Ông cũng mô tả các nhân tố cảm xúc trong quá trình phát sinh, phát triển một số bệnh và xác định vai trò của hệ thần kinh khi cơ thể đối phó với các tình huống khẩn cấp.. giống như tiến
Trang 1STRESS TÂM LÝ
MỤC TIÊU HỌC TẬP
1 Trình bày được một số vấn đề cơ bản về stress, cơ sở sinh lý của stress
2 Phân tích được mối liên quan giữa stress và bệnh tật
3 Phân tích được những nguyên nhân gây ra stress
4 Phân tích được những ảnh hưởng của stress đối với cá nhân, gia đình và xã hội Lấy ví dụ
NỘI DUNG HỌC TẬP
1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN
1.1 Khái niệm stress
Có nhiều quan niệm khác nhau về tress và đồng thời cũng có nhiều định nghĩa khác nhau
1.1.1 Mô hình “Chiến đấu hay chạy trốn”
Người đầu tiên nghiên cứu về stress là nhà sinh lý học người Mỹ, Walter Cannon Năm 1915, trong
một tác phẩm của mình, ông đã đưa ra cụm từ Chiến đấu hay chạy trốn (Fight or Flight) để mô tả đáp
ứng của động vật trước những tác động de dọa từ phía bên ngoài: dùng mọi biện pháp để xua đuổi kẻ thù, nếu thấy không thắng được thì phải nhanh chóng chạy trốn Những năm sau đó, ông tiếp tục đi sâu nghiên cứu sự cân bằng nội môi ở những động vật có vú khi chúng lâm vào các tình huống khó khăn, như khi gặp phải sự thay đổi về nhiệt độ Ông cũng mô tả các nhân tố cảm xúc trong quá trình phát sinh, phát triển một số bệnh và xác định vai trò của hệ thần kinh khi cơ thể đối phó với các tình huống khẩn cấp Mô hình stress của Canon còn được gọi là mô hình “Chiến đấu hay Chạy trốn”
1.1.2 Mô hình Hội chứng thích ứng chung
Hans Selye - nhà nội tiết học Canada, nhận thấy người bệnh truyền nhiễm ở thời kì đầu của bệnh đều
có những triệu chứng giống nhau:
• Vỏ tuyến thượng thận tăng trưởng mạnh và chứa một lượng không lớn các hạt lipit bài tiết
• Tuyến ức, các hạch limpho và các cấu trúc chứa limpho bị teo nhỏ lại (involution)
• Thành dạ dày, tá tràng bị loét và chảy máu
Những triệu chứng này đều giống nhau ở các bệnh truyền nhiễm khác nhau và giống như khi cơ thể phản ứng với một chất độc
Lúc đầu, những biến đổi này được gọi là “triệu chứng được gây ra bởi các tác nhân khác nhau”, về sau, được đổi thành “các triệu chứng thích ứng chung”, hay còn gọi chung là “Hội chứng thích ứng chung” Ba biến đổi trên đã trở thành ba chỉ số quan trọng của stress và là cơ sở để Selye phát triển một khái niệm đầy đủ về stress Theo ông, để đáp lại kích thích đe dọa/tác nhân gây stress bất kì, phản ứng của cơ thể trải qua 3 giai đoạn: báo động, chống đỡ và suy kiệt Ba giai đoạn này giống như một qui luật chung điều hòa hành vi của mọi sinh vật khi bị rơi vào những điều kiện đặc biệt căng thẳng và
Trang 2giống như tiến trình của một phản ứng thích nghi không đặc hiệu của cơ thể đối với những tác động mạnh mẽ, đột ngột khác nhau của môi trường
Tuy nhiên ông cũng nhấn mạnh rằng không phải bất kì một phản ứng stress cũng đều trải qua cả 3 giai đoạn Có rất nhiều phản ứng chỉ dừng ở giai đoạn hai, khi mà cơ thể đã dàn xếp và thích ứng được với môi trường
