Như vậy, chuyển giá là một hành vi do các chủ thể kinh doanh thực hiện nhằm thay đổi giá trị trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ với các bên liên kết.. Thứ ba, việc quyết định chính
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
CHUYỂN GIÁ
GVHD : PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng NHÓM : 7
LỚP : TCDN Đêm 4 – K21
TP.HCM, tháng 11.2012
Trang 3PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN GIÁ 2
1.1 Khái niệm 2
1.2 Nguyên nhân dẫn tới chuyển giá 4
1.3 Phạm vi chuyển giá 4
1.4 Tác động của chuyển giá 5
1.4.1 Đối với các công ty đa quốc gia 5
1.4.2 Đối với các quốc gia tiếp nhận dòng vốn đầu tư 6
1.4.3 Đối với các quốc gia xuất khẩu đầu tư 6
1.5 Các phương thức chuyển giá phổ biến 7
PHẦN II: CHUYỂN GIÁ TẠI VIỆT NAM 10
2.1 Thực trạng hoạt động chuyển giá tại Việt Nam 10
2.1.1 Tình hình thu hút FDI của Việt Nam thời gian qua 10
2.1.2 Thực trạng chung về hoạt động chuyển giá tại Việt Nam 11
2.2 Một số hình thức chuyển giá tiêu biểu tại Việt Nam 13
2.2.1 Chuyển giá qua khâu xác định giá trị vốn góp trong các liên doanh 13
2.2.2 Chuyển giá thông qua chuyển giao công nghệ 14
2.2.3 Chuyển giá nhằm mục đích chiếm lĩnh thị trường 15
2.2.4 Chuyển giá thông qua chênh lệch thuế suất 17
2.3 Đánh giá hoạt động chống chuyển giá tại Việt Nam 18
Trang 42.3.2 Những khó khăn và bất cập trong công tác chống chuyển giá tại Việt Nam
20
a Khó khăn 20
b Bất cập trong quản lý 21
PHẦN III ĐỂ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỐNG CHUYỂN GIÁ Ở VIỆT NAM 23
3.1 Đối với cơ quan thuế 23
3.1.1 Biện pháp hành chính 23
3.1.2 Biện pháp cưỡng chế 23
3.2 Đối với nhà nước: 25
3.2.1 Hoàn thiện văn bản hệ thống pháp luật về chống chuyển giá 25
3.2.2 Nâng cao hiệu quả của hệ thống quản lý nhà nước 26
3.2.3 Xây dựng cơ sở dữ liệu giá cả cho các giao dịch 27
3.2.4 Nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ của cán bộ quản lý khu vực đầu tư nước ngoài 28
Trang 51
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó rõ nhất là trong lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực thông tin Xét riêng trong lĩnh vực kinh tế, toàn cầu hóa là cách hiệu quả giúp cho các nước chậm tiến thực hiện con đường phát triển rút ngắn và từng bước đuổi kịp các nước kinh tế phát triển Tuy nhiên, bên cạnh đó, nó còn đem lại nhiều vấn đề tiêu cực, điển hình là việc trốn thuế của các công ty đa quốc gia thông qua hoạt động chuyển giá Hầu hết các doanh nghiệp FDI đều khai báo kinh doanh thua lỗ nhưng thực tế vẫn có khoản lợi nhuận chuyển về công ty mẹ
Trước tình hình đó, và theo Bộ trưởng tài chính Vũ Văn Ninh đánh giá trong phiên họp Quốc hội Việt Nam ngày 05 tháng 10 năm 2008 là tình hình chuyển giá “không kiểm soát được”, thì việc nghiên cứu để tìm giải pháp kiểm soát hoạt động chuyển giá là cấp thiết, khi mà luồng vốn FDI đổ vào Việt Nam ngày càng nhiều
