Từ những nước nghèo nàn như các nước ở châu Phi đếnnhững quốc gia đang phát triển là Việt Nam, Campuchia, Lào hay nhữngcường quốc giàu có với trình độ phát triển cao như Mỹ, Nhật, EU muố
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ
BÀI TẬP NHÓM MÔN PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH KINH TẾ
TÌNH HÌNH NỢ CÔNG VÀ CHÍNH SÁCH CHỐNG NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM
Trang 2CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Để duy trì và phát triển nền kinh tế cho riêng mình, mỗi quốc gia đều có
cơ cấu quản lý riêng Tuy nhiên, trong quá trình quản lý thì những quốc gia lạigặp những vấn đề khó khăn cần được giải quyết như: lạm phát, thất nghiệp,…hay phải ứng phó thế nào khi gặp những biến động về kinh tế của thế giới,trong đó có nợ công Từ những nước nghèo nàn như các nước ở châu Phi đếnnhững quốc gia đang phát triển là Việt Nam, Campuchia, Lào hay nhữngcường quốc giàu có với trình độ phát triển cao như Mỹ, Nhật, EU muốn phục
vụ cho nhu cầu chi tiêu đều phải vay nợ từ nước ngoài nên nợ công là mộtphần không thể thiếu trong tài chính, vì thế nợ công cần được kiểm soát vàquản lí chặt chẽ Nếu không được sử dụng hợp lí, hiệu quả và quản lý tốt thìkhủng hoảng nợ công có thể xảy ra với bất cứ quốc gia nào tại bất kì thời điểmnào và để lại những hậu quả nghiêm trọng Do đó, nó trở thành vấn đề nóngbỏng và là mối quan tâm của nhiều nước trong đó có Việt Nam Một số quốcgia trên thế giới có tỷ lệ nợ công khá cao và đã vượt ngưỡng an toàn ViệtNam là một trong những quốc gia có tỉ lệ nợ công khá cao do khi bắt đầu bướcvào thời kì đổi mới (những năm đầu thập niên 1990) nền kinh tế Việt Nam đãvấp phải khá nhiều khó khăn, tăng trưởng kinh tế đã liên tục suy giảm, trên7,6% trong giai đoạn 2000-2007 xuống còn xấp xỉ 6% trong giai đoạn 2008-
2011 Trong khi đó, tỷ lệ lạm phát liên tục ở mức cao, trung bình lên tới hơn14% mỗi năm Đến năm 2011, theo tính toán của Bộ Tài Chính nợ công củaViệt Nam đang ở mức 54,3% GDP với tốc độ tăng trưởng nợ hằng năm trên15% trong khi các khoản thu ngân sách hằng năm của Chính phủ luôn chiếm tỉ
lệ thấp hơn trong GDP do nhu cầu chi tiêu của chính phủ luôn có xu hướngtăng nhanh hơn lượng của cải nền kinh tế tạo ra Dù gần đây có vài tín hiệutích cực cho thấy Chính phủ đang tiến hành cắt giảm đầu tư công và giảm bộichi ngân sách nhưng tỉ lệ nợ công trên GDP của Việt Nam vẫn tiếp tục tănglên trong khi tốc độ tăng trưởng chậm lại Ngoài ra, những chính sách kíchthích kinh tế kéo dài thông qua chi tiêu công cũng dẫn đến nợ công tăng nhanh
và thâm hụt ngân sách cao, đang tiếp tục là những nguy cơ tiềm ẩn làm xấuthêm các chỉ số kinh tế vĩ mô và đe dọa sự ổn định của nền kinh tế trong tươnglai Bên cạnh đó, sự quản lí lỏng lẻo, những khó khăn kinh tế gần đây đã khiếnhàng loạt doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kém hiệu quả rơi vào tình trạngthua lỗ và đứng trên bờ vực vực phá sản, dẫn đến việc các doanh nghiệp nhànước này không có khả năng chi trả các khoản nợ và cần tìm đến sự cứu trợcủa Nhà nước khiến phần nào nào nợ công của nước ta rơi vào tình trạng bị đedọa Năm 2009, qui mô nợ công của nước ta bắt đầu tăng mạnh khi chính phủcủa ta đưa ra chính sách kích thích kinh tế trong điều kiện ngân sách vốn đang
