụ

Đất dốc tụ có 97ha, chiếm 0,58% diện tích tự nhiên Đất hình thành ở địa hình thung lũng, trên các sản phẩm bồi tụ từ các khu vực đồi cao xung quanh Vì vậy đất phân bố rất rải rác, ở khắp các khe hợp thủy và thung lũng ở vùng đồi Nhìn chung các đất dốc tụ có độ phì nhiêu tương đối khá, nhưng chua Địa hình thấp trũng, khó thóat nước

2.1.1.4 Tài nguyên nước

Trang 17

dòng Sông Bé đã quy hoạch 04 công trình thủy lợi lớn theo 04 bậc thang: Thủy điện Thác Mơ, Cần Đơn, Sóc Phu Miêng và Phước Hòa Hiện nay công trình thủy điện Thác Mơ (1,47 tỷ m3) đã đưa vào sử dụng từ 1995 Công trình Cần Đơn đang trong giai đọan thi công và công trình Phước Hòa đang trong giai đoạn thiết kế kỹ thuật Trên địa bàn thị xã Đồng Xòai, sông Bé cũng chạy từ Bắc xuống phía Nam dọc theo phía Tây thị xã; là ranh giới giữa thị xã Đồng Xòai và huyện Bình Long Suối Cam và suối Sông Rinh là hai nhánh của Sông Bé thường cạn vào mùa khô và ngập sâu vào mùa mưa

+ Suối Rạt là ranh giới giữa thị xã Đồng Xòai và huyện Đồng Phú Suối này có nước ngập sâu vào mùa mưa, nhưng tương đối cạn kiệt về mùa khô, nên có tác dụng thấp trong sản xuất nông nghiệp và sinh họat

+ Ngoài ra có các tầng chứa nước Mezozoi (M2) phân bố ở vùng đồi thấp (100-250 m)

- Nguồn nước của các hồ, đập, bàu

Trên địa bàn toàn thị xã hiện có 07 hồ chứa nước gồm: hồ Suối Cam ở Tân Phú diện tích sử dụng khoảng 79,2 ha; Bàu Tà Môn ở xã Tiến Hưng diện tích sử dụng 12,35 ha; 05 bàu ở xã Tân Thành diện tích 20 ha Hồ Suối Cam là nguồn cung cấp nước sinh họat, nước sản xuất cho thị xã; 06 bàu đập còn lại phục vụ chính cho nông nghiệp [34]

2.1.1.5 Tài nguyên rừng

Thị xã Đồng Xòai nói riêng và tỉnh Bình Phước nói chung vốn là nơi có qũy rừng rất phong phú, đa dạng và nó có giá trị phòng hộ, môi trường, nhưng đã bị khai thác và tàn phá mạnh mẽ

Trang 18

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước

2.1.2.1 Đặc điểm dân số

Năm 2008 dân số của thị xã là 74.020 người, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 15,57% Dân số trung bình thành thị là 44,484 nghìn người, dân số trung bình nông thôn là 29,536 nghìn người Tổng số phường, xã là 8 [13]

Thị xã Đồng Xòai có dân số chưa nhiều, mật độ dân số trung bình nhưng tốc độ tăng dân số rất cao, nhất là tăng dân số cơ học, đã gây một sức ép không nhỏ trong sử dụng đất

2.1.2.2 Cơ sở hạ tầng

- Giao thông: Thực trạng đường ô tô đến trung tâm các xã, phường: 8/8 phường xã có đường ô

tô đến trung tâm phường, xã

- Bưu chính: 8/8 phường xã được trang bị điện thoại

- Điện: 8/8 phường xã có điện thắp sáng và sinh hoạt

- Nước: thị xã có một nhà máy nước cung cấp cho 40% dân thị xã, chủ yếu các cơ quan nhà nước và những hộ dân thuộc công chức, còn lại phần lớn bà con dùng nước giếng [13]

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thu thập thông tin

Thu thập những tài liệu có liên quan đến đề tài từ các nguồn khác nhau Sắp xếp, phân tích và

xử lí tài liệu thu thập được

- Điều tra về năng suất cây trồng, về hiệu quả kinh tế thu được từ vườn trong 2-3 năm gần đây;

về tình hình sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, phân hóa học qua phiếu điều tra

2.2.3 Ở phòng thí nghiệm

Trang 19

- Định danh tên khoa học của các loài thực vật bằng phương pháp hình thái so sánh và dựa trên tài liệu chính: "Cây cỏ Việt Nam" của Phạm Hoàng Hộ (2003) Danh lục được sắp xếp theo Brummitt (1992)