Vì vậy, nhóm đã tiến hành tìm hiểu và phân tích cơ sở lí thuyết, thực trạng và những giải pháp để góp phần hạn chế tình hình chuyển giá ở Việt Nam trong giai đoạn
mở cửa hội nhập hiện nay Trong quá trình phân tích có những sai sót mong được sự góp
ý của thầy Nhóm xin chân thành tiếp nhận ý kiến đóng góp để hoàn thiện bài nghiên cứu
Trang 6Như vậy, chuyển giá là một hành vi do các chủ thể kinh doanh thực hiện nhằm thay đổi giá trị trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ với các bên liên kết Hành vi ấy có đối tượng tác động chính là giá cả Sở dĩ giá cả có thể xác định lại trong những giao dịch như thế xuất phát từ ba lý do sau:
Thứ nhất, xuất phát từ quyền tự do định đoạt trong kinh doanh, các chủ thể hoàn toàn
có quyền quyết định giá cả của một giao dịch Do đó họ hoàn toàn có quyền mua hay bán hàng hóa, dịch vụ với giá họ mong muốn
Thứ hai, xuất phát từ mối quan hệ gắn bó chung về lợi ích giữa nhóm liên kết nên sự
khác biệt về giá giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể kinh doanh có cùng lợi ích không làm thay đổi lợi ích toàn cục
Thứ ba, việc quyết định chính sách giá giao dịch giữa các thành viên trong nhóm liên
kết không thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể làm thay đổi tổng nghĩa vụ thuế của
họ Thông qua việc định giá, nghĩa vụ thuế được chuyển từ nơi bị điều tiết cao sang nơi
bị điều tiết thấp hơn và ngược lại Tồn tại sự khác nhau về chính sách thuế của các quốc gia là điều không tránh khỏi do chính sách kinh tế - xã hội của họ không thể đồng nhất, cũng như sự hiện hữu của các quy định ưu đãi thuế là điều tất yếu Chênh lệch mức độ điều tiết thuế vì thế hoàn toàn có thể xảy ra
Cho nên, chuyển giá chỉ có ý nghĩa đối với các giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể có mối quan hệ liên kết Để làm điều này họ phải thiết lập một chính sách về giá mà ở
đó giá chuyển giao có thể được định ở mức cao hay thấp tùy vào lợi ích đạt được từ những giao dịch như thế Chúng ta cần phân biệt điều này với trường hợp khai giá giao dịch thấp đối với cơ quan quản lý để trốn thuế nhưng đằng sau đó họ vẫn thực hiện thanh
Trang 7Nhóm 7 – Lớp TCDN Đêm 4.K21 3
toán đầy đủ theo giá thỏa thuận Trong khi đó nếu giao dịch bị chuyển giá, họ sẽ không phải thực hiện vế sau của việc thanh toán trên và thậm chí họ có thể định giá giao dịch cao Các đối tượng này nắm bắt và vận dụng được những quy định khác biệt về thuế giữa các quốc gia, các ưu đãi trong quy định thuế để hưởng lợi có vẻ như hoàn toàn hợp pháp Như thế, vô hình chung, chuyển giá đã gây ra sự bất bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa
vụ thuế do xác định không chính xác nghĩa vụ thuế, dẫn đến bất bình đẳng về lợi ích, tạo
ra sự cách biệt trong ưu thế cạnh tranh
Tuy vậy, thật không đơn giản để xác định một chủ thể đã thực hiện chuyển giá Vấn
