Trong 50 năm qua, thế giới đã chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ nợ công của cácnước, đặc biệt là các khoản nợ nước ngoài mà nguyên nhân chính là để bắt kịp tốc độ tăng trưởng kinh tế chung
Trang 1Học viện Ngân Hàng
- -Bài tiểu luận
Đề tài: “thực trạng nợ công của Việt Nam hiện nay? Giải pháp để
đảm bảo an toàn nợ công ở Việt Nam”
Hà nội, 3/5/2016
Trang 2Mục lục
I. Đặt vấn đề.
II. Nợ công – một số vấn đề lý luận.
1. Quan niệm về nợ công.
2. Bản chất của nơ công.
3. Phân loại nợ công.
4. An toàn nợ công và ngưỡng an toàn nợ công.
5. Tác động của nợ công.
III. Thực trạng nợ công ở Việt Nam.
1. Quy mô nợ công ở Việt Nam.
2. Cơ cấu nợ công Việt Nam.
3. Tình hình sử dụng nợ công và trả nợ công Việt Nam.
4. Kết quả đạt được và những hạn chế.
IV. Giải pháp an toàn nợ công Việt Nam.
Thành Viên Nhóm:
Trang 31. Hoàng Trọng Đạt 16A4030046
2. Vương Thị Ngọc Ánh 17A4020050
3. Nguyễn Thị Hải Quỳnh 17A4020489
4. Nguyễn Thị Diệp 17A4000675
5. Nguyễn Thị Tú Uyên 17A4020644
6. Mai Thị Thảo Trang 17A4020597
7. Đỗ Thị Nhung 17A4020413
8. Đỗ Thị Thư 17A4020567
9. Đinh Anh Tài 17A4010242
10. Saovapha Ngonphadi 17A4001045
Trang 4I. Đặt vấn đề
Kinh tế thế giới hiện đang trong bối cảnh tăng trưởng chậm lại, khủng hoảng tàichính một phần bắt nguồn từ sự quản lý nợ công yếu kém của các quốc gia Nhưkhủng hoảng nợ công Mexico 1994, khủng hoảng nợ công Nga 1998, khủng hoảng
nợ công Brazil 1998-1999, gần đây nhất là cuộc khủng hoảng nợ công trong khối
EU được khởi phát từ Hi Lạp và lan rất nhanh ra hàng loạt nước khác Các yếu tốrủi ro ngày càng tăng cùng với sự hiện hữu của nguy cơ suy thoái kép được cảnhbáo dẫn đến sự cần thiết tái cơ cấu kinh tế toàn cầu và cải cách hệ thống tài chínhvới việc đảm bảo an toàn vốn Như chúng ta đã biết các quốc gia trên thế giới cónền kinh tế khác nhau vì vậy cách xử lý nợ công các nước không giống nhau Nhưcuộc khủng hoảng tài chính ở châu Á xảy ra năm 1997 khi Thái Lan chỉ có khoản nợcông ở mức 15% GDP Sự sụp đổ của nền kinh tế Argentina - quốc gia từng đượcQuỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) ngợi ca là một hình mẫu về quản lý nợ công quốc gia làđiều cần rút ra cách xử lý nợ công Nhật Bản hiện đang là nước có nợ công lớn nhấtthế giới Nợ công của Nhật Bản là hơn 12.570 tỷ USD, khoảng 227,9% GDP Vớimức nợ công là 11.700 tỷ USD Nhưng có một điều là nợ công của Nhật Bản khônggây khó cho nền kinh tế do họ có khả năng trả nợ vì chủ yếu họ nợ trong nước Do
đó, nếu cho rằng thắt chặt chi tiêu nhằm tránh được khủng hoảng là không hẳnđúng mà vấn đề là phải luôn ý thức và kiểm soát mức nợ phù hợp với nền kinh tếcủa mỗi quốc gia sao cho phù hợp
Trong 50 năm qua, thế giới đã chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ nợ công của cácnước, đặc biệt là các khoản nợ nước ngoài mà nguyên nhân chính là để bắt kịp tốc
độ tăng trưởng kinh tế chung của thế giới, nhiều nước buộc phải vay nợ nước ngoài
để phát triển kinh tế, nhất là những nước đang phát triển như Việt Nam Theo số liệuIMF Việt Nam đang có mức nợ công/GDP cao hơn hẳn các nước ASEAN, gấp đôinhiều nước và gấp rưỡi Thái Lan Khởi nguốn từ gói kích cầu năm 2009, giai đoạn2010-2012, Chính phủ vay nợ ngắn hạn nhiều, chủ yếu bằng trái phiếu kỳ hạn 1-2năm khiến cho ngân sách nhà nước những năm gần đây có mức thâm hụt ngàycàng tăng Nếu tính theo thông lệ quốc tế nợ công Việt Nam còn cao hơn nhiều vìkhông tính đến nợ doanh nghiệp nhà nước và nợ các tổ chức công khác Do đó bàiviết sẽ phân tích, nêu những con số cụ thể tình hình nợ công Việt Nam nhằm phản