bị thâm hụt triền miên Hiện nay, chỉ số nợ công của nước ta dù vẫn còn đangtrong ngưỡng an toàn nhưng với tốc độ như trên, chỉ số nợ công của nước ta
có thể sẽ vượt lên trên 100% nếu chúng ta không có chương trình và kế hoạch
Trang 3để quản lí nợ công hiệu quả, đặc biệt là nợ nước ngoài thì nguy cơ vỡ nợ côngcủa ta khá cao Nợ công không chỉ ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam màcòn đe dọa đến sự phục hồi và sự ổn định nền kinh tế toàn thế giới, viễn cảnhcủa cuộc tái suy thoái nền kinh tế toàn cầu cũng đã được đặt ra Lựa chọn giảipháp vay nợ để bù đắp thiếu hụt ngân sách và đáp ứng nhu cầu chi tiêu côngnhư thế nào để mang lại hiệu quả tối ưu cho nền kinh tế đất nước là bài toánkhó đối với các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam Để góp phần tìm rađáp án của bài toán kinh tế nói trên, nhóm chúng em chọn đề tài “Tình trạng
nợ công và những chính sách chống nợ công trong giai đoạn từ năm
2005-2015 ở Việt Nam”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Khảo sát tình hình nợ công ở nước ta trong giai đoạn từ năm 2005-2015
Từ đó thấy được thực trạng nợ công của nước ta, đồng thời thông qua đề tàinày chúng ta sẽ có thể có một cái nhìn tổng quát về nợ công và đưa ra nhữngbiện pháp quản lý hiệu quả nhằm kiểm soát nợ công
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Nghiên cứu được thực hiện nhằm giải quyết 3 mục tiêu sau:
- Đánh giá thực trạng nợ công ở Việt Nam, từ đó có được cái nhìn tổngquát về nợ công
- Phân tích ảnh hưởng cũng như tác động của nợ công lên nền kinh tế củanước ta
- Đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình nợ công, nâng caohiệu quả quản lý
- Kết quả nghiên cứu có thể được dùng như những khuyến nghị cho cácchính sách liên quan đến giám sát và quản lý nợ công tại Việt Nam
Trang 4CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Khái niệm
Nợ công là gì? Một câu hỏi nói khó không khó, nói dễ cũng không phải
dễ Vì đây đã là một khái niệm không còn mấy xa lạ với chúng ta trong thờiđại Công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay Tuy nhiên để hiểu rõ về nó và cho
ta một khái niệm xác đáng nhất thì đó chẳng phải là điều đơn giản
Nói một cách khái quát nhất thì Nợ công là tổng giá trị các khoản tiền mà
chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay nhằm tài trợcho các khoản thâm hụt ngân sách nhà nước Mặt khác, chúng ta có thể nói nợcông là sự thâm hụt ngân sách luỹ kế đến một thời điểm nào đó
Ngoài cách tiếp cận khái quát như trên, chúng ta có thể xem xét kháiniệm nợ công trên nhiều phương diện cũng như nhìn nhận nó với nhiều góc độkhác nhau của các tổ chức, cá nhân khác để có cái nhìn sâu sắc hơn về nợcông
Chúng ta hãy tìm hiểu về khái niệm nợ công được đề cập trong Luật
Quản lý Nợ công ngày 17/06/2009 của Quốc hội khóa 12 Theo bộ luật này,
Nợ công bao gồm nợ chính phủ, nợ chính quyền địa phương và nợ được chính
phủ bảo lãnh
Còn theo định nghĩa của IMF, nợ công bao gồm nợ của chính phủ và nợ
của chính quyền địa phương Trong đó, nợ chính phủ không chỉ bao gồm nợcủa các cơ quan ở cấp trung ương như các bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơquan lập pháp, tư pháp, Chủ tịch nước mà còn bao gồm các đơn vị sử dụngvốn ngân sách nằm ngoài Chính phủ (các đơn vị thực hiện một chức năngchuyên biệt của Chính phủ về y tế, giáo dục, an sinh xã hội, xây dựng… đượckiểm soát và tài trợ tài chính hoàn toàn bởi Chính phủ trung ương) và các quỹ
