Những nội dung kiến thức trong bài học có liên quan đến vấn đề giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên...5 1.1... Một số giải pháp để lồng ghép tích hợp giáo dục sức khỏe sinh sản vị th
Trang 1MỤC LỤC
Trang
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2
1 Cơ sở lý luận 2
1.1 Quan niệm tích hợp 2
1.2 Các mức độ tích hợp giáo dục SKSS VTN trong dạy học Sinh học 2
1.3 Nguyên tắc tích hợp 2
1.4 Các hình thức giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên qua môn Sinh học 3
1.4.1 Hình thức dạy học nội khóa 3
1.4.2 Hình thức dạy học ngoại khóa 3
1.5 Phương pháp dạy học tích hợp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên trong môn Sinh học 3
2 Cơ sở thực tiễn 4
2.1 Tổng quan tình hình giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên 4
2.2 Thực trạng dạy học tích hợp nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên trong dạy học Sinh học 4
III TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP 5
1 Những nội dung kiến thức trong bài học có liên quan đến vấn đề giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên 5
1.1 Vị thành niên, tuổi dậy thì 5
1.1.1 Những thay đổi thể chất 5
1.1.2 Những thay đổi tâm lý, tình cảm 6
1.2 Giáo dục giới tính 6
1.2.1 Giới tính 6
Trang 21.2.2 Giáo dục giới tính 7
1.3 Chăm sóc sức khỏe sinh sản 7
2 Một số giải pháp để lồng ghép tích hợp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên vào nội dung bài 38, 39 sách giáo khoa sinh học lớp 11 cơ bản: “Các nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển ở động vật” 8
3 Ví dụ về thiết kế bài giảng “Tích hợp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên” 9
3.1 Tiết 39; BÀI 38 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN Ở ĐỘNG VẬT 9
3.2 Tiết 40; Bài 39 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN Ở ĐỘNG VẬT (tt) 13
IV HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI 18
V ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG 20
VI TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
PHỤ LỤC . 21 2
Trang 3I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Theo báo cáo “Làm mẹ khi chưa trưởng thành: Thách thức mang thai ở
tuổi vị thành niên” cho thấy hàng năm thế giới có hơn 7 triệu em gái ở các quốc
gia nghèo sinh con trước 18 tuổi, trong đó khoảng 2 triệu ca là các bà mẹ dưới 14tuổi Các bà mẹ chưa trưởng thành này sẽ phải gánh chịu những hậu quả nghiêmtrọng và kéo dài về mặt sức khỏe và xã hội do việc mang thai sớm
Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) cho biết, mỗi năm có khoảng 16 triệu
em gái tuổi 15-19 sinh con; cứ 10 trẻ vị thành niên (VTN) thuộc nhóm này thì 9 đãlập gia đình Các biến chứng khi mang thai và khi sinh tiếp tục là những nguyênnhân hàng đầu gây tử vong mẹ với các em gái 15-19 tuổi ở các nước có thu nhậpthấp và trung bình Trên toàn cầu, cứ 3 nữ thanh niên tuổi 20-24 thì có 1 người(khoảng 70 triệu người) kết hôn trước tuổi 18 (1)
Tại Việt Nam, thống kê của Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam cho thấy,trung bình mỗi năm cả nước có khoảng 300 ngàn ca nạo hút thai ở độ tuổi 15-19,trong đó 60 - 70% là học sinh, sinh viên Theo Tổng cục Dân số-KHHGĐ, mặc dù
tỷ lệ phá thai ở Việt Nam trong 10 năm gần đây giảm, nhưng tỷ lệ nạo phá thai ởtrẻ VTN, thanh niên lại có dấu hiệu gia tăng, chiếm hơn 20% các trường hợp nạophá thai Với con số mang thai và nạo hút thai ở VTN như trên, Việt Nam là nước
có tỷ lệ nạo phá thai ở tuổi VTN cao nhất Đông Nam Á và đứng thứ 5 trên thế giới.Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, độ tuổi quan hệ tình dục lần đầu ở VTNViệt Nam ngày càng sớm Tuy nhiên, kiến thức của VTN về phòng tránh thai, HIV
và các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác vẫn còn rất hạn chế - chỉ cókhoảng 20,7% sử dụng biện pháp tránh thai trong lần quan hệ tình dục đầu tiên.Đây không chỉ là một gánh nặng, thách thức lớn cho công tác dân số, mà đáng lưutâm hơn là nó để lại những hậu quả nghiêm trọng cho thế hệ trẻ
Trong lĩnh vực giáo dục, nối tiếp với chương trình thí điểm giáo dục dân sốđược thực hiện từ những năm đầu của thập kỷ 80, từ năm 1998, các nội dung giáodục sức khỏe sinh sản vị thành niên (SKSS VTN) được xác định cần ưu tiên và đưavào lồng ghép, tích hợp trong 4 môn học: Sinh học, Địa lý, Giáo dục công dân,Ngữ văn của chương trình giảng dạy chính khóa, trong đó Sinh học là một mônhọc có khả năng tích hợp rất nhiều nội dung trong giáo dục SKSS VTN.Tuy nhiênthực tế cho thấy việc lồng ghép nội dung giáo dục SKSS VTN trong các môn họcnói chung và môn Sinh học nói riêng ở các trường THPT cũng còn nhiều hạn chếnhư việc tiến hành các hoạt động ngoại khóa còn gặp nhiều khó khăn; học sinh cònthiếu kiến thức thực tế, trong thời gian một tiết học khó có thể lồng ghép, mở rộngnhiều kiến thức bên ngoài
Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài: Tích hợp chăm sóc sức khỏe
sinh sản vị thành niên qua bài: “Các nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển ở động vật” - sinh học 11 với mục đích góp phần cùng nhà trường hoàn
thành tốt mục tiêu giáo dục trong giai đoạn hiện nay
Trang 4II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 Cơ sở lý luận
1.1 Quan niệm tích hợp
Trong dạy học các bộ môn, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nộidung từ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau (theo cách hiểu truyền thống từtrước tới nay) thành một “môn học” mới hoặc lồng ghép các nội dung cần thiết vàonhững nội dung vốn có của môn học, ví dụ: lồng ghép nội dung giáo dục dân số,giáo dục môi trường, giáo dục an toàn giao thông … xây dựng môn học tích hợp từcác môn học truyền thống
Tích hợp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên (SKSS VTN) là một trongnhững quan điểm giáo dục đã trở thành xu thế trong việc xác định nội dung dạyhọc trong trường phổ thông và trong xây dựng chương trình môn học ở nhiều nướctrên thế giới Quan điểm tích hợp được xây dựng trên cơ sở những quan niệm tíchcực về quá trình học tập và quá trình dạy học
Tích hợp nội dung vào dạy học là sự kết hợp một cách có hệ thống các kiếnthức và giáo dục SKSS VTN thành nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhaudựa trên những mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong bài học
Sự tích hợp kiến thức giáo dục SKSS VTN vào môn học, đối với môn Sinhhọc có thể phân thành 2 dạng khác nhau:
- Dạng lồng ghép: Kiến thức giáo dục SKSS VTN đã có trong chương trình
và sách giáo khoa
- Dạng liên hệ: Các kiến thức giáo dục SKSS VTN không được đưa vào
chương trình và sách giáo khoa, nhưng dựa vào nội dung bài học, giáo viên có thể
bổ sung kiến thức giáo dục SKSS VTN có liên quan với bài học qua giờ giảng trênlớp
1.2 Các mức độ tích hợp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên trong dạy học Sinh học
- Mức độ toàn phần: Mục tiêu và nội dung của bài học hoặc của chương phù
hợp hoàn toàn với mục tiêu và nội dung của đổi mới giáo dục SKSS VTN
- Mức độ bộ phận: Chỉ một phần bài học có mục tiêu và nội dung giáo dục
SKSS VTN
- Mức độ liên hệ: Các kiến thức giáo dục SKSS VTN không được đưa vào
chương trình sách giáo khoa nhưng dựa vào nội dung bài học, giáo viên có thể bổsung kiến thức giáo dục SKSS VTN một cách có logic liên quan với bài học quagiờ giảng trên lớp
1.3 Nguyên tắc tích hợp
- Phải đảm bảo tính đặc trưng và tính hệ thống của bộ môn, tránh mọi sựgượng ép, đồng thời không làm nặng nề thêm các kiến thức sẵn có Xem xét vàchọn lọc những nội dung có thể lồng ghép nội dung giáo dục SKSS VTN một cáchthuận lợi nhất và đem lại hiệu quả cao nhất nhưng vẫn tự nhiên và nhẹ nhàng
- Phải dựa trên căn cứ vững chắc
Trang 5- Phải dùng phương pháp huy động nhiều người tham gia và có tính thực tế,dựa trên sự phân tích, đòi hỏi óc phán xét.
- Phải dựa trên nền tảng đời sống cộng đồng ở địa phương, dựa trên tinhthần hợp tác
1.4 Các hình thức giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên qua môn Sinh học 1.4.1 Hình thức dạy học nội khóa
Bao gồm hình thức dạy học trên lớp và ngoài lớp (các bài thực hành tìm hiểu
về giới tính, chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên)
1.4.2 Hình thức dạy học ngoại khóa
- Tổ chức nói chuyện giao lưu về giới tính, sức khỏe sinh sản vị thành niên.
- Tổ chức thi tìm hiểu, đố vui về giới tính, sức khỏe sinh sản vị thành niên
- Tổ chức xem phim về giới tính, sức khỏe sinh sản vị thành niên
1.5 Phương pháp dạy học tích hợp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên trong môn Sinh học
- Nhóm phương pháp dùng lời
+ Phương pháp thuyết trình: Sử dụng phương pháp này để mô tả sự vật, hiện
tượng của môi trường
+ Phương pháp giảng giải: Thường sử dụng khi giải thích các vấn đề giáo
viên nêu ra các dẫn chứng để làm rõ những kiến thức mới và khó về môi trường
+ Phương pháp vấn đáp: Giáo viên đưa ra câu hỏi, học sinh trả lời, cũng có
khi học sinh hỏi, giáo viên trả lời hoặc giữa học sinh và học sinh
- Phương pháp trực quan
Sử dụng các phương tiện trực quan như: Tranh ảnh, băng hình video, phimảnh đó là những phương tiện rất hữu ích cho việc giảng dạy, gây hứng thú và ấntượng sâu sắc cho học sinh
- Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ
Lớp được chia thành các nhóm nhỏ Các nhóm được giao cùng nhiệm vụhoặc các nhiệm vụ khác nhau
- Phương pháp dạy học đặt vấn đề và giải quyết vấn đề
+ Tạo tình huống, nêu vấn đề
+ Giải quyết vấn đề
+ Kết luận
+ Biện pháp
- Kĩ thuật động não
+ Động não là một kĩ thuật giúp cho người học trong một thời gian ngắn
nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về vấn đề nào đó
Trang 6+ Giáo viên nêu vấn đề cần tìm hiểu trước lớp hoặc nhóm
2 Cơ sở thực tiễn
2.1 Tổng quan tình hình giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên
- Vị thành niên hầu như không được trang bi các kiến thức cơ bản và tâm lý
để bước vào tuổi dậy thì, thiếu sự quan tâm giáo dục từ gia đình, thiếu sự trang bịkiến thức từ trường học, thiếu kiến thức về quan hệ tình dục và mang thai, hiểu biết
về biện pháp tránh thai còn chưa đầy đủ, cộng với ảnh hưởng của phim ảnh ngườilớn đã vô tình đẩy các em vào thế tự tìm hiểu, mù mờ kiến thức tình dục an toàn
- Giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên chứa đựng rất nhiều chủ đề nhạycảm, tế nhị, học sinh khó có thể trình bày, trao đổi một cách cụ thể trong môitrường lớp học, trước mặt thầy cô và bạn bè khác giới
- Trong các năm qua giáo dục SKSS VTN được chú trọng qua các buổi tậphuấn chuyên môn, dự chuyên đề về tích hợp kiến thức giáo dục SKSS VTN
- Giáo dục SKSS VTN cho học sinh là việc làm cấp bách và thường xuyêncho mỗi giáo viên nói chung và giáo viên Sinh học nói riêng
2.2 Thực trạng dạy học tích hợp nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên trong dạy học Sinh học
Trong quá trình dạy học Sinh học, chúng tôi chắc rằng các giáo viên đã đềcập đến các biện pháp giáo dục SKSS VTN Tuy nhiên việc làm này còn chưathường xuyên, đôi khi còn mang tính sách vở, thiếu sự gần gũi với đời sống thực tếhọc sinh, do nhiều nguyên nhân như:
- Do điều kiện phục vụ dạy học, cơ sở vật chất trang thiết bị còn thiếu.Tài liệu, sách báo cho giáo viên và học sinh tham khảo chưa được phong phú, chưađáp ứng được nhu cầu và chưa hấp dẫn được học sinh
- Kĩ năng sử dụng các phương tiện phục vụ việc dạy học hiện đại củagiáo viên còn hạn chế như việc sử dụng máy vi tính để chuẩn bị bài, cập nhật lưutrữ thông tin; sử dụng máy chiếu Projecter để giảng dạy, sưu tầm các tư liệu điện
tử, tranh ảnh, phim liên quan đến môi trường
- Thời lượng của một tiết học hạn chế (45 phút) do đó giáo viên giảngdạy không đủ thời gian đi sâu vào việc tích hợp nội dung giáo dục SKSS VTN
- Phần mở rộng liên hệ giáo dục SKSS VTN luôn được coi là phần phụnên dễ bị bỏ qua
- Học sinh ít có kiến thức thực tế dẫn đến việc liên hệ cho các em là rấtkhó khăn
Trong khi đó, Sinh học là môn học mang tính thực tiễn cao, chúng ta hoàntoàn có thể vừa đưa ra các biện pháp giáo dục SKSS VTN liên quan đến từng nộidung trong các bài học cụ thể lại vừa gần gũi với sự hiểu biết của học sinh Điềunày cũng sẽ có tác dụng kích thích tính tò mò, sáng tạo, hứng thú học tập, mở rộng
sự hiểu biết của học sinh, đặc biệt là hướng sự quan tâm của các em tới môi trường
để từ đó biết cách bảo vệ môi trường
III TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
Trang 71 Những nội dung kiến thức trong bài học có liên quan đến vấn đề giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên
1.1 Vị thành niên, tuổi dậy thì
Vị thành niên (người sắp đến tuổi trưởng thành) là những em đang ở giaiđoạn chuyển tiếp từ ấu thơ sang trưởng thành trong độ tuổi từ 10 - 19 (theo quyđịnh của Tổ chức Y tế Thế giới) Đây là giai đoạn phát triển đặc biệt mạnh mẽ vàphức tạp nhất của cuộc đời mỗi con người Biểu hiện của nó là xảy ra đồng thờimột loạt những thay đổi bao gồm: Sự phát triển mạnh mẽ về thể chất, sự biến đổiđiều chỉnh tâm lý và các quan hệ xã hội, bước đầu hình thành nhân cách nên nảysinh nhiều rối nhiễu về tâm lý nhất so với các lứa tuổi khác
Tuổi vị thành niên được chia ra ba nhóm:
- Nhóm vị thành niên sớm (10-13 tuổi)
- Nhóm vị thành niên giữa (14-16 tuổi)
- Nhóm vị thành niên muộn (17-19 tuổi)
Tuổi dậy thì là thời kỳ chuyển tiếp từ giai đoạn trẻ thơ sang giai đoạntrưởng thành, là thời kỳ quá độ khi không còn là trẻ con nhưng vẫn chưa hẳn làngười lớn Đây là thời kỳ mà bất cứ một thiếu niên nào cũng phải trải qua nhữngbiến đổi quan trọng về cơ thể cũng như về tâm lý
Dưới góc độ sinh học, tuổi dậy thì là thời kỳ trưởng thành sinh dục, nghĩa làbắt đầu có khả năng sinh con Ở bạn gái được thể hiện ở sự có kinh nguyệt lần đầu
và ở bạn trai là sự phóng tinh lần đầu (mộng tinh) Đến tuổi dậy thì cơ thể namcũng như nữ có những thay đổi về nhiều mặt
1.1.1 Những thay đổi thể chất
Những thay đổi thể chất ở em gái:
- Ngay khi bước vào tuổi dậy thì, cơ thể các em bắt đầu phát triển nhanhhơn mức bình thường Các em gái cao rất nhanh và khi 18 tuổi các em có thể caobằng một người phụ nữ trưởng thành
- Ngoài thay đổi về chiều cao, vú bắt đầu phát triển, mọc lông ở bộ phậnsinh dục và xuất hiện mụn trứng cá ở mặt
- Giai đoạn dậy thì chính thức được đánh dấu bằng lần hành kinh đầu tiên,báo hiệu trứng đã bắt đầu rụng và có khả năng có thai Giai đoạn này diễn ra nhữngbiến đổi quan trọng cho việc chuẩn bị làm mẹ sau này: tử cung lớn và dày hơn,tuyến vú phát triển, xương hông rộng ra
Những thay đổi về thể chất ở em trai:
- Khi các em trai bước vào tuổi dậy thì, đặc điểm rõ rệt nhất là sự phát triểnmạnh mẽ về chiều cao và đến 17- 18 tuổi hầu hết các em đã đạt chiều cao tối đa
- Cùng với sự phát triển chiều cao, dần dần xuất hiện lông mu, ria mép vàmọc mụn trứng cá Đồng thời dương vật và tinh hoàn cũng bắt đầu phát triển vềkích thước Thanh quản mở rộng, vỡ giọng nói Tiếp đó là sự phát triển của các cơbắp ở ngực, vai và đùi và bắt đầu có hình dáng đặc trưng của nam giới
Trang 8Lưu ý: Ở tuổi dậy thì không phải tất cả các em cùng tuổi hoặc cùng giớiđều phát triển như nhau Có em có một số biểu hiện thay đổi sớm hơn một số emkhác và một số biểu hiện thay đổi chậm hơn các bạn cùng trang lứa.
1.1.2 Những thay đổi tâm lý, tình cảm
- Ở tuổi VTN nhóm sớm (10 - 13 tuổi): về mặt tâm lý và tình cảm, các em bắt
đầu có tư duy trìu tượng; các em ý thức được mình không còn là trẻ con nữa.Trong hành động, các em muốn thử sức mình và muốn khám phá những điều mới
lạ Các em thường quan tâm, đến những thay đổi của cơ thể, nhất là các em gái dễbăn khoăn, lo lắng, buồn rầu về những nhược điểm ở cơ thể mình khi so sánh vớicác bạn cùng lứa Các em cũng bắt đầu quan tâm đến bè bạn, muốn tách khỏi sựbảo hộ của bố mẹ, tuy nhiên các em vẫn còn quá trẻ, chưa có kinh nghiệm và vẫnphụ thuộc vào bố mẹ và gia đình
- Ở tuổi VTN nhóm giữa (14 -16 tuổi): các em phát triển mạnh tính độc lập,
muốn tách khỏi sự quản lý, kiểm soát của gia đình, phát triển mạnh cá tính vàmuốn tìm kiếm những mối quan hệ bạn bè cùng lứa Nhu cầu về tình bạn trở nênquan trọng và dễ chịu ảnh hưởng (tốt cũng như xấu) của nhóm bạn đó; đặc biệt chú
ý đến người bạn khác giới và dễ nhầm lẫn tình bạn với tình yêu Các em tiếp tụcphát triển mạnh về tư duy trìu tượng, tuy vậy các em lại thường thay đổi tình cảmmột cách dễ dàng, khi vui, khi buồn kiểu "sớm nắng chiều mưa" Khi mong muốnđiều gì, các em muốn được thoả mãn nhu cầu ngay và có thể hành động bất chấphậu quả, trong khi về mặt tư duy các em chưa phát triển đấy đủ khả năng tự phêphán Cũng ở nhóm tuổi này các em thường muốn tìm hiểu về khả năng hoạt độngtình dục của mình
- Ở tuổi VTN nhóm muộn (17 - 19 tuổi): cơ thể và chức năng sinh lý của các
bộ phận trong cơ thể các em đã gần như hoàn chỉnh.Về mặt tâm lý, tình cảm đã cócách suy nghĩ, ứng xử khá chín chắn giống như người trưởng thành Có suy nghĩ
kế hoạch cho tương lai, về sự lựa chọn nghề nghiệp một cách thực tế hơn, ảnhhưởng của nhóm bạn bè giảm bớt, thường kén chọn bạn thích hợp với mình (bạntâm giao) Tình yêu ở nhóm tuổi này thực tế hơn, đã phân biệt tình bạn và tình yêuchứ không còn mơ hồ như những năm trước đó
1.2 Giáo dục giới tính
1.2.1 Giới tính
Giới là thuật ngữ chung Giới hay phái là một khái niệm rộng, trước hết để chỉmột cơ thể thuộc giống đực hay giống cái (ngoại hình, nhiễm sắc thể ) với nhữngđặc tính bẩm sinh và không thay đổi Sự khác biệt giữa hai giới tính là do di truyền
tự nhiên (cấu tạo cơ thể, thể chất, sinh lý…)
Giới tính là một tập hợp những đặc điểm riêng biệt, tạo nên sự khác nhaugiữa nam và nữ, ví dụ: đàn ông thường to khoẻ, bộc trực, cứng rắn, trong khi phụ
nữ thường nhỏ yếu, kín đáo, dịu dàng
Giới tính bao gồm cả những trải nghiệm, là các hoạt động, quan hệ, sở thíchriêng, là làm thế nào để ta chính là ta và cơ thể của ta
Giới tính hình thành từ 2 nguồn gốc:
Trang 9- Nguồn gốc thứ nhất là Sinh học: Nhiễm sắc thể giới tính quy định giớitính nam hay nữ: nam có cặp nhiễm sắc thể XY, nữ là cặp nhiễm sắc thể XX Cấutạo cơ thể, nội tiết, tâm sinh lý cũng bắt nguồn từ cặp nhiễm sắc thể giới tính.
- Nguồn gốc thứ hai là từ xã hội: Tình cảm, ý thức được hình thành quagiao tiếp dưới ảnh hưởng của giáo dục xã hội Có người đàn ông nhưng tính đàn bà
và ngược lại Mỗi xã hội có sự phân công lao động riêng, có quan niệm về giới tínhtheo những chuẩn mực đạo đức và văn hoá nhất định
Như vậy giới tính là hành vi, tâm lý, đạo đức theo kiểu nam hoặc nữ, chịuảnh hưởng của xã hội hay một nền văn hoá nào đó, vì vậy nó thay đổi theo thời đại.Giáo dục giới tính là một thuật ngữ rộng miêu tả việc giáo dục về giải phẫusinh dục, sinh sản, quan hệ tình dục, sức khoẻ sinh sản, các quan hệ tình cảm,quyền sinh sản và các trách nhiệm, tránh thai, và các khía cạnh khác của thái độtình dục loài người Những cách giáo dục giới tính thông thường là thông qua cha
mẹ, người chăm sóc, các chương trình trong trường học và các chiến dịch sức khoẻcộng đồng
1.2.2 Giáo dục giới tính
Giáo dục giới tính có thể được hiểu là “giáo dục tình dục”, nghĩa là bao gồmviệc giáo dục về mọi khía cạnh của hoạt động tình dục, gồm cả thông tin về kếhoạch hoá gia đình, sinh sản (khả năng sinh sản, tránh thai, sự phát triển của phôithai và thai nhi, sinh đẻ), cộng thêm thông tin về mọi khía cạnh đời sống tình dụccủa một cá nhân gồm: hình ảnh thân thể, khuynh hướng tình dục, cảm xúc tìnhdục, các giá trị, đưa ra quyết định, thông tin, hẹn hò, các quan hệ, các bệnh lâytruyền qua đường tình dục, làm thế nào để tránh chúng và các biện pháp kiểm soátsinh sản
Giáo dục giới tính có thể được dạy một cách không chính thức, như khi một ai
đó nhận được thông tin từ một cuộc trò chuyện với cha mẹ, bạn bè, người lãnh đạotôn giáo hay qua truyền thông Giáo dục giới tính cũng có thể được truyền dạy quacác tác gia với các tác phẩm về giới tính, chuyên mục báo chí hay qua các trangweb về giáo dục giới tính Giáo dục giới tính chính thức diễn ra khi các trường họchay người cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ thực hiện điều này
Đôi khi giáo dục giới tính chính thức được dạy dưới dạng một chương trìnhđầy đủ như một phần của chương trình học tại các trường trung học hay trung học
cơ sở Ở những trường hợp khác nó chỉ là một bài học bên trong một lớp học rộnghơn về sinh học, sức khoẻ, kinh tế gia đình, hay giáo dục thể chất…
Giáo dục giới tính tốt tạo điều kiện cho sự phát triển hài hòa của thế hệ trẻ,cho sự hình thành đầy đủ giá trị chức năng sinh sản, cho việc nâng cao kiến thức
về tình dục học, góp phần củng cố hôn nhân và gia đình
Giáo dục giới tính là vấn đề phức tạp và tế nhị, phải thích hợp với lứa tuổi.Đặc biệt ở tuổi dậy thì, nó giúp các em điều khiển có ý thức các vấn đề tình dục, ởtuổi thanh niên, giúp cho mọi người kiến tạo được gia đình hôn nhân hạnh phúc,lành mạnh, thích hợp với xã hội mà mình đang sống
1.3 Chăm sóc sức khỏe sinh sản
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO):
Trang 10- “Sức khỏe sinh sản (SKSS) là trạng thái khỏe mạnh về thể chất, tinh thần vàhòa hợp xã hội về tất cả các phương diện liên quan đến hệ thống sinh sản trongsuốt các giai đoạn của cuộc đời Chăm sóc SKSS là một tập hợp các phương pháp,
kỹ thuật và dịch vụ nhằm giúp cho con người có tình trạng SKSS khỏe mạnh thôngqua việc phòng chống và giải quyết những vấn đề liên quan đến SKSS Điều nàycũng bao gồm cả sức khỏe tình dục với mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống
và mối quan hệ giữa con người với con người mà không chỉ dừng lại ở chăm sóc y
tế và tư vấn một cách đơn thuần cho việc sinh sản và những nhiễm trùng quađường tình dục”
- “Chăm sóc SKSS là một tập hợp các phương pháp, kỹ thuật và dịch vụnhằm giúp cho con người có tình trạng SKSS khỏe mạnh thông qua việc phòngchống và giải quyết những vấn đề liên quan đến SKSS Điều này cũng bao gồm cảsức khỏe tình dục với mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống và mối quan hệgiữa con người với con người mà không chỉ dừng lại ở chăm sóc y tế và tư vấn mộtcách đơn thuần cho việc sinh sản và những nhiễm trùng qua đường tình dục”
2 Một số giải pháp để lồng ghép tích hợp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên vào nội dung bài 38, 39 sách giáo khoa sinh học lớp 11 cơ bản: “Các nhân
tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển ở động vật”
Tên
bài
Địa chỉ tích hợp Nội dung giáo dục SKSS VTN
Kiểu tích hợp Bài 38
- Cung cấp kiến thức về các hoocmon điều hòa
sự phát triển ở người qua đó nhấn mạnh cho họcsinh thấy được sự thay đổi của cơ thể khi bướcvào tuổi dậy thì
- Đặc biệt lưu ý về hiện tượng kinh nguyệt ở nữ
để qua đó giáo dục các em có hiểu biết đúng đắn
về hiện tượng này, cách giữ gìn vệ sinh, chế độ
ăn uống hợp lý để bảo vệ sức khỏe cho hiện tại
và cả sức khỏe sinh sản sau này
- Lồngghép
- Cung cấp kiến thức về ảnh hưởng của thức ăn
và các nhân tố từ môi trường lên sinh trưởng vàphát triển của con người để giáo dục ý thứcchăm sóc và bảo vệ sức khỏe qua đó bảo vệSKSS
- Ảnh hưởng của nhân tố thức ăn, các yếu tốmôi trường như ánh sáng, nhiệt độ, chất thải,chất độc hại lên sinh trưởng và phát triển ởngười
- Lồngghép
Trang 11- Cung cấp đầy đủ kiến thức về các biện phápphòng tránh thai để các em có ý thức và cáchphòng tránh các bệnh lây lan qua đường tìnhdục và việc mang thai ngoài ý muốn; biết cách
để kế hoạch hóa khi lập gia đình sau này
3 Ví dụ về thiết kế bài giảng “Tích hợp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên”
3.1 Tiết 39; BÀI 38 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SINH TRƯỞNG
- Quan sát tranh hình xử lý thông tin
- Lập bảng, so sánh, khái quát kiến thức
- Hoạt động nhóm
3 Thái độ:
- Có ý thức bảo vệ sức khỏe bằng cách ăn đầy đủ, cân bằng các loại thức ăn đồng thời
biết bảo vệ môi trường sống để cơ thể có thể sinh trưởng và phát triển bình thường
II KĨ NĂNG SỐNG ĐƯỢC GIÁO DỤC TRONG BÀI
- Kĩ năng thể hiện sự tự tin khi trình bày ý kiến trước nhóm, tổ, lớp
- Kĩ năng lắng nghe tích cực, trình bày suy nghĩ, ý tưởng
- Kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin về các nhân tố bên trong ảnh hưởng đếnsinh trưởng và phát triển ở động vật
- Kĩ năng quản lí thời gian, đảm nhận trách nhiệm, hợp tác trong hoạt độngnhóm
Trang 12III CÁC PHƯƠNG PHÁP / KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC CÓ THỂ SỬ DỤNG
- Dạy học nhóm
- Trực quan tìm tòi
- Vấn đáp - tìm tòi
- Trình bày 1 phút
IV PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC
1 Chuẩn bị của giáo viên
- Nghiên cứu kĩ nội dung trong sách giáo khoa và sách giáo viên
- Sưu tầm các tư liệu, hình ảnh, các đoạn phim liên quan đến bài
- Tìm các kiến thức liên quan để bổ sung vào các nội dung có thể lồng ghép giáodục sức khỏe sinh sản cho học sinh
- Kiểm tra bài cũ:
+ Phân biệt sinh trưởng và phát triển, cho ví dụ minh họa
Phân biệt các kiểu phát không qua biến thái, qua biến thái không hoàn toàn và quabiến thái hoàn toàn
2 Bài mới: Sinh trưởng và phát triển là một trong những đặc trưng của cơ thể
sống, chịu tác động của các nhân tố bên trong và bên ngoài Bài học này chúng ta
sẽ nghiên cứu các nhân tố bên trong ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển ởđộng vật
* Hoạt động 1 Tìm hiểu các hoocmon ảnh hưởng đến sinh
trưởng và phát triển của động vật có xương sống
- GV yêu cầu HS quan sát hình 38.1, hoạt động nhóm, hoàn
thành nội dung phiếu học tập số 1 “Tìm hiểu các hoocmon ảnh
hưởng đến sinh trưởng và phát triển của động vật có xương
sống" Các hocmon đó do các tuyến nội tiết nào tiết ra? Vai trò?
+ Nhóm 1: Hoocmon sinh trưởng
1 Các hoocmon
ảnh hưởng đến sinh trưởng và
Trang 13nhóm, thống nhất ý kiến và ghi vào phiếu học tập.
- Đại diện nhóm ghi kết quả lên bảng, các nhóm khác theo dõi
và bổ.sung
- GV đánh giá và thông báo đáp án đúng
- GV yêu cầu HS quan sát hình 38.2 và trả lời các lệnh mục 1
SGK trang 153
- HS thảo luận nhóm, yêu cầu nêu được:
Câu 1 Người bé nhỏ là hậu quả do tuyến yên tiết ra quá ít còn
người khổng lồ là do tuyến yên tiết ra quá nhiều hoocmon sinh
trưởng vào giai đoạn trẻ em.
Câu 2 Nếu hoocmon sinh trưởng được tiết ra ít hơn bình
thường vào giai đoạn trẻ em đang lớn, giảm phân chia tế bào,
giảm số lượng và kích thước tế bào, trẻ em chậm lớn và ngừng
lớn Ngược lại sẽ trở thành người khổng lồ.
Câu 3: Iôt là một trong hai thành phần tạo nên tiroxin, thiếu iôt
dẫn đến thiếu tiroxin, giảm chuyển hóa và giảm sinh nhiệt ở tế
bào nên động vật và người chịu lạnh kém.
Thiếu tiroxin còn làm giảm phân chia và lớn lên bình thường
của tế bào, hậu quả là trẻ em và động vật non chậm lớn hoặc
ngừng lớn, não ít nếp nhăn, số lượng tế bào não giảm, trí tuệ
kém.
Câu 4: Testosteron do tinh hoàn tiết ra kích thích quá trình sinh
trưởng hình thành các đặc điểm sinh dục sơ cấp như mào, cựa,
vì vậy sau khi cắt bỏ tinh hoàn sẽ không tiết testosteron, gà
trống con phát triển không bình thường
+ Những hoocmon nào chung cho cả 2 giới đực và cái? Những
hoocmon nào riêng?
+ Ở lưỡng cư, giai đoạn nòng nọc nếu thiếu tirôxin gây hậu quả
gì? Cách khắc phục?
* Liên hệ:
+ Trong bữa ăn hằng ngày của người và khẩu phần ăn của động
vật cần chú ý điều gì để đảm bảo cơ thể sinh trưởng và phát
triển bình thường?
+ Làm thế nào để tránh được một số bệnh rối loạn chuyển hóa:
khổng lồ, lùn, đần độn do thiếu tirôxin ở trẻ em?
- HS trả lời được:
+ Bổ sung đầy đủ thành phần thức ăn
+ Đối với trẻ em cần chú ý hàm lượng iốt, vitamin, khoáng…
- GV nêu câu hỏi để lồng ghép nội dung giáo dục sức khỏe sinh
sản:
+ Thế nào là tuổi dậy thì, tuổi vị thành niên?
+ Cho biết những thay đổi về tâm sinh lý diễn ra ở tuổi dậy thì?
Ý thức giữ gìn vệ sinh thân thể (đặc biệt đối với nữ).
+ Nguyên nhân của những thay đổi về tâm sinh lí trong giai
đoạn dậy thì ở nam và nữ?
+ Trong giai đoạn dậy thì của nam và nữ hoocmon nào được
tiết ra nhiều làm cơ thể thay đổi mạnh mẽ về thể chất và tâm
phát triển của động vật có xương sống
Phiếu học tập(xem phụ lục 3)