1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tình hình nợ công ở việt nam

24 314 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 826 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU- WB là một tổ chức quốc tế gồm có 5 cơ quan hoạt động tương đối độc lập với nhau gồm: i Hiệp hội Phát triển Quốc Tế IDA; ii Ngân hàng Quốc tế về Tái

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN

Nhóm sinh viên thực hiện: Giáo viên hướng dẫn:

Mai Chiếm Tuyến

Huế, tháng 04 năm 2017

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU 2

EURO GỌI LÀ ÂU KIM HAY ĐỒNG TIỀN CHUNG CHÂU ÂU LÀ ĐƠN VỊ TIỀN TỆ CỦA LIÊN MINH TIỀN TỆ CHÂU ÂU, LÀ TIỀN TỆ CHÍNH THỨC TRONG 18 QUỐC GIA THÀNH VIÊN CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU (ÁO, BỈ, BỒ ĐÀO NHA, ĐỨC, HÀ LAN, HY LẠP, IRELAND, LUXEMBOURG, PHÁP, PHẦN LAN, TÂY BAN NHA, Ý, SLOVENIA, MALTA, CỘNG HÒA SÍP 2

XDCB: XÂY DỰNG CƠ BẢN 2

NSNN: NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 2

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU 4

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 6

PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 8

CHƯƠNG I: NỢ CÔNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 8

CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM 11

CHƯƠNG 3: NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN NỢ CÔNG 18

PHẦN IV: GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐỂ GIẢM NỢ CÔNG TRONG THỜI GIAN TỚI 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO 24

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

- WB là một tổ chức quốc tế gồm có 5 cơ quan hoạt động tương đối độc lập với

nhau gồm: (i) Hiệp hội Phát triển Quốc Tế (IDA); (ii) Ngân hàng Quốc tế về Tái Thiết và Phát triển (IBRD); (iii) Công ty Tài chính Quốc Tế (IFC); (iv) Cơ quan Bảo lãnh Đầu tư Đa biên (MIGA); và (v) Trung tâm Quốc tế về xử lý tranh chấp Đầu tư

- ADB (The Asian Development Bank): Ngân hàng phát triển Châu Á

- JPY (YEN) : đơn vị tiền tệ của Nhật Bản

- SDR là một dạng tiền dự trữ quốc tế, được IMF tạo ra vào khoảng những năm

cuối của thập kỉ 60

- USD (tiếng Anh: United States dollar): đô la Mỹ hay còn được gọi ngắn là "đô

la" hay "đô", là đơn vị tiền tệ chính thức của Hoa Kỳ

- Euro gọi là Âu kim hay Đồng tiền chung châu Âu là đơn vị tiền tệ của Liên minh Tiền tệ châu Âu, là tiền tệ chính thức trong 18 quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu (Áo, Bỉ,

Bồ Đào Nha, Đức, Hà Lan, Hy Lạp, Ireland, Luxembourg, Pháp, Phần Lan, Tây Ban Nha, Ý, Slovenia, Malta, Cộng hòa

Síp.

- XDCB: Xây dựng cơ bản

- ODA (Official Development Assistance): Hỗ trợ phát triển chính thức, là một

hình thức đầu tư nước ngoài

- NSNN: Ngân sách nhà nước

Trang 5

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Đối với mỗi quốc gia, mỗi giai đoạn nhất định trong quá trình quản lý xã hội và nềnkinh tế, Nhà nước có lúc cần huy động nhiều hơn nguồn lực từ trong và ngoài nước Nóicách khác, khi các khoản thu truyền thống như thuế, phí, lệ phí không đáp ứng được nhucầu chi tiêu, Nhà nước phải quyết định vay nợ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụcủa mình và chịu trách nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó - thường được gọi là nợcông Tại Việt Nam, nợ công có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của đấtnước Là nguồn tài trợ hàng đầu cho đầu tư phát triển kinh tế của đất nước thông quangân sách Nhà nước và là nguồn cung cấp vốn đứng thứ 2 của nền kinh tế với tỷ trọngvốn 16 - 17% vốn đầu tư toàn xã hội Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cuộc khủnghoảng tài chính toàn cầu, nợ công khu vực đồng tiền chung châu Âu và những khó khănnội tại của nền kinh tế trong nước đã có ảnh hưởng nhất định đến tình hình nợ công củaViệt Nam cả về quy mô, cơ cấu, nghĩa vụ trả nợ và các chỉ số an toàn nợ công