an sinh xã hội
Như vậy, khái niệm nợ công được quy định trong pháp luật Việt Nam cóphần hẹp hơn so với quốc tế, do không bao gồm các đơn vị sử dụng vốn ngânsách ngoài Chính phủ Tức là, khi gặp phải trục trặc khó khăn thì nhà nướcphải bỏ ngân sách ra chi trả, nhưng trong định nghĩa nợ công lại không có cáckhoản đó nên chính phủ không chuẩn bị tiềm lực để giải quyết Như vậy vấn
đề này sẽ trở nên lộn xộn, mà trách nhiệm thì không đẩy vào ai khác được Nóicách khác, chúng ta chỉ công nhận nợ công của thế giới chứ không công nhậntiêu chuẩn nợ công của thế giới
2.1.2 Phân loại
Chúng ta sẽ có khá nhiều tiêu chí để phân loại nợ công, mỗi tiêu chí đều
có ý nghĩa riêng của nó Tùy thuộc vào mục đích sử dụng cũng như phươngthức quản lý mà ta sẽ có giải pháp quản lý phù hợp, bảo đảm được quy mô nợ
Trang 5hợp lý Mặt khác, ta cũng sẽ chủ động hơn trong việc tăng hay giảm nợ để tạonguồn thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội
Ta có các tiêu chí phân loại như sau:
2.1.2.1 Theo thời gian vay
Vay ngắn hạn: là các khoản vay có kỳ hạn dưới một năm.
Vay trung - dài hạn: là các khoản vay có kỳ hạn từ một năm trở lên.
2.1.2.2 Theo chủ thể vay
Nợ chính phủ: là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước
ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chínhphủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷquyền phát hành theo quy định của pháp luật Nợ chính phủ không baogồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thựchiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ
Nợ chính quyền địa phương: là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dâncấp tỉnh) ký kết, phát hành hoặc uỷ quyền phát hành
Nợ được chính phủ bảo lãnh: là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài
chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh
2.1.2.3 Theo nguồn vay
Vay trong nước: là các khoản vay ngắn hạn, trung - dài hạn phải trả lãi
hoặc không phải trả lãi do Nhà nước, Chính phủ, doanh nghiệp và tổchức khác của Việt Nam vay của các tổ chức, cá nhân Việt Nam
Vay nước ngoài: là các khoản vay ngắn hạn, trung - dài hạn phải trả lãi
hoặc không phải trả lãi do Nhà nước, Chính phủ, doanh nghiệp và tổchức khác của Việt Nam vay của chính phủ nước ngoài, vùng lãnh thổ, tổchức tài chính quốc tế, tổ chức và cá nhân nước ngoài
Việc phân loại nợ theo phương thức trên có ý nghĩa quan trọng trongquản lý nợ Nó góp phần xác định chính xác tình hình cán cân thanh toán quốc
tế Đồng thời, việc quản lý tốt nợ nước ngoài cũng phần nào đảm bảo đượctình hình an ninh tiền tệ trong nước, vì đa phần các khoản vay nước ngoài chủyếu bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi hoặc các phương tiện thanh toán quốc tếkhác
2.1.3 Các hình thức vay nợ của chính phủ
2.1.3.1 Phát hành trái phiếu chính phủ
Chính phủ có thể phát hành trái phiếu chính phủ để vay từ các tổ chức, cánhân Trái phiếu chính phủ phát hành bằng nội tệ được coi là không có rủi rotín dụng vì Chính phủ có thể tăng thuế thậm chí in thêm tiền để thah toán cảgốc lẫn lãi khi đáo hạn Trái phiếu Chính phủ phát hành bằng ngoại tệ (thường
là các ngoại tệ mạnh có cầu lớn) có rủi ro tín dụng cao hơn so với khi phát
Trang 6hành bằng nội tệ vì có thể chính phủ không có đủ ngoại tệ để thanh toán vàngoài ra còn có rủi ro về tỷ giá hối đoái
2.1.3.2 Vay trực tiếp
Chính phủ cũng có thể vay tiền trực tiếp từ các ngân hang thương mại,các định chế đa phương toàn cầu (ví dụ Quỹ tiền tệ quốc tế – IMF; Ngân hàngthế giới – WB), khu vực (Ngân hang Phát triển châu Á – ADB…) Hình thứcnày thường được chính phủ của các nước có độ tin cậy tín dụng thấp áp dụng
vì khi khả năng vay nợ bằng hình thức phát hành trái phiếu chính phủ của họ
không cao
2.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá nợ công
Việc xác định nợ công ở mức an toàn hay không an toàn sẽ được xácđịnh dựa trên 3 yếu tố sau:
Tỷ lệ của nợ công/GDP (tổng thu nhập quốc dân)
Thực chất nợ công/cơ cấu nợ công nước ngoài so với nợ công trongnước
Tình trạng ổn định của nền kinh tế
Các tiêu chí có mức chi phối không nhỏ: khoản nợ ngầm (các khoảnnợ) ngân hàng, nợ doanh nghiệp của Nhà nước vay mà Chính phủ phảibảo lãnh
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu thứ cấp của để tài được thu thập và tổng hợp từ các trang báo,trang web của Tổng cục thống kê, các tạp chí nghiên cứu khoa học trong nước
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá các chỉ sốđánh giá an toàn nợ trong mối quan hệ với các biến số vĩ mô
Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để đ ánh giá thực trạng nợ công ởViệt Nam, từ đó có được cái nhìn tổng quát về nợ công
Sử dụng phương pháp dự báo tính đến các rủi ro như lãi suất, tỷ giá…của những năm sắp tới để đánh giá an toàn nợ công của Việt Nam trong giaiđoạn sắp tới
Sử dụng phương pháp tổng hợp Từ kết quả nghiên cứu sẽ cho thấy tácđộng của nợ công lên nền kinh tế, các mặt tích cực và hạn chế Từ đó đề xuấtgiải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, cải thiện chất lượng cuộc sống
Trang 7CHƯƠNG 3 NỘI DUNG
3.1 THỰC TRẠNG CỦA NỢ CÔNG
Nguồn: IMF Data
Hình 3.1 Tỷ lệ nợ công/GDP của Việt Nam trong giai đoạn 2005-2015
Từ năm 2005 đến nay, nợ công của Việt Nam đang tăng giảm dao động
từ 43% cho tới 60% Tỷ lệ nợ công/GDP từ mức 42,9% năm 2005 đã tăng lên45,6% năm 2006 nhưng sang năm 2007 lại giảm xuống 43,9%, rồi từ 2008 đến
2010 tăng giảm dao động khoảng gần 0,2%, cụ thể năm 2010 đạt 50,9% sau
đó giảm xuống mức 45,8% năm 2011 và tăng dần từ 47,9% vào năm 2012 chođến 58,3% vào năm 2015 (IMF) Tỷ lệ nợ công/GDP liên tục tăng lên cũngcho thấy tốc độ tăng của nợ công đang nhanh hơn so với tốc độ tăng trưởngkinh tế
Các số liệu cho thấy Việt Nam vẫn còn nằm trong nhóm nước có mức độ
nợ công trung bình của thế giới Theo Đồng hồ nợ công thế giới (Global DebtClock – GDC) trên trang Economist.com, tính đến ngày 23/3/2014, đồng hồ
nợ công toàn cầu (Global debt clock) trên trang The Economist.com cho thấy,
nợ công của Việt Nam đang ở mức trên 78.698.360.656 USD; bình quân nợcông theo đầu người là 872,13USD; nợ công chiếm 48,2% GDP, tăng 11,4%
so với năm 2013 Cùng thời điểm Nợ công toàn cầu đang ở mức trên 52.945 tỷUSD Như vậy, ở thời điểm này, tổng nợ công Việt Nam tăng thêm 2,634 tỷUSD; bình quân nợ theo đầu người tiếp tục tăng thêm 27,31 USD/người (MaiHương, 2014) Điều này có nghĩa là nợ công Việt Nam đang gia tăng rấtnhanh trong một năm gần đây, đặt ra vấn đề phải kiểm soát nợ công hiệu quả,nhất là trong gần đây Việt Nam đang tiếp tục phải đối mặt với rất nhiều thách
Trang 8thức từ bên trong lẫn bên ngoài đòi hỏi phải tiếp tục tăng cường chi tiêu ngânsách (NS).
Bảng 3.1 Nợ nước ngoài của chính phủ ở Việt Nam giai đoạn 2005-2009
Năm GDP Nợ Chính phủ Nợ được Chính
phủ bảo lãnh
Tổng nợ nướcngoài Chính phủTốc độ
tăng nămsau so vớinăm trước(%)
(%)GDP
Tốc độtăng nămsau so vớinăm trước(%)
(%)GDP
Tốc độtăng nămsau so vớinăm trước(%)
(%)GDP
Nguồn: Bộ tài chính và Tổng cục thống kê
Qua bảng 3.1, nhìn chung nợ nước ngoài của Chính phủ đều tăng giảmtheo các năm từ 2005 đến 2009 Trong đó, nợ Chính phủ dao động từ 21%GDP đến 25% GDP; nợ Chính phủ bảo lãnh dao động từ 1% GDP đến gần 3%GDP Như vậy, nợ Chính phủ chiếm phần lớn trong nợ nước ngoài
Tuy nhiên, trong một nền kinh tế đang phát triển như nước ta, thì vấn đềvay nợ nước ngoài để đầu tư phát triển kinh tế là một điều thiết yếu và là mộttất yếu khách quan Trong các khoản nợ vay nước ngoài của Chính phủ phầnlớn là các khoản vay dài hạn với lãi suất ưu đãi, trong đó vay ODA và vay ưuđãi chiếm 74% tổng số nợ nước ngoài, nhiều khoản vay của Ngân hàng Thếgiới có thời hạn 40 năm với 10 năm ân hạn và mức lãi suất là 0,75%/năm, cáckhoản vay của Ngân hàng Phát triển Châu Á có thời hạn 30 năm, 10 năm ânhạn và lãi suất 1-2%/năm Lãi suất bình quân đối với các khoản vay nợ nướcngoài của Chính phủ là 1,9%/năm và thời hạn bình quân là 26,6 năm Nhưvây, có thể nói các khoản nợ vay nước ngoài của Chính phủ nằm trong khung
an toàn, đặc biệt trong nhiều năm trở lại đây chúng ta đã cam kết trả nợ nướcngoài đều đặn, đầy đủ, không có hiện tượng chậm trả hoặc không trả được.Tuy nhiên, Việt Nam đã trở thành có mức thu nhập trung bình thì các điềukiện cho vay sẽ trở nên kém ưu đãi hơn và chi phí trả lãi vay hằng năm sẽngày càng tăng
Bảng 3.2 Nợ công Việt Nam 2010-2014
Trang 9ĐVT: tỷ đồng
2010 2011 2012 2013 2014Tổng nợ công so GDP 50,9 45,8 47,9 51,8 54,2Trong nước (%GDP) 10,9 7,9 10,5 14,5 15,9Nước ngoài (%GDP) 40,0 37,9 37,4 37,3 38,3
Nguồn: IMF Data, Bản tin nợ công - số 03
Bảng 3.2 cho thấy tình hình nợ công trong nước và nợ công nước ngoàicủa nước ta từ 2010 đến 2014 Cụ thể, nợ nước ngoài chiếm phần lớn trong nợcông nươc ta, đồng thời có xu hướng giảm dần từ 40,0% so GDP vào năm
2010 xuống 38,3% so GDP vào năm 2014, trong khi đó nợ trong nước thìngược lại, tăng dần từ 10,9% so GDP năm 2010 lên 15,9% so GDP vào năm
2014 Điều này xuất phát một phần từ sụt giảm nhu cầu tín dụng trong giaiđoạn này Cầu tín dụng thấp tạo ra tình trạng dư thừa vốn trong hệ thống ngânhàng tạo điều kiện phát hành trái phiếu Chính phủ với lãi suất thấp Mặc dùvậy, nợ công nội địa cũng gây những tác động tiêu cực nhất định đến nền kinh
tế như làm tăng lãi suất và thu hẹp nguồn vốn dành cho khu vực tư nhân vàgây áp lực lạm phát
Trước đây, do áp lực huy động vốn lớn trong khi thị trường vốn trongnước chưa phát triển, nguồn vay đầu tư trái phiếu Chính phủ (TPCP) chủ yếu
là ngân hàng thương mại nên giai đoạn 2011-2013 buộc phải vay với kỳ hạnngắn dẫn đến áp lực trả nợ trong ngắn hạn tăng lên
Thực hiện Nghị quyết số 78/2014/NQ-QH13 và Nghị quyết số 99/2015/NQ-QH13 của Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã chỉ đạo kéo dài thời hạnphát hành trái phiếu trong nước Nhờ vậy, từ năm 2014, kỳ hạn đang ở mức 3năm, đến năm 2015, kéo dài lên 4,4 năm và 6 tháng đầu năm 2016 thì kéo dàilên 5 năm góp phần giảm thiểu rủi ro tái cấp vốn
Đối với nợ nước ngoài, vay ODA, vay ưu đãi vẫn chiếm tỷ trọng cao(trên 94%) với kỳ hạn còn lại bình quân trên 10 năm Đánh giá về cơ cấu nợcông, Bộ Tài chính đã phân tích về bền vững nợ công với Ngân hàng Thế giới(WB) và Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) và có nhận định rằng: "Cơ cấu nợ côngcủa Việt Nam hiện đang từng bước được điều chỉnh theo hướng bền vữnghơn"
Trang 10Nguồn: Báo cáo của Bộ trưởng Bộ tài chính Đinh Tiến Dũng trước quốc hội thường kì
10/2014
Hình 3.2 Cơ cấu nợ công của Việt Nam năm 2014Theo Kiểm toán nhà nước, nợ công năm 2014 so với GDP vẫn nằm trongphạm vi được Quốc hội cho phép, tức là dưới 65% và nợ của Chính phủ so vớiGDP thấp hơn 55% Ngoài ra, tỷ lệ các khoản nợ thuộc nợ công được giữ khá
ổn định qua các năm Năm 2014, đa số nợ công là nợ Chính phủ 78,04%, nợChính phủ bảo lãnh 20,5% và chỉ 1,5% là nợ của chính quyền địa phương Vớiviệc dòng vốn đầu tư nước ngoài chiếm một tỷ lệ quá lớn trong cơ cấu vốn đầu
tư, nền kinh tế Việt Nam sẽ rất dễ bị tổn thương một khi kinh tế thế giới trì trệ,dòng vốn đầu tư nước ngoài bị suy giảm Như vậy dẫn đến việc Chính phủphải đi vay để bù đắp thiếu hụt ngân sách sẽ làm cho nợ công tăng cao
Đồng thời, thời gian qua, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính vàsuy thoái kinh tế toàn cầu (2008), kinh tế nước ta tăng trưởng chậm lại, tỷtrọng thu ngân sách thấp hơn cùng kỳ nhưng vẫn phải giảm thuế để hỗ trợdoanh nghiệp (tỷ lệ huy động thuế, phí vào ngân sách nhà nước giảm từ 24,8%GDP bình quân giai đoạn 2006-2010 xuống còn 21% GDP giai đoạn 2011-2015)
Trong khi đó, yêu cầu chi ngân sách tăng mạnh, phải dành nguồn kinhphí lớn cho thực hiện các chính sách kích thích kinh tế, cải cách tiền lương,bảo đảm an sinh xã hội (tỷ trọng chi cho con người trong tổng chi thườngxuyên tăng từ 62,2% lên 68,2%; giai đoạn 2011-2014 đã 3 lần điều chỉnh tănglương tối thiểu và 2 lần tăng phụ cấp công vụ; chi an sinh xã hội tăng bìnhquân 18%/năm, cao hơn tốc độ tăng khoảng 10% của thu, chi ngân sách) Do
đó, nguồn ngân sách nhà nước còn lại để bố trí cho trả nợ và đầu tư phát triển
là rất hạn hẹp trong khi nhu cầu vốn đầu tư để thực hiện đột phá chiến lược vềphát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội là rất lớn
Bảng 3.3 Nợ công của các nước năm 2016