- Xử lý các số liệu thu được bằng phần mềm Excel 2003

Trang 20

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 3.1 Thực trạng các vườn nhà ở thị xã Đồng Xoài

3.1.1 Diện tích các vườn nhà

Kết quả điều tra tổng số vườn nhà trong thị xã Đồng Xoài cho thấy có 3.956 vườn Trong đó:

- Số vườn nhà có diện tích < 1,0 ha là 1.060 vườn chiếm tỷ lệ 26,8% Vườn có diện tích nhỏ phân bố chủ yếu ở các phường thuộc nội ô thị xã Các vườn này thường được trồng cây ăn quả, rau màu, hoa cảnh…

- Số vườn nhà có diện tích 1,0 ha - 10 ha là 1.391 vườn, chiếm tỷ lệ 35,2% Những vườn này thường trồng cây ăn quả lâu năm như Cam, Bưởi, Xoài, Chôm chôm, Nhãn; cây công nghiệp là Điều, Tiêu và hiện nay đang trồng Cao su xen vào Điều để chuẩn bị thay thế Điều

- Số vườn nhà có diện tích > 10 ha là 1.505 vườn, hầu hết tập trung ở 3 xã ngoại ô, chiếm tỷ lệ 38,0% trong tổng số vườn điều tra Những vườn nhà có diện tích lớn hầu hết là vườn Điều lâu năm Bảng 3.1 Diện tích vườn nhà thuộc các phường, xã trong thị xã Đồng Xoài

Diện

tích

số vườn

Tân Phú

Tân Bình

Tân Đồng

Tân Thiện

Tân Xuân

Tiến Thành

Tiến Hưng

Tân Thành

Trang 21

Hình 3.1 Tỷ lệ % diện tích các vườn trong thị xã Đồng Xoài

Kết quả điều tra số vườn ở thị xã Đồng Xoài được thể hiện ở bảng 3.2

Bảng 3.2 Số vườn trồng các loại cây khác nhau trong thị xã Đồng Xoài

Loại vườn

Phường, xã

Tổng Tân

Phú

Tân Bình

Tân Đồng

Tân Thiện

Tân Xuân

Tiến Thành

Tiến Hưng

Tân Thành

Trang 22

Hình 3.2 Tỷ lệ % số vườn trồng các loại cây khác nhau trong thị xã Đồng Xoài

Qua số liệu ở bảng 3.2 cho thấy vườn Điều có ở khắp các phường, xã trong thị xã và cũng chiếm tỷ lệ lớn nhất trong các vườn khảo sát (48,66%) Vườn khác gồm vườn trồng xen Điều với Cao su, vườn rau, vườn trồng Sầu riêng xen Bưởi, Chôm chôm, vườn trồng cây hàng năm như Khoai mì hoặc vườn Cao su thuần loại

3.1.2 Địa hình của các vườn nhà

Thị xã Đồng Xoài có 3 loại địa hình sau: địa hình bằng phẳng, độ dốc < 3o; địa hình hơi dốc từ

0 - 8o và địa hình dốc từ 8 -15o

Các vườn Điều tập trung nhiều nhất ở 3 xã ngoại ô Tiến Thành, Tiến Hưng và Tân Thành (1016/1395 vườn, chiếm tỷ lệ 72%) Đất ở đây thuộc nhóm đất xám là nhóm đất lớn nhất ở thị xã Đồng Xoài, chiếm tỷ lệ 52,31% diện tích đất toàn thị xã Địa hình khá bằng phẳng, độ dốc < 3o, chiếm tỷ lệ 94,18% tổng diện tích đất xám

Khu vực suối Cam tập trung nhiều vườn Nhãn, đất ở đây thuộc loại đất nâu đỏ và nâu vàng trên bazan, địa hình hơi dốc hơn một chút, từ 0 - 8o Các phường, xã có địa hình hơi dốc là Tân Phú, Tân Đồng, Tiến Thành, Tân Thành Các vườn Điều, vườn tiêu, vườn Nhãn được trồng ở vùng đất có địa hình hơi dốc này

Một số ít vườn Tiêu, Cà phê, Điều được bà con trồng ở những vùng đất dốc từ 8 -15o có ở khắp các phường xã trong thị xã

Riêng khu vực phường Tân Thiện có nhiều vườn rau nhất, về mùa mưa thường hay ngập úng do nước chưa rút kịp

Trang 23

3.1.3 Cấu trúc vườn nhà ở các phường, xã thuộc thị xã Đồng Xoài

3.1.3.1 Thành phần loài cây trồng và hoang dại ở trong các kiểu sinh thái vườn nhà thuộc thị xã Đồng Xoài

Tổng số loài thực vật điều tra được ở các vườn nhà của thị xã Đồng Xoài có 240 loài, trong