Trang 5ánh rõ hơn thực trạng nợ công Việt Nam hiện nay Đồng thời cũng đưa ra một vàigiải pháp theo ý kiến chủ quan để đảm bảo an toàn nợ công Việt Nam
II. Nợ công – một số vấn đề lý luận:
1. Quan niệm về nợ công:
Nợ công là khoản nợ mà chính phủ của một quốc gia phải chịu trách nhiệm vềviệc chi trả khoản nợ đó Do đó thuật ngữ nợ công thường được sử dụng cùngnghĩa với các thuật ngữ như nợ nhà nước hay nợ chính phủ Tuy nhiên, nợ cônghoàn toàn khác với nợ quốc gia Nợ quốc gia là toàn bộ khoản nợ của một quốc gia,bao gồm hai bộ phận là nợ của nhà nước và nợ của tư nhân ( doanh nghiệp, tổchức, cá nhân ) Như vậy, nợ công chỉ là một bộ phận của nợ quốc gia mà thôi
• Theo quan điểm của Ngân hàng thế giới WB là toàn bộ những khoản nợ củachính phủ và những khoản nợ của chính phủ bảo lãnh:
- Nợ của chính phủ là toàn bộ các khoản nợ trong nước và nước ngoài củachính phủ và các đại lý của chính phủ; các tính, thành phố hoặc các tổ chứcchính trị trực thuộc chính phủ và các đại lý của tổ chức này; các doanhnghiệp nhà nước
- Nợ của chính phủ bảo lãnh là những khoản nợ trong nước và nước ngoài củakhu vực tư nhân do chính phủ bảo lãnh
• Theo quan điểm của quỹ tiền tệ quốc tế IMF, nợ công bao gồm nợ của khu vựctài chính công và nợ của khu vực phi tài chính công
- Nợ của khu vực tài chính công là khoản nợ của các tổ chức tiền tệ ( NHTW,các tổ chức tín dụng nhà nước ) và các tổ chức phi tiền tệ ( các tổ chức tíndụng không cho vay mà chỉ có chức năng hỗ trợ phát triển )
- Nợ của khu vực phi tài chính công: là nợ của chính phủ, tỉnh thành phố, các
tổ chức chính quyền địa phương, các doanh nghiệp phi tài chính nhà nước
• Theo quản lý nợ công của Việt Nam bao gồm nợ chính phủ, nợ chính phủ bảolãnh và nợ chính quyền địa phương
- Nợ chính phủ: là khoản nợ được ký kết, phát hành nhân danh nhà nước hoặcchính phủ, các khoản nợ do bộ tài chính ký kết, phát hành hoặc ủy quyềnphát hành; không bao gồm các khoản nợ do ngân hàng nhà nước Việt Namphát hành nhằm thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời ký
- Nợ được chính phủ bảo lãnh: là các khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chứckinh tế trong và ngoài nước, chính phủ đứng ra bảo lãnh
- Nợ chính quyền địa phương: là các khoản nợ do UBND cấp tỉnh, thành phốtrực thuộc TW ký kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành
Trang 62. Bản chất của nợ công
Về bản chất, nợ công chính là các khoản vay để trang trải thâm hụt ngân sách.Các khoản vay này sẽ phải hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn, nhà nước sẽ phải thuthuế tăng lên để bù đắp Vì vậy, suy cho cùng, nợ công chỉ là sự lựa chọn thời gianđánh thuế: hôm nay hay ngày mai, thế hệ này hay thế hệ khác Vay nợ thực chất làcách đánh thuế dần dần, được hầu hết chính phủ các nước sử dụng để tài trợ chocác hoạt động chi ngân sách Tỷ lệ nợ công/GDP chỉ phản ảnh một phần nào đó vềmức độ an toàn hay rủi ro của nợ công Mức độ an toàn hay nguy hiểm của nợ côngkhông chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ nợ/GDP mà quan trọng hơn, phụ thuộc vào tình trạngphát triển của nền kinh tế Trách nhiệm trả nợ của nhà nước được thể hiện dưới haigóc độ trực tiếp và gián tiếp Trực tiếp là việc cơ quan có thẩm quyền đi vay do đó