đề ở chỗ, nếu định giá cao hoặc thấp mà làm tăng số thu thuế một cách cục bộ cho một nhà nước thì cơ quan có thẩm quyền nên định lại giá chuyển giao Chẳng hạn, giá mua đầu vào nếu được xác định thấp, điều đó có thể hình thành chi phí thấp và hệ quả là thu nhập trước thuế sẽ cao, kéo theo thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế TNDN) tăng; hoặc giả như giá xuất khẩu định cao cũng làm doanh thu tăng và kết quả là cũng làm tăng số thuế
mà nhà nước thu được Nhưng cần hiểu rằng điều đó cũng có nghĩa rằng nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp liên kết ở đầu kia có khả năng đã giảm xuống do chuyển một phần nghĩa vụ của mình qua giá sang doanh nghiệp liên kết này
Hành vi này chỉ có thể được thực hiện thông qua giao dịch của các chủ thể có quan hệ liên kết Biểu hiện cụ thể của hành vi là giao kết về giá Nhưng giao kết về giá chưa đủ để kết luận rằng chủ thể đã thực hiện hành vi chuyển giá Bởi lẽ nếu giao kết đó chưa thực hiện trên thực tế hoặc chưa có sự chuyển dịch quyền đối với đối tượng giao dịch thì không có cơ sở để xác định sự chuyển dịch về mặt lợi ích Như vậy, ta có thể xem chuyển giá hoàn thành khi có sự chuyển giao đối tượng giao dịch cho dù đã hoàn thành nghĩa vụ thanh toán hay chưa
Giá giao kết là cơ sở để xem xét hành vi chuyển giá Chúng ta cũng chỉ có thể đánh giá một giao dịch có chuyển giá hay không khi so sánh giá giao kết với giá thị trường Nếu giá giao kết không tương ứng với giá thị trường thì có nhiều khả năng để kết luận rằng giao dịch này có biểu hiện chuyển giá
Ví dụ chuyển giá từ bên ngoài, qua giá thiết bị, máy móc, giá nguyên liệu và hợp thức từ công ty mẹ chuyển sang
Trang 8Nhóm 7 – Lớp TCDN Đêm 4.K21 4
Báo cáo quyết toán ngân sách năm 2009 của Chính phủ cùng kết quả kiểm toán cho thấy giữa dự toán và quyết toán còn khoảng cách lớn Chẳng hạn dự toán thu từ dầu thô
có 63.400 tỷ đồng nhưng thực thu tới hơn 83.300 tỷ đồng, vượt 31,6%
1.2 Nguyên nhân dẫn tới chuyển giá
Khi các quan hệ kinh tế được thiết lập đa dạng, có sự liên kết, phối hợp giữa các chủ thể kinh doanh, thì việc xác định lợi ích kinh tế đã vượt ra ngoài phạm vi của một chủ thể riêng lẻ, mà được tính trong lợi ích chung của cả tập đoàn hay nhóm liên kết Với môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, câu hỏi làm sao để lợi ích tổng thể đạt tối ưu luôn được đặt ra với các chủ thể kinh doanh Chuyển giá được xem là một lời giải cho bài toán lợi ích mà ở đó nhà đầu tư không cần thêm vốn hay mở rộng sản xuất Đơn giản vì phương cách này giúp họ giảm tổng nghĩa vụ thuế Từ đó lợi nhuận sau thuế sẽ gia tăng Tuy nhiên vấn đề chuyển giá ở Việt Nam còn hết sức mới mẻ Trong xu thế mở rộng cửa chào đón các tập đoàn kinh tế quốc tế, phát huy nội lực với các công ty cha - mẹ - anh - chị - em , thì chuyển giá sẽ là công cụ dễ được các chủ thể kinh doanh sử dụng nhằm thay đổi những nghĩa vụ thuế phải thực hiện với nhà nước Sự mới mẻ và chứa đựng những hấp dẫn về lợi ích kinh tế của chuyển giá là điều được các nhà quản lý lưu tâm, được các chủ thể kinh doanh, người hoạch định chiến lược tài chính của doanh nghiệp lên chương trình hành động cho mình