Chính vì lẽ đó việc nghiên cứu vấn đề Nợ công ở Việt Nam trở nên hết sức quantrọng và có một vai trò vô cùng to lớn Được sự giúp đỡ nhiệt tình của Giảng viên MaiChiếm Tuyến, nhóm 01 xin được lựa chọn đề tài Nợ công ở Việt Nam để nghiên cứu Đềtài được bố cục làm bốn phần:

- Chương I: Tổng quan về vấn đề Nợ công ở Việt Nam

- Chương II: Tình hình Nợ công ở Việt Nam

- Chương III: Nguyên nhân dẫn đến Nợ công

- Chương IV: Giải pháp cơ bản để giảm Nợ công trong thời gian tới

Trang 6

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

I Lí do chọn đề tài

- Nợ công là một phần quan trọng và không thể thiếu trong tài chính của mỗi quốc gia

Từ những nước nghèo nhất ở Châu Phi đến những nước đang phát triển như Việt Nam,Campuchia hay những quốc gia giàu có với trình độ phát triển cao như Mĩ, Nhật, EU thìđều phải đi vay để phục vụ cho các nhu cầu chi tiêu và sử dụng của Chính phủ nhằm cácmục đích khác Nợ công cần phải được sử dụng hợp lý, hiệu quả và quản lý tốt, nếukhông thì khủng hoảng nợ công có thể xảy ra với bất cứ quốc gia nào tại bất cứ thời điểmnào và để lại những hậu quả nghiêm trọng Trong bối cảnh nước ta đang thực hiện kếhoạch tái cấu trúc nền kinh tế quốc dân, vấn đề nợ công cần được đặt ra và giải quyết mộtcách sáng suốt, thỏa đáng, vì tương lai phát triển của nền kinh tế và của đất nước Theothống kê của Uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia thì tổng nợ công của Việt Nam năm

2011 là 54,9% đến cuối năm 2015 thì tỷ lệ này tăng lên 62,2% Tốc độ tăng nhanh nhưvậy là một điều đáng báo động với một nền kinh tế nhỏ, đang phát triển, phụ thuộc nhiềuvào xuất khẩu nông sản và sản phẩm ngành công nghệ nhẹ như nước ta Từ thực trạng đóđặt ra nhiều câu hỏi: Tình hình nợ công và quản lý nợ công ở Việt Nam trong 5 năm trởlại đây như thế nào? Những điểm đạt được và những hạn chế cần khắc phục ra sao để từ

đó đưa ra những giải pháp và đề xuất nhằm quản lí có hiệu quả nợ công ở Việt Nam? Đócũng là những nội dung chính sẽ được đề cập trong bài thuyết trình của nhóm 01: “Tìnhhình nợ công ở Việt Nam”

II Mục tiêu nghiên cứu

Phân tích, đánh giá tình hình nợ công cũng như mức độ an toàn nợ công của Việt Namtrong gia đoạn 2011 đến 2015, qua đó đề xuất các giải pháp đảm bảo an toàn nợ nướcngoài tại Việt Nam trong giai đoạn tới

- Các lý luận cơ bản về nợ công và quản lý nợ công

- Đánh giá thực trạng nợ công Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015

- Đề ra một số giải pháp cơ bản đảm bảo an toàn nợ nước ngoài của Việt Nam trong giaiđoạn sắp tới

Trang 7

III Phương pháp nghiên cứu

- Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá các chỉ số an toàn nợ trong mốiquan hệ với các biến số vĩ mô Từ đó làm rõ thực trạng nợ công của Việt Nam

- Sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu về tình hình nợ công ở Việt Nam vớitình hình nợ nước ngoài của các nước khác

- Phương pháp dự báo tính đến các rủi ro như lãi suất, tỷ giá,… của những năm sắp tới đểđánh giá an toàn nợ công của Việt Nam trong giai đoạn tới

IV Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: nợ công tại Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Thời gian từ năm 2011 đến năm 2015