đó có 151 loài cây trồng và 82 loài cây hoang dại, 07 loài vừa mọc dại vừa được trồng (Phụ lục 1)

- Thành phần các loài cây trồng chính

Thành phần các loài cây trồng chính trong các vườn nhà ở thị xã Đồng Xoài gồm có:

+ Các loài cây công nghiệp: cây trồng trong vườn nhà ở Đồng Xoài không nhiều chủng loại,

cây công nghiệp chủ yếu là cây Điều (Anacardium occidentale L.), Tiêu (Piper nigrum L.), Cao su (Hevea brasiliensis (A Juss) Muell – Arg.), Cà phê vối (Coffea robusta)

+ Các loài cây ăn quả: cây ăn quả được trồng nhiều là Cam sành (Citrus nobilis Lour var

nobilis), Quýt đường (Citrus reticulata Blanco), Nhãn (Dimocarpus longan Lour.) (nay đã bị chặt

bỏ nhiều), một số ít Xoài (Mangifera indica L.), Sầu riêng (Durio zibethinus Murr.), Chôm chôm (Nephelium lappaceum L.) …

+ Các loài Rau xanh: thường được trồng trong vườn theo luống, mỗi luống rộng khoảng 1,2 m, dài tùy theo diện tích vườn, thường từ 40-80 m, có khi hơn Mỗi luống trồng một loại rau để có thể

có nhiều rau cung cấp cho thị trường Chủ yếu rau trồng ở phường Tân Đồng, Tân Thiện và được bán cho người dân trong nội ô thị xã Hiện nay, Đồng Xoài vẫn chưa trồng được nhiều chủng loại rau, vẫn còn phải nhập từ Bình Dương, Đà Lạt Rau trồng ở thị xã chủ yếu là các loại rau: rau Giền

(Amaranthus tricolor L.), Mồng tơi (Basella rubra L.), Rau đay (Corchorus olitoriu s L.), Bồ ngót,

Rau muống (Ipomoea aquatica Forssk.), Cà tím (Solanum melongena L, Cà chua (Lycopersicon

esculentum (L.) Mill.), Xà lách (Lactuca sativa L.), Cải xanh (Brassisca juncea (L.) Czern et

Coss.); một số rau gia vị: Húng quế (Ocimum basilicum L.), Kinh giới (Elsholtzia ciliata (Thunb.) Hyland.), Tía tô (Perrila frutescens (L.) Britt.) Số lượng rau các loại cũng chưa đủ cung cấp cho

toàn thị xã

- Thành phần loài cây hoang dại

Cây hoang dại ở trong vườn không nhiều vì hầu hết các vườn đều được chăm sóc tốt, nhất là các vườn trồng Tiêu, Cà phê, vườn Điều trồng xen Mì hoặc Ca cao, vườn Cam Quýt Các vườn mới

trồng thường gặp nhiều Cỏ tranh (Imperata cylindrica (L.) P Beauv) Vườn Điều lâu năm (khoảng

10 năm trở lên) thường cây to, vườn rộng, thưa nên có một số cây hoang dại và cỏ như: Cỏ lào

(Eupatorium odoratum L.), Cỏ tranh (Imperata cylindrica (L.) P Beauv.), Cỏ Mỹ (Pennisetum

polystachyon (L.) Schult.), Cỏ chỉ (Cynodon dactylon (L.) Pers.), Cỏ hôi (cứt lợn) (Ageratum

Trang 24

conyzoides L.), Cỏ gấu (Cyperus rotundus L.) , Cỏ mần trầu (Euleusine indica (L.) Gaertn.), cây

Lồng mức (Wrightia annamensis Eb & Dub.)

3.1.3.2 Cấu trúc vườn nhà

Dựa vào thành phần loài cây có trong vườn nhà, chúng tôi chia vườn nhà thành hai kiểu đó là: vườn nhà thuần loại và vườn nhà trồng xen

- Vườn nhà thuần loại

Phần lớn vườn nhà ở thị xã Đồng Xoài là vườn nhà thuần loại trồng cây Điều, cây Cao su Trước đây có một số vườn Tiêu, vườn Cà phê, Nhãn nhưng hiện nay đã bị phá gần hết để trồng cây Cao su hoặc cây trồng ăn quả khác như Cam, Quýt

Vườn nhà thuần loại ở thị xã Đồng Xoài có cấu trúc đơn giản Với những vườn trồng thuần một loại cây như Điều, Tiêu, Nhãn đều giống nhau về cấu trúc chung Mỗi vườn đều có một căn nhà, phần lớn là cấp 4, cũng có một số nhà cấp 3, một số ít nhà cấp 2 khá đẹp