1.3 Phạm vi chuyển giá
Chuyển giá với ý nghĩa chuyển giao giá trị trong quan hệ nội bộ nên hành vi phải được xem xét trong phạm vi giao dịch của các chủ thể liên kết Điều 9 Công ước mẫu của OECD về định giá chuyển giao ghi nhận “Hai doanh nghiệp được xem là liên kết (associated enterprises) khi:
Một doanh nghiệp tham gia vào quản lý, điều hành hay góp vốn vào doanh nghiệp kia một cách trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc qua trung gian;
Hai doanh nghiệp có cùng một hoặc nhiều người hay những thực thể (entities) khác tham gia quản lý, điều hành hay góp vốn một cách trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc thông qua trung gian
Trang 9Nhóm 7 – Lớp TCDN Đêm 4.K21 5
Yếu tố quản lý, điều hành hay góp vốn chính là điều kiện quyết định sự ảnh hưởng, sự giao hòa về mặt lợi ích của các chủ thể này nên cũng là cơ sở để xác định mối quan hệ liên kết Tính chất của những biểu hiện này không mang tính quyết định Như thế các doanh nghiệp liên kết có thể được hình thành trong cùng một quốc gia hoặc có thể ở nhiều quốc gia khác nhau Từ đó, chuyển giá không chỉ diễn ra trong các giao dịch quốc
tế mà có thể cả trong những giao dịch quốc nội
Trên thực tế, chuyển giá thường được quan tâm đánh giá đối với các giao dịch quốc tế hơn do sự khác biệt về chính sách thuế giữa các quốc gia được thể hiện rõ hơn Trong khi
đó, do phải tuân thủ nguyên tắc đối xử quốc gia nên các nghĩa vụ thuế hình thành từ các giao dịch trong nước ít có sự cách biệt Vì thế, phần lớn các quốc gia hiện nay thường chỉ quy định về chuyển giá đối với giao dịch quốc tế.1 Theo đó, giao dịch quốc tế được xác định là giao dịch giữa hai hay nhiều doanh nghiệp liên kết mà trong số đó có đối tượng tham gia là chủ thể không cư trú (non-residents).2 Sự khác biệt chính yếu nằm ở sự cách biệt về mức thuế suất thuế TNDN của các quốc gia Một giá trị lợi nhuận chuyển qua giá
từ doanh nghiệp liên kết cư trú tại quốc gia có thuế suất cao sang doanh nghiệp liên kết ở quốc gia có thuế suất thấp Ngược lại một lượng chi phí tăng lên qua giá mua sẽ làm giảm thu nhập cục bộ ở quốc gia có thuế suất thuế thu nhập cao Trong hai trường hợp đều cho
ra những kết quả tương tự là làm tổng thu nhập sau thuế của toàn bộ nhóm liên kết tăng lên
Khía cạnh khác, các giao dịch trong nước có thể hưởng lợi từ chế độ ưu đãi, miễn giảm thuế Thu nhập sẽ lại dịch chuyển từ doanh nghiệp liên kết không được hưởng ãi hoặc ưu đãi với tỉ lệ thấp hơn sang doanh nghiệp liên kết có lợi thế hơn về điều này
1.4 Tác động của chuyển giá
1.4.1 Đối với các công ty đa quốc gia
Tác động tích cực
Được hưởng lợi từ chính sách ưu đãi đầu tư (như thuế suất, lĩnh vực đầu tư…) tạo điều kiện cho các công ty đa quốc gia dễ dàng trong việc thực hiện giảm thiểu trách nhiệm ở quốc gia các công ty đa quốc gia đang đầu tư