Trang 8

PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I: NỢ CÔNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

I Khái quát về vấn đề Nợ công

1.1 Khái niệm về Nợ công

Nợ chính phủ, còn gọi là Nợ công hoặc Nợ quốc gia, là tổng giá trị các khoản tiền màchính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay Việc đi vay này là nhằmtài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách nên nói cách khác, nợ chính phủ là thâm hụtngân sách luỹ kế đến một thời điểm nào đó

1.2 Phân loại nợ công

Có nhiều tiêu chí để phân loại nợ công, mỗi tiêu chí có một ý nghĩa khác nhau trong việcquản lý và sử dụng nợ công

- Theo tính chất nợ, Luật Quản lý Nợ công số 29/2009/QH12, Nợ công được quy địnhtrong Luật này bao gồm Nợ chính phủ, Nợ được Chính phủ bảo lãnh và Nợ chính quyềnđịa phương, trong đó:

+ Nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài, được kýkết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do

Bộ Tài chính ký kết, phát hành, ủy quyền phát hành theo quy định của pháp luật Nợchính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằmthực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ

Trang 9

+ Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụngvay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh.

+ Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộctrung ương (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) ký kết, phát hành hoặc ủyquyền phát hành

- Theo tiêu chí nguồn gốc địa lý của vốn vay, nợ công gồm 2 loại: nợ trong nước và nợnước ngoài

+ Nợ trong nước là nợ công mà bên cho vay là cá nhân, tổ chức Việt Nam

+ Nợ nước ngoài là nợ công mà bên cho vay là Chính phủ nước ngoài, vùng lãnh thổ, tổchức tài chính quốc tế, tổ chức và cá nhân nước ngoài

Như vậy, theo pháp luật Việt Nam, nợ nước ngoài không được hiểu là nợ mà bên cho vay

là nước ngoài, mà là toàn bộ các khoản nợ công không phải là nợ trong nước

Việc phân loại nợ trong nước và nợ nước ngoài có ý nghĩa quan trọng trong quản lý nợ.Việc phân loại này về mặt thông tin sẽ giúp xác định chính xác hơn tình hình cán cânthanh toán quốc tế Và ở một số khía cạnh, việc quản lý nợ nước ngoài còn nhằm đảmbảo an ninh tiền tệ của Nhà nước Việt Nam, vì các khoản vay nước ngoài chủ yếu bằngngoại tệ tự do chuyển đổi hoặc các phương tiện thanh tiện quốc khác

- Theo thời hạn nợ: Nợ ngắn hạn (từ 1 năm trở xuống), nợ trung hạn (từ 1 năm đến 10năm) và nợ dài hạn (trên 10 năm)

- Theo phương thức huy động vốn, thì nợ công có hai loại là nợ công từ thỏa thuận trựctiếp và nợ công từ công cụ nợ

+ Nợ công từ thỏa thuận trực tiếp là khoản nợ công xuất phát từ những thỏa thuận vaytrực tiếp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cá nhân, tổ chức cho vay Phương thứchuy động vốn này xuất phát từ những hợp đồng vay, hoặc ở tầm quốc gia là các hiệpđịnh, thỏa thuận giữa Nhà nước Việt Nam với bên nước ngoài

+ Nợ cồn từ công cụ nợ là khoản nợ công xuất phát từ việc cơ quan nhà nước có thẩmquyền phát hành các công cụ nợ để vay vốn Các công cụ nợ này có thời hạn ngắn hoặcdài, thương có tính vô danh và khả năng chuyển nhượng trên thị trường tài chính

Trang 10

- Theo tính chất ưu đãi của khoản vay làm phát sinh nợ công thì nợ công có ba loại là nợcông từ vốn vay ODA, nợ công từ vốn vay ưu đãi và nợ công thương mại thông thường.