- Cấu trúc ngang trong không gian

+ Vị trí nhà: Các nhà thuộc nhà cấp 4 đều ở trong vườn, xung quanh là cây cối Những hộ có nhà cấp 3, nhà tầng chủ hộ thường bố trí nhà ở phía trước, gần đường đi, phía sau nhà là vườn cây Đối với vườn Điều, nhà thường được bố trí ở trong vườn cho mát Đi qua một khoảng vườn mới vào đến nhà Đối với vườn Tiêu nhà lại thường được làm ở phía trước, ngay sát đường đi, vườn ở phía sau hoặc một bên của nhà

+ Sân: Hầu hết các nhà đều có làm sân phơi ngay trước cửa nhà Đa số sân thường được làm bằng xi măng, cũng có một số ít sân đất

+ Hàng rào: Xung quanh nhà và vườn có hàng rào hoặc tường bao Xung quanh vườn có hàng rào làm ranh giới với đường đi Hàng rào trước nhà có thể là hàng cây Dâm bụt được cắt tỉa đẹp mắt, có thể là cây Duối cảnh hay cây Hoa giấy…

Hàng rào quanh vườn rất khác nhau: vườn Tiêu thường có rào là cây gỗ như Xà cừ, Bạch đàn, Xoan Vườn Điều thường không làm hàng rào hoặc cũng trồng cây Xà cừ nhưng thường chỉ làm đối với những vườn sát đường đi Vườn Nhãn lại hay rào bằng lưới B40 để chống trộm quả

+ Ao, hồ chứa nước: Những vườn trồng Tiêu, Cà phê, Xoài, Cam, Quýt, vườn rau hoặc những vườn trồng xen nhiều loại cây thường đào ao hay hồ chứa nước tưới cây với diện tích khoảng 50 –

100 m2 Vườn Điều thuần lâu năm không có ao, hồ chứa nước Một số vườn gần sông, suối thì không cần đào ao để lấy nước tưới

- Cấu trúc đứng trong không gian: Vườn thuần loại ở thị xã Đồng Xoài không có cấu trúc

nhiều tầng Các vườn Điều, vườn Nhãn, vườn Xoài hơn 15 năm tuổi trong vườn chỉ có cây Điều hay cây Nhãn hoặc cây Xoài ở tầng trên cao 10 - 15 m, một ít cây cỏ và cây dại ở tầng sát mặt đất Một

Trang 25

số vườn Điều đang trồng xen cây Điều ghép (điều cao sản) để thay thế cho cây Điều cũ thì có thêm tầng giữa cao 5 - 7 m (các vườn Điều lâu năm ở Tiến Thành, Tân Thành) Trong vườn Tiêu dùng nọc sống có sự phân tầng rõ rệt: Tầng cao nhất (trên 10 m) gồm những cây làm nọc (cây Thừng mức), cây làm hàng rào (cây Xà cừ); tầng ưu thế là Tiêu (5 - 10 m); tầng sát mặt đất gồm cỏ, cây dại (Cỏ tranh, cây Xấu hổ, Cỏ lào…)

Hình 3.3 Lát cắt đứng từ trước ra sau một vườn nhà thuần loại

- Vườn nhà trồng xen

Thường gặp ở thị xã Đồng Xoài các kiểu vườn nhà trồng xen như: Điều - Khoai mì, Điều - Đậu xanh, Điều - Khoai lang, Điều - Ca cao, Điều - Cao su, Cam - Bưởi - Quất, Cam - Quýt - Bưởi, Cam

- Bưởi - Chôm chôm, Điều - Tiêu, Điều - cây cảnh

+ Vườn điều thường được trồng xen với Khoai mì khi cây Điều còn nhỏ, hoặc Khoai mì được trồng ở phía ngoài vườn gần hàng rào để tận dụng ánh sáng Bà con nông dân còn trồng xen Đậu xanh, rau xanh, Khoai lang ở phía ngoài, sát hàng rào gần nhà ở để cải thiện bữa ăn chứ không phải tăng thu nhập chính Một số hộ thuộc phường Tân Phú trồng hoa Cúc ở phía gần hàng rào, nơi có khoảng trống nhiều Hoa dùng để bán trong dịp Tết Nguyên đán Có hộ trồng Tiêu xen Điều nhưng nọc không phải là cây Điều Một số vườn trồng cây Ca cao xen dưới tán Điều Tuy nhiên, nhiều hộ nông dân có vườn nhà đang chuyển sang trồng Cao su trong vườn Điều và khi cây Cao su mở miệng sẽ chặt dần cây Điều đi để trồng thuần cây Cao su