cơ quan nhà nước đó phải chịu trách nhiệm trả nợ Gián tiếp là cơ quan nhà nước
có thẩm quyền đứng ra bảo lãnh cho một chủ thể trong nước vay nợ, trong trườnghợp bên vay không trả được nợ thì trách nhiệm trả nợ thuộc về cơ quan đứng rabảo lãnh Mục đích cao nhất cho việc huy động và sử dụng nợ công là phát triểnkinh tế - xã hội vì lợi ích chung
3. Phân loại nợ công
Có nhiều tiêu chí để phân loại nợ công, mỗi tiêu chí có một ý nghĩa khác nhaunhằm thuận tiện cho việc nghiên cứu, đánh giá cũng như quán lý nợ công Phân loại
nợ công xuất phát từ một số tiêu chí sau:
• Căn cứ váo kỳ hạn nợ:
- Nợ ngắn hạn: là những khoản nợ có thời hạn thanh toán ngắn hạn (thườngdưới 1 năm) Khoản nợ này chủ yếu để đáp ứng nhu cầu bù đắp thiếu hụtngân sách tạm thời
- Nợ trung và dài hạn: là những khoản nợ có kỳ hạn thanh toán dài (từ 1 nămtrở lên) Khoản nợ này nhằm phục vụ nhu cầu đầu tu phát triển kinh tế
Việc căn cứ vào kỳ hạn nợ sẽ tạo điều kiện thuận lời cho việc quản lý khả năngthanh toán các khoản vay nhằm xác định thời điểm phải thanh toán gốc và lãi trongtương lai để đưa ra giải pháp bố chí trả nợ phù hợp
• Căn cứ vào vị trí địa lý:
Trang 7- Nợ trong nước: bao gồm các khoản vay từ các chủ thể trong nước, chủ yếuchính phủ phát hành các công cụ nợ để vay từ các chủ thẻ trong nước.
- Nợ nước ngoài: bao gồm khoản vay từ các chủ thể ngoài nước như: Kí kếthiệp định vay nợ với chính phủ, hay các tổ chức tài chính, tiển tệ nước ngoài,khoản vay thương mại từ chủ thể nước ngoài
Việc căn cứ vào vị trí địa lý giúp đánh giá chính xác hơn tác động của việc thayđổi yếu tố kinh tế trong nước và ngoài nước đến quy mô, khả năng thanh toánkhoản nợ đến hạn
• Căn cứ vào nghĩa vụ trả nợ:
- Nợ trực tiếp: là khoản nợ trực tiếp mà chính quyền trung ương và chínhquyền địa phương có trách nhiệm trả nợ
- Nợ dự phòng: là các khoản nợ phát sinh khi một hoặc vài điều kiện xác địnhtrước đó thay đổi, đó là khoản nợ được chính phủ bảo lãnh, khi khoản nợ nàykhông được con nợ trả, chính phủ sẽ phải đứng ra trả nợ thay
Việc căn cứ vào nghĩa vụ trả nợ cho thấy rõ hơn các rủi ro tiềm ẩn đối với nợcông khi môi trường kinh tế thay đổi cũng như khả năng kiểm soát, xử lý đối với cáckhoản nợ được bảo lãnh thường thấp hơn đối với các khoản nợ mà chính phủ vaytrưc tiếp
• Căn cứ vào lãi xuất vay:
- Nợ có lãi xuất cố đinh: là những khoản nợ có mức lãi xuất cố định từ khi vayđến khi đáo hạn, không bị phụ thuộc vào biến động của thi trường
- Nợ có lãi xuất thả nổi: là những khoản nợ được điều chỉnh về lãi xuất khi có
sự biến động về lãi xuất trên thị trường
Việc căn cứ vào lãi xuất vay sẽ giúp cho nhà quản lý nợ điều hành danh mục nợdựa trên các dự báo về biến động lãi xuất Qua đó, quản lý rủi ro lãi xuất đối vớikhoản nợ có lãi xuất thả nổi và các khoản nợ có lãi xuất cố định khi có sự biến độnglãi xuất và khi phát hành khoản nợ mới
• Căn cứ theo loại tiền vay:
- Nợ bằng đồng nội tệ: là những khoản nợ được vay bằng chính đồng tiền củaquốc gia đó
- Nợ bằng ngoại tệ: là những khoản nợ được vay bằng các đồng ngoại tệ, cóthể vay từ các chủ thể trong nước hoặc nước ngoài
Trang 8Việc căn cứ theo loại tiền vay giúp cho nhà quản lý nợ cân đối và bố chí nguồnvốn thanh toán trả nợ phù hợp, xác định và phòng ngừa rủi ro khi có biến động về tỷgiá hối đoái.
4. Tác động của nợ công đến nền kinh tế Việt Nam
Nợ công vừa có nhiều tác động tích cực nhưng cũng có một số tác động tiêucực Nhận biết những tác động tích cực và tiêu cực nhằm phát huy mặt tích cực,hạn chế mặt tiêu cực là điều hết sức cần thiết trong xây dựng và thực hiện quản lý
nợ công
Nợ công làm gia tăng nguồn lực cho Nhà nước, từ đó tăng cường nguồn vốn đểphát triển cơ sở hạ tầng và tăng khả năng đầu tư đồng bộ của Nhà nước Việt Namđang trong giai đoạn tăng tốc phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xãhội chủ nghĩa, trong đó cơ sở hạ tầng là yếu tố có tính chất quyết định Muốn pháttriển cơ sở hạ tầng nhanh chóng và đồng bộ, vốn là yếu tố quan trọng nhất Vớichính sách huy động nợ công hợp lý, nhu cầu về vốn sẽ từng bước được giải quyết
để đầu tư cơ sở hạ tầng, từ đó gia tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế
Huy động nợ công góp phần tận dụng được nguồn tài chính nhàn rỗi trong dân
cư Một bộ phận dân cư trong xã hội có các khoản tiết kiệm, thông qua việc Nhànước vay nợ mà những khoản tiền nhàn rỗi này được đưa vào sử dụng, đem lạihiệu quả kinh tế cho cả khu vực công lẫn khu vực tư
Nợ công sẽ tận dụng được sự hỗ trợ từ nước ngoài và các tổ chức tài chínhquốc tế Tài trợ quốc tế là một trong những hoạt động kinh tế – ngoại giao quantrọng của các nước phát triển muốn gây ảnh hưởng đến các quốc gia nghèo, cũngnhư muốn hợp tác kinh tế song phương Nếu Việt Nam biết tận dụng tốt những cơhội này, thì sẽ có thêm nhiều nguồn vốn ưu đãi để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng,trên cơ sở tôn trọng lợi ích nước bạn, đồng thời giữ vững độc lập, chủ quyền vàchính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước
Bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước, nợ công là hệ quả trực tiếp của thâm hụtngân sách và quy mô nợ công đúng bằng quy mô thâm hụt ngân sách tích tụ quacác năm Về nguyên tắc, để bù đắp thâm hụt ngân sách, chính phủ các nước phải
Trang 9vay trong và ngoài nước, chứ không được phát hành tiền để tránh nguy cơ xảy ralạm phát cao Vay nước ngoài gây dựng được một lượng vốn theo yêu cầu, nhằmđạt được các mục tiêu về chi phívà rủi ro, đáp ứng được các mục tiêu quản lý nợkhác của Chính phủ đã đề ra.
Thứ nhất, Ảnh hưởng ngược từ các chính sách khi nợ công quá lớn:Khi nợ công
quá lớn, việc thắt chặt chi tiêu, thực hiện chính sách “thắt lưng buộc bụng” để giảmthâm hụt ngân sách là điều kiện phải đáp ứng để được nhận sự hỗ trợ cần thiếttừcác tổ chức tín dụng quốc tế Tuy nhiên, trong thời điểm hiện nay, khi nền kinh tếtoàn cầu mới thoát khỏi khủng hoảng, bắt đầu có dấu hiệu phục hồi do kết quả củacác gói kích thích kinh tế mà chính phủ các nước đã chi ra trong những năm trướcđây, thì việc cắt giảm chi tiêu, tăng thuế sẽ làm giảm đầu tư, kìm hãm sự phục hồicủa nền kinh tế, làmchậm tốc độ tăng trưởng, thậm chí có thể đẩy nền kinh tế vào
“khủng hoảng kép”
Thứ hai, bị hạ bậc tín nhiệm Khi nợ công liên tục tăng cao, nền kinh tế bị hạ bậc
tín nhiệm theo báo cáo của các tổ chức chuyên đi đánh giá tín nhiệm các công ty vàquốc gia khác, niềm tin của người dân và giới đầu tư bị lung lay, khi đó nền kinh tế
dễ trở thành mục tiêu tấn công của các thế lực đầu cơ quốc tế Khi đó, các quỹ đầu
tư lớn lập tức bán ra loại trái phiếu này, đồng thời từ chối mua vào trong các đợtphát hành tiếp theo Nếu chính phủ muốn huy động tiền từ thị trường tài chính sẽphải chấp nhận chi phí vốn cao hơn và sau đó, rơi vào vòng xoáy: tiếp tục bị tụt bậctín nhiệm
Thứ ba, tác động từ nợ chính phủ tới tăng trưởng kinh tế Trong những năm gần
đây, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng trong dài hạn một khoản nợ chính phủ lớn(tỷ lệ của nó so với GDP cao) làm cho sự tăng trưởng của sản lượng tiềm năngchậm lại vì những lý do sau:
- Tăng cường xuất khẩu để trả nợ nước ngoài và do đó khả năng tiêu dùng giảmsút
- Gây ra hiệu ứng thế chỗ cho vốn tư nhân
Trang 10- Tăng thuế để trả lãi nợ vay chính công dân nước mình => Thuế làm méo mó nềnkinh tế, gây ra tổn thất vô ích về phúc lợi xã hội.Ngoài ra, còn có một số quan điểmcho rằng việc chính phủ sử dụng công cụ nợ để điều tiết kinh tế vĩ mô sẽ không cóhiệu suất cao vì có hiện tượng crowding out (đầu tư cho chi tiêu của chính phủ tănglên).
- Phát hành trái phiếu tuy có làm tăng tổng cầu, song mức tăng không lớn vì cónhững tác động phụ làm giảm tổng cầu
- Gây ra áp lực lạm phát, tác động tiêu cực tới tốc độ tăng trưởng thực
Thứ tư, gánh nặng cho toàn bộ nền kinh tế cùng với rủi ro chênh lệch tỉ giá.
- Nợ công ở mức cao sẽ kéo theo mức bội chi ngân sách lớn và dần dần sẽ trởthành gánh nặng cho nền kinh tế
- Trong khi trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam trong những năm gầnđây, Chính phủ đang có kế hoạch triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn như nhà máyđiện nguyên tử, đường sắt cao tốc,… nên tỷ lệ nợ nước ngoài sẽ tăng vọt Nhìn lạiquá trình này, đã có lúc Nhà nước phải đi vay với tỷ giá chỉ 11 nghìn Việt Nam đồngquy đổi bằng 1 USD, thì ở thời điểm hiện tại tỷ giá quy đổi đã lên đến mức trên dưới
20 nghìn Việt Nam đồng quy đổi bằng 1 USD Như vậy là khoản chênh lệch tỷ giánày toàn bộ nền kinh tế của chúng ta phải hứng chịu
III. Thực trạng nợ công ở Việt Nam
Việt Nam mở cửa nền kinh tế được 30 năm và đã đạt được những bước tiến vượtbậc Ở giai đoạn trước khủng hoảng kinh tế Việt Nam được coi là một trong nhữngđiểm sáng của nền kinh tế thế giới với tốc độ tăng trưởng bình quân 7,8%/năm
Trang 11Nhất là năm 2007, năm Việt Nam ra nhập WTO các chỉ tiêu kinh tế đều hoàn thành
và vượt mức kế hoạch, tốc độ tăng trưởng lên tới 8,48% Sau khủng hoảng, kinh tếViệt Nam cũng chao đảo theo kinh tế thế giới, mực độ trăng trưởng giảm mạnh.Nhưng những năm gần đây đã có dấu hiệu phục hồi trở lại
Có thể thấy GDP binh quân / người năm 2014 gấp 3 lần năm 2005 Tuy vậy ViệtNam thuộc nhóm nước đang phát triển, quy mô kinh tế vẫn nhỏ so với mặt bằngchung thế giới, nên kinh tế phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu sản phẩm nông nghiệpthô và công nghiệp nhẹ Do đó, hiện tại và tương lai gần việc vay nợ chính phủ nóiriêng và nợ công là một nhu cầu tất yếu Vì Việt Nam vẫn rất cần những khoản hỗtrợ về tài chính từ các tổ chức trên thế giới để có thể phát triển hơn nữa
1) Quy mô nợ công Việt Nam
Theo Ngân hàng Thế giới, tổng nợ công (nợ của chính phủ, nợ do chính phủ bảolãnh và nợ của chính quyền địa phương) đã tăng từ 54,5% GDP 2013 lên mức
Trang 1259,6% năm 2014 “Mặc dù mức nợ công vẫn nằm trong phạm vi bền vững, chi phítrả nợ gia tăng đang làm co giảm dư địa tài khóa” – WB đánh giá
Theo số liệu nghiên cứu của The Econnomist, đến ngày 11/10/2015, nợ công củaViệt Nam được ước tính ở mức 92,6 tỷ USD, chiếm 46% GDP, tăng khoảng 6,4 tỷUSD trong vòng 3 tháng trước đó và 9,6% so với cùng kỳ năm ngoái Nếu tình trungbình, mỗi người dân Việt Nam hiện đang gánh 1.016 USD nợ của đất nước Đây làcon số gấp 4 lần số nợ công của Việt Nam vào thời điểm cách đây 10 năm ( nợcông là 22,3 tỷ USD, bình quân 268 USD mỗi người) Nợ công VN tăng nhanh tronggiai đoạn 2011-2015, từ mức 50,1% GDP lên 62,2% GDP, tiệm cận giới hạn 65%theo quy định của Luật quản lý nợ công Năm 2015 cũng là năm dư nợ Chính phủđạt 50,3%
Nếu tính theo % GDP, tỷ lệ nợ mà The Economist công bố (46%) đang thấp hơnkhá nhiều so với số liệu do Bộ Tài chính công bố gần nhất vào cuối tháng 9 (59,6%).Nếu tính theo cách tính của WB và IMF thì có lẽ tỷ lề nợ công của Việt Nam còn hơn100% GDP như 2 nước thành viên EU là Hy Lạp và AiLen
Tỷ trọng nợ công so với GDP tăng nhanh từ 50% năm 2011 lên 59,6% năm 2014.79,6% con số này là nợ chính phủ, 19% là nợ được chính phủ bảo lãnh và khoảng1,4% là nợ của chính quyền địa phương Bộ Tài chính dự báo tổng dư nợ công cóthể đạt mức đỉnh điểm gần 65% GDP vào cuối năm 2017 Sau đó, tỷ lệ nợ/GDP sẽgiảm dần do thắt chặt tài khóa
Trang 13Dẫn số liệu của IMF – Triển vọng kinh tế thế giới (WEO) trong Báo cáo kinh tế quý Ivừa công bố, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) cho hay, so vớimột số nước ASEAN, Việt Nam có tỷ lệ nợ công so với GDP cao hơn hẳn Nợ côngcủa Việt Nam cao gấp rưỡi đến gấp đôi nhiều nước trong khu vực như Thái Lan,Indonesia, Philippines và Campuchia Tuy nhiên, nếu xét về tăng trưởng GDP năm
2015, Việt Nam có mức tăng trưởng cao hơn các nước này, chỉ sau Campuchia.Đáng nói hơn, theo dự báo của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) trong nhóm nước này ViệtNam là nước duy nhất có tỷ lệ nợ công/GDP tiếp tục tăng đến gần 68% GDP vàonăm 2020 Trong khi đó, từ nay đến năm 2020, một số nước như Malaysia,Philippines, Indonesia… được cho là sẽ giảm mạnh nợ công Ngay như Myanmar,
nợ công cũng giảm mạnh từ 2011 đến nay và dự báo chỉ tăng nhẹ trong các nămtiếp theo
2) Cơ cấu nợ công và tốc độ gia tăng nợ công Việt Nam
• Cơ cấu nợ công Việt Nam