Trang 10hơn của các cơ quan thuế ở những nước mà các công ty đa quốc gia đi đầu tư sau đó
1.4.2 Đối với các quốc gia tiếp nhận dòng vốn đầu tư
Đối với các quốc gia được coi là thiên đường về thuế, họ là người được hưởng lợi từ hoạt động chuyển giá trong ngắn hạn, nhưng trong dài hạn, họ phải đương đầu với các khó khăn tài chính khi các công ty đa quốc gia thoái vốn do các thu nhập không bền vững trước đây trong ngắn hạn không phản ánh chính xác sức mạnh của nền kinh tế
Với việc thực hiện hành vi chuyển giá và thao túng thị trường, chính phủ các nước tiếp nhận đầu tư sẽ khó khăn hơn trong việc hoạch định chính sách điều tiết nền kinh
tế vĩ mô và khó khăn trong việc thúc đẩy các ngành sản xuất trong nước phát triển
Hoạt động chuyển giá sẽ phá vỡ cán cân thanh toán quốc tế và các kế hoạch kinh tế của các quốc gia tiếp nhận đầu tư, chính vì thế nếu không kiểm soát tốt sẽ dễ dẫn tới
lệ thuộc vào nền kinh tế của chính quốc, về lâu dài có thể dẫn tới lệ thuộc về chính trị
1.4.3 Đối với các quốc gia xuất khẩu đầu tư
Tác động tích cực
Nước xuất khẩu vốn thu được ngoại tệ nhiều hơn nhờ đó góp phần cải thiện cán cân thương mại, cán cân thanh toán quốc tế Sự hoạt động của các công ty mẹ tốt hơn về
Trang 11 Mục tiêu quản lý nền kinh tế vĩ mô ở các quốc gia này sẽ gặp một số khó khăn nhất định do việc các dòng vốn đầu tư dịch chuyển không theo ý muốn quản lý của chính phủ
1.5 Các phương thức chuyển giá phổ biến
Qua nghiên cứu thực tế thì nhận thấy các MNC thường áp dụng các phương thức chuyển giá sau:
Chuyển giá thông qua việc mua bán nguyên vật liệu sản xuất, bán thành phẩm hay thành phẩm Các thành viên của MNC có trụ sở tại các quốc gia có thuế suất thuế TNDN cao sẽ mua vào các nguyên vật liệu, bán thành phẩm hay thành phẩm với giá cao và bán
ra cho các công ty thành viên với giá thấp nhằm tối thiểu hóa thuế TNDN Giá mua vào
và giá bán ra cho các thành viên trong MNC bị áp đặt nhằm tối thiểu hóa thu nhập phải nộp thuế.Ngoài ra, thông qua việc xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa các MNC cũng thu lợi từ các biểu thuế xuất khẩu hay nhập khẩu nhằm tối đa hóa lợi nhuận sau thuế của MNC
Ví dụ:
Cụ thể, Thanh tra Cục Thuế phát hiện, từ tháng 1.2006 Bat-Vinataba ký hợp đồng với Cty Bat Marketing-Singapore (Bat MS) về cung cấp một số dịch vụ hỗ trợ như: Quản lý cấp loại, chất lượng và tính ổn định của nguyên liệu thuốc lá; kế hoạch nhu cầu và thay thế lá thuốc lá (bao gồm cả việc quản lý nguyên liệu lá thuốc và gia liệu từ nhà cung cấp trong nội bộ Tập đoàn Bat hay các bên cung cấp thứ ba) Duy trì công thức pha trộn Giá
cả chi phí được thanh toán là: 0,25USD/1 kg thuốc lá sợi để sản xuất các loại thuốc lá mang nhãn hiệu BAT 9 trong 2 năm đầu) và 0,50USD/kg cho các năm tiếp theo
Bat-Vinataba đã hoạch toán chi phí này vào giá vốn hàng bán để giảm thu nhập chịu thuế thu nhập DN trong 4 năm (từ năm 2002 đến 2008) tổng cộng hơn 217 tỉ đồng Nhưng Cty đã không chứng minh được các chứng từ thể hiện Bat-MS đã thực hiện các
Trang 12Nhóm 7 – Lớp TCDN Đêm 4.K21 8
dịch vụ này Đồng thời khoản chi phí này đã làm gia tăng thêm khoản chi cho nhà cung cấp nguyên liệu nước ngoài là Bat-MS ngoài giá bán nguyên liệu thuốc lá nhập khẩu Đây là khoản Cty cố tình chuyển thu nhập từ Cty chịu thuế suất cao sang Cty liên kết có thu nhập chịu thuế suất thấp ở nước ngoài, nên không thể chấp nhận là khoản chi phí hợp
lý.3
Chuyển giá thông qua các TSCĐ hữu hình như định giá thật cao các TSCĐ chuyển giao cho các công ty thành viên tại các quốc gia có thuế suất cao Giá chuyển giao được xác định cao hơn nhiều lần so với giá trị thật của tài sản đó Thông qua hoạt động chuyển giao tài sản này thì các MNC đã chuyển một phần thu nhập ra nước ngoài, các DN sẽ tăng chi phí khấu hao làm giảm thu nhập chịu thuế TNDN và dần thôn tính hết các tài sản này Vì vậy mà thu nhập chịu thuế sẽ bị giảm Khi thực hiện hành động này thì các MNC một mặt tiết kiệm được chi phí thanh lý các TSCĐ lỗi thời, một mặt lại chuyển được thu nhập về quốc gia có thuế suất thấp từ đó có thể tối đa hóa lợi nhuận của MNC
Ví dụ: Dây chuyền sản xuất bia của liên doanh BGI ở Tiền Giang do BGI định giá là
30,85 triệu USD, nhưng Công ty SGS thẩm định lại chỉ còn 23,55 triệu USD.4
Chuyển giá thông qua việc mua các TSCĐ vô hình với giá thật cao hay chi trả các chi phí bản quyền, các chi phí để xây dựng thương hiệu sản phẩm, các chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm Các MNC sẽ xây dựng các phòng nghiên cứu và phát triển sản phẩm tại các quốc gia có thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cao, tất cả các chi phí nghiên cứu phát triển sản phẩm sẽ do thành viên MNC tại quốc gia có thuế suất cao này gánh chịu Nhưng kết quả của việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm thì các thành viên khác vẫn được áp dụng như nhau Hoặc một chương trình quảng cáo nhằm xây dựng thương hiệu cho sản phẩm trên phạm vi khu vực, nhưng chi phí lại được phân bổ hết về cho thành viên có trụ sở tại quốc gia có thuế suất cao Các hoạt động trên đều nhằm tối thiểu hóa số thuế phải nộp và việc phân bổ chi phí trên hoàn toàn là hành động chủ quan của các nhà quản lý của MNC vì vậy đây cũng là hình thức chuyển giá Các thành viên trong
Trang 13Nhóm 7 – Lớp TCDN Đêm 4.K21 9
MNC có sự cung ứng các dịch vụ tài chính, tư vấn pháp lý với giá cả cao hơn nhiều lần
so với giá cả thị trường Cung cấp các khoản tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn với lãi suất cao hơn mức thị trường Có sự tài trợ liên quan đến các nguồn lực cơ bản như nhân sự, vật chất Các chi phí cho các chuyên gia tham gia tư vấn như các chi phí về tiền lương, chi phí nhà ở, đi lại, các chi phí khác phục vụ cho các chuyên gia yên tâm làm việc
Chuyển giá thông qua việc hỗ trợ tài chính: Qua thực tế kiểm tra cho thấy, đa phần các MNC ở Việt Nam vay vốn của các công ty mẹ ở nước ngoài với lãi suất rất cao Lãi suất tiền vay cao đồng nghĩa với việc giá thành cao, giảm lợi nhuận, thuế TNDN giảm Cũng có trường hợp, công ty mẹ ở nước ngoài đứng ra bảo lãnh cho MNC ở Việt Nam vay vốn với chi phí bảo lãnh rất cao
Trang 14Nhóm 10 – Lớp TCDN Đêm 1.K20 10
PHẦN II: CHUYỂN GIÁ TẠI VIỆT NAM
2.1 Thực trạng hoạt động chuyển giá tại Việt Nam
2.1.1 Tình hình thu hút FDI của Việt Nam thời gian qua
Với chủ trương mở cửa, hội nhập kinh tế thế giới, trong những năm qua, Việt Nam đã thực hiện nhiều chính sách ưu đãi đầu tư nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài Nhờ đó, các dự án đầu tư nước ngoài đã không ngừng tăng lên cả về số lượng lẫn quy mô, góp phần quan trọng thúc đẩy nền kinh tế đất nước tăng trưởng và phát triển
Biểu đồ 1: Tình hình thu hút FDI vào Việt Nam từ năm 1988 - 2012
Nguồn: Tổng cục Thống kê (1988 – 2010) – Cục Đầu tư nước ngoài (2011 – 2012) 5
Sau gần 25 năm kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài ra đời, Việt Nam đã đạt được nhiều thành công trong thu hút FDI Đỉnh điểm của giai đoạn này là năm 2008 với 64 tỷ USD vốn đăng ký đạt được6 Bước sang năm 2010 và 2011, lạm phát cao cũng như nền kinh tế tụt hạng năng lực cạnh tranh đã khiến nhà đầu tư bớt hứng thú đầu tư vào Việt Nam, năm
2011 tổng lượng vốn đăng ký chỉ đạt 14,7 tỷ USD Bảy tháng đầu năm 2012, vốn FDI đăng ký đạt 8,03 tỷ USD, bằng 66,9% so với cùng kỳ năm 2011.7
Lượng vốn FDI vào Việt Nam đã có nhiều đóng góp nổi bật trong quá trình phát triển đất nước Từ năm 2001 đến năm 2011, thông qua các loại thuế, các doanh nghiệp FDI đã nộp hơn 15,5 tỷ USD vào ngân sách nhà nước; tổng sản phẩm của doanh nghiệp FDI chiếm tới 20% GDP; trung bình mỗi năm từ 2000 đến 2010 giải quyết việc làm cho
Trang 15Nhóm 7 – Lớp TCDN Đêm 4.K21 11
khoảng hơn 1 triệu lao động Ngoài ra, FDI cũng giúp đẩy mạnh xuất khẩu (mặc dù tăng trưởng kinh tế chậm lại trong 6 tháng đầu 2012, với GDP chỉ tăng 4,38%, thấp hơn 1,25 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước, nhưng các doanh nghiệp FDI đã góp phần quan trọng làm tăng kim ngạch xuất khẩu thêm 22,2%8)
Như vậy, cho đến nay, không còn nghi ngờ gì nữa về vai trò quan trọng của FDI đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta Tuy nhiên, lý thuyết và thực tiễn đều cho thấy mục tiêu của FDI là lợi nhuận nên có nhiều khác biệt với các mục tiêu phát triển của nước chủ nhà Chính sự khác biệt này đã làm phát sinh nhiều vấn đề - mà nếu chúng ta không có những giải pháp phòng chống thì hiệu quả của dòng vốn FDI có thể sẽ không còn Một trong số đó là vấn đề chuyển giá
2.1.2 Thực trạng chung về hoạt động chuyển giá tại Việt Nam
Dấu hiệu nghi ngờ doanh nghiệp chuyển giá được nhìn nhận qua hai đặc điểm: doanh nghiệp lỗ mất vốn chủ sở hữu và doanh nghiệp liên tục lỗ trong nhiều năm nhưng vẫn tiếp tục mở rộng quy mô Tại Việt Nam, tình trạng các doanh nghiệp FDI mặc dù liên tục
kê khai kinh doanh thua lỗ nhưng lại đầu tư kinh doanh diễn ra rất phổ biến
Hơn 50% doanh nghiệp FDI kê khai lỗ trong nhiều năm qua
Theo thống kê về hoạt động khối doanh nghiệp FDI, khoảng 50% tổng số doanh nghiệp FDI đang hoạt động trên cả nước, trong đó nhiều doanh nghiệp kê khai lỗ liên tục trong 3 năm, thậm chí báo cáo lỗ suốt từ khi hoạt động đến nay Cụ thể, năm 2009, có 56% doanh nghiệp FDI báo cáo thua lỗ Con số này trong năm 2011 là 60% Tuy nhiên, trên thực tế, các doanh nghiệp này đều có công ty mẹ tại nước ngoài và hàng sản xuất ra 99% là xuất khẩu sang nước thứ ba.9
Thực trạng này diễn ra phổ biến ở hầu hết các địa phương thu hút FDI lớn, như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Bình Dương,… Điển hình tại Bình Dương, số doanh nghiệp FDI kê khai lỗ năm 2010 là 754/1.490 DN, chiếm tỷ trọng 50,6%, trong đó có tới 200 doanh nghiệp lỗ quá vốn chủ sở hữu; tại Đồng Nai, tỷ lệ số doanh nghiệp FDI kê khai lỗ lần lượt
là 52,2%; tại TP Hồ Chí Minh, số lượng doanh nghiệp FDI chỉ chiếm khoảng 3% tổng số doanh nghiệp trên địa bàn nhưng số tiền mà khối doanh nghiệp này khai báo lỗ chiếm
8
http://cafef.vn/kinh-te-vi-mo-dau-tu/fdi-nua-dau-nam-2012-diem-sang-va-van-de-0120706101333344ca33.chn
9 http://daidoanket.vn/index.aspx?Menu=1372&Style=1&ChiTiet=57088
Trang 16Nhóm 7 – Lớp TCDN Đêm 4.K21 12
đến hơn 20% tổng số tiền mà các doanh nghiệp trên địa bàn khai báo lỗ; số doanh nghiệp FDI khai báo lỗ trên 4 năm chiếm trên 50%
Biểu đồ 2: Số lượng các doanh nghiệp FDI kê khai lỗ và lãi trên địa bàn TP Hồ Chí
Minh qua các năm
Nguồn: Cục Thuế TP Hồ Chí Minh 10
Các doanh nghiệp FDI báo cáo thua lỗ nhưng vẫn mở rộng đầu tư
Có thể kể đến những trường hợp điển hình, như Metro Cash & Carry Việt Nam khai
lỗ từ năm 2001 đến 2009 là 1.157 tỉ đồng, đứng đầu bảng trong danh mục các doanh nghiệp FDI khai lỗ Thua lỗ nhưng doanh nghiệp này vẫn tiếp tục khai trương trung tâm bán sỉ thứ 19 của mình tại Việt Nam, có tổng diện tích bán hàng lên tới 5.100 m2 Trong các năm 2010, 2011 và 2012, Metro đã xây dựng bốn trung tâm mới mỗi năm
Hoặc Coca Cola, số lỗ luôn ở mức trên 100 tỷ đồng/năm trong vòng 10 năm qua, có năm gần bằng 1/3 doanh thu Nhưng kế hoạch mới công bố cho thấy Coca Cola sẽ tiếp tục rót thêm 300 triệu USD vào Việt Nam trong 3 năm tới, đưa tổng vốn đầu tư vào thị trường này lên nửa tỷ USD trong vòng 5 năm.11
Trốn thuế, gây thất thu ngân sách
Những năm qua, một lượng lớn doanh nghiệp đã tìm cách để gian lận, trốn thuế Theo Tổng cục Thuế, chỉ một năm cơ quan này tích cực hơn trong việc kiểm tra các doanh nghiệp FDI nghi ngờ chuyển giá, họ đã phát hiện số tiền khai lỗ tăng gấp ba lần rưỡi
10
http://tuoitre.vn/Kinh-te/445296/Hon-55-doanh-nghiep-FDI-da-co-lai.html
11 http://cafef.vn/doanh-nghiep/coca-cola-lo-lon-van-mo-rong-dau-tu-20121029092013943ca36.chn