Sự phát triển tâm lý theo lứa tuổi: Là sự phát triển về các lĩnh vực nhận thức, ý thức, nhân cách, tìnhcảm… diễn ra trong từng giai đoạn lứa tuổi cụ thể... B - CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN T
Trang 1SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ LỨA TUỔI
GV Trần Thị Tâm Nhàn
MỤC TIÊU
1 Phân biệt được thế nào là “Sự phát triển tâm lý” và “Sự phát triển tâm
lý theo lứa tuổi”
2 Biết được các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển
3 Lượng giá chất lượng phát triển của chủ thể và phân biệt được sự bìnhthường với bệnh lý
4 Hiểu bệnh nhân và tạo được mối quan hệ với bệnh nhân
5 Có thái độ đồng cảm, chia sẻ, yêu thương bệnh nhân trong quá trìnhđiều trị
NỘI DUNG
A - NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA TÂM LÝ HỌC PHÁT TRIỂN
1 Khái niệm:
Sự phát triển tâm lý:
Là khái niệm chỉ tổng thể quá trình chuyển đổi về các lĩnh vực
nhận thức, ý thức, nhân cách, tình cảm của con người và mang tínhquy luật
Tất cả các lĩnh vực này có liên quan chặt chẽ đến sự phát triển thểchất và vận động Tức là giữa tinh thần và thể chất có sự liên hệ chặtchẽ và ảnh hưởng với nhau
Sự phát triển tâm lý theo lứa tuổi:
Là sự phát triển về các lĩnh vực nhận thức, ý thức, nhân cách, tìnhcảm… diễn ra trong từng giai đoạn lứa tuổi cụ thể
Trang 22 Nhịp điệu của sự phát triển:
Tất cả trẻ em đều trải qua từng giai đoạn phát triển như nhau, tuynhiên nhịp điệu phát triển của từng trẻ là không giống nhau
Ví dụ: các trẻ đều trải qua giai đoạn đi chập chững, đi vững, chạy Tuy nhiên, có trẻ biết đi vững lúc 9 tháng, có trẻ 12 tháng
3 Thời kỳ nhạy cho việc học tập:
Những nghiên cứu chứng minh: có thời kỳ “quyết định” cho mỗithành tựu (điều đạt được), nghĩa là thời kỳ đặc biệt nhạy cho việchọc một điều gì đó Ta biết rằng nếu trẻ không biết đi trong giaiđoạn bình thường (khoảng từ 9 – 20 tháng) thì trẻ khó khăn để đihọc sau này
Là người lớn, mỗi ngày chúng ta cũng trải nghiệm những khó khănnày Ví dụ học một ngoại ngữ đòi hỏi chúng ta phải đầu tư rất nhiềuthời gian công sức trong khi đó một trẻ nhỏ học ngoại ngữ một cách
tự nhiên
4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển:
4.1 Sự trưởng thành của hệ thần kinh:
Những điều trẻ đạt được trong quá trình phát triển (biết ngồi bô, đi,nói…) nhờ vào sự trưởng thành của hệ thần kinh Mỗi một thành
tựu cần có khả năng vận động và khả năng về trí não.
Ví dụ: trẻ không thể nói một câu với nhiều từ khi mới được 1 tuổi
Do đó, cha mẹ và những nhà chuyên môn nên tôn trọng nhịp điệucủa trẻ
Trang 34.2 Môi trường (giáo dục)
- Sự phát triển của trẻ không chỉ phụ thuộc vào yếu tố sinh lý màcòn ảnh hưởng bởi môi trường trẻ sống; đó là cơ cấu gia đình, anh
em, bạn bè, trường học, tôn giáo…Người lớn dạy cho trẻ, trẻ tiếpthu và làm theo
Ví dụ: không ai nói chuyện với trẻ, trẻ sẽ không biết nói
- Khoa học thần kinh đã chứng minh rằng việc học có vai trò quantrọng trong hoạt động của vỏ não Thật vậy, một trẻ càng phát triểnnhững thành tựu mới, càng tạo ra sợi liên bào mới và não trở nênhiệu quả hơn
4.3 Hoạt động bên trong của bản thân trẻ (tự giáo dục)
Trẻ tiếp thu kinh nghiệm lịch sử của loài người thông qua sự chỉdạy của người lớn
Ví dụ: trẻ thích tham gia vào các hoạt động học tập sẽ tích lũyđược nhiều kinh nghiệm, kiến thức hơn trẻ ít tham gia
5 Tính không liên tục và những rối loạn trong sự phát triển:
Yếu tố cơ thể và môi trường giúp trẻ tiến triển Tuy nhiên, sự pháttriển này không phải luôn hài hòa và liên tục, nhiều yếu tố khác cóthể xen vào như:
- Trẻ chưa trưởng thành đủ (trẻ sinh non)
- Cấu tạo nền tảng không tốt (dị tật bẩm sinh)
- Bất thường nhiễm sắc thể (trẻ bị bệnh Down)
- Sang chấn hoặc nhiễm trùng cận sản
- ……
Trang 4Tất cả những yếu tố này có thể làm ngưng hoặc chậm phát triển ảnh hưởng đặc biệt lên lĩnh vực trí tuệ Điều cần lưu ý là những rối loạn này càng xuất hiện sớm nơi trẻ thì càng nghiêm trọng và không thể phục hồi.
Mặc dù vậy, ở trẻ nhỏ, khi một vùng của não bị tổn thương chúng sẽđược hỗ trợ bởi một vùng khác của não Do đó, khả năng phục hồi
của trẻ sẽ rất lớn nếu được chẩn đoán và phát hiện sớm.
B - CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN TÂM LÝ LỨA TUỔI
I - GIAI ĐOẠN RA ĐỜI ĐẾN TUỔI VỊ THÀNH NIÊN
Đây là giai đoạn mãnh liệt nhất của sự phát triển Trong suốt thời kỳ này,nhân cách, trí tuệ, kỹ năng vận động, xã hội, mối quan hệ và tình cảm của trẻđược hình thành
Thời kỳ trong bụng mẹ: Con người là một sinh vật xã hội Những nghiên
cứu chứng minh, khi còn trong bụng mẹ, bào thai phát triển những giác quan
có vai trò giao tiếp
Ví dụ:- thính giác xuất hiện lúc bào thai 5 tháng, trẻ trong bụng mẹ có thểnghe thấy những âm thanh và có phản ứng khi nghe giọng nói của mẹ
- Bé nhận biết sự tiếp xúc qua thành bụng
1 GIAI ĐOẠN 0 – 1 TUỔI
1.1 Đặc điểm sinh lý:
Cân nặng
10 – 14 ngày: phục hồi cân nặng lúc sinh
5 – 6 tháng: gấp đôi cân nặng lúc sinh
1 tuổi: gấp ba cân nặng lúc sinh
Trang 5Chiều cao
6 tháng đầu: tăng khoảng 2,5 cm/tháng
6 tháng sau: tăng khoảng 1,25 cm/tháng
• Sự sinh ra như là sự tách rời giữa mẹ và con.
- Đối với bà mẹ: phải chấp nhận trẻ không còn là một phần củachính bản thân mình nữa Sự hiện diện của trẻ vừa gần gũi vừa xa
lạ Do đó, bà mẹ gặp khó khăn về cảm xúc đối với trẻ (hiện tượngtrầm cảm sau sinh) Chúng ta cần giúp đỡ bà mẹ vượt qua sự khókhăn này
- Đối với trẻ: lệ thuộc hoàn toàn vào môi trường xung quanh để tồntại Trẻ phải thích nghi với cuộc sống mới khi chào đời (nhiệt độ,môi trường, ánh sáng, âm thanh…)
Ở giai đoạn này trẻ có quan hệ xã hội với bố mẹ và những ngườitrong gia đình, đặc biệt là mẹ Sự quan tâm chăm sóc của mẹ tạocho trẻ cảm giác an toàn, tin tưởng Ngược lại, trẻ sẽ có cảm giác
lo lắng và sợ hãi
• Trẻ sơ sinh tích cực trong giao tiếp:
- Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng trẻ em khi sinh ra có một sốphản xạ giúp thích nghi linh hoạt với môi trường tự nhiên và xãhội
Ví dụ: phản xạ tự vệ như ho, hắt hơi, mút, nuốt, quay đầu…
Trang 6- Dần dần, trẻ xuất hiện các phản xạ có điều kiện, phản ứng vào
tình huống được gặp Từ những tình huống đó, trẻ chủ động trong mối quan hệ với người khác
Ví dụ: quay mặt đi khi không chịu bú; mỉm cười khi gặp mẹ;nhận ra và phản ứng với mùi của mẹ, vị sữa mẹ Khóc khi khônggặp mẹ…
→ Mọi nổ lực giao tiếp của trẻ nhằm cho người chăm sóc biết trẻđang muốn gì
Ví dụ: Tiếng la dữ dội của bé khi nhu cầu không được đáp ứng làm
cho mẹ hiểu là bé chưa có khả năng chờ đợi "Bé là tất cả, ngay
lập tức."
Ở tuổi này, điều quan trọng là trẻ nhận được những gì trẻ yêu cầu
Ở đây vai trò của người mẹ rất quan trọng cho sức khỏe tâm thầntrong tương lai và cho cách cấu tạo tâm lý tốt của trẻ
• Sự gắn bó mẹ con
Sự gắn bó mẹ con đặc trưng bởi sự gắn kết mạnh mẽ, cảm xúc
nồng ấm và sự giao lưu tình cảm sâu sắc của cả mẹ và con
- xuất hiện khi người lớn thỏa mãn những nhu cầu của trẻ, ví dụnhư cho trẻ ăn, chăm sóc trẻ
- sự gắn bó được duy trì và phát triển qua sự giao lưu cảm xúc giữa
mẹ với trẻ
- quan hệ gắn bó giữa cha mẹ và trẻ được hình thành trong hai nămđầu đời sẽ tạo cơ sở cho sự phát triền về thể chất và tâm lý của trẻ
ở hiện tại và tương lai
Ví dụ: Tiếng la dữ dội của bé khi nhu cầu không được đáp ứng làm
cho mẹ hiểu là bé chưa có khả năng chờ đợi "Bé là tất cả, ngay
Trang 7lập tức." Ở tuổi này, điều quan trọng là trẻ nhận được những gì trẻ
yêu cầu Ở đây vai trò của người mẹ rất quan trọng cho sức khỏetâm thần trong tương lai và cho cách cấu tạo tâm lý tốt của trẻ
Sự gắn bó được đánh dấu bởi tính hai mặt:
- Cơ bản vẫn còn: lo âu xa cách (tháng thứ 4), và lo âu người
lạ (tháng thứ 8) trong những năm đầu đời
- Bước đầu trải nghiệm sự vui thích: vai trò của da (sờ) và miệng (bữa ăn) và những ấm ức đầu tiên (ví dụ như cai sữa)
* Sự xa cách quá lâu giữa cha mẹ và trẻ có thể gây ra những hậu quả bệnh lý : bé dần dần thu mình lại và rơi vào
trạng thái trầm cảm : đó là « hội chứng vắng mẹ »
• Sự phát triển nhận thức, vận động quan trọng:
- Khoảng tháng thứ 2, xuất hiện nụ cười đáp trả
- Khoảng tháng thứ 3, trẻ giữ được đầu
- Khoảng tháng thứ 5 – 6, trẻ tự lật
- Khoảng tháng thứ 8 – 9, trẻ tự ngồi
- Khoảng 12 tháng, trẻ biết đi
- Khoảng 12 tháng, chủ động hơn trong các mối quan hệ cảmxúc với bố và mẹ Vào thời kỳ này ở trẻ xuất hiện một loạt cáccảm xúc mới bao gồm tức giận, vui mừng và buồn bực gắn vớinhững tình huống đa dạng hơn trước đó
• Về ngôn ngữ:
- Khoảng tháng thứ 3, trẻ phát ra những âm thanh
- Khoảng 12 tháng, trẻ biết và nói được 3 từ
Trang 8Hoạt động giao lưu cảm xúc trực tiếp với người lớn là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi này
Kết luận giai đoạn 0 – 1 tuổi:
Ta đã nhấn mạnh khía cạnh tình cảm trong quan hệ đầu đời của trẻ: quan hệ
mẹ - con
Mối quan hệ người chăm sóc – trẻ cũng có khía cạnh tình cảm Người chăm
sóc đóng vai trò như một người mẹ thay thế mà trẻ hằng mong đợi
Từ kiến thức trên, chúng ta có thể làm việc với người lớn, trong tình huống
bệnh nhân rất lệ thuộc, rất cần được chăm sóc Với thái độ yêu sách củabệnh nhân như là đứa trẻ đòi hỏi được đáp ứng ngay tức thì, người chăm sóc
dễ có thái độ khó chịu và áp lực, người chăm sóc có thể làm tất cả như là
“thỏa mãn con” hoặc không làm gì
Phân tích các hiện tượng quan hệ này gắn liền với bối cảnh sẽ giúp người
chăm sóc phản ứng một cách chuyên nghiệp và không xét đoán bệnh nhân
2 GIAI ĐOẠN 1 – 3 TUỔI
Cuối năm thứ nhất, đứa trẻ đã trở nên độc lập hơn, có thể tự đi lại, tự làmmột số việc đơn giản, thích tự mình khám phá thế giới Điều này dẫn đếnviệc thể thống nhất “mẹ - con” bắt đầu bị phá vỡ Trẻ bắt đầu tách rời khỏi
mẹ về mặt tâm lý và bước sang giai đoạn phát triển tiếp theo
2.1 Đặc điểm sinh lý:
Trẻ 12 tháng tuổi, trọng lượng cơ thể thường lớn gấp 3 lần so với lúcmới sinh và đến tuổi này trẻ bắt đầu ít tăng cân dần
Trang 92.2 Đặc điểm tâm lý:
• Các mốc phát triển tâm lý - vận động quan trọng:
- 18 tháng, trẻ biết tự xúc ăn
- 24 – 36 tháng, trẻ biết tự leo lên cầu thang, chạy, đi xe đạp ba
bánh, nhảy nhót bằng hai chân, giữ thăng bằng bằng 1 chân, némbóng bằng hai tay, có thể mặc và cởi quần áo với sự giúp đỡ củangười lớn
- Biết bắt chước hành động của những người xung quanh.
- 24 tháng, không tiêu tiểu trong quần
• Về nhận thức
- Tri giác: chiếm ưu thế nhất trong quá trình phát triển Mọi hành
vi của trẻ đều gắn liền với những gì trẻ trực tiếp tri giác trong hiệntại
- Trẻ nhớ dựa trên những gì trẻ thấy được.
- Hành động và tư duy:
Trang 10• tư duy trực quan hành động cụ thể Nghĩa là những biểuhiện tư duy của trẻ đang gắn rất chặt với hành động trongnhững tình huống cụ thể.
• hành động với đồ vật luôn giữ vai trò chủ đạo
- Sự phát triển cảm xúc:
• trẻ có những phản ứng xúc cảm đối với những gì trẻ trựctiếp tri giác hay nhận thức được
• các động cơ, mong muốn của trẻ chưa có thứ bậc ưu tiên
• 2 tuổi, trẻ có những biểu hiện “đồng cảm” với người khác
• Về ngôn ngữ
24 tháng, trẻ biết ít nhất 100 từ, trẻ có thể nói một câu 2 từ
36 tháng, trẻ biết >1000 từ, có thể nói một câu 7 – 8 từ
• Tự ý thức
- Khoảng sau 2 tuổi, trẻ đã bắt đầu nhận biết mình trong gương.
Đây là hình thức tự ý thức sơ đẳng đầu tiên của trẻ
Khủng hoảng 3 tuổi: Ở cuối giai đoạn này, trẻ thường bùng lên
những phản ứng cảm xúc mạnh của trẻ đối với những khó khăn trẻgặp phải khi làm việc gì đó một mình không được, hoặc những cơnhờn dỗi khóc lóc khi trẻ đòi hỏi gì đó mà không được người lớn đápứng
Hoạt động với đồ vật (đồ chơi) là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi này
Kết luận về giai đoạn 1 – 3 tuổi:
Trẻ hướng về sự tự chủ về các kinh nghiệm thông qua trò chơi với người khác, qua học tập (vệ sinh, ăn uống, mặc quần áo), tự chủ về ngôn ngữ khá hơn “Cái tôi” bắt đầu hình thành.
Trang 113 GIAI ĐOẠN 3 – 6 TUỔI
3.1 Đặc điểm sinh lý:
- Tỉ lệ cơ thể: đầu phát triển gấp 2 lần lúc mới sinh, nặng thêm khoảng
2kg và cao thêm khoảng 7cm
- Sự phát triển của xương: phát triển mạnh mẽ, cứng hơn
3.2 Đặc điểm tâm lý:
• Về nhận thức:
- Từ 4 – 5 tuổi, bắt đầu hình thành trí nhớ có chủ định Trong tình
huống trò chơi, trẻ nhớ có chủ định tốt hơn
- Nhờ có trí nhớ phát triển, trẻ có sự liên hệ giữa sự vật trẻ nhìn
thấy với sự vật mà trẻ đã gặp và quen trong quá khứ (vd: nhìnđường biết là đường đến trường hay đến nhà bà nội)
- Biết quan sát và tìm tòi
- Tư duy trực quan hình ảnh.
- Nhận biết được giới tính của mình là trai hay gái
- Sử dụng “ngôi thứ nhất” để nói về bản thân
- Trẻ biết tự trọng
• cảm xúc:
Trang 12- Tương đối ổn định, yên ả, chứ không còn những cơn hờn dỗi dữ
dội như tuổi nhà trẻ
- Lường trước được thái độ hài lòng, không hài lòng của những
người xung quanh đối với việc mình làm
- Sự lường trước này giúp kìm hãm hay khuyến khích trẻ hành
động
- Không còn hành động bộc phát Tuy nhiên chưa có khả năng thực
hiện những công việc mà bản thân trẻ không thấy thú vị
Hoạt động vui chơi, trò chơi phân vai là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi này.
Kết luận giai đoạn 3 – 6 tuổi:
Trẻ ý thức về giới tính Trẻ có nhiều mối quan hệ mới (đi học mẫu giáo), dẫnđến sự xuất hiện các động cơ mới gắn với tự đánh giá và lòng tự trọng Đây
là thời kỳ tương đối êm ả trong sự phát triển tâm lý
→ Giai đoạn này đánh dấu sự chuyển biến các mối quan hệ giữa trẻ với cha mẹ
→ Sự nằm viện có thể đẩy một số bệnh nhân phát triển mối quan hệ khác giới với người chăm sóc
→ Người chăm sóc là người điều chỉnh vị trí của bệnh nhân, giúp bệnh nhân
ở đúng vị trí và luôn tôn trọng họ như là một chủ thể (như cha mẹ làm cho con)
4 GIAI ĐOẠN 6 - -12 TUỔI (Thời niên thiếu)
Trang 13Trẻ bắt đầu đi học, tham gia vào hoạt động xã hội mới là hoạt động học tập,hoạt động này được tất cả mọi người (cha mẹ, thầy cô, ông bà) quan tâm vàđánh giá cao.
4.1 Đặc điểm sinh lý:
- Hoàn thiện các khả năng vận động của mình và trở nên độc lập hơn
Ví dụ : trẻ có thể đi xe đạp, nhảy dây, bơi, nhảy múa, viết và chơinhạc
- Khung xương của trẻ em phát triển mạnh theo cả chiều dọc và chiều
ngang
- Bắt đầu từ 6 hay 7 tuổi, bắt đầu rụng răng sữa và mọc những răng
khôn đầu tiên
- Đến 9 tuổi con gái nhẹ và thấp hơn đôi chút so với con trai, tuy
nhiên sau đó tốc độ phát triển của chúng tăng lên đáng kể nhờ cónhững thay đổi hormone bắt đầu ở con gái sớm hơn so với con trai
- Trong suốt thời niên thiếu thể lực của con trai và con gái là như
nhau
4.2 Đặc điểm tâm lý:
• Về nhận thức
- tư duy ngôn ngữ lôgic dần phát triển (lý sự) Bắt đầu xuất hiện
khả năng lý giải lôgic Trẻ chưa có khả năng lập luận trên phươngdiện giả thuyết trừu tượng
- Có thể nắm bắt được các mối quan hệ giữa các thành phần của
vật được tri giác nhờ tư duy phát triển
- Trí nhớ có chủ định phát triển dần Tuy nhiên ở tuổi này trẻ cũng
có thể nhớ máy móc cho nên rất nhiều trẻ có thể đọc thuộc một bàithơ, một đoạn văn mà không hiểu nội dung của nó (học vẹt)
Trang 14- Chú ý tốt hơn khi bài học hấp dẫn, sinh động, dễ hiểu.
• Sự phát triển nhân cách
- Tự đánh giá
• đánh giá của người lớn có ảnh hưởng trực tiếp tới tình cảm,động cơ, tự đánh giá của trẻ Ví dụ: qua đánh giá của thầy cô trẻ
tự xếp mình và các bạn vào nhóm giỏi, khá hay trung bình
• sự hình thành “tự tin” của trẻ ảnh hưởng bởi lời khen hoặc lờiphê bình của những người xung quanh
- Giao tiếp:
Mở rộng lĩnh vực xã hội (cho đến bây giờ, trẻ giới hạn trong giađình) ra phía bên ngoài, tách ra khỏi gia đình một phần và tạo ranhững mối quan hệ mới với bạn bè
Hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi này.
Kết luận thời kỳ 6 – 12 tuổi: là giai đoạn tiềm ẩn Trẻ tập trung chủ yếu
vào học tập, trẻ sẽ mở rộng mối quan hệ xã hội ra ngoài: khám phá bạn bè.Giai đoạn này kết thúc, trẻ bước tuổi vị thành niên, tức tuổi dậy thì
5 GIAI ĐOẠN 12 – 18 TUỔI
Sau thời kỳ tiềm ẩn, trẻ đến tuổi dậy thì Theo Freud, đặc điểm của giaiđoạn này là các xung năng tính dục thức tỉnh với sự hưng phấn tình dụcbình thường ở trẻ vị thành niên Hưng phấn, đôi khi là nguồn khoái cảm
và đôi khi là sự khó chịu
Trang 15Tuổi thiếu niên thường được coi như lứa tuổi chuyển tiếp từ trẻ em sangngười lớn, chứa đựng nhiều diễn biến mang tính khủng hoảng Ta sẽ triểnkhai thời kỳ này ở phần sau
Kết luận về các giai đoạn:
Sự phát triển của con người diễn ra theo từng giai đoạn
- Trong những giai đoạn này, môt số tiến trình tâm lý được hình thành
- Các giai đoạn này có thể nói là “quyết định” Đó là những giai đoạnthay đổi, vì thế dễ bị tổn thương
- Là người chăm sóc, chúng ta sẽ phải đối diện với những bệnh nhân cóhành vi như trẻ nhỏ Những bệnh nhân này muốn chúng ta quan tâm tới
họ, chăm sóc, cho ăn thậm chí tắm rửa Hiện tượng này có thể kỳ lạnhưng thực tế nó vẫn thường xảy ra Nó giúp bệnh nhân tự bảo vệ khỏibệnh tật bằng cách tìm sự thoải mái ở môi trường xung quanh như khi họcòn nhỏ
Vì thế, chúng ta có thể sử dụng sự thoái lùi này một cách tích cực vì trạngthái lệ thuộc như trẻ con của bệnh nhân giúp cho bệnh nhân chấp nhậnmột cuộc phẫu thuật, một sự điều trị bằng thuốc, những sự chăm sóc đặcbiệt hoặc một sự nghỉ ngơi hoàn toàn Tuy nhiên, phải lưu ý đừng đểhành vi này kéo dài quá lâu, và phải cho bệnh nhân tái thích nghi với kiểuhoạt động của người lớn
II – TUỔI VỊ THÀNH NIÊN (12 – 18 tuổi )
Trang 16Tuổi thiếu niên thường được coi như lứa tuổi chuyển tiếp từ trẻ em sangngười lớn, chứa đựng nhiều diễn biến mang tính khủng hoảng
Trong các thời đại lịch sử trước đây, giai đoạn lứa tuổi thiếu niên là tươngđối ngắn Nó hầu như không có ở các bầy người nguyên thủy, và chỉ chiếmkhoảng thời gian rất ngắn ở các xã hội bộ tộc vì sau khi chín muồi về mặttính dục là con người đã bước ngay vào cuộc sống của người trưởng thành,sinh con đẻ cái (tục tảo hôn) Ngày nay, xã hội phát triển, tuổi thiếu niên dàihơn so với trước kia Do đó, diễn biến và độ dài của tuổi thiếu niên rất khácnhau ở các xã hội có trình độ phát triển khác nhau
L.X Vygosky đã phân biệt 3 điểm chín muồi của con người xã hội: Chín muồi về cơ thể, chín muồi về mặt giới tính và chín muồi về mặt tâm lý
xã hội, nhưng các mốc chín muồi trên có xu hướng tách rời nhau Đây là cơ
sở sở để hình thành giai đoạn lứa tuổi vị thành niên Là thời kỳ mấu chốt trong sự phát triển nhân cách.
1 Đặc điểm sinh lý:
- Là thời kỳ thay đổi sinh học cực kỳ nhanh chóng, ngang hàng với
thời kỳ phát triển phôi thai và trẻ sơ sinh Cơ thể thay đổi do yếu tốhormone
- Sự thay đổi về cơ thể là vấn đề trọng tâm ở lứa tuổi này.
2 Đặc điểm tâm lý:
• Về cơ thể
- Lo lắng theo dõi sự phát triển của bản thân
- so sánh bản thân với những hình mẫu chuẩn
Trang 17- Nhạy cảm với bộ dạng bên ngoài của mình (làn da, mụn vàtrứng cá…)
Sự thay đổi cơ thể nhanh chóng khiến các em không kịp thíchnghi, ảnh hưởng đến phản ứng và hành vi do không làm chủđược cơ thể mình Điều đó tạo ở các em cảm giác phản bội:+ Chủ thể không làm chủ được cơ thể mình
+ Cơ thể phản bội những cảm xúc và ước muốn sâu kín (đỏmặt, đổ mồ hôi )
+ Cơ thể trở thành nhân chứng của dòng dõi (giống cha mẹ)
Vậy, có một khoảng cách giữa tinh thần và tâm lý với cơ thể của trẻ
vị thành niên Các em phải học cách tái hợp với cơ thể của mình Vì
thế, các em sẽ sử dụng chiến lược ít nhiều cực đoan (ví dụ: qua cách
ăn mặc, cắt tóc, xâm mình…)
• Về nhận thức
- Từ tuổi này, tư duy của các em có khả năng lý luận lôgic hoàntoàn trên phương diện ngôn ngữ (chính thức suy nghĩ), tách rờicác vật liệu trực quan, cụ thể
- Tuổi vị thành niên sẽ có thể bước vào những suy nghĩ hiện
sinh (triết học, sự trầm tư) Ví dụ: Tại sao tôi phải sống? Sống
để làm gì? Cuộc sống có ý nghĩa gì đối với tôi?
- Suy nghĩ trở thành một nguồn vui thích.
• Sự phát triển tự ý thức
- Ở thiếu niên lần lượt xuất hiện hai cấu trúc tâm lý đặc biệt của
tự ý thức: đó là “cảm giác mình là người lớn” và “cái tôi”