- Theo trách nhiệm đối với chủ nợ thì nợ công được phân loại thành nợ công phải trả và

nợ công bảo lãnh Nợ công phải trả là các khoản nợ mà Chính phủ, chính quyền địaphương có nghĩa vụ trả nợ Nợ công bảo lãnh là khoản nợ mà Chính phủ có trách nhiệmbảo lãnh cho người vay nợ, nếu bên vay không trả được nợ thì Chính phủ sẽ có nghĩa vụtrả nợ

- Theo cấp quản lý nợ thì nợ công được phân loại thành nợ công của trung ương và nợcông của chính quyền địa phương Nợ công của trung ương là các khaorn nợ của Chínhphủ, nợ do Chính phủ bảo lãnh Nợ công của địa phương là các khoản nợ công mà chínhquyền địa phương là bên vay nợ và có nghĩa vụ trực tiếp trả nợ Theo quy định của LuậtNgân sách nhà nước năm 2002 thì những khoản vay nợ của chính quyền địa phươngđược coi là nguồn ngân sách và được đưa vào cân đối, nên về bản chất nợ công của địaphương được Chính phủ đảm bảo chi trả thông qua khả năng bổ cung từ ngân sách trungương

I.3 Các chủ nợ lớn nhất của Việt Nam

- Các chủ nợ lớn nhất của Việt Nam năm 2012 là Nhật Bản (34,5% tổng nợ), WB(28,8%) hay ABD (15,5%) và Đức (9,8%) Như vậy, phần lớn nợ nước ngoài củaViệt Nam chủ yếu định giá bằng các động tiền mạnh như JPY, SDR, USD vàEUR

Trang 11

Biểu đồ 1: Cơ cấu chủ nợ nước ngoài của Việt Nam năm 2012

- Điều đáng ngại là, việc phụ thuộc lớn vào USD, trong khi thương mại và vay nợphụ thuộc vào đồng tiền các nước khác với tỉ trọng cao hơn khiến cho tỷ giá songphương giữa Việt Nam và các nước bạn hàng lớn bị ảnh hưởng trong quan hệthương mại và đầu tư, không phản ánh được đúng tương quan kinh tế giữa ViệtNam và các nước bạn hàng

CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM

I Về quy mô nợ công

Theo Bản tin tài chính số 4 năm 2016, chỉ trong vòng 6 năm (2010-2015), nợ công

Việt Nam đã tăng gấp 3 lần Đến cuối năm 2015, về số tuyệt đối, dư nợ công lên đến2.608 nghìn tỷ đồng; về số tương đối, tỷ lệ nợ công/GDP ở mức 62,2%, áp sát ngưỡngkiểm soát 65% của Quốc hội (Bảng 1)

Bảng 1: Gánh nặng nợ công Việt Nam giai đoạn 2010-2015

1 Dư nợ công (1.000 tỷ đồng) 889 1.093 1.279 1.528 1.826 2.608

2 Nợ công/GDP (%) 56,3 54,9 50,8 54,5 58 62,2

Trang 12

(Nguồn : Bản tin nợ công số 4, Bộ Tài chính)

Theo nhiều chuyên gia, quy mô nợ công thực tế có thể cao hơn so với mức công

bố do cách thức xác định nợ công của Việt Nam và một số tổ chức quốc tế có sự khácbiệt Cụ thể, nợ công theo tiêu chuẩn Việt Nam dựa trên nguyên tắc: Trách nhiệm thanhtoán thuộc về chủ thể đi vay; còn nợ công theo tiêu chuẩn quốc tế được xác định trên cơsở: Chủ sở hữu thực sự hay pháp nhân đứng sau chủ thể đi vay phải có trách nhiệm thanhtoán Theo đó, nợ công theo tiêu chuẩn quốc tế sẽ bằng nợ công theo tiêu chuẩn Việt Namcộng với nợ của: Ngân hàng Nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước, tổ chức bảo hiểm xãhội và an sinh xã hội và một số địa phương

Theo thông lệ quốc tế, ngưỡng nợ công tối ưu (nhằm đảm bảo nợ công là động lựcgiúp tăng trưởng kinh tế) thông thường cho các nước phát triển là 90%, các nước đangphát triển có nền tảng tốt là 60% và có nền tảng kém là 30 - 40% Vì vậy, mức ngưỡng nợcông/GDP được Quốc hội đề ra 65% là phù hợp với thông lệ quốc tế; và việc vượtngưỡng tối ưu có thể tiềm ẩn rủi ro

Nếu chỉ số nợ công/GDP của một quốc gia thể hiện quy mô nợ công so với quy

mô của nền kinh tế thì chỉ số nợ công trên bình quân đầu người thể hiện trung bình mỗingười dân của quốc gia này đang gánh bao nhiêu nợ (Biểu đồ 2)

Trang 13

Bi u đ 2 ể ồ : N công bình quân đ u ng ợ ầ ườ ủ i c a Vi t Nam giai đo n 2006- ệ ạ

2015

(Nguồn: Economist Intelligence Unit, Vietdata tổng hợp)

Tính đến khoảng tháng 11/2015, nợ công bình quân đầu người ở Việt Nam xấp xỉ1.000 USD Xét về chỉ tiêu nợ công bình quân đầu người thì Việt Nam ở mức khá thấp sovới một số quốc gia khác trong khu vực Asean Cũng số liệu năm 2015, nước có chỉ số nợcông bình quân đầu người cao nhất là Singapore với 56.000 USD, tiếp theo là Malaysia7.696,9 USD, Thái Lan 3.450,8 USD Việt Nam, Indonesia, Philippines có chỉ số nợ bìnhquân đầu người năm 2015 xấp xỉ khoảng 1.000 USD Thật vậy, trong khối ASEAN,tương tự như Việt Nam, các nước Malaysia, Philippines và Thái Lan đều duy trì tỷ lệ nợcông/GDP ở mức 45%-60% Cá biệt có trường hợp của Singapore có tỷ lệ nợ công/GDPrất cao ( gần 94% năm 2015) và Indonesia với tỷ lệ nợ công/GDP rất thấp (khoảng 25%-26%) Theo đó, quy mô nợ công ở Singapore rất cao với khối nợ trên 278 tỷ USD (Biểu

đồ 3)

Trang 14

Bi u đ 3: N công bình quân đ u ng ể ồ ợ ầ ườ i m t s n ộ ố ướ c Đông Nam Á giai

(Nguồn: Economist Intelligence Unit, Vietdata tổng hợp)

II Về cơ cấu và kì hạn nợ công

Theo khoản 2, Điều 1 Luật Quản lý nợ công số 29/2009/QH12, nợ công của Việt

Nam bao gồm: nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ chính quyền địa phương,trong đó, nợ chính phủ bao gồm nợ trong nước và nợ nước ngoài

Trang 15

Biểu đồ 4: Cơ cấu nợ công Việt Nam năm 2015

Nguồn: Bộ Tài chính

Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) có nhận định rằng, cơ cấu

nợ công của Việt Nam hiện đang từng bước được điều chỉnh theo hướng bền vững hơn

Cụ thể, trong cơ cấu nợ Chính phủ, tỷ trọng nợ trong nước đang có xu hướng tăng từ 39%năm 2011 lên 57% năm 2015 và tỷ trọng nợ nước ngoài giảm tương ứng từ 61% năm

2011 xuống còn 43% năm 2015 Tỷ trọng này là phù hợp với Chiến lược nợ công và nợnước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011-2020 tầm nhìn đến 2030

Về kỳ hạn, với nợ trong nước, chủ yếu phát hành trái phiếu trong nước, nếu trong

giai đoạn 2011-2013 phần lớn ngắn hạn thì đến năm 2014 kỳ hạn là 3 năm; năm 2015, kỳhạn kéo dài lên 4,4 năm và 6 tháng đầu năm 2016 thì kỳ hạn kéo dài lên 5 năm

Mức lãi suất phát hành trái phiếu Chính phủ trên thị trường vốn trong nước bình

quân giảm từ mức 12%/năm vào năm 2011 xuống còn khoảng 6,5% vào năm 2014 vàkhoảng 6% vào năm 2015

Đối với nợ nước ngoài, vay ODA, vay ưu đãi vẫn chiếm tỷ trọng cao (trên 94%)với kỳ hạn còn lại bình quân trên 10 năm, lãi suất bình quân tính đến cuối năm 2015khoảng 2%/năm

Cơ cấu đồng tiền của danh mục nợ của Chính phủ tập trung vào một số đồng tiền chínhbao gồm: đồng Việt Nam với tỷ trọng 55%; USD chiếm tỷ trọng 16%; JPY chiếm tỷ

Ngày đăng: 28/08/2017, 23:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w