Theo H.Selye, không phải mọi stress đều có hại mà ngược lại, trong nhiều trường hợp, stress giúp cho
cá thể thích ứng với các tác nhân từ phía môi trường bên ngoài Ông cũng phân chia ra thành stress có lợi - eustress và stress có hại - distress
Như vậy, H.Selye quan niệm: “Stress là một phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể
trước những tình huống căng thẳng” Ông nhấn mạnh: Stress có tính chất tổng hợp, chứ không phải
chỉ thể hiện trong một trạng thái bệnh lý Stress thể hiện phản ứng sống, là phản ứng thích nghi không đặc hiệu của cơ thể động vật với các tác động của môi trường
1.1.3 Mô hình tương tác của Lazarus và Folkman
Nếu như Cannon và Selye xem stress như là trạng thái bên trong của cơ thể thì Holmes và Raha lại đề cập stress từ các sự kiện bên ngoài cá nhân Năm 1984, nhà tâm lý học Lazarus và cộng sự của mình Folkman đưa ra mô hình:
Trang 3Mô hình stress của Lazarus và Folkman (1984)
- Richard Lazarus cho rằng stress là “trạng thái hay cảm xúc mà chủ thể trải nghiệm khi họ nhận định rằng các yêu cầu và đòi hỏi từ bên ngoài và bên trong có tính chất đe dọa, có hại, vượt quá nguồn lực cá nhân và xã hội mà họ có thể huy động được”
Các tác giả cho rằng stress xuất hiện khi cá nhân phải đối mặt với tình huống, khó khăn, vượt quá khả năng dàn xếp của chủ thể Phản ứng stress được chủ thể “phóng” ra nếu như chủ thể đánh giá sự kiện nào đó có khả năng trở thành sự kiện gây stress
Dựa trên lý thuyết hành vi - nhận thức, mô hình của Lazarus và Folkman nhấn mạnh đến vai trò của đánh giá Con người ở đây được xem như là một chủ thể tích cực, có khả năng đánh giá các sự kiện, tình huống và phản ứng stress là của chủ thể tạo ra nhằm đáp ứng với tác nhân gây stress/stressor chứ không phải là một phản ứng thụ động trước những sự kiện tác động đe dọa từ phía môi trường
Tình huống stress
Chủ thể
Tình huống đe dọa
Tình huống không đe dọa
Trang 41.1.4 Mụ hỡnh cỏc biến cố cuộc sống
Khụng tỏn thành với mụ hỡnh của Cannon cũng như của Selye vỡ nhấn mạnh đến những thay đổi sinh
lý, mụ hỡnh cỏc biến cố đời sống của Holmes và Rahe (1967) cho rằng stress là những thay đổi của cỏ thể nhằm đỏp lại những biến cố của cuộc sống Cú rất nhiều cỏc biến cố khỏc nhau trong cuộc đời của mỗi cỏ nhõn Cú những biến cố gõy ra stress mạnh như: cỏi chết của người bạn đời; cỏi chết của người thõn trong gia đỡnh Cú những biến cố gõy stress mức độ vừa như: con cỏi lớn lờn và rời khỏi nhà; mang thai và những biến cố gõy stress mức độ nhẹ như: thay đổi thúi quen ăn, ngủ Mụ hỡnh này cú tớnh ứng dụng cao Trờn cơ sở của mụ hỡnh này, cú nhiều thang đo stress đó được xõy dựng
T H Holmes và Rahe đã xây dựng nên Bảng liệt kê các sự kiện th-ờng gây stress, và gọi đó là Thang Điểm Thích Nghi Xã Hội, đ-ợc viết tắt SRRS (the Social Readjustment Rating Scale) Điểm SRRS đ-ợc tính bằng cách cộng tất cả điểm số của các sự kiện mà cá nhân đã trãi qua trong năm tr-ớc
đây
Thang Điểm Thích Nghi Xã Hội
Nguồn T H Holmes và Rahe (1967)
Trang 513 Những trở ngại trong quan hệ tình dục 39
19 Có thêm các tranh luận (không đồng ý) giữa
vợ/chồng
35
23 Con cái rời khỏi nhà (đi nhà trẻ, đi học ) 29
Trang 639 Thay đổi những ng-ời cùng sống với gia đình 15
- Dưới gúc độ xó hội học, stress được xem như là một sự kiện từ mụi trường đũi hỏi một cỏ nhõn phải thử thỏch những tiềm năng và đỏp ứng khụng bỡnh thường (Snynder, Coping with stress: Effective people and processes, Oxford University, 2001) Hiểu một cỏch khỏc, stress là những biến động trong xó hội, trong gia đỡnh và trong đời sống cỏ nhõn tỏc động lờn con người, gõy mất “thăng bằng” cho họ
- Từ điển Tõm lý học Nga của V.P Dintrenco và B.G Mesiriakova (1996), đó đưa ra định nghĩa: “Stress là trạng thỏi căng thẳng về tõm lý xuất hiện ở người trong quỏ trỡnh hoạt động ở những điều kiện phức tạp, khú khăn của đời sống thường ngày, cũng như trong những điều kiện đặc biệt Đõy là một định nghĩa tương đối hoàn chỉnh, đó chỉ rừ bản chất của stress dưới gúc độ tõm lý học và nguyờn nhõn dẫn đến hiện tượng này Tuy nhiờn, trờn thực tế, stress khụng chỉ nảy sinh trong những tỡnh huống khú khăn mà ngay cả trong những điều kiện đơn điệu, tẻ nhạt hoặc quỏ mừng, quỏ vui cũng cú thể gõy ra stress
Như vậy, stress cú thể được xem như là những nguyờn nhõn, hậu quả hay cú thể là đỏp ứng của chủ thể trước những yờu cầu nảy sinh trong cuộc sống, lao động
Như vậy, cú thể hiểu một cỏch chung nhất:
Stress là những phản ứng sinh học và đỏp ứng về tõm lý (nhận thức, xỳc cảm và hành vi) xuất hiện ở chủ thể trong những tỡnh huống khú khăn, phức tạp hoặc khụng phự hợp với khả năng, nguồn lực của cỏ nhõn
Trang 7• Tình huống/hoàn cảnh gây stress (Stressful situation): tình huống trong đó có sự hiện diện của tác nhân gây stress/stressor dẫn đến xuất hiện trạng thái stress ở chủ thể
• Tác nhân gây stress/stressor: một kích thích, sự kiện, biến cố nào đó từ phía môi trường, bản thân … mang tính đe dọa, vượt quá khả năng đáp ứng của chủ thể dẫn đến xuất hiện stress
1.2 Các giai đoạn của phản ứng stress: Theo H.Selye, phản ứng stress gồm 3 giai đoạn
1.2.1 Giai đoạn báo động
Xuất hiện phản ứng “Chiến đấu hay chạy trốn” như theo mô hình của Cannon Trong giai đoạn này, hệ thần kinh giao cảm được hoạt hóa; các hormon như: costisol, adrenalin được phóng thích vào máu; các nguồn lực của cơ thể được huy động để đáp lại sự đe dọa Các phản ứng sinh lý của cơ thể được triển khai như:
• Hơi thở dồn dập, tim đập nhanh, tăng huyết áp
• Toát mồ hôi, run chân tay
• Đau nhói vùng ngực
• Ăn không ngon miệng, chán ăn
• Buồn nôn Đau vùng dạ dày
• Đại/ tiểu tiện nhiều lần
• Mệt mỏi, uể oải, không muốn làm bất cứ việc gì
• Cơ bắp căng mỏi Đau nhức xương khớp (bả vai, chân tay ) …
Về mặt tâm lý, các hoạt động tâm lý được kích thích, đặc biệt là tăng cường quá trình tập trung chú ý, ghi nhớ và tư duy … Cụ thể:
• Hay quên, hay nhầm lẫn
• Khó tập trung chú ý
• Suy nghĩ kém nhanh nhạy, linh hoạt
• Lo lắng, căng thẳng, bực bội, khó chịu
• Không còn thấy hứng thú trong công việc như trước
Stressor
Trang 8• Mất niềm tin
• Có cảm giác bị mọi người xa lánh, ác cảm với mình
• Dễ mất bình tĩnh, cáu gắt, nổi khùng với người khác
• Chán đời, có ý nghĩ tự sát …
Những thay đổi về hành vi, ứng xử như:
• Ăn hoặc uống quá nhiều như một cách để giải khuây
• Trầm tính, ít nói, suy nghĩ miên man
• Nói nhiều, nói quá to, dễ cắt ngang lời người khác
• Thu mình lại, né tránh, hạn chế gặp gỡ với người khác
• Làm việc uể oải, không còn tích cực, nhiệt tình như trước
• Uống rượu, bia…để có cảm giác thoải mái, giảm căng thẳng
1.2.2 Giai đoạn chống đỡ (giai đoạn thích nghi)
Trong giai đoạn này, mọi cơ chế thích ứng được động viên để cơ thể chống đỡ và điều hòa các rối loạn ban đầu Sức đề kháng của cơ thể tăng lên, con người có thể làm chủ được tình huống stress, lập lại các trạng thái cân bằng nội môi (homeostase) và tạo ra sự cân bằng mới với môi trường Giai đoạn này còn được gọi là giai đoạn thích nghi
Trong một tình huống stress bình thường, chủ thể đáp ứng lại bằng hai giai đoạn báo động và chống
đỡ
Nếu giai đoạn chống đỡ tiến triển tốt thì các chức năng tâm, sinh lý cơ thể được phục hồi Nếu khả năng thích ứng của cơ thể mất dần, thì quá trình phục hồi không xảy ra và chuyển sang giai đoạn suy kiệt
1.2.3 Giai đoạn suy kiệt
Phản ứng stress trở thành bệnh lý khi tình huống stress hoặc quá bất ngờ, dữ dội, hoặc ngược lại, quen thuộc nhưng lặp đi lặp lại, vượt quá khả năng dàn xếp của chủ thể
Trong giai đoạn suy kiệt, các biến đổi tâm lý, sinh lý và hành vi của giai đoạn báo động xuất hiện trở lại, hoặc là cấp tính và tạm thời, hoặc là nhẹ hơn nhưng kéo dài Có thể chia stress bệnh lý thành hai loại: stress bệnh lý cấp tính và stress bệnh lý kéo dài
Trang 91.3 Stress bệnh lý
1.3.1 Stress bệnh lý cấp tính
Những tình huống gây ra stress bệnh lý cấp tính thường là không lường trước được, mang tính chất dữ dội, như khi bị tấn công bất ngờ, khi gặp thảm họa Trạng thái này được chia thành hai loại theo diễn biến của các phản ứng cảm xúc cấp tính xảy ra tức thì hay chậm chạp
Phản ứng cảm xúc cấp xảy ra nhanh:
Trong trạng thái này, chủ thể hưng phấn quá mức về mặt tâm thần và cơ thể:
• Tăng trương lực cơ: nét mặt căng thẳng, các cử chỉ cứng ngắc, kèm theo cảm giác đau bên trong
• Trạng thái lo âu, kèm theo nỗi sợ hãi mơ hồ
Loại phản ứng stress cấp tính này kéo dài từ vài phút đến vài giờ, rồi mờ nhạt dần tùy theo tính chất và tiến triển của stress Sự mờ nhạt càng rõ nét hơn khi có mặt người khác, làm chủ thể yên tâm và khuây
nó cũng giống như phản ứng cảm xúc cấp tính, diễn ra tức thì
Điều này chứng tỏ chủ thể không còn khả năng dàn xếp với tình huống stress về mặt tâm lý, bị suy sụp
và mất bù một cách chậm chạp
1.3.2 Stress bệnh lý kéo dài
Stress bệnh lý kéo dài thường được hình thành từ các tình huống stress quen thuộc, lặp đi lặp lại như trong trường hợp chủ thể có những xung đột hoặc gặp những phiền nhiễu, không toại nguyện trong đời
sống hàng ngày
Đôi khi chúng được hình thành từ các tình huống stress bất ngờ và dữ dội (sau một phản ứng cấp, không thoái lui hoặc sau một loạt các phản ứng cấp thoáng qua)
Biểu hiện của nó rất đa dạng và thay đổi tùy theo sự ưu thế về mặt tâm lý, cơ thể hay về mặt hành vi
Các biểu hiện biến đổi tâm lý:
• Chủ thể phản ứng quá mức với hoàn cảnh: dễ nổi cáu, có cảm giác khó chịu, căng thẳng về tâm
lý, mệt mỏi về trí tuệ và không thư giãn được
• Rối loạn giấc ngủ: khó ngủ, hay thức giấc và không có cảm giác hồi phục sau khi ngủ
Trang 10• Các rối loạn này tùy theo tính chất, hoàn cảnh và sự lặp lại của tình huống stress mà có thể tiến triển thành các triệu chứng sau đây:
- Chủ thể chờ đợi stress một cách bi quan
- Có sự cảnh tỉnh một cách cao độ và luôn ở trong tình trạng nghe ngóng, căng thẳng nội tâm,
dễ nổi cáu
- Có biểu hiện lo âu - ám ảnh sợ Những lo âu - ám ảnh sợ này hình thành trên nền một sự lo âu dai dẳng và xuất hiện những cơn lo lắng về nơi đã xảy ra tình huống stress (ở nơi làm việc hay ở gia đình) Các rối loạn có khi mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác nhau như người bệnh
sợ các phương tiện giao thông công cộng, sợ xung đột với cấp trên, với người thân, ngại giao tiếp, sợ bệnh tật
Các biểu hiện về cơ thể:
Chủ thể thường có những rối loạn về thần kinh thực vật ở mức độ vừa Những rối loạn này tăng lên khi chủ thể hồi tưởng về các tình huống stress mà mình đã phải chịu đựng Qua những lời than phiền của chủ thể, chúng ta thấy các rối loạn về tâm thần và chức năng cơ thể của họ như sau:
• Người bệnh trong trạng thái suy nhược kéo dài
• Căng cơ bắp (chuột rút), run tay chân, đổ mồ hôi
• Nhức đầu, đau nửa đầu, đau cột sống kéo dài, dai dẳng
• Đánh trống ngực, đau vùng trước tim và huyết áp tăng không ổn định
• Có biểu hiện bệnh lý chức năng đại tràng và đau bàng quang (nước tiểu trong)
Tất nhiên, không phải mọi stress bệnh lý kéo dài đều có tất cả những biểu hiện về cơ thể, tâm lý như
đã nêu ở trên Song ngoài những triệu chứng trên, có khi chúng ta còn gặp những biểu hiện khác về cơ thể có liên quan với trạng thái lo âu
Các biểu hiện về hành vi:
Tình huống stress có thể ức chế hoặc kích thích hành vi của chủ thể Những rối loạn chức năng thích nghi của hành vi được biểu hiện trong các rối loạn hành vi
Các rối loạn hành vi xảy ra do chủ thể có thái độ rút lui, tránh né các quan hệ xã hội; hoặc ngược lại,
do những xung động mất kiềm chế, dẫn đến sự khó khăn trong giao tiếp của người bệnh Có người thay đổi hẳn tính cách, làm cho người khác không nhận ra hoặc có những băn khoăn, suy nghĩ về nhân cách của họ
Các rối loạn hành vi lúc đầu chỉ gây ra sự khó chịu, nhưng về sau nó phát triển và gây ra những tổn thất, làm trở ngại cho công việc của chủ thể
Có người lúc đầu muốn dùng rượu, dùng thuốc để làm dịu những căng thẳng, lo âu, nhưng sau đó, do bản thân rượu và thuốc lại là chất gây lo âu, nên bắt buộc họ phải tăng dần liều sử dụng Hành vi cứ như vậy lặp đi lặp lại và tăng dần, đưa chủ thể vào một vòng xoắn đáng sợ của sự nghiện rượu, nghiện thuốc Những rối loạn hành vi nghiện này không thể không ảnh hưởng xấu đến các quan hệ xã hội của chủ thể
1.4 Ứng phó với stress
Ứng phó, đó là: “Những nỗ lực thay đổi hành vi và nhận thức nhằm kiểm soát đòi hỏi từ phía bên ngoài hoặc bên trong, vượt quá khả năng của con người” (Lazarus R., 1984)
Trang 11Có nhiều cách phân loại ứng phó khác nhau, tuy nhiên cách chia ra làm hai dạng: ứng phó tập trung (Problem-focused Coping) vào vấn đề và ứng phó tập trung vào cảm xúc (Emotion-focused Coping) được nhiều người sử dụng hơn
1.4.1 Ứng phó tập trung vào vấn đề
Ứng phó tập trung vào vấn đề là hướng đến tác nhân gây stress, nhằm loại bỏ hoặc giảm thiểu ảnh hưởng gây hại của nó Chiến lược ứng phó này thường được lựa chọn đầu tiên khi con người rơi vào tình huống/hoàn cảnh gây stress
Ứng phó tập trung vào vấn đề thường được bắt đầu bằng đánh giá xác định vấn đề, sau đó đưa ra các cách thức, giải pháp để lựa chọn giải pháp tối ưu Giải pháp thường gặp nhất là thay đổi chính tình huống/hoàn cảnh hoặc loại bỏ tác nhân gây stress Ví dụ, mâu thuẫn cá nhân kéo dài, chưa được giải quyết làm cho chủ thể thấy mệt mỏi Bằng cách bình tĩnh, khách quan, chủ thể phân tích, đánh giá để tìm ra nguyên nhân chính và các cách tiếp cận có thể để giải quyết mâu thuẫn
Ứng phó tập trung vào vấn đề không chỉ là thay đổi tình huống gây stress một cách khách quan mà còn
có cách thức nữa là làm thay đổi chính bản thân, ví dụ, học tập các kĩ năng đối phó để tăng cường khả năng lựa chọn Cách thức này thường gặp khi chủ thể gặp stress dưới áp lực của công việc và cuộc sống
• Đánh giá lại ý nghĩa của tình huống Hoàn cảnh là khách quan, chúng ta không thể thay đổi được, song “ý nghĩa” của nó không nặng nề như lúc đầu chúng ta nghĩ
• Sử dụng các hoạt động giải trí như xem phim, đọc sách hay làm công việc ưa thích như đi mua sắm
• Chơi thể thao
• Thư giãn
Cũng có không ít trường hợp ứng phó một cách tiêu cực như: uống rượu, bia, hút thuốc lá, thậm chí dùng ma túy
Một số người sử dụng các cơ chế phòng vệ tâm lý, đó là những kế hoạch mà con người vận
dụng để có thể tránh được hay kiểm soát được một xung động không mong muốn (như làm giảm bớt trạng thái lo âu …) bằng cách che đậy hay ngụy trang nguyên nhân đích thực của nó đối với chính bản thân họ cũng như đối với người khác
Dồn nén: Quên đi những rắc rối, căng thẳng bằng cách chôn chặt những cảm xúc đau buồn, cất giấu trong lòng hoặc những nơi bản thân không nhìn thấy để không có cơ hội nhớ lại …
Phủ nhận: người ta chỉ đơn thuần không chấp nhận những gì đã xảy ra, hay phủ nhận những thông tin nào đó đã gây ra tình trạng lo âu cho họ… VD: khi nhận được thông báo mình trượt đại học, 1 sinh viên nào đó thoạt đầu phủ nhận điều này, anh ta có thể nghĩ rằng chắc là có gì
Trang 12nhẫm lẫn trong khi lên điểm, bởi bài của anh ta làm tốt mà, rồi sau đó mới dần dần chấp nhận
sự thật Tùy từng người mà tình trạng phủ nhận có thể kéo dài rất lâu hay kết thúc nhanh chóng
Hợp lý hóa diễn ra khi chúng ta bóp méo sự thật bằng cách biện minh tốt đẹp cho những gì xảy đến với chúng ta Chúng ta dựng lên những lối giải thích giúp bảo vệ lòng tự ái của mình VD:
Tự nhủ “không yêu anh ấy lại là may”, “có lẽ chẳng làm được điều gì tốt hơn” , hoặc nếu bạn
đã từng nghe ai đó nói rằng y đã không phiền vì phải chờ đợi trong một cuộc hẹn bởi vì thật ra
y có nhiều việc phải làm vào buổi chiều hôm đó, có lẽ bạn sẽ hiểu được công dụng của biện pháp hợp lý hóa
Phóng ngoại nội tâm: là 1 biện pháp tự vệ nhờ quy kết những xung động và tình cảm khó chịu của mình cho người khác VD: 1 người đàn ông bất lực trong sinh hoạt vợ chồng có thể oán trách vợ mình rằng bà ta yếu sinh lý, không biết cách đáp ứng nhu cầu sinh lý của chồng
Thăng hoa: người ta hướng những xung động khó chịu vào các ý tưởng, tình cảm hay các hành
vi được xã hội cho phép VD: 1 người có tính gây hấn rất mạnh có thể trở thành người bán thịt – để có dịp dùng dao chém thật mạnh vào thịt súc vật thay vì vào người Biện pháp này cho phép bác hàng thịt ấy có cơ hội không những giải phóng tình trạng căng thảng tâm lý mà còn thực hiện tính gây hấn theo cách thức được xã hội chấp nhận
Trong cuộc sống, theo Freud tất cả chúng ta đều sử dụng các cơ chế phòng vệ đến 1 mức độ nào đó Tuy vậy, 1 số người đã lạm dụng chúng quá nhiều đến mức làm cho 1 phần khá lớn năng lực tinh thần thường xuyên phải được sử dụng để che đậy và chuyển hướng các xung động không thể chấp nhận được, khiến cho cuộc sống càng ngày càng khó khăn, hậu quả có thể dẫn tới chứng “loạn thần kinh” (đó là các rối loạn tâm trí được gây ra bởi tình trạng lo âu)
- Một số tác giả (Cooper, 2005) đưa ra chiến lược ứng phó thứ ba: chiến lược tập trung vào các mối quan hệ (Relationship-focused Coping) Tuy nhiên trong tình huống stress, việc cá nhân chia sẻ, trao đổi, hỏi ý kiến người khác cũng là nhằm lựa chọn chiến lược ứng phó được cho là phù hợp Và như chúng ta cũng thấy, để ứng phó với stress, con người có thể sử dụng cả 2 chiến lược một cách đồng thời hoặc đan xen nhau
1.4.3 Một số vấn đề liên quan đến ứng phó
Việc cá nhân lựa chọn chiến lược ứng phó nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau:
• Loại vấn đề Khi gặp stress trong công việc, stress nghề nghiệp, con người thường lựa chọn chiến lược ứng phó tập trung vào vấn đề Trong khi đó, để ứng phó với stress gia đình, chiến lược tập trung vào cảm xúc thường được lựa chọn nhiều hơn
• Khả năng kiểm soát vấn đề Nếu cá nhân có khả năng kiểm soát được tác nhân gây stress và tình huống nói chung, chiến lược ứng phó tập trung vào vấn đề thường được ưu tiên lựa chọn Còn nếu không có khả năng kiểm soát được tình huống thì chiến lược tập trung vào cảm xúc được lựa chọn nhiều hơn
• Lứa tuổi Tuổi trẻ thích lựa chọn chiến lược tập trung vào vấn đề, trong khi người trung niên và người già thường lựa chọn chiến lược tập trung vào cảm xúc
Trang 13• Giới Nữ giới thường thích lựa chọn chiến lược tập trung vào cảm xúc, còn nam giới thích theo chiến lược tâp trung vào vấn đề
• Ảnh hưởng bên ngoài Học vấn của chủ thể, khả năng tài chính, nền giáo dục của gia đình cũng
có ảnh hưởng đến việc lựa chọn chiến lược và kết quả của ứng phó Ngoài ra, sự hỗ trợ tâm lý từ phía bên ngoài, đặc biệt là từ những người thân trong gia đình hay bạn bè đều có ảnh hưởng đến ứng phó của chủ thể
2 CƠ SỞ SINH LÝ CỦA STRESS
Sự phát sinh, phát triển trạng thái stress và khả năng thích ứng trước tình huống stress của con người liên quan chặt chẽ với hoạt động của hệ thống thần kinh - thể dịch, trước hết là hệ thống thần kinh trung ương - dưới đồi - tuyến yên và tuyến thượng thận
2.1 Hệ thần kinh trung ƣơng
Từ những thông tin thu được qua hoạt động của các giác quan; từ hoạt động trí tuệ và cảm xúc, vỏ não
đã chủ động đánh giá tình huống stress Những đáp ứng của cơ thể về mặt sinh lý, sinh lý bệnh đối với tình huống stress phụ thuộc nhiều vào kết quả đánh giá này
Các phản ứng hormon trước tình huống stress tuy không mang tính phản xạ, song nó phụ thuộc nhiều vào tình trạng hiện tại, mức độ cảm ứng và sự tập nhiễm của chủ thể Chính phản ứng thể dịch nay là yếu tố giúp chủ thể đánh giá đầy đủ hơn tình huống stress và huy động được khả năng có thể có để đối phó với nó
Khi hệ thần kinh trung ương tham gia vào chức năng nhận thức và cảm xúc các phản ứng thích nghi thần kinh - tập tính, thì vùng hải mã được xem là ngã tư chính của sự thích nghi này, vì đây là vùng có các thụ thể chứa glucocorticoid Căn cứ vào cảm ứng của cơ thể với glucocorticoid, có thể chia thành hai nhóm người:
Nhóm I, gồm những người có cảm ứng với sự thay đổi vừa phải lượng glucocorticoid hàng ngày Nhóm II, gồm những người có cảm ứng với một số lượng lớn glucocorticoid bài tiết trong tình huống stress
Nếu giải định rằng, stress cấp tính gây ra sự tập nhiễm bằng cách hoạt hóa các thụ thể nhóm II, thì stress kéo dài sẽ gây ra sự giảm cảm ứng thứ phát của các thụ thể nhóm I Và như vậy, chủ thể bị rối loạn thích nghi là bởi vì họ có những thiếu sót trong việc học tập, rèn luyện các tập tính
2.2 Hệ thần kinh giao cảm và tuyến tủy thƣợng thận
2.2.1 Sự phóng thích catecholamin
Tủy thượng thận có chung nguồn gốc phôi thai với hệ thần kinh giao cảm Ngay trong những phản ứng khẩn cấp đầu tiên của quá trình đáp ứng tình huống stress (trong giai đoạn báo động), hệ thần kinh giao cảm và tuyến tủy thượng thận đã được hoạt hóa Catecholamin dự trữ (adrenalin trong các đầu mút của thần kinh giao cảm; noradrenalin trong các tuyến tủy thượng thận) được giải phóng và kích thích cơ thể hoạt động, tạo nên đáp ứng thích nghi sinh học tức thời (kéo dài trong vài phút)