+ Vườn Cam - Quýt được trồng xen Mướp hương, Đậu đũa, Đậu cô ve cho leo làm giàn hay leo lên cây Cam (hộ anh Đông, ấp Suối Cam, Tân Phú) Vườn Quýt đường ở Tân Thành được trồng xen Cà tím

Trang 26

Hình 3.4 Vườn Điều trồng xen Đậu xanh

Hình 3.5 Vườn Điều trồng xen Khoai mì

Hình 3.6.Vườn Điều trồng xen cây Ca cao

Trang 27

Hình 3.7 Vườn Quýt trồng xen Cà tím

- Cấu trúc vườn trồng xen

+ Cấu trúc theo chiều ngang: giống vườn thuần loại

+ Cấu trúc theo không gian đứng (sự phân tầng):

Trong vườn trồng xen do có nhiều loài cây nên sự phân tầng phong phú hơn vườn thuần loại Một đặc điểm nổi bật trong vườn trồng xen ở Đồng Xoài là những cây trong vườn thường ít tuổi, khoảng 10 năm tuổi trở lại Riêng vườn Điều lâu năm (trên 15 năm) phần lớn không trồng xen (trừ một số vườn điều xen Ca cao thử nghiệm) Có thể coi sự phân tầng trong vườn trồng xen như sau:

* Tầng cao nhất (A): trên 10 m gồm những cây Xà cừ, Bạch đàn, Thừng mức … làm hàng rào hoặc làm trụ tiêu

* Tầng giữa (B): 5 - 10 m gồm những cây ưu thế như Điều, Nhãn, Xoài, Tiêu, Cà phê, Cam, Bưởi, Chôm chôm, (cây trồng chính)

* Tầng thấp hơn (C ): 1 - 5 m gồm Ca cao 3 - 5 tuổi, Khoai mì sắp thu hoạch, Quất (tắc),

…(cây trồng xen)

* Tầng sát mặt đất ( D ): 0 - 1 m gồm cỏ dại, các loại rau, khoai, đậu, cà,…các cây hoa như Cúc, Huệ, Mười giờ… (cây trồng xen theo vụ)

Trang 28

Hình 3.8 Cấu trúc một vườn trồng xen

- Vấn đề trồng cây phân xanh cải tạo đất

Ở thị xã Đồng Xoài hầu như không có vườn nào trồng cây phân xanh cải tạo đất Do đặc thù cây trồng là cây Điều rợp bóng nên hầu như không có cây nào mọc dưới tán điều (trừ cỏ dại), ngoài ra

bà con nông dân cũng không có tập quán trồng cây phân xanh trong vườn, nhất là vườn điều phải sạch để còn lượm hạt Đến mùa thu hoạch thường quét sạch lá trong vườn để dễ nhìn thấy hạt rơi dưới gốc Vườn Tiêu, vườn Cà phê (còn lại một ít) thường được trồng dày, làm cỏ rất sạch nhưng

cũng không trồng cây phân xanh để cải tạo đất 100% số hộ được hỏi đều không trồng cây phân

xanh trong vườn, một số chủ hộ không biết có những loài cây phân xanh nào

3.1.4 Mô tả một số vườn nhà ở thị xã Đồng Xoài

3.1.4.1 Vườn Điều sạch xen Ca cao ở Tiến Hưng

Vườn Điều sạch Tiến Hưng do ông Đàm Xuân Thọ, sinh năm 1959, địa chỉ ở ấp 7, xã Tiến Hưng làm nhóm trưởng (số thành viên trong nhóm là 47) Tổng diện tích vườn Điều sạch là 250 ha Nhóm được thành lập năm 2007 và được công nhận ngày 19/7/2009 Diện tích vườn nhỏ nhất là 3 sào, lớn nhất là 12 ha

Các vườn Điều trong nhóm đã có từ trước, nhưng từ khi gia nhập nhóm, các thành viên phải tuân thủ một số qui định sau:

+ Chăm sóc chủ yếu vẫn như trước về đốn cành, tạo tán, bón phân, làm cỏ… nhưng cấm sử dụng một số hóa chất như thuốc diệt cỏ 2,4D, thuốc diệt cỏ hiệu Balamat, Glamoxong; thuốc diệt sâu DDT, 666, Bi 58

+ Chỉ được dùng thuốc diệt cỏ có gốc Glyposat (do không lưu trong đất lâu) và gốc lân hữu cơ

Trang 29

+ Xử lý bao bì sau khi dùng: phân loại bao bì rồi chôn hoặc đốt Có người của công ty đến kiểm tra Hầu hết bà con vẫn còn dùng cách đốt

- Sau 3 năm tổ chức giám định lại và tiếp tục cấp giấy chứng nhận điều sạch nếu đủ tiêu chuẩn, hoặc tuyển mới các thành viên khác đủ điều kiện

- Năng suất và thu nhập

Các vườn Điều đang ở độ tuổi 15 năm tuổi (80%), còn một số ít 7-8 năm tuổi, một vài vườn Điều 20 năm tuổi đạt năng suất trung bình là 500 tấn hạt/vụ/250 ha

Năm 2008 xuất khẩu 19,837 tấn điều khô tương đương 3.994 kg nhân, thu được 447,23 USD, trong đó có 2,015 tấn vào kênh Thương mại quốc tế qua tổ chức Thương mại công bằng quốc tế (FLO)

* Mô tả một vườn Điều sạch xen Ca cao

- Vườn Điều nhà ông Đàm Xuân Thọ, nhóm trưởng, ở ấp 7, xã Tiến Hưng với diện tích 5,4 ha

Cơ cấu các loài sinh vật trong vườn Điều sạch được thể hiện ở bảng 3.3

Bảng 3.3 Cơ cấu các loài sinh vật trong vườn Điều sạch xen Ca cao Tên cây, con Độ tuổi Số lượng Ghi chú Điều (giống địa phương) 15 500 cây Đang ra hoa Điều (giống địa phương) 3 30 cây

- Năng suất của vườn Điều sạch xen Ca cao và hiệu quả kinh tế

Năng suất của vườn Điều sạch xen Ca cao và hiệu quả kinh tế được trình bày ở bảng 3.4

Bảng 3.4 Năng suất và thu nhập hàng năm của vườn Điều sạch xen Ca cao

Năm Năng suất

(Kg/ha)

Đơn giá (đồng/kg)

Thu (đồng/ha)

Chi (đồng/ha)

Thu nhập (đồng/ha)

2007 2.500 8.000 20.000.000 10.000.000 9.000.000

2008 2.500 9.000 22.500.000 11.000.000 11.500.000

2009 2.500 13.000 25.000.000 11.000.000 14.000.000

Trang 30

(Năm 2008, 2009 chi phí cao hơn do công lao động tăng, thuốc trừ sâu, phân bón đều tăng giá

so với 2007)

Hình 3.9 Vườn Điều sạch ở Tiến Hưng Nhận xét: Đây là một loại mô hình mới trong sản xuất nông nghiệp đặc biệt là hướng đến việc sản xuất với quy mô lớn, tập trung với chất lượng sản phẩm được kiểm soát Tuy nhiên, so với mặt bằng chung về giá và lợi nhuận chưa cao và chưa tương xứng với chất lượng của sản phẩm sạch

3.1.4.2 Vườn Nhãn thuần loại ở Tân Phú thị xã Đồng Xoài

Vườn Nhãn thuần loại thuộcđịa hình hơi dốc của ông Đinh Đức Đạo, 70 tuổi, ở tổ 2, khu phố Phú Tân, phường Tân Phú, thị xã Đồng Xoài có diện tích 1 ha, với 400 cây Nhãn 10 năm tuổi Thành phần nông hóa thổ nhưỡng của mẫu đất ở vườn Nhãn được thể hiện qua bảng 3.5

Trang 31

Bảng 3.5 Thành phần nông hóa thổ nhưỡng của đất vườn Nhãn

(Ngày lấy mẫu: 29/12/2009)

+ Bón phân NPK với 1 kg/gốc cây và bón làm 3 đợt trong năm

+ Tưới nước cho vườn Nhãn mỗi tháng 4 lần từ một ao 3000 m2 có kết hợp thả cá Rô phi, cá Trê vàng

+ Dùng thuốc diệt cỏ để phun 2 lần/năm, mỗi lần 10 lít Đối với sâu hại thì đục thân cây nhét thuốc vào để trừ sâu đục thân, sâu đục quả, sâu ăn bông

- Về Cơ cấu loài sinh vật trong vườn Nhãn:

Cơ cấu các loài được trình bày ở bảng 3.6

Bảng 3.6 Cơ cấu các loài sinh vật trong vườn Nhãn Tên cây, con Tuổi cây Số lượng Ghi chú

Trang 32

Cỏ tranh Ít Trong vườn nhãn

Nhìn chung, vì đây là kiểu vườn nhà thuần loại nên cơ cấu loài hết sức đơn giản, cấu trúc chỉ gồm tầng cây gỗ là Nhãn và tầng cỏ (chủ yếu là cỏ Tranh, cỏ Lào)

- Năng suất và thu nhập từ vườn Nhãn

+ Nhìn chung trồng Nhãn những năm gần đây thất thu do năng suất kém, bệnh nhiều, đặc biệt bệnh xoắn đọt trong 2 năm trở lại đây khiến nhãn không ra hoa, không đậu quả Nhiều hộ đã chặt bỏ chuyển sang trồng cây khác như Cam, Bưởi, hoa cảnh…

+ Năng suất trung bình: 30 kg/cây Năm được mùa: 40 kg/cây

+ Giá bán tại vườn: 3.500 đ – 5.000 đ/kg

Bảng 3.7 Năng suất và thu nhập hàng năm của vườn Nhãn

Năm Năng suất

(kg/ha)

Đơn giá (đồng/kg)

Thu (đồng/ha)

Chi (đồng/ha)

Thu nhập (đồng/ha)

Trang 33

Hình 3.10 Vườn Nhãn ở Tân Phú

3.1.4.3 Vườn Bưởi - Quất - Chôm chôm ở Tân Phú

Vườn Bưởi - Quất – Chôm chôm của anh Lưu Chí Cường, sinh năm 1963, tổ 1, khu phố Phú

Mỹ, phường Tân Phú với diện tích 8.000 m2 Địa hình tương đối bằng Độ dốc 0-8o Đất thuộc loại đất nâu vàng trên bazan Vườn được chia thành 3 khu vực trồng cây: 5.000 m2 trồng Bưởi được 4 năm tuổi, 1.000 m2 trồng Quất với 500 cây đang đậu quả rất đẹp và 2.000 m2 trồng Chôm chôm 6 năm tuổi đang ra hoa

Có 2 ao, mỗi ao 500 m2, trong đó 1 ao thả cá bán, 1 ao lấy nước tưới Vườn nhà thiết kế theo VAC có nuôi heo thịt Trên bờ ao trồng Chuối, Dừa, Ổi Mặt đất sát bờ ao và lòng ao trồng Rau muống, vài đám rau Húng quế, Kinh giới, Ngò gai Phía bên phải của nhà trồng Bưởi, phía sau trồng Chôm chôm Trong khu trồng Bưởi có đào các mương rộng 0,6 m để thoát dẫn nước Trên bờ mương trồng Mướp, Bầu leo giàn bắc qua mương Vào thời điểm khảo sát, Bầu và Mướp đã hết vụ, mương cạn và chủ hộ đang trồng Khoai lang, Rau muống trong lòng và sát bờ mương Trên bờ còn trồng thêm vài khóm Mía, Rau má, rau thơm … Cây Bưởi 4 năm tuổi cao khoảng 2 m, khoảng cách khá thưa (4m x 5m) đang trồng xen Quất cao khoảng 0,5m trong đó khoảng 40 cây đang ra hoa, quả… Trong khu trồng Chôm chôm có chuồng nhỏ nuôi gà, vịt xiêm Vườn sạch cỏ, có rất ít Cỏ Lào mọc lưa thưa Ao cá chỉ nuôi trong mùa mưa, đến mùa khô đánh bắt Vào thời điểm khảo sát không còn nhiều cá trong ao, chỉ còn một ít để ăn, một ao đã cạn nước đang trồng Rau muống Rau

Trang 34

muống được trồng chủ yếu để nuôi heo, các loại rau khác như Bầu, Bí, Mướp, Cà tím để ăn chứ không bán Chuối trồng xung quanh bờ ao vừa lấy quả ăn vừa lấy thân làm rau heo Nước ao cá để tưới và tắm heo Phân chuồng ủ có hầm bioga, sau đó sử dụng bón cho cây

- Chăm sóc vườn nhà

Nhìn chung vườn nhà thực hiện đúng hướng dẫn của mô hình VAC trong việc tận dụng các sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi Tuy nhiên anh cho biết cá trong ao nuôi chưa đủ cung cấp cho việc nuôi heo, gia đình vẫn phải mua thêm ở ngoài chợ Vẫn phải dùng thêm phân bò cho Bưởi và Chôm chôm vì nguồn phân heo chưa đủ Ngoài ra cũng dùng phân hóa học như NPK bón cho Bưởi, Chôm chôm 4 lần/năm, mỗi lần 0,5 kg/cây

- Cơ cấu các loài sinh vật trong vườn Bưởi - Quất – Chôm chôm:

Bảng 3.8 Cơ cấu các loài sinh vật trong vườn Bưởi - Quất – Chôm chôm

Tên cây, con Diện tích

m2

Bưởi 5.000 100 cây Đang thu hoạch

Chôm chôm 2.000 250 cây Đang ra hoa

Quất (bán Tết) 1.000 500 cây Chuẩn bị xuất

Khoai lang 100 2 khóm Bờ mương

Rau muống 500 m2 Lòng ao cạn, lòng mương cạn

rào, dọc theo đường đi từ cổng vào nhà

cách đường với khu nhà, vườn

Ngày đăng: 19/02/2014, 10:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1.  Sơ đồ một hệ sinh thái - nghiên cứu hệ sinh thái vườn nhà ở thị xã đồng xoài, tỉnh bình phước và đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững
Hình 1.1. Sơ đồ một hệ sinh thái (Trang 5)
Hình 2.1. Bản đồ thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (tỉ lệ 1/25.000) - nghiên cứu hệ sinh thái vườn nhà ở thị xã đồng xoài, tỉnh bình phước và đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững
Hình 2.1. Bản đồ thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (tỉ lệ 1/25.000) (Trang 12)
Hình 3.3. Lát cắt đứng từ trước ra sau một vườn nhà thuần loại - nghiên cứu hệ sinh thái vườn nhà ở thị xã đồng xoài, tỉnh bình phước và đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững
Hình 3.3. Lát cắt đứng từ trước ra sau một vườn nhà thuần loại (Trang 25)
Hình 3.4. Vườn Điều trồng xen Đậu xanh - nghiên cứu hệ sinh thái vườn nhà ở thị xã đồng xoài, tỉnh bình phước và đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững
Hình 3.4. Vườn Điều trồng xen Đậu xanh (Trang 26)
Hình 3.7. Vườn Quýt trồng xen Cà tím - nghiên cứu hệ sinh thái vườn nhà ở thị xã đồng xoài, tỉnh bình phước và đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững
Hình 3.7. Vườn Quýt trồng xen Cà tím (Trang 27)
Bảng 3.7. Năng suất và thu nhập hàng năm của vườn Nhãn - nghiên cứu hệ sinh thái vườn nhà ở thị xã đồng xoài, tỉnh bình phước và đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững
Bảng 3.7. Năng suất và thu nhập hàng năm của vườn Nhãn (Trang 32)
Hình 3.10. Vườn Nhãn ở Tân Phú - nghiên cứu hệ sinh thái vườn nhà ở thị xã đồng xoài, tỉnh bình phước và đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững
Hình 3.10. Vườn Nhãn ở Tân Phú (Trang 33)
Bảng 3.11. Năng suất và thu nhập từ vườn Xoài ở Tân Xuân - nghiên cứu hệ sinh thái vườn nhà ở thị xã đồng xoài, tỉnh bình phước và đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững
Bảng 3.11. Năng suất và thu nhập từ vườn Xoài ở Tân Xuân (Trang 37)
Hình 3.12. Vườn Xoài của anh Nguyễn Văn Chửng - nghiên cứu hệ sinh thái vườn nhà ở thị xã đồng xoài, tỉnh bình phước và đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững
Hình 3.12. Vườn Xoài của anh Nguyễn Văn Chửng (Trang 38)
Bảng 3.13. Thu nhập năm 2009 từ vườn Điều xen hoa cảnh - nghiên cứu hệ sinh thái vườn nhà ở thị xã đồng xoài, tỉnh bình phước và đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững
Bảng 3.13. Thu nhập năm 2009 từ vườn Điều xen hoa cảnh (Trang 39)
Hình 3.14. Vườn rau an toàn - nghiên cứu hệ sinh thái vườn nhà ở thị xã đồng xoài, tỉnh bình phước và đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững
Hình 3.14. Vườn rau an toàn (Trang 41)
Hình 3.18. Vườn Quýt đường của anh Trần Văn Bảo - nghiên cứu hệ sinh thái vườn nhà ở thị xã đồng xoài, tỉnh bình phước và đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững
Hình 3.18. Vườn Quýt đường của anh Trần Văn Bảo (Trang 48)
Bảng 3.24. Cơ cấu loài trong vườn Cam – Bưởi ở Tiến Thành - nghiên cứu hệ sinh thái vườn nhà ở thị xã đồng xoài, tỉnh bình phước và đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững
Bảng 3.24. Cơ cấu loài trong vườn Cam – Bưởi ở Tiến Thành (Trang 50)
Hình 3.20. Biến động diện tích trồng cây công nghiệp trong thị xã Đồng Xoài. - nghiên cứu hệ sinh thái vườn nhà ở thị xã đồng xoài, tỉnh bình phước và đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững
Hình 3.20. Biến động diện tích trồng cây công nghiệp trong thị xã Đồng Xoài (Trang 57)
Hình 3.21.  Mô hình vườn trồng xen - nghiên cứu hệ sinh thái vườn nhà ở thị xã đồng xoài, tỉnh bình phước và đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững
Hình 3.21. Mô hình vườn trồng xen (Trang